1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

110 517 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vì, trị giá tính thuế nhập khẩu được xây dựng trên cơ sở của nhiều bộ phận pháp luật khác nhau như pháp luật thuế, pháp luật hải quan, pháp luật thương mại … Trong khi đó, sự tồn tại

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐỖ VĂN NHẬT

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU TRONG ĐIỀU KIỆN

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 50512

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN QUYỀN

HÀ NỘI - NĂM 2005

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập

1.2 Khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu và pháp luật trị giá tính thuế nhập

1.2.1 Khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu 8

1.2.2 Khái niệm pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu 15 1.3 Các điều ước quốc tế về trị giá tính thuế nhập khẩu 17 1.3.1 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo Định nghĩa Brussels 17 1.3.2 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO 19 1.3.3 Quy định của hiệp định thương mại Việt – Mỹ (10/2001) về trị giá tính

2.2 Những hạn chế của pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện

Trang 3

Kết luận chương 2 64

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU

TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM 65 3.1 Yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế đối với pháp luật về trị giá tính thuế

3.2 Căn cứ cho việc hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu 69

3.2.2 Một vài đặc điểm cơ bản của nền kinh tế thị trường ở Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế liên quan đến vấn đề hoàn thiện pháp luật về trị giá

3.2.3 Lộ trình thực hiện các cam kết trong quá trình thực hiện hội nhập kinh tế

3.3 Phương hướng hoàn thiện pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều

3.3.1 Bảo đảm sự phù hợp của pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu với hiệp

3.4.2 Sửa đổi quy định về trị giá hàng hoá nhập khẩu trong một số Luật thuế hiện

Trang 4

3.4.3 Bãi bỏ các quy định về việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu theo quốc

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống xác định thuế nhập khẩu trên thế giới hiện nay là một bức tranh

đa dạng với đặc điểm chính là khá phức tạp và chưa có sự thống nhất cao giữa các nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển Để xác định thuế nhập khẩu thì trị giá tính thuế nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng và quyết định Trị giá tính thuế nhập khẩu là một trong những yếu tố cơ bản của hệ thống thuế quan hiện đại, hệ thống các nguyên tắc xác định trị giá không chỉ ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân sách nhà nước mà còn ảnh hưởng đến giao lưu thương mại quốc tế Các quốc gia khác nhau sử dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu khác nhau, điều này gây nên sự cản trở trong giao lưu thương mại quốc tế

Do đó xu hướng chung của các nước là xây dựng một hệ thống xác định trị giá tính thuế nhập khẩu thống nhất, công bằng, khách quan và phù hợp với thông lệ thương mại quốc tế Hiệp định trị giá Hải quan GATT/WTO là Hiệp định đáp ứng được yêu cầu này và dần dần đang được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng như một yêu cầu tất yếu trong quá trình hội nhập Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, trong đó quan trọng nhất là trình độ phát triển kinh tế và thể chế chính trị, nhiều quốc gia vẫn chần chừ trong việc áp dụng Hiệp định

Xác định trị giá tính thuế nhập khẩu luôn trở thành một chủ đề được quan tâm hàng đầu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Bởi vì, một mặt, nó góp phần giúp các cơ quan nhà nước có các phương pháp khắc phục các hiện tượng gian lận thương mại qua giá, đảm bảo thu đúng, thu đủ tiền thuế cho ngân sách nhà nước; mặt khác, nó là công cụ để bảo vệ các nhà kinh doanh trung thực bằng việc yêu cầu cơ quan hải quan phải chấp nhận trị giá tính thuế là giá người nhập khẩu thực sự phải thanh toán trong giao dịch, khuyến khích phát triển sản xuất nội địa cũng như duy trì và phát triển quan hệ thương mại, ngoại giao quốc tế Ngay từ những năm 40 của thế kỷ trước việc xây dựng một cơ chế xác định trị

Trang 6

giá hải quan minh bạch, hợp lý, có thể áp dụng trên phạm vi toàn thế giới đã được đặt ra như một yêu cầu tất yếu và được cộng đồng quốc tế nhiệt liệt ủng hộ Tuy nhiên, thiết lập một cơ chế pháp lý xác định giá tính thuế nhập khẩu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt nam hiện nay là một vấn đề tương đối phức tạp nhưng thực sự cần thiết, thể hiện trên một số khía cạnh sau:

Về mặt thực tiễn, giao lưu quốc tế về thương mại và dân sự diễn ra theo nhiều hình thức, phương cách đa dạng Chính sự đa dạng này làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, không thống nhất trong việc xác định trị giá hải quan.Thứ nhất, nhiều nhà nhập khẩu đã lợi dụng triệt để những hạn chế của pháp luật về xác định giá tính thuế nhập khẩu hiện nay để gian lận thương mại qua giá, gây thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước Thứ hai, quy trình, phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu hiện nay đã bộc lộ nhiều yếu kém, không đáp ứng được những đòi hỏi của tình hình mới, về lâu dài có thể gây cản trở cho quá trình giao lưu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam

Về mặt pháp lý, pháp luật điều chỉnh việc xác định giá tính thuế nhập khẩu là một cơ chế pháp lý khá phức tạp, chia cắt nhỏ lẻ Bởi vì, trị giá tính thuế nhập khẩu được xây dựng trên cơ sở của nhiều bộ phận pháp luật khác nhau như pháp luật thuế, pháp luật hải quan, pháp luật thương mại … Trong khi đó, sự tồn tại những bất cập, kém hiệu lực và không đồng bộ của các bộ phận pháp luật này với nhau và ngay trong bản thân trong bộ phận ấy đã dẫn tới những hạn chế nhất định trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật xác định giá tính thuế nhập khẩu hiện nay ở nước ta trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt sự vận động của hệ thống pháp luật nước ta hiện nay đang tiếp cận dần với các nguyên tắc, quy định và thông lệ của thực tiễn giao dịch thương mại quốc tế cũng đã đưa tới các điều kiện, cơ sở và yều cầu mới cho việc đánh giá một cách toàn diện pháp luật về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu hiện hành Đối với Việt nam, một nước đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế thì việc từng bước tiếp cận và áp dụng các quy định quốc tế về trị giá hải quan là bước đi thích hợp

Trang 7

Tại điều 3(4) Chương I Hiệp định thương mại Việt nam-Hoa Kỳ, Việt nam đã cam kết thực hiện các quy định của Hiệp định về việc Thi hành Điều 7 của GATT 1994 trong vòng 2 năm kể từ khi hiệp định Thương mại Việt nam Hoa kỳ

có hiệu lực (tức là đầu năm 2004) Tất nhiên khi Việt nam gia nhập WTO thì phải có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ hiệp định về việc thi hành Điều 7 của GATT

1994 Do đó, Việc thực thi Hiệp định về việc Thi hành Điều 7 của GATT 1994 không còn là sự lựa chọn mà là một nghĩa vụ quốc tế của Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Vì những lý do trên, là một cán bộ hải quan tôi chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật Việt nam về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh

tế quốc tế ” làm luận văn thạc sĩ luật

2 Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở đánh giá cơ chế xác định giá tính thuế nhập khẩu theo pháp luật hiện hành, làm rõ những nội dung cần hoàn thiện để thiết lập và vận hành cơ chế xác định giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật giá tính thuế nhập khẩu

và các yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đối với cơ chế xác định giá tính thuế nhập khẩu

- Làm rõ thực trạng pháp luật hiện hành đối với việc vận hành cơ chế xác định giá tính thuế nhập khẩu, tính tương thích của pháp luật trong nước về trị giá tính thuế nhập khẩu với chuẩn mực quốc tế

- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

*Đối tượng nghiên cứu:

Trang 8

- Các văn bản pháp luật liên quan đến cơ chế xác định giá tính thuế nhập khẩu; các văn bản của các cơ quan chức năng liên quan đến xác định giá tính thuế nhập khẩu;

- Các số liệu, thông tin thực tiễn về thực hiện pháp luật xác định giá tính thuế nhập khẩu

*Phạm vi nghiên cứu:

Dưới góc độ nghiên cứu luật học, luận văn không nghiên cứu toàn bộ những vấn đề liên quan đến trị giá hải quan mà giới hạn nghiên cứu được xác định trên cơ sở làm rõ lý luận pháp luật điều chỉnh việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành trên sơ sở đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định trị giá tính thuế nhập khẩu ở Việt nam phù hợp với chuẩn mực quốc tế phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, thống kê v.v…

6 Những đóng góp mới của đề tài

- Về lý luận: Củng cố cơ sở lý luận toàn diện về giá tính thuế hàng nhập khẩu, tạo ra những cơ sở pháp lý của việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

- Về thực tiễn: Khẳng định việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu phù hợp với tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế là cần thiết, tạo tiền đề cho Việt nam nhanh chóng đạt được mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về trị giá tính thuế nhập khẩu trong tư pháp quốc tế

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt nam về trị giá tính thuế nhập khẩu

Trang 9

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật việt nam về trị giá tính thuế nhập khẩu

trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU TRONG TƯ PHÁP QUỐC TẾ

1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU

Trị giá tính thuế nhập khẩu là một căn cứ tính thuế nhập khẩu dựa trên cơ

sở trị giá của hàng hoá không phải là phát minh của thời đại chúng ta mà nó đã tồn tại từ thời Trung cổ, thậm chí trước đó Song ngày xưa, việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu tùy thuộc những phương pháp ấn định giá cụ thể của từng nước, các nhà nhập khẩu không thể đệ đơn khiếu nại về quyết định của Hải quan

để giải quyết tranh chấp về vấn đề trị giá

Trên thế giới đã tồn tại nhiều phương pháp xác định giá khác nhau, hỗn độn, có khi trái ngược nhau và kém ổn định Như phương pháp giá thị trường trong nước (thường áp dụng ở những nước kém phát triển ở châu Á, theo phương pháp này trị giá tính thuế nhập khẩu dựa trên giá bán buôn của hàng hoá nhập khẩu khi bán ở nước nhập khẩu trừ đi 15%); phương pháp giá thị trường trong nước hiện hành (đây là một phương pháp do nước Anh đưa ra vào đầu thế kỷ 19

và được coi là một phương pháp để bảo hộ hàng hoá được sản xuất tại Anh và bán tại các nước thuộc địa Trị giá tính thuế dựa trên giá bán buôn tại thị trường nước xuất khẩu; phương pháp giá thị trường hợp lý (phương pháp này tương tự

Trang 10

như phương pháp giá thị trường trong nước hiện hành nhưng được coi là có tính linh hoạt hơn trong việc xác định giá nào được coi là giá thị trường hợp lý); phương pháp giá tối thiểu (đây thực sự là phương pháp mang tính áp đặt, theo phương pháp này cơ quan hải quan đưa ra giá tối thiểu cho tất cả các mặt hàng hoá nhập khẩu mà nó không phản ánh giá thực tế của hàng hoá-phương pháp này thường được áp dụng ở các nước kém phát triển) … Các phương pháp này đã tạo

ra những mâu thuẫn nghiêm trọng trong quan hệ buôn bán quốc tế Dần dần, thông qua các cuộc đàm phán, giữa các quốc gia đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt là đưa ra những thoả thuận chung về mặt thuế suất hợp lý Thực tế cũng cho thấy rằng, để những Hiệp định về thuế quan được thực hiện có hiệu quả thì phải thay đổi các tiêu chuẩn xác định trị giá Bởi vì nếu duy trì hệ thống xác định trị giá hiện hành thì từng quốc gia có thể đưa ra những phương pháp xác định trị giá riêng, làm mất đi tính hiệu quả của các mức thuế suất đã thoả thuận Hơn nữa, các thương nhân, ngoài mặt thuế suất, còn muốn biết được trị giá lô hàng cần trao đổi là bao nhiêu để có thể chủ động hơn trong kinh doanh

Do vậy, đầu thế kỷ 20, một trong những lĩnh vực được nhiều nước quan tâm, nghiên cứu là sự thay đổi hệ thống xác định trị giá tùy tiện ở các quốc gia bằng một hệ thống xác định trị giá quốc tế có hiệu quả, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại quốc tế

Sau nhiều cố gắng, dưới sự bảo trợ của một số quốc gia, lần đầu tiên những nguyên tắc chung về xác định trị giá Hải quan đã được đưa ra tại Điều 7 của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại vào năm 1947, Hiệp định này được gọi tắt là GATT (General Agreement on Tariffs and Trade) Từ đó đến nay việc hình thành và phát triển của các phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu quốc tế có thể chia làm ba giai đoạn sau:

a Giai đoạn thứ nhất: Geneve năm 1947

Trang 11

Vào những năm của đầu thế kỷ mới, các nhóm nước quan tâm đến việc

mở rộng thương mại quốc tế đã nghiên cứu việc thay thế những phương pháp xác định trị giá không ổn định đang áp dụng từ trước tới nay bằng một hệ thống xác định trị giá hiệu quả thống nhất trên phạm vi thế giới

Sau nhiều lần áp dụng thử dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (tiền thân của Liên hiệp quốc), lần đầu tiên tại hội nghị của Liên hiệp quốc về vấn đề thương mại và việc làm tổ chức tại Geneve năm 1947, các quốc gia đã đưa ra các nguyên tắc chung để xác định trị giá

Các kết luận của hội nghị này đã được thể hiện trong Điều 7 Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) với nguyên tắc chính là việc xác định trị giá Hải quan phải dựa trên bản thân giá trị thực tế của hàng hoá đó

Tuy nhiên, tại thời điểm đó, Điều 7 Hiệp định GATT cũng chỉ mới đưa ra những nguyên tắc mang tính chất chung và cung cấp thêm một số ứng dụng thực

tế chứ chưa đưa ra được những phương pháp xác định trị giá cụ thể Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định đã đưa ra được những nguyên tắc xác định trị giá thực tế, công bằng, đồng thời loại trừ được những việc xác định trị giá tùy tiện hoặc giả tạo

b Giai đoạn thứ hai: Brussels 1953

Giai đoạn thứ hai trong lịch sử về xác định trị giá Hải quan bắt đầu khi một nhóm nghiên cứu của Hiệp hội Hải quan các nước Tây âu gồm 11 nước (Italia, Pháp, Tây Đức, Bỉ, Lucxembua, Phần lan, Anh, Bắc Ailen, Hy lạp, Tây ban nha, Bồ đào nha) nghiên cứu về xác định trị giá Hải quan với ý định hình thành một Liên minh Hải quan Châu âu

Đặc biệt nhóm nghiên cứu này đã đưa ra một định nghĩa về trị giá Hải quan được áp dụng ở tầm cỡ quốc tế, đó là định nghĩa Brussels (viết tắt là BDV) Định nghĩa này được nêu lên trong Công ước về xác định trị giá Hải quan ký tại Brussels ngày 15.12.1950 và có hiệu lực từ ngày 28.7.1953

Trang 12

Định nghĩa này chủ yếu dựa vào hệ thống xác định trị giá đã được áp dụng thành công ở các nước thành viên qua vài năm, đồng thời tính đến những nguyên tắc xác định trị giá Hải quan thời kỳ đó mới được đưa vào Hiệp định GATT

Nội dung của Định nghĩa đã đưa ra một khái niệm lý thuyết về trị giá Hải quan, trong đó đề cập đến các yếu tố về giá cả, thời gian, địa điểm, số lượng và cấp độ thương mại Đặc biệt sau khi xuất bản tập chú giải năm 1960 thì Định nghĩa này nhận được sự ủng hộ từ khắp nơi trên thế giới, số lượng các nước ký kết Hiệp định lên tới 33 nước và khoảng 70 nước khác công nhận áp dụng Hiệp định vào những năm đầu của thập kỷ 70

c Giai đoạn thứ 3: Geneve 1973 - 1979 và tới nay

Một thời kỳ mới trong lịch sử về xác định trị giá Hải quan được bắt đầu vào những năm 1973 - 1979 thông qua các cuộc đàm phán thương mại đa phương diễn ra tại Geneve, trung tâm của GATT, sau khi vòng đàm phán Tokyo đưa ra những chính sách thương mại quốc tế lớn nhất trong thời đại chúng ta, nhằm mục đích tự do hoá mậu dịch ngày càng lớn giữa các nước khác nhau, loại

bỏ những trở ngại trong buôn bán quốc tế

Một trong những biện pháp nhằm đạt được mục đích này là việc đưa ra được một hệ thống quốc tế về xác định trị giá Hải quan để áp dụng thống nhất trên toàn thế giới Đó là việc thông qua Hiệp định liên quan đến việc thực hiện Điều 7 của GATT Hiệp định được thông qua vào năm 1979 và có hiệu lực từ 01.01.1981, gọi tắt là Hiệp định giá Hải quan GATT Hiệp định này quy định một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan trên cơ sở trị giá giao dịch thực tế của hàng hoá nhập khẩu, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán Từ vòng đàm phán Uruguay, năm 1994, Hiệp định lại được bổ sung, sửa đổi hoàn chỉnh Hệ thống xác định trị giá theo Hiệp định này đã đưa ra những phương pháp xác định trị giá có tính đến thực tiễn thương mại quốc tế, nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác [1], [2], [31]

Trang 13

1.2 KHÁI NIỆM TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU

1.2.1 Khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu

Trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về trị giá tính thuế nhập khẩu Sự hình thành các quan niệm, khái niệm về trị giá tính thuế nhập khẩu trải qua các thời kỳ khác nhau thì khác nhau và nó phụ thuộc vào từng quốc gia trong việc áp dụng phương pháp xác định trị giá Theo quan điểm của các quốc gia áp dụng phương pháp áp dụng trị giá tính thuế nhập khẩu theo quốc gia thì trị giá của hàng hoá nhập khẩu là giá được chuyển đến cửa khẩu nhập Theo

đó trị giá cụ thể của từng mặt hàng được khống chế bằng bảng giá tối thiểu do cơ quan nhà nước của nước nhập khẩu ban hành hoặc dùng các phương pháp xác định trị giá mang tính tuỳ tiện không có chuẩn mực nào Các quốc gia áp dụng các phương pháp áp dụng trị giá theo phương pháp xác định trị giá của hiệp định trị giá GATT 1994 thì quan niệm trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao dịch theo nghĩa rộng Theo đó, trị giá tính thuế nhập khẩu là giá thực phải thanh toán hay sẽ phải thanh toán Các quốc gia áp dụng phương pháp tính thuế theo định nghĩa Brussels thì đưa ra khái niệm về trị giá tính thuế nhập khẩu

là trị giá mà ở đó, hàng hoá nhập khẩu trong điều kiện được xác định, tức là giá của hàng hoá đó phải phù hợp với hàng hoá tại thời điểm nhập khẩu ma Hải quan thực hiện thu thuế đối với việc mua bán hàng hoá trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, giữa người mua và người bán độc lập với nhau

Các thuật ngữ trị giá tính thuế, giá tính thuế, trị giá hải quan, cơ bản là đồng nghĩa Mặc dù trong nhiều trường hợp, việc sử dụng chúng thay thế cho nhau không hẳn đã hoàn toàn chính xác nhưng nhìn chung cũng không gây ra những nhầm lẫn lớn Lai lịch của những thuật ngữ này ở Việt nam được tóm tắt là: 1- Giá tính thuế, được ghi nhận lần đầu trong Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu

Trang 14

1997, là một thuật ngữ có ý nghĩa pháp lý sử dụng để phản ánh mọi loại giá của hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu được xác định theo các phương pháp định giá mà pháp luật quy định, không tính tới sự khác biệt về tính chất giữa các phương pháp; 2- Trị giá hải quan được du nhập vào Việt nam cùng quá trình tham gia vào hội nhập kinh tế quốc tế khoảng nửa đầu những năm 1990 để chỉ phương pháp xác định trị giá hàng hoá xuất, nhập khẩu theo điều 7 của hiệp định chung

về thuế quan và thương mại; 3- Trị giá tính thuế lần đầu tiên xuất hiện trong nghị định 60/2002/NĐ-CP ngày 06/06/2002 quy định về việc xác định trị giá tính thuế theo nguyên tắc của GATT, cho nên trị giá tính thuế và trị giá hải quan có nhiều nét gần nhau Nhưng tóm lại việc xác trị giá tính thuế hay trị giá hải quan nhằm mục đích tính thuế và thống kê đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Trị giá của hàng hoá nhập khẩu chưa bao giờ là câu chuyện riêng của người nhập khẩu Sự tồn tại của chủ quyền quốc gia trong hoạt động kinh tế đối ngoại thông qua thuế quan đã làm cho vấn đề có thêm những sắc thái chính trị pháp lý,

xã hội bên cạnh ý nghĩa kinh tế tự thân Hệ thống thuế quan sử dụng trị giá tính thuế nhập khẩu như một công cụ pháp lý tác động trực tiếp vào các quan hệ giá

cả của hàng hoá nhập khẩu phù hợp với mục đích của bản than hệ thống thuế quan như thu ngân sách và/hoặc bảo vệ sản xuất Khi mức độ thuế suất được cắt giảm theo các cam kết của hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống thuế quan phải đặt trọng tâm điều chỉnh vào việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu Việc quy định trị giá tính thuế nhập khẩu có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ, nó không chỉ có quan hệ trực tiếp với nguồn thu ngân sách, bảo vệ sản xuất nội địa mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới mối quan hệ thương mại, ngoại giao giữa các nước [19,17] Trị giá tính thuế nhập khẩu là một quan hệ xã hội phức tạp Tính phức tạp

đó thể hiện ở sự đa dạng trong mục đích của những chủ thể tham gia, ở mối liên

hệ phong phú giữa nội dung gía trị với các biểu hiện hình thức khác nhau Bởi vậy, để làm sáng tỏ khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu cần tiếp cận theo những vấn đề sau:

Trang 15

1 Trị giá tính thuế nhập khẩu là căn cứ tính thuế nhập khẩu Trong khi

thiết kế thuế nhập khẩu ta có thể dựa vào các căn cứ sau: Chủng loại hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, trị giá hàng hoá Xu hướng hiện nay là dùng trị giá tính thuế làm căn cứ tính thuế vì tính tiện lợi, linh hoạt và khách quan của nó Theo đó, thuế nhập khẩu bằng: trị gía tính thuế X thuế xuất X tỷ giá quy đổi Từ công thức này ta thấy ngay rằng trị giá tính thuế nhập khẩu là một biến số được xác định phụ thuộc vào mục tiêu của sắc thuế nhập khẩu Chẳng hạn, nếu mục tiêu

cơ bản của thuế nhập khẩu nhằm bảo hộ mạnh mẽ và triệt để ngành, hàng sản xuất nội địa thì trị giá tính thuế sẽ được xác định theo các tiêu thức áp đặt, hành chính Bởi vậy, khi bản thân luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu chứa đựng nhiều mục đích khác nhau thậm chí là trái ngược như ở Việt nam thì hệ thống về trị giá tính thuế trở nên phức tạp và rắc rối

Trị giá tính thuế nhập khẩu là một trong những căn cứ cơ bản để tính thuế hải quan [14,48] và các thuế khác Vấn đề gì sẽ xảy ra khi chúng ta mở rộng phạm vi ngoại diên của khái niệm từ thuế nhập khẩu sang tới các sắc thuế khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế GTGT? Liệu có sự khác biệt đáng kể giữa cái được gọi là giá vốn trong thuế nhập khẩu với giá để tính thuế giá trị gia tăng đầu vào và với giá để xác định và với giá để xác định chi phí trong thuế thu nhập doanh nghiệp? Lời gải thích cho những câu hỏi này phụ thuộc chủ yếu vào cách đặt vấn đề về vị trí và mối quan hệ giữa các sắc thuế trong hệ thống thuế thống nhất Điều quan trọng là chúng tôi rút ra từ những lập luận này là phải chăng chúng ta có thể lợi dụng những mối liên hệ nội tại giữa những sắc thuế để xác định chính xác và kiểm tra tính đúng đắn của giá tính thuế nhập khẩu Thật vậy,

vì trong đa số các trường hợp, nhập khẩu chỉ là khâu đầu tiên của một quá trình kinh doanh nên khi các hoạt động kinh doanh sản xuất được tiến hành trong nội địa cho chúng ta cơ hội được tìm kiếm những bằng chứng xác thực về giá trị thật

sự của hàng hoá nhập khẩu Thông thường khi nhập khẩu, người nhập khẩu có

xu hướng khai không đúng số lượng, chất lượng, trị giá hàng hoá để giảm thiểu

Trang 16

thuế nhập khẩu Nhưng đến khi bán hàng, khi hạch toán kinh doanh, chủ hàng buộc phải tính đúng các chi phí đầu vào để giảm số thuế phải nộp trong nội địa

2 Trị giá tính thuế nhập khẩu chỉ liên quan và phụ thuộc vào hàng hoá nhập khẩu

Bởi vậy, khi làm rõ khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu đặt ra việc xem xét nội dung của vấn đề hàng hoá nhập khẩu

Thứ nhất, đặc tính nhập khẩu của hàng hoá Hàng hoá được coi là nhập

khẩu nếu nó được đưa từ một quốc gia khác đến quốc gia tiếp nhận hàng hoá (trong trường hợp hàng hoá từ khu chế xuất vào tiêu thụ trong nước cũng được coi là nhập khẩu) Xác định chính xác không gian và thời gian của hành vi nhập khẩu có ý nghĩa thực tế cho việc xác định trị giá nhập khẩu Không gian và thời điểm nhập khẩu tác động tới việc tính toán chi phí phát sinh của hàng hoá như phí vận chuyển, kho bãi, bảo hiểm, tỷ giá Thực tiễn pháp lý quốc tế cho thấy, có

sự không thống nhất về cách hiểu hành vi nhập khẩu Chẳng hạn, theo luật hải quan 1995 của Cộng hoà Indonexia thì nhập khẩu là các hoạt động đưa hàng hoá vào lãnh thổ hải quan, trong đó lãnh thổ hải quan được hiểu là vùng đất, vùng trời, vùng nước, các địa điểm đặc biệt trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trong khi đó ở Philippin điều 102 của Bộ luật hải quan xác định công việc nhập khẩu bắt đầu khi tầu thuyền, máy bay, vận tải hàng hoá bắt đầu vào khu vực thẩm quyền để dỡ hàng xuống đó [17]

Ở Việt nam, Luật hải quan 2001 - đạo luật điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu – không đưa ra một định nghĩa chính thức về hành vi nhập khẩu Vì vậy, có những biểu hiện không logic trong việc xác định trị giá nhập khẩu Khảo sát các quy định của Luật này cho thấy, nhập khẩu không phải là cơ

sở cho việc xác định trị giá tính thuế nhập khẩu mà ngược lại, việc xác định trị giá tính thuế là căn cứ cho việc nhập khẩu Thật vậy, điều 4 Luật hải quan quy định thông quan là việc cơ quan hải quan quyết định hàng hoá được nhập khẩu; việc thông quan được tiến hành sau khi hàng hoá đã làm thủ tục hải quan trong

đó nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác là một nội dung của thủ tục hải quan

Trang 17

Từ góc độ quản lý nhà nước về hải quan dễ dàng giải thích các quy định nêu trên Vì vậy, dưới góc độ điều chỉnh trị giá tính thuế nhập khẩu, việc tách rời không gian và thời gian giá nhập khẩu khỏi hành vi nhập khẩu, trong thời gian dài sẽ đưa lại nhiều bất lợi khi xây dựng và thực thi các chính sách có liên quan Bởi vì, chúng ta sẽ không thể thiết kế một hệ thống phương pháp định giá toàn diện nếu không có sự phân biệt giữa hàng nhập khẩu để bán với hàng là quà biếu, hàng mẫu, hàng ký gửi, thuê, mượn hay vay

Thứ hai Mục đích nhập khẩu của hàng hoá Mục đích nhập khẩu của hàng

hoá thể hiện ý định sử dụng hàng hoá của bên nhập khẩu và bên xuất khẩu Mục đích nhập khẩu rất đa dạng: Thương mại, quá cảnh, hành lý theo người, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập … Tuy không phải là cơ sở cơ bản để xác định thuế nhập khẩu nhưng mục đích nhập khẩu cũng có ý nghĩa nhất định trong việc lựa chọn phương pháp định giá nhập khẩu Rõ ràng là hàng hoá nhập khẩu phi mậu dịch không dựa trên các giao dịch mua bán nên phương pháp định giá sẽ không thể dựa vào giá cả thương mại của hàng hoá

3 Trị giá tính thuế nhập khẩu xác định căn cứ vào trị giá của hàng hoá nhập khẩu

Trong mối liên hệ phân tích khái niệm trị giá tính thuế nhập khẩu, chúng ta chỉ xem xét trị giá của hàng nhập khẩu theo ba nội dung sau:

Thứ nhất, đánh giá chủ quan và khách quan trị giá hàng nhập khẩu Về mặt

chủ quan, trị giá hàng nhập khẩu phản ánh phần trị giá của hàng nhập khẩu được hải quan thừa nhận, xoay quanh giá trị trung bình của hàng hoá trên thị trường

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế thường có xu hướng xác định thuế nhập khẩu theo trị giá chủ quan này vì nó tạo ra một căn cứ tính thuế loại bỏ được những giả định về mối liên hệ bên trong giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu cũng như tác động bên ngoài (phạm vi, thời điểm bán hàng hoặc thủ đoạn kinh doanh) làm biến dạng giá trị thực tế của hàng hoá Về mặt khách quan, trị giá của hàng hoá nhập khẩu phản ánh một mức giá giao dịch cụ thể giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu Về nguyên tắc, người nhập khẩu có xu

Trang 18

hướng sử dụng trị giá khách quan vì nó phản ánh trực tiếp chi phí mà họ đã bỏ ra

để có hàng hoá Thực chất tính hai mặt khách quan-chủ quan của giá trị hàng hoá nhập khẩu là mối quan hệ giữa giá thị trường với giá trị cá biệt, giữa lao động xã hội với lao động tư nhân, giữa lao động trừu tượng với lao động cụ thể

Thứ hai, trị giá thuế nhập khẩu là kết quả của quá trình định giá hàng hoá

nhập khẩu Định giá là một thủ tục do các bên liên quan (hải quan, người nhập khẩu) áp dụng nhằm xác định trị giá của hàng nhập khẩu Như là hệ quả của tính hai mặt nêu trong trị giá hàng nhập khẩu Chẳng hạn như định giá hàng nhập khẩu theo giá hàng sẽ được tiêu thụ trong nội địa hoặc theo giá phản ánh trong quan hệ thanh toán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu Việc lựa chọn phương pháp định giá tuỳ thuộc vào mục đích quản lý xuất nhập khẩu của từng quốc gia Tuy nhiên, xu hướng hội tụ các phương pháp xác định giá giữa các quốc gia ngày càng được khẳng định rõ nét thông qua quá trình tự do hoá thương mại toàn cầu Mặt khác, việc định giá cũng xác lập trình tự thủ tục, các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan thuế và người nhập khẩu Các trình tự và thủ tục định giá xét về tính chất là các quan hệ hành chính Mặc dù chỉ là những quan hệ hình thức nhưng chính những thủ tục này khai được quy định hợp lý sẽ là cơ sở để xác định đúng đắn giá nhập khẩu, bảo đảm được quan hệ bình đẳng và dân chủ giữa người nhập khẩu và cơ quan hải quan

Thứ ba, khi phân tích nội dung trị giá tính thuế hàng nhập khẩu cần phân

biệt với khái niệm giá trị và giá cả Có thể phân biệt ba khái niệm này qua mô tả đơn giản sau: Giá trị phản ánh chi phí lao động trung bình của nhà sản xuất thì giá cả phản ánh mối quan hệ giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu trong điều kiện của quá trình mua bán trao đổi hàng hoá cụ thể; trị giá tính thuế nhập khẩu phản ánh mối quan hệ giữa người nhập khẩu với cơ quan hải quan trong quá trình nhập khẩu hàng hoá

4 Trị giá tính thuế nhập khẩu không đồng nhất với giá trên hợp đồng được

ký kết giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu

Trang 19

Hợp đồng chỉ là một yếu tố cần xem xét đến bên cạnh những căn cứ, dữ liệu khác Có hai vấn đề cần lưu ý ở đây:

Thứ nhất, trị giá tính thuế nhập khẩu phải được chứng minh bằng hệ thống

các căn cứ, dữ liệu khách quan Các dữ liệu này thông thường tồn tại dưới hình thức hợp đồng mua bán ngoại thương, báo giá, hoá đơn thương mại hoặc các loại chứng từ khác Người nhập khẩu có trách nhiệm cung cấp dữ liệu này Tiêu chuẩn khách quan trước hết đòi hỏi bộ hoá đơn chứng từ phải được lập và xuất trình phù hợp với yêu cầu của pháp luật và thông lệ tập quán quốc tế được thừa nhận Tính khách quan của tài liệu còn thể hiện ở tính có thể kiểm tra của bên thứ ba đối với nội dung được thể hiện trên tài liệu Nói tóm lại, khi đảm bảo được tính khách quan, người nhập khẩu có thể sử dụng bất kỳ tài liệu nào để chứng minh trị giá của hàng nhập khẩu

Thứ hai, cơ quan hải quan có quyền yêu cầu người nhập khẩu phải chứng

minh về tính chính xác, trung thực của bất kỳ một tài liệu, một chứng từ hoặc một tờ khai nào mà chủ hàng đã xuất trình cho hải quan Như vậy, khi đánh giá tính khách quan của tài liệu nhằm xác định trị giá tính thế, hải quan có quyền đòi hỏi sự hợp tác toàn diện của người nhập khẩu

Từ những dẫn giải trên đây trị giá tính thuế nhập khẩu được khái niệm như sau:

Trị giá tính thuế nhập khẩu là một căn cứ tính thuế nhập khẩu dựa trên

cơ sở trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu phù hợp với những dữ liệu khách quan, khoa học được đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu thuế xác định và chấp nhận

1.2.2 Khái niệm pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu

Trị giá tính thuế nhập khẩu là một quan hệ xã hội tương đối phức tạp và đặc thù Quan hệ này chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố kinh tế đa dạng không chỉ các yếu tố kinh tế vi mô như giá cả trong những giao dịch cụ thể mà còn cả các yếu tố kinh tế vĩ mô như tỷ giá hối đoái, mức độ điều tiết của thuế quan Các

Trang 20

yếu tố này đã làm cho mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể trong mối quan hệ càng trở nên phức tạp Mục đích của quan hệ buôn bán ngoại thương là xuất và nhập khẩu hàng hoá Mục đích của thuế quan là giữ một số quyền trong việc quản lý xuất nhập khẩu để làm lợi cho nhà nước Vậy thì nhà nước phải trung lập giữa thương mại và thuế quan, khiến cho hai phía này không chồng chéo nhau

Có như vậy mới hướng được cái lợi của tự do thương mại Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng, sự hình thành và thực hiện các quan hệ xã hội về trị giá tính thuế nhập khẩu không chỉ vì mục đích tự thân của chúng Trên thực tế, việc xác lập quan hệ về trị giá tính thuế nhập khẩu là nhằm thực hiện các quan hệ xã hội về thu thuế nhập khẩu hoặc để quản lý nhà nước về hải quan Như vậy, quan hệ xã hội về giá tính thuế nhập khẩu không chỉ vận động bởi các nhân tố kinh tế bên trong mà nó còn vận động trong mối liên hệ với các yếu tố bên ngoài như thủ tục hải quan Từ khía cạnh này, có quan điểm nhìn nhận trị giá tính thuế nhập khẩu chỉ là một bộ phận của quan hệ xã hội về thuế quan Thực ra điều này không hoàn toàn chính xác Bởi vì trong quan hệ thuế nhập khẩu được sử dụng làm căn

cứ tính thuế chỉ là kết quả đã được lượng hoá từ một quá trình trong đó diễn ra việc phân tích, xác định các yếu tố tạo nên trị giá nhập khẩu phù hợp với yêu cầu của nhà nước Nội dung cơ bản của quá trình này là thực hiện phương pháp thích hợp nhất có thể có để xác định trị giá tính thuế nhập khẩu Sự tồn tại của nhiều

hệ thống phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, tự thân nó đòi hỏi phải có sự quy chuẩn và chấp nhận rộng rãi trong xã hội Các phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu tuy có cùng mục đích là nhằm tìm một trị giá tính thuế phù hợp với thực tế khách quan, song xuất phát từ những cơ sở khoa học khác nhau và phụ thuộc vào các điều kiện chính sách và kỹ thuật trong từng giai đoạn cụ thể của mỗi quốc gia, nên việc lựa chọn phương pháp, hoặc ưu tiên

áp dụng phương pháp nào phải được nhà nước quy định

Việc nhà nước quy định về trị giá tính thuế nhập khẩu không chỉ bắt nguồn

từ những đòi hỏi tất yếu của bản thân quan hệ này mà còn là một phương cánh

để nhà nước thực hiện mục tiêu quan lý của mình Trị giá tính thuế nhập khẩu

Trang 21

luôn là một nội dung cần tính tới trong việc đề ra và thực thi chính sách xuất nhập khẩu, nhất là khi chính sách ấy hướng tới việc phòng chống gian lận thương mại Trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, các biểu hiện của gian lận thương mại rất đa dạng, đặc biệt gian lận trị giá diễn ra rất phổ biến Thông thường có ba loại hình gian lận trị giá phổ biến: Khai báo sai, miêu tả phân loại hàng hoá sai, không khai báo quan hệ đặc biệt giữa người mua – người bán, tăng giảm không đúng các loại chi phí, chiết khấu, hoa hồng Để hạn chế hiện tượng này, nhà nước đã đề ra nhiều biện pháp chống gian lận, trong đó công cụ pháp luật chứng

tỏ ưu thế của mình bằng tính quy phạm và khả năng bắt buộc Theo kinh nghiệm của Mỹ, để phòng ngừa và chống gian lận thương mại qua giá, điều đầu tiên là phải đảm bảo tính minh bạch trong hệ thống pháp quy về xác định trị giá hải quan Trên cơ sở đó, cộng đồng doanh nghiệp sẽ tin tưởng vào hệ thống xác định trị giá và hợp tác chặt chẽ với hải quan trong việc xác định trị giá Luật pháp của

Mỹ về trị giá tính thuế nhập khẩu cho phép doanh nghiệp đạt được sự thông thoáng trong quá trình kinh doanh mà vẫn đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của cơ quan hải quan Luật hải quan Mỹ quy định doanh nghiệp có quyền khiếu nại lên các cấp có thẩm quyền, thậm chí tới cơ quan tư pháp, về các quyết định của cơ quan hải quan liên quan đến xác định trị giá tính thuế nhập khẩu mà không phải chịu bất cứ một khoản phạt nào Theo kinh nghiệm của New Zealand

để đảm bảo hạn chế gian lận trị giá tính thuế nhập khẩu thì mọi quy định về xác định trị tính thuế nhập khẩu đều được xây dựng ở cấp độ văn bản luật và với mức độ chi tiết cao Theo đó, doanh nghiệp hoàn toàn có khả năng áp dụng trực tiếp các quy định vào hoạt động thực tế Trong trường hợp có vướng mắc, khó khăn khi xác định trị giá tính thuế nhập khẩu, doanh nghiệp sẽ liên hệ trực tiếp với cơ quan hải quan để nhận được hướng dẫn cụ thể, đồng thời các quyết định của cơ quan hải quan phải được công bố bằng văn bản tới nhà nhập khẩu Khi có tranh chấp thì toà án quốc gia sẽ là cấp giải quyết cuối cùng Để chống gian lận thương mại qua giá luật pháp New Zealand đã trao quyền rất rộng cho lực lượng kiểm tra sau thông quan Theo đó phạm vi kiểm tra sau thông quan mà hải quan

Trang 22

tiến hành là toàn bộ hoạt động của nhà nhập khẩu Đồng thời Luật pháp cũng đặt

ra các cơ sở pháp lý hỗ trợ cho kiểm tra sau thông quan như hoá đơn của hàng hoá nhập khẩu phải được lưu giữ trong thời gian tối thiểu là 10 năm Những chứng từ giải trình dù dưới dạng giấy, băng đĩa từ hay điện tử khi được xuất trình cho cơ quan hải quan phải được nhà nhập khẩu lưu trữ cẩn thận [21] Nói rộng ra, tuy công cụ pháp luật không đưa lại hiệu quả tức thời như các biện pháp

tổ chức, kỹ thuật nghiệp vụ, song ngược lại, nó tạo dựng nền tảng vững chắc, thống nhất và ổn định cho việc mô hình hóa hành vi xử sự của các bên trong quá trình xác định trị giá tính thuế Mô hình pháp lý này phản ánh những phương thức mà các bên có thể tiến hành để xác định trị giá tính thuế

Những dẫn giải trên đây cho thấy nội dung cơ bản của quan hệ xã hội về trị giá tính thuế nhập khẩu là mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với người nhập khẩu trong việc áp dụng phương pháp xác định trị giá tính thuế nhập khẩu và nhu cầu tất yếu của việc điều chỉnh bằng pháp luật quan hệ đặc thù này Từ đó ta có thể đưa ra một khái niệm pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu như sau:

Pháp luật trị giá tính thuế nhập khẩu là một bộ phận pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nhập khẩu hàng hoá trong việc sử dụng các phương pháp phù hợp để xác định trị giá tính thuế của hàng hoá nhập khẩu

1.3 CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU

1.3.1 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo Định nghĩa Brussels

Định nghĩa trị giá Brussels (Brussels Definition Value) có hiệu lực từ ngày 28.07.1953 Vào thời kỳ đó, Định nghĩa BDV là phương pháp xác định trị giá Hải quan duy nhất trên thế giới mang tính quốc tế Hơn nữa Định nghĩa BDV

đã đề cập đến những nguyên tắc cơ bản về xác định trị giá Hải quan vừa được

Trang 23

đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT Do vậy hệ thống xác định trị giá này được nhiều nước trên thế giới hưởng ứng áp dụng (33 nước

ký kết tham gia Hiệp định và hơn 70 nước công nhận áp dụng), chỉ đến khi Hiệp định trị giá GATT ra đời thì các quốc gia tham gia ký kết mới chuyển dần sang

áp dụng theo Hiệp định trị giá GATT

Theo Định nghĩa, các phương pháp xác định trị giá phải dựa trên khái niệm chung nhất là “trị giá” hoặc là khái niệm về giá mà với giá đó, hàng hoá được nhập khẩu hay một hàng hoá tương tự được bán để xuất khẩu (đây là khái niệm mang tính hiện thực) hoặc là khái niệm về giá được công nhận đối với hàng hoá nhập khẩu trong các điều kiện xác định (đây là khái niệm mang tính lý thuyết) Các tác giả của Định nghĩa Brussels đã chọn khái niệm về mặt lý thuyết

để làm cơ sở xây dựng nguyên tắc xác định trị giá, với những nội dung cơ bản là:

1.3.1.1 Giá thông thường

Điều 1 của Định nghĩa Brussels đã thiết lập một nền tảng chủ yếu việc xác định trị giá Hải quan đối với hàng nhập khẩu là giá thông thường, tức giá đó phải phù hợp với hàng hoá tại thời điểm nhập khẩu mà Hải quan thực hiện việc thu thuế đối với việc mua bán hàng hoá trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và giữa người mua với người bán độc lập với nhau

1.3.1.2 Điều kiện thị trường

Điều 2 nêu lên các chỉ dẫn, giải thích về các vấn đề đối với “việc mua bán hàng hoá được thực hiện trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và giữa người mua với người bán độc lập với nhau” Điều này đề cập đến việc mua bán thực hiện trên thị trường một cách tự do nâng giá, tức là vấn đề giá hàng hoá không bị ảnh hưởng đến các điều kiện, các mối liên hệ giữa người bán và người mua Như vậy các vấn đề Định nghĩa nêu lên hoàn toàn mang tính chất lý thuyết

1.3.1.3 Các chi phí

Điều 3 chỉ rõ rằng trị giá Hải quan đối với trường hợp có các chi phí về bằng phát minh sáng chế, thiết kế mẫu mã và mác, nhãn sản xuất hoặc nhãn hiệu

Trang 24

thương mại nước ngoài của hàng hoá thì các chi phí đó cũng được cộng vào giá trị thông thường của hàng hoá Điều này khẳng định trên cơ sở nguyên tắc của Điều 1 nêu trên Phần liệt kê các khoản thuế để phân tích, xem xét, đánh giá không được triệt để Nhưng do Định nghĩa Brussels có thêm phần chú giải, giải thích nhằm đảm bảo thống nhất áp dụng, nên rõ ràng hơn và thuận tiện hơn cho việc thực hiện có hiệu quả hơn

Như vậy, Định nghĩa Brussels dựa trên cơ sở khái niệm về trị giá lý thuyết, bao gồm một tiêu chuẩn đánh giá duy nhất là giá thông thường của hàng hoá Giá thông thường này có thể nhận thấy được ngay cả khi không có giao dịch bán hàng thực tế

Với vai trò là một điều ước quốc tế đa phương đầu tiên đề cập một cách chi tiết đến việc xác định trị giá Hải quan, Định nghĩa Brussels cũng đã đạt được một số thành công đáng kể, đó là các quy định trong Định nghĩa cũng đã đi gần với thực tiễn thương mại, các yếu tố như số lượng hàng hoá, các chi phí có liên quan cũng được xem xét khi xác định trị giá Hải quan, nhưng do tồn tại các khái niệm mơ hồ nên trong quá trình áp dụng các nước đã đưa ra các cách xác định riêng làm mất đi tính thống nhất và xuất hiện việc can thiệp quá mức cần thiết của các cơ quan quản lý vào quá trình xác định trị giá tính thuế Thực tế cho thấy Định nghĩa Brussels dần dần bị cô lập với thực tiễn thương mại, ngày càng

ít được các quốc gia áp dụng, thay vào đó là các phương pháp xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định Trị giá GATT [3],[1],[2],[4]

1.3.2 Trị giá tính thuế nhập khẩu theo Hiệp định trị giá GATT/WTO

1.3.2.1 Khái quát chung về Hiệp định

Hiệp định về việc thực hiện điều 7 của GATT được thông qua năm 1979

và có hiệu lực từ ngày 01.01.1981, được bổ sung, sửa đổi tại vòng đàm phán Uruguay 1994, do vậy thường được gọi là Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan GATT - 1994 (hay GATT/WTO) Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là

Trang 25

thiết lập một hệ thống các phương pháp xác định trị giá đối với hàng hoá, đồng thời tuân thủ các điều kiện thực tế về quan hệ thương mại quốc tế nhằm loại bỏ việc xác định trị giá Hải quan một cách tùy tiện hoặc giả tạo [1]

Nội dung chính của Hiệp định là xác định trị giá hải quan một cách chính xác đối với bản thân hàng hoá đó, bởi lẽ xu hướng xử lý hàng hoá nhập khẩu một cách không công bằng nhằm bảo vệ nền công nghiệp trong nước ngày càng lan rộng đã biến trị giá Hải quan thành một hàng rào phi quan thuế trong quan hệ thương mại quốc tế

Điều 7 Hiệp định GATT đã nêu lên việc xác định trị giá theo mục đích Hải quan với 3 nguyên tắc cơ bản:

- Trị giá theo mục đích Hải quan của hàng nhập khẩu phải được căn cứ vào trị giá thực của hàng nhập khẩu, đó là trị giá được sử dụng làm căn cứ tính thuế hải quan Trị giá này không được căn cứ vào trị giá hàng hoá được sản xuất trong nước nhập khẩu hoặc trị giá hư cấu

- Trị giá thực này phải là giá cả được pháp luật của nước nhập khẩu xác định tại một thời điểm và địa điểm nhất định đối với hàng hoá đó, hoặc là hàng hoá tương tự bán trong quá trình kinh doanh bình thường với các điều kiện cạnh tranh không hạn chế

- Nếu trị giá thực không được xác định theo nguyên tắc trên thì trị giá theo mục đích Hải quan sẽ được tính trên cơ sở trị giá tương đương gần nhất

Ngoài ra, tại các phần chú giải của điều 7 đã giải thích thêm về “trị giá thực” được hiểu là trị giá ghi trong hoá đơn thương mại cộng thêm các khoản chi phí hợp lý, hợp pháp chưa được tính vào trị giá, những khoản chi phí này là các

bộ phận cấu thành của trị giá thực

Theo quy định của Hiệp định, để bảo vệ nền kinh tế trong nước, các quốc gia chỉ có thể điều tiết về mặt thuế suất đối với từng loại hàng hoá theo từng mức thuế suất để hạn chế hoặc khuyến khích nhập khẩu đối với loại hàng hoá đó

Trang 26

Trọng tâm chính và quan trọng của Hiệp định được nhấn mạnh trong lời giới thiệu chung của Hiệp định, là việc sử dụng trị giá giao dịch làm cơ sở đầu tiên cho việc xác định trị giá của lô hàng cần được xác định trị giá, nếu hiểu một cách tóm tắt và đơn giản thì trị giá giao dịch này là giá thực tế đã thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán theo thoả thuận giữa người mua và người bán

Hiệp định gồm 4 phần chia làm 24 điều:

- Phần I : Những quy tắc về xác định trị giá Hải quan (Điều 1 đến 17) Phần này bao gồm 6 phương pháp xác định trị giá Hải quan, được xếp theo thứ

tự ưu tiên như sau: Phương pháp xác định trị giá giao dịch; Phương pháp xác định trị giá giao dịch của hàng cùng loại; Phương pháp xác định trị giá giao dịch của hàng tương tự; Phương pháp suy diễn; Phương pháp tính toán; Phương pháp

dự phòng Phần này quy định các bên tham gia khi áp dụng Hiệp định Trị giá GATT bắt buộc tuân theo nguyên tắc là chỉ được áp dụng phương pháp sau một khi xét thấy không thể áp dụng phương pháp trước đó, trừ phương pháp 4 và 5, nếu người nhập khẩu yêu cầu thì có thể đảo ngược thứ tự áp dụng

- Phần II: Thi hành tham vấn và giải quyết tranh chấp (Điều 18 - 19) Phần này nêu các nội dung có liên quan đến thi hành, tham vấn và giải quyết tranh chấp và các Uỷ ban chức năng Điều 18 Hiệp định quy định hai Uỷ ban chức năng đó là:

Thứ nhất, Uỷ ban trị giá Hải quan hoạt động dưới sự bảo trợ của WTO,

chức năng chính là giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách thương mại của Hiệp định Thành viên bao gồm đại diện các nước thành viên WTO Cơ chế hoạt động: Uỷ ban bầu ra chủ tịch, Uỷ ban họp thường kỳ mỗi năm một lần hoặc thay đổi số lần họp tùy theo các quy định có liên quan của Hiệp định, các cuộc họp của Uỷ ban tổ chức tại Geneve dưới sự bảo trợ của WTO cũng chính là ban thư ký của Uỷ ban Tháng 1 năm 1981 tại phiên họp lần thứ nhất, Uỷ ban đã chấp nhận vị trí quan sát viên thường trực của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Với vai trò là điều phối viên trong việc thực hiện Hiệp định trị giá Hải

Trang 27

quan ở các nước thành viên và với chức năng của mình Uỷ ban có thể tác động tới quá trình thực hiện Hiệp định, với mục tiêu xúc tiến Hiệp định Tại phiên họp của Uỷ ban các nước thành viên có cơ hội để tham vấn những vấn đề có liên quan đến công việc tổ chức thực hiện của hệ thống xác định trị giá Hải quan

Thứ hai, Uỷ ban kỹ thuật xác định trị giá Hải quan hoạt động dưới sự bảo

trợ của Tổ chức hải quan thế giới (WCO) Uỷ ban này tập trung vào giải quyết các công việc về Hải quan của Hiệp định Mỗi nước thành viên có thể cử một hoặc một vài đoàn luân phiên nhau làm đại diện Uỷ ban kỹ thuật Ba thành viên WCO tham dự các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật với tư cách quan sát viên Các nước thành viên WCO nhưng chưa phải thành viên WTO cũng có thể tham dự các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật như là một quan sát viên Ngoài ra, tùy thuộc

sự chấp thuận của Chủ tịch Uỷ ban kỹ thuật và Tổng thư ký WCO, có thể mời đại diện chính phủ nước không phải là thành viên WCO và WTO, các tổ chức thương mại quốc tế, các tổ chức liên chính phủ với tư cách quan sát viên Thông thường ủy ban họp 2 kỳ một năm trừ trường hợp đặc biệt Địa điểm họp: Trụ sở WCO tại Brussels Tại phụ lục II của Hiệp định đã nêu rõ Uỷ ban kỹ thuật này được thành lập nhằm đạt được sự thống nhất trong việc hướng dẫn, giải thích và

áp dụng Hiệp định về mặt kỹ thuật xác định trị giá

- Phần III: Đối xử đặc biệt và Đối xử khác biệt (Điều 20) Phần này quy định đối với các nước đang phát triển khi tham gia Hiệp định thì có thể được tạm hoãn áp dụng các điều khoản của Hiệp định trong vòng 5 năm và hoãn thực hiện một số quy tắc đặc biệt trong vòng 3 năm nữa Điều 20 cũng nêu, khi được yêu cầu thì các nước thành viên là nước phát triển có thể giúp đỡ kỹ thuật, đào tạo cán bộ, trợ giúp chuẩn bị các biện pháp trong quá trình tham gia, đánh giá các nguồn thông tin về phương pháp xác định trị giá Hải quan và tư vấn về việc áp dụng các điều khoản của Hiệp định cho các nước đang phát triển

- Phần IV: Các điều khoản cuối cùng (Điều 21 -24) quy định các điều khoản về bảo lưu, luật pháp Quốc gia, kiểm tra lại và ban thư ký Hiệp định

Trang 28

- Các phụ lục gồm: phụ lục I về các chú giải, phụ lục II về Uỷ ban kỹ thuật về xác định trị giá Hải quan và phụ lục III về các quyền bảo lưu [18],[29],[40]

1.3.2.2 Các quy tắc của Hiệp định về xác định trị giá Hải quan

Các quy tắc chi tiết của WTO về việc xác định tính thuế Hải quan của hàng hoá được nêu trong Hiệp định xác định trị giá tính thuế Hải quan (tên gọi đầy đủ là Hiệp định thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT - năm 1994) Hệ thống xác định trị giá tính thuế của Hiệp định dựa trên các tiêu chí đơn giản và công bằng có tính đến thực tiễn thương mại hiện hành Bằng cách yêu cầu tất cả các nước thành viên hài hoà hoá hệ thống pháp luật quốc gia trên cơ sở các quy tắc của Hiệp định, Hiệp định nhằm đảm bảo tính thống nhất, nhất quán trong việc áp dụng các quy tắc để nhà nhập khẩu có thể biết trước được khoản thuế mà họ sẽ phải trả cho các mặt hàng nhập khẩu [26],[1]

a Phương pháp chính: Trị giá giao dịch

Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định là trị giá tính thuế Hải quan phải dựa trên cơ sở giá thực trả hoặc sẽ phải trả khi hàng được bán từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu (ví dụ: giá hoá đơn), có thể được điều chỉnh, khi cần thiết, bao gồm một số khoản thanh toán mà người mua phải trả như chi phí bao bì đóng gói

và container, giá trị hàng hoá hoặc dịch vụ hỗ trợ, phí bản quyền và xin phép sử dụng bằng sáng chế (xem hộp 1.1) Các quy tắc này cũng quy định sẽ không đưa vào trị giá tính thuế tiền hoa hồng mua hàng hoặc chiết khấu đặc biệt dành cho đại lý độc quyền [6],[30]

Hiệp định Tokyo hạn chế chặt chẽ quyền tùy ý của Hải quan trong việc không công nhận trị giá giao dịch trừ một số ít trường hợp nêu trong hộp 1.2 Đây là một vấn đề vốn đã làm nhiều nước đang phát triển lo ngại Các nước này cho rằng quy tắc này hạn chế quá mức những quyền hạn của cơ quan Hải quan nước họ trong việc xử lý hành vi của thương nhân khi họ cố ý khai thấp trị giá

Trang 29

hàng nhập nhằm trốn thuế Đó là lý do giải thích vì sao các quốc gia đang phát triển chưa muốn áp dụng Hiệp định trong thời kỳ trước khi thành lập WTO

Hộp 1.1: Các điều chỉnh được phép đối với thanh toán hàng hoá

Để xác định được trị giá giao dịch, điều 8 của hoạt động về xác định trị giá tính thuế Hải quan quy định các khoản thanh toán cho những mục sau có thể được tính gộp vào giá mà người nhập khẩu thực sự đã trả hoặc phải trả (giá hoá đơn) đối với hàng nhập khẩu:

- Phí hoa hồng và môi giới, trừ phí hoa hồng mua hàng

- Chi phí và phí cho việc đóng gói và container

- Giá trị hàng hoá hoặc dịch vụ phụ trợ, tức là hàng hoá (vật tư, phụ kiện, công cụ, khuôn mẫu, v.v ) hoặc dịch vụ (thiết kế, bản vẽ) được người mua cung cấp miễn phí hoặc giảm giá để sử dụng trong quá trình sản xuất ra hàng nhập khẩu

Điều khoản này còn làm rõ rằng các hạng mục khác ngoài các mục đã nêu trên đây sẽ không được cộng vào giá đã trả hoặc phải trả giá giao dịch Ngoài ra điều khoản này còn liệt kê các chi phí không được tính vào trị giá tính thuế quan, nếu những chi phí này có thể tách biệt với giá thực tế đã trả hoặc phải trả Những chi phí này gồm:

- Cước vận tải sau khi nhập vào lãnh thổ Hải quan của nước nhập khẩu

- Chi phí xây dựng, xây lắp, bảo trì hoặc hỗ trợ kỹ thuật phát sinh sau khi nhập khẩu

- Thuế quan và các loại thuế của nước nhập khẩu

Nguồn:Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan, điều 8

Trang 30

Hộp 1.2: Các trường hợp Hải quan được phép không công nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu đã kê khai

1 Trường hợp không có hành vi mua bán

2 Khi có những hạn chế đối với việc bán hoặc sử dụng hàng hoá đó đối với người mua Trị giá giao dịch có thể không được chấp nhận nếu hợp đồng bán hàng đặt ra một số những hạn chế đối với việc sử dụng hoặc bán hàng hoá trừ trường hợp:

- Hạn chế được quy định bởi luật (Ví dụ : các yêu cầu về bao bì)

- Hạn chế giới hạn khi khu vực địa lý được phép kinh tiêu hàng hoá đó (ví dụ: hợp đồng phân phối hạn chế việc bán hàng trong phạm vi lãnh thổ các nước Châu  u)

- Các hạn chế không ảnh hưởng đến trị giá hàng hoá (Ví dụ: Mẫu hàng mới nhập không được phép bán trước một thời điểm cụ thể nào đó)

3 Khi việc bán hàng hoặc giá cả phải tuân theo một số điều kiện nào đó mà trị giá không thể xác định được (ví dụ: người bán hàng định giá hàng nhập khẩu với điều kiện người mua cũng phải nhập mặt hàng với một số lượng cụ thể nào đó)

4 Khi người bán hưởng một phần các khoản thu được về sau do người mua bán lại hàng hoá

5 Khi người mua và người bán quan hệ với nhau và giá cả bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ đó

Nguồn: Hướng dẫn doanh nghiệp về Hệ thống thương mại thế giới, NXB Chính trị quốc gia 2001, trang 94

Quyết định liên quan đến các trường hợp cơ quan Hải quan có lý do để nghi ngờ độ chân thực hoặc chính xác của trị giá khai báo (còn được biết đến dưới tên quyết định về hoán chuyển trách nhiệm chứng minh), đã khắc phục được nhược điểm này Quyết định này được thông qua là sáng kiến của các nước phát triển trong vòng đàm phán Uruguay Hiệp định Tokyo đặt trách nhiệm

Trang 31

chứng minh sang cho Hải quan khi họ không công nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu khai báo Quyết định của vòng đàm phán Uruguay hoán chuyển trách nhiệm chứng minh sang cho người nhập khẩu khi cơ quan Hải quan, trên

cơ sở các thông tin về giá và các dữ liệu thu thập được, "có lý do để nghi ngờ độ chân thực hoặc chính xác của những chi tiết cụ thể hoặc của chứng từ phụ trợ" trong khai báo trị giá tính thuế của người nhập khẩu

Để đảm bảo việc Hải quan không công nhận trị giá giao dịch trong những trường hợp đó phải dựa trên cơ sở khách quan, Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan quy định luật pháp của mỗi quốc gia phải dành cho người nhập khẩu một số quyền Thứ nhất, khi Hải quan tỏ ra nghi ngờ sự chân thực hoặc chính xác của trị giá kê khai, người nhập khẩu phải có quyền được giải thích, bao gồm cả việc xuất trình các giấy tờ và các bằng chứng chứng tỏ rằng trị giá

mà họ kê khai là phản ánh đúng giá trị hàng mà họ nhập khẩu Thứ hai, khi Hải quan không thoả mãn đối với sự giải thích mà người nhập khẩu đưa ra, người nhập khẩu có quyền yêu cầu Hải quan gửi cho họ một văn bản nêu rõ lý do nghi ngờ độ chân thực và tính chính xác của trị giá khai báo Quy định này nhằm bảo

vệ lợi ích của người nhập khẩu bằng cách cho họ quyền được khiếu nại về quyết định này lên các cấp có thẩm quyền cao hơn và, nếu cần thiết, có thể kiện lên toà

án hoặc các cơ quan độc lập trong ngành Hải quan

Phương pháp trị giá giao dịch do người nhập khẩu khai báo nên được sử dụng để xác định trị giá tính thuế hàng hoá không chỉ đối với các giao dịch giữa các bên không có quan hệ trực tiếp mà còn đối với cả các giao dịch giữa các bên

có quan hệ gần gũi Trong các giao dịch giữa các bên phụ thuộc này, thường là giữa các Công ty xuyên quốc gia và các Công ty con hoặc chi nhánh của họ, giá thường được tính trên cơ sở giá nội bộ và có thể không phải lúc nào cũng phản ánh đúng trị giá thực của hàng hoá nhập khẩu Và ngay cả trong những trường hợp đó, Hiệp định cũng yêu cầu Hải quan phải tham khảo ý kiến của người nhập khẩu, nhằm xác định chắc chắn thực chất mối quan hệ, hoàn cảnh giao dịch đó

Trang 32

và xem xét liệu mối quan hệ đó có ảnh hưởng tới giá hay không Nếu sau khi xem xét Hải quan thấy rằng mối

quan hệ không ảnh hưởng đến trị giá khai báo thì trị giá giao dịch sẽ được xác định trên cơ sở giá đó Hơn nữa, nhằm đảm bảo trên thực tế, trị giá giao dịch sẽ không bị phủ nhận chỉ với lý do đơn thuần là các bên có quan hệ lệ thuộc lẫn nhau, Hiệp định cho người nhập khẩu quyền đề nghị trị giá khai báo phải được chấp nhận khi họ chứng tỏ được trị giá đó là tương đương với trị giá thẩm tra của Hải quan khi tính trên cơ sở:

- Trị giá tính thuế Hải quan được xác định trong giao dịch nhập khẩu trước đó xảy ra gần như cùng thời gian đó giữa người mua và người bán không quen biết đối với hàng hoá giống hệt hoặc tương tự

- Trị giá tính theo phương pháp khấu trừ hoặc theo phương pháp tính toán đối với hàng hoá giống hệt hoặc tương tự

b Năm phương pháp khác

Hải quan sẽ xác định trị giá tính thuế như thế nào khi họ quyết định không công nhận trị giá giao dịch mà người nhập khẩu khai báo? Nhằm bảo vệ lợi ích của người nhập và đảm bảo rằng trong trường hợp đó trị giá sẽ được xây dựng trên cơ sở công bằng và hợp lý, Hiệp định hạn chế quyền tự định đoạt của Hải quan bằng cách nêu ra năm phương pháp Hiệp định còn nhấn mạnh rằng các phương pháp này cần phải được áp dụng theo thứ tự nêu ra trong văn bản Hiệp định này, và chỉ khi Hải quan thấy rằng phương pháp thứ nhất không thể áp dụng được thì mới áp dụng lần lượt các phương pháp tiếp theo để xác định trị giá Các phương pháp, giới thiệu theo trình tự lần lượt áp dụng, như sau:

- Trị giá giao dịch của các hàng hoá giống hệt

Khi trị giá hàng hoá không thể xác định trên cơ sở trị giá giao dịch, nó cần phải được xác định trên cơ sở trị giá giao dịch đã được xác định trước đó của một loại hàng hoá giống hệt như vậy

- Trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự

Trang 33

Khi không thể xác định trị giá hàng hoá trên cơ sở phương pháp nói trên, cần phải được xác định trị giá trên cơ sở trị giá giao dịch của loại hàng hoá tương

tự

Theo cả hai phương pháp này, giao dịch được chọn để làm cơ sở tính toán phải là giao dịch liên quan đến hàng đã nhập khẩu được bán để xuất khẩu sang nước nhập khẩu vào khoảng cùng thời điểm hàng hoá được xuất khẩu Hộp 1.3

mô tả các quy tắc cần tuân theo để xác định xem hàng hoá sử dụng để xác định trị giá tính thuế quan có giống hệt hoặc tương tự với hàng hoá nhập khẩu hay không

Hộp 1.3: Những quy tắc để xác định hàng hoá là giống hệt nhau hoặc tương tự nhau

Hàng hoá là giống hệt, nếu chúng: Giống nhau về mọi mặt, kể cả các đặc tính vật lý, chất lượng và danh tiếng

Hàng hoá là tương tự, nếu chúng: Gần giống nhau với hàng hoá đang được xác định trị giá về thành phẩm, vật liệu và các đặc điểm Có thể thực hiện những chức năng giống nhau và có thể hoán đổi về mặt thương mại so với hàng hoá đang được xác định trị giá

Hơn nữa, để xác định là giống hệt nhau hoặc tương tự nhau, hàng hoá phải được sản xuất:

- Trong cùng một nước

- Và do cùng nhà sản xuất

Đối với hàng hoá đang được xác định trị giá

Tuy nhiên, nếu không có giao dịch nhập khẩu nào liên quan tới hàng hoá giống hệt nhau tương tự do cùng nhà sản xuất ở cùng nước với hàng hoá đang được xác định trị giá sản xuất ra thì phải xem xét đến hàng hoá do người sản xuất khác ở cùng nước đó sản xuất ra

Nguồn: Hiệp định về xác định trị giá tính thuế Hải quan, Điều 15 :2

Trang 34

- Trị giá khấu trừ

Hai phương pháp tiếp theo là phương pháp trị giá khấu trừ và tính toán Trị giá khấu trừ được xác định trên cơ sở đơn giá bán trên thị trường nội địa của hàng nhập khẩu đang cần xác định trị giá hoặc của loại hàng hoá giống hệt hoặc tương tự sau khi đã trừ đi các khoản như lợi nhuận, thuế nhập khẩu, thuế khác, phí vận tải và bảo hiểm và các chi phí phát sinh khác trong lãnh thổ nước nhập khẩu

- Trị giá tính toán

Trị giá tính toán được xác định bằng cách cộng thêm vào giá thành mặt hàng đang được định giá "một khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với khoản lợi nhuận và chi phí chung thường tính trong giá bán của các mặt hàng cùng loại với hàng cần xác định trị giá được sản xuất bởi nhà sản xuất

ở nước xuất khẩu với mục đích xuất khẩu sang nước nhập khẩu"

- Phương pháp dự phòng

Khi trị giá tính thuế nhập khẩu không thể xác định được bằng bất kỳ một trong bốn phương pháp nêu ở trên, trị giá đó có thể được xác định bằng bất kỳ phương pháp nào trong các phương pháp trước đó một cách linh hoạt với điều kiện các tiêu chí vận dụng là phù hợp với Điều VII của Hiệp định chung Song việc áp giá trong trường hợp đó không được dựa trên các cơ sở sau: giá hàng hoá xuất khẩu sang thị trường nước thứ ba, trị giá tính thuế quan tối thiểu, trị giá tùy tiện hoặc không thực tế Nhìn chung, Hiệp định đã tính đến khả năng khi trị giá giao dịch không được chấp nhận, việc áp giá sẽ được thực hiện bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn nêu trên dựa vào các thông tin có được trong phạm vi nước nhập khẩu Tuy nhiên Hiệp định nhận thấy để xác định trị giá tính toán, cần phải kiểm tra chi phí sản xuất của mặt hàng đang cần xác định trị giá và các thông tin khác có nguồn gốc từ bên ngoài nước nhập khẩu Vì vậy mà Hiệp định gợi ý, để tránh những gánh nặng không cần thiết cho người nhập khẩu, chỉ nên sử dụng phương pháp trị giá tính toán trong trường hợp người mua và người bán có liên

Trang 35

hệ, quan hệ lệ thuộc nhau và ngườ i sản xuất đã được báo trước để cung cấp cho

cơ quan Hải quan nước nhập khẩu các thông tin cần thiết về giá cho các bước xác minh tiếp theo [26],[30],[51]

Quy trình nghiệp vụ xác định giá tính thuế có thể được tóm tắt trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1: Quy trình xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT

1.3.2.3 Các nước đang phát triển và Hiệp định

Trước 01.01.1995, chỉ có 11 nước áp dụng hệ thống xác định giá tính thuế của Hiệp định Khi Hiệp định được đưa ra thảo luận, một điều được nhận thấy là

đa số các nước đang phát triển (các nước này hiện đang áp dụng hệ thống Định nghĩa trị giá Brussels- một hệ thống hoàn toàn khác với hệ thống của Hiệp định) cần phải có thời gian để điều chỉnh khung pháp lý của họ đồng thời đào tạo các công chức để triển khai Hiệp định Vì vậy Hiệp định đã gia hạn một thời gian là

5 năm đối với các nước đang phát triển nào nhận thấy rằng việc chuyển đổi ngay lập tức gây ra nhiều khó khăn cho họ

Khai báo trị giá trên tờ khai

trị giá

Có đủ điều kiện áp dụng phương pháp 1 hay không

Trị giá tính thuế do cơ quan Hải quan xác định

Trang 36

Một số nước đang phát triển hiện nay đã trở thành viên của Hiệp định Tuy nhiên, khoảng 50 nước (bao gồm cả một số nước kém phát triển) đã vận dụng điều khoản cho phép thời gian quá độ nói trên Thời gian quá độ này sẽ chấm dứt đối với tất cả các nước vào đầu hoặc giữa năm 2000 Để có thể áp dụng toàn bộ hệ thống vào thời điểm mục tiêu này, ban thư ký của WTO và WCO đã tiến hành hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân viên theo các phương pháp xác định trị giá của Hiệp định

Các yêu cầu xin gia hạn thời hạn 5 năm phải gửi đến Uỷ ban trị giá Hải quan - được thành lập theo Hiệp định này Các nước đang phát triển khi yêu cầu phải nêu rõ các khó khăn gặp phải khi áp dụng hệ thống này Bất kỳ sự gia hạn nào cũng phải được sự chấp thuận của Uỷ ban [1],[5]

1.3.3 Quy định của hiệp định thương mại Việt – Mỹ (10/2001) về trị giá tính thuế nhập khẩu

Nhìn chung hiệp định thương mại Việt - Mỹ quy định về việc xác định trị giá tính thuế theo cách viện dẫn tới các quy định của WTO và yêu cầu hai nước thực hiện theo các tiêu chuẩn của WTO (hiệp định thi hành điều VII của GATT 1994) Hiệp định thương mại Việt nam – Hoa kỳ cũng đưa ra thời gian để hai bên chuẩn bị và hoàn thành việc tính thuế theo trị giá GATT Theo điều 3.4 – chương I: Trong vòng (02) năm kể từ khi hiệp định này có hiệu lực, các bên áp dụng hệ thống định giá hải quan dựa trên giá trị giao dịch của hàng hoá nhập khẩu để tính thuế hoặc của hàng hoá tương tự, chứ không dựa vào giá trị của hàng hoá theo nước xuất xứ, hoặc giá trị được xác định một cách võ đoán hay không có cơ sở, với giá trị giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hoá được bán để xuất khẩu sang nước nhập khẩu phù hợp với những tiêu chuẩn được thiết lập trong hiệp định thi hành điều VII của GATT

1994 Tại điều 3.5 – chương I quy định: Trong vòng 02 năm kể từ khi hiệp định này có hiệu lực (10/2003), các bên bảo đảm rằng các khoản phí và phụ phí quy

Trang 37

định tại khoản 3 điều này và hệ thống định giá hải quan quy định tại k4 điều này được quy định hay thực hiện một cách nhất quán trên toàn lãnh thổ hải quan mỗi bên

1.4 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT QUỐC GIA VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VỀ TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ NHẬP KHẨU

Toàn cầu hoá làm cho các quan hệ quốc tế phát triển và vì vậy làm cho hệ thống pháp luật quốc tế phát triển Toàn cầu hoá làm cho thế giới xích lại gần nhau, các hệ thống pháp luật khác nhau có dịp va chạm, tiếp xúc nhiều hơn và vì vậy có sự ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những sân chơi chung mà ở đó người ta muốn không bị loại ra khỏi sân chơi thì phải tuân thủ luật chơi chung Và vì vậy các quốc gia khác nhau buộc phải giao lưu, hợp tác, đấu tranh, thoả nhượng để cùng được xây dựng luật chơi chung và tham

dự vào sân chơi chung mà không bị lệ thuộc Cùng với quá trình toàn cầu hoá, pháp luật của các quốc gia từ chỗ chủ yếu điều chỉnh quan hệ quốc nội giờ đây phát triển nhanh cả về điều chỉnh quan hệ có tính quốc tế Vị trí, vai trò của các công ước quốc tế, hiệp ước quốc tế, hiệp định quốc tế, tập quán quốc tế nói chung và về trị giá tính thuế nhập khẩu nói riêng ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội [27] Trong phạm bài viết này chúng tôi chỉ muốn bàn về mối quan

hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia về trị giá tính thuế nhập khẩu

Hội nhập kinh tế quốc tế làm cho hệ thống pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu của các quốc gia trở thành hệ thống pháp luật mở Các điều ước quốc

tế về trị giá tính thuế nhập khẩu mà các quốc gia ký kết hoặc tham gia trở thành một bộ phận trong hệ thống pháp luật quốc gia Thực tiễn đó buộc chúng ta phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia về trị giá tính thuế nhập khẩu Một xu thế mang tính tất yếu hiện nay là luật pháp của các quốc gia về trị giá tính thuế nhập khẩu cần phải hài hoà hoá với quy định của WTO Bởi vì, hiện nay tổ chức thương mại thế giới trở thành một tổ chức có quy

Trang 38

mô toàn cầu với 148 nước, lãnh thổ là thành viên chiếm khoảng 97% thương mại toàn cầu và có khoảng 30 quốc gia đang trong quá trình đàm phán gia nhập [31] Việc áp dụng trị giá GATT 1994 đối với các quốc gia đang là thành viên của WTO là bắt buộc [20] Đối với các quốc gia đang trong quá trình đàm phán gia nhập WTO thì việc chấp nhận hiệp định trị giá GATT 1994 là một trong những điều kiện quan trọng để đàm phán gia nhập Khi tham gia và thực hiện đầy đủ hiệp định này sẽ đem lại cho các quốc gia chưa và sẽ là thành viên của WTO những cơ hội to lớn đồng thời những thách thức cũng không nhỏ Một điều kiện tiên quyết để thực hiện cam kết về việc thực hiện hiệp định trị giá GATT 1994 là các quốc gia phải nội luật hoá các các quy định của hiệp định Theo đó, các quốc gia sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới hoặc bổ sung, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về trị giá tính thuế nhập khẩu nhằm cụ thể hoá hiệp định trị giấ GATT 1994 Trong trường hợp này hiệp định được chuyển hoá thành các quy định tương ứng của pháp luật trong nước Tuy nhiên, chúng ta cũng phải nhận thức rằng chuyển hoá thông qua việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu không phải là sự sao chép lại hiệp định vào pháp luật quốc gia Thực chất đây là quá trình đưa quy định của hiệp định vào pháp luật quốc gia trên cơ sở chủ quyền và những điều kiện cụ thể của quốc gia nhằm thực hiện tốt các cam kết quốc tế và tập quán thương mại Việc chuyển hoá các quy phạm của hiệp định trị giá GATT 1994 thành quy phạm pháp luật quốc gia là việc làm không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm bảo đảm thi hành hiệp định mà mỗi quốc gia đã cam kết trong quá trình đàm phán gia nhập WTO Muốn đạt được điều này các quốc gia chưa và sẽ trở thành thành viên của WTO cần phải điều chỉnh các văn bản pháp luật hiện hành

về trị giá tính thuế nhập khẩu theo những yêu cầu cơ bản sau:

Một là, hệ thống xác định trị giá của hàng nhập khẩu theo mục đích của

hải quan phải hợp lý, thống nhất và độc lập, hệ thống đó phải loại bỏ việc sử dụng trị giá tính thuế nhập khẩu áp đặt hay hư cấu Điều đó cũng có nghĩa pháp luật về trị giá không được sử dụng để làm hàng rào phi thuế quan đối với thương

Trang 39

mại Một trong những mục tiêu của có tính nguyên tắc của WTO là loại bỏ các biện pháp này

Hai là, Pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu phải đảm bảo việc xác

định trị giá của hàng nhập khẩu theo mục đích của hải quan phải là trị giá giao dịch, với nghĩa rộng trong chừng mực có thể Trị giá giao dịch cho phép các doanh nghiệp dự đoán chính xác số thuế phải nộp đối với hàng hoá giao dịch của

họ Hơn nữa trị giá giao dịch còn đảm bảo mức độ chắc chắn cho các doanh nghiệp, bởi vì trị giá hải quan của hàng nhập khẩu trước hết sẽ dựa trên giá thoả thuận giữa người mua và người bán

Ba là, Pháp luật về trị giá tính thuế nhập khẩu phải đảm bảo việc xác định

trị giá dựa trên những tiêu chí đơn giản, bình đẳng và nhất quán với thông lệ thương mại Mặt khác, thủ tục xác định trị giá cần được áp dụng không phân biệt nguồn cung cấp Việc áp dụng một trong sáu phương pháp (như đã nêu ở trên) phải phù hợp với thông lệ thương mại Việc áp dụng hiệp định trị giá GATT

1994 phải được thực hiện với tất cả các nước không phân biệt nước xuất khẩu có phải là bên ký kết hiệp định hay không Không có bất cứ sự phân biệt nào giữa những người xuất khẩu hay giữa các sản phẩm Pháp luật không được quy định

áp đặt việc tuỳ ý nâng trị giá tính thuế lên để tăng nguồn thu thuế nhập khẩu, đồng thời có biện pháp ngăn chặn việc từ chối giá thoả thuận giữa người mua và người bán chỉ vì lý do đơn giản: giá đó được coi là “quá thấp” [44]

Khi xem xét mối quan hệ giữa điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia về trị giá tính thuế nhập khẩu chúng ta cũng cần phải nhìn nhận rằng hệ thống pháp luật của quốc gia không chỉ có văn bản luật và văn bản dưới luật mà còn có cả các điều ước quốc tế mà quốc gia đó ký kết hoặc tham gia Chúng ta cũng cần nhìn nhận rằng thực chất của việc “chuyển hoá” là một trong cách thức mà thông qua đó điều ước quốc tế được thực hiện trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Điều

đó giúp cho chúng ta đặt vấn đề là phải thiết lập được một cơ chế thực hiện điều

Trang 40

ước một cách mềm dẻo, linh hoạt để sao cho việc thực hiện điều ước diễn ra nhanh chóng kịp thời và mang lại hiệu quả cao

2 Trong hoàn cảnh quốc tế hiện nay, khi thương mại đang có xu hướng toàn cầu hoá thì việc đi đến thành lập một hệ thống xác định trị giá tính thuế Hải quan mang tính thống nhất trên quy mô toàn cầu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thương mại quốc tế là một yêu cầu mang tính tất yếu Dựa trên yêu cầu đó, WTO đã đưa ra một quy tắc xác định trị giá chung mang tính bắt buộc đối với các thành viên của mình và đồng thời quy tắc này cũng có vai trò quan trọng trong quá trình đàm phán để gia nhập WTO đối với các nước muốn trở thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu này Qua thực tế áp dụng cho thấy đây cũng là phương pháp xác định giá tiên tiến và hợp

lý nhất hiện nay

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quy trình xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT - Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trị giá tính thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Sơ đồ 1 Quy trình xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w