1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công ước ATA và khả năng thực thi của ngành Hải quan trong thời gian tới

106 617 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 0,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ một số nội dung về Công ước ATA, về khả năng thực thi của Hải quan Việt Nam trong thời gian tới; những bất cập trong các quy

Trang 1

Chương 1: CÔNG ƯỚC ATA VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI

QUAN TẠI VIỆT NAM

8

1.1.2.2 Hệ thống Sổ ATA hoạt động như thế nào? 10 1.1.2.3 Những loại hàng hóa hệ thống điều chỉnh 14

1.1.2.5 Những quốc gia đang tham gia hệ thống Sổ ATA 14 1.1.3 Những lợi ích khi tham gia Công ước ATA 15 1.1.3.1 Lợi ích đối với doanh nghiệp (người sở hữu Sổ) 15 1.1.3.2 Lợi ích đối với cơ quan hải quan 16 1.1.3.3 Lợi ích đối với Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh quốc gia 16

1.1.4.1 Những điều kiện quy định việc sử dụng đúng đắn Sổ ATA 17 1.1.4.2 Quyền hạn của Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh 18

Trang 2

1.1.4.3 Ngôn ngữ sử dụng 20 1.1.4.4 Trách nhiệm của người sử dụng Sổ 20 1.1.4.5 Trách nhiệm của các bên tham gia Công ước ATA 21 1.1.4.6 Các bước tiến hành để xin cấp Sổ 22

1.1.5 Tổ chức được chỉ định làm Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh 23 1.2 Pháp luật về thủ tục hải quan tại Việt Nam 23

Chương 2: THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TẠM NHẬP

TÁI XUẤT TẠI VIỆT NAM THEO CÔNG ƯỚC ATA

38

2.1 Các quy định của pháp luật việt nam về thủ tục hải quan đối

với hàng hóa tạm nhập - tái xuất

38

2.1.1 Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về thủ

tục đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất

38

2.1.2 Các loại hình hàng hóa tạm nhập - tái xuất 46 2.1.3 Thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất 48

2.1.3.2 Nguyên tắc quản lý, thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm

nhập - tái xuất, tạm xuất - tái nhập

49

2.1.4 Một số chính sách quản lý cụ thể đối với hàng hóa kinh

doanh tạm nhập - tái xuất

55

2.1.4.1 Hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất 55 2.1.4.2 Các loại hình hàng hóa tạm nhập - tái xuất khác 58 2.1.4.3 Chính sách quản lý đối với một số nhóm hàng riêng biệt 66 2.1.5 Chính sách thuế đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất 67 2.1.5.1 Thuế nhập khẩu đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất 67

Trang 3

2.1.5.5 Công tác thanh khoản tờ khai tạm nhập - tái xuất 71 2.2 Một số dẫn chiếu liên quan đến thực trạng thực hiện thủ tục

hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất tại Việt Nam

72

2.2.3 Hoạt động kinh doanh tạm nhập - tái xuất chưa đem lại

nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, cho địa phương

76

2.2.4 Thống kê kim ngạch hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất 77

Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC

HẢI QUAN NHẰM THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ CÔNG ƯỚC ATA CỦA NGÀNH HẢI QUAN

80

3.1 Định hướng phát triển ngành hải quan đến năm 2020 80 3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan 83 3.3 Giải pháp về hoàn thiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa

tạm nhập tái xuất

89

3.4 Giải pháp về ứng dụng công nghệ quản lý hiện đại 91 3.5 Giải pháp về đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ 92 3.6 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hải quan đối với doanh

nghiệp kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu

93

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

APEC Asia Pacific Economic Cooperation Diễn đàn hợp tác kinh tế

Châu Á – Thái Bình Dương ASEAN Association of South-East Asian

EDI Electronic Data Interchange Trao đổi dữ liệu điện tử GATS General Agreenent on Trade in

Services

Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ

GATT General Agreement on Trade in Tariff Hiệp định chung về Thương

mại và Thuế quan

giới giữa các nước tiểu vùng

Mê Công mở rộng

HS Convention on the Harmonized

Commodity Description and Coding System

Công ước quốc tế về Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa

IBCC The International Bureau of

TRIPS Agreement on Trade-Related Aspects

of Intellectual Property Rights

Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ UNESCO United Nations Educational Scientific

and Cultural Organization

Tổ chức Giáo dục, Khoa học

và Văn hóa của Liên hiệp quốc

WCO World Customs Organisation Tổ chức Hải quan thế giới WTO World Trade Organisation Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

Tên bảng Trang

2.1 Kim ngạch các mặt hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất từ

năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 (trừ mặt hàng xăng dầu)

77

2.2 Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại

Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 đến tháng 10

năm 2011

77

2.3 Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai

tại Cục Hải quan Hải Phòng từ năm 2007 đến tháng 10

năm 2011

78

2.4 Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại

Cục Hải quan tỉnh Lạng Sơn từ năm 2007 đến tháng 10

2.1 Sơ đồ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu 29

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, tự do hóa thương mại hiện nay đang là vấn đề “thời sự” nổi bật của kinh tế quốc tế Đặc điểm này đã tạo ra

sự liên kết, phụ thuộc ngày càng cao giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ và các khu vực Thực tiễn và lý luận chứng tỏ rằng hội nhập kinh tế quốc tế không phải chỉ là hành động của quốc gia mở cửa, sửa đổi chính sách, bổ sung pháp luật để tạo điều kiện cho giao lưu, buôn bán, hợp tác quốc tế với các quốc gia khác hoặc cho phép tổ chức, cá nhân hoạt động đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hóa, ra nước ngoài du lịch, học tập,…mà nó phải tiến hành trên cơ sở ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế

Song song với quá trình phát triển của kinh tế, thương mại trên phạm

vi toàn cầu nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời với các mục tiêu khác nhau mà một trong số đó là việc tạo điều kiện cho phát triển giao lưu, thương mại, đầu tư,

du lịch quốc tế Việc tạo thuận lợi cho giao lưu thương mại quốc tế gắn liền với công tác quản lý hải quan ở phạm vi quốc gia và quốc tế, từ đó đi đến hình thành và khẳng định sự cần thiết tồn tại và phát triển của các hoạt động này

Hiện nay ngoài các Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), là tổ chức quốc

tế liên Chính phủ chuyên trách về các vấn đề hải quan còn có các thể chế quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); Ngân hàng thế giới (WB); Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF); tổ chức các nước hợp tác và phát triển kinh tế (OECD)… hoặc có tính khu vực như ASEAN, ASEM, APEC, GMS,…tùy theo quy mô, tính chất, mục tiêu hoạt động mà hình thành và tồn tại các hoạt động hợp tác hải quan ở quy mô, tính chất khác nhau Tuy nhiên, điểm nổi bật của nó là sự kết hợp từ tính ưu việt về các chế độ, thủ tục chính sách hải quan của các quốc gia tới việc thống nhất hóa, tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa thủ tục hải quan các nước theo các chuẩn mực quốc tế nhất định

Trang 7

Năm 1993, Việt Nam gia nhập Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Đây được coi là sự kiện quan trọng có tính chất bước ngoặt trong hợp tác đa phương của Hải quan Việt Nam Việc gia nhập này đã giúp Hải quan Việt Nam chuyển dần từng bước tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ hải quan tiên tiến của thế giới Cùng với tiến trình hội nhập đất nước, Hải quan Việt Nam đã chủ động và tiến hành hội nhập sâu rộng vào các hoạt động hợp tác hải quan trong các thể chế đa phương như ASEAN, ASEM, APEC, GMS, trên cả cấp độ tiểu khu vực, khu vực và thế giới Hợp tác hải quan trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế có liên quan đến kỹ thuật nghiệp vụ hải quan hoặc các cam kết quốc gia mà hải quan có trách nhiệm thực thi

Đồng hành với thành tựu, kết quả đạt được, một trong những thách thức lớn nhất của tiến trình hội nhập kinh tế là làm sao cho hệ thống pháp luật, chính sách quản lý nền kinh tế thị trường nói chung, lĩnh vực chính sách, pháp luật hải quan nói riêng phải được thay đổi phù hợp với các chuẩn mực chung quốc tế và biện pháp thực thi các chuẩn mực này Nghị quyết Đại hội Đảng X chỉ ra yếu kém bất cập của vấn đề này là: Thiếu lộ trình chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế; chưa gắn kết chặt chẽ tiến trình hội nhập với việc hoàn thiện pháp luật, thể chế, chính sách và cải cách cơ cấu kinh tế; việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp và của nền kinh tế chưa theo kịp với yêu cầu của hội nhập

Ngày 11-01-2007, việc trở thành thành viên chính thức của WTO đã chứng tỏ quyết tâm của Việt Nam “tham dự” tích cực, sâu hơn vào kinh tế toàn cầu Gia nhập WTO, Việt Nam cần phải tuân thủ “luật chơi chung”, đó là thực hiện các cam kết liên quan về thương mại hàng hóa, đầu tư, tài chính, theo đó, phải cắt giảm thuế quan, xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ trợ cấp, mở cửa thị trường, tạo “sân chơi” bình đẳng cho doanh nghiệp quốc nội và quốc tế, bảo vệ tài sản trí tuệ và bản quyền Nhưng, “luật chơi” cũng tạo thuận lợi cho vốn, hàng hóa Việt Nam mở rộng, thâm nhập thị trường các nước; tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ, kỹ năng quản lý của nước ngoài; thiết

Trang 8

lập các luật chơi mới, xử lý tranh chấp thương mại; thúc đẩy doanh nghiệp quốc nội nâng cao sức cạnh tranh; đem lại lợi ích cho người tiêu dùng Điều này đòi hỏi tiếp tục đổi mới tư duy, nhận thức một cách biện chứng về quan

hệ, sự tác động, chuyển hóa lẫn nhau giữa luật quốc tế với luật quốc gia trong

xu thế hội nhập, liên minh kinh tế tất yếu của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới

Kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra càng mạnh mẽ Bên cạnh đó, quá trình hội nhập và tham gia vào nền kinh tế quốc tế cũng đưa ra những đòi hỏi hết sức thiết thực về cải cách hành chính như giảm bớt sự can thiệp trực tiếp quá mức vào các hoạt động kinh tế, quốc tế và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế Xuất phát

từ tình hình trên, ngành Hải quan cũng cần có sự đổi mới theo hướng đơn giản hóa, hiện đại hóa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển Bên cạnh những mặt tích cực mà quá trình hội nhập mang lại cho nước ta như việc mở rộng thị trường, tăng khả năng thu hút các nguồn vốn, tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ mới có hiệu quả hơn, thì những yêu cầu, thách thức và những tác động tiêu cực ở mặt nào đó, cũng đòi hỏi phải có những biện pháp cải cách để những vấn đề đó được giải quyết theo hướng thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo hộ sản xuất, bảo đảm nguồn thu cho ngân sách, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền quốc gia Cũng như các ngành khác trong nước và Hải quan các nước trên thế giới, Hải quan Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức trong bối cảnh thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh cả

về giá trị và khối lượng, cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển gia tăng của buôn lậu, gian lận thương mại và những loại hình tội phạm mới Thực tế trên càng ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của hải quan và càng đòi hỏi phải thực hiện cải cách sâu rộng, trong đó, một chế độ thủ tục hải quan đơn giản, minh bạch và hiện đại là một yêu cầu đồng thời còn là một lợi thế của Việt Nam khi tham gia vào nền kinh tế thế giới

Trang 9

Từ việc nhận thức yêu cầu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh quốc tế mới, Nhà nước ta đã “mở rộng quan hệ đối ngoại, tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế” và “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững”

Với nhận thức trên, tôi cho rằng vấn đề hội nhập của Việt Nam nói chung và của ngành Hải quan nói riêng có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn,

do vậy việc nghiên cứu đề tài “Công ước ATA và khả năng thực thi của

ngành Hải quan trong thời gian tới” là việc làm cần thiết, phục vụ thiết thực

cho việc tạm nhập - tái xuất hàng hóa thông qua việc đơn giản hóa và hài hòa hóa các thủ tục hải quan theo các mục tiêu kinh tế, nhân đạo, văn hóa, xã hội hoặc du lịch Mặt khác việc áp dụng mô hình chuẩn các chứng từ hải quan quốc tế cùng với sự bảo đảm quốc tế theo Công ước ATA sẽ góp phần thuận lợi hóa thủ tục tạm nhập tái xuất hàng hóa, đóng góp hiệu quả cho sự phát triển thương mại quốc tế

2 Tình hình nghiên cứu

Đến nay, tại Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu về pháp luật hải quan và tiến trình hội nhập của Hải quan Việt Nam như:

- “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan ở nước ta hiện nay”,

Luận án tiến sĩ của Vũ Ngọc Anh, bảo vệ thành công năm 1996;

- “Hoàn thiện pháp luật về thủ tục hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách hiện đại hóa hải quan”, Luận văn thạc sĩ Lê Thúy Hiền, bảo vệ thành công

Trang 10

Ngoài ra còn có một số đề tài nghiên cứu cấp ngành Hải quan như:

- “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan phù hợp với cam kết quốc tế mà Hải quan Việt Nam

ký kết, tham gia” (mã số 02-N2003, do TS Vũ Ngọc Anh làm chủ nhiệm đã

bảo vệ thành công năm 2003);

- “Hoàn thiện thể chế pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan phục vụ yêu cầu cải cách, hiện đại hóa ngành Hải quan đến năm 2010” (mã số 04-N2004,

do TS Vũ Ngọc Anh làm chủ nhiệm đã bảo vệ thành công năm 2007)

Tuy nhiên, những công trình nêu trên mới chỉ nghiên cứu những vấn

đề liên quan đến cải cách và hiện đại hóa thủ tục hải quan của Việt Nam, chưa

có công trình nghiên cứu cụ thể nào về thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất khi sử dụng hệ thống Sổ ATA và những lợi ích của hệ thống này đem lại cho hải quan và cho người sử dụng Có thể nói, đây là luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Quốc tế đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này

Đây cũng chính là một trong những trở ngại về nguồn tài liệu tham khảo đối với người viết luận văn bên cạnh một số trở ngại khác về mặt thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tác giả sẽ tập trung nghiên cứu, làm rõ một số nội dung về Công ước ATA, về khả năng thực thi của Hải quan Việt Nam trong thời gian tới; những bất cập trong các quy định về thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất của Việt Nam đồng thời đề xuất một số giải pháp khắc phục để ngành Hải quan thực hiện tốt những lợi ích mà Công ước ATA đem lại

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích đó, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Giới thiệu về Công ước ATA và nội dung chủ yếu của Công ước;

Trang 11

- Phân tích những lợi ích của Công ước đối với hải quan và cộng đồng doanh nghiệp;

- Nhận định, đánh giá thực trạng thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất tại Việt Nam;

- Đề xuất các giải pháp để ngành Hải quan thực thi có hiệu quả Công ước ATA

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ luật học và với khả năng cho phép, người viết luận văn cố gắng nghiên cứu một cách tổng quát những vấn đề

cơ bản liên quan đến Công ước ATA, đến thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất và các khả năng của ngành Hải quan khi tham gia Công ước này

- Về mặt thời gian: Mốc thời gian mà luận văn phân tích là năm 2010 khi mà Hải quan Việt Nam chưa tham gia vào Công ước ATA, giải pháp đề xuất áp dụng cho đến năm 2015

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước, chính sách của nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngoài ra, luận văn được thực hiện dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như: phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp diễn giải, phương pháp lịch sử,…

Trang 12

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Đây là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam về thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất khi gia nhập Công ước ATA

Về mặt lý luận, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên kể từ khi Luật Hải quan năm 2001 và Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan năm 2005 được ban hành đến nay

Về mặt thực tiễn, luận văn đưa ra những giải pháp và đề xuất cụ thể nhằm góp phần từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về thủ tục hải quan

để thực thi có hiệu quả Công ước ATA

Như vậy, với kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề về mặt lý luận và thực tiễn của pháp luật Hải quan, góp phần hoàn thiện những nội dung cơ bản nhất của pháp luật về thủ tục hải quan đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Công ước ATA và pháp luật về thủ tục hải quan tại Việt Nam Chương 2: Thủ tục hải quan đối với hàng hóa tạm nhập tái xuất tại

Việt Nam theo Công ước ATA

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục hải quan nhằm

thực thi có hiệu quả Công ước ATA của ngành Hải quan

Trang 13

Chương 1

CÔNG ƯỚC ATA VÀ PHÁP LUẬT

VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN TẠI VIỆT NAM

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG ƯỚC ATA

1.1.1 Sự ra đời của Công ước ATA

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế đã làm cho các hình thức giao dịch thương mại quốc tế ngày càng đa dạng Trong đó, một trong những hình thức giao dịch tương đối phổ biến là hình thức tạm nhập khẩu - tái xuất khẩu hoặc tạm xuất khẩu - tái nhập khẩu hàng hóa giữa một hoặc nhiều quốc gia Để đáp ứng các yêu cầu quản lý mới, từ đầu những năm 60 của thế

kỷ XX Hội đồng hợp tác hải quan (nay là Tổ chức Hải quan thế giới - WCO) cùng với sự hợp tác của Liên hợp quốc, các thành viên tham gia Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT), tổ chức Khoa học Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã nghiên cứu và thông qua Công ước quốc tế của WCO về Sổ tạm quản ATA (Công ước ATA) năm 1961

Công ước ATA gồm phần thân Công ước và 13 Phụ lục về các chuyên

đề liên quan đến tạm quản như về chứng từ tạm quản (Sổ ATA); về hàng hóa dùng để trưng bày hoặc sử dụng tại triển lãm, hội chợ, hội nghị hay các sự kiện tương tự; về thiết bị nghề nghiệp; về bao bì, giá kê, gói, mẫu hàng và các hàng hóa nhập khẩu khác liên quan đến hoạt động thương mại; về hàng hóa nhập khẩu liên quan đến hoạt động sản xuất; về hàng hóa nhập khẩu cho mục đích giáo dục, khoa học hoặc văn hóa; về hành lý cá nhân của du khách và hàng hóa nhập khẩu dùng cho hoạt động thể thao; về vật tư quảng bá du lịch;

về hàng hóa nhập khẩu qua biên giới; và về hàng hóa nhập khẩu được miễn giảm một phần thuế nhập khẩu và thuế khác

Công ước khắc phục tình trạng phân tán các văn kiện quốc tế về tạm quản hàng hóa và tạo ra những quy định đồng bộ về vấn đề này qua việc sử dụng các chứng từ tạm quản như các chứng từ hải quan quốc tế có sự đảm bảo

Trang 14

quốc tế nhằm gia tăng lợi ích trong giao lưu thương mại quốc tế và tạo ra sự hài hòa và đơn giản hóa thủ tục hải quan ở cấp độ cao

Mục đích của Công ước này là tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế

và hài hòa hóa thủ tục tạm quản để đạt được các mục tiêu về kinh tế, nhân đạo, văn hóa, xã hội hoặc du lịch Việc chấp nhận Công ước và trở thành bên tham gia của Công ước chắc chắn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cơ quan hải quan làm cho các thủ tục đơn giản hơn và việc kiểm soát hoạt động tạm nhập cũng linh hoạt hơn

Công ước ATA trên thực tế chỉ quy định tạm nhập hai nhóm hàng trước đó được điều chỉnh bởi:

- Công ước về tạm nhập thiết bị chuyên ngành (Brucxen 1961)

- Công ước về tạm nhập hàng hóa trưng bày hoặc sử dụng tại triển lãm, hội chợ, hội nghị hoặc các sự kiện tương tự (Brucxen 1961)

Công ước ATA cho phép các bên tham gia sử dụng Sổ ATA để tạm nhập hàng hóa được điều chỉnh bởi các Công ước khác, tuy nhiên đối với các bên không phải là bên tham gia Công ước đó, sẽ vẫn gặp một số khó khăn liên quan đến các nhóm hàng hóa được cho phép tạm nhập

1.1.2 Nội dung cơ bản của Sổ ATA

Trang 15

1.1.2.2 Hệ thống Sổ ATA hoạt động như thế nào?

Mục đích của hệ thống ATA là tạo ra một công cụ đơn giản hóa và hài hòa các thủ tục quản lý hàng tạm nhập Việc xác định các chế độ hải quan được thực hiện theo những mục đích đặc thù Ví dụ, chế độ tạm quản đối với hàng hóa tạm nhập để trưng bày và sử dụng tại các hội chợ, triển lãm Về nguyên tắc, hàng hóa sau khi tạm nhập được tái xuất phải giữ nguyên tình trạng ban đầu khi nhập khẩu trừ những hao mòn trong quá trình sử dụng

Hệ thống ATA cho phép hàng hóa di chuyển dễ dàng qua biên giới và

cơ quan hải quan quản lý các loại hàng hóa liên quan thông qua Sổ ATA (ATA Carnet) Khi áp dụng hệ thống này, cộng đồng doanh nghiệp quốc tế được hưởng lợi từ việc một quy trình thủ tục hải quan đơn giản, chặt chẽ, liên kết, liên thông giữa nhiều quốc gia

Cần ghi nhận rằng tài liệu quan trọng nhất trong hệ thống ATA là

Sổ ATA

Sổ ATA là chứng từ hải quan quốc tế dùng để tạm xuất tạm nhập và quá cảnh hải quan thay cho các chứng từ hải quan trong nước và được sử dụng rộng rãi nhất khi làm thủ tục cho hàng tạm nhập Sổ ATA bao gồm một

bộ chứng từ với nhiều màu sắc khác nhau: trang bìa và trang cuối màu xanh lá cây, màu vàng dùng cho xuất khẩu và tái nhập, màu trắng dùng cho nhập khẩu và tái xuất, màu xanh nước biển dùng cho quá cảnh Danh mục hàng hóa được ghi ở mặt sau của trang bìa (danh mục dùng chung của Sổ) và ở mặt sau của mỗi biên lai (danh mục chung của biên lai) với các trang bổ sung cùng màu sắc và cũng có các cuống chứng từ dành cho cán bộ hải quan Các màu sắc khác nhau sẽ giúp dễ dàng nhận ra chứng từ cần dùng, bởi vì hoạt động nhập khẩu và tái nhập ở một nước xuất xứ sẽ trở thành hoạt động nhập khẩu

và tái nhập ở nước đích và ngược lại Người giữ Sổ hoặc đại diện của mình sử dụng các chứng từ để khai báo hàng hóa với hải quan, hai biên lai dùng cho xuất cảnh và tái nhập ở nước xuất xứ và hai biên lai khác dùng cho nhập cảnh

và tái xuất hoặc quá cảnh ở một nước đến, các cuống chứng từ để hải quan

Trang 16

xác nhận sẽ được giữ trong Sổ Sau khi sử dụng chứng từ sẽ được trả lại cho

a Gồm một trang bìa trước màu xanh lá cây: nó phải được giữ nguyên Trang một bao gồm số seri, hạn sử dụng, mục đích sử dụng, những quốc gia được sử dụng, ngày cấp, con dấu, chữ ký của tổ chức được phép cấp

Sổ, chữ ký của một người có thẩm quyền trong cơ quan người sử dụng Sổ Mặt khác số seri của Sổ được in trên mỗi cuống Sổ và biên lai

b Gồm một biên lai xuất khẩu màu vàng trên đó có hai phần:

- Cuống tờ khai xuất khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan quốc gia tại nơi xuất Nó phải được người sở hữu nó giữ lại cùng với những cuống Sổ tạm nhập - tái xuất nằm trong trang bìa màu xanh lá cây

- Biên lai xuất khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan quốc gia Nó sẽ được tách ra lưu giữ tại cơ quan hải quan tại nơi xuất

c Hai bảng mẫu màu trắng (sử dụng cho mỗi nước mà người giữ Sổ muốn đến), gồm:

- Một mẫu tờ khai nhập khẩu màu trắng được chia ra làm hai phần: + Cuống tờ khai nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan nước ngoài tại nơi nhập Nó sẽ phải được người sở hữu Sổ giữ lại cùng với những cuống khác trong trang bìa màu xanh lá cây

Trang 17

+ Biên lai nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan nước ngoài tại nơi nhập Nó sẽ phải được tách ra và được lưu giữ bởi hải quan nước ngoài tại nơi nhập

- Một mẫu tờ khai tái xuất màu trắng được chia ra hai phần:

+ Cuống tờ khai tái xuất khẩu: phần này phải được tiến hành, khai đầy

đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan nước ngoài tại nơi xuất Nó sẽ phải được người sở hữu Sổ giữ lại cùng với những cuống khác trong trang bìa xanh lá cây

+ Biên lai tái xuất khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan nước ngoài tại nơi xuất Nó sẽ phải được hải quan nước ngoài giữ lại tại cửa khẩu xuất

c Hai mẫu tờ khai màu lam hàng quá cảnh (sử dụng cho mỗi nước nhất định phải qua) gồm hai phần:

- Cuống tờ khai hàng quá cảnh: khi cuống này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan nước ngoài tại nơi xuất và nơi nhập Nó sẽ phải được người sở hữu Sổ giữ lại

- Biên lai hàng quá cảnh: hai biên lai này phải được điền, khai đầy đủ,

có xác nhận kiểm tra, chi tiết như trên Cũng như các biên lai khác, nó sẽ được tách ra và giữ bởi hải quan nước ngoài tại cửa khẩu nhập và cửa khẩu xuất

d Một mẫu tờ khai tái nhập khẩu màu vàng được chia thành hai phần:

- Cuống tờ khai tái nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ,

có xác nhận kiểm tra chi tiết như trên, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan quốc gia tại nơi tái nhập Nó sẽ phải được người sở hữu Sổ lưu giữ cùng với những cuống khác trong trang bìa màu xanh lá cây

Trang 18

- Biên lai tái nhập khẩu: phần này phải được điền, khai đầy đủ, có xác nhận kiểm tra, ghi ngày tháng, ký tên đóng dấu của cơ quan hải quan quốc gia tại nơi tái nhập Nó sẽ phải được tách ra và giữ lại bởi hải quan quốc gia tại nơi tái nhập

e Trang bìa cuối màu xanh: phần này in một số điều nhắc nhở người

sử dụng Sổ ATA Người giữ Sổ cần phải đọc những ghi chú về sử dụng Sổ ATA in trên trang bìa này

Sổ sẽ không có giá trị nếu thiếu tờ bìa cuối này

Ghi chú:

- Mọi cuống Sổ và biên lai đều phải được điền đầy đủ, chính xác đúng quy định, phải được kiểm tra xác nhận, được ghi ngày tháng, ký, đóng dấu của cơ quan hải quan Người sở hữu, người đại diện không được điền vào Sổ trong bất kỳ hoàn cảnh nào Những cuống tờ khai phải được người giữ Sổ lưu giữ trong trang bìa màu xanh lá cây

- Tất cả những biên lai phải được tách ra và lưu giữ bởi cơ quan hải quan như đã quy định nêu trên

- Mẫu tờ khai hàng quá cảnh màu xanh lam phải được sử dụng bất cứ khi nào hàng hóa theo Sổ ATA quá cảnh qua một quốc gia trước khi đến điểm tạm nhập cuối cùng

- Sổ ATA phải được nộp lại cơ quan cấp đầy đủ ngay khi sử dụng xong

- Trên trang bìa màu xanh lá cây quy định những loại hàng hóa và những quốc gia cho phép lưu hành Sổ tạm nhập - tái xuất

- Sử dụng Sổ ATA riêng cho hoạt động quá cảnh: không sử dụng Sổ tạm nhập - tái xuất riêng cho hoạt động quá cảnh vì Sổ ATA chỉ phục vụ cho việc tạm nhập Một Sổ ATA chỉ được cấp nếu sử dụng cho những mục đích

đã được Công ước quy định nghĩa là tạm nhập theo một Sổ của Điều 3 Công ước tạm nhập - tái xuất

Trang 19

1.1.2.3 Những loại hàng hóa hệ thống điều chỉnh

Công ước quy định những nguyên tắc cơ bản điều chỉnh tạm nhập/tái xuất cho 3 nhóm hàng hóa chính:

1.1.2.4 Phòng thương mại quốc tế (ICC)

Phòng thương mại quốc tế (ICC) là phòng thương mại đầu tiên của thế giới, có trụ sở ở Pari, được thành lập năm 1919, có hội viên tại 140 quốc gia (như: Ấn Độ, Phillipin, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Singapo, EU,…)

Với mục tiêu chính là xúc tiến thương mại và đầu tư thông qua những dịch vụ và những hoạt động của các hội viên, cũng như vai trò tư vấn đối với các tổ chức: Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại Thế giới, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Hiệp định chung về thương mại và thuế quan, Cộng đồng Châu âu và các tổ chức xúc tiến thương mại và đầu tư của các tổ chức quốc tế

và phi Chính phủ khác

1.1.2.5 Những quốc gia đang tham gia hệ thống Sổ ATA

Hệ thống Sổ ATA đã được chấp nhận và thẩm định bởi Hệ thống bảo lãnh hải quan quốc tế và đang có hiệu lực tại 55 quốc gia trong đó gồm có cả những quốc gia thương mại quốc tế lớn và xuất khẩu vốn như: Trung Quốc,

Ấn Độ, EU, Nam Triều Tiên, Srilanca, Thái Lan, Mỹ, Malayxia,…

Như vậy hệ thống Sổ ATA là một công cụ mạnh và đắc lực trong xúc tiến thương mại, trong việc đẩy nhanh các quốc gia hội nhập vào cộng đồng doanh nghiệp quốc tế và có lợi cho cả cộng đồng thương mại quốc tế và các

cơ quan tham gia

Trang 20

1.1.3 Những lợi ích khi tham gia Công ước ATA

1.1.3.1 Lợi ích đối với doanh nghiệp (người sở hữu Sổ)

Với Sổ ATA, ở phạm vi nội địa, khi làm thủ hải quan các doanh nghiệp Việt Nam không cần phải qua các Bộ ngành liên quan nữa mà chỉ cần qua “một cửa” một cách đơn giản nhất, thuận tiện, nhanh chóng nhất Còn ở phạm vi quốc tế, tất cả hải quan các nước tham gia hệ thống Sổ ATA đều sẽ

áp dụng hình thức chấp nhận Sổ ATA để nhanh chóng thông quan tự động cho hàng hóa của doanh nghiệp bằng một quyển Sổ ATA, không cần thêm bất

- Giảm rủi ro cho người giữ Sổ: trong trường hợp phải giới thiệu sản phẩm cho những khách hàng tiềm năng tại nhiều quốc gia khác nhau mà không cần phải mang theo nhiều ngoại tệ để đặt cọc cho hàng mẫu tạm nhập;

- Khi một thương nhân muốn tham gia hội chợ tại nhiều quốc gia trong cùng hệ thống thì cũng chỉ cần sử dụng một quyển Sổ ATA

1.1.3.2 Lợi ích đối với cơ quan hải quan

- Giảm bớt giấy tờ: Sổ ATA không cần tờ khai hải quan tại điểm nhập

và điểm xuất Điều này giúp giảm giấy tờ cho cả cán bộ công chức hải quan

và người sử dụng Sổ;

- Giảm bớt khối lượng công việc: cán bộ, công chức hải quan không còn phải giải quyết những trường hợp doanh nghiệp từ chối hoặc đòi giảm

Trang 21

mức bảo lãnh, không mang đủ tiền bảo lãnh hoặc không thể hoàn thành các chứng từ tạm quản;

- Giúp cải thiện hiệu suất công việc;

- Giảm thời gian và tiền bạc: hệ thống Sổ ATA giúp giảm thời gian và chi phí hành chính để theo dõi việc tạm nhập - tái xuất;

- Chống thất thu thuế: hệ thống đảm bảo thanh toán các khoản thuế hải quan và thuế khác trong trường hợp người giữ Sổ không thực hiện tái nhập hoặc tái xuất theo quy định

Đây là yếu tố có lợi cho cơ quan hải quan vì hệ thống Sổ ATA đã thay

họ giám sát và bảo đảm thanh toán đầy đủ những khoản thuế này Những cơ quan hải quan nằm ngoài hệ thống sẽ dễ phải đối mặt với những vấn đề liên quan tới thanh toán vì cá nhân/doanh nghiệp có liên quan không chịu đưa ra các khoản bảo lãnh

1.1.3.3 Lợi ích đối với Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh quốc gia

- Mở rộng phạm vi hoạt động dịch vụ đến cộng đồng doanh nghiệp;

- Thể hiện tốt hơn lợi ích của các hội viên thông qua Phòng thương mại quốc tế Do đó, khu vực tư nhân sẽ được trang bị tốt hơn khi đối phó với môi trường kinh doanh luôn biến động Hệ thống sẽ giúp họ toàn cầu hóa hoạt động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế

- Dễ dàng thanh toán những khoản thuế khi người giữ Sổ vi phạm những quy định thì khoản tiền bảo lãnh sẽ bị giữ để nộp cho cơ quan hải quan liên quan [14, tr 20]

1.1.4 Sử dụng Sổ ATA

1.1.4.1 Những điều kiện quy định việc sử dụng đúng đắn Sổ ATA

Một điểm quan trọng cần phải lưu ý rằng Sổ là một công cụ để giúp người mang Sổ thu hút đơn đặt hàng nước ngoài đối với những hàng hóa sau: không phải để bán, không phải hàng tiêu dùng, hàng không có mục đích bỏ đi, hàng không để giao dịch thương mại như cho thuê, bảo dưỡng chế biến, sửa

Trang 22

chữa,… và Sổ không dùng đối với các mặt hàng đá và đá quý, đồ hóa trang sân khấu, rượu mạnh, thuốc lá, chất đốt,…

Ngoài ra một điểm cần lưu ý nữa là:

- Tất cả hàng hóa tái xuất/tái nhập phải nguyên trạng như lúc ban đầu nhập/xuất;

- Tất cả hàng rõ ràng để kiểm tra khi xuất/nhập và tái xuất/tái nhập;

- Để tránh tình trạng lạm dụng, số lượng hàng tạm nhập/tạm xuất cần phải chăng về số lượng phù hợp với mục đích tạm xuất/tạm nhập (hải quan có thể dùng hình thức riêng để đánh dấu niêm phong hay đóng dấu tại điểm xuất/nhập) Hải quan có quyền hạn chế giá trị, số lượng của lô hàng dựa trên

số lượng người đi, mục đích của chuyến đi được ghi rõ trên tờ bìa màu xanh của Sổ;

- Tất cả giá trị hàng hóa phải đúng với giá trị thương mại thực của nước xuất hàng;

- Tất cả những người sử dụng Sổ phải tuân thủ theo luật và những quy định của nước xuất phát, đến hoặc quá cảnh;

- Các nước thành viên giành quyền xác định thời hạn áp dụng đối với hàng nhập/xuất/quá cảnh

Thời hạn sử dụng của Sổ được quy định trong Công ước ATA Đối với hàng thiết bị chuyên dùng và hàng hội chợ triển lãm thời hạn là: 12 tháng đối với hàng mẫu và 6 tháng đối với hàng thiết bị chuyên dùng và hàng hội chợ triển lãm nhưng hải quan các nước tham gia có thể quy định thời gian cho phép được tạm nhập tái xuất hay quá cảnh

- Hải quan cũng có thể hạn chế phạm vi sử dụng của người giữ Sổ, phải khai báo nơi mình sẽ đem hàng đến và cũng có thể sẽ phải kiểm tra ở nơi đến (hải quan cũng có thể niêm phong hàng và giới hạn thời gian/địa điểm trình diễn);

Trang 23

- Người mang Sổ phải có trách nhiệm tái xuất/tái nhập hàng theo đúng thời hạn đã được phép do hải quan quy định Nếu không thực hiện đúng sẽ bị phạt mặc dù hàng đó cuối cùng cũng tái xuất/tái nhập;

- Cũng cần phải nói rõ rằng nếu hàng không tái xuất/tái nhập được vì

lý do bị hư hỏng, mất hoặc bị ăn cắp thì trách nhiệm sẽ thuộc về hải quan

Để tránh tình trạng lạm dụng, hải quan các nước tham gia có thể miễn trả thuế nhập khẩu đối với hàng hóa bị hư hỏng hay mất do tai nạn hoặc đối với các trường hợp bất khả kháng trong khi dưới sự kiểm soát của hải quan Đối với các trường hợp Sổ bị hư hỏng hay mất cũng được xử lý như trên

1.1.4.2 Quyền hạn của Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh

Khi tham gia chế độ tạm quản, bên yêu cầu phải đáp ứng yêu cầu về bảo lãnh hoàn thành các nghĩa vụ đối với cơ quan hải quan Tổ chức bảo lãnh

sẽ đảm nhận trách nhiệm nộp cho cơ quan hải quan số tiền thuế nhập khẩu và các khoản tiền khác nếu người nhập khẩu không thực hiện những điều kiện chấp nhận tạm thời hoặc quá cảnh đối với những hàng hóa được đưa vào nước

đó theo quy định của Sổ ATA Tổ chức bảo lãnh sẽ không cùng chịu trách nhiệm hoặc chịu trách nhiệm riêng với những người phải trả số tiền đã nêu trên Số tiền phải trả của tổ chức bảo lãnh sẽ không vượt quá 10% số tiền thuế nhập khẩu Khi cơ quan hải quan của nước nhập khẩu không chấp nhận Sổ ATA đối với một số hàng hóa thì cơ quan hải quan không yêu cầu tổ chức bảo lãnh trả số tiền bảo lãnh đối với những hàng hóa đó Tuy vậy, cơ quan hải quan vẫn có thể yêu cầu phải thanh toán nếu sau đó phát hiện Sổ không được

sử dụng đúng mục đích hoặc có những gian dối, vi phạm các điều kiện chấp nhận tạm thời hoặc quá cảnh

Tổ chức bảo lãnh có một thời gian là 6 tháng kể từ ngày cơ quan hải quan yêu cầu để chứng minh việc tái xuất các hàng hóa hoặc bất cứ hành động nào liên quan đến việc chấp hành các quy định của Sổ ATA Nếu không cung cấp được chứng từ trong thời gian quy định thì tổ chức bảo lãnh phải đặt cọc hoặc tạm thời nộp số tiền đó Sau ba tháng kể từ ngày đặt cọc nếu không

Trang 24

chứng minh được thì số tiền đặt cọc hoặc tạm thời nộp sẽ không được hoàn trả lại

Đối với những nước mà luật pháp của nước đó không yêu cầu hoặc tạm nộp thuế nhập khẩu thì việc tạm nộp phải phù hợp với những quy định của quốc gia đó Số tiền nộp sẽ được hoàn lại nếu có chứng cứ được xuất trình trong thời gian ba tháng kể từ ngày tạm nộp Xác nhận của cơ quan hải quan trong Sổ ATA được sử dụng theo điều kiện đề ra trong các Công ước không

lệ thuộc và việc nộp phí cho cơ quan hải quan trong giờ làm việc hay sau giờ làm việc bình thường

Việc chứng nhận tái xuất hàng hóa nhập khẩu theo Sổ ATA phải do hải quan của nước mà hàng hóa được tạm nhập khẩu thực hiện và ghi vào Sổ ATA Nếu việc tái xuất hàng hóa không được chứng nhận phù hợp thì cơ quan hải quan của nước nhập khẩu có thể chấp nhận chứng cứ tái xuất hàng hóa ngay khi thời hạn giá trị của Sổ đã hết khi cơ quan hải quan của một bên

ký kết khẳng định yêu cầu tái xuất một số hàng hóa được chấp nhận đưa vào lãnh thổ của mình theo Sổ ATA Khi đó, tổ chức bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ của mình với điều kiện cơ quan hải quan đã chứng nhận trong Sổ rằng các hàng hóa liên quan đã được hợp thức hóa Khi hàng hóa nhập khẩu tạm thời không thể được tái xuất vì bị giữ lại ngoại trừ trường hợp hành vi giữ lại đó mang tính cá nhân thì yêu cầu tái xuất sẽ bị hoãn lại trong thời gian hàng hóa bị giữ lại Trong chừng mực có thể, cơ quan hải quan sẽ thông báo cho tổ chức bảo lãnh việc giữ hàng hóa và thông báo cho tổ chức bảo lãnh về biện pháp sẽ được tiến hành

Ngoài ra tổ chức bảo lãnh còn có quyền:

- Tiến hành điều tra độc lập về nhân thân người xin cấp Sổ;

- Kiểm tra và giám định tất cả hàng hóa nằm trong Sổ;

- Yêu cầu cung cấp bất kỳ một giấy tờ cần thiết để xác minh rõ nguồn gốc và giá trị của hàng hóa cũng như các khai báo khác;

Trang 25

- Đánh dấu vào tất cả hàng hóa;

- Từ chối cấp Sổ không cần phải giải thích lý do [14, tr 200]

1.1.4.4 Trách nhiệm của người sử dụng Sổ

Tất cả những người sử dụng Sổ phải ký cam kết sau:

- Thực hiện đúng các điều kiện điều chỉnh của việc sử dụng đúng hệ thống Sổ;

- Tái xuất/tái nhập trong thời hạn cơ quan hải quan quy định (tuân theo thời hạn cho phép ngắn nhất);

- Đảm bảo là tất cả cuống hóa đơn được điền đúng, hợp lý, chứng thực, ký, đề ngày tháng và đóng dấu;

- Thông báo cho Hiệp hội bảo lãnh những khó khăn;

- Chuyển trả cho Hiệp hội bảo lãnh tất cả những khoản tiền đã trả và tất cả các chi phí phát sinh do không tuân thủ các điều kiện quy định việc xuất khẩu và nhập khẩu tạm thời;

- Chịu trách nhiệm hoàn toàn những tranh chấp khiếu nại chống lại chính họ hoặc chống lại cơ quan hải quan hoặc bất kỳ người nào khác, hoặc thương lượng liên quan đến tranh chấp;

- Cung cấp cho Hiệp hội bảo lãnh tất cả những chứng từ liên quan trong thời gian tranh chấp theo yêu cầu của cơ quan hải quan [14, tr 220]

1.1.4.5 Trách nhiệm của các bên tham gia Công ước ATA

Khi Sổ ATA được cấp ở nước mà hàng hóa được nhập khẩu hoặc được gửi tới một tổ chức cấp Sổ ATA của nước khác một tổ chức quốc tế hay

Trang 26

cơ quan hải quan của bên tham gia hệ thống ATA thì hàng hóa liên quan sẽ được miễn thuế nhập khẩu và không chịu các quy định cấm cũng như hạn chế nhập khẩu ở nước đó Theo quy định của hệ thống ATA lãnh thổ của các bên

ký kết cũng ở trong một liên minh hải quan hoặc kinh tế thì có thể coi như một lãnh thổ duy nhất

Trong các trường hợp có hành vi gian lận, buôn lậu hoặc lạm dụng chế

độ tạm quản, các bên ký kết sẽ tự do áp dụng các thủ tục điều tra người sử dụng Sổ ATA để truy thu thuế nhập khẩu và các khoản tiền khác, đồng thời cũng được tự do áp đặt bất cứ hình phạt nào đối với những bên có liên quan đến người sử dụng Sổ Trong trường hợp như vậy các tổ chức cấp phát Sổ ATA sẽ có trách nhiệm giúp đỡ cơ quan trong quá trình điều tra gian lận

Trường hợp Sổ ATA bị phá hủy, mất mát hoặc bị lấy cắp trong khi số hàng hóa nêu trong Sổ đó đang ở trên lãnh thổ của một trong những nước ký kết, theo yêu cầu của tổ chức cấp phát Sổ và tùy thuộc vào những điều kiện

mà từng cơ quan hải quan quy định mà hải quan của từng nước ký kết sẽ chấp nhận một tài liệu thay thế và giá trị của tài liệu đó được coi như Sổ gốc

Các bên tham gia thực hiện hệ thống Sổ ATA có trách nhiệm thực hiện thống nhất hoạt động và hợp tác trong khuôn khổ thực hiện các quy định của hệ thống tạm quản Bất cứ sự tranh chấp nào giữa các bên ký kết liên quan đến giải thích và áp dụng các quy định của các Công ước trong hệ thống này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa các bên Nếu không giải quyết được các cuộc tranh chấp đó bằng đàm phán giữa các bên ký kết có tranh chấp thì sẽ đưa ra thảo luận tại cuộc họp của cơ quan quản lý hệ thống

là Phòng thương mại quốc tế ICC

1.1.4.6 Các bước tiến hành để xin cấp Sổ

Thủ tục này đơn giản và bao gồm các bước sau:

- Hoàn thành một mẫu đơn, một bản cam kết và thanh toán phí cấp đơn Trong thực tế, đây là một bản tuyên bố trong đó họ phải:

Trang 27

+ Chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc tái xuất và tái nhập hàng hóa và thanh toán cước/phạt/phạt hợp đồng/thuế/các khoản chi phí và tất cả chi phí nếu họ vi phạm các điều khoản điều chỉnh việc sử dụng đúng đắn Sổ;

+ Công bố rằng tất cả các thông tin đưa ra là hoàn toàn trung thực và chính xác

- Đặt một khoản bảo đảm/bảo hành đủ để chi trả các khoản thế/chi phí,… nếu họ không thực hiện được việc tái nhập khẩu hoặc tái xuất khẩu hàng hóa;

- Hoàn thành mẫu Sổ: cũng giống như tất cả các giấy tờ hải quan khác, mẫu này cũng cần phải được hoàn thành trung thực và chính xác;

- Nộp các tài liệu, chứng từ cần thiết;

- Có thư ủy quyền cho nhân viên/đại lý/đại diện được ủy quyền nếu Sổ

sẽ được trao cho người đó;

- Thư ủy quyền cho việc nhận Sổ (nếu Sổ được trao cho đại diện được

ủy quyền)

1.1.4.7 Lệ phí sử dụng Sổ

Giá bán Sổ ATA Carnet ở mỗi nước là do Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh quốc gia NIGA ở từng quốc gia tự do quy định nhưng giá này phải bao gồm lệ phí hành chính hàng năm (16 phrăng Pháp/1 giấy thông hành được chuyển đến Hội đồng quốc tế các phòng thương mại IBCC) và có thể phụ thuộc vào sự chấp nhận của hải quan quốc gia Lệ phí được dựa trên giá trị hàng hóa, số các mặt hàng và số nước đến và có thể cả chi phí bảo hiểm Giá bán Sổ có thể bao gồm cả lệ phí hợp lý hóa

Ví dụ: lệ phí ở Singgapore: 145,50 USD/sổ đối với các thành viên của IBCC; 257,50 USD/sổ đối với những người không phải là thành viên của IBCC; đến nước đầu tiên thì miễn phí, đến các nước tiếp theo thì lệ phí là 15,45 USD/sổ đối với thành viên và 30,90 USD/sổ đối với những người không phải là thành viên

Trang 28

1.1.5 Tổ chức được chỉ định làm Hiệp hội cấp phát và bảo lãnh

Tại Việt Nam, VCCI đã được Chính phủ giao làm đầu mối bảo lãnh, cấp phát Sổ ATA Hiện VCCI đang tích cực triển khai phổ biến ATA Carnet tới doanh nghiệp và các cơ quan liên quan ở Việt Nam

Tháng 06/2009 VCCI đã ký thỏa thuận với Hội đồng Phát triển ngoại thương Đài Loan - Trung Quốc (TAITRA) triển khai cấp và bảo lãnh ATA Carnet cho các thiết bị chuyên dụng, hàng hóa trưng bày và sử dụng tại triển lãm, hội chợ, tiếp xúc thương mại và các hoạt động tương tự, các loại hàng mẫu thương mại nhập khẩu để trưng bày trình diễn theo yêu cầu

Dự kiến sau khi triển khai Sổ song phương với Đài Loan - Trung Quốc, Việt Nam sẽ triển khai ứng dụng Sổ ATA Carnet quốc tế đa phương nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xúc tiến thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa

1.2 PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN TẠI VIỆT NAM

Pháp luật về thủ tục hải quan là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tiến hành thủ tục hải quan, tức là điều chỉnh hoạt động của cơ quan hải quan cũng như của các chủ thể khác tham gia các quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực thủ tục hải quan

Dưới góc độ pháp lý, pháp luật về thủ tục hải quan là bộ phận của pháp luật hải quan nằm trong hệ thống luật hành chính do Nhà nước quy định

để điều chỉnh hoạt động của cơ quan hải quan cũng như của các chủ thể khác tham gia các quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động chấp hành - điều hành của Nhà nước về thủ tục hải quan (thi hành các chế độ kiểm tra, giám sát, quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, thu thuế và các khoản thu khác….) nhằm bảo vệ an ninh và chủ quyền

Trang 29

kinh tế đất nước, tạo điều kiện cho hoạt động giao lưu thương mại và hội nhập quốc tế

Pháp luật về thủ tục hải quan có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, pháp luật về thủ tục hải quan điều chỉnh các quan hệ xã hội

hình thành trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan

Pháp luật về thủ tục hải quan điều chỉnh các quan hệ xã hội hình thành trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan là các quan hệ xã hội giữa một bên

là cơ quan hải quan thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hải quan, thu thuế cho ngân sách Nhà nước và bên kia là các chủ thể tham gia vào hoạt động hải quan như người xuất khẩu, người nhập khẩu, người vận chuyển, đại lý thủ tục hải quan,… khi thực hiện hoạt động kiểm tra, giám sát, thu thuế, thông quan và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan

Về mặt bản chất, đây là quan hệ giữa một bên là đại diện của Nhà nước, thực hiện quyền lực Nhà nước, bảo vệ lợi ích quốc gia và một bên là các pháp nhân hay thể nhân tham gia thực hiện thủ tục hải quan nhằm đạt được mục đích của mình liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa

Thứ hai, pháp luật về thủ tục hải quan mang tính quyền lực - phục tùng

Pháp luật quyền lực - phục tùng thể hiện đầy đủ nhất tính chất pháp luật về thủ tục hải quan như một phân ngành của hệ thống luật hành chính Phương pháp điều chỉnh này đảm bảo cho hải quan được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất trên phạm vi toàn quốc Đặc biệt, khi áp dụng để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, phương pháp này còn đảm bảo để các chế độ về kiểm tra, giám sát hải quan luôn luôn được thực hiện thống nhất, tránh được các hiện tượng cục bộ, địa phương làm mất hiệu lực quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Mối quan hệ quyền lực - phục tùng trong lĩnh vực hải quan thể hiện ở

sự không bình đẳng giữa các bên tham gia quan hệ quản lý nhà nước về hải

Trang 30

quan Cơ quan hải quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp đặt ý chí của mình lên các đối tượng quản lý Phía các chủ thể liên quan đến hoạt động hải quan nằm trong đối tượng bị quản lý có nghĩa vụ thực hiện các quy định cũng như các yêu cầu của cơ quan hải quan trong khuôn khổ pháp luật,

họ có quyền xem xét giải quyết và có thể đáp ứng hay bác bỏ các yêu cầu kiến nghị đó Cơ quan hải quan có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhằm buộc đối tượng bị quản lý phải thực hiện các quy định của pháp luật về thủ tục hải quan

Thứ ba, pháp luật về thủ tục hải quan bước đầu thể hiện yếu tố “phục vụ”

Như trên đã nêu, đặc điểm nổi bật của pháp luật về thủ tục hải quan là tính chất quyền lực - phục tùng Tuy nhiên, nền hành chính Nhà nước hiện nay đang chuyển dần từ nền hành chính cai quản (hành chính đơn thuần) sang hành chính phục vụ; từ quản lý tập trung sang quản lý theo cơ chế thị trường

có sự điều tiết của Nhà nước làm cho hoạt động quản lý hành chính trở nên hết sức đa dạng về nội dung và phong phú, uyển chuyển về hình thức biện pháp Nhất là trong giai đoạn gần đây, pháp luật về thủ tục hải quan ngày càng thể hiện rõ nét yếu tố hành chính phục vụ thông qua các quy định về ưu tiên thủ tục hải quan cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật hải quan, ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác với cơ quan hải quan… Bên cạnh đó, các quy định về thủ tục hải quan cụ thể như đơn giản hóa các giấy tờ thuộc bộ hồ sơ hải quan, cho phép nợ một số giấy tờ thuộc bộ hồ sơ hải quan… đã tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu

Với yếu tố “phục vụ”, pháp luật về thủ tục hải quan Việt Nam đã dần tiến tới các tiêu chí của pháp luật hải quan hiện đại, phù hợp với xu hướng cải cách thủ tục hành chính và phương châm hải quan “Thuận lợi - Tận tụy - Chính xác” của Hải quan Việt Nam

Ở khía cạnh nội dung, pháp luật về thủ tục hải quan được hình thành bởi hệ thống các quy định điều chỉnh tất cả hoạt động của cơ quan hải quan và bên có liên quan bao gồm người khai hải quan, người vận chuyển hàng hóa,

Trang 31

đại lý làm thủ tục hải quan… cần thực hiện trong quá trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu, đó chính là phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thủ tục hải quan

Phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thủ tục hải quan bao gồm các nhóm quy định chính như quy định về khai hải quan; quy định về kiểm tra và giám sát hải quan; quy định về xác định trị giá hải quan, tổ chức thu thuế và các khoản thu khác; quy định về kiểm tra sau thông quan Những nội dung này được quy định cụ thể như sau:

- Nhóm quy định về khai hải quan:

Việc khai hải quan được quy định tại Luật Hải quan, Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải

quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, và Thông tư

194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 quy định về việc hướng dẫn thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Việc khai hải quan được thực hiện trên mẫu tờ khai hải quan, người khai hải quan phải khai đầy đủ tiêu chí, chính xác, rõ ràng về tên và mã số hàng hóa, đơn vị tính, số lượng, trọng lượng, xuất xứ,…và các tiêu chí khác quy định tại tờ khai hải quan

Sau khi người khai hải quan nộp bộ hồ sơ hải quan, công chức hải quan tiến hành kiểm tra sơ bộ để thực hiện đăng ký hồ sơ hải quan Khi kiểm tra sơ bộ để thực hiện đăng ký hồ sơ hải quan, công chức hải quan kiểm tra việc khai tên và mã số xuất nhập khẩu và khai thuế của người khai hải quan; kiểm tra, đối chiếu các điều kiện quy định về việc làm thủ tục hải quan và số lượng các chứng từ phải có của bộ hồ sơ hải quan Kết thúc kiểm tra hồ sơ, công chức hải quan sẽ quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận hồ sơ đăng

ký Trong trường hợp không tiếp nhận hồ sơ, công chức hải quan phải có ý kiến bằng văn bản nêu rõ lý do

Trang 32

Phù hợp với các chuẩn mực của Công ước Kyoto, pháp luật về thủ tục hải quan đã chú trọng đến việc tạo điều kiện thuận lợi cho người khai hải quan Đối với hàng hóa xuất nhập khẩu phục vụ yêu cầu khẩn cấp, người khai hải quan được nộp tờ lược khai để thông quan hàng hóa và sau đó nộp tờ khai chính thức và chứng từ đi kèm theo tờ khai trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký tờ lược khai Đối với người khai hải quan thường xuyên xuất nhập khẩu một mặt hàng nhất định, trong một thời gian nhất định của cùng một hợp đồng mua bán hàng hóa, qua cùng một cửa khẩu thì được đăng ký tờ khai và nộp hồ sơ hải quan một lần để làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu hàng hóa nhiều lần trong khoảng thời gian giao hàng quy định trong hợp đồng mua bán hàng hóa [6, tr 6]

Để đảm bảo việc khai hải quan được chính xác, người khai hải quan

có quyền yêu cầu cơ quan Hải quan cung cấp thông tin liên quan đến việc khai hải quan và hướng dẫn làm thủ tục hải quan; xem trước hàng hóa, lấy mẫu hàng hóa dưới sự giám sát của công chức hải quan Bên cạnh bộ hồ sơ hải quan thông thường, người khai hải quan có thể sử dụng hồ sơ điện tử và được yêu cầu cơ quan hải quan xác nhận bằng văn bản khi có yêu cầu xuất trình, bổ sung hồ sơ, chứng từ ngoài hồ sơ, chứng từ theo quy định của pháp luật về hải quan

- Nhóm quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát quản

lý hải quan:

Đây là nội dung quan trọng bậc nhất của quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan Nội dung quy định trong Luật Hải quan cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành đã được tổng kết và kế thừa về kinh nghiệm quản lý hải quan trong một thời gian dài, nhất là trong thời kỳ đổi mới, mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và thế giới Cụ thể, Luật Hải quan quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra giám sát hải quan tại Chương III Luật Hải quan, nội dung này chiếm hơn 1/2 tổng số Điều của Luật Hải quan Ngoài ra nhiều nội dung của Chương này đã được nội luật hóa tối đa công ước quốc tế liên quan

Trang 33

đến lĩnh vực hải quan, đặc biệt nguyên tắc kiểm tra hải quan đã được quy định dựa trên việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro

Nội dung chính là thủ tục hải quan đã có sự thay đổi cơ bản, nếu như trước đây chủ yếu chúng ta vẫn thực hiện việc kiểm tra, giám sát hải quan ngay từ khâu đầu tiên, khâu tiếp nhận kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa với tỷ lệ cao thì hiện nay theo quy định của Luật Hải quan chúng ta đã áp dụng nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan dựa trên phương pháp quản lý rủi ro, chuyển từ việc quản lý theo phương pháp thủ công, truyền thống sang phương pháp quản lý hải quan tiên tiến, quản lý tổ chức xuất nhập khẩu qua hệ thống thông tin, đã dần tiếp cận với chuẩn mực quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Điều này minh chứng tại các quy định về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan liên quan đến nguyên tắc kiểm tra hải quan, phương pháp kiểm tra hải quan Để thực hiện nguyên tắc kiểm tra hải quan, phương pháp kiểm tra hải quan mới dựa trên phương pháp quản lý rủi ro, chuyển mạnh mẽ từ tiền kiểm sang hậu kiểm đòi hỏi hệ thống pháp luật về hải quan phải minh bạch, hệ thống thông tin hải quan phải được thiết lập chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là nguồn nhân lực để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ này

Hình 1.1 Sơ đồ quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu

Trang 34

Nguồn: Kế hoạch tổng thể triển khai cơ chế một cửa quốc gia [1]

- Nhóm quy định về xác định trị giá hải quan, tổ chức thu thuế và các khoản thu khác:

Việc xác định trị giá hải quan được thực hiện theo quy định tạo Luật Thuế xuất nhập khẩu, Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành Hiện nay các quy định về xác định trị giá hải quan đã phù hợp với Hiệp định Trị giá GATT Việc xác định trị giá hải quan hoàn toàn phù hợp với Hiệp định Trị giá GATT là một quá trình, bắt đầu từ khi Việt Nam chưa là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới Để thực hiện các cam kết với ASEAN và Mỹ, Chính phủ đã ban hành Nghị định 60/2002/NĐ-CP

Trang 35

ngày 06/6/2002 hướng dẫn việc xác định trị giá tính thuế Hải quan, tuy nhiên Nghị định này mới bước đầu tuân thủ Hiệp định trị giá GATT Sau đó Nghị định số 155/2005/NĐ-CP và Nghị định số 40/2007/NĐ-CP quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu lần lượt được ban hành thay thế các quy định chưa phù hợp, hướng dẫn việc xác định trị giá tính thuế phù hợp hoàn toàn với những nguyên tắc và phương pháp xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT

Việc xác định trị giá Hải quan theo Hiệp định trị giá GATT nhìn chung đã tạo nên một hệ thống xác định trị giá hải quan minh bạch, thống nhất phù hợp với chuẩn mực quốc tế Việc áp dụng Hiệp định trị giá GATT trong xác định trị giá hải quan đã đánh dấu bước cải cách cơ bản của chính sách về giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam theo hướng minh bạch, công bằng, hiện đại, xóa bỏ dần sự áp đặt chủ quan của cơ quan quản lý

Quy định về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu cũng được xây dựng trên cơ sở phù hợp tương ứng quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Thuế giá trị gia tăng; Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn thi hành

Với mục tiêu tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người nộp thuế, pháp luật về thủ tục hải quan quy định người nộp thuế có trách nhiệm kê khai thuế đầy đủ, chính xác, minh bạch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai Bên cạnh đó, yếu tố tự giác của người nộp thuế được đề cao thông qua các quy định như: nếu tự phát hiện sai sót, nhầm lẫn và chủ động nộp số tiền thuế còn thiếu thì được miễn áp dụng các hình thức xử phạt Trong trường hợp có sự nhầm lẫn trong việc kê khai, tính thuế thì người nộp thuế được hoàn trả số tiền nộp thừa nếu sự nhầm lẫn

đó xảy ra trong thời hạn 365 ngày trở về trước kể từ ngày kiểm tra, phát hiện

có sự nhầm lẫn Thời hạn hoàn thuế là 15 ngày, kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền hoàn thuế nhận đủ hồ sơ hoàn thuế Nếu việc chậm hoàn thuế là do lỗi

Trang 36

của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét hoàn thuế thì ngoài số tiền thuế phải hoàn còn phải trả tiền lãi kể từ ngày chậm hoàn thuế cho đến ngày được hoàn thuế theo mức lãi suất vay ngân hàng thương mại tại thời điểm phải hoàn thuế

- Nhóm quy định về kiểm tra sau thông quan:

Kiểm tra sau thông quan là nội dung rất mới, xuất hiện từ Luật Hải quan năm 2001, theo Luật Hải quan năm 2001 thì cơ quan hải quan khi phát hiện dấu hiệu vi phạm sau khi lô hàng đã thông quan thì được kiểm tra sau thông quan, song trong quá trình thực hiện đã nảy sinh những vướng mắc khó tìm ra dấu hiện vi phạm Vì vậy, Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2005 đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung cơ bản của quy định về kiểm tra sau thông quan Về nguyên tắc kiểm tra sau thông quan vẫn áp dụng theo phương pháp quản lý rủi ro và mở rộng phạm vi kiểm tra sau thông quan đối với các trường hợp không chỉ có dấu hiện vi phạm mà kiểm tra sau thông quan còn được thực hiện dựa trên cơ sở phân tích thông tin để cơ quan hải quan quyết định việc kiểm tra Việc kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong phạm vi 5 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan

Kiểm tra sau thông quan được coi là khâu nghiệp vụ quan trọng của hải quan hầu hết các nước Tổ chức Hải quan thế giới đã tổng kết và khuyến nghị phải duy trì và phát triển hệ thống kiểm tra sau thông quan đủ mạnh để

có thể ngăn chặn và phát triển gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận về trị giá, dù hệ thống trị giá có được xác định theo bất cứ phương pháp nào Kiểm tra sau thông quan là biện pháp quan trọng nhất để kiểm tra, bảo đảm tính tuân thủ pháp luật về thủ tục hải quan, nhất là trong bối cảnh áp dụng phương pháp quản lý rủi ro và xác định trị giá hải quan theo Hiệp định trị giá GATT

Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của việc khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan và đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người khai hải quan làm cơ sở xem xét mức độ ưu tiên trong

Trang 37

khi làm thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan Kiểm tra sau thông quan được thực hiện thông qua việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ kế toán,

sổ kế toán, báo cáo tài chính và các chứng từ có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Kiểm tra sau thông quan được thực hiện đối với các tổ chức, cá nhân

có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; tổ chức được chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ủy thác làm thủ tục hải quan; người được ủy quyền hợp pháp trong trường hợp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa, vật phẩm không nhằm mục đích thương mại; đại lý làm thủ tục hải quan; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh quốc tế

Kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan hoặc xác định có khả năng vi phạm pháp luật hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin của cơ quan hải quan và kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan đối với các trường hợp khác (trong đó tập trung vào trường hợp đã được hưởng ưu tiên trong quá trình thông quan như miễn kiểm tra hải quan, miễn kiểm tra thực tế hàng hóa)

Việc kiểm tra sau thông quan được thực hiện trong phạm vi 05 (năm) năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan Thời hạn kiểm tra đối với mỗi cuộc kiểm tra sau thông quan tối đa là 05 ngày làm việc đối với các trường hợp có dấu hiệu hoặc có khả năng vi phạm pháp luật hải quan và 15 ngày làm việc đối với các trường hợp kiểm tra theo kế hoạch Đối với những trường hợp phức tạp, cơ quan hải quan được quyền gia hạn thời gian kiểm tra tối đa không quá 15 ngày làm việc

Quy trình thông quan hàng hóa của cơ quan hải quan được thực hiện theo sơ đồ sau:

Hình 1.2: Quy trình thông quan hàng hóa

Trang 38

Nguồn: Kế hoạch tổng thể triển khai cơ chế một cửa quốc gia

Nhà nước ta chủ trương “xúc tiến nhanh có hiệu quả việc hiện đại hóa công tác hành chính, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin” Nội dung này được cụ thể hóa ở những quy định sau đây:

- Quy định định hướng xây dựng lực lượng hải quan và hiện đại hóa quản lý nhà nước về hải quan Đó là, Hải quan Việt Nam được xây dựng thành một lực lượng trong sạch, vững mạnh, có trình độ chuyên môn sâu, được trang bị và làm chủ kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả;

Và để hiện đại công tác hành chính thì Nhà nước ưu tiên đầu tư, khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghệ và phương tiện

kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại; khuyến khích tổ chức, cá nhân có hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu tham gia xây dựng và thực hiện giao dịch điện tử với hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan và áp dụng thủ tục hải quan điện tử

Trang 39

- Quy định áp dụng công nghệ điện tử vào việc khai hải quan; quy định hải quan được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại để phòng, chống vi phạm pháp luật Cụ thể: người khai hải quan được sử dụng hình thức khai điện tử; cơ quan hải quan, công chức hải quan trực tiếp làm nhiệm vụ chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới được trang bị phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp lực lượng, hỗ trợ phương tiện, cung cấp thông tin

- Quy định áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong quản lý hải quan, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm, áp dụng phương pháp quản

lý rủi ro trong kiểm tra thực tế hàng hóa; kiểm tra sau thông quan phù hợp với thông lệ quốc tế không chỉ kiểm tra khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm mà được kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra quá trình chấp hành tốt pháp luật của doanh nghiệp

b) Quy định về phạm vi, địa bàn hoạt động hải quan

Địa bàn hoạt động hải quan được quy định trong Luật Hải quan tại Điều 6 là sự kế thừa và phát triển quy định về địa bàn hoạt động và khu vực kiểm soát hải quan quy định tại Pháp lệnh Hải quan và Nghị định 128/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 19/4/1991 quy định phạm vi địa bàn hoạt động

cụ thể và khu vực kiểm soát hải quan Việt Nam Tuy nhiên trong Luật Hải quan quy định phạm vi hẹp hơn, thực tế hơn so với Pháp lệnh Hải quan, giới hạn trách nhiệm cụ thể của cơ quan hải quan trong nhiệm vụ được phân công Trước đây theo Pháp lệnh Hải quan thì địa bàn hoạt động của Hải quan Việt Nam bao gồm: khu vực cửa khẩu, cảng biển, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế; bưu điện quốc tế, khu vực kiểm soát hải quan dọc theo biên giới, bờ biển, hải đảo, vùng tiếp giáp lãnh hải và những địa điểm khác ở nội địa do Pháp lệnh quy định Qua thời gian thực tiễn hoạt động, để phù hợp với tình hình mới, có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với các lực lượng chức năng trên địa bàn quản lý thì hoạt động hải quan theo Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng

Trang 40

quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, các địa điểm làm thủ tục ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải

c) Quy định về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan

Đây là nội dung không mới trong Luật Hải quan năm 2001, tại khoản

9 Điều 73 đã quy định một trong các nội dung quản lý nhà nước về hải quan

là “hợp tác quốc tế về hải quan”, nhưng nhận thấy tầm quan trọng của công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực hải quan nên Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung đã quy định nội dung này thành một điều Luật, đó là Điều 5a quy định

về hợp tác quốc tế về hải quan, theo đó Hải quan Việt Nam thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của Nhà nước Việt Nam tại Tổ chức Hải quan Thế giới; được đàm phán, ký kết và tổ chức thực hiện thỏa thuận quốc tế song phương với hải quan nước ngoài và tổ chức khai thác, trao đổi thông tin, hợp tác nghiệp vụ với hải quan các nước, các tổ chức quốc tế có liên quan

d) Quy định về nhiệm vụ của hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Luật Hải quan quy định:

- Hải quan các cấp “được tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”; “được thành lập đơn

vị chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”;

- Trách nhiệm của hải quan trong phòng, chống buôn lậu vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong và ngoài phạm vi địa bàn hoạt động Quy định này được kế thừa, nâng lên từ Chỉ thị số 19/2000/CT-TTg, đó là

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cơ chế một cửa quốc gia giai đoạn 2008-2012 (2009), Kế hoạch tổng thể triển khai cơ chế một cửa gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch tổng thể triển khai cơ chế một cửa gia
Tác giả: Ban Chỉ đạo cơ chế một cửa quốc gia giai đoạn 2008-2012
Năm: 2009
2. Bộ Tài chính (2005), Báo cáo chuẩn đoán, Dự án Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị cho hiện đại hóa hải quan, (tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuẩn đoán
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2005
3. Bộ Tài chính (2008), Quyết định số 456/2008/QĐ-BTC ngày 13/4 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2008 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 456/2008/QĐ-BTC ngày 13/4 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về kế hoạch cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan giai đoạn 2008 - 2010
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2008
4. Bộ Tài chính (2009), Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11 hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 222/2009/TT-BTC ngày 25/11 hướng dẫn thí điểm thủ tục hải quan điện tử
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2009
5. Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12 quy định về việc hướng dẫn thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 06/12 quy định về việc hướng dẫn thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2010
6. Chính phủ (2005), Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12 quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2006), Nghị định 12/2005/NĐ-CP ngày 23/01 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 12/2005/NĐ-CP ngày 23/01 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
8. Chính phủ (2007), Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án 30 về cải cách thủ tục hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
9. Chính phủ (2009), Nghị định 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 26/2009/NĐ-CP ngày 16/3 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
10. Chính phủ (2011), Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 448/QĐ-TTg ngày 25/3 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
11. Học viện Hành chính Quốc gia (2007), Giáo trình thủ tục hành chính, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thủ tục hành chính
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2007
12. Ngân hàng Thế giới (2007), Sổ tay hiện đại hóa hải quan, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hiện đại hóa hải quan
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2007
13. Ngân hàng Thế giới (2008), Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu hướng dẫn cho đối tượng thực thi, (Tài liệu lưu hành nội bộ của Tổng cục Hải quan) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách thủ tục xuất nhập khẩu hướng dẫn cho đối tượng thực thi
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2008
14. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2005), Sổ Tạm quản và những điều cần biết, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ Tạm quản và những điều cần biết
Tác giả: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Năm: 2005
16. Quốc hội (2005), Luật Hải quan (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Hải quan (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
18. Quốc hội (2005), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
20. Quốc hội (2008), Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2008
21. Quốc hội (2010), Luật Thuế bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thuế bảo vệ môi trường
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
22. Nguyễn Toàn (2006), Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan, Đề tài nghiên cứu khoa học, Tổng cục Hải quan, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống thuật ngữ hải quan thông dụng trong bối cảnh hiện đại hóa hoạt động hải quan
Tác giả: Nguyễn Toàn
Năm: 2006
23. Tổng cục Hải quan (2004), Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2010, Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số 01-N2004, Chủ nhiệm đề tài: Trương Chí Trung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2010
Tác giả: Tổng cục Hải quan
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kim ngạch các mặt hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất - Công ước ATA và khả năng thực thi của ngành Hải quan trong thời gian tới
Bảng 2.1 Kim ngạch các mặt hàng kinh doanh tạm nhập - tái xuất (Trang 81)
Bảng 2.2: Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai   tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 - Công ước ATA và khả năng thực thi của ngành Hải quan trong thời gian tới
Bảng 2.2 Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 (Trang 82)
Bảng 2.3: Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai   tại Cục Hải quan Hải Phòng từ năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 - Công ước ATA và khả năng thực thi của ngành Hải quan trong thời gian tới
Bảng 2.3 Số liệu kim ngạch tạm nhập - tái xuất đăng ký tờ khai tại Cục Hải quan Hải Phòng từ năm 2007 đến tháng 10 năm 2011 (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w