1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam

105 515 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước phương Tây chỉ có một số ít quốc gia có đề cập đến tín dụng chứng từ trong luật thương mại và luật dân sự như Áo, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ…Tuy nhiên do luật về tín dụng chứng từ

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực./

NGƯỜI VIẾT

Trang 2

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BOC Ngân hàng Trung Quốc (Bank of China)

(COST AND FREIGHT)

DOCDEX Documentary Credit Dispute Resolution Expertise

FOB Giao lên tàu (Free On Board)

HSBC NGÂN HÀNG HỒNG KÔNG THƯỢNG HẢI

ICC Phòng Thương mại Quốc tế

ISP CÁC THỰC HÀNH VỀ THƯ TÍN DỤNG DỰ PHÒNG

QUỐC TẾ

KEB Ngân hàng Korean Exchange Bank

L/C TÍN DỤNG CHỨNG TỪ, THƯ TÍN DỤNG

SCB Ngân hàng Standar Chartered Bank

SWIFT SOCIETY FOR WORLDWIDE INTERBANK FINANCIAL

TELECOMMUNICATION

UCP Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ

QUỐC DOANH

VCB, NHNT Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

VCCI PHÒNG THƯƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH

CHẤP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN

1.3.2 Tranh chấp về Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại

Trang 4

1.4 Nguồn luật điều chỉnh tranh chấp về Tín dụng chứng từ trong

1.4.1 §iÒu -íc quèc tÕ vµ tËp qu¸n quèc tÕ 30

CHƯƠNG 2 : THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN

DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI

2.1 Các tranh chấp liên quan đến chứng từ xuất trình 43 2.1.1 Tranh chấp liên quan đến vận đơn đường biển 43 2.1.2 Tranh chấp liên quan đến vận đơn hàng không 47 2.1.3 Tranh chấp liên quan đến hóa đơn thương mại 50 2.1.4 Tranh chấp liên quan đến chứng từ bảo hiểm 53 2.1.5 Tranh chấp xung quanh việc hiểu thế nào là bản gốc của chứng

2.1.6 Tranh chấp liên quan đến các điều kiện phi chứng từ của L/C 60 2.2 Các tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ của ngân hàng 63 2.2.1 Tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng

TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG

CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI VIỆT

3.1 Đánh giá chung về thực trạng giải quyết tranh chấp về Tín dụng

3.2.2 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam 90

Trang 5

3.2.3 Kiến nghị đối với các ngân hàng tại Việt Nam 93 3.2.3.1 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 93 3.2.3.2 Kiến nghị đối với các Ngân hàng thương mại 94

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới phát triển mà thiếu các hoạt động giao lưu kinh tế quốc dân Xuất nhập khẩu trở thành chiếc cầu nối quan trọng để một nước tham gia vào đời sống kinh tế thế giới Với tư cách là chất xúc tác cho phát triển thương mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã không ngừng đổi mới và hoàn thiện với những phương thức thanh toán an toàn

và hiệu quả cho các bên tham gia, trong đó được sử dụng nhiều nhất hiện nay là phương thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ

Tín dụng chứng từ hiện nay được sử dụng trên toàn thế giới như một công cụ đảm bảo thanh toán an toàn và cũng là một nghiệp vụ có tính phức tạp

và phát sinh rất nhiều tranh chấp nhất trong thanh toán quốc tế, làm cản trở sự phát triển của hoạt động thương mại quốc tế Hiện nay luật pháp một số nước không đề cập đến tín dụng chứng từ mặc dù nó rõ ràng là một công cụ mang tính pháp lý Ở các nước phương Tây chỉ có một số ít quốc gia có đề cập đến tín dụng chứng từ trong luật thương mại và luật dân sự như Áo, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Mỹ…Tuy nhiên do luật về tín dụng chứng từ của các nước này không thể đáp ứng các yêu cầu của các bên tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ, các tổ chức ngân hàng và thương mại đã hình thành những quy tắc riêng, trong

số đó bản Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (gọi tắt là UCP) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới Đây là tài liệu cung cấp những chuẩn mực giao dịch chứng từ nhất định cho các bên tham gia, hạn chế những tranh chấp, những bất đồng do sự khác biệt về tập quán giao dịch giữa các đối tác thuộc những quốc gia khác nhau và cũng là cơ sở để các bên giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình thanh toán Bản điều lệ đã qua nhiều lần sửa đổi và mỗi lần sửa đổi đã tạo điều kiện thuận lợi hơn, thống nhất hơn giữa các ngân hàng trong

tổ chức thanh toán phương thức tín dụng chứng từ cho các doanh nghiệp xuất

Trang 7

nhập khẩu Lần sửa đổi gần đây, ICC bắt đầu từ năm 2003 và văn bản cuối cùng được hoàn thiện tháng 12/2006, có hiệu lực từ 01/7/2007 dưới tên gọi là UCP

600 Văn bản này hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tất cả các bên tham gia trong nghiệp vụ tín dụng chứng từ không những chỉ áp dụng UCP khi luật của nước của họ không đề cập đến, mà thậm chí ngay

cả khi luật pháp của nước họ có những điều luật về tín dụng chứng từ, UCP vẫn xem là ưu tiên vận dụng, hoặc sử dụng UCP như là những quy tắc bổ sung cho luật pháp trong nước

Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc mở cửa nền kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu đã thực sự bùng nổ kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của công tác thanh toán quốc tế tại các ngân hàng thương mại Do vậy, hoạt động mua bán ngoại thương cũng như công tác thanh toán quốc tế là một nhu cầu tất yếu của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

và Ngân hàng thương mại Tuy nhiên trong thanh toán ngoại thương, Việt Nam vẫn thường gặp phải những khó khăn Hiện nay, Việt Nam cũng đã có những văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán ngoại thương như Bộ luật Dân

sự 2005, Luật Thương mại năm 2005, Luật các Tổ chức Tín dụng, Pháp lệnh Ngoại hối 2005… Tuy nhiên các văn bản pháp luật của ta vẫn còn chung chung, chưa quy định cụ thể dẫn đến việc áp dụng UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy cần phải có Đề tài nghiên cứu một cách tổng hợp, toàn diện và có hệ thống

về vấn đề này nhằm hoàn thiện nó, đó là một nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Một vấn đề mà các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay đều quan tâm là làm thế nào để vận dụng UCP một cách hiệu quả để giải quyết các tranh chấp xảy ra có liên quan đến tín dụng chứng từ Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu Đề tài: “ Cơ sở lý luận và thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam” sẽ cung cấp hệ thống luận cứ pháp lý thúc đẩy thực tiễn hoạt

Trang 8

động giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với các quốc gia, đảm bảo quyền và lợi ích của các bên tham gia quan hệ xuất nhập khẩu là điều mà thực tiễn luôn đòi hỏi

2 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và các ngân hàng thương mại ở Việt Nam Tìm ra những khó khăn, tồn tại và những kết quả đạt được trong việc vận dụng UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương Từ đó đưa ra được những giải pháp, kiến nghị cho việc vận dụng UCP cũng như hoàn thiện hơn nữa pháp luật Việt Nam về thanh toán tín dụng chứng từ

3 Phạm vi nghiên cứu của Đề tài:

Xuất phát từ mục đích nêu trên, phạm vi của Đề tài đi sâu nghiên cứu các tranh chấp về tín dụng chứng từ đã xảy ra ở Việt Nam và việc vận dụng UCP để giải quyết các tranh chấp đó thông qua các ví dụ cụ thể đã xảy ra trong thực tiễn tại Việt Nam Từ đó tìm ra các thuận lợi cũng như khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các Ngân hàng thương mại trong việc vận dụng UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ, đưa ra các giải pháp, kiến nghị phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu của Đề tài:

Với mục đích và phạm vi trên, Đề tài được nghiên cứu dựa trên các phương pháp như: Phương pháp luận bao gồm Phương pháp Duy vật biện chứng và Phương pháp Duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể bao gồm Phương pháp Thống kê; Phương pháp so sánh; Phương pháp Phân tích tổng hợp

5 Nội dung của Đề tài:

Tuy việc nghiên cứu Đề tài gặp một số khó khăn nhất định như nguồn tài liệu tham khảo hạn chế, chưa có nhiều đề tài, công trình khoa học, các bài viết

Trang 9

nghiên cứu đi sâu về vấn đề này nhưng nội dung đề tài sẽ cố gắng phân tích một cách sâu sắc nhất, có hệ thống và toàn diện nhất các vấn đề như:

- Nêu và phân tích các vấn đề khái quát chung về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương cũng như các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam

- Nêu và phân tích thực tiễn tình hình sử dụng UCP để giải quyết các tranh chấp thường xảy ra trong lĩnh vực tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại các ngân hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam, kèm theo việc đưa ra một số ví dụ cụ thể về các tranh chấp trong từng trường hợp, từ đó đưa ra được thực trạng của các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong việc áp dụng UCP giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương

- Phần cuối của Đề tài đưa ra các kiến nghị, giải pháp đối với Nhà nước, với các Doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các Ngân hàng thương mại trong việc thực hiện UCP để giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương, qua đó thúc đẩy hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thông qua các ngân hàng thương mại

6 Kết cấu của Đề tài

Đề tài được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đối với Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương

Chương 2: Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam

Chương 3: Thực trạng và Một số kiến nghị, giải pháp trong việc giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam

Trang 10

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG

1.1 Khái quát chung về Tín dụng chứng từ

1.1.1 Lịch sử hình thành

Tín dụng chứng từ (Thư tín dụng) có một lịch sử phát triển lâu dài Những hình thức cổ điển đơn sơ nhất của Thư tín dụng được phát hiện là được

sử dụng vào thời cổ Ai Cập và cổ Hy Lạp Thư tín dụng cũng đã được sử dụng rộng rãi từ thời đế chế La Mã và trong thời kỳ Châu Âu phục hưng dưới dạng thư bảo lãnh thương mại Vào khoảng năm 1200 Thư tín dụng được thừa nhận

và trở thành một phần trong Bộ Luật Thương Mại Anh ( English Merchant Laws), đến giữa thế kỷ XIII Thư tín dụng được ghi trong Luật Anh (English Common Laws) Thư tín dụng từ lâu cũng đã được thừa nhận và là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong luật Thương mại Hoa Kỳ

Nguyên thuỷ, thư tín dụng là một bức thư do một người (thương nhân hay ngân hàng) gửi cho một hoặc nhiều người, yêu cầu những người này ứng tiền cho một người thứ ba ghi trong thư, một số tiền nhất định và cam kết rằng

sẽ hoàn trả số tiền đó cho một người hoặc nhiều người nào đã ứng tiền Thư tín dụng được ngân hàng trao cho khách hàng, tức người yêu cầu mở thư tín dụng đồng thời cũng là người thụ hưởng thư tín dụng Mục đích của thư tín dụng là chuyển một món tiền từ nơi người yêu cầu mở thư tín dụng đến nơi người đó sử dụng

Trang 11

Ngày nay, thư tín dụng thương mại đang được sử dụng rộng rãi như là một hình thức thanh toán chủ yếu trong buôn bán quốc tế, trong đó kết hợp việc ngân hàng cấp tín dụng cho người mua với việc trả tiền cho người bán Tuỳ theo thói quen và thông lệ của từng nước mà Tín dụng chứng từ được gọi với nhiều tên khác nhau: Letter of Credit, Credit, Document Credit Ở Việt Nam, ngoài tên là Tín dụng chứng từ còn được gọi dưới nhiều tên khác như Tín dụng thư, Thư tín dụng, L/C và thông dụng nhất là từ “Tín dụng chứng từ” (Document Letter of Credit) vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ

1.1.2 Định nghĩa Tín dụng chứng từ

Điều 2 của Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, ấn phẩm số 500 của Phòng thương mại quốc tế (gọi tắt là UCP 500) đưa ra định nghĩa về tín dụng chứng từ và đã được quốc tế công nhận như sau:

"Nhằm phục vụ mục đích các điều khoản này, những thuật ngữ "Tín dụng chứng từ" và "Thư tín dụng dự phòng" (dưới đây gọi là Tín dụng) có nghĩa là một sự thoả thuận nào, dù cho được gọi hoặc mô tả như thế nào, mà theo đó một Ngân hàng (Ngân hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng (Người yêu cầu phát hành tín dụng) hoặc nhân danh chính mình

i phải tiến hành việc trả tiền theo lệnh của một người thứ ba (Người hưởng lợi) hoặc phải chấp nhận và trả tiền các hối phiếu do Người hưởng lợi ký phát, hoặc

ii uỷ quyền cho một ngân hàng khác tiến hành thanh toán như thế hoặc chấp nhận và trả tiền các hối phiếu như thế, hoặc

iii uỷ quyền cho một ngân hàng khác chiết khấu khi (các) chứng từ quy định được xuất trình với điều kiện là các điều kiện của Tín dụng được thực hiện đúng "

Trang 12

Theo Điều 2 Quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, ấn phẩm số 600 (gọi tắt là UCP 600) đã định nghĩa về Tín dụng chứng từ như sau:

“Thư tín dụng là bất cứ sự thỏa thuận nào, dù được gọi hoặc mô tả thế nào mà theo đó không thể hủy ngang và trở thành một cam kết của ngân hàng phát hành thư tín dụng về việc thanh toán khi chứng từ xuất trình hợp lệ”

Định nghĩa trên có thể được hiểu một cách đơn giản như sau Về bản chất, tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi

số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng các chứng từ quy định phù hợp với những điều kiện và điều khoản đề ra trong thư tín dụng

Trong thực tiễn, khi người mua và người bán lựa chọn phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho thương vụ của mình, họ thường gọi đó là "thanh toán bằng thư tín dụng" Chính cách nói này dễ gây ra sự nhầm lẫn rằng khái niệm thư tín dụng đồng nhất với tín dụng chứng từ Giữa thư tín dụng (Letter of Credit - L/C) và tín dụng chứng từ (Documentary Credit) có sự khác biệt cơ bản cần phải được làm rõ

Ban đầu, thư tín dụng là một bức thư do một người (thương nhân hay ngân hàng) gửi cho một hoặc nhiều người, yêu cầu những người này ứng cho một người thứ ba được ghi trong thư một số tiền nhất định, và cam kết rằng sẽ hoàn trả số tiền đó cho một hoặc nhiều người đã ứng ra Khi thư tín dụng được gửi đích danh cho một người thì gọi đó là thư tín dụng đích danh (Special letter

of credit), còn khi được gửi chung cho mọi người, không ghi tên cụ thể một ai

cả thì gọi là thư tín dụng ngỏ (General letter of credit) Thư tín dụng được ngân hàng trao cho khách hàng, tức là người yêu cầu mở thư tín dụng, đồng thời cũng

là người hưởng thụ thư tín dụng Mục đích thư tín dụng là nhằm chuyển một khoản tiền từ nơi người yêu cầu mở thư tín dụng đến nơi người đó sử dụng Điển hình của loại thư tín dụng này là thư tín dụng du lịch

Trang 13

Ngày nay, thư tín dụng thương mại được sử dụng rộng rãi, tuy cũng mang tên gọi là thư tín dụng nhưng không giống loại thư tín dụng nói trên Thư tín dụng hiện nay là một định chế khác hẳn, trong đó kết hợp việc ngân hàng cấp tín dụng cho người mua với việc ngân hàng trả tiền cho người bán

Loại thư tín dụng thứ hai này được lập trên cơ sở một tín dụng chứng từ

mà ngân hàng cấp cho khách hàng của mình, tức là người nhập khẩu Ngân hàng gửi thẳng thư tín dụng đó cho người xuất khẩu để cho người xuất khẩu biết là theo yêu cầu của người nhập khẩu, ngân hàng đã mở một thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng, và cam kết trả tiền cho người xuất khẩu khi người xuất khẩu làm đúng các điều quy định trong thư tín dụng Như vậy, tín dụng chứng từ là loại tín dụng do ngân hàng mở cho người nhập khẩu, được đảm bảo bằng các chứng từ gửi hàng mà người nhập khẩu dùng để tiến hành thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu Còn thư tín dụng là văn bản thể hiện loại tín dụng đó và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng với người xuất khẩu

Như vậy, thư tín dụng là một công cụ quan trọng của phương thức tín dụng chứng từ Đó là một chứng thư (điện hoặc ấn chỉ), trong đó ngân hàng mở thư tín dụng cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình được các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng

Một điểm cần lưu ý nữa là chữ "tín dụng" dùng ở đây phải được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa tín nhiệm, chứ không chỉ là khoản tiền cho vay trong nghĩa thông thường của từ này Bởi vì trong trường hợp ngân hàng đòi hỏi người nhập khẩu phải ký quỹ 100% số tiền của thư tín dụng thì thực chất ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào cả mà là cho người nhập khẩu vay sự tín nhiệm của mình Lời hứa trả tiền của ngân hàng sẽ được tin tưởng hơn lời hứa trả tiền của người nhập khẩu vì ngân hàng có tín nhiệm hơn người nhập khẩu

1.1.3 Đặc trưng của Tín dụng chứng từ

Thư tín dụng là cơ sở pháp lý chính của việc thanh toán, nó ràng buộc tất

cả các bên tham gia vào phương thức tín dụng chứng từ Thư tín dụng ra đời

Trang 14

luôn dựa trên cơ sở hợp đồng thương mại được ký kết giữa Người mua và Người bán trong đó quy định những điều kiện mua bán, khối lượng, số lượng

và thể thức thanh toán Việc áp dụng phương thức thanh toán bằng thư tín dụng phải được bên mua và bên bán thống nhất và quy định trong hợp đồng thương mại Khi hợp đồng quy định áp dụng thư tín dụng thì người mua mới có trách nhiệm yêu cầu ngân hàng mở L/C cho Người bán hưởng Sau khi L/C đã được

mở và được Người bán chấp nhận, nghĩa vụ giao hàng của Người bán mới được thực hiện

Ngân hàng mở cam kết trả tiền cho người xuất khẩu nếu họ xuất trình một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C Như vậy tín dụng thư vừa được coi là thư tín quốc tế vừa được coi là một hình thức tín dụng bằng chữ ký mà ngân hàng dành cho khách hàng của mình

Tín dụng chứng từ ngày càng phát huy vai trò trong môi trường quốc tế rộng lớn giữa các bạn hàng tín nhiệm hay chưa từng quen biết vì nó đảm bảo chắc chắn rằng người xuất khẩu sẽ được trả tiền miễn là họ xuất trình được một

bộ chứng từ hoàn hảo tới ngân hàng mà không cần biết tới mối quan hệ giữa ngân hàng mở và Người mua Điều này thể hiện một số tính chất vô cùng quan trọng của tín dụng chứng từ

Một là, thư tín dụng thương mại được hình thành trên cơ sở hợp đồng mua bán nhưng sau khi ra đời lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán

Về bản chất L/C là một chứng thư thể hiện cam kết của ngân hàng phục vụ Người mua đối với Người bán về nghĩa vụ trả tiền theo quy định trong điều khoản thanh toán của hợp đồng mua bán Vì vậy L/C phải được mở trên cơ

sở của hợp đồng Căn cứ vào nội dung của hợp đồng, Người mua gửi đơn yêu cầu mở L/C cho ngân hàng được hai bên chỉ định trong hợp đồng (trong trường hợp hợp đồng không quy định, Người mua có quyền lực chọn một ngân hàng thích hợp), Người bán có trách nhiệm kiểm tra khi nhận được L/C căn cứ vào nội dung của hợp đồng mua bán mà hai bên đã thống nhất Khi L/C phù hợp thì Người bán phải thực hiện nghĩa vụ giao hàng Nếu không thì

Trang 15

Người bán có quyền yêu cầu Người mua sửa đổi L/C cho phù hợp với hợp đồng trước khi giao Như vậy ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào đơn xin mở L/C của Người mua gửi đến để lập một cam kết trả tiền đối với Người bán chứ không căn cứ vào hợp đồng mua bán Sau khi Người bán giao hàng nếu xuất trình chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung thư tín dụng sẽ được ngân hàng mở thư tín dụng trả tiền, còn bộ chứng từ ấy có phù hợp với hợp đồng hay không ngân hàng không chịu trách nhiệm Nếu bộ chứng từ có sai sót, Người mua và ngân hàng mở thư tín dụng từ chối trả tiền cho Người bán chỉ căn cứ vào thư tín dụng không căn cứ vào hợp đồng

Tính độc lập này cũng thể hiện nghĩa vụ của ngân hàng không thay đổi, nếu sửa đổi hợp đồng mà không sửa đổi thư tín dụng thì ngân hàng vẫn chỉ dựa vào thư tín dụng để thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình mà không cần biết đến hợp đồng đã thay đổi đó; hay ngược lại khi tín dụng đã được sửa đổi mà không sửa đổi hợp đồng thì đến khi xuất trình chứng từ thanh toán tuy phù hợp với hợp đồng nhưng trái với thư tín dụng, ngân hàng

mở vẫn có quyền từ chối thanh toán Sau cùng tính độc lập của thư tín dụng không huỷ bỏ trách nhiệm của ngân hàng mở khi hợp đồng đã huỷ bỏ nhưng thư tín dụng vẫn còn hiệu lực

Hai là, trong các nghiệp vụ tín dụng, tất cả các bên liên quan chỉ giao dịch căn cứ vào chứng từ không căn cứ vào hàng hoá Bởi vì các bên chỉ

mua bán theo chứng từ về quyền sở hữu hàng hoá chứ không mua bán hàng hoá bằng hiện vật nên bộ chứng từ hàng hoá là căn cứ duy nhất để quyết định các giao dịch có được thực hiện hay không Chính bộ chứng từ này mới tạo nên cơ sở nền tảng của tín dụng thư kèm chứng từ, qua đó người bán mới có thể đòi tiền ngân hàng mở thư tín dụng, ngân hàng mở L/C sẽ đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán cho người bán, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người mua hoàn trả hay từ chối trả tiền cho ngân hàng mở thư tín dụng Nếu người xuất khẩu xuất trình được các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các quy định của thư tín dụng thì sẽ được ngân hàng trả tiền Ngân

Trang 16

hàng không chịu trách nhiệm về tên hàng, số lượng, trọng lượng, chất lượng, trạng thái, bao bì, việc giao hàng, giá trị hay sự hiện hữu của hàng hoá mà bất

cứ chứng từ nào đại diện Như vậy trong phương thức tín dụng chứng từ các chứng từ có tầm quan trọng to lớn vì nó tượng trưng cho giá trị hàng hoá mà người bán đã giao và cho phép người mua sử dụng hàng hoá, là căn cứ cho người xuất khẩu đòi ngân hàng thanh toán tiền hàng

Trong phương thức tín dụng chứng từ, có hai nguyên tắc cơ bản Đó là nguyên tắc độc lập của thư tín dụng (Independence of the Credit) và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ của chứng từ (strict compliance of documents)

Nguyên tắc độc lập: Thư tín dụng được mở trên cơ sở hợp đồng mua bán

giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu để thanh toán tiền hàng cho số hàng người xuất khẩu đã giao cho người nhập khẩu theo hợp đồng kinh tế đã ký kết Nhưng khi ra đời, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng mua bán hay bất kỳ một hợp đồng nào khác làm cơ sở cho thư tín dụng, thậm chí ngay cả khi thư tín dụng có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó Nghĩa vụ của ngân hàng phát hành thư tín dụng đối với người hưởng lợi không phụ thuộc vào việc người hưởng lợi có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình đối với người nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hay không Thay vào đó, nó phụ thuộc vào khả năng xuất trình các chứng từ phù hợp với thư tín dụng của người xuất khẩu Ngân hàng

mở thư tín dụng không thể từ chối thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thư tín dụng với lý do người xuất khẩu đã giao hàng kém chất lượng, hay vì một lí do tương tự Các tranh chấp giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu phát sinh từ hợp đồng mua bán cơ sở sẽ phải được giải quyết một cách độc lập với giao dịch thư tín dụng Ngân hàng sẽ thanh toán tiền cho người hưởng lợi miễn là người này xuất trình được các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng

Nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ: khi kiểm tra các chứng từ xuất trình, các

ngân hàng chỉ thanh toán cho người hưởng lợi khi các chứng từ này tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của thư tín dụng Ngân hàng cũng chỉ có thể đòi được hoàn trả nếu các điều kiện của thư tín dụng được tuân thủ chặt chẽ Có quan điểm cho

Trang 17

rằng ngân hàng không nên bắt lỗi các khác biệt thông thường, không nghiêm trọng (immaterial dicrepancies), và nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ không có nghĩa

là phải tìm ra các lỗi chính tả do in ấn, hay các lỗi do kỹ thuật trong chứng từ

Vì vậy, ngân hàng có thể hỏi ý kiến của người xin mở thư tín dụng về những khác biệt được tìm thấy trên chứng từ Nếu người xin mở thư tín dụng đồng ý

bỏ qua thì ngân hàng mới thanh toán, nếu không thì từ chối bộ chứng từ và không thanh toán Tuy nhiên, cách an toàn nhất cho các ngân hàng vẫn là tiến hành tuyệt đối nguyên tắc tuân thủ chặt chẽ Bất kì sự đi trệch khỏi nguyên tắc này, cho dù là được phép đi nữa đều có thể mang lại rủi ro cho ngân hàng và có thể dẫn đến các vụ kiện tụng tốn nhiều thời gian và tiền bạc

Các đặc trưng trên đã đem lại cho phương thức tín dụng chứng từ những

ưu điểm riêng biệt mà các phương thức thanh toán khác không thể nào có được

và trở thành phương thức thanh toán được sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất hiện nay Nhưng cái gì cũng có mặt trái của nó Phương thức tín dụng chứng từ cũng vậy, nó cũng có những nhược điểm nhất định Tuy nhiên, đây vẫn là một phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Chính vì thế, yêu cầu đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam phải hiểu được những quy định liên quan đến hoạt động thanh toán bằng tín dụng chứng từ càng trở nên cấp thiết Hiện nay, điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, có một văn bản mang tính chất pháp lý quốc tế do Phòng Thương mại Quốc tế ban hành Đó là "Các quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ" ấn phẩm số 500 Phần tiếp theo của chương này sẽ được dành để nghiên cứu về văn bản trên

1.1.4 Chủ thể của quan hệ Tín dụng chứng từ:

Trong phương thức tín dụng chứng từ, có 4 bên tham gia chính sau:

- Người xin mở thư tín dụng (Applicant): là người mua, người nhập khẩu hàng hoá hoặc là người mua uỷ thác cho một người khác

Trang 18

- Người hưởng lợi thư tín dụng (Beneficiary): là người được ngân hàng gửi tín dụng thư tới và sẽ được hưởng số tiền trong thư tín dụng nếu xuất trình

bộ chứng từ thanh toán phù hợp với yêu cầu đề ra Người hưởng lợi có thể là người bán, người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác mà người hưởng lợi chỉ định

- Ngân hàng phát hành (Issuing bank hay Opening bank): là ngân hàng phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người nhập khẩu Đây là ngân hàng đại diện cho người nhập khẩu, nên có thể gọi là ngân hàng của người mua Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận lựa chọn và quy định trong hợp đồng, nếu chưa có sự quy định trước, người nhập khẩu có quyền lựa chọn

- Ngân hàng thông báo (Advising bank): là ngân hàng báo tin cho người xuất khẩu về việc thư tín dụng đã được mở Ngân hàng này nhận điện hoặc thư của ngân hàng mở thư tín dụng và thông báo thư tín dụng gốc này cho người hưởng lợi Ngân hàng thông báo thường là ngân hàng đại lý hoặc là chi nhánh của ngân hàng mở thư tín dụng đặt tại nước người xuất khẩu

Khi thương mại quốc tế và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế đã phát triển thì phương thức thanh toán tín dụng chứng từ ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp hơn Ngoài bốn bên chính trên, còn có sự tham gia của các ngân hàng khác như: ngân hàng xác nhận (confirming bank), ngân hàng trả tiền (paying bank), ngân hàng chấp nhận (negotiating bank), ngân hàng chấp nhận (accepting bank), ngân hàng hoàn trả (reimbursing bank) v.v

Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có liên quan đến ba quan hệ hợp đồng độc lập:

Hợp đồng mua bán giữa người xuất khẩu (người hưởng lợi) và người nhập khẩu (người xin mở thư tín dụng): Hợp đồng này làm cơ sở cho phương thức tín dụng chứng từ và hình thành quan hệ nghĩa vụ giữa người nhập khẩu và người xuất khẩu Theo hợp đồng này, người nhập khẩu phải mở thư tín dụng

Trang 19

đúng thời hạn và phù hợp với nội dung của hợp đồng mua bán cho người xuất khẩu hưởng, còn người xuất khẩu có nghĩa vụ giao hàng theo đúng hợp đồng và lập bộ chứng từ xuất trình cho ngân hàng để thanh toán

Thoả thuận xin mở thư tín dụng và hoàn trả giữa người xin mở thư tín dụng (người xuất khẩu) và ngân hàng phát hành: đây là một hợp đồng kinh tế dịch vụ Người xuất khẩu phải làm đơn yêu cầu mở thư tín dụng, trả một khoản

lệ phí mở thư tín dụng và ký quỹ một số tiền nhất định tuỳ theo quy định của ngân hàng Trong đơn xin mở thư tín dụng, phải ghi rõ nội dung cụ thể của thư tín dụng Ngân hàng căn cứ vào đó mở thư tín dụng cho người xuất khẩu hưởng

và chịu trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do người xuất khẩu trình Nếu chứng

từ hoàn toàn phù hợp với nội dung điều kiện của thư tín dụng thì ngân hàng sẽ nhận chứng từ và thanh toán tiền hàng cho người xuất khẩu, sau đó ngân hàng thu lại tiền của người nhập khẩu và giao chứng từ cho người nhập khẩu đi lấy hàng

Bản thân thư tín dụng: là một hợp đồng dịch vụ trong đó ngân hàng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nếu người này thực hiện đúng những quy định đề ra trong thư tín dụng Người xuất khẩu phải lập đầy đủ các chứng từ phù hợp với yêu cầu của thư tín dụng và xuất trình cho ngân hàng trong thời hạn quy định Sau khi kiểm tra chứng từ, nếu thấy hoàn toàn phù hợp với các quy định của thư tín dụng, ngân hàng phải thanh toán tiền hàng cho nhà xuất khẩu

Khác với các phương thức thanh toán kèm chứng từ khác, trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ chi

hộ, mà ngân hàng còn đóng vai trò đại diện cho bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu Đây là phương thức thanh toán có sự tham gia nhiều nhất của ngân hàng Với cam kết trả tiền cho người hưởng lợi thư tín dụng nếu người này xuất trình được các chứng từ phù hợp với yêu cầu của L/C, ngân hàng đã trở thành một bên có nghĩa vụ trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ Chính nhờ đặc điểm này, phương thức tín dụng chứng từ đã trở thành

Trang 20

một phương thức thanh toán quốc tế an toàn cho các bên tham gia: người xuất khẩu chắc chắn sẽ nhận được tiền hàng sau khi đã trao cho ngân hàng mở thư tín dụng bộ chứng từ hoàn hảo, còn người nhập khẩu chắc chắn sẽ không bị mất tiền nếu chưa nhận được đầy dủ chứng từ xác thực về việc gửi hàng đúng theo thoả thuận của hợp đồng

Chu trình của phương thức Tín dụng chứng từ được mô tả qua sơ đồ sau:

(3) Khi nhận được thông báo, ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người xuất khẩu toàn bộ nội dung thông báo về việc mở L/C đó, và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho người xuất khẩu

(4) Người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì giao hàng, nếu không thì yêu cầu ngân hàng phát hành sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng

Người xuất khẩu (Exporter)

Trang 21

(5) Sau khi giao hàng, người bán lập bộ chứng từ gửi hàng theo yêu cầu của thư tín dụng xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán

(6) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với tín dụng thư thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu thấy không phù hợp, ngân hàng từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu

(7) Ngân hàng mở L/C đòi tiền người nhập khẩu và chuyển toàn bộ chứng từ cho người nhập khẩu sau khi nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán

(8) Người nhập khẩu kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền, nếu không có quyền từ chối thanh toán

1.2 Một số loại Tín dụng chứng từ cơ bản

1.2.1 Thư tín dụng có thể huỷ ngang (revocable L/C):

Là một loại L/C mà ngân hàng và người nhập khẩu có thể sửa đổi hoặc huỷ bỏ tuỳ ý mà không cần báo cho người bán (hay người hưởng lợi L/C) biết trước Trong trường hợp có thêm ngân hàng đại lý tham dự thì việc sửa đổi hay huỷ bỏ L/C chỉ có hiệu lực sau khi ngân hàng này nhận được giấy báo về việc sửa đó trước khi ngân hàng đại lý này trả cho người bán Ngân hàng phát hành

sẽ phải hoàn trả lại tiền cho chi nhánh, đại lý khi nơi này đã thanh toán các khoản trả tiền ngay, trả chậm, chấp nhận để thanh toán đúng theo các điều khoản của L/C trước khi nhận được thông báo sửa đổi hay huỷ bỏ, tức là khi hàng hoá đã giao mà ngân hàng thông báo huỷ bỏ L/C thì ngân hàng vẫn phải thanh toán như bình thường

Cho đến nay loại L/C này chỉ tồn tại trên lý thuyết, trong thực tế hầu như không áp dụng vì tính không an toàn trong thanh toán quốc tế, không đảm bảo quyền lợi cho người bán, chỉ có giá trị như một lời hứa chứ không phải một cam kết trả tiền

Trang 22

1.2.2 Thư tín dụng không thể huỷ ngang (irrevocable L/C):

Là loại thư tín dụng sau khi đã được mở và người xuất khẩu thừa nhận thì ngân hàng phát hành không được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ trong thời hạn hiệu lực của L/C, trừ khi có sự thoả thuận của các bên tham gia

Như đã quy định trong điều 9(a) UCP 500 của ICC thì thư tín dụng không thể huỷ ngang là “một sự cam kết chắc chắn” của ngân hàng phát hành

Và theo đó ngân hàng phát hành phải thực hiện đúng cam kết thanh toán của mình như đã quy định trong tín dụng thư Như vậy, thư tín dụng không thể huỷ ngang đã khắc phục được tính bấp bênh trong thanh toán Tuy nhiên tính chất không thể huỷ ngang chỉ được thực hiện khi các điều kiện của thư tín dụng được thực hiện đúng Vì vậy, chứng từ là trụ cột của toàn bộ tính chất không thể huỷ ngang Với tính chất này, hiện nay loại thư tín dụng không thể huỷ ngang được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế và được coi là loại L/C cơ bản nhất

Nhà nhập khẩu khi yêu cầu mở L/C phải ghi rõ loại L/C Một tín dụng không ghi rõ thuộc loại nào, theo điều 6(c) UCP 500, thì tín dụng đó được coi là không thể huỷ ngang

Trên thực tế, những rủi ro trong thanh toán có thể do ngân hàng mở L/C mất khả năng thanh toán, nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán hay bị phá sản, việc thanh toán vì thế trở nên mạo hiểm đối với người xuất khẩu Do

đó xuất hiện những loại L/C chắc chắn hơn

1.2.3 Thư tín dụng không thể huỷ ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, được một ngân hàng khác xác nhận đảm bảo trả tiền theo yêu cầu của ngân hàng mở L/C Như vậy ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn, có uy tín, có quan hệ tiền vay, tiền gửi với ngân hàng mở, được ngân hàng mở yêu cầu xác nhận thanh toán trong trường hợp ngân hàng mở không có khả năng thanh toán

Trang 23

Trong hầu hết các trường hợp trách nhiệm của ngân hàng xác nhận giống như của ngân hàng mở, do đó ngân hàng mở phải trả phí xác nhận, và có thể phải ký quỹ 100% giá trị L/C

Do có hai ngân hàng đứng ra cam kết trả tiền nên loại L/C nay là chắc chắn nhất cho người xuất khẩu

1.2.4 Thư tín dụng không thể huỷ ngang, miễn truy đòi (Irrevocable without recourse L/C):

Là loại L/C mà sau khi mở người xuất khẩu đã được trả tiền thì ngân hàng mở L/C không còn quyền đòi lại tiền ở người xuất khẩu trong bất kỳ trường hợp nào Khi dùng loại L/C này, người xuất khẩu khi ký phát hối phiếu phải ghi “without recourse to drawer” (miễn truy đòi lại người ký phát) và trong L/C cũng phải ghi như vậy

Loại L/C này cũng được dùng phổ biến trong thanh toán quốc tế vì nó đảm bảo được người xuất khẩu chắc chắn sẽ thu được tiền khi đã chấp nhận tín dụng thư

Ngoài ra trong thanh toán quốc tế còn có một số loại L/C đặc biệt khác được sử dụng:

1.2.5 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C):

Thư tín dụng tuần hoàn là thư tín dụng không thể huỷ ngang khi được thanh toán hết giá trị L/C hoặc hết thời hạn hiệu lực thì nó từ động có giá trị như ban đầu, và cứ như vậy nó tuần hoàn cho đến khi nào tổng giá trị hợp đồng được thực hiện xong

Loại L/C này được sử dụng trong trường hợp hai bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên, có uy tín tốt với nhau, đối tượng thanh toán cố định Khi áp dụng L/C này, người nhập khẩu không bị ứ đọng vốn và giảm được chi phí mở L/C nhiều lần, người xuất khẩu sau khi giao hàng có thể nhận được tiền ngay trong cùng một L/C

Trang 24

Thư tín dụng tuần hoàn cần ghi rõ ngày hết hiệu lực cuối cùng và số lần tuần hoàn căn cứ vào thời hạn hiệu lực trong mỗi lần tuần hoàn, đồng thời phải ghi rõ có cho phép cộng dồn số dư của L/C vào những L/C kế tiếp hay không Nếu cho phép cộng dồn thì gọi là L/C tuần hoàn tích luỹ (Cumulative L/C), là loại L/C tuần hoàn mà trong đó bất kỳ khoản tiền nào chưa được thực hiện trong giai đoạn đầu được hoãn lại và có thể tiếp tục được thực hiện trong các giai đoạn tiếp theo; còn nếu không cho phép cộng dồn thì gọi là L/C tuần hoàn không tích luỹ (non-cumulative L/C), có nội dung ngược lại

Có 3 cách tuần hoàn là tuần hoàn tự động, tuần hoàn bán tự động và tuần hoàn hạn chế: Tuần hoàn tự động là tự động có giá trị như cũ, không cần sự thông báo của ngân hàng mở cho người xuất khẩu biết Tuần hoàn bán tự động

là sau khi L/C trước sử dụng xong hoặc hết hiệu lực, nếu sau một vài ngày mà ngân hàng mở L/C không có ý kiến gì về L/C kế tiếp và thông báo cho người hưởng lợi thì nó tự động có giá trị như cũ Và tuần hoàn hạn chế là chỉ khi nào ngân hàng mở L/C thông báo cho người xuất khẩu biết thì L/C kế tiếp mới có giá trị hiệu lực

1.2.6 Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C):

Là loại thư tín dụng không thể huỷ ngang, trong đó quy định quyền của ngân hàng trả tiền (ngân hàng chuyển nhượng) được chuyển nhượng một phần hay toàn bộ giá trị L/C cho người thứ ba (có thể là một hay nhiều người) theo lệnh của người hưởng lợi đầu tiên L/C này chỉ được chuyển nhượng một lần Chi phí chuyển nhượng thường do người hưởng lần đầu tiên chịu L/C chuyển nhượng được sử dụng trong trường hợp người xuất khẩu không thể cung cấp một số hoặc tất cả hàng hoá theo yêu cầu của L/C và vì thế mà muốn chuyển nhượng một phần hoặc tất cả quyền lợi và nghĩa vụ của mình cho người hưởng thứ hai Mục đích của L/C này giúp người xuất khẩu hoạt động với tư cách là nhà đại lý cung cấp chủ yếu những hàng hoá trong L/C mà không cần sử dụng nhiều đến vốn riêng

Trang 25

Khi nhà nhập khẩu cho phép chuyển nhượng tức là đã chấp nhận cho người xuất khẩu chỉ định cho người khác làm thay việc giao hàng và xuất trình chứng từ Việc chuyển nhượng đó không có ý nghĩa là hợp đồng biên bản cũng được chuyển nhượng Trách nhiệm giao hàng vẫn thuộc về người xuất khẩu chính Do vậy ngân hàng thông báo có thể được yêu cầu không tiết lộ danh tích người hưởng lợi thứ hai và nhà nhập khẩu Vậy, có thể ngân hàng thông báo lại trở thành ngân hàng phát hành Theo đó người đại lý xuất khẩu được quyền trừ bớt các giá trị hối phiếu và hoá đơn để hưởng chênh lệch

1.2.7 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C):

Là thư tín dụng được mở dựa vào một L/C khác, nghĩa là sau khi nhận được L/C do người nhập khẩu mở, người xuất khẩu dùng L/C này để thế chấp

mở L/C khác cho người hưởng lợi khác với nội dung gần giống với L/C ban đầu L/C mở sau được gọi là L/C giáp lưng

Khi mở L/C giáp lưng, người hưởng lợi L/C xuất khẩu đóng vai trò của một người trung gian giữa người cung cấp thực sự và người mua cuối cùng L/C này cho phép người trung gian với khả năng tài chính hạn hẹp cũng có thể mua hàng của người cung cấp Người trung gian mở L/C với giá trị nhỏ hơn L/C ban đầu Khoản chênh lệch giữa hai L/C là khoản lãi của người trung gian

L/C gốc và L/C giáp lưng về cơ bản là giống nhau, nhưng có một vài điểm khác nhau:

- Số chứng từ của L/C giáp lưng phải nhiều hơn L/C gốc

- Giá trị L/C giáp lưng nhỏ hơn L/C gốc, khoản trung gian do người trung gian hưởng để trả chi phí mở L/C giáp lưng và phần hoa hồng của họ

- Thời hạn giao hàng của L/C giáp lưng phải sớm hơn L/C gốc

- Thời hạn cho phép để xuất trình chứng từ ít nhất là 7 ngày trong L/C giáp lưng ít hơn thời hạn cho phép trong L/C gốc

Trang 26

Ngiệp vụ thư tín dụng giáp lưng đòi hỏi phải có sự kết hợp khéo léo và chính xác giữa các điều kiện của L/C giáp lưng và L/C gốc, nhất là các vấn đề liên quan đến vận đơn và các chứng từ hàng hoá khác Tuy nhiên L/C giáp lưng vẫn được dùng trong phương thức mua bán trung gian, chuyển khẩu

1.2.8 Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C):

Là loại thư tín dụng trong đó ngân hàng mở L/C cam kết với người nhập khẩu sẽ thanh toán lại cho họ trong trường hợp người xuất khẩu không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng theo quy định của L/C, đồng thời sẽ bồi thường các khoản thiệt hại do mình gây ra cho người nhập khẩu L/C dự phòng do ngân hàng của người xuất khẩu mở cho người nhập khẩu hưởng, được dùng trong quan hệ buôn bán giữa một bên là người đạt hàng (người nhập khẩu) và một bên là người sản xuất (người xuất khẩu) Các khoản tín dụng mà người đặt hàng cấp cho người sản xuất như tiền đặt cọc, tiền ứng trước, chi phí mở L/C…chiếm 10-15% giá đơn đặt hàng Việc hoàn lại số tiền đó cho người đặt hàng do người sản xuất không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng có ý nghĩa quan trọng

1.2.9 Thư tín dụng đối ứng (Recirpocal L/C):

Là loại L/C không thể huỷ ngang trong đó quy định rằng nó chỉ có giá trị khi L/C khác đối ứng với nó được mở Người xuất khẩu sau khi nhận được L/C

do người nhập khẩu mở sẽ mở lại một L/C tương ứng, khi đó cả hai L/C mới có giá trị pháp lý

Tín dụng thư này không được ICC đưa vào danh sách các loại thư tín dụng vì những nét đặc thù của nó:

L/C này chỉ tồn tại trong quan hệ thương mại giữa 2 khách hàng có mối quan hệ đặc biệt: Công ty mẹ - công ty con; Nhà cung cấp nguyên liệu - nhà gia công ở hai nước khác nhau

Trang 27

Điều kiện thực hiện nghiệp vụ:

L/C 1 Nguyên liệu và sản phẩm

L/C 2

- Chỉ có hai khách hàng vừa là người mua, vừa là người bán

- L/C 1 (mua sản phẩm) trả ngay, L/C 2 (mua nguyên vật liệu) trả chậm Trị giá L/C 1 lớn hơn trị giá L/C 2, chênh lệch giữa hai L/C là tiền lãi gia công do người gia công (người bán sản phẩm) hưởng

- Việc thanh toán L/C 2 chỉ được thực hiện khi L/C 1 đã được thanh toán Ngân hàng phát hành L/C 2 cam kết chỉ trả tiền cho người hưởng lợi với điều kiện như vậy

1.2.10 Thư tín dụng thanh toán dần dần (Deferred payment L/C):

Là loại L/C không thể huỷ ngang, trong đó ngân hàng mở (và ngân hàng xác nhận nếu có) cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ giá trị L/C trong những thời hạn đã quy định rõ trong L/C đó

1.2.11 Thư tín dụng có điều khoản đỏ (Red clause L/C):

Là sự uỷ quyền của ngân hàng mở L/C cho ngân hàng chiết khấu ứng trước một khoản tiền cho người hưởng lợi L/C (người xuất khẩu) để người này

có vốn thực hiên mua hàng theo nội dung L/C đã mở Theo thư tín dụng người xuất khẩu có quyền đòi một số tiền ứng trước vào khoản thanh toán sau này mà người xuất khẩu được hưởng khi họ xuất trình bộ chứng từ thanh toán

Như vậy với “Red clause”, ngân hàng phát hành cam kết ứng trước một

số tiền nhất định trong tổng trị giá L/C khi nhận được các chứng từ thông thường sau đây:

- Hối phiếu của số tiền ứng trước

- Hoá đơn

Nhà cung cấp nguyên vật liệu/mua

sản phẩm

Nhà gia công (mua nguyên vật liệu/ bán sản phẩm)

Trang 28

- Cam kết trả nợ hoặc cam kết giao hàng (Promiory Note / Shipment Undertaking)

Và các chứng từ khác tuỳ theo thoả thuận

Trong nhiều trường hợp, người mở chỉ ứng trước tiền cho người hưởng

dưới sự bảo lãnh của ngân hàng người hưởng Như vậy người hưởng sẽ thương

lượng với ngân hàng của mình để phát hành trước khi nhận được tiền theo điều

khoản đỏ

Loại L/C này thường được dùng khi hai bên có quan hệ làm ăn lâu dài và

uy tín Phía nhập khẩu phải là công ty đủ lớn, đủ vốn Phía xuất khẩu có nguồn

hàng, nhưng thiếu vốn

Như vậy, thư tín dụng có nhiều loại, mỗi loại đều được sử dụng trong

những điều kiện cụ thể khác nhau và phát huy tác dụng theo những khía cạnh

khác nhau phục vụ cho công tác quốc tế được diễn ra thuận lợi

Mỗi loại L/C đều có những quy định cụ thể về các điều khoản, chứng từ,

hàng hoá, thời gian, và phương cách thanh toán tuỳ từng điều kiện và quy định

của mỗi nước mà sử dụng các loại phù hợp Song dù sử dụng loại nào cũng đòi

hỏi việc thực hiện đúng các điều khoản của L/C và đảm bảo sự tồn tại của L/C

Ngoài ra mỗi L/C cũng xác định rõ trách nhiêm của các bên tham gia, có các

yêu cầu riêng về thủ tục phí, tỷ lệ ký quỹ Tuy nhiên những quy định đó còn

phụ thuộc vào mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng cũng như khả năng

cung cấp dịch vụ L/C của ngân hàng, mực độ rủi ro của từng trường hợp và nhu

cầu về L/C đó của khách hàng

1.3 Tranh chấp về Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương

1.3.1 Khái niệm tranh chấp về Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại

thương

Ngày nay, dưới tác động của toàn cầu hoá, thương mại quốc tế phát triển

với quy mô và tốc độ lớn chưa từng có Các mối quan hệ trao đổi hàng hoá ngày

càng mở rộng, do vậy các hình thức giao dịch ngày càng đa dạng và phong phú

Trang 29

hơn Điều đó kéo theo các hợp đồng mua bán hàng hoá và dịch vụ ký kết giữa các nước và vùng lãnh thổ với nhau ngày càng nhiều hơn và các rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ hợp đồng cũng tăng lên đáng kể Một trong những rủi ro thường xảy ra là rủi ro liên quan đến việc thanh toán

Trong thanh toán quốc tế, phương thức thanh toán được sử dụng nhiều nhất là phương thức tín dụng chứng từ - Documentary Credit (thanh toán bằng L/C) vì nó an toàn, giảm thiểu tối đa các rủi ro, bất trắc Phương thức thanh toán này được nhiều doanh nghiệp và ngân hàng sử dụng bởi tính ưu việt của nó trong việc đảm bảo quyền lợi cho cả người mua lẫn người bán Mặc dù vậy, phương thức thanh toán bằng L/C vẫn thường xảy ra tranh chấp do kỹ thuật áp dụng tương đối phức tạp, các bên tham gia lại thiếu sự am hiểu tường tận về các thông lệ quốc tế cũng như một số quy định trong L/C

Tranh chấp Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương là những tranh chấp xảy ra trong quá trình thanh toán quốc tế giữa các bên tham gia với nhau, thường là các tranh chấp do phía người bán không đáp ứng yêu cầu về hàng hóa của người mua: giao hàng thiếu, sai quy cách, không bảo đảm phẩm chất, hàng bị hỏng Chủ thể của các tranh chấp này thường ở những nước khác nhau

1.3.2 Tranh chấp về Tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương tại Việt Nam

Việt Nam hiện là nước đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì việc các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn tất yếu Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay còn rất non trẻ, tuổi đời trên dưới chục năm, chính vì vậy việc nắm bắt các quy định quốc tế của các ngân hàng thương mại cũng như của các doang nghiệp xuất nhập khẩu tại Việt Nam còn hạn chế, do đó không thể tránh khỏi các tranh chấp xảy ra trong quá trình thanh toán quốc tế, đặc biệt là các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương

Trang 30

Tranh chấp về Tín dụng chứng từ tại Việt Nam là những tranh chấp xảy

ra trong quá trình thanh toán quốc tế giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cũng như các ngân hàng thương mại tại nước ngoài Việc giải quyết các tranh chấp này cũng như việc vận dụng luật để điều chỉnh các tranh chấp đó sẽ được đề cập đến trong phần tiếp theo của đề tài

1.4 Nguồn luật điều chỉnh tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương

Tín dụng chứng từ là giao dịch của Ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng nhằm thực hiện công đoạn cuối cùng của hàng loạt giao dịch thương mại quốc tế giữa hai bên mua và bán, đáp ứng yêu cầu của cả hai phía: Người bán giao hàng và được trả tiền, Người mua trả tiền và được nhận hàng Ngân hàng, người bảo đảm thanh toán, đã trở thành nhịp cầu nối đáng tin cậy của nền mậu dịch các nước Tầm quan trọng của giao dịch tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có hành lang pháp lý đề các ngân hàng thực hiện Đó chính là các văn bản luật quốc tế và Tập quán quốc tế được các ngân hàng thương mại trên thế giới chấp nhận và áp dụng Nhưng Tín dụng chứng từ còn là các giao dịch phát sinh trong nước từ mối quan hệ giữa ngân hàng-người mở, ngân hàng-người hưởng Nó luôn được chi phối bởi Luật pháp quốc gia Như vậy, giao dịch tín dụng chứng

từ được tiến hành trên hành lang pháp lý của Quốc tế và Quốc gia

1.4.1 Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế

Vào đầu những năm 1930, giới tài chính và ngân hàng quốc tế đã nhận thấy cần phải có các quy tắc giúp thống nhất việc phát hành và xử lý các tranh chấp của thư tín dụng Năm 1933, để đáp ứng nhu cầu này, tại Đại hội 7 của Phòng thương mại quốc tế tại Viên - Áo, Phòng Thương mại Quốc tế (International Chamber of Commerce - ICC) đã ban hành bản Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ (Uniform Customs and Practice for Documentary Credit) ấn bản số hiệu 82, thường được nhắc đến với cái tên UCP Các quy tắc này thể hiện một nguyên lý cơ bản của ICC: để kinh doanh tự điều

Trang 31

chỉnh (self-regulation by business) UCP năm 1933 được sửa đổi lần đầu tiên vào năm 1951, ấn bản số hiệu 151 Kể từ đó cứ khoảng 10 năm, ICC lại tiến hành sửa đổi UCP, cụ thể là vào các năm 1964 (UCP 222), 1974 (UCP 290),

1983 (UCP 400), 1993 (UCP 500, có hiệu lực từ 1/1/1994) và gần đây nhất là năm 2006 (UCP 600, có hiệu lực từ 01/7/2007)

Về phạm vi áp dụng, UCP 600 chỉ điều chỉnh mối quan hệ phát sinh từ thư tín dụng giữa các bên tham gia Các mối quan hệ hợp đồng khác có liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ đều không thuộc lĩnh vực điều chỉnh của UCP 600

Điều 1 UCP 600 cũng quy định rằng UCP 600 áp dụng cho tất cả các thư tín dụng, kể cả thư tín dụng dự phòng Tuy nhiên, năm 1998 ICC đã thông qua Các thực hành về Thư tín dụng dự phòng quốc tế, gọi tắt là ISP 98 (International Standby Practices 1998) ISP 98 được soạn thảo và ban hành bởi Viện Luật pháp và Thông lệ Ngân hàng quốc tế của Mỹ và có hiệu lực thi hành

từ 1/1/1999 Do có nhiều quy định phù hợp với thư tín dụng dự phòng, ICC khuyên các ngân hàng nên áp dụng ISP 98 cho thư tín dụng dự phòng hơn là UCP Bên cạnh đó, Uỷ ban Luật pháp thương mại quốc tế của Liên hợp quốc cũng soạn thảo Công ước Liên hợp quốc về Bảo lãnh độc lập và Thư tín dụng

dự phòng (United Nations Convention on Independent Guarantees and Standby Letters of Credit - CIGSLC) Công ước này đã được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng 12/1995 CIGSLC đã được 2 nước kí, 5 nước chấp thuận và 5 nước phê chuẩn, sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000 Nhưng do số lượng các nước phê chuẩn còn hạn chế, Công ước này ít có khả năng ảnh hưởng lớn tới các giao dịch thư tín dụng dự phòng trong một tương lai gần Tuy nhiên

sự hiện hữu của hai văn bản điều chỉnh chuyên biệt cho thư tín dụng dự phòng

đã hạn chế việc áp dụng UCP 600 cho loại thư tín dụng này

UCP 600 đã được hơn 175 nước áp dụng và mang tính chất toàn cầu Nhưng UCP 600 không phải là một văn bản luật Đây chỉ là tập hợp các tập quán và thực tiễn ngân hàng trong phương thức tín dụng chứng từ được quốc tế

Trang 32

thừa nhận, bao gồm những điều khoản mang tính chất hướng dẫn cho người sử dụng (statutory rules)

Tuy nhiên, đối với việc UCP 600 có phải là một tập hợp các tập quán quốc tế hay không cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau giữa các quốc gia Theo Điều 38 (1b) của Quy chế Toà án quốc tế, tập quán quốc tế được định nghĩa như sau: "Tập quán quốc tế là bằng chứng của các hoạt động chung được chấp nhận như các nguyên tắc của pháp luật" Như vậy để hình thành một tập quán quốc

tế, cần có hai yếu tố:

- Việc lặp đi lặp lại các hành vi tương tự bởi các quốc gia; và

- Ý thức về phía các quốc gia rằng họ hành động như vậy là phù hợp với pháp luật

Tuy vậy, khi xác định sự tồn tại của tập quán quốc tế trong một lĩnh vực

cụ thể, người ta thường gặp khó khăn trong việc xác định các nguyên tắc trong hàng loạt các tài liệu về hoạt động thực tiễn của các quốc gia, các quyết định của toà án hoặc trọng tài, các sách chỉ dẫn chính thức, nghị quyết của Liên hợp quốc Khó khăn đó không chỉ do sự thiếu hoàn chỉnh của các tài liệu và đôi khi nội dung các tài liệu có thể trái ngược nhau, mà còn do hoạt động của các quốc gia không được ghi lại đầy đủ Hơn thế nữa, theo các báo cáo tại các cuộc họp liên quốc gia, trong thư tín ngoại giao, rõ ràng có sự không nhất trí về sự tồn tại

và phạm vi của các nguyên tắc tập quán quốc tế Đây chính là trường hợp xảy ra đối với việc xác định xem UCP 600 có phải là một tập quán quốc tế không Rõ ràng, UCP 600 là một tập hợp các quy tắc chỉ dẫn, được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Mặc dù vậy, vẫn có sự không nhất trí giữa các quốc gia về vai trò tập quán quốc tế của UCP Ví dụ, trong khi ở Australia, UCP không được coi là một tập quán thương mại, thì ở Mỹ UCP lại được coi là một tập hợp của các tập quán quốc tế trong hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ Còn quan điểm của Việt Nam thì như thế nào? Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đã công nhận UCP 600 là một văn bản thể hiện các tập quán và thực tiễn ngân hàng trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ

Trang 33

Ở đây lại có một vấn đề nảy sinh: Ngay cả khi UCP được coi là tập quán quốc tế thì nó có thể được coi là nguồn của luật không? Hay nói một cách khác, UCP 600 có thể được áp dụng khi không có sự thoả thuận giữa các bên hay không?

Điều 1 UCP 600 đã trả lời cho câu hỏi này:

"Các quy tắc Thực hành Thống nhất về Tín dụng chứng từ, bản sửa đổi

2007, ICC xuất bản số 600 (“UCP”) là các quy tắc áp dụng cho bất kỳ tín dụng chứng từ (“tín dụng”) nào (bao gồm cả thư tín dụng dự phòng trong chừng mực

mà các quy tắc này có thể áp dụng) nếu nội dung của tín dụng chỉ ra một cách

rõ ràng nó phụ thuộc vào các quy tắc này Các quy tắc này ràng buộc tất cả các bên, trừ khi tín dụng loại trừ hoặc sửa đổi một cách rõ ràng"

Như vậy, khác với luật quốc gia hay công ước quốc tế quốc tế, UCP 600 không được tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng

từ trừ khi các bên tham gia thoả thuận áp dụng UCP 600 bằng cách dẫn chiếu đến nó trong thư tín dụng Các bên tham gia có quyền lựa chọn có hay không dùng UCP 600 để điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ Nhưng một khi các bên đã đồng ý áp dụng UCP 600 thì các điều khoản của UCP 600 sẽ ràng buộc nghiã vụ và trách nhiệm của tất cả các bên tham gia

Một điểm cần chú ý là UCP 600 ra đời không tuyên bố hết hiệu lực các bản UCP trước nó Các bên tham gia giao dịch thư tín dụng vẫn có quyền tự do lựa chọn áp dụng một trong những bản UCP trước đó chứ không phải là UCP

600 Tuy nhiên do là bản sửa đổi gần đây nhất, phù hợp với điều kiện mới nên UCP 600 được các bên tham gia chọn dùng hơn cả Vì vậy, khi dẫn chiếu đến

nó các ngân hàng phải dẫn chiếu chi tiết năm sửa đổi và số ấn phẩm của văn bản này, bằng cách ghi vào cuối thư tín dụng câu sau:

"Thư tín dụng này chịu sự điều chỉnh của Các Quy tắc và Thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ, bản sửa đổi năm 2006, ấn phẩm số 600 của

Trang 34

Phòng Thương mại Quốc tế" (This credit is subject to UCP DC 2006 Revision, ICC Publication No 600)

1.4.2 Luật Quốc gia:

Hiện nay các quốc gia trên thế giới đều có những Luật hoặc văn bản dưới Luật quy định về giao dịch Tín dụng chứng từ trên cơ sở thông lệ quốc tế có tính đến đặc thù của sự phát triển kinh tế, tập quán của nước họ Chẳng hạn như Nga có Bộ luật dân sự có hiệu lực từ 1/3/1996, quy định một số vấn đề về giao dịch tín dụng chứng từ có liên quan đến UCP Mỹ và Côlômbia chấp nhận UCP

là một bộ phận của hệ thống pháp luật nước họ Hy Lạp đã cho ra đời bộ Luật Thương mại (Commercial Code) vào năm 1995 thay cho luật cũ có từ năm 1935 bao gồm những điều khoản quy chế hoá giao dịch tín dụng chứng từ tại Hy Lạp Nhưng cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một văn bản nào quy định, hướng dẫn giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu để các ngân hàng thương mại

áp dụng vào thực tế Các quy định của Việt Nam về Tín dụng chứng từ thường được quy định trong các văn bản khác nhau, mỗi văn bản có một số điều quy định về vấn đề này, chẳng hạn như Luật Dân sự 2005, Luật Thương mại 2005, Pháp lệnh Ngoại hối 2005…

Các văn bản quy định về Tín dụng chứng từ rất cần thiết không chỉ đối với ngân hàng mà còn là cơ sở để Tòa án, trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp giữa các đối tác trong giao dịch Tín dụng chứng từ Các cơ quan pháp luật không thể chỉ dựa hoàn toàn vào thông lệ quốc tế để xét xử những tranh chấp phát sinh tại Việt Nam, mà điển hình là các bản UCP Hơn nữa, các bản UCP còn có những hạn chế nhất định và không thể bao quát hết tất cả các giao dịch vô cùng phong phú của thực tiễn, nó không thể thay thế Luật Quốc gia

Cho đến nay, các Ngân hàng tại Việt Nam đã vận dụng tốt các bản UCP

và các thông lệ quốc tế khác vào giao dịch thanh toán xuất nhập khẩu, nhưng kết quả thực tế không thể như họ mong muốn Điều này còn phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của Việt Nam và các văn bản dưới luật của Ngân hàng Nhà

Trang 35

nước trong lĩnh vực đối ngoại, cụ thể là trong giao dịch thanh toán quốc tế Hy vọng trong thời gian tới, vấn đề pháp lý trong giao dịch Tín dụng chứng từ sẽ được các cơ quan chức năng hoàn chỉnh, nhằm tạo lập vững chắc hành lang pháp lý trong nước cho ngân hàng thực hiện chức năng đối ngoại phù hợp với thông lệ và tập quán quốc tế

Khi áp dụng các bản UCP, cần phải lưu ý đến trường hợp xảy ra xung đột giữa luật quốc gia và UCP Thanh toán quốc tế bằng phương thức tín dụng chứng từ gắn bó mật thiết với các nghiệp vụ kinh tế khác như mua bán hàng hoá, vận tải, bảo hiểm Do đó, việc phải vận dụng đến nhiều luật lệ, tập quán đặc thù của các nghiệp vụ này ở hai hay nhiều nước khác nhau khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ là không thể tránh khỏi Điều này dễ dẫn đến sự xung đột giữa các nguồn luật Khi trường hợp như vậy xảy ra thì việc lựa chọn luật để tuân theo được thực hiện theo các nguyên tắc về xung đột pháp luật Các nguyên tắc xung đột pháp luật là tổng thể các quy định của pháp luật tồn tại trong tất cả các hệ thống tư pháp, quy định các nguyên tắc có tính chất hướng dẫn đối với việc lựa chọn pháp luật điều chỉnh

Đó là các nguyên tắc của hệ thống pháp luật quốc gia, và chúng có tính chất khác nhau tuỳ theo từng nước

Vì vậy, nếu có mâu thuẫn giữa các bản UCP và luật quốc gia thì việc lựa chọn UCP hay luật quốc gia để điều chỉnh quan hệ của các bên tham gia là tuỳ thuộc vào quy định của luật pháp từng nước Ví dụ như ở Mỹ, Điều 5 Bộ luật Thương mại thống nhất, sửa đổi năm 1995 (Uniform Commercial Code 1995 Revision- UCC) điều chỉnh thư tín dụng ở hầu hết các bang của nước này Nhưng luật pháp nước Mỹ cũng quy định rằng khi thư tín dụng áp dẫn chiếu tới UCP thì UCP sẽ thay thế Điều 5 UCC để điều chỉnh thư tín dụng đó Trong trường hợp có mâu thuẫn giữa hai quy định thì UCP sẽ chiếm ưu thế và được áp dụng

Ngược lại, ở một số nước khác, khi xung đột pháp luật xảy ra, Luật quốc gia sẽ chiếm ưu thế và phải được tuân thủ Điển hình là ở Trung Quốc, pháp

Trang 36

luật cho phép toà án địa phương có thể ra lệnh tạm ngưng thanh toán L/C khi người mở thư tín dụng có khiếu nại, nhằm chống gian lận trong giao dịch tín dụng chứng từ Quy định này trái ngược hẳn với nguyên tắc độc lập của thư tín dụng mà UCP đề ra

Hiện nay, Việt Nam cũng như nhiều nước khác chưa có luật riêng trực tiếp điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ Đối với các trường hợp không có luật quốc gia điều chỉnh như vậy, pháp luật Việt Nam cho phép các bên tham gia được áp dụng tập quán quốc tế, thậm chí luật nước ngoài

Quy định này được thể hiện trước hết ở Bộ luật Dân sự nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được quốc hội thông qua ngày 14 tháng 06 năm

2005, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 Khoản 4 Điều 759 của Bộ luật Dân sự quy định: "Trong trường hợp quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài không được Bộ luật này, các văn bản pháp luật khác của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc hợp đồng dân sự giữa các bên điều chỉnh, thì áp dụng tập quán quốc tế, nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Việc cho phép áp dụng tập quán quốc tế lại được khẳng định một lần nữa trong Luật thương mại được quốc hội thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 và

có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2006 Điều 5 Luật thương mại quy định như sau:

"Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế:

1 Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

Trang 37

2 Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Luật các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997 và

có hiệu lực từ ngày 1/10/1998 cũng có điều khoản cho phép áp dụng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài Điều 3 của luật này ghi rõ:

"1 Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của Luật này, thì

áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó

2 Các bên tham gia hoạt động ngân hàng có thể thoả thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam."

Pháp lệnh Ngoại hối 2005, một lĩnh vực liên quan trực tiếp đến hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, cũng đề cập đến vấn đề này trong khoản 3 Điều 5:

"Trường hợp hoạt động ngoại hối mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định thì các bên có thể thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế nếu việc áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế đó không trái với những nguyên tắc cơ bản của Việt Nam."

Các điều luật trên cũng thể hiện một điểm quan trọng là chỉ áp dụng tập quán quốc tế với điều kiện nó không trái với pháp luật Việt Nam hoặc không bị pháp luật Việt Nam cấm Điều này có nghĩa là nếu xảy ra xung đột pháp luật khi áp dụng tập quán quốc tế thì luật Việt Nam sẽ chiếm ưu thế và được áp dụng

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên thì các bên tham gia hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ được phép thoả thuận áp dụng UCP với tư cách là tập quán thương mại quốc tế Tuy nhiên, nếu luật Việt Nam

Trang 38

có sự khác biệt, thậm chí đối lập với UCP thì luật Việt Nam sẽ chiếm ưu thế và phải được tuân thủ

Trên thực tế, hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam và các đơn

vị kinh doanh ngoại thương đều thống nhất sử dụng UCP như một văn bản pháp

lý điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ Mặt khác, hiện nay trong

hệ thống ngân hàng thương mại thì Ngân hàng Ngoại thương là một trong những ngân hàng đầu tiên áp dụng UCP, do đó các thư tín dụng phát hành bởi Ngân hàng Ngoại thương nói riêng, các ngân hàng thương mại khác nói chung đều dẫn chiếu đến một trong các bản UCP làm nguồn điều chỉnh

Khi đã lựa chọn áp dụng UCP, các bên tham gia cần phải chú ý đến mối quan hệ khăng khít giữa UCP với các quy định của luật quốc gia cùng tham gia điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ tại Việt Nam Như đã đề cập đến ở trên, phương thức tín dụng chứng từ có liên quan đến ba quan hệ hợp đồng Do mỗi quan hệ hợp đồng có chủ thể và khách thể khác nhau nên luật điều chỉnh các quan hệ đó cũng khác nhau

Đối với mối quan hệ thứ nhất - hợp đồng mua bán ngoại thương giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu - chủ thể là những cá nhân, pháp nhân mang quốc tịch khác nhau Mối quan hệ kinh tế đối ngoại này được điều chỉnh bởi các luật sau:

Luật Việt Nam:

- Bộ luật dân sự 2005

- Luật thương mại năm 2005

- Pháp lệnh Ngoại hối 2005

Luật quốc tế:

- Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Đối với mối quan hệ thứ hai - hợp đồng kinh tế dịch vụ giữa người xin

mở thư tín dụng và ngân hàng phát hành, chủ thể cùng mang một quốc tịch,

Trang 39

khách thể cũng mang tính chất đối nội Do đó mối quan hệ này hoàn toàn chịu

sự điều chỉnh của luật quốc gia Ở Việt Nam, các luật đó bao gồm:

Như vậy, UCP luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn luật khác khi tham gia điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ tại Việt Nam Vì vậy, khi giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương, cần phải chú ý đến các điều khoản trong hợp đồng để áp dụng đúng nguồn luật

để điều chỉnh các tranh chấp đó Trong chương 2 sẽ đề cập đến việc giải quyết các tranh chấp về tín dụng chứng từ trong thanh toán ngoại thương đã xảy ra

trên thực tế tại Việt Nam

Trang 40

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TRONG THANH TOÁN NGOẠI THƯƠNG TẠI VIỆT

Tuy nhiên, cùng với sự sử dụng phổ biến đó là sự gia tăng các vụ tranh chấp liên quan đến phương thức tín dụng chứng từ Các vụ tranh chấp đó phát sinh từ nhiều nguyên nhân và mang tính chất đa dạng khác nhau Mặc dù vậy,

có thể kể ra những lĩnh vực thường xảy ra tranh chấp như sau:

- Chứng từ xuất trình:

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đại học Ngoại thương (2005), Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương
Tác giả: Đại học Ngoại thương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
4. GS. TS Võ Thanh Thu (2007), Hướng dẫn đọc để hiểu UCP-DC600, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đọc để hiểu UCP-DC600
Tác giả: GS. TS Võ Thanh Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê
Năm: 2007
5. Hội Luật gia Việt Nam (2005), Tìm hiểu những nội dung cơ bản của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu những nội dung cơ bản của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
Tác giả: Hội Luật gia Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2005
7. Nguyễn Bá Ngọc (2005), WTO-Thuận lựoi và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam, Nxb Lao động-Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO-Thuận lựoi và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Bá Ngọc
Nhà XB: Nxb Lao động-Xã hội
Năm: 2005
8. Nguyễn Trọng Thuỳ (2006), Toàn tập UCP-Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập UCP-Quy tắc và thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ
Tác giả: Nguyễn Trọng Thuỳ
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2006
9. Nguyễn Thị Quy (2006), Cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang giải quyết tranh chấp trong thanh toán quốc tế bằng L/C
Tác giả: Nguyễn Thị Quy
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2006
10. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Quốc tế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Quốc tế
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2006
11. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
12. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
14. Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại (2004), Các điều ước quốc tế về thương mại, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các điều ước quốc tế về thương mại
Tác giả: Trung tâm Tư vấn và Đào tạo Kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Trần Thị Thuý Mỹ (2003), Các tính huống cần nghiên cứu trong thanh toán quốc tế, Ngân hàng TMCP á Châu, TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tính huống cần nghiên cứu trong thanh toán quốc tế
Tác giả: Trần Thị Thuý Mỹ
Năm: 2003
1. Báo cáo về tình hình thanh toán xuất nhập khẩu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2004 Khác
2. Báo cáo về tình hình thanh toán xuất nhập khẩu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2004 Khác
6. Một số websites có liên quan về lĩnh vực tài chính, ngân hàng Khác
13. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội (2005), Giáo trình Giao dịch và Thanh toán thương mại quốc tế Khác
16. Tạp chí Ngân hàng năm 2003, 2004, 2005, 2006 Khác
17. Tạp chí Thị trường Tài chính - Tiền tệ năm 2003, 2004, 2005, 2006. II. Văn bản pháp luật Việt Nam Khác
18. Bộ luật Dân sự của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam năm 2005 Khác
19. Bộ luật Tố tụng Dân sự của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 Khác
21. Luật các Tổ chức Tín dụng Việt Nam năm 2005 22. Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005.III. Luật Quốc tế Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w