Vai trò điều chỉnh hoạt động Hải quan của pháp luật Hải quan Việt Nam hướng tới tự do hóa thương mại và thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO 28 1.5 Kinh nghiệm một số nước đã là thành viên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1.1 Tự do hóa thương mại vừa là mục tiêu đầu tiên và chính yếu,
vừa là một trong những nguyên tắc cơ bản của khung pháp
1.2 Thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO - nhìn từ góc độ
hải quan
12
1.2.3 Hải quan Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại trong
WTO bằng cách giải quyết mối quan hệ giữa thuận lợi hóa
và bảo đảm an ninh thương mại
16
1.3 Cơ sở thực tiễn và pháp lý để hải quan Việt Nam thực hiện
bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại
trong WTO
18
1.4 Vai trò điều chỉnh hoạt động Hải quan của pháp luật Hải
quan Việt Nam hướng tới tự do hóa thương mại và thực hiện
nghĩa vụ thành viên WTO
28
1.5 Kinh nghiệm một số nước đã là thành viên của WTO trong
việc vận dụng các định chế liên quan đến hải quan và tự do
hóa thương mại
28
1.5.1 Các quốc gia phát triển và Liên minh Hải quan 29
Trang 31.5.2 Các quốc gia đang phát triển và các quốc gia trong khu vực 37
Chương 2: PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM THỰC
HIỆN CÁC YÊU CẦU CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI CÁC ĐỊNH CHẾ LIÊN QUAN ĐẾN HẢI QUAN CỦA WTO
45
2.1 Các quy định của WTO liên quan đến hải quan nhằm bảo
đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại
45
2.1.2 Thể hiện trong nội dung của hệ thống các hiệp định WTO 48 2.2 Thực trạng pháp luật hải quan Việt Nam về bảo đảm an ninh và
tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại sau khi gia nhập WTO
66
2.2.1 Kết quả đem lại từ cải cách pháp luật sau khi gia nhập WTO 66 2.2.2 Những sửa đổi cụ thể của pháp luật Hải quan Việt Nam, các
pháp luật khác có liên quan về bảo đảm an ninh, tạo thuận lợi
cho tự do hóa thương mại trong WTO
67
2.3 Đánh giá tính tương thích của pháp luật hải quan Việt Nam
trong tương quan so sánh với các định chế pháp lý của WTO
97
2.3.1 Pháp luật Hải quan Việt Nam trong tiến trình thực thi một số
Hiệp định điển hình về Tự do hóa thương mại hàng hóa
100
2.3.2 Pháp luật Hải quan Việt Nam trong thực thi bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ
105
Chương 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM NHẰM THỰC HIỆN TỐT YÊU CẦU CỦA TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI VÀ NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO
109
3.1 Thực trạng thực thi pháp luật hải quan Việt Nam về bảo đảm
an ninh và tạo thuận lợi cho tự do hóa thương mại trong WTO
109
Trang 43.1.1 Các quy định pháp luật về tạo thuận lợi trong quy trình thủ tục
hải quan bị doanh nghiệp lợi dụng để gian lận thương mại
109
3.1.2 Chính sách ưu đãi thuế bị doanh nghiệp lợi dụng để gian lận,
trốn thuế
112
3.1.3 Quy định về kiểm soát hải quan tạo thuận lợi cho xuất nhập
cảnh và một số loại hình xuất nhập khẩu đặc thù bị lợi dụng
114
3.1.4 Tính chất lưỡng tính trong phân loại, áp mã HS của một số
mặt hàng bị doanh nghiệp lợi dụng để khai báo không trung
thực về trị giá hải quan
117
3.2 Nguyên tắc chỉ đạo chung, chiến lược phát triển ngành 121
3.2.2 Chương trình hành động của Chính phủ, Bộ Tài chính 122 3.2.3 Kế hoạch hành động của ngành Hải quan Việt Nam 122
3.3.1 Cải cách pháp luật điều chỉnh một số vấn đề liên quan tới
quy trình, thủ tục hải quan
126
3.3.2 Cải cách pháp luật về trị giá tính thuế, thuế và các biện pháp
phi thuế quan
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.3 Tình hình thực hiện cắt giảm thuế cho 2 năm 2007 và 2008 85 2.4 Tỷ lệ vi phạm bản quyền ở Việt Nam và Trung Quốc 91 3.1 Vốn đầu tư cho các cấu phần liên quan tới thuận lợi hóa
và bảo đảm an ninh thương mại
123
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu
sơ đồ
1.1 Trong khuôn khổ WT0 - Hệ thống điều ước quốc tế trực
tiếp liên quan tới lĩnh vực hải quan
25
2.1 Các vấn đề liên quan tới thuế quan và trị giá tính thuế 83 2.2 Các văn bản điều chỉnh thuế quan và trị giá tính thuế 83
Trang 6DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
2.1 Tỷ lệ thuế suất so sánh giữa mức cam kết cắt giảm trong
WTO với mức thuế suất MFN
84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hóa
và phương tiện vận tải của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước được xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh vào/ ra/ trong lãnh thổ hải quan Đây là hoạt động mang nhiều nét đặc thù diễn ra ở các tuyến giao thông biên giới bao gồm cả đường thủy, đường bộ, đường sắt, đường hàng không hoặc các khu vực có chế độ quản lý riêng đặt tại nội địa nhưng có ranh giới tách biệt với khu dân cư như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các khu kinh tế - thương mại, v.v Do đó, đây là lĩnh vực luôn luôn chứa đựng yếu tố nước ngoài và phản ánh khối lượng cũng như quy mô phát triển thương mại quốc tế của mỗi quốc gia
Pháp luật điều chỉnh hoạt động hải quan ("pháp luật về hải quan"), vì thế là một trong những hành lang pháp lý quan trọng hàng đầu quyết định tới việc thúc đẩy hoặc kìm hãm mức độ Tự do hóa thương mại và đầu tư của mỗi một quốc gia Cụ thể, pháp luật về hải quan là nhân tố quyết định trực tiếp tới mức độ hiệu quả trong kiểm tra, kiểm soát, giám sát để bảo đảm an ninh và tăng cường thuận lợi trong các hoạt động giao thương quốc tế của mỗi một quốc gia Có thể thấy phạm vi tác động của nhân tố này biểu hiện trên các phương diện như: thủ tục hải quan (hồ sơ giấy tờ, quy trình kiểm tra, thông quan), chính sách mặt hàng, chính sách quản lý đối với từng loại hình xuất - nhập khẩu,… Thông qua pháp luật hải quan, hàng hóa nhập khẩu vào hoặc xuất khẩu từ lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm về các phẩm chất, tiêu chuẩn như: an toàn
vệ sinh, chất lượng tốt, không gây hại tới môi trường - sức khỏe con người…
Cũng xuất phát từ tính chất thường trực là có yếu tố nước ngoài trong các quan hệ pháp luật về hải quan nên pháp luật điều chỉnh lĩnh vực này càng cần phải tiệm cận tốt yêu cầu về hội nhập và hài hòa hóa vào hệ thống thương
Trang 8mại thế giới, trong đó việc tham gia và chấp nhận các luật lệ của thể chế hợp tác thương mại lớn nhất hành tinh là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phải được nghiêm túc đặt lên bàn cân để tính toán các cơ hội và thách thức Sớm nhận thức được đòi hỏi khách quan này, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO ngay từ 01/1995 và được WTO chính thức nhận đơn để tiến hành đàm phán cũng vào thời gian này Sau một loạt các nỗ lực để đáp ứng yêu cầu
mà các đối tác ở các trình độ phát triển kinh tế khác nhau đặt ra trong khoảng hơn 200 phiên đàm phán đa phương và song phương kéo dài khoảng 11 năm (01/1995 - 11/2006), thực sự nỗ lực và tăng tốc tối đa trong 03 năm về cuối của tiến trình đàm phán (2004 - 2006), cuối cùng Việt Nam đã chính thức được hưởng hiệu lực của Quy chế thành viên thứ 150 của WTO từ ngày 11/01/2007 Một trong những mục tiêu hoạt động chủ yếu của WTO và cũng
là một trong những mục tiêu hội nhập của Việt Nam trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, đó là bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho tự
do hóa thương mại Do vậy có thể thấy, yêu cầu của mục tiêu này về mặt
pháp lý đã và đang được đặt ra trực tiếp đối với pháp luật Hải quan
Đó là lý do tác giả xin chọn đề tài: "Pháp luật Hải quan Việt Nam
trước yêu cầu thực hiện "tự do hóa thương mại" và nghĩa vụ thành viên WTO" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Luật quốc tế, theo đó các yêu cầu
cụ thể để pháp luật Hải quan có thể thực hiện "tự do hóa thương mại" trong WTO chính là: bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi Luật Hải quan sửa đổi, bổ sung năm 2005 được ban hành,
đã có một số ít công trình nghiên cứu khoa học ở cấp độ tiến sĩ, thạc sĩ nghiên cứu về đề tài này với các giác độ liên quan tới kinh tế, quan hệ kinh tế quốc
tế, có thể kể tới như:
- Đặt trong tiến trình thực thi Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa
Kỳ (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2003 của Nguyễn Đức Lâm), trong thời kỳ hội nhập (Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2002 của Nguyễn Ngọc Sơn), v.v
Trang 9- Nhiều bài viết đăng tải trên các Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, trên website của ngành hải quan, website Ủy ban Hợp tác Kinh tế quốc tế, v.v
Trước tình hình kết quả của các công trình nghiên cứu toàn diện, hệ thống, mang tính học thuật đã trở nên lỗi thời, và các nghiên cứu riêng lẻ bị tản mạn, chưa được hệ thống hóa một cách toàn diện, thì việc tác giả tiếp tục nghiên cứu về pháp luật hải quan với góc nhìn cập nhật các diễn biến mới của
hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam và thế giới, trước yêu cầu tất cả hướng tới tạo thuận lợi tối đa cho tự do hóa thương mại, thực hiện tốt các nghĩa vụ thành viên của WTO, nhưng không xao lãng kiểm soát an ninh - thực sự là một việc làm cần thiết và cấp thiết
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện yêu cầu "tự do hóa thương mại" gắn với các cam kết về Hải quan trong khuôn khổ WTO, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên WTO
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
(1) Nghiên cứu, làm sáng tỏ các yêu cầu mà pháp luật Hải quan Việt Nam cần thực hiện cho "tự do hóa thương mại" gắn với các cam kết về Hải quan trong WTO;
(2) Tìm hiểu kinh nghiệm điển hình, cách thức vận dụng các quy định trong WTO, có thể học hỏi, áp dụng vào điều kiện Việt Nam của một số quốc gia;
(3) Nghiên cứu, đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Hải quan Việt Nam với các yêu cầu cần thực hiện cho tự do hóa thương mại trong các cam kết của Việt Nam với WTO về Hải quan;
Trang 10(4) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của "tự do hóa thương mại" và nghĩa vụ thành viên WTO
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về "tự do hóa thương mại", các yêu cầu thực hiện "tự do hóa thương mại" đặt ra đối với hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan; các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam liên quan đến Hải quan - tự do hóa thương mại, chủ yếu tập trung vào các hiệp định bổ sung mới sau thời kỳ thành lập WTO, đồng thời là các hiệp định có mối liên hệ mật thiết với lĩnh vực Hải quan; và các quy định của pháp luật Hải quan Việt Nam điều chỉnh trực tiếp về thương mại hàng hóa, về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu đề tài này dưới góc độ của Luật quốc tế
4 Cơ sở khoa học và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu
- Các hiệp định của WTO về tự do hóa thương mại được vận dụng vào các quốc gia khác nhau với nội dung khác nhau nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ khung pháp lý của tổ chức này;
Trang 11- Khung tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành
Cơ sở thực tiễn: Các báo cáo tổng kết, số liệu của ngành Hải quan,
các chương trình, kế hoạch hợp tác khu vực và quốc tế của Hải quan Việt Nam trong ngắn hạn và dài hạn
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phân tích, trích lọc, rà soát thống kê, tổng hợp, so sánh, trên cơ sở thấm nhuần, thấu suốt quan điểm chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, quan điểm phát triển ngành của Nhà nước nói chung và lãnh đạo ngành nói riêng, kế thừa những tinh hoa trong truyền thống lập pháp của Việt Nam trong các giai đoạn trở về trước, học tập có chọn lọc những ưu việt của những nước phát triển, có trình độ lập pháp cao
5 Những đóng góp mới của đề tài
Có thể xem đây là một số đóng góp mới của đề tài:
- Rà soát lại toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động Hải quan của Việt Nam kể từ sau khi gia nhập WTO và cung cấp các đánh giá tổng thể về những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật về Hải quan
- Đánh giá chuyên sâu về tính tương thích giữa hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO hướng tới tự do hóa thương mại Cụ thể, pháp luật Hải quan Việt Nam đã làm được những gì trước mục tiêu và yêu cầu tất yếu là tự do hóa thương mại khi tham gia WTO
- Trên cơ sở đó, đưa ra các khuyến nghị, giải pháp đề xuất đối với các nhà lập pháp, các nhà xây dựng chính sách về những thay đổi thích hợp trong hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động hải quan để Việt Nam có thể thực hiện được mục tiêu và yêu cầu tất yếu nêu trên
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu và những giải pháp đề xuất trong luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật Hải quan để Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn trong hội nhập song phương và đa phương, nhấn mạnh tới việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO Bên cạnh đó, luận văn cung cấp những thông tin và kiến thức về thực trạng của pháp luật hải quan Việt Nam, được nhìn nhận đồng thời và công bằng từ cả hai góc độ ưu điểm
và nhược điểm cũng như các yếu tố chi phối đến quá trình lập pháp hải quan
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung
Chương 2: Pháp luật Hải quan Việt Nam thực hiện các yêu cầu của tự
do hóa thương mại trong trong tương quan so sánh với các định chế liên quan đến Hải quan của WTO
Chương 3: Giải pháp đề xuất hoàn thiện pháp luật Hải quan Việt
Nam nhằm thực hiện tốt yêu cầu của tự do hóa thương mại và nghĩa vụ thành viên WTO
Trang 13Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI VỪA LÀ MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN VÀ CHÍNH YẾU, VỪA LÀ MỘT TRONG NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA KHUNG PHÁP LUẬT WTO
Tự do hóa thương mại là nội dung chính trị xuyên suốt toàn bộ định chế và thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương WTO hiện đang chiếm tới trên 98% giao dịch thương mại quốc tế từ mục tiêu cho tới các nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất, cũng như các quy định cụ thể trong các hiệp định, tuyên bố, quyết định được ban hành bởi tổ chức này
WTO đặt ra mục tiêu hoạt động là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế thông qua việc loại bỏ các rào cản trong thương mại, với một trong những nguyên tắc quan trọng là "mở cửa thị trường" thể hiện nội dung chính trị "tự do hóa thương mại" hướng tới viễn cảnh tạo lập và phát triển một hệ thống thương mại toàn cầu được hoàn toàn mở cửa
"Thương mại quốc tế" (International Trade) được định nghĩa là việc trao đổi qua biên giới quốc gia (hoặc lãnh thổ hải quan) hàng hóa, dịch vụ, yếu tố sản xuất (lao động và vốn) Theo WTO, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là một nội dung của thương mại quốc tế [61, tr 31]
1.1.1 Mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại của hệ thống GATT/WTO
Tự do hóa thương mại là một phần nội dung của một trong bốn cấu phần của tầm nhìn trật tự thế giới mới được hình thành vào cuối Chiến tranh thế giới lần thứ hai gắn với việc thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO), thể chế quốc tế thực hiện ý tưởng công bằng kinh tế quốc tế, với tư cách
là tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc Tuy nhiên, sau đó, ITO không được thành lập do Mỹ không tán thành ý tưởng xây dựng "công bằng kinh tế
Trang 14quốc tế" nên đã không phê chuẩn dự thảo Hiến chương La Havana thành lập
tổ chức này GATT (General Agreement on Tarriffs and Trade, Hiệp định chung
về thuế quan và thương mại) được 23 nước ký kết ngày 30/10/1947 (có hiệu lực ngày 01/01/1948) để thúc đẩy tự do thương mại thông qua tự do hóa thương mại quốc tế, đã kế thừa chính sách thương mại của dự thảo Hiến chương La Havana năm 1947, chủ yếu bao gồm các hiệp định về giảm thuế quan (thuế nhập khẩu) và những hạn chế khác đối với tự do thương mại
Tuy nhiên trên thực tế, chỉ có những nước giàu đã công nghiệp hóa tham gia GATT Với số lượng các quốc gia chấp nhận hạn chế như vậy, GATT đã không thúc đẩy được sự tiến bộ của các chính sách công cũng như không đạt được các mục tiêu lớn hơn của cộng đồng quốc tế Sự tồn tại của GATT không đáp ứng được yêu cầu của thực tế, không thỏa mãn được quyền lợi của các nước mới gia nhập Liên hợp quốc sau khi giành được độc lập, đã đặt ra một vấn đề cần phải sửa đổi các quy định của hiệp định này để hoàn thiện việc tái thiết kế nền kinh tế thế giới kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ II
Trải qua 8 vòng đàm phán là Geneva 1947, Annecy 1949, Torquay 1951, Geneva 1956, Dillon 1960 - 1961, Kennedy 1964 - 1967, Tokyo 1973 - 1979
và Urugoay 1986 - 1994, sau 47 năm tồn tại, các thiết chế hiện có của GATT
đã biểu lộ tình trạng không đủ sức giải quyết các tranh chấp trong các quan hệ kinh tế quốc tế phát sinh đối với nhiều vấn đề mới vượt xa khuôn khổ của GATT Cuối cùng, tại vòng đàm phán thương mại đa phương thứ 8 - vòng Urugoay, các bên tham gia thương lượng đã đạt được một loạt các thỏa thuận quan trọng liên quan tới các lĩnh vực khác nhau (trong thương mại như nông nghiệp, dệt may; liên quan tới thương mại như: sở hữu trí tuệ, đầu tư nước ngoài và khu vực dịch vụ), đi tới ký kết Hiệp ước Marrakesh tại Marrakesh (Ma-rốc) - Hiến chương của WTO vào ngày 15/4/1994 với sự tham gia kết ước của 124 Chính phủ và Cộng đồng Châu Âu, chính thức thành lập WTO, thiết chế mới tiếp tục và thay thế GATT từ ngày 01/01/1995
Trang 15Mục tiêu chính của luật WTO vẫn là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế Các công cụ được lựa chọn thuộc hệ thống GATT/WTO để đạt được mục tiêu tự do hóa thương mại gồm: (1) Nguyên tắc MFN (Most favoured nation, quốc gia được ưu tiên nhất); (2) đối xử cấp quốc gia (NT, National Treatment); (3) Nhân nhượng lẫn nhau; và (4) Không phân biệt đối xử (Điều III, Hiệp ước Marrakesh thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới, 1994; Điều I, II và III của GATT 1947)
1.1.2 Nguyên tắc và nội dung tự do hóa thương mại
Nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán"
Cùng với các nguyên tắc khác như: Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; khuyến khích cạnh tranh công bằng; khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển, thì thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán là một trong năm nguyên tắc cơ bản được ghi nhận xuyên suốt trong hệ thống các hiệp định của WTO Tuy tồn tại dưới dạng nhiều tên gọi khác nhau, phạm vi nội hàm qua mỗi thời kỳ lịch sử có những nội dung khác nhau, nhưng nguyên tắc này vẫn hướng tới một mục tiêu thống nhất là tự do hóa nền thương mại quốc tế hiện đại
* Sơ lược lịch sử ra đời và phát triển của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán": [61, tr 64]
Đây là nguyên tắc mà GATT và WTO theo đuổi suốt quá trình hoạt động của mình
Vào thời kỳ của Hiệp định GATT 1947, tiền thân của WTO: mặc dù
chỉ là hiệp định tạm thời mang tính thỏa thuận đa phương được lựa chọn,
nhưng GATT đã đóng vai trò chủ chốt trong các quan hệ kinh tế quốc tế trong suốt 47 năm tồn tại Tuy nhiên, lúc bấy giờ "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" không được coi là nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT Nguyên tắc hoạt động chủ yếu của GATT lúc bấy giờ là "đồng thuận"
Trang 16vì GATT không phải là tổ chức, chỉ là hiệp định, trong đó đòi hỏi các thành viên tham gia phải chấp nhận các cam kết ở các mức độ khác nhau trong khuôn khổ
đa phương và song phương GATT đã thể hiện vai trò chủ chốt của mình để góp phần vào Tự do hóa thương mại bằng quá trình cắt giảm thuế quan, bãi bỏ những hạn chế về thương mại và chống phân biệt đối xử về kinh tế trong buôn bán giữa các nước, nhưng chỉ mới áp dụng đối với thương mại hàng hóa
GATT 1947 đã trải qua một loạt sửa đổi trong hai thập niên 1960 và
1970 để cố gắng đảm đương tốt vai trò điều tiết nền thương mại quốc tế Vào cuối những năm 1970 một phần mới là Phần IV - "Hệ thống tổng quát các ưu tiên" (GSP) được áp dụng nhằm ủng hộ các nước đang phát triển đã được bổ sung vào GATT để giải quyết nguy cơ GATT có thể không còn nhận được sự tham gia của nhiều nước đang phát triển vì không giải quyết được vấn đề kinh
tế của các nước này sau khi họ giành được độc lập và tái thiết kinh tế
GSP là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp phát triển dành cho các nước đang và chậm phát triển Bản chất của chế độ GSP là các nước công nghiệp phát triển sẽ áp dụng chế độ miễn thuế hoặc thuế rất thấp cho hàng hóa của các nước đang phát triển, nhằm giúp hàng hóa của các nước này có điều kiện thâm nhập được vào thị trường các nước phát triển
Tại vòng đàm phán cuối cùng của GATT là vòng đám phán Urugoay
1993, nhiều vấn đề của tự do hóa thương mại đã được mở rộng hơn nhiều so với GATT như phần tự do hóa dịch vụ, sở hữu trí tuệ và cơ chế giải quyết tranh chấp bảo đảm cho tự do hóa thương mại được thực thi linh hoạt hơn Đây chính là bước ngoặt để từ đây GATT hoàn tất vai trò lịch sử của mình,
mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới của nền thương mại quốc tế
Thời kỳ bắt đầu từ khi WTO đƣợc thành lập: Chỉ sau khi vòng đàm
phán Urugoay 1986 - 1994 kết thúc ít lâu, vào ngày 01/01/1995, WTO đã thực sự thay thế GATT, hình thành nên một thể chế thương mại quốc tế và khung pháp lý đồ sộ bao gồm hệ thống 16 hiệp định đa phương và 02 hiệp định nhiều bên (điều chỉnh các đối tượng, các hoạt động trong các lĩnh vực:
Trang 17Thương mại hàng hóa; thương mại dịch vụ; đầu tư liên quan đến thương mại; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại; cơ chế giải quyết tranh chấp; rà soát chính sách thương mại) Khung pháp lý này đã vận dụng các nguyên tắc cơ bản của WTO để điều chỉnh nền thương mại quốc tế theo mục tiêu trước tiên là "tự do hóa" "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua
đàm phán" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của WTO (04 nguyên tắc còn
lại là: (1) Không phân biệt đối xử thông qua Quy chế tối huệ quốc (MFN) và Quy chế đối xử quốc gia (NT); (2) Minh bạch chính sách, dễ dự báo, dự đoán; (3) Khuyến khích cạnh tranh công bằng; và (4) Khuyến khích cải cách kinh tế và phát triển)
* Nội dung của nguyên tắc "Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán" thời kỳ này đặt trọng tâm hiệu quả mục tiêu vào đàm phán song phương và đa phương của các thành viên WTO để giảm dần tiến tới dỡ
bỏ các rào cản thương mại (thuế, rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, định lượng nhập khẩu, giấy phép ) ngoại trừ những "rào cản kỹ thuật" ở mức phù hợp liên quan đến bảo vệ sức khỏe, môi trường, động thực vật, bảo đảm an ninh Những quy định vốn là những rào cản đối với lĩnh vực đầu tư như cân đối xuất nhập khẩu, cân đối ngoại tệ, chính sách nội địa hóa cũng bị dỡ bỏ ở những quốc gia là thành viên của WTO
Tính tới ngày 23/7/2008 (ngày gia nhập của quốc gia thành viên mới nhất là Cape Verde), định chế thương mại toàn cầu WTO đã thu hút sự tham gia của 153 quốc gia [118]
Các quốc gia thành viên có quan hệ thương mại quốc tế trong khuôn khổ WTO đều phải tuân thủ triệt để và nghiêm minh các nguyên tắc nền tảng,
"tự do hóa thương mại" là một trong năm nguyên tắc cơ bản của loại quan hệ này Nội dung có liên quan tới hoạt động hải quan của nguyên tắc này như
sau: Các hàng rào cản trở thương mại dần dần được loại bỏ, cho phép các
nhà sản xuất hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, có thời gian điều chỉnh, nâng cao sức cạnh tranh hoặc chuyển đổi cơ cấu Mức độ cắt giảm các
Trang 18hàng rào bảo hộ được thỏa thuận thông qua các cuộc đàm phán song phương
và đa phương Qua các vòng đàm phán thuế quan của các thành viên kết ước
sẽ được cắt giảm Các rào cản phi thuế hạn chế nhập khẩu cũng được cắt giảm dần, các biện pháp hạn chế định lượng bị cấm sử dụng
Hoạt động hải quan là hoạt động can thiệp trực tiếp vào tính chất tự do hóa của nền thương mại quốc tế, vì lực lượng hải quan được ví như "người gác cửa biên giới", là lực lượng tiếp đón đầu tiên và tiễn đưa cuối cùng, trực tiếp thực hiện các chính sách mở cửa, giao lưu, hội nhập của một Nhà nước với các thực thể quốc tế ở bên ngoài biên giới lãnh thổ quốc gia Các lĩnh vực thương mại được tự do hóa trong WTO có liên quan tới công tác quản lý của hải quan bao gồm: Thương mại hàng hóa; bảo hộ cho các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ Nội dung liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ là một nội dung mới được mở rộng trong vòng đàm phán Urugoay Trong đó, các quy tắc về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã đưa ra một khuôn khổ pháp lý an toàn hơn cho tự do hóa thương mại
Các ngoại lệ của nguyên tắc dành cho các thành viên đang và kém phát triển: liên quan tới an ninh quốc gia, vệ sinh, an toàn và môi trường, là các quy tắc về các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá, đánh thuế đối kháng, v.v
1.2 THỰC HIỆN TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG WTO - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ HẢI QUAN
Phần trình bày tại 1.1 đưa tới nhận định: thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO chính là thực hiện mục tiêu và nguyên tắc nền tảng của khung pháp luật WTO được thể hiện xuyên suốt toàn bộ các hiệp định của hệ thống thương mại đa phương toàn cầu này Gia nhập WTO, Việt Nam có nghĩa vụ thực thi đầy đủ các nội dung cam kết về tự do hóa thương mại được nêu trong nghị định thư về việc gia nhập và biểu cam kết thương mại hàng hóa Trong đó, Hải quan thực thi các cam kết về tự do hóa thương mại trên hai phương diện: thuận lợi hóa và bảo đảm an ninh thương mại
Trang 19Nội hàm của hai khái niệm "thuận lợi hóa thương mại" và "bảo đảm
an ninh thương mại" được trình bày dưới đây không theo thứ tự ưu tiên mức
độ quan trọng Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, thì "bảo đảm an ninh" sẽ là khái niệm cần phải tính tới trước tiên, song nếu nhìn từ góc độ phát triển thương mại, hay nhằm tự do hóa thương mại, thì khái niệm "thuận lợi hóa" lại nhận được sự ưu tiên
1.2.1 Thuận lợi hóa thương mại
Tạo thuận lợi cho thương mại (Trade facilitation) là một vấn đề mới nổi trong hệ thống thương mại đa phương, là việc dỡ bỏ những trở ngại đối với việc giao lưu hàng hóa qua biên giới để thúc đẩy thương mại phát triển Hiểu theo khái niệm đã được chấp nhận rộng rãi của WTO thì "thuận lợi hóa thương mại" là "đơn giản hóa và hài hòa hóa các quy trình thương mại quốc tế" trong đó các quy trình thương mại là "các hoạt động, thực tiễn và các thủ tục liên quan đến việc thu thập, xuất trình, liên lạc và xử lý dữ liệu cần thiết cho việc di chuyển hàng hóa trong thương mại quốc tế" [61, tr 308]
Cụ thể tạo thuận lợi cho thương mại trong lĩnh vực hải quan được hiểu là loại bỏ những yếu tố rườm rà không hiệu quả, các bước xử lý không cần thiết trong quy trình quản lý, kiểm soát hải quan, đơn giản hóa và loại bỏ một số mẫu tờ khai, chấn chỉnh luồng xử lý tài liệu, và chấp nhận các mã số quốc tế đối với "hàng hóa" theo định nghĩa tại Luật Hải quan 2001
Một số biểu hiện của thuận lợi hóa thương mại có thể kể tới như:
- Áp dụng kỹ thuật quản lý tiên tiến: quản lý rủi ro - không quản lý toàn bộ các lô hàng xuất nhập khẩu mà quản lý dựa trên việc đánh giá mức độ rủi ro của các thông tin về lô hàng, quản lý theo mức độ chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, rút ngắn quy trình, thời gian thông quan, hoặc thông quan trước, sử dụng thông tin đến trước để thông quan và giải phóng hàng hóa ngay khi hàng về tới cảng;
- Hài hóa và đơn giản hóa các thủ tục theo chuẩn mực quốc tế, giảm thiểu yêu cầu về giấy tờ liên quan đến bộ hồ sơ hải quan sử dụng để thông
Trang 20quan, công nhận lẫn nhau kết quả kiểm soát hải quan quốc tế như là một phương thức giảm thời gian và chi phí thông quan, sử dụng ngày càng phổ biến phương pháp truyền tải dữ liệu điện tử;
- Tôn trọng tối đa bản chất kinh tế khách quan của các giao dịch thương mại quốc tế, nhà nhập khẩu và xuất khẩu tự khai báo, tự tính thuế, xác định trị giá, xuất xứ và phân loại hàng hóa, xây dựng cơ chế kiểm soát hải quan chặt chẽ, minh bạch để quyền của người khai hải quan được hiện thực hóa, v.v
Những biểu hiện cụ thể của thuận lợi hóa thương mại có thể liệt kê được như trên song trên thực tế, tác động của biện pháp này lại thường khó lượng hóa Thương mại toàn cầu không thể phát triển tự do nếu các biện pháp tạo thuận lợi được quy định có sự khác biệt trong luật pháp của từng quốc gia Vấn đề này đặt ra yêu cầu tất yếu cần phải tạo nên một chuẩn mực chung được cộng đồng kinh tế quốc tế chấp nhận rộng rãi Một yêu cầu như vậy được quy định trong khung pháp luật WTO, các chuẩn mực quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan theo tinh thần của WTO được chuyển hóa vào các quy định của WCO tại: Công ước Kyoto và Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto; Công ước về hệ thống hài hòa về mô tả và mã hóa hàng hóa (Harmonized System) 6/1983, sửa đổi bổ sung vào các năm 1996,
2002, 2007 - được ví như một ngôn ngữ chung toàn cầu về hàng hóa, có hiệu lực áp dụng đối với Việt Nam vào 01/01/2000
Các biện pháp thuận lợi hóa thương mại do cơ quan Hải quan trực tiếp thực hiện đã tạo điều kiện thông thoáng hơn cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế Tổ chức Hải quan thế giới WCO đã xây dựng khung tiêu chuẩn về bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu (Framework of standards to secure and facilitate global trade, sau đây gọi tắt là SAFE), trong đó quan hệ giữa Hải quan - doanh nghiệp
là một trụ cột được thiết lập trên quan điểm doanh nghiệp không đơn thuần là đối tượng quản lý, mà là "người bạn đường" của Hải quan Tuyên bố thực hiện SAFE, Hải quan Việt Nam đã thay đổi phương thức quản lý chuyển dần sang
Trang 21tinh thần "phục vụ" với thái độ tích cực hợp tác đem lại lợi ích tối đa cho doanh nghiệp, tạo nên sự thông suốt cho luồng lưu chuyển các giá trị thương mại
Hiện tại, Việt Nam đang vận hành song song hai phương thức quản lý hải quan: phương thức truyền thống (kiểm tra thủ công) và phương thức hiện đại (quản lý rủi ro, hải quan điện tử) Trong đó, phương thức quản lý hải quan hiện đại dựa trên nền tảng của kỹ thuật quản lý rủi ro, hay thủ tục hải quan điện tử đã và đang được áp dụng phổ biến tại các lãnh thổ hải quan của các nước trong khu vực và trên thế giới được Hải quan Việt Nam đánh giá sẽ là phương tiện hữu hiệu, tạo nên bước đột phá căn bản tăng cường tính thuận lợi cho tự do hóa thương mại quốc tế
1.2.2 Bảo đảm an ninh thương mại
Các phương diện của an ninh được bảo đảm cho tự do hóa thương mại
Xuất phát từ khái niệm "hàng hóa" là đối tượng quản lý của cơ quan hải quan, được quy định trong Điều 4.1 Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001của Việt Nam:
Hàng hóa bao gồm hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; kim khí quí, đá quí, cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động hải quan
Hoạt động quản lý về hải quan của Nhà nước Việt Nam phải bảo đảm được an ninh thương mại trên các phương diện: an ninh quốc gia (chống khủng bố), an ninh kinh tế (chống buôn lậu, xuất/nhập khẩu hàng cấm, chống thất thu thuế do trị giá hải quan bị khai báo gian lận), an ninh tiền tệ, an ninh lương thực, an toàn vệ sinh, bảo vệ người tiêu dùng (bảo vệ sức khỏe, bảo vệ quyền được sử dụng hàng hóa đúng với chất lượng thể hiện qua chức năng thực thi quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới để ngăn chặn, chống lại việc thẩm lậu vào Việt Nam những hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, v.v )
Trang 221.2.3 Hải quan Việt Nam thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO bằng cách giải quyết mối quan hệ giữa thuận lợi hóa và bảo đảm
an ninh thương mại
"Bảo đảm an ninh", "tạo thuận lợi" là các khái niệm mang tính mục tiêu của SAFE/WCO, được 166 cơ quan Hải quan các nước thành viên đại diện cho 99% thương mại toàn cầu nhất trí thông qua vào ngày 23/6/2005 tại Phiên họp Đại hội đồng thường niên tổ chức tại Brussels Theo SAFE, cơ quan hải quan "có thể và nên đóng vai trò trung tâm trong việc bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu" xuất phát từ những chức năng quản lý và thẩm quyền được trao từ Nhà nước Việt Nam Tính tới ngày 09/6/2008, Việt Nam là 1/154 thành viên (tổng số thành viên của WCO ở thời điểm này là 175), 1/27 quốc gia thành viên khu vực Viễn Đông, Nam và Đông Nam Á, Úc và các đảo Thái Bình (Far East, South and South East Asia, Australasia and the Pacific Islands) thể hiện ý định thực hiện đầy đủ SAFE Trong số 154 thành viên đã tuyên bố thực thi SAFE kể trên, thì Hải quan Việt Nam là một trong những thành viên đầu tiên gửi thư đề nghị tham gia vào tháng 8/2005 [117], qua đó tạo mối quan hệ hợp tác tích cực với Hải quan các nước, tăng cường các biện pháp quản lý, chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu Việc thực hiện SAFE/WCO được Nhà nước Việt Nam xác định là một trong những biện pháp cụ thể trong hệ thống các biện pháp của ngành Hải quan để thực hiện các cam kết quốc tế đối với WTO
WCO là tổ chức liên chính phủ duy nhất có chức năng giám sát hoạt
động trao đổi thương mại, thực hiện vai trò điều phối hoạt động quản lý hải
quan quốc tế WTO là tổ chức thương mại thế giới có chức năng giám sát quá trình thực hiện các Hiệp định hướng tới tự do hóa thương mại giữa các nước thành viên với nhau Như vậy, cả hai tổ chức này đều giữ vai trò mật thiết liên quan tới chuỗi cung ứng, dịch chuyển hàng hóa toàn cầu, vì đây là nội dung thực sự của hoạt động thương mại Để thực hiện thành công các mục tiêu mà WTO đeo đuổi, không thể nếu thiếu đi sự hợp tác chặt chẽ và sự điều phối với
Trang 23vai trò đầu tàu của WCO Do đó, không cần thiết phải vay mượn hay chuyển hóa khái niệm "bảo đảm an ninh", "tạo thuận lợi" của WCO vào WTO, bởi đây chính
là hai mục tiêu trọng yếu, hai mặt đối lập cần phải được dung hòa, nhượng bộ lẫn nhau ở mức độ cho phép nhằm đạt được Tự do hóa thương mại bền vững
Mối quan hệ giữa "bảo đảm an ninh" và "tạo thuận lợi (hay "thuận lợi hóa") theo những nội hàm như trên là mối quan hệ gắn kết mật thiết, là hai đòi hỏi của quá trình phát triển tự do hóa thương mại quốc tế và không phải là yêu cầu đặt ra đối với quốc gia nào riêng rẽ cũng như không phân biệt trình
độ phát triển kinh tế Hơn nữa, đòi hỏi này còn đi cùng chiều với chiến lược cải cách, hiện đại hóa kinh tế của Việt Nam theo yêu cầu phát triển bền vững Nói cách khác, giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi sẽ tạo nên sự cân bằng giữa kiểm soát tuân thủ pháp luật và tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế Mối quan hệ này luôn được hệ thống các hiệp định
về tự do hóa thương mại hàng hóa, về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của WTO
xử lý một cách lồng ghép, thuận lợi không được tạo ra một cách vô điều kiện
mà luôn đi kèm với các đòi hỏi về kiểm soát an ninh, ngược lại, an ninh giữ vị trí quan trọng nhưng không phát triển tới mức lấn át hoặc mâu thuẫn với tạo thuận lợi Pháp luật Hải quan Việt Nam xử lý mối quan hệ này như thế nào để thực hiện các cam kết với WTO sẽ được phân tích ở chương 2 của luận văn
Các cam kết hay các chuẩn mực quốc tế tại khuôn khổ hợp tác khác ngoài WTO như WCO cũng sẽ được đưa vào phần phân tích với tư cách là một phần của cam kết gia nhập WTO do khung pháp luật WTO và các cam kết quốc tế trong khuôn khổ WCO có mối quan hệ như sau:
- Các hiệp định có liên quan tới hải quan là một trụ cột chính trong khung pháp lý thương mại đa biên của WTO WCO là tổ chức quốc tế đảm trách các hoạt động thúc đẩy hợp tác hải quan trên phạm vi toàn thế giới, còn WTO lại là nhân tố chủ chốt thúc đẩy hoạt động tự do hóa thương mại toàn cầu Nếu như cơ quan hải quan của mỗi nước thành viên được xem như có tư cách đại diện cho quốc gia đó thúc đẩy hoạt động thương mại quốc gia hội nhập
Trang 24vào nền thương mại quốc tế thì WCO với cơ chế hợp tác chặt chẽ và không ngừng có những chương trình giúp đỡ, nâng cao năng lực quản lý hải quan của các nước thành viên sẽ được xem như là cơ quan hải quan chung của WTO
- SAFE/WCO với diễn giải chi tiết hóa về các tiêu chuẩn an ninh và tạo thuận lợi có mối quan hệ thuận chiều với các cam kết đa phương và song phương của các quốc gia thành viên WTO trong các định chế liên quan tới Hải quan và tự do hóa thương mại SAFE/WCO chính là sự chuyển hóa các quy định của WTO liên quan tới cơ quan Hải quan về bảo đảm an ninh trên các mặt: chống khủng bố, chống buôn lậu và gian lận thương mại
Do đó, việc nghiên cứu tính tương thích của hệ thống pháp luật Hải quan Việt Nam với các định chế liên quan tới hải quan và tự do hóa thương mại (bảo đảm an ninh và tạo thuận lợi) của WTO bao hàm việc nghiên cứu SAFE/WCO và một số Công ước quốc tế của tổ chức này
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ PHÁP LÝ ĐỂ HẢI QUAN VIỆT NAM THỰC HIỆN BẢO ĐẢM AN NINH VÀ TẠO THUẬN LỢI CHO TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG WTO
Việt Nam là thành viên đầy đủ của WCO vào cuối năm 1998, cùng thời điểm với Nga và Peru Tính tới thời điểm gần đây nhất - 07/2008, con số thành viên của WCO là 174 lãnh thổ hải quan thành viên và Cộng đồng Châu
Âu (174 Customs Administration + the European Communities từ tháng 7/2007), chiếm tới 98% thương mại toàn cầu và như đã nêu ở phần trên, là nước đầu tiên bày tỏ ý định thực hiện SAFE/WCO vào năm 2005 [115], [117]
Cũng trong khoảng thời gian này, vào tháng 01/1995, Việt Nam đã gửi thư xin gia nhập WTO, khởi động các vòng đám phán đa phương và song phương với một loạt nỗ lực nhượng bộ các đối tác trong giới hạn vẫn bảo đảm được lợi ích quốc gia của một nước đang phát triển Song song với quá trình đàm phán đó, là việc xúc tiến công tác rà soát, sửa đổi pháp luật trong nước, tạo ra sự tương thích giữa hệ thống pháp luật quốc gia của Việt Nam với các
Trang 25thiết chế pháp luật của WTO để làm tiền đề thuyết phục các đối tác đàm phán Kết quả, sau 11 năm cùng với hơn 200 phiên đàm phán cả đa phương và song phương, Việt Nam đã chính thức chịu ràng buộc thực thi các cam kết đồng thời hưởng sự bảo vệ của WTO vào ngày 11/01/2007
Hai sự kiện nêu trên có liên quan trực tiếp tới phần cơ sở thực tiễn và
cơ sở pháp lý sẽ được trình bày dưới đây
1.3.1 Cơ sở thực tiễn
Ngành Hải quan Việt Nam ra đời từ khá sớm, ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập năm 1945 Là một nước có vị trí địa lý thuận lợi, nằm ở ngã tư của các mối quan hệ quốc tế năng động, đa dạng, vừa gắn liền với lục địa Á - Âu, vừa tiếp giáp với Thái Bình Dương, có đường biên giới quốc gia trên đất liền trải dài 4.610 km giáp với ba nước (Trung Quốc: 1.406 km, Lào: 2.067 km, Campuchia: 1.137 km) với 28/64 tỉnh, thành giáp biển trải trên 3.260 km chiều dài đường bờ biển, Việt Nam có đầy đủ cơ hội để giao lưu kinh tế mở rộng với các quốc gia láng giềng, trong khu vực và trên thế giới, hợp tác đa phương và song phương trên nhiều lĩnh vực
Vị trí địa lý thuận lợi đem lại nhiều cơ hội giao lưu, phát triển, song cũng đem lại nhiều rủi ro tiềm ẩn, gây thách thức đối với các cơ quan quản lý, đối với hoạt động kiểm soát biên giới của cơ quan hải quan trên 179 cửa khẩu đường bộ, đường sắt trên đất liền và 35 cửa khẩu cảng biển với 145 cảng, cảng chuyên dùng, khu vực chuyển tải, bến neo đậu (do Bộ Giao thông Vận tải công bố) và 01 sân bay dịch vụ dầu khí [69] Song hành với thương mại phát triển, là tình hình vi phạm pháp luật, buôn lậu, gian lận thương mại gia tăng, nguy cơ khủng bố đe dọa, với diễn biến phức tạp và các thủ đoạn ngày một tinh vi hơn theo sự phát triển ngày càng cao của khoa học kỹ thuật
Cần phải bảo đảm an ninh hơn
Xuất phát từ chức năng của hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan
là bảo đảm an ninh quốc gia đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, chống thất thu thuế cho ngân sách nhà nước;
Trang 26Xuất phát từ thực tiễn của các vụ khủng bố đe dọa tới an ninh, an toàn quốc gia đang diễn ra ngày càng nhiều trên thế giới nhằm vào những điểm nóng chính trị, những thời điểm nhạy cảm, đặc biệt sau sự kiện xảy ra ngày 11/9/2001 tại Mỹ, đã nhắc nhở cộng đồng quốc tế lưu tâm nhiều hơn tới vấn đề bảo vệ an ninh thương mại; (thống kê của Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra con số tỷ lệ các vụ khủng bố xảy ra trên thế giới như sau: 80% các vụ khủng bố quốc tế xảy ra tại các nước ở Trung Đông và khu vực Nam Á: Indonesia, miền Nam Philippin) [89]
Xuất phát từ tình hình buôn lậu, gian lận thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới diễn ra liên tục, hàng ngày, do lực lượng hải quan trực tiếp giải quyết thủ tục thông quan hàng hóa không thể đảm bảo xử
lý 100% công việc một cách an toàn ngay tại thời điểm làm thủ tục cho hàng hóa và lực lượng kiểm soát các tuyến biên giới còn mỏng
Nên: cơ quan hải quan các nước, trong đó có Việt Nam phải là cơ quan trong tuyến đầu thực hiện nhiệm vụ tăng cường bảo đảm an ninh cho thương mại toàn cầu
Trong suốt thời kỳ hoạt động của mình, đặc biệt từ khi có giao lưu hợp tác kinh tế quốc tế, Hải quan Việt Nam đã phải không ngừng tăng cường hiệu quả của công tác đảm bảo an ninh thương mại trước các nguy cơ buôn lậu, gian lận và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã đặt dấu mốc khởi đầu cho thời kỳ đổi mới toàn diện, mở cửa kinh tế của Việt Nam Tính từ năm 1955 tới nay, Việt Nam đã ký kết 1082 Điều ước quốc tế về kinh tế - thương mại, trong đó có 700 Điều ước hiện còn hiệu lực [26] Điều đó cho thấy, Việt Nam
đã thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ hợp tác với thế giới, đón nhận các cơ hội mới đồng thời sẵn sàng chấp nhận những thách thức để phát triển
Từ khi mở cửa, đặc biệt là từ đầu những năm 1990, khi quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và một loạt nước Tây Âu được cải thiện, thì kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng lên nhanh chóng, song hoạt động buôn lậu
Trang 27cũng tăng lên một cách đột biến trên tất cả 3 tuyến đường không, đường bộ và đường biển Số liệu thống kê thể hiện trong các bản báo cáo hàng năm của lực lượng chống buôn lậu ngành Hải quan cho thấy hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại có diễn biến ngày càng phức tạp hơn và thủ đoạn bọn buôn lậu sử dụng cũng ngày càng tinh vi, khó phát hiện hơn
Do lúng túng và còn nhiều lỏng lẻo trong cách thức quản lý của thời gian đầu mở cửa, cuối những năm 90, tình hình buôn lậu trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự ổn định của kinh tế đất nước [78]
Hộp số 1.1
Năm 1995: phát hiện 11.412 vụ buôn lậu và vi phạm pháp luật hải quan,
tổng trị giá hàng bị xử lý lên tới 189,1 tỷ đồng, thu giữ 1800 đồ cổ, hơn
2400 ấn phẩm phản động, gần 30kg thuốc phiện, 1,44 kg heroin, 122 kg thuốc nổ, một số loại vũ khí, 1811 bình xịt hơi độc, xử lý 3.8 triệu USD không khai báo của hành khách xuất nhập cảnh;
Năm 1996: phát hiện gần 12.500 vụ buôn lậu và gian lận thương mại; xử lý
hàng hóa với giá trị gần 370 tỷ đồng; bắt 2 vụ vận chuyển heroin qua cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất và Nội Bài, thu giữ 23,2 kg heroin; phát hiện và thu giữ trên 6600 kg cần sa nhập vào cảng Sài Gòn, nhiều vũ khí, chất nổ, tài liệu phản động, ngoại tệ và tiền giả, đồ cổ, …
Năm 1997: Riêng tháng 10, phát hiện 1180 vụ buôn lậu và gian lận thương
mại, bắt giữ 13 cổ vật, 2 kg vàng 9999, trên 300.000m vải các loại 13.3kg thuốc phiện, 4 xe ô tô, 1200 đầu video, 1000 ti vi, 2555 tấn giấy nhám, 35
kg đá cẩm thạch…ấn phẩm văn hóa phản động, đồi trụy; xử phạt vụ án buôn lậu lớn vào bậc nhất nước ta - Tân Trường Sanh (do Trần Đàm cầm đầu)
Năm 1999: chiến dịch Tết Kỷ Mão trên tuyến biển Quảng Ninh tới An
Giang: bắt giữ nhiều tàu chở hàng lậu buôn lậu từ Trung Quốc trên tuyến Quảng Ninh với tổng trị giá hàng lên tới 5.3 tỷ đồng
(Nguồn: 60 năm Hải quan Việt Nam 1945 - 2005)
Trang 28Những vụ bắt giữ của cơ quan Hải quan trong lịch sử hoạt động của ngành đã tạo ra những tiếng vang nhất định song nếu như làm một phép so sánh với lưu lượng khổng lồ của hàng hóa xuất nhập khẩu đi qua biên giới, sang thị trường nước ngoài hoặc đưa vào tiêu thụ tại thị trường nội địa, những phát hiện của cơ quan quản lý thị trường tại nước ngoài cũng như nội địa, thì đây chỉ là một con số khám phá giống như phần nổi của tảng băng chìm
Hàng hóa bị buôn lậu và gian lận thương mại thường tập trung vào các loại hàng cấm, hàng giả, hàng có thuế suất cao, trị giá lớn An ninh kém bảo đảm sẽ dẫn tới sự thẩm lậu tràn lan vào nội địa của những loại hàng hóa này, gây đe dọa triệt tiêu sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa chân chính vì lợi ích của người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi, đặc biệt những lứa tuổi dễ bị tổn thương bởi những hàng hóa có ảnh hưởng không tốt tới sự phát triển nhân cách, đạo đức, lối sống theo chiều hướng tích cực, lành mạnh
Do đó, bảo đảm an ninh, chống buôn lậu, gian lận thương mại và khủng bố quốc tế đã thực sự trở thành một yêu cầu khắt khe hơn xuất phát từ chính thực tiễn hoạt động thương mại đang diễn ra ngày càng sôi động trên phạm vi toàn cầu Hoạt động tăng cường an ninh này cần phải có sự phối hợp đồng bộ diễn ra trên nhiều ngành nhiều cấp có trách nhiệm liên quan tới luồng lưu chuyển của hàng hóa, có biện pháp kiểm soát, ngăn chặn các nguy cơ gây mất an ninh quốc gia đến từ các yếu tố trên
Cần phải vừa tạo nhiều thuận lợi hơn vừa bảo đảm an ninh tốt hơn
Nếu như an ninh trong hoạt động kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới là một tiêu chí đòi hỏi phải được đặc biệt chú trọng để bảo đảm tốt hơn vấn đề mang nội dung chính trị là chủ quyền quốc gia, thì yêu cầu tạo
ra nhiều thuận lợi hơn cho các đối tượng thuộc phạm vi quản lý, kiểm soát của hoạt động hải quan lại được xem như một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu góp phần vào việc thúc đẩy tốc độ phát triển nhanh chóng của luồng thương mại tự do hóa Thuận lợi và an ninh là hai mặt của một quá trình dịch
Trang 29chuyển chuỗi hàng hóa toàn cầu Nhấn mạnh mặt này mà bỏ quên mặt kia ngay lập tức sẽ làm mất hiệu lực kiểm soát của cơ quan hải quan, đe dọa tới lợi ích của cả quốc gia
Thế giới ngày nay đang chứng kiến tốc độ hội nhập, hợp tác về kinh tế - thương mại ngày càng sâu và rộng ở các cấp độ: đa phương toàn cầu, khu vực
và lĩnh vực chuyên môn của rất nhiều các định chế khác nhau như WTO, WCO, APEC, ASEAN, AFTA, v.v Điều kiện căn bản để các thành viên tham gia hợp tác và hội nhập là giữa họ phải đạt được những thỏa thuận có hiệu lực áp dụng chung, hình thành các chuẩn mực chung được công nhận lẫn nhau và giảm thiểu tối đa sự khác biệt Các thỏa thuận, chuẩn mực như vậy sẽ gắn kết các giao dịch thương mại trên toàn cầu lại với nhau thông qua một
"cửa" kiểm soát an ninh đầu mối được bố trí tại vị trí thích hợp trong chuỗi thương mại toàn cầu Các "cửa" kiểm soát khác không phải là đầu mối đặt tại các quốc gia thành viên còn lại sẽ thừa nhận lẫn nhau kết quả tại "cửa" kiểm soát đầu mối Thời gian và chi phí ước tính trên phạm vi toàn cầu sẽ được tiết kiệm rất nhiều, thương mại cũng được thúc đẩy thông suốt Điều này cũng tạo
ra cơ hội cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trên toàn cầu dễ dàng tiếp cận các chuẩn mực chung, đáp ứng đòi hỏi của các cơ quan Hải quan ở các quốc gia thành viên khác nhau một cách thống nhất, tránh được những đòi hỏi phức tạp và khác biệt, cần thiết ở nước này nhưng lại không cần thiết ở nước khác Việc hợp nhất yêu cầu quản lý để hình thành nên chuẩn mực chung được chấp nhận rộng rãi ở các cơ quan Hải quan các nước thành viên là công việc khó do trình độ phát triển không đồng đều và mục tiêu phát triển không phải lúc nào cũng giống nhau, nhưng tất yếu phải hoàn thành khi hội nhập để loại bỏ những rào cản theo thông lệ quốc tế Nếu không tạo ra ngày càng nhiều thuận lợi hơn cho thương mại quốc tế thì năng lực cạnh tranh của quốc gia thành viên trên thị trường quốc tế sẽ bị ảnh hưởng, từ đó lợi ích quốc gia có thể đạt được qua hội nhập sẽ bị giảm sút
Trang 301.3.2 Cơ sở pháp lý
Hoạt động quản lý nhà nước về Hải quan nhằm thực hiện tự do hóa thương mại trong WTO sẽ không thể thu được hiệu quả kép: vừa tạo thuận lợi nhiều hơn vừa bảo đảm an ninh tốt hơn, nếu như thiếu đi khung pháp lý đủ hoàn chỉnh điều chỉnh các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa qua biên giới
Trong phần cơ sở pháp lý tại chương này, tác giả sẽ trình bày hệ thống các văn bản quốc tế và quốc gia mang tính xương sống, cơ bản, chủ chốt nhất, nhưng không phải là toàn bộ các văn bản sẽ được dẫn chiếu xuyên suốt nội dung của luận văn này Hệ thống văn bản đầy đủ sẽ được nêu tại phần danhmục tài liệu tham khảo ở cuối luận văn
a/ Hệ thống các Điều ước quốc tế liên quan tới hải quan của khung pháp luật WTO
Việc Việt Nam tham gia WTO - Tổ chức thương mại với hệ thống hiệp định thương mại đồ sộ, rộng lớn nhất thế giới đã chứng tỏ quyết tâm tự
do hóa nền kinh tế của Việt Nam Luận văn này giới hạn phạm vi nghiên cứu các vấn đề liên quan tới tạo thuận lợi và bảo đảm an ninh cho hoạt động quản
lý nhà nước về hải quan trong mối tương quan giữa pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật của WTO về tự do hóa thương mại Bên cạnh đó, tham khảo ở mức độ thỏa đáng tới các quy định mật thiết của WCO, ASEAN, APEC, v.v
Hệ thống các Hiệp định có nội dung tạo thuận lợi và bảo đảm an ninh cho tự
do hóa thương mại trực tiếp liên quan tới cơ quan Hải quan của WTO được
trình bày theo sơ đồ 1.1 (trang 25)
Trong WTO, các vấn đề thuận lợi hóa thương mại được đề cập tại Điều V (Tự do quá cảnh), Điều VIII (Các loại phí và thủ tục liên quan đến nhập khẩu và xuất khẩu), Điều X (Xuất bản và quản lý các quy định thương mại) của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại năm 1994; Hiệp định thực hiện Điều VII của GATT 1994; Hiệp định về Kiểm định hàng hóa trước khi xếp hàng; Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu; Hiệp định về Quy tắc xuất xứ, Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
Trang 32Đây là những quy định nền tảng nhằm bảo đảm mục tiêu kép của các biện pháp thuận lợi hóa thương mại là: i) quản lý được luồng thương mại và ii) không trở thành rào cản phi thuế quan đối với các luồng hàng xuất nhập khẩu [61, tr 307],
Tham gia WTO, Việt Nam phải cam kết chấp nhận thực thi "cả gói" các quy định thuộc hệ thống các hiệp định đồ sộ nêu trên Trong khuôn khổ
có hạn của luận văn này, tác giả không thể đi sâu phân tích từng hiệp định riêng lẻ, mà sẽ cung cấp một cái nhìn bao quát với những cố gắng phác thảo nên bức tranh tổng thể nhất về quá trình và kết quả rà soát, sửa đổi, nỗ lực hiệu lực hóa các cam kết "cả gói" trong WTO vào hệ thống pháp luật về Hải quan của Việt Nam
* Trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế khác - các tài liệu có tính bổ
trợ cho quá trình nghiên cứu:
- Công ước Kyoto về đơn giản và hài hòa hóa thủ tục hải quan của WCO năm 1973, sửa đổi năm 1999: Trong quá trình chuẩn hóa và hiện đại hóa thủ tục hải quan, quá trình cải cách có thể dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế Công ước Kyoto được các thành viên xây dựng chủ yếu dựa vào các nghĩa vụ và Hiệp định đa phương, hội tụ đầy đủ nhất các sáng kiến thuận lợi hóa thương mại
- Khung các tiêu chuẩn về an ninh và tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu của WCO (hay còn gọi là SAFE): Việt Nam đã tuyên bố ý định tham gia SAFE vào tháng 8/2005 như một trong những cách thức để thực hiện cam kết với WTO về bảo đảm an ninh chống khủng bố quốc tế, chống buôn lậu và gian lận thương mại
- Các điều ước quốc tế trong các hiệp định thương mại khu vực ASEAN, APEC (Reference Trade Agreements, gọi tắt là RTAs) được Việt Nam ký kết trước khi gia nhập WTO, chủ yếu đề cập tới các ngoại lệ ưu đãi hơn, với những lý do chính đáng cho phép không coi là vi phạm nguyên tắc căn bản MFN của WTO Sở dĩ những nội dung của điều ước quốc tế khu vực
Trang 33được đưa vào nội dung của nghiên cứu này vì để thực hiện những cam kết tại điều ước quốc tế đó thì Việt Nam cũng đã phải chuyển hóa một phần hoặc toàn bộ, hay nói cách khác là nội luật hóa vào pháp luật trong nước
Một trường hợp điển hình có thể nhắc tới như một ví dụ ở đây là trường hợp chuyển hóa một phần hiệp định về thực thi Điều VII của GATT/WTO
1994 về xác định trị giá tính thuế vào pháp luật trong nước khi Việt Nam còn chưa gia nhập WTO để thực thi cam kết tại Hiệp định Hải quan ASEAN
b/ Pháp luật quốc gia:
Trong khuôn khổ các tài liệu tham chiếu để phục vụ cho việc nghiên cứu làm sáng rõ các quan điểm của đề tài luận văn này, tác giả xin được trình bày theo hệ thống các văn bản pháp luật được xem như khung pháp lý chính thức hiệu lực hóa các cam kết về hoạt động Hải quan của Việt Nam với WTO
- Nghị định thư về việc gia nhập của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Biểu cam kết về thương mại hàng hóa (bao gồm các cam kết về thuế nhập khẩu, hạn ngạch thuế quan và trợ cấp nông nghiệp)
- Nghị quyết 71/2006/NQ-QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về việc phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
- Luật Hải quan năm 2001 và Luật số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan; các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành;
- Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;
- Luật số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội về quản lý thuế; các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành;
- Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi, bổ sung năm 2005; các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành;
Trang 34- Luật Thuế giá trị gia tăng và Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi, bổ sung năm 2005; các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành;
- Luật Thương mại 2005; Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2003 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài; Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/2/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa;
- Pháp lệnh số 41/2002/PL-UBTVQH10 ngày 25/5/2002 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về đối xử Tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế;
1.4 VAI TRÒ ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN CỦA PHÁP LUẬT HẢI QUAN VIỆT NAM HƯỚNG TỚI TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI VÀ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN WTO
Để điều tiết tốt một loại quan hệ pháp luật nào đó thì hành lang pháp
lý điều chỉnh quan hệ đó phải phát triển tương xứng, bắt kịp, có tính tiên liệu
đủ xa trong tương lai dài Hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ quản lý nhà nước về hải quan của Việt Nam đã nêu tại mục b phần 1.3 luận văn theo nhận xét của các chuyên gia luật pháp nước ngoài là một hệ thống phức hợp rất nhiều luật khác nhau: từ luật trực tiếp là Luật Hải quan cho tới các luật Thuế
có liên quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu như Luật quản lý Thuế nói chung; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế giá trị gia tăng Việt Nam không có một Bộ luật Hải quan tổng hợp bao quát hết các vấn đề
Ngay trong bản thân Luật Hải quan, một số vấn đề trong các lĩnh vực kiểm tra và thông quan hàng hóa, trị giá, thuế quan và kiểm tra sau thông quan cũng không được quy định một cách đầy đủ mà lại được bổ khuyết bằng các văn bản hướng dẫn thi hành Thêm một đặc điểm nữa khiến cho trong quá trình áp dụng, thực thi các quy định pháp luật về hải quan ở Việt Nam gặp khó khăn, đó là trong đạo luật trực tiếp điều chỉnh quan hệ pháp luật quản lý
Trang 35nhà nước về Hải quan là Luật Hải quan không quy định cơ chế dẫn chiếu việc
áp dụng các Luật khác để điều chỉnh quan hệ này Vấn đề này trên thực tế gây
ra nhiều lúng túng cho cả đối tượng quản lý - doanh nghiệp, lẫn chủ thể quản
lý - cơ quan hải quan khi phải tìm ra một quy định thật chính xác để vận dụng vào trường hợp cụ thể Quan hệ thương mại quốc tế là một loại quan hệ rất phức tạp, đồng thời chịu sự điều chỉnh của rất nhiều loại nguồn luật khác nhau: Điều ước quốc tế, Tập quán quốc tế (Incoterms) và pháp luật quốc gia; trong từng loại nguồn điều chỉnh loại quan hệ này lại bao gồm rất nhiều các cam kết hợp tác của quốc gia với các tổ chức quốc tế, các khu vực, các nhóm nước, các nước ở trình độ phát triển khác nhau Do đó, đây là loại quan hệ pháp luật nhạy cảm dễ động chạm tới lợi ích quốc gia cũng như tiềm năng phát triển mối quan hệ với các đối tác Pháp luật về Hải quan là pháp luật trực tiếp tham gia điều chỉnh loại quan hệ này, vì vậy phải là một trong những pháp luật chuyên ngành cần cải cách trước tiên để thực hiện cam kết về tạo thuận lợi và bảo đảm an ninh cho tự do hóa thương mại trong khuôn khổ WTO
1.5 KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC ĐÃ LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO TRONG VIỆC VẬN DỤNG CÁC ĐỊNH CHẾ LIÊN QUAN ĐẾN HẢI QUAN VÀ TỰ
DO HÓA THƯƠNG MẠI
Các quốc gia được lựa chọn trình bày tại phần này dựa trên một số tiêu chí: lĩnh vực thành công nổi bật, có cùng trình độ phát triển tương đương với Việt Nam và trong phạm vi tài liệu mà tác giả có thể tiếp cận được từ công tác thực tiễn của mình
1.5.1 Các quốc gia phát triển và Liên minh Hải quan
Một là, Nhật Bản [71], [93], [97]
Nhật Bản gia nhập WTO ngày 01/01/1995 Hải quan Nhật Bản là một trong những cơ quan Hải quan tiên tiến bậc nhất trong Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) Tại Nhật Bản, tỷ lệ làm thủ tục hải quan qua hệ thống hải quan điện tử chiếm 95%, chỉ có 5% là thực hiện thủ tục hải quan theo hình thức thủ
Trang 36công (khai bằng tay, nộp và xuất trình hồ sơ hải quan trực tiếp cho công chức hải quan để làm thủ tục) Có được tỷ lệ làm thủ tục hải quan điện tử cao như vậy là do Hải quan Nhật Bản đã tiến hành đề án tin học hóa ngành Hải quan ngay từ năm 1978 với việc áp dụng Hệ thống tin học hải quan tự động (NACCS gồm 02 hệ thống: SEA-NACCS và AIR-NACCS để làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu qua đường biển và đường hàng không), xử
lý các vấn đề liên quan đến thủ tục thương mại nhằm cải thiện và đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hóa Hệ thống NACCS của Hải quan Nhật Bản hiện nay được coi như mô hình giao diện chuẩn cho các cơ quan hữu trách có liên quan khác phát triển hệ thống tin học của mình
Năm 1981, Hải quan Nhật Bản chuyển đổi hệ thống trị giá hải quan từ phương pháp định giá Brucxell sang áp dụng hiệp định trị giá GATT với nguyên tắc dựa vào giá giao dịch thực tế của hàng nhập khẩu Hệ thống pháp luật trong nước của Nhật Bản quy định về trị giá hải quan cũng được thay đổi dựa trên các nội dung của Hiệp định GATT, thể hiện cụ thể trong Luật thuế quan và các quy định của Chính phủ Quản lý trị giá hải quan của Nhật với sự góp sức của quy trình thủ tục và công nghệ hiện đại đã góp phần chống gian lận thương mại, làm cho số thu ngân sách của cơ quan hải quan ngày càng tăng Các phương pháp được Hải quan Nhật Bản sử dụng để thực thi cụ thể hóa công việc xác định trị giá tính thuế theo tinh thần của GATT như sau:
(i) Tổ chức mô hình quản lý trị giá hải quan theo 3 cấp: trung ương; khu vực và cơ sở, trong đó cấp cao hơn có vai trò quyết định trong các trường hợp không thống nhất về phương pháp xác định trị giá giữa các cấp thấp hơn:
Cấp trung ương: Cục thuế quan Nhật Bản (Customs and Tarrif Bureau) giải quyết những vấn đề chính sách và quốc tế; Trung tâm trị giá hải quan của quốc gia đặt tại Tokyo thực hiện một số chức năng quản lý trị giá hải quan
Cấp khu vực (09 Hải quan vùng): Phòng trị giá và Phòng Kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Kiểm tra sau thông quan và lãnh thổ hải quan
Trang 37Cấp cơ sở: Phòng thông quan (tại các Chi nhánh hải quan hoặc Hải quan vùng) có nhiệm vụ kiểm tra từng tờ khai nhập khẩu để kiểm tra khai báo
về trị giá hải quan
(ii) Thiết lập được hệ thống trị giá hải quan thống nhất và công bằng qua vai trò của Trung tâm quốc gia về trị giá hải quan được thành lập năm
2001 tại Tokyo trực thuộc Cục Thuế quan Nhật Bản, xác định các quyết định
về trị giá trong trường hợp có sự xác định khác nhau của các Hải quan Vùng đối với những giao dịch phức tạp khó xác định trị giá (có 9 Hải quan Vùng)
(iii) phát triển hệ thống cơ sở dữ liệu về trị giá: chức năng này cũng do Trung tâm quốc gia nêu trên thực hiện qua các hoạt động thu thập, cập nhật, tích lũy vào hệ thống cơ sở dữ liệu những phát hiện của bộ phận KTSTQ và những trường hợp gửi lấy ý kiến Trung tâm Hải quan vùng có thể chia sẻ các quyết định giá trước đó đã có trong cơ sở dữ liệu để đảm sự thống nhất và hài hòa về trị giá hải quan Hiện tại, Hải quan Nhật Bản đã tổng hợp cuốn tài liệu
về 303 ví dụ điển hình về xác định trị giá hải quan
(iv) Quy định về khai báo trị giá phổ biến (Blanket Valuation Declaration)
và khai báo trị giá cá biệt (Individual Valuation Declaration) đã giảm bớt thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Điểm khác biệt của khai báo trị giá phổ biến với khai báo cá biệt là khai báo trị giá phổ biến thường được thực hiện khi có cùng loại hàng hóa, do cùng các đối tác thường xuyên xuất nhập khẩu với nhau, với cùng điều kiện và hoàn cảnh giao dịch
Tờ khai trị giá phổ biến có giá trị trong vòng 2 năm, được lập tại Phòng Trị giá trước khi nhập khẩu lô hàng cụ thể, thuộc phạm vi xem xét của Hải quan Vùng
Nếu hội đủ điều kiện đối với khai báo trị giá phổ biến như đã nêu trên
ở các lô hàng nhập khẩu tiếp sau, thì người nhập khẩu không cần phải lập tờ khai trị giá cá biệt cho từng lần nhập khẩu, mà chỉ cần thông báo cho Hải quan về số tờ khai đã đăng ký ở lần khai trị giá trước đó Công chức Hải quan
sẽ kiểm tra kỹ mẫu khai báo và các tài liệu liên quan (như hợp đồng, thỏa thuận…) và cuối cùng chấp nhận trị giá này mang tính phổ biến
Trang 38Hai là, Liên minh Hải quan Châu Âu [66], [98], [109], [112]
Với diện tích trên 4.000.000 km2, dân số khoảng 500 triệu người,
được hình thành cách đây hơn 50 năm trên cơ sở của Hiệp ước Roma (1957),
Liên minh Châu Âu (The European Union, sau đây gọi tắt là EU, trước 01/11/1993 gọi là Cộng đồng Kinh tế châu Âu, The European Economic Communities) là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam (chiếm 17% tổng
giao dịch thương mại, sau đó là Mỹ 14%, Nhật Bản 13%, và Trung Quốc 11%) và hiện được đánh giá là mô hình liên kết kinh tế khu vực thành công nhất trên thế giới
EU là thành viên của WTO từ 01/01/1995 Liên minh Hải quan EU được hình thành cách đây 40 năm (1968 - 2008), bao gồm 27 quốc gia thành viên, chiếm 30% GDP, 41% thương mại và 43% đầu tư toàn cầu (đến nay còn
22 quốc gia Châu Âu chưa gia nhập EU):
Tính đến 01/01/1995: 15 nước (Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Luxembourg, Anh, Ailen, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thụy Điển
và Phần Lan);
Từ 01/5/2004: thêm 10 nước (Cộng hòa Czech, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Síp);
Từ 01/01/2007: thêm 2 nước Romania và Bulgaria
Liên minh Hải quan EU (the EU Customs Union) được hoàn thiện vào 01/7/1968, thực sự trở thành một thị trường chung, trong đó biên giới thương mại được đặc trưng bởi các trạm kiểm soát Hải quan đặt tại biên giới các quốc gia thành viên được xóa bỏ vào năm 1993 Chính sách Hải quan là yếu tố nền tảng quan trọng vận hành thị trường này, theo đó: (i) thuế hải quan ở các biên giới nội khối được bãi bỏ; (ii) áp dụng một biểu thuế suất nhập khẩu chung đối với hàng hóa ngoài biên giới EU; (iii) áp dụng quy tắc xuất xứ chung đối với sản phẩm ngoài biên giới EU; và (iv) áp dụng quy tắc xác định trị giá hải quan chung Tất cả các quy tắc chung nói trên được đưa vào một Bộ luật Hải
Trang 39quan của Cộng đồng (the Community Customs Code, gọi tắt là CCC) được phê chuẩn vào năm 1992 Hiện nay, một số điều khoản sửa đổi của Bộ luật này đang được Nghị viện EU hoàn tất và dự kiến sẽ thông qua Bộ luật Hải quan hiện đại của Cộng đồng (The Modernised Community Customs Code - MCCC) vào cuối năm 2008 hoặc đầu năm 2009 [109]
Các thành tựu quản lý nổi bật của Hải quan EU được biết đến như:
- Thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới: Hải quan EU luôn
ở tuyến đầu trong cuộc chiến chống hàng giả như điện thoại di động, thuốc tân dược, các băng đĩa CD, các phần mềm vi phạm bản quyền, v.v Hàng giả chiếm trên 5% doanh thu thương mại thế giới, trong đó 150.000 nhân viên hải quan EU đã thu giữ 70% lượng hàng giả bị tịch thu trên thế giới
+ Áp dụng một khung quản lý rủi ro thống nhất của Châu Âu để xác định mục tiêu tốt hơn, ngăn chặn các loại hàng hóa gây rủi ro lớn ngay tại các cửa khẩu của khối Đây là nội dung có trong Bộ luật Hải quan hiện đại sửa đổi của cộng đồng;
+ Xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin với sự tham gia mật thiết của chủ
sở hữu quyền sở hữu trí tuệ: thiết lập một khuôn khổ trao đổi thông tin giữa Nhóm Làm việc Hải quan và Kinh doanh để chia sẻ những thông tin mật từ những chủ sở hữu sản phẩm tới các cảng biển và sân bay ở Châu Âu, bao gồm
cả những thông tin về xu hướng mới nhất trong làm giả hàng hóa;
+ Tăng cường củng cố các hành động hợp tác với các bên thứ ba, đặc biệt là các quốc gia cũng bị vấn nạn hàng giả đe dọa như Trung Quốc, Mỹ thông qua các hoạt động trao đổi thông tin tình báo về các lô hàng nguy hiểm
và xu hướng, cách thức mới nhất được sử dụng để làm giả hàng hóa
- Tự động hóa và đơn giản hóa thủ tục hải quan theo các quy tắc quy định tại các Hiệp định của WCO và WTO Trong giai đoạn 2003 - 2007, Liên minh Hải quan EU đã đầu tư hơn 100 triệu euro cho các dự án này, số Tờ khai hàng năm được xử lý lên tới hơn 20 triệu Các giải pháp cụ thể được sử dụng:
Trang 40+ Triển khai hệ thống NSTI (hệ thống tin học mới về quá cảnh) từ năm 2003 để xử lý các giao dịch thương mại
+ Thay thế 150 loại tờ khai khác nhau trước năm 1988 bằng một tài liệu duy nhất
- Hệ thống thuế quan EU:
+ Các nước thành viên áp dụng hệ thống thuế quan chung (Common Customs Tariff, gọi tắt là CCT) của EU Biểu thuế quan được xây dựng trên
cơ sở hệ thống hài hòa về mô tả và mã hàng hóa (HS - Harmonized sytem -
Hệ thống hài hòa):
(i) Thuế nhập khẩu:
Áp dụng chính sách thuế để phát triển các mặt hàng: Thuế suất được thiết kế phụ thuộc vào loại hàng và xuất xứ của hàng hóa nhập khẩu, dựa trên nguyên tắc: những mặt hàng trong nước chưa sản xuất được, hoặc sản xuất không đủ, hoặc cần thiết để phát triển những ngành sản xuất trong nước thì sẽ được miễn thuế hoặc hưởng thuế suất thấp; ngược lại, những mặt hàng trong nước đã sản xuất đủ hay để khuyến khích trong nước tự sản xuất thì sẽ phải chịu thuế suất cao Theo nguyên tắc này, hầu hết các nguyên liệu nhập vào
EU được miễn thuế nhập khẩu hoặc chịu thuế suất thấp, còn các mặt hàng nông sản thực phẩm phải chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt Cụ thể, các mặt hàng thịt, sản phẩm sữa, ngũ cốc, rau hoa quả chế biến và không chế biến chịu mức thuế cao nhất từ 0% đến 470,8%; Đối với hàng không phải nông sản,
có mức thuế từ 0% đến 36,6% Để tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và đẩy mạnh xuất khẩu, bên cạnh việc miễn thuế hoặc đánh thuế thấp, đối với các nguyên, phụ liệu, bán thành phẩm nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, EU còn cho phép được "treo thuế ", nghĩa là khi nhập nguyên liệu chỉ tính thuế chứ chưa phải đóng thuế Khi xuất hàng trở ra, sẽ tính toán bù trừ và doanh nghiệp chỉ phải đóng thuế phần nguyên liệu không dùng để làm hàng xuất khẩu
Chính sách thuế ưu đãi để phát triển một số ngành: như ngành công nghệ thông tin, ngành dược