Luận văn này nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ pháp lý trong tương quan so sánh với các quy định của WTO và một số nước trên thế
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
tăng thị thúy
pháp luật điều chỉnh quan hệ th-ơng mại dịch vụ pháp lý
việt nam trong t-ơng quan với quy định
của tổ chức th-ơng mại thế giới
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2008
Trang 2đại học quốc gia hà nội
khoa luật
tăng thị thúy
pháp luật điều chỉnh quan hệ th-ơng mại dịch vụ pháp lý
việt nam trong t-ơng quan với quy định của tổ chức th-ơng mại thế giới
Chuyên ngành : Luật quốc tế
Trang 31.1.3 Các quy định của WTO áp dụng với thương mại dịch vụ 21
1.2.1 Đặc điểm của dịch vụ pháp lý với tư cách là một loại hình
dịch vụ và những đặc điểm đặc biệt của dịch vụ pháp lý so
với các ngành dịch vụ khác
26
Trang 41.2.3 Chế độ pháp lý cơ bản áp dụng đối với dịch vụ pháp lý 29 1.3 Thực tiễn một số nước thành viên WTO về cam kết và thực
thi cam kết mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý
1.4 Quan hệ giữa các quy định của WTO với pháp luật quốc gia 47 1.4.1 Quan hệ giữa các thành viên của WTO với nhau và quan hệ
giữa các thành viên WTO với các nước/ vùng lãnh thổ
không là thành viên WTO
47
1.4.2 Quan hệ giữa các quy định của WTO và pháp luật quốc gia 48
Chương 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG
DỊCH VỤ PHÁP LÝ VIỆT NAM TRONG TƯƠNG QUAN VỚI QUY ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚi
50
2.1 Tổng quan pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động dịch vụ
pháp lý
50
2.1.1 Sơ lược các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động thương
mại dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
50
2.1.2 Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam điều chỉnh
quan hệ thương mại dịch vụ pháp lý
55
2.1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ thương
mại dịch vụ pháp lý trong tương quan với quy định của WTO
Trang 52.3.1 Nhận xét chung về dịch vụ pháp lý Việt Nam 66 2.3.2 Thực trạng hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ
pháp lý
67
2.3.3 Đánh giá thực trạng và khả năng trong việc hợp tác quốc tế 69
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT DỊCH VỤ PHÁP LÝ VIỆT NAM TRƯỚC YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại dịch
vụ pháp lý gắn với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế
80
3.2.2 Xây dựng hành lang pháp lý cho các quan hệ dịch vụ pháp
lý, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và sự phù hợp giữa
pháp luật dịch vụ pháp lý với pháp luật thương mại, pháp
luật tố tụng và với hệ thống pháp luật nói chung
81
3.2.3 Xây dựng hệ thống pháp luật về dịch vụ pháp lý đảm bảo sự
tương thích của pháp luật điều chỉnh dịch vụ pháp lý với các
chuẩn mực pháp lý thương mại quốc tế
82
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về dịch vụ pháp lý Việt Nam
đáp ứng yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thành viên WTO và hội
nhập kinh tế quốc tế
83
Trang 63.3.2 Giải pháp tăng năng lực hoạt động nghiệp vụ cho ngành
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Những năm gần đây, cùng với tiến trình mở cửa của đất nước và sự phát triển của kinh tế thị trường, nhu cầu về dịch vụ pháp lý ngày càng gia tăng Đội ngũ luật sư Việt Nam từng bước tăng nhanh về số lượng, nâng cao dần về chất lượng hành nghề Phạm vi các dịch vụ mà luật sư cung cấp ngày càng phong phú và đa dạng Nhiều văn phòng luật sư, công ty tư vấn pháp luật đã ra đời đang góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới
Việt Nam đang xây dựng một nhà nước pháp quyền và một nền kinh
tế thị trường, việc điều hành xã hội bằng pháp luật là vô cùng quan trọng Xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ xã hội và hệ thống pháp luật điều chỉnh
nó cũng trở nên phức tạp Sự tham gia, hỗ trợ của các luật sư sẽ góp phần tạo nên sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế - xã hội đất nước
Thời gian qua, kể từ sau khi Việt Nam ký Hiệp định Thương mại song phương với Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (BTA) và nhất là từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chúng ta đã chứng kiến những thay đổi lớn của dịch vụ pháp lý Việt Nam Nhà nước ta đã quan tâm hơn đến việc phát triển dịch vụ pháp lý, đến việc tạo hành lang pháp lý cho ngành dịch vụ này phát triển tương xứng với vị trí và vai trò của nó
Tuy nhiên, với những kết quả đạt được còn quá khiêm tốn, trong thời gian tới, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO với hàng loạt cam kết trong việc mở cửa thị trường, trong đó có thị trường dịch vụ pháp lý, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển ngành dịch vụ này Bởi vì trở thành thành viên của WTO, Việt Nam sẽ có cơ hội rất lớn trong việc hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển đất nước Song, cùng với đó sẽ là hàng loạt thách thức đòi hỏi chúng ta phải vượt qua, nhất là trong những năm đầu gia nhập
Trang 8Là một ngành dịch vụ có vai trò và vị trí quan trọng, dịch vụ pháp lý cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi những cam kết của Chính phủ Việt Nam khi gia nhập WTO
Hành nghề dịch vụ pháp lý là lĩnh vực hoạt động đặc thù so với các loại dịch vụ thông thường, bởi nó gắn với việc thực thi pháp luật, có tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của những người sử dụng dịch vụ cũng như hiệu quả quản lý nhà nước Việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài càng đòi hỏi người luật sư phải có trình độ chuyên môn cao, gắn với trách nhiệm trước pháp luật và trước khách hàng nước ngoài Thời gian qua, đội ngũ luật sư và các Văn phòng luật sư Việt Nam làm dịch vụ pháp lý liên quan đến kinh tế thương mại quốc tế đã trở thành chỗ dựa pháp lý đáng tin cậy của nhiều doanh nghiệp nước ngoài, giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các doanh nghiệp nước ngoài làm ăn tại Việt Nam thông qua việc quảng bá nền kinh
tế và pháp luật trong nước Mặc dù vậy, vẫn thiếu rất nhiều các Văn phòng luật
sư Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài, làm dịch vụ pháp lý liên quan đến kinh tế, thương mại quốc tế có uy tín, đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thực tiễn
Trong bối cảnh gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam
sẽ bùng phát những giao lưu thương mại Đây sẽ là cơ hội rất lớn đòi hỏi Việt Nam phải tăng cường đội ngũ luật sư cả về chất và lượng Giới luật sư Việt Nam cần chuẩn bị đón đầu thử thách và cơ hội này, đây là vấn đề cấp bách phục vụ trực tiếp về mặt chính trị Nếu xảy ra tranh chấp kinh tế thương mại quốc tế mà các luật sư chưa sẵn sàng, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ làm giảm sút niềm tin của đối tác, không chỉ ảnh hưởng đến uy tín của giới luật sư Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư và sự phát triển của nền kinh tế Bởi lẽ các doanh nghiệp của nước ngoài đến Việt Nam rất cần
có một môi trường pháp lý ổn định, cần có người tư vấn hỗ trợ pháp lý tin cậy
Do đó, nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống và tương đối toàn diện từ cả góc độ lý luận và luật thực định đối với các quy định của pháp luật
Trang 9Việt Nam và của WTO cũng như của một số nước thành viên của WTO trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý và liên hệ với kinh nghiệm của một số nước thành viên WTO là việc làm thiết thực trong giai đoạn hiện nay
Vì những lẽ trên, tác giả luận văn quyết định chọn đề tài "Pháp luật
điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ pháp lý Việt Nam trong tương quan với quy định của Tổ chức thương mại thế giới" làm luận văn thạc sĩ
với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh dịch vụ pháp lý Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, ở Việt Nam đã có một số dự án, công trình nghiên cứu về vấn đề pháp luật điều chỉnh dịch vụ pháp lý Đó là Đề tài nghiên cứu của PGS.TS Hoàng Phước Hiệp và đề tài của TS Nguyễn Văn Tuân thuộc Bộ Tư pháp Đây là hai Đề tài nghiên cứu chuyên biệt về lĩnh vực pháp luật điều chỉnh dịch vụ pháp lý của Việt Nam và các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới Những đề tài nghiên cứu nói trên, bên cạnh ý nghĩa là một công trình nghiên cứu khoa học, còn chủ yếu phục vụ mục đích nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về nghề dịch vụ pháp lý của Việt Nam trước thềm hội nhập
Luận văn này nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam điều chỉnh các hoạt động thương mại dịch vụ pháp lý trong tương quan so sánh với các quy định của WTO và một số nước trên thế giới Qua việc sưu tầm, khảo cứu và phân tích các quy định đó, cũng như thực tiễn hành nghề luật sư của Việt Nam và thế giới, từ đó rút ra những bài học thực tiễn và những kinh nghiệm để phát triển nghề dịch vụ pháp lý của Việt Nam, không chỉ trong lĩnh vực quản lý nhà nước, mà trong tất cả các lĩnh vực, từ lập pháp, lập quy, các chính sách và quan điểm chỉ đạo của Nhà nước đến việc tuyên truyền phổ biến để nâng cao chất lượng và vị thế của giới luật sư nói riêng, những người hành nghề dịch vụ pháp lý nói chung
Trang 103 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Việc nghiên cứu đề tài luận văn này nhằm các mục đích sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ về mặt lý luận các khái niệm về thương mại
dịch vụ, về dịch vụ pháp lý cũng như lý luận về hội nhập kinh tế quốc tế;
Thứ hai, làm sáng tỏ về thực trạng của dịch vụ pháp lý Việt Nam, nhất
là trong bối cảnh hội nhập WTO hiện nay;
Thứ ba, nắm được những quy định cụ thể của WTO điều chỉnh lĩnh
vực dịch vụ pháp lý và những tác động của các quy định đó đến các thành viên của WTO;
Thứ tư, tổng kết thực trạng pháp luật dịch vụ pháp lý Việt Nam, phân
tích rõ và đánh giá một cách khoa học về nguyên nhân của những thành tựu cũng như những hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ pháp lý của Việt Nam;
Thứ năm, đưa ra những đánh giá mang tính khoa học và toàn diện về
pháp luật về dịch vụ pháp lý Việt Nam trong tương quan với các quy định của WTO cũng như của một số quốc gia trên thế giới;
Thứ sáu, đưa ra những dự báo và phương hướng hoàn thiện pháp luật
về dịch vụ pháp lý của Việt Nam trong thời gian tới;
Thứ bảy, đề xuất các biện pháp tổng thể và chi tiết để phát triển dịch
vụ pháp lý trên cơ sở lý luận khoa học, thực tiễn ở nước ta và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới đối với vấn đề hoàn thiện pháp luật về dịch vụ pháp lý trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
* Nhiệm vụ:
Để thực hiện mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề sau:
Trang 11- Khái quát những vấn đề lý luận chung về WTO, về thương mại dịch
4 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các quy định và thông lệ của WTO cũng như các nước trên thế giới và Việt Nam điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ nói chung, dịch vụ pháp lý nói riêng
* Phạm vi nghiên cứu:
Để làm sáng tỏ nội dung của đề tài, tác giả luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
- Các quy định của WTO về thương mại dịch vụ và dịch vụ pháp lý;
- Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến dịch vụ pháp lý;
- Quy định của WTO về dịch vụ pháp lý;
- Pháp luật của một số nước thành viên WTO về dịch vụ pháp lý
- Pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý;
- Thực trạng ngành dịch vụ pháp lý Việt Nam;
Trang 12- Đề xuất các biện pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực của ngành dịch vụ pháp lý Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu về nghĩa vụ thành viên WTO và định hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
* Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp được sử dụng để nghiên cứu luận văn là phép biện chứng khoa học kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu,
so sánh, thống kê dựa trên các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế cũng như các nguồn tư liệu, sách báo, bài viết, các giáo trình của các học giả và nhà nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực thương mại dịch vụ pháp lý
5 Ý nghĩa của luận văn
* Ý nghĩa lý luận:
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề pháp luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ pháp lý Qua đây, tác giả muốn đưa ra cách tiếp cận vấn đề một cách lôgíc, toàn diện và khoa học, đồng thời tìm kiếm, phát hiện những điểm còn hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như những quy định, ràng buộc của WTO đối với Việt Nam, mạnh dạn đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về dịch
vụ pháp lý cũng như giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của ngành dịch vụ pháp lý Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
Trang 13- Tổng kết những thành tựu cũng như hạn chế của pháp luật điều chỉnh hoạt động dịch vụ pháp lý của Việt Nam;
- Dự báo sự phát triển của pháp luật về dịch vụ pháp lý Việt Nam trong thời gian tới;
- Đưa ra các giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật dịch vụ pháp lý Việt Nam và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của ngành dịch vụ pháp lý Việt Nam trong môi trường mới - môi trường hội nhập WTO
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về thương mại dịch vụ và dịch vụ pháp lý Chương 2: Pháp luật điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ pháp lý
Việt Nam trong tương quan với quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật dịch vụ
pháp lý, phát triển nghề dịch vụ pháp lý Việt Nam trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 14Dựa trên tính hữu hình của hàng hóa và tính vô hình của dịch vụ, có nhiều ý kiến xem xét dịch vụ là đối tượng của các quan hệ xã hội mà pháp luật cần điều chỉnh trong sự tương quan so sánh với hàng hóa Theo đó, dịch
vụ được định nghĩa là "bất cứ thứ gì mà khi bán nó không thể rơi vào chân bạn được"
Theo các tổ chức kinh tế quốc tế lớn, trong đó có Tổ chức thương mại
thế giới (WTO), "Dịch vụ là các sản phẩm đầu ra được tạo ra theo đặt hàng và chúng không thể được mua bán, tách biệt khỏi quá trình tạo ra chúng; các quyền sở hữu không thể được thiết lập trên các dịch vụ, và vào thời điểm quá trình tạo ra chúng được hoàn thành, dịch vụ được cung cấp ngay cho khách hàng tiêu dùng"
Cũng theo các tổ chức trên, có một số ngoại lệ so với các nội dung trong định nghĩa về dịch vụ nêu trên Đó là sự tồn tại của một số ngành được phân loại chung là các ngành dịch vụ mà một số sản phẩm đầu ra của các ngành này có các tính chất tương tự hàng hóa, như các ngành lưu trữ kho bãi, thông tin và truyền tin, tư vấn và giải trí theo nghĩa rộng
Trang 15Tại Việt Nam, các học giả và nhà nghiên cứu cũng đã đưa ra một số
định nghĩa về dịch vụ Trong bài viết "Thương mại dịch vụ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", GS.TS Hồ Văn Vĩnh - Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, tập hợp trong cuốn "Thời cơ và thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO" có đưa ra định nghĩa: "Dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể" [49, tr 557]
Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp và đưa ra các đặc trưng cơ bản của dịch vụ như sau:
Thứ nhất, dịch vụ là các sản phẩm vô hình Điểm đặc trưng này có ý
nghĩa quan trọng trong việc xác lập giao dịch cả dân sự và kinh tế khi dịch vụ
là đối tượng mua - bán Vì là vô hình nên sẽ không xác lập được quyền sở hữu trên dịch vụ, không có quyền định đoạt dịch vụ nhưng lại có quyền sử dụng dịch vụ Đây cũng là các đặc trưng mà các nhà khoa học pháp lý cũng như các nhà làm luật và hoạch định chính sách phải xem xét kỹ trước khi đưa
ra các quan điểm của mình Nó cũng đòi hỏi cách tiếp cận và điều chỉnh riêng khi đề cập đến các quan hệ dân sự, kinh tế thương mại mà đối tượng của quan
hệ đó là dịch vụ
Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất, không tiêu chuẩn hóa được
Quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động cung ứng dịch vụ sẽ có các đặc trưng riêng biệt, khi chúng ta xem xét dưới góc độ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong mối quan hệ này Đó là việc một bên thỏa thuận với bên kia để thực hiện một công việc nào đó cho mình, Bên cung ứng dịch
vụ thực hiện công việc thỏa thuận và nhận tiền Thước đo để đánh giá quan hệ cung ứng dịch vụ hoàn thành hay không phụ thuộc vào mức độ hài lòng của bên cung ứng dịch vụ và quá trình thực hiện công việc của bên cung ứng dịch
vụ Điều này cũng đòi hỏi một sự điều chỉnh thích hợp của pháp luật đối với các giao dịch dịch vụ, các biện pháp chế tài liên quan cũng như các biện pháp
Trang 16để thực hiện đúng các cam kết của các bên trong các quan hệ dịch vụ Điều quan trọng nhất là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình dịch vụ Với tính chất này, các quy định về chất lượng hàng hóa, bảo quản hàng hóa, quy cách sản phẩm trong thương mại hàng hóa không áp dụng được trong thương mại dịch vụ
Thứ ba, dịch vụ có tính không tách rời, tức là quá trình cung cấp dịch
vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Đặc trưng này quyết định thời điểm phát sinh, hoàn thành các giao dịch cung cấp - sử dụng dịch vụ Nói cách khác, quan hệ cung cấp dịch vụ là quan hệ liên tục từ khi phát sinh yêu cầu đến khi kết thúc quan hệ Nó cũng quyết định tính chất của các giao dịch đặc thù mà chỉ riêng lĩnh vực dịch vụ mới có và qua đó đòi hỏi pháp luật phải có cách nhìn nhận riêng, quy định riêng đối với các quan hệ xã hội lấy dịch vụ làm đối tượng Dưới góc độ pháp lý, đặc trưng trên quyết định một loạt các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình dịch vụ, đó là: quyết định thời điểm phát sinh và kết thúc quan hệ; quyết định hình thức của các giao dịch; quyết định các quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể; quyết định các phương thức giao dịch và kinh doanh dịch vụ
Thứ tư, dịch vụ không lưu kho bãi được Xét dưới góc độ pháp lý, dịch
vụ không lưu kho bãi, không lưu trữ, không tồn kho, không thể mua đi bán lại giống như đối với các hàng hóa hữu hình Điều này quyết định sự khác biệt trong quy định của pháp luật về quyền đối với tài sản
Theo TS Lê Thiền Hạ trong bài nghiên cứu "Bàn về khái niệm Dịch vụ", trong cuốn "Thương mại Việt Nam 20 năm đổi mới" [34, tr 277-278],
hoạt động dịch vụ có các đặc điểm sau:
- Dịch vụ là một ngành kinh tế;
- Dịch vụ có đối tượng và phạm vi hoạt động rất rộng;
- Sản xuất dịch vụ tạo ra dịch vụ là hàng hóa đặc biệt Hàng hóa dịch
vụ có thể là vô hình hoặc hữu hình, nhưng chủ yếu là vô hình;
Trang 17- Dịch vụ là hàng hóa nên có giá trị và giá trị sử dụng;
- Hàng hóa dịch vụ cũng tuân theo quy luật giá trị và quan hệ cung cầu;
- Hàng hóa dịch vụ có quan hệ mật thiết với hàng hóa thông thường (những hàng hóa do sản xuất nông nghiệp và sản xuất công nghiệp tạo ra);
Nếu dịch vụ là hàng hóa vô hình thì có những đặc tính sau đây:
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời (được tiêu thụ ngay tại nơi sản xuất);
- Cũng vì vậy, dịch vụ không được đưa ra mua bán, trao đổi, chuyển nhượng hoặc đầu cơ được và cũng không thể lưu giữ được
Trên thực tế chúng ta gặp rất nhiều dịch vụ vô hình những rất hiếm gặp các dịch vụ hữu hình
Như vậy, dịch vụ là một loại hàng hóa đặc biệt, có tính không hiện hữu; quá trình cung ứng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, dịch vụ không lưu kho bãi được
Dưới góc độ pháp lý, dịch vụ là đối tượng của các quan hệ mua bán, trao đổi, làm phát sinh các mối quan hệ dân sự và kinh tế giữa các chủ thể tham gia Do dịch vụ có các đặc thù riêng, vì vậy cần có chế định pháp lý riêng điều chỉnh nhóm quan hệ cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, không giống như đối với hàng hóa
1.1.1.2 Vai trò của dịch vụ trong sự phát triển kinh tế
Dịch vụ có vai trò quan trọng, và ngày càng gia tăng trong hoạt động kinh tế của các quốc gia
Mặc dù, do có sự khác biệt về trình độ phát triển, vị trí địa lý hay tiềm năng tài nguyên, v.v , giữa các nước có sự khác nhau về mô hình sản xuất và công ăn việc làm Tuy nhiên, các nhà kinh tế đã xác định được xu hướng chung, đó là sự phát triển và gia tăng ngày càng mạnh mẽ của dịch vụ như là một nguồn hoạt động kinh tế
Trang 18Có thể đưa ra một số ví dụ về sự gia tăng tỷ trọng ngành dịch vụ trong nền kinh tế của một số nước, đó là Trung Quốc, từ 33% năm 2002 tăng lên 40% vào năm 2007 Ở các nước phát triển, tỷ trọng ngành dịch vụ luôn cao hơn nhiều so với các ngành công nghiệp và nông nghiệp, và cao hơn nhiều so với các nước đang và chậm phát triển
Theo thống kê của Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) tỷ trọng ngành dịch vụ của một số nước năm 2007 như sau:
Bảng 1.1: Tỷ trọng ngành dịch vụ của một số nước năm 2007
(Nguồn: Cục Tình báo trung ương Hoa Kỳ, 2008) [56]
Sự phát triển của ngành dịch vụ là do nhiều yếu tố Một trong những
lý do là sự gia tăng về thu nhập làm kích thích cầu dịch vụ Khi người dân giàu hơn, nhu cầu tiêu thụ dịch vụ của họ cũng tăng, nhất là các ngành dịch vụ chất lượng cao như du lịch, giáo dục và y tế Đồng thời, việc tăng năng suất ở nhiều ngành dịch vụ lại thấp hơn so với ngành công nghiệp và nông nghiệp hiện đại Cùng với hàng loạt các vấn đề khác đưa đến thực tế là: thay thế vốn cho lao động trong kinh doanh dịch vụ sẽ khó khăn hơn trong các ngành khác Đổi lại, điều này dẫn đến giá cả của nhiều dịch vụ truyền thống tăng tương đối nhanh hơn giá cả hàng hóa [46, tr 1]
Ở Việt Nam, dịch vụ chiếm trên 38% GDP, thấp hơn tỷ trọng trung bình của các nước có thu nhập thấp (44%) Tuy nhiên, theo các số liệu của Ngân hàng thế giới công bố, cho thấy GDP của khu vực dịch vụ là nhân tố tăng trưởng nhanh nhất trong toàn GDP của các nền kinh tế có thu nhập thấp
Trang 19và trung bình Ngoài ra, một tỷ trọng đáng kể người lao động ở các nước đang phát triển làm việc trong khu vực dịch vụ, trong đó ở Việt Nam là khoảng 25% [36, tr 43]
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê và tính toán của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương - Bộ Kế hoạch và đầu tư đưa ra trong Báo cáo Dự án VIE/02/009 về "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quản quản
lý nhà nước đối với các ngành dịch vụ" [69, tr42], đóng góp của ngành dịch
vụ trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam và của từng ngành dịch vụ cụ thể được thể hiện trong bảng sau:
Bảng 1.2: Tăng trưởng giá trị tăng thêm và đóng góp của từng ngành dịch vụ vào tăng trưởng của ngành dịch vụ 2001 - 2004 (%)
6,54 6,58 7,62 3,90
6,45 6,30 7,82 5,25
7,47 7,58 7,66 5,91
Đóng góp vào tốc độ tăng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ theo điểm phần trăm
6,54 5,15 1,12 0,27
6,45 4,94 1,16 0,36
7,47 5,93 1,15 0,40
Đóng góp vào tốc độ tăng giá trị gia tăng của khu vực dịch vụ theo tỷ lệ %
100,00 78,73 17,07 4,20
100,00 76,49 17,93 5,58
100,00 79,28 15,36 5,36
Nguồn: Tổng cục Thống kê và Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Trang 20Từ những phân tích trên cho thấy dịch vụ đóng một vai trò quan trọng đáng kể và ngày càng tăng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia và của nền kinh tế toàn cầu
1.1.1.3 Phân ngành dịch vụ
Trước khi WTO được thành lập, các hệ thống phân loại phổ biến trên thế giới chủ yếu tập trung vào đối tượng là các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các sản phẩm hàng hóa hữu hình Theo đó, hai hệ thống phân loại cơ bản nhất được các quốc gia và các tổ chức kinh tế quốc tế trên thế giới thừa nhận
và sử dụng là Hệ thống phân loại theo tiêu chuẩn công nghiệp quốc tế (International Standard Industrial Classification - ISIC) và Phân loại các sản phẩm chủ yếu (Central Product Classification - CPC) của Ủy ban thống kê Liên hợp quốc Hai hệ thống phân loại này đang được Liên hợp quốc tiếp tục hoàn thiện để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn sinh động của hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế
Năm 1995, cùng với sự ra đời và mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên toàn thế giới của Tổ chức thương mại thế giới WTO, các ngành dịch vụ được phân loại dựa trên các quy định trong Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ - GATS
Nhìn chung, cách phân loại các ngành dịch vụ của WTO cũng dựa theo CPC, đó là căn cứ nguồn gốc ngành kinh tế Theo đó, dịch vụ được phân thành
12 ngành, bao gồm tất cả các ngành dịch vụ được trao đổi nhằm mục đích thương mại Những ngành được cung cấp để phục vụ cho mục đích sử dụng của Chính phủ không thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS hay của WTO Mỗi ngành dịch vụ lại được chia thành các phân ngành nhỏ, trong các phân ngành
có liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể Tổng số có 155 phân ngành như vậy
Có một thực tế là trong khi tất cả các ngành dịch vụ này có thể đều được đưa vào bảng cam kết của các thành viên của WTO thì chỉ những ngành được các thành viên của WTO lựa chọn và đưa vào biểu cam kết khi gia nhập WTO mới thực sự có giá trị ràng buộc đối với các thành viên đó
Trang 21WTO phân chia dịch vụ thành 12 ngành như sau:
- Các dịch vụ kinh doanh (bao gồm Các dịch vụ chuyên ngành; Các dịch vụ liên quan đến máy tính; Các dịch vụ nghiên cứu và triển khai);
vụ xây dựng và kỹ sư công trình khác);
- Các dịch vụ phân phối (Các dịch vụ của đại lý hoa hồng, Các dịch
vụ thương mại bán buôn, Dịch vụ bán lẻ, Dịch vụ nhượng quyền kinh doanh, Các dịch vụ phân phối khác);
- Các dịch vụ giáo dục (Dịch vụ giáo dục tiểu học, Dịch vụ giáo dục trung học, Dịch vụ giáo dục đại học, Dịch vụ giáo dục người lớn, Các dịch vụ giáo dục khác);
- Các dịch vụ môi trường (Dịch vụ thoát nước, Dịch vụ thu gom rác, Dịch vụ vệ sinh, Các dịch vụ môi trường khác);
- Dịch vụ tài chính (tất cả các dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, Các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (không kể bảo hiểm), Các dịch vụ tài chính khác);
- Các dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khỏe (Các dịch vụ bệnh viện, Các dịch vụ y tế khác, Các dịch vụ xã hội, Các dịch vụ khác);
- Các dịch vụ du lịch và lữ hành (khách sạn và nhà hàng, các đại lý lữ hành và các dịch vụ hướng dẫn tour, các dịch vụ hướng dẫn du lịch, các dịch
vụ du lịch và lữ hành khác);
Trang 22- Các dịch vụ văn hóa và giải trí (các dịch vụ giải trí, các dịch vụ bán báo, thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các dịch vụ văn hóa khác, thể thao và các dịch vụ giải trí khác, các dịch vụ văn hóa và giải trí khác);
- Các dịch vụ vận tải (các dịch vụ vận tải biển, vận tải đường thủy nội địa, các dịch vụ vận tải đường hàng không, vận tải vũ trụ, các dịch vụ vận tải đường sắt, các dịch vụ vận tải đường bộ, vận tải theo đường ống dẫn, các dịch
vụ phụ trợ cho tất các loại vận tải, các dịch vụ vận tải khác)
- Các dịch vụ khác không có tên ở trên
Theo quy định của WTO, trong mỗi nhóm ngành đều có mục "các dịch vụ khác", đặc biệt trong nhóm ngành thứ 12, là "các dịch vụ khác không
có tên ở trên" Việc liệt kê tất cả các loại hình dịch vụ có khả năng tham gia vào thương mại quốc tế là điều rất khó bởi sự đa dạng, phong phú và tính chất phức tạp của dịch vụ Việc quy định như trên giúp cho việc sắp xếp, phân loại dịch vụ vào các ngành và phân ngành được dễ dàng đồng thời tạo tính mở cho danh mục Bất kỳ dịch vụ nào đang tồn tại hoặc các dịch vụ mới sẽ xuất hiện trong tương lại, dù không được liệt kê trong danh mục của WTO cũng sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS nếu những dịch vụ này được cung cấp trên cơ sở thương mại, cạnh tranh và theo một trong bốn phương thức được quy định tại Điều 1 của GATS
1.1.2 Thương mại dịch vụ
1.1.2.1 Khái niệm Thương mại dịch vụ
Thương mại dịch vụ là khái niệm chỉ các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụ Khái niệm về dịch vụ nhấn mạnh khía cạnh thương mại trong lĩnh vực dịch vụ Với cách hiểu này, người ta thường phân biệt thương mại dịch vụ với thương mại hàng hóa Nếu như đối tượng mua bán trong thương mại hàng hóa là hàng hóa - các sản phẩm hữu hình thì trong Thương mại dịch vụ, đối tượng mua bán lại là dịch vụ - các sản phẩm vô hình
Trang 23Dưới góc độ kinh tế, thương mại dịch vụ được hiểu là việc sản xuất, phân phối tiếp thị, cung ứng, mua bán, tiêu dùng và đầu tư vào các hoạt động dịch vụ Nói cách khác, thương mại dịch vụ là tất cả các hoạt động liên quan đến việc đầu tư, tạo ra dịch vụ Việc phân phối, trao đổi, mua bán, kinh doanh dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận đều được coi là hoạt động thương mại dịch vụ
Đến nay, khái niệm thương mại dịch vụ đã trở nên rất phổ biến trong thương mại quốc tế, trong các hiệp định song phương và đa phương Tuy nhiên, do chưa có định nghĩa thống nhất về dịch vụ, vì vậy có thể định nghĩa một cách tương đối như sau:
Thương mại dịch vụ bao gồm những hoạt động để đầu tư, tạo ra dịch
vụ, các hoạt động đưa dịch vụ vào lưu thông, mang dịch vụ đến người tiêu dùng nhằm mục đích thu lợi nhuận của phía thương nhân là nhà cung cấp dịch
vụ TMDV cũng bao gồm các hoạt động tiêu dùng dịch vụ của bên khách hàng, các hành vi nêu yêu cầu và cách thức thụ hưởng dịch vụ Đồng thời nó cũng bao hàm các hoạt động của nhà nước nhằm đảm bảo duy trì mối quan hệ giữa nhà cung cấp và người tiêu dùng, trong mối tương quan chung với nhà nước và các thiết chế xã hội trong một trật tự pháp luật nhất định phù hợp với thông lệ quốc tế, tức là nó cũng sẽ bao gồm các hoạt động xây dựng, ban hành các luật, quy định về TMDV để tạo môi trường pháp lý cho hoạt động thương mại dịch vụ; việc thực hiện các quy định đó và cả cơ chế đảm bảo thực hiện
Ở Việt Nam, tại Luật thương mại năm 2005 có quy định: "Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác" [19, Điều 3] Luật thương mại năm 2005 đưa ra một định nghĩa rộng về Thương mại dịch vụ song lại chưa quy định một cách rõ ràng,
cụ thể "Thương mại dịch vụ" là gì Hành vi "cung ứng dịch vụ" chỉ là một trong những hành vi thương mại cơ bản trong thương mại dịch vụ
Trang 24Theo quy định của pháp luật Việt Nam, cho đến nay mới chỉ có các quy định liên quan đến việc điều chỉnh các dịch vụ thương mại, được nêu trong Bộ luật dân sự, Luật thương mại Các luật chuyên ngành chỉ đề cập đến lĩnh vực dịch vụ riêng của ngành đó mà chưa có văn bản nào quy định về khái niệm thương mại dịch vụ Trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, trong đó nổi bật là Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ (BTA) và các Biểu cam kết dịch vụ giữa Việt Nam và các nước thành viên WTO có các quy định cụ thể về thương mại dịch vụ trên cơ sở tuân thủ các quy định của WTO
1.1.2.2 Vấn đề tự do hóa thương mại dịch vụ
* Khái niệm tự do hóa thương mại dịch vụ
Cho đến nay, chưa có một khái niệm chuẩn xác và thống nhất về tự do hóa thương mại nói chung cũng như tự do hóa thương mại dịch vụ Tuy nhiên, khi nói đến cụm từ "tự do hóa thương mại", ai cũng hiểu rằng đó là việc dỡ bỏ các rào cản của việc lưu thông thương mại hàng hóa cũng như dịch vụ giữa các nước, các vùng lãnh thổ với nhau
Theo định nghĩa được nêu ra trong Bách khoa toàn thư mở wikipedia.org,
tự do hóa thương mại được định nghĩa là "một hệ thống trong đó thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia hoặc trong một quốc gia được lưu thông không bị cản trở bởi các chính sách hạn chế của chính phủ" ("Free trade is a
system in which the trade of goods and services between or within countries flows unhindered by government-imposed restrictions") [73]
Như vậy, có thể nói "tự do hóa thương mại dịch vụ" chính là việc dỡ bỏ các chính sách hạn chế của chính phủ hay nhà cầm quyền đối với việc lưu thông của thương mại dịch vụ giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ
* Đòi hỏi của việc tự do hóa thương mại dịch vụ
Xuất phát từ thực tế dịch vụ dịch chuyển tự do từ nước này sang nước khác, dẫn đến sự phân công lao động ngày càng sâu sắc và diễn ra trên phạm vi
Trang 25toàn thế giới Thực tế đó ảnh hưởng đến chính sách thương mại và đầu tư của các quốc gia Vấn đề đặt ra cho các quốc gia là sẽ tham gia vào hay đứng ngoài quá trình toàn cầu hóa Và các quốc gia đều thừa nhận một thực tế chung là: tham gia vào toàn cầu hóa tuy thách thức rất lớn, song cơ hội cũng rất nhiều Không tham gia vào tiến trình ấy sẽ bị phân biệt đối xử trong tiếp cận thị trường,
sẽ rất khó khăn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa Mặt khác, quốc gia nào không tham gia vào quá trình toàn cầu hóa sẽ không có địa vị bình đẳng trong việc bàn thảo và xây dựng định chế của nền thương mại thế giới, không có điều kiện để đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình
Thực tế đó buộc các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới tham gia vào thị trường thương mại phải tính đến vấn đề mở cửa thị trường, trong đó
có việc mở cửa thị trường dịch vụ
Số liệu thống kê cho thấy có một mối liên hệ không thể phủ nhận giữa tự
do hóa thương mại và tăng trưởng kinh tế Tất cả các nước, kể cả các nước nghèo đều có những nguồn lực như nhân lực, công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên, tài chính mà họ có thể khai thác để sản xuất hàng hóa và dịch vụ phục vụ thị trường nội địa hoặc nước ngoài Nguyên tắc "lợi thế so sánh" chỉ ra rằng các nước làm giàu trước tiên bằng cách tận dụng các nguồn lực sẵn có để tập trung sức lực vào những lĩnh vực mà họ có điều kiện sản xuất tốt nhất, tiếp đến bằng cách trao đổi những sản phẩm này lấy những sản phẩm mà những nước khác có thể sản xuất với những điều kiện tốt nhất
Nói cách khác, chính sách thương mại tự do hay chính sách đảm bảo cho hàng hóa và dịch vụ tự do lưu thông là làm gia tăng cạnh tranh, khuyến khích khả năng sáng tạo và tạo ra thành công Chính sách thương mại tự do này giúp người ta thu được thêm nhiều lợi nhuận từ việc sản xuất ở điều kiện tốt nhất, với
kế hoạch hoàn hảo nhất và giá thành thấp nhất
Bảo hộ làm cho các nhà sản xuất trong nước trở nên cồng kềnh, không hiệu quả, cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm lỗi thời hoặc kém hấp dẫn Và cuối cùng, mặc dù được nhà nước bảo hộ và trợ cấp, các nhà máy vẫn
Trang 26phải đóng cửa và cắt giảm việc làm Nếu chính phủ các nước khác trên thế giới cũng áp dụng những chính sách tương tự thì thị trường sẽ bị thu hẹp và hoạt động kinh tế thế giới sẽ trở nên trì trệ Một trong những mục tiêu mà chính phủ các nước theo đuổi tại các cuộc đàm phán của WTO là ngăn chặn để không bị trượt vào cái dốc bảo hộ, vốn được xem là một biện pháp đi ngược lại với mục đích mà các quốc gia thành viên đang tìm kiếm
Tác động của các chính sách tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế của các quốc gia
Bên cạnh những tác động tích cực của tự do hóa thương mại dịch vụ, theo đó được coi như là các đòi hỏi tất yếu của việc tự do hóa thương mại dịch vụ, thì tự do hóa thương mại dịch vụ còn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là có những tác động không tốt tới sự phát triển kinh tế Điển hình trong số đó có nhà kinh tế học J.E Stiglitz [59]
Stiglitz cho rằng những người cổ vũ cho tự do trao đổi, ở WTO và các định chế quốc tế khác, vận dụng thô thiển một kết luận của học thuyết cổ điển
và tân cổ điển về mậu dịch quốc tế, theo đó "tự do hóa thương mại mang phúc lợi đến cho mọi nước" Điều mà họ lờ đi là kết luận này của Ricardo trong thuyết về lợi thế so sánh, được công thức hóa sau đó với mô hình Hecksher - Ohlin - Samuelson, tùy thuộc vào nhiều giả định, trong đó Stiglitz nhấn mạnh đến giả thuyết về thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mà đặc điểm là không có thất nghiệp và không có bất trắc
Stiglitz đưa ra hai ví dụ là trường hợp của Trung Quốc và Mêhicô: Trung Quốc, nước hội nhập thành công vào hệ thống thương mại quốc tế với chiến lược riêng, không theo chỉ dẫn của đồng thuận Washington Trong chiến lược phát triển của Bắc Kinh, "tự do hóa thương mại không hề là nguyên nhân của tăng trưởng": nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng nhanh vào cuối thập niên năm 70; tự do hóa thương mại khởi đầu vào cuối thập niên 80 và chỉ thật sự vận động trong thập niên 90, tức là sau khi tăng trưởng kinh tế đã tăng
Trang 27tốc mạnh Mêhicô, nước tham gia Hiệp định tự do trao đổi Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994 Mười năm sau, nền kinh tế Mêhicô tăng trưởng thấp hơn những thập niên trước (giai đoạn 1948-1973), tiền lương bình quân thực tế giảm, đói nghèo tăng; khu vực tăng trưởng cao nhất, là công nghiệp, mất một phần ba
số việc làm so những năm đầu của hiệp định Qua việc phân tích hai ví dụ trên, theo Stiglitz, một trong số các bài học có thể được rút ra từ kinh nghiệm này là: "Tự do hóa thương mại, tự nó, không đảm bảo tăng trưởng kinh tế" [59]
Ở Việt Nam, việc mở cửa thị trường đã được đặt ra ngay khi nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới Mức độ mở cửa thị trường ngày càng tăng dần theo xu thế chung và dựa trên trình độ phát triển thực tế của nền kinh tế đất nước Thời gian đầu mở cửa, chúng ta gặp không ít khó khăn
Mở cửa buôn bán biên giới với Trung Quốc, hàng hóa nước bạn tràn vào đẩy doanh nghiệp nước ta vào thế bị động, một số ngành sản xuất gặp rất nhiều khó khăn, một số doanh nghiệp phải giải thể Tuy nhiên với thời gian, các doanh nghiệp nước ta đã vươn lên, trụ vững và đã có bước phát triển mới Nhiều doanh nghiệp đã đổi mới công nghệ sản xuất, cải tiến kiểu dáng, mẫu
mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhờ đó mà tăng được sức cạnh tranh, phát triển được sản xuất, mở rộng được thị trường [58, tr 4]
Từ các phân tích trên có thể thấy tự do hóa thương mại dịch vụ có những tác động tích cực cũng như còn tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng các giao lưu thương mại quốc tế, dù thế nào, việc mở cửa thị trường cũng là đòi hỏi bắt buộc đối với bất kỳ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào muốn tham gia vào sân chơi chung của thị trường thế giới
1.1.3 Các quy định của WTO áp dụng với thương mại dịch vụ
1.1.3.1 Quy định chung
Theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới, thương mại dịch vụ quốc tế được định nghĩa là sự cung cấp dịch vụ từ một lãnh thổ của một thành
Trang 28viên đến lãnh thổ của bất kỳ một thành viên nào khác; trên lãnh thổ của một thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ một thành viên nào khác; bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác; hoặc bởi một người cung cấp dịch vụ của một thành viên thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ thành viên nào khác [28, tr 1]
Các phương thức cung cấp dịch vụ là cách thức mà nhà cung cấp dịch
vụ và người tiêu dùng dịch vụ và người tiêu dùng dịch vụ sử dụng để cung ứng, trao đổi, mua bán, tiêu dùng dịch vụ
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - GATS- quy định 4 phương thức cung cấp dịch vụ trong giao dịch thương mại dịch vụ quốc tế, đó là:
- Phương thức 1: cung cấp dịch vụ qua biên giới (Cross-border supply
of services): được hiểu là việc một nhà cung ứng dịch vụ của nước này cung ứng dịch vụ cho khách hàng ở một nước khác (chẳng hạn các cuộc gọi điện thoại quốc tế);
- Phương thức 2: Tiêu dùng ngoài lãnh thổ (consumption aboard): được hiểu là việc người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp sử dụng dịch vụ tại một nước khác với nước của người cung cấp dịch vụ (ví dụ như dịch vụ du lịch…);
- Phương thức 3: Hiện diện thương mại (Commercial Presence): được hiểu là doanh nghiệp nước ngoài lập chi nhánh hoặc công ty con tại một nước khác nhằm cung ứng dịch vụ tại nước đó (ví dụ các giao dịch của ngân hàng nước ngoài tại một nước…);
- Phương thức 4: Hiện diện thể nhân (Presence of Nature Person): là việc các cá nhân rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ tại một nước khác (ví dụ như hoạt động của người mẫu thời trang hoặc các nhà tư vấn…)
Các thương nhân của các quốc gia thường dựa trên tính khả thi về công nghệ và những hàng rào thương mại ở mỗi phương thức để lựa chọn phương thức cung cấp dịch vụ
Trang 29Mặt khác, các phương thức dịch vụ khác nhau cũng được lựa chọn căn cứ vào loại dịch vụ khác nhau Ví dụ: Phương thức tiêu dùng ngoài lãnh thổ thường được sử dụng phổ biến trong dịch vụ tư vấn du học; phương thức hiện diện thể nhân được sử dụng phổ biến trong dịch vụ tư vấn kỹ thuật hoặc dịch vụ pháp lý…
1.1.3.2 Các nguyên tắc áp dụng
Giống như trong thương mại hàng hóa, các nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đặt ra các nguyên tắc áp dụng đối với thương mại dịch vụ Các nguyên tắc đó bao gồm:
Nguyên tắc tối huệ quốc
Theo các Hiệp định của WTO, về nguyên tắc, các quốc gia không thể phân biệt đối xử với các đối tác thương mại của mình Nếu một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trao cho một nước nào đó một đặc quyền thương mại (ví dụ như giảm thuế nhập khẩu đối với một trong số sản phẩm của nước này) thì quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đó cũng phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên còn lại của WTO Nguyên tắc này được áp dụng ngay cả khi một nước không đưa ra cam kết cụ thể nào về mở cửa thị trường của mình cho các công ty nước ngoài trong khuôn khổ WTO
Đây là nguyên tắc quan trọng trong thương mại quốc tế Nó được qui định ngay tại điều đầu tiên của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại GATT, và cũng là điều khoản ưu tiên của các Hiệp định khác của WTO, như tại điều 2 của Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS), Điều 4 của Hiệp định về những vấn đề của quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPs)
Đối với bất kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi Thành viên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác, sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử
mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ
Trang 30tương tự của bất kỳ nước nào khác Các Thành viên có thể duy trì biện pháp không phù hợp với quy định tại khoản 1 của Điều này, với điều kiện là biện pháp đó phải được liệt kê và đáp ứng các điều kiện của Phụ lục về các ngoại lệ đối với Điều II [26, tr 2]
Điều khoản tối huệ quốc được áp dụng cho tất cả các loại dịch vụ, nhưng các nước được phép tạm thời miễn áp dụng điều khoản này đối với một
số ngành đặc biệt Lý do là trước khi GATS có hiệu lực, một số nước đã ký trước đó với các đối tác thương mại những hiệp định ưu đãi về dịch vụ, trong khuôn khổ song phương hoặc giữa một nhóm nước nhất định Các thành viên của WTO cho rằng cần duy trì các ưu đãi này trong một khoảng thời gian nhất định Vì vậy, các nước tự dành quyền tiếp tục đối xử ưu đãi hơn đối với một số nước nào đó trong một lĩnh vực dịch vụ nhất định bằng cách liệt kê các "ngoại lệ đối với nghĩa vụ MFN" đồng thời với các cam kết ban đầu của mình Để bảo vệ nguyên tắc tối huệ quốc, các nước đã quyết định ngoại lệ chỉ được chấp nhận một lần duy nhất và không được bổ sung thêm Hiện nay các ngoại lệ đang được xem xét lại như đã quy định và về nguyên tắc thời hạn của chúng là 10 năm
Nguyên tắc minh bạch:
Đây cũng là một trong những nguyên tắc quan trọng của thương mại dịch vụ theo quy định của GATS Theo đó, các thành viên của GATS phải công bố tất cả các luật, quy định xác đáng và thiết lập các điểm thông tin trong các cơ quan hành chính của mình Từ các điểm thông tin này, các công
ty và chính phủ nước ngoài có thể lấy thông tin liên quan đến các qui định điều chỉnh ngành dịch vụ này hay ngành dịch vụ khác Các nước thành viên cũng phải thông báo cho WTO tất cả những thay đổi về quy định điều chỉnh các ngành dịch vụ là đối tượng của các cam kết cụ thể
Các thành viên phải nhanh chóng công bố mọi biện pháp có liên quan hoặc tác động đến việc thi hành Hiệp định này, chậm nhất trước khi các biện pháp đó có hiệu lực thi hành, trừ những trường
Trang 31hợp khẩn cấp Những Hiệp định quốc tế có liên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ mà các Thành viên tham gia cũng phải được công bố [26, tr 3]
Nguyên tắc đối xử (đãi ngộ) quốc gia:
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia đòi hỏi sự đối xử bình đẳng giữa dịch vụ nước ngoài và dịch vụ nội địa Nguyên tắc này không chỉ được áp dụng đối với lĩnh vực dịch vụ mà còn được áp dụng trong lĩnh vực hàng hóa, thương hiệu, bản quyền, bằng sáng chế
Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, nguyên tắc đối xử quốc gia chỉ được áp dụng khi một dịch vụ đã gia nhập vào thị trường
Trong những lĩnh vực được nêu trong Danh mục cam kết, và tùy thuộc vào các điều kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Danh mục đó, liên quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của mình Một thành viên có thể đáp ứng những yêu cầu quy định tại khoản 1 bằng cách dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch
vụ của bất kỳ một Thành viên nào khác một sự đối xử tương tự về hình thức hoặc sự đối xử khác biệt về hình thức mà thành viên đó dành cho dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của mình [26, tr 19]
Một số nguyên tắc, ngoại lệ khác
Quy tắc Tiếp cận thị trường (Market Access) được quy định tại Điều XVI - GATS, theo đó, không chỉ yêu cầu các thành viên WTO đối xử ngang bằng giữa công ty nước ngoài với công ty nội địa mà còn ngăn cấm các thành viên WTO đưa ra một số hạn chế hoặc áp dụng một số chính sách đối với hoạt động cung cấp dịch vụ nước ngoài trong một số ngành Các quy tắc tiếp cận
Trang 32thị trường của GATS quy định chính quyền trung ương và địa phương không được phép thực hiện các biện pháp sau:
Thứ nhất, hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ, thông qua hạn
ngạch, các tổ chức độc quyền, các cuộc điều tra nhu cầu kinh tế hoặc các hợp đồng cung cấp dịch vụ độc quyền;
Thứ hai, hạn chế tổng giá trị giao dịch dịch vụ hoặc tài sản, thông qua
hạn ngạch hoặc các cuộc điều tra nhu cầu kinh tế;
Thứ ba, hạn chế tổng số dịch vụ được thực hiện hoặc tổng số lần thực
hiện một dịch vụ;
Thứ tư, hạn chế số lượng người có thể được thuê mướn trong một
ngành dịch vụ cụ thể;
Thứ năm, thiết lập chính sách hạn chế hoặc đòi hỏi về hình thức thực
thể pháp lý đặc biệt hoặc hình thức liên doanh, trên cơ sở đó mới cho phép nhà cung cấp dịch vụ hoạt động;
Thứ sáu, hạn chế sở hữu nước ngoài thông qua giới hạn phần trăm tối
đa hoặc tổng giá trị
"Tiếp cận thị trường" là một trong những nội dung quan trọng trong các cam kết về dịch vụ của các thành viên WTO, thông qua đó các nước thành viên WTO đưa ra các rào cản hoặc hạn chế đối với việc cung cấp dịch vụ tại nước mình
1.2 LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA WTO VÊ DỊCH VỤ PHÁP LÝ
1.2.1 Đặc điểm của dịch vụ pháp lý với tƣ cách là một loại hình dịch vụ và những đặc điểm đặc biệt của dịch vụ pháp lý so với các ngành dịch vụ khác
Theo quy định của WTO, dịch vụ pháp lý được định nghĩa "bao gồm các lĩnh vực tư vấn và đại diện đối với pháp luật nước tiếp nhận dịch vụ, pháp
Trang 33luật của nước sở tại, nước thứ ba, luật pháp quốc tế; dịch vụ chứng thực giấy
tờ tài liệu; các dịch vụ tư vấn và thông tin khác" [96]
Giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ pháp lý được thực hiện theo 4 phương thức: Cung cấp qua biên giới; Tiêu dùng ở nước ngoài; Hiện diện thương mại và Hiện diện thể nhân Ngoài ra, dịch vụ pháp lý cũng có nhiều điểm chung so với các loại hình thương mại dịch vụ khác, ví dụ như đối tượng cung cấp đều là loại "hàng hóa đặc biệt", "hàng hóa vô hình"; cùng chịu
sự điều chỉnh chung của các quy định về thương mại dịch vụ, v.v
Tuy nhiên, dịch vụ pháp lý có nhiều điểm khác biệt so với các ngành thương mại dịch vụ khác Sự khác biệt này được quyết định bởi sự đặc biệt của dịch vụ được cung cấp, hay nói cách khác là đối tượng "hàng hóa đặc biệt" mà người cung cấp dịch vụ bán cho người sử dụng dịch vụ Những "hàng hóa đặc biệt" này liên quan mật thiết đến những quy định của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Dịch vụ pháp lý gắn bó trực tiếp và mật thiết với các quy định pháp luật của một nước hay của thế giới Đối với các ngành thương mại dịch vụ khác, "hàng hóa đặc biệt" ở các nước khác nhau đều có những nội dung tương tự nhau, thậm chí là giống hệt nhau Có thể lấy
ví dụ như ngành dịch vụ viễn thông, thì ở tất cả các nước trên thế giới, "sản phẩm" của nó đều là việc cung cấp các dịch vụ về điện thoại, internet, …; hay như dịch vụ phân phối, thì ở tất cả các nước trên thế giới đều được hiểu là việc đưa hàng hóa từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng; v.v… Đối với dịch vụ pháp lý thì khác Xuất phát từ đặc điểm về "sản phẩm" của loại dịch vụ này là gắn bó mật thiết với hệ thống pháp luật của từng quốc gia,
và pháp luật quốc tế Trong khi đó, mỗi quốc gia có hệ thống pháp luật khác nhau Do đó, sản phẩm dịch vụ pháp lý rất khác nhau đối với từng nước khác nhau Có lẽ chính vì lý do đó mà theo quy định của GATS và các nước thành viên, các cam kết mở cửa và hạn chế tiếp cận thị trường chủ yếu liên quan đến vấn đề quốc tịch của người cung cấp dịch vụ cũng như liên quan đến hệ thống pháp luật được sử dụng để cung cấp dịch vụ (luật nước nơi tiếp nhận dịch vụ,
Trang 34luật nước nơi người cung cấp dịch vụ mang quốc tịch, luật quốc tế,…) Và như vậy, điểm khác biệt lớn nhất của dịch vụ pháp lý so với các ngành thương mại dịch vụ khác chính là sự gắn bó trực tiếp và mật thiết của các dịch vụ được cung cấp đối với một hệ thống pháp luật nhất định
1.2.2 Quy định của GATS về phân loại dịch vụ pháp lý
Theo cách hiểu thông thường, dịch vụ pháp lý sẽ bao gồm cả dịch vụ
tư vấn và đại diện cũng như các hoạt động liên quan đến quản lý tư pháp (quan tòa, nhân viên tòa án, công tố viên, luật sư bào chữa của nhà nước…) Tuy nhiên, trên thực tế, với việc áp dụng điều I(3) của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS, các hoạt động dịch vụ pháp lý thuộc nhóm thứ hai được loại khỏi phạm vi của GATS vì ở hầu hết các nước nó được coi là
"dịch vụ thuộc thẩm quyền của Chính phủ" [47, tr 4]
Trước đây, theo Danh mục Phân loại Sản phẩm Tạm thời của Liên Hợp quốc (CPC), "dịch vụ pháp lý" (CPC 861) được phân thành "dịch vụ tư vấn và đại diện trong những lĩnh vực pháp luật khác nhau" (8611), "dịch vụ tư vấn và đại diện trong tiến trình tố tụng tại các thiết chế tương đương tòa án, các bồi thẩm đoàn, v.v " (8612), "dịch vụ công chứng tài liệu giấy tờ" (8613), "các dịch
vụ tư vấn và thông tin khác" (8619) Các ngành dịch vụ đó lại được phân chia nhỏ thành "dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện liên quan đến luật hình sự" (86111), "dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện trong thủ tục tư pháp liên quan đến các lĩnh vực luật khác" (86119), "dịch vụ tư vấn pháp lý và đại diện trong các thủ tục tư pháp của các hội đồng, ban mang tính tòa án, …" (86120), "các dịch
vụ chứng nhận và chứng từ pháp lý" (86130) và "các thông tin tư vấn và pháp lý khác" (8619) Bản CPC sửa đổi 1 hầu như không đưa ra thay đổi gì trong phân loại dịch vụ pháp lý Tuy nhiên, bản này có thêm một tiểu mục về "dịch vụ hòa giải và trọng tài", trước đây là một phần của dịch vụ tư vấn quản lý
Trong quá trình thực hiện, phân loại theo cách của CPC thể hiện sự bất hợp lý so với thực tiễn thương mại dịch vụ pháp lý Nó không thể hiện
Trang 35việc cung cấp dịch vụ pháp lý liên quan đến luật của nước tiếp nhận, luật quốc
tế hay luật của nước nơi cung cấp dịch vụ Do đó, trong quá trình xây dựng cam kết theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS, các nước thành viên đã chọn áp dụng cách phân loại thích hợp hơn trong việc mô tả các mức
độ mở cửa thị trường khác nhau trong dịch vụ pháp lý, đó là: tư vấn/đại diện đối với luật của nước tiếp nhận dịch vụ, luật của nước cung cấp dịch vụ và/hoặc luật của nước thứ ba, luật quốc tế; các dịch vụ chứng từ pháp lý và chứng nhận; các dịch vụ tư vấn và thông tin khác
Trong "Danh mục Phân loại các Lĩnh vực Dịch vụ" của WTO, "(a) dịch
vụ pháp lý" là một phân ngành của "(1) dịch vụ kinh doanh" và "(A) dịch vụ nghề nghiệp" Cũng theo quy định này, "dịch vụ pháp lý" lại được phân chia thành các phân ngành căn cứ theo tiêu chí "luật pháp được áp dụng" khi cung cấp dịch vụ, đó là: tư vấn/đại diện luật của nước tiếp nhận dịch vụ, luật của nước cung cấp dịch vụ, luật quốc tế hoặc luật pháp của nước thứ ba…
Theo Biểu cam kết mở cửa thị trường dịch vụ pháp lý, một thành viên của WTO có thể cho phép các chuyên gia/luật sư nước ngoài tư vấn/đại diện đối với luật nước mình, luật quốc tế và luật nước xuất xứ của chuyên gia đó hoặc luật của nước thứ ba Tùy theo tình hình thực tiễn, các nước có thể chỉ cam kết về việc dịch vụ tư vấn hoặc cả dịch vụ đại diện, theo đó một chuyên gia nước ngoài có thể đại diện thân chủ trước tòa án trong nước hay trước hội đồng trọng tài tại nước tiếp nhận dịch vụ Các chuyên gia thực hành luật quốc
tế, luật nước của họ hoặc nước thứ ba cũng thường được đề cập đến như là các nhà Tư vấn Luật Quốc tế (FLCs) Định nghĩa này cũng được đưa vào một
số Biểu cam kết theo GATS
1.2.3 Chế độ pháp lý cơ bản áp dụng đối với dịch vụ pháp lý
* Phạm vi áp dụng GATS đối với dịch vụ pháp lý
Tất cả các nhóm dịch vụ thuộc "dịch vụ pháp lý" đều có thể được các thành viên của WTO/GATS đưa ra cam kết trong biểu cam kết mở cửa thị trường
Trang 36ra ngày càng nhiều phương thức hiệu quả và dễ tiếp cận cho thương mại dịch
vụ pháp lý qua biên giới Thương mại dịch vụ pháp lý được hưởng lợi từ sự phát triển của Internet và thương mại điện tử, vì hầu hết các hoạt động có liên quan đến dịch vụ pháp lý - trừ việc phải xuất hiện trước tòa - đều có thể chuyển tải bằng các phương tiện điện tử [47, tr 7]
- Phương thức 2: Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: là việc người mua dịch vụ pháp lý sử dụng dịch vụ tại một nước khác với nước của người cung cấp dịch
vụ Cũng giống như "cung cấp qua biên giới", phương thức "tiêu dùng ngoài lãnh thổ" không được áp dụng nhiều đối với các dịch vụ pháp lý, nhất là dịch
vụ đại diện trước các cơ quan tố tụng Nó được sử dụng chủ yếu trong việc tư vấn về pháp luật quốc tế hoặc pháp luật của nước tiếp nhận dịch vụ hoặc pháp luật của nước thứ ba
- Phương thức 3: Hiện diện thương mại: là việc thành lập các thực thể trên lãnh thổ của một quốc gia/vùng lãnh thổ nhằm thực hiện các hoạt động cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng tại quốc gia/vùng lãnh thổ đó Do hạn chế của đa số các quốc gia, các "hiện diện thương mại" được thành lập cũng chủ yếu cung cấp dịch vụ tư vấn đối với pháp luật quốc tế, pháp luật nước mà chuyên gia/luật sư mang quốc tịch hoặc pháp luật nước thứ ba, chứ
Trang 37hầu như không cung cấp dịch vụ đại diện trước tòa án và dịch vụ tư vấn đối với pháp luật nước nơi thành lập "hiện diện thương mại"
- Phương thức 4: Hiện diện thể nhân: là việc các luật sư, chuyên gia
tư vấn rời khỏi một nước để sang cung ứng dịch vụ pháp lý tại một nước khác
Trên cơ sở sự phù hợp của mỗi phương thức đối với loại hình dịch vụ cung cấp, mỗi phương thức được ưu tiên hoặc không ưu tiên áp dụng Trong
đó, phương thức "hiện diện thương mại" và "hiện diện thể nhân" là hai phương thức phổ biến được áp dụng trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý hiện nay Bên cạnh đó, với sự phát triển của công nghệ thông tin và sự đa dạng của các dịch vụ viễn thông, bưu chính, phương thức "cung cấp dịch vụ qua biên giới" cũng đang được các hãng luật/chuyên gia luật nổi tiếng áp dụng nhiều
Trong hầu hết các trường hợp, các luật sư nước ngoài cung cấp dịch
vụ pháp lý qua biên giới hay thông qua sự hiện diện của mình hoạt động với
tư cách các chuyên gia tư vấn nước ngoài về luật của nước họ hoặc về luật của nước thứ ba nào đó mà họ có bằng cấp Luật trong nước (luật của nước tiếp nhận dịch vụ) vẫn đóng một vai trò nhỏ trong thương mại quốc tế đối với dịch vụ pháp lý, do những rào cản lớn như yêu cầu về bằng cấp, và giống như luật trong nước, những yêu cầu này được hình thành tùy theo mỗi quốc gia
Hầu hết hoạt động thương mại dịch vụ pháp lý vẫn được tiến hành qua biên giới (phương thức 1) hoặc thông qua việc cư trú tạm thời của các thể nhân là các chuyên gia độc lập (phương thức 4) hoặc là nhân viên hay đối tác của các công ty luật nước ngoài Việc thiết lập một hiện diện thương mại còn nhiều hạn chế và thường vấp phải những rào cản của các nước tiếp nhận Theo ước tính, số luật sư chuyển ra nước ngoài dài hạn, tức là hoạt động theo phương thức 3 và 4 vẫn còn rất nhỏ Do có chi phí và rủi ro cao, hoạt động thương mại thông qua các công ty phụ thuộc chỉ giới hạn ở những công ty luật lớn và hầu hết là nhắm tới các trung tâm tài chính, kinh doanh của thế giới (Brusseluật sư, Frankfurt, Hong Kong, London, New York, Paris,
Trang 38Singapore, Tokyo) nơi có nhu cầu lớn nhất về dịch vụ pháp lý ở các lĩnh vực luật kinh doanh và luật quốc tế
Quy chế tối huệ quốc
Hiện nay, trong số các thành viên của WTO, mới chỉ có bốn thành viên có cam kết miễn trừ Tối huệ quốc đối với dịch vụ pháp lý, đó là Brunei Darussalam, Bulgary, Cộng hòa Dominica và Singapore; trong khi 4 Thành viên khác có miễn trừ đối với dịch vụ nghề nghiệp nói chung là Costa Rica, Honduras, Panama và Thổ Nhĩ Kỳ Ba trong số các miễn trừ trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý bao gồm tất cả các biện pháp liên quan đến cung cấp dịch vụ pháp lý và áp dụng cho tất cả các nước trên cơ sở có đi có lại Miễn trừ thứ tư dành đãi ngộ quốc gia đầy đủ đối với phương thức 3 và 4 chỉ với các công ty
và công dân các nước có các thỏa thuận ưu đãi Tất cả các miễn trừ về dịch vụ nghề nghiệp coi nguyên tắc có đi có lại là điều kiện để cấp phép đối với các hoạt động nghề nghiệp trong đó có dịch vụ pháp lý
Đối với một số lĩnh vực cụ thể, cơ chế thực tế còn tự do hơn các cam kết ràng buộc trong các Biểu cam kết trên Một số nước không liệt kê các cam kết cụ thể hay có Danh mục miễn trừ Tối huệ quốc cũng có cơ chế điều chỉnh quan hệ thương mại dịch vụ pháp lý tương đối tự do [47, tr 16]
Tiếp cận thị trường:
Một trong những hạn chế tiếp cận thị trường chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý là yêu cầu về quốc tịch của người cung cấp dịch vụ Có rất nhiều nước thành viên WTO vẫn duy trì yêu cầu về quốc tịch mặc dù những yêu cầu này chỉ ảnh hưởng tới một số lĩnh vực trong nghề pháp lý Dịch vụ công chứng, dịch vụ đại diện (trong tất cả các lĩnh vực của luật pháp) là lĩnh vực chủ yếu áp dụng quy định hạn chế này Đối với việc cung cấp dịch vụ pháp lý về các qui định luật trong nước (bao gồm cả tư vấn và đại diện), yêu cầu này ít được áp dụng hơn Yêu cầu về quốc tịch trong lĩnh vực này thường dựa trên "chức năng công" được thực hiện bởi công tố viên tại tòa án hoặc
Trang 39công chứng viên mà ở một số nước là các quan chức của chính quyền Dịch
vụ tư vấn luật quốc tế và luật nước xuất xứ hoặc nước thứ 3 hầu như không áp dụng yêu cầu về quốc tịch Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vẫn rất khó tiếp cận dịch vụ này do vấp phải các yêu cầu chung về quốc tịch đối với dịch vụ pháp lý
Hàng rào quan trọng về tiếp cận thị trường được thể hiện qua những hạn chế về việc di chuyển của các nhà chuyên môn, quản lý và kỹ thuật, một phần cấu thành của chính sách nhập cư quốc gia Những hạn chế này có thể
áp dụng với tự nhiên nhân muốn thành lập hiện diện dài hạn, thường xuyên hoặc đối với các cá nhân nhập cảnh vì mục đích kinh doanh trong thời gian ngắn hạn Khách kinh doanh ngắn hạn thường sử dụng thị thực du lịch để tránh các hạn chế và sự phức tạp có liên quan đến việc xin thị thực Hậu quả
là các hoạt động qua biên giới này nằm ngoài các số liệu của cán cân thanh toán
Các hạn chế phổ biến nhất về tiếp cận thị trường trong dịch vụ pháp lý
là các hạn chế về hình thức pháp lý Hầu hết các Biểu cam kết của các nước đều quy định các hạn chế về lựa chọn hình thức pháp lý đối với tự nhiên nhân (quyền sở hữu duy nhất) hay liên danh, trừ các công ty hữu hạn trong khi có vài trường hợp hình thức liên danh cũng bị loại trừ Một số Biểu cam kết không ràng buộc đối với Phương thức 1 về dịch vụ soạn thảo các văn bản pháp lý Các hạn chế về quốc tịch và công dân cũng được quy định trong một số Biểu cam kết mặc dù trong một số trường hợp chúng giới hạn đối với một số khu vực địa lý hoặc một phân ngành cụ thể như dịch vụ đại diện và công chứng
Hạn chế về số vốn góp trong dịch vụ pháp lý là không phổ biến Nhiều khi hạn chế qui định trong pháp luật chung về đầu tư sẽ áp dụng đối với dịch
vụ pháp lý Vì hầu hết các công ty luật vẫn muốn hình thức liên danh hơn sáp nhập nên những hạn chế về số hội viên nước ngoài có thể cũng được sử dụng
để thu được kết quả tương tự với việc hạn chế số vốn góp nước ngoài Tuy nhiên, theo GATS những hạn chế này được xem là hạn chế về đối xử quốc gia chứ không phải hạn chế tiếp cận thị trường
Trang 40Đối xử quốc gia
Trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý, các hạn chế quan trọng về đối xử quốc gia bao gồm: hạn chế liên kết hoặc thuê các chuyên gia địa phương, hạn chế về việc sử dụng tên tuổi của công ty quốc tế và nước ngoài, yêu cầu về cư trú và sự phân biệt đối xử trong quá trình cấp phép nói chung
Việc hạn chế liên kết với và hạn chế thuê các chuyên gia địa phương được cấp phép sẽ góp phần ngăn cản việc các công ty luật nước ngoài thay vì chỉ được phép hoạt động như là các chuyên gia tư vấn pháp lý nước ngoài được mở rộng ra các lĩnh vực đại diện tòa án và tư vấn luật của nước sở tại nhờ việc phối hợp với các luật sư sở tại Đây được coi là biện pháp có hiệu quả hơn việc đưa các chuyên gia có đủ tiêu chuẩn ở nước xuất xứ sang nước
sở tại và lấy chứng chỉ mới tại đó, nó là một giải pháp tốt đối với các rào cản
do các đặc trưng quốc gia của yêu cầu chứng chỉ hành nghề
Các hạn chế thường dựa trên việc các cơ quan quản lý không thừa nhận các luật sư nước ngoài như là các "luật sư" và các quy định cấm thực hành luật khi liên kết với bất cứ ai không đủ tiêu chuẩn là luật sư, dựa trên cơ
sở chính sách chung chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng, đảm bảo chất lượng dịch vụ và sự độc lập của người hành nghề
Việc hạn chế sử dụng tên các công ty quốc tế và nước ngoài được áp dụng như là một trong những biện pháp đối xử quốc gia, vì việc sử dụng tên
đó sẽ gây bất lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài Tuy nhiên, những hạn chế khác về tên công ty không ảnh hưởng tới các điều kiện cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài và những nhà cung cấp có nguồn gốc quốc gia, được xem là các qui định trong nước Ở một số nước, các công
ty luật nước ngoài được phép sử dụng tên công ty của họ nếu có nhắc tới một trong những tên đối tác liên danh
Bên cạnh đó, các yêu cầu cư trú là các biện pháp đối xử quốc gia có tính trung lập, vì các yêu cầu này không trực tiếp nhắm vào người nước ngoài mà áp