Tính khả thi của Điều 9.4 của Hiệp định nông nghiệp về trợ cấp xuất khẩu đối với các nước đang phát triển Trợ cấp xuất khẩu nông sản mà phù hợp hoàn toàn với Hiệp định nông nghiệp không
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HIỀN DUNG
PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP
TRONG NÔNG NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ HIỀN DUNG
PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP
TRONG NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Luật Quốc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP
Hà nội – 2011
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 6
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 6
2.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề trợ cấp trên thế giới 6
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài 7
3.2 Nhiệm vụ của đề tài 7
3.3 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Điểm mới của luận văn 8
6 Ý nghĩa và kết cấu luận văn 8
6.1 Ý nghĩa của luận văn 8
6.2 Kết cấu của luận văn 9
CHƯƠNG 1 10
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP TRONG NÔNG NGHIỆP 10
1.1 Quan niệm của WTO về pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và chống trợ cấp trong nông nghiệp 10
1.1.1 Thương mại nông sản trong WTO 10
1.1.2 Tính khả thi của Điều 9.4 của Hiệp định nông nghiệp về trợ cấp xuất khẩu đối với các nước đang phát triển 12
1.1.3 Quy định của WTO đối với các thành viên đang phát triển trong Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng 14
1.1.4 Quan niệm của WTO về trợ cấp và trợ cấp trong nông nghiệp 17
1.2 Phân loại sản phẩm nông nghiệp theo WTO 19
1.3 Các loại hình trợ cấp 23
1.3.1 Trợ cấp không thể đối kháng 23
1.3.2 Trợ cấp có thể đối kháng 26
Trang 41.3.3 Trợ cấp bị cấm 28
1.3.4 Trợ cấp xuất khẩu 30
1.4 Quy trình chống trợ cấp 33
1.4.1 Chế tài đối với trợ cấp bị cấm 34
1.4.2 Chế tài đối với trợ cấp có thể bị đối kháng 35
1.4.3 Tham vấn và chế tài được phép trong trợ cấp không thể đối kháng 37
1.5 Biện pháp chống trợ cấp 38
1.5.1 Khái niệm 38
1.5.2 Các biện pháp chống trợ cấp 40
1.6 Quan hệ tương thích giữa pháp luật của WTO với pháp luật quốc gia về chống trợ cấp trong nông nghiệp 46
1.6.1 Chính sách trợ cấp của Việt Nam 46
CHƯƠNG 2 52
NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP TRONG NÔNG NGHIỆP 52
2.1 Thực tiễn của Hoa Kỳ áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp 52
2.1.1 Tổng quan nền nông nghiệp Hoa Kỳ 52
2.1.2 Quan niệm về trợ cấp theo pháp luật Mỹ 53
2.1.3 Thực tiễn của Hoa Kỳ áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp 55
2.2 Thực tiễn của EU áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp 60
2.2.1 Tổng quan nền nông nghiệp EU 60
2.2.2 Chính sách nông nghiệp chung (CAP) 61
2.2.3 Tình hình trợ cấp cho nông nghiệp của EU 66
2.3 Thực tiễn của Nhật áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp 67
2.3.1 Tổng quan nền nông nghiệp Nhật Bản 67
2.3.2 Tình hình hỗ trợ nông nghiệp của Nhật Bản 69
2.3.3 Trợ cấp trong nước 70
Trang 52.4 Thực tiễn của một số nước Châu Á khác áp dụng các quy định của WTO về chống
trợ cấp trong nông nghiệp 72
2.4.1 Trung Quốc 72
2.4.2 Thái Lan 75
2.5 Thực tiễn của Việt Nam áp dụng các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp 78
2.5.1 Tổng quan nền nông nghiệp Việt Nam 78
2.5.2 Đánh giá tính tuân thủ với quy định về trợ cấp nông nghiệp WTO của Việt Nam 79
2.5.3 Trợ cấp trong nước theo khuôn khổ WTO trong giai trước ngày 11/01/2007 83 2.5.4 Trợ cấp trong nước theo khuôn khổ WTO giai đoạn sau 11/01/2007 87
2.5.5 Trợ cấp xuất khẩu 94
2.6 Vụ tranh chấp giữa Brazil và Hoa Kỳ trong vụ kiện về trợ cấp bông – Việc áp dụng Hiệp định trợ cấp đối với lĩnh vực nông nghiệp 99
CHƯƠNG 3 102
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM ĐỂ THỰC THI CÓ HIỆU QUẢ CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỚI WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP TRONG NÔNG NGHIỆP 102
3.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của công tác hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp102 3.1.1 Yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền 102
3.1.2 Yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và quá trình hội nhập với thế giới 103
3.1.3 Thực trạng pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực chống trợ cấp trong nông nghiệp 103
3.2 Những đề xuất để sử dụng có hiệu quả các chính sách trợ cấp được phép 106
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….115
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới ngày 11/01/2007 là một sự kiện quan trọng đánh dấu một bước phát triển mới cho nền kinh tế trong nước Trong 04 năm vừa qua, Việt Nam đã có nhiều cố gắng để nhận thức và thực thi các quy định pháp luật của WTO đặc biệt trong lĩnh vực chống trợ cấp trong nông nghiệp trên đất nước mình theo đúng tinh thần Pacta sunt servanda
Khi đã là thành viên của WTO Việt Nam phải nghiêm chỉnh thực thi các chính sách pháp luật của WTO và hệ thống pháp luật trong nước cũng phải có sự điều chỉnh để phù hợp với pháp luật của WTO và luật pháp quốc tế Hơn nữa, những nội dung mới và sự nghiên cứu chưa sâu sắc nên rất có thể sẽ bị thiếu căn
cứ pháp lý khi xảy ra một vụ kiện thực tế Do vậy, những cam kết WTO đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu để sử dụng có lợi nhất cho Việt Nam trong những phạm vi cho phép
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt
Nam, trong định hướng phát triển ngành, lĩnh vực và vùng đã xác định rõ “cần tạo điều kiện hơn để giúp nông dân chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, xây dựng cơ chế bảo hiểm nông sản để chủ động bù đắp thiệt hại khi bị thiên tai hoặc khi giá cả biến động bất lợi cho người dân Mặt khác, tăng cường đầu tư ngân sách Nhà nước để phát triển mạnh kết cấu hạ tầng nông thôn…”[54, tr.194]
Ngoài ra, Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa X cũng
đã nhấn đề cấp đến vấn đề:“tăng mạnh sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước… Giải quyết vấn đề nông nghiệp” [54, tr.12] Vấn đề về trợ cấp, hỗ trợ trong nông nghiệp
cũng đã được đề cập đến trong các Văn kiện nhưng đó chỉ là những định hướng và
Trang 7những yêu cầu đặt ra Do vậy, cần phải nghiên cứu các biện pháp xử lý và phân tích làm rõ qua pháp luật và thực tiễn áp dụng
Khoa học pháp lý và hệ thống quy phạm pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực chống trợ cấp trong nông nghiệp còn có những hạn chế như: Còn thiếu các công trình nghiên cứu khoa học làm cơ sở pháp lý để xây dựng một hệ thống quy phạm pháp luật hoàn chỉnh về chống trợ cấp trong nông nghiệp; Các văn bản trong lĩnh vực này còn chưa có vị trí pháp lý tương xứng chưa có Luật riêng để điều chỉnh mà chỉ được điều chỉnh trong Pháp lệnh, Nghị định, Thông tư; Số lượng văn bản không nhiều lại tản mạn nên rất khó trong việc thực hiện các quy định chống trợ cấp trong nông nghiệp
Ở các nước phát triển đặc biệt là các nước trong nhóm OECD, vấn đề chống trợ cấp trong nông nghiệp được nghiên cứu rất nghiêm túc và cụ thể Các nước phát triển đã đưa ra các chính sách về nông nghiệp nói chung và chính sách
về trợ cấp nông nghiệp nói riêng, điển hình là Chính sách nông nghiệp chung Châu
Âu (CAP), rất nhiều bài nghiên cứu được đăng trên các trang web như: www.farmsubsidy.org, ipsnews… Nghiên cứu về trợ cấp và phân tích những chính sách trợ cấp nông nghiệp của Mỹ của Agence France Presse [9] Những nghiên cứu của Christopher Conte và Albert R Karr về trợ cấp nông nghiệp và lịch sử quá trình hình thành và phát triển các quy định về trợ cấp nông nghiệp Mỹ [9]… Thực tiễn các nước trên thế giới đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển đã và đang nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn các quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp để sử dụng có hiệu quả nhất Tại Việt Nam, tình hình nghiên cứu các chính sách về chống trợ cấp trong nông nghiệp vẫn còn ít, kinh nghiệm thực tế trong việc áp dụng chưa nhiều Do vậy, cần nghiên cứu các kinh nghiệm của các quốc gia khác để tìm ra giải pháp về sử dụng các hình thức trợ cấp có hiệu quả, cách thức sử dụng các biện pháp chống trợ cấp trong nông nghiệp theo đúng tinh thần quy định pháp luật của WTO
Trước tình hình đó, việc chọn đề tài “Pháp luật của WTO về chống trợ cấp
trong nông nghiệp” để nghiên cứu thật sự là yêu cầu bức thiết hiện nay
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chống trợ cấp trong nông nghiệp và tình hình thực thi các quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp luôn là vấn đề quan trọng
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở trong nước vấn đề trợ cấp nông nghiệp đã được quan tâm nghiên cứu đã
có những cuộc hội thảo, nhiều bài viết và một số công trình nghiên cứu về lĩnh vực
này như: Hội thảo của Bộ tài chính và Ngân hàng phát triển Châu Á về Trợ cấp và gia nhập WTO: Tính tuân thủ quy định WTO và tác động về mặt chính sách đối với Việt Nam, 2005 Sổ tay về trợ cấp nông nghiệp và một số sách chuyên khảo có
đề cập đến trợ cấp và trợ cấp trong nông nghiệp như Cam kết thuế quan và phi thuế quan trong nông nghiệp của Việt Nam gia nhập WTO của Dương Ngọc Thí,
2007 WTO và ngành nông nghiệp Việt Nam của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn và CEG/ AusAID, 2005 Cẩm nang doanh nghiệp về WTO và cam kết của Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Trang (chủ biên), 2009 Thành viên thứ
150 bài học từ các nước đi trước, Nguyễn Văn Thanh, 2007 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Từ (chủ biên), 2008 Báo cáo phát triển thế giới 2008 Tăng cường nông nghiệp cho phát triển Một số bài viết trên trang Web của Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn, VCCI, Bộ công thương Trong các giáo trình giảng dạy luật học tại các
trường đào tạo Luật ở nước ta những năm qua như giáo trình Tư pháp quốc tế Giáo trình luật thương mại quốc tế…
2.2 Tình hình nghiên cứu vấn đề trợ cấp trên thế giới
Trên thế giới vấn đề trợ cấp đặc biệt là trợ cấp nông nghiệp đã được nghiên cứu từ những thập niên của thế kỷ XX Các nước trong nhóm OECD đặc biệt là
Mỹ và EU đã ban hành những chính sách pháp luật về vấn đề trợ cấp trong nông nghiệp như Luật nông trại 2002 của Mỹ, Chính sách nông nghiệp chung của EU (CAP) CAP được hình thành và phát triển từ những năm 1950 và đầu những năm
1960 khi các thành viên sáng lập của EC nêu ra tình trạng thiếu lương thực trầm trọng sau Thế chiến lần thứ hai Tại Nhật Bản chính sách trợ cấp trong nông
Trang 9nghiệp được nghiên cứu, hình thành và áp dụng từ những năm 1971, một số bài
viết trên WTO Org UN.Org Khi nào hòa bình kết thúc: Tính dễ tổn thương của các chính sách trợ cấp nông nghiệp của EC và Hoa Kỳ trước các quy định của WTO, Steinberg,Richard H and Josling, Timothy, 2003 Nông nghiệp và đàm phán thương mại, Dominique Bureau, 2001
Một số ít công trình đã quan tâm là rõ vấn đề về quy định của pháp luật và thực tiễn thực thi vấn đề về chống trợ cấp Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu hoàn thiện pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp tại Việt Nam, đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu sâu sắc và toàn diện hơn
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Làm rõ cơ sở lý luận về các luật lệ của WTO về chống trợ cấp cũng như pháp luật của một số nước có quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp Trên
cơ sở lý luận để nghiên cứu về những thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý trong quá trình thực thi các cam kết và đưa ra những phương hướng, các giải pháp nhằm tìm ra hướng giải quyết các vấn đề và việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn đời sống
Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý trong quá trình thực thi các cam kết của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về Hiệp định về nông nghiệp, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO
Tìm hiểu một cách đầy đủ có hệ thống nội dung cơ bản các cam kết của Việt Nam về chống trợ cấp trong nông nghiệp và nghiên cứu, đánh giá những quy định của pháp luật Việt Nam trước và sau khi gia nhập WTO và ảnh hưởng của các chính sách pháp luật đến nền kinh tế đặc biệt là trong nông nghiệp
3.3 Phạm vi nghiên cứu
“Pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp” là một đề tài nghiên cứu về tổng quan các quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp, về
Trang 10những thuận lợi và khó khăn về mặt pháp lý khi thực hiện các Hiệp định của WTO cũng như các cam kết gia nhập WTO, những ảnh hưởng tích cực và hạn chế bước đầu đến sự phát triển kinh tế quốc gia thành viên đặc biệt là Việt Nam Trong đề tài này, với khuôn khổ Luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung đi sâu vào nghiên cứu những quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp; thực tiễn giải quyết một số tranh chấp trong lĩnh vực này; nêu các đề xuất để sử dụng có hiệu quả các chính sách trợ cấp được phép và phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chống trợ cấp trong nông nghiệp
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng và Duy vật Lịch sử, tác giả đã sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp để nghiên cứu, làm rõ các nội dung, đạt được mục đích của luận văn
5 Điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên đi sâu vào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống các quy định của WTO về chống trợ cấp, nghiên cứu, đánh giá những điểm hợp lý và bất hợp lý của quy định về chống trợ cấp trong nông nghiệp của Hoa kỳ, EU, Việt Nam… Nghiên cứu để tìm ra những phương hướng
và giải pháp góp phần xây dựng các tiêu chí và đòn bẩy kinh tế, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về chống trợ cấp trong nông nghiệp trong nước phù hợp với các cam kết khi đã là thành viên của WTO
6 Ý nghĩa và kết cấu luận văn
6.1 Ý nghĩa của luận văn
Hoàn thành luận văn này, tôi hy vọng những kiến thức khoa học trong luận văn sẽ là tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo luật ở Việt Nam, đặc biệt đối với chuyên ngành Tư pháp quốc tế
Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết cho mọi cá nhân khi tìm hiểu vấn đề về pháp luật của WTO về chống trợ cấp, nghiên cứu những vấn đề pháp lý và thực tiễn đặt ra cho Việt Nam trong quá trình thực thi các cam kết
Trang 11Chúng tôi mong rằng, những kiến nghị trong luận văn sẽ được sử dụng trong công cuộc pháp điển hóa pháp luật, sẽ là đóng góp có ý nghĩa thiết thực cho tất cả những ai mong muốn tìm hiểu các quy định của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp cũng như cơ chế thực thi các cam kết và giải quyết các tranh chấp nhằm hoàn thiện hơn pháp luật và các chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực chống trợ cấp trong nông nghiệp
6.2 Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu như sau: Phần mở đầu, ba chương nội dung, kết luận
và tài liệu tham khảo
Ba chương có nội dung chính là:
Chương 1: Tổng quan pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp
Chương 2: Những vấn đề thực tiễn pháp luật của WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam để thực thi có hiệu quả các cam kết của Việt Nam với WTO về chống trợ cấp trong nông nghiệp
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT CỦA WTO VỀ CHỐNG TRỢ CẤP
TRONG NÔNG NGHIỆP
1.1 Quan niệm của WTO về pháp luật trong lĩnh vực nông nghiệp và chống trợ cấp trong nông nghiệp
1.1.1 Thương mại nông sản trong WTO
Thương mại nông sản đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước và tiếp tục giữ vai trò này trong sản xuất nông nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho người nông dân Hệ thống thương mại cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu
Mặc dù nông nghiệp luôn nằm trong phạm vi quy định của Hiệp định chung
về Thương mại và Thuế quan (GATT) trước khi hình thành WTO, vẫn còn nhiều điểm khác biệt lớn về nguyên tắc áp dụng cho các sản phẩm nông nghiệp thô so với sản phẩm công nghiệp Hiệp định GATT 1947 cho phép các nước sử dụng trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm nông nghiệp thô trong khi cấm trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm công nghiệp Điều kiện duy nhất cấm sử dụng trợ cấp trong xuất khẩu nông sản là khi mức trợ cấp đó lớn hơn thị phần của sản phẩm đó trên thị trường xuất khẩu thế giới (Điều XVI.3 – Hiệp định GATT) Hiệp định GATT cũng cho phép các nước sử dụng hạn chế nhập khẩu (như hạn ngạch nhập khẩu) trong một số điều kiện nhất định như khi những hạn chế này là cần thiết để tăng cường hạn chế một cách hiệu quả sản xuất trong nước (Điều XI.2.c – Hiệp định GATT) Ngoại trừ này cũng là điều kiện để duy trì mức nhập khẩu tối thiểu so với sản xuất trong nước
Tuy nhiên trên thực tế rất nhiều biện pháp phi thuế được áp dụng đối với sản phẩm nhập khẩu không trên cơ sở hạn chế đối kháng mức sản xuất trong nước
và không duy trì mức tiếp cận thị trường tối thiểu cho hàng nhập khẩu Kết quả là, hàng loạt các hạn chế thương mại nông sản được áp dụng như cấm nhập khẩu, hạn
Trang 13ngạch quy định mức độ nhập khẩu tối đa, các loại thuế và phí nhập khẩu, giá nhập khẩu tối thiểu và các biện pháp phi thuế khác của doanh nghiệp Nhà nước Một số nông sản chính như ngũ cốc, thịt, sản phẩm sữa, đường, rau, quả phải đối mặt với một loạt rào cản bất hợp lý [43, tr.11]
Bên cạnh đó, nhiều Chính phủ đặt trọng tâm với việc tăng cường sản xuất nông nghiệp trong nước để đáp ứng của yêu cầu của dân số đang tăng nhanh Với
lý do này cộng với chính sách cân bằng tăng trưởng thu nhập giữa khu vực nông thôn và thành thị, nhiều nước đặc biệt là các nước phát triển sử dụng cơ chế hỗ trợ giá thị trường, các rào cản đối với hàng nhập khẩu được sử dụng để đảm bảo sản xuất trong nước có thể bán được ra thị trường Hưởng ứng lại những biện pháp này, sản lượng sản xuất lại tăng quá cả nhu cầu tự cung trong nước Ở nhiều nước, sản xuất trong nước không đủ để thay thế nhập khẩu mà còn dư thừa quá mức Trợ cấp nhập khẩu được sử dụng ngày càng tăng để bán phá giá nông sản dư thừa ra thị trường thế giới
Nguyên nhân làm xáo trộn ngành nông nghiệp thế giới được xác định đã vượt quá các vấn đề về mở cửa thị trường nhập khẩu Các nguyên tắc chi phối tất
cả các biện pháp ảnh hưởng tới thương mại nông sản như chính sách nông nghiệp trong nước và trợ cấp xuất khẩu nông sản được coi là quan trọng
Để giải quyết những vấn đề trên, WTO đã hoàn chỉnh cơ sở pháp lý làm căn cứ, chuẩn mực chung cho các nước sử dụng các biện pháp trợ cấp trong phạm
vi cho phép không làm ảnh hưởng tới nền sản xuất của các nước khác đó là Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (ASCM) và Hiệp định nông nghiệp (AoA)
Hiệp định nông nghiệp được thông qua tại thời điểm kết thúc vòng đàm phán Urugoay vào tháng 4 năm 1994 và có hiệu lực ngày 01/01/1995 Mục tiêu của Hiệp định nông nghiệp là nhằm cải cách thương mại nông sản và làm cho các chính sách nông nghiệp có định hướng thị trường hơn Về dài hạn, Hiệp định nhằm nâng cao khả năng dự báo và an ninh cho các quốc gia nhập khẩu cũng như xuất khẩu Hiệp định nông nghiệp đề cập đến hai vấn đề chính là:
Trang 14(i) Mở cửa thị trường nông nghiệp – thuế quan hóa các biện pháp phi thuế quan, cắt giảm và ràng buộc thuế quan đối với các mặt hàng nông sản
(ii) Quy định về các khoản trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp trong nước đối với hàng xuất khẩu
Hiệp định có quy định cụ thể đối với ngành nông nghiệp trong các lĩnh vực
mở cửa thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu Những lĩnh vực được coi là 03 trụ cột chính của Hiệp định Theo nghĩa rộng, các trụ cột này được định nghĩa như sau:
(i) Mở cửa thị trường - các hạn chế thương mại ảnh hưởng tới nhập khẩu (ii) Hỗ trợ trong nước – trợ cấp trong nước và các chương trình khác, bao gồm các biện pháp nhằm nâng hoặc đảm bảo giá sản xuất và thu nhập của nông dân
(iii) Trợ cấp xuất khẩu – các khoản trợ cấp được sử dụng để tạo khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu
1.1.2 Tính khả thi của Điều 9.4 của Hiệp định nông nghiệp về trợ cấp xuất khẩu đối với các nước đang phát triển
Trợ cấp xuất khẩu nông sản mà phù hợp hoàn toàn với Hiệp định nông nghiệp không bị cấm trong Hiệp định trợ cấp SCM nhưng sẽ bị điều chỉnh theo Hiệp định nông nghiệp Điều này là đúng luật nếu chúng phù hợp với Hiệp định nông nghiệp, đặc biệt là đáp ứng cam kết của các thành viên về cắt giảm trợ cấp trong nông nghiệp (trong đó bao gồm cả trợ cấp xuất khẩu) Các nước không được phép duy trì ở mức cao hơn mức đã cam kết về trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm
cụ thể Do vậy, trợ cấp xuất khẩu nông sản bị cấm trừ khi các thành viên được ghi vào biểu cam kết dưới dạng cam kết cắt giảm Trợ cấp xuất khẩu nông sản vì vậy nhìn chung là bị cấm
Hiệp định nông nghiệp quy định rằng “trợ cấp nhằm giảm chi phí tiếp thị xuất khẩu của sản phẩm nông nghiệp (không phải hỗ trợ rộng rãi và dịch vụ tư vấn) bao gồm chi phí đóng gói, nâng cấp và chi phí xử lý khác và chi phí vận tải quốc tế và cước vận chuyển” (Điều 9.1 (d)) và chi phí vận tải nội địa và cước phí
Trang 15gửi hàng xuất khẩu với điều kiện do Chính phủ cung cấp mà có ưu đãi hơn trong việc gửi hàng trong nước (Điều 9.1 (e)) đều là trợ cấp xuất khẩu thuộc diện cam kết cắt giảm
Tuy nhiên, Điều 9.4 quy định rằng “trong giai đoạn thực hiện, các nước đang phát triển sẽ không phải thực hiện cam kết cắt giảm trợ cấp xuất khẩu theo liệt kê tại các mục (d) và (e) với điều kiện chúng không được áp dụng nhằm tránh phải cam kết” [27, tr.45]
Tuy nhiên, dù điều 9.4 có vẻ như không còn hiệu lực vì giai đoạn thực hiện (quy định là 10 năm cho các nước đang phát triển - đến 2005) đã hết, quyết định của Đại hội đồng sau Hội nghị tại Cancun đã làm cho khung về mô hình áp dụng không có tính chắc chắn có khả năng gia hạn điều 9.4 Quyết định này quy định rằng “các nước đang phát triển sẽ tiếp tục được hưởng ưu đãi đặc biệt và khác biệt theo quy định của Điều 9.4 của Hiệp định nông nghiệp trong một thời gian hợp lý,
sẽ được đàm phán, sau khi giai đoạn chuyển đổi của tất cả các trợ cấp xuất khẩu hết hạn và thực hiện tất cả các luật lệ được đưa ra” Tuy nhiên, tình trạng hiện nay của việc gia hạn này vẫn chưa được rõ ràng do nằm ngoài phạm vi của Đại hội đồng, điều này có nghĩa là việc gia hạn cũng không có ý nghĩa pháp lý trừ khi được đưa vào gói cam kết Doha và Điều 9.4 hiện nay về nguyên tắc không được
áp dụng Tuy nhiên theo quyết định này, có nhiều khả năng các nước thành viên WTO sẽ không cho các nước đang phát triển đang áp dụng trợ cấp này tiếp tục duy trì nữa
Do đó, có vẻ như là mặc dù tác động pháp lý hiện nay của Điều 9.4 là mơ
hồ, nhưng các nước đang phát triển như Việt Nam có thể sử dụng trên thực tế theo
“Gói cam kết tháng 7” (“July package”) [77] Tuy nhiên, có khả năng diện áp dụng được hiểu là rất hẹp, những biện pháp xuất khẩu chung đó sẽ không được đưa vào
Để được áp dụng, trợ cấp cần hướng tới riêng cho việc giảm chi phí tiếp thị và vận tải hàng nông sản
Trong khi các nước đang phát triển được hưởng lợi từ Điều 9.4 để duy trì trợ cấp xuất khẩu được phép, các nước thành viên WTO trong quá trình đàm phán
Trang 16thường không cho các nước đang phát triển đang xin gia nhập quyền này, thậm chí các nước này còn ép các nước đang phát triển ngay cả trong quá trình thực hiện
Trợ cấp xuất khẩu nông sản dù phù hợp với Hiệp định nông nghiệp vẫn có thể bị áp dụng biện pháp đối kháng căn cứ quy định của Hiệp định trợ cấp SCM do gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại tới nhà sản xuất trong nước của thị trường nhập khẩu Ngoài ra, hành động đối kháng này không bị hạn chế theo điều khoản miễn trừ “Điều khoản hòa bình” nữa mà quan trọng hơn, sau khi điều khoản này hết hạn, các trợ cấp xuất khẩu nông sản dù phù hợp với Hiệp định nông nghiệp thậm chí tuân thủ các cam kết cắt giảm của các nước thành viên sẽ không còn được coi
là không thể bị kiện theo quy định của Hiệp định trợ cấp SCM, giờ đây dường như
là loại trợ cấp này có thể bị kiện nếu gây tác động tiêu cực cho đối tác thương mại Loại trợ cấp này có thể dễ gây ra kiện nhất là trợ cấp gây thiệt hại nghiêm trọng, tỏ
ra ít bị kiện hơn trợ cấp gây thiệt hại, hoặc giảm doanh số hoặc không bán được hàng trong nước của nước nhập khẩu, mặc dù loại trợ cấp gây thiệt hại nghiêm trọng cũng phải được chứng minh thông qua mối quan hệ nhân quả của hàng nhập khẩu và tình hình trong nước
Bất kỳ quyết định nào cũng sẽ buộc nước tiến hành trợ cấp phải thực hiện những biện pháp để xóa bỏ tác động tiêu cực và bỏ trợ cấp
1.1.3 Quy định của WTO đối với các thành viên đang phát triển trong Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Các thành viên thuộc các nước chậm phát triển theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc là thành viên WTO và các nước đang phát triển là thành viên WTO khác sẽ không phải áp dụng những quy định cấm về khối lượng trợ cấp, theo luật hay trong thực tế, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác [70, tr.366] Tiêu chuẩn này được đáp ứng khi thực tế cho thấy rằng việc cấp trợ cấp dù không được áp dụng theo luật dựa trên kết quả xuất khẩu, nhưng lại gắn với tình hình xuất khẩu hiện tại hoặc trong tương lai hay những thu nhập về xuất khẩu Thực tế là việc trợ cấp được cấp cho các doanh nghiệp xuất khẩu không vì thế mà có thể bị coi là trợ cấp xuất khẩu
Trang 17Các nước chậm phát triển sẽ không áp dụng trong thời hạn tám năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực đối với các quy định khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại [70, tr 366]
Các thành viên đang phát triển khác sẽ không áp dụng quy định khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay những điều kiện kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại, trong thời gian năm năm
kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực và sẽ loại bỏ dần trợ cấp xuất khẩu trong vòng tám năm và tốt nhất nên làm từng bước Tuy nhiên, một thành viên đang phát triển sẽ không tăng mức trợ cấp xuất khẩu của mình (đối với một thành viên đang phát triển hoặc không có trợ cấp xuất khẩu vào thời điểm Hiệp định của WTO có hiệu lực, khoản này sẽ áp dụng trên cơ sở mức áp dụng trợ cấp vào năm 1986) và
sẽ loại bỏ trợ cấp đó trong thời gian ngắn hơn thời hạn tám năm nếu việc sử dụng trợ cấp như vậy không phù hợp với nhu cầu phát triển của mình Nếu một thành viên đang phát triển thấy cần phải áp dụng trong thời hạn vượt quá thời hạn tám năm thì không chậm hơn một năm trước khi kết thúc thời hạn tám năm đã quy định, thì thành viên đó sẽ tham vấn cho Uỷ ban, sau khi xem xét mọi nhu cầu kinh
tế, tài chính và phát triển liên quan của thành viên đó, Uỷ ban sẽ xác định việc gia hạn có đủ cơ sở không Nếu Uỷ ban xác định rằng việc gia hạn là có cơ sở, thì thành viên đó sẽ tiến hành tham vấn hàng năm với Uỷ ban để xác định tính cần thiết phải duy trì trợ cấp đó Nếu Ủy ban không xác định được tính cần thiết thì thành viên đó sẽ loại bỏ trợ cấp xuất khẩu vẫn còn áp dụng trong vòng hai năm, kể
từ ngày hết thời hạn cho phép
Một thành viên đang phát triển đã đạt được trình độ cạnh tranh xuất khẩu với bất kỳ sản phẩm xuất khẩu nào sẽ xóa bỏ dần trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm đó trong thời hạn hai năm Tuy nhiên, với một thành viên đang phát triển và
đã đạt được tính cạnh tranh trong xuất khẩu một hoặc nhiều sản phẩm, trợ cấp xuất khẩu với sản phẩm đó sẽ được xóa bỏ trong vòng tám năm [70, tr 418]
Trang 18Một khoản trợ cấp được một nước đang phát triển áp dụng sẽ không bị suy đoán là gây ra thiệt hại nghiêm trọng theo điều kiện sau:
(a) Tổng giá trị trợ cấp cho một sản phẩm vượt quá 5%,
(b) Trợ cấp để bù cho sự thua lỗ kéo dài trong hoạt động kinh doanh của một ngành sản xuất;
(c) Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp, trừ khi nó là một biện pháp nhất thời một lần và không lặp lại với doanh nghiệp đó và được cấp chỉ thuần túy để cho phép có thời gian tìm kiếm một giải pháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn đề xã hội gay gắt;
(d) Trực tiếp xóa nợ như xóa một khoản nợ Nhà nước hay cấp kinh phí để thanh toán nợ [70, tr.370]
Đối với những trợ cấp có thể đối kháng được một thành viên là nước đang phát triển áp dụng hay duy trì nhưng không thuộc 04 điều kiện trên thì hành động đối kháng không được phép hay thực hiện theo các chế tài nếu không chứng minh được khoản trợ cấp đó được một thành viên khác áp dụng hay duy trì, dẫn đến thiệt hại, làm vô hiệu hóa, suy giảm hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của mình trừ khi xác định được là do có trợ cấp thuộc loại đó mà làm mất hay giảm hiệu lực của các nhân nhượng về thuế quan hoặc những nghĩa vụ khác
mà theo Hiệp định GATT 1994, đến mức loại bỏ hay ngăn cản việc nhập khẩu một sản phẩm tương tự của một thành viên khác vào thị trường Thành viên đang phát triển đang trợ cấp trừ khi gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước trên thị trường của thành viên đang nhập khẩu
Đối với các thành viên đang phát triển đã xóa bỏ trợ cấp trước khi hết thời hạn tám năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực, đối với các thành viên đang phát triển tổng số trợ cấp cho một sản phẩm không vượt quá 3% giá trị của nó tính theo giá trị trên cơ sở đơn vị sản phẩm Quy định này sẽ được áp dụng kể từ ngày việc xóa bỏ trợ cấp được thông báo cho Ủy ban, và còn được áp dụng chừng nào thành viên đang phát triển đã thông báo không áp dụng trợ cấp xuất khẩu Quy
Trang 19định này sẽ hết hiệu lực sau tám năm kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực
Theo quy định, trợ cấp có thể đối kháng sẽ không áp dụng đối với việc xóa
nợ trực tiếp, trợ cấp nhằm bù đắp chi phí xã hội, dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả việc miễn thu những khoản phải nộp cho Chính phủ và chuyển giao trách nhiệm khi các khoản trợ cấp đó được cấp trong khuôn khổ và gắn liền với một chương trình tư nhân hóa của thành viên đang phát triển với điều kiện các chương trình đó
và những trợ cấp liên quan được áp dụng trong một thời gian hạn chế và được thông báo cho Ủy ban và chương trình đó cuối cùng đưa ra kết quả tư nhân hóa xí nghiệp liên quan
Khi một thành viên đang phát triển có quan tâm yêu cầu, Ủy ban sẽ xem xét lại thực tế về một trợ cấp xuất khẩu riêng tại một thành viên đang phát triển để xác định về việc trợ cấp đó có phù hợp với nhu cầu phát triển của Thành viên đó hay không
1.1.4 Quan niệm của WTO về trợ cấp và trợ cấp trong nông nghiệp
Khái niệm “Trợ cấp” xuất hiện khi Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng (Agrement Subsidies and Countervailing Measures) của WTO có hiệu lực
Trong Điều 1 Hiệp định SCM có tiêu đề “Định nghĩa trợ cấp” đã nêu ra các điều kiện mà ở đó một trợ cấp được tồn tại Điều kiện đầu tiên, phải có đóng góp tài chính của Chính phủ hay của bất kỳ một tổ chức công nào trên lãnh thổ của một thành viên Tại mục 1.1 (a) (1) của Hiệp định SCM, các dạng chuyển giao tài chính khác nhau nêu ở trên được kiệt kê một danh mục rõ ràng:
(i) Chính phủ chuyển giao ngân quỹ trực tiếp bao gồm cả các chuyển giao trực tiếp các khoản vốn (cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (bảo lãnh tiền vay);
(ii) Các khoản thu phải nộp cho Chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (các ưu đãi tài chính hay miễn thuế)
Trang 20(iii) Chính phủ cung cấp hàng hóa hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung hoặc mua hàng
(iv) Trợ cấp cũng được xem là tồn tại nếu Chính phủ thực hiện chi trả theo một cơ chế tài trợ, hoặc giao phó hoặc trực tiếp cho một tổ chức tư nhân để thực thi một hoặc hơn các chức năng trên của Chính phủ
Thêm vào đó, những đóng góp tài chính cuả Chính phủ dưới bất kỳ một dạng thu nhập hoặc trợ giá nào trong phạm vi điều khoản XVI của GATT 1994, ví
dụ hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp để tăng xuất khẩu của bất kỳ một loại hàng hóa nào của nước mình, hoặc để giảm nhập khẩu hàng hóa vào nước mình [70, tr 362]
Khoản mục 1.1 (b) của Hiệp định SCM quy định rằng bất kỳ một khoản đóng góp tài chính, thu nhập hoặc trợ giá nào tương ứng với khoản mục 1.1 (a) được coi là trợ cấp khi nó mang lại lợi ích cho khách hàng
Các loại hình trợ cấp trên đây phải là trợ cấp riêng biệt được quy định trong Hiệp định SCM
Trợ cấp nông nghiệp thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định nông nghiệp (AoA) nhưng mối quan hệ giữa AoA và Hiệp định SCM khá phức tạp bởi vì Hiệp định SCM là Hiệp định quy định chung về vấn đề trợ cấp bao gồm cả lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp Mối quan hệ này được xem xét tại một điều khoản gọi là Điều khoản hòa bình (Điều 13 AoA) quy định trợ cấp trong nông nghiệp phù hợp với Hiệp định nông nghiệp không bị điều chỉnh bởi Hiệp định SCM do đưa ra một số trợ cấp không bị kiện theo các điều này và cũng viện dẫn giới hạn được phép trong các vụ tiến hành các biện pháp chống trợ cấp hết hạn vào cuối năm 2003 Việc hết hạn giai đoạn miễn trừ này bắt đầu từ năm 2004, mà khó có khả năng kéo dài thêm trong vòng đàm phán Doha, sẽ có tác động tới trợ cấp hàng nông sản Trong khi trợ cấp hàng nông sản (trong nước và xuất khẩu) được quy định trong Hiệp định nông nghiệp thì trong WTO lại không cho phép và rơi vào trợ cấp có thể bị kiện của WTO Hiệp định SCM quy định các vấn đề về trợ cấp nói chung Ngoài ra, Hiệp định nông nghiệp điều chỉnh riêng trợ cấp nông nghiệp
Trang 21và những trợ cấp này không được vượt mức cam kết cắt giảm của các nước thành viên) Tuy nhiên, trợ cấp nông nghiệp được phép có thể bị kiện theo SCM do gây
ra tác động tiêu cực Do đó, các thành viên có thể bị yêu cầu xóa bỏ hoặc sửa đổi những trợ cấp nông nghiệp này để không gây ra tác động tiêu cực cho các đối tác thương mại
1.2 Phân loại sản phẩm nông nghiệp theo WTO
Trong WTO, hàng hóa được chia làm hai (02) nhóm chính: Nông sản và phi nông sản [70, tr 102] Nông sản được xác định trong Hiệp định Nông nghiệp là tất
cả các sản phẩm liệt kê từ chương I đến chương XXIV (trừ cá và các sản phẩm từ cá) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong Hệ thống mã HS (hệ thống hài hòa về mã số và mô tả hàng hóa) Hơn nữa, căn cứ vào phụ lục 1, các diện sản phẩm của Hiệp định nông nghiệp sản phẩm nông sản được phân loại như sau:
(1) Động vật sống; các sản phẩm từ động vật
- Động vật sống như: Ngựa, dê, lừa, gà và một số động vật được quy định
số cân nặng Ví dụ: Lợn trọng lượng dưới 50 kg và trọng lượng trên 50 kg…
- Thịt và phụ phẩm dạng thịt như thịt đông lạnh bò, gà, heo, các loài bò sát,
cá voi, cá nục heo và cá heo (những động vật có vú thuộc bộ Cetacea…)
- Sữa và các sản phẩm từ sữa; trứng chim và trứng gia cầm, mật ong tự nhiên; sản phẩm ăn được gốc động vật như sữa kem, pho mát…
- Các sản phẩm gốc động vật như: ngà, mai, sừng động vật…
(2) Các sản phẩm thực vật
- Cây sống và các loại cây trồng khác; củ, rễ, và các loại tương tự; cành hoa rời và các loại cành lá trang trí như: Cây và rễ rau diếp xoăn, phong lan, rêu, địa y…
- Rau và một số loại củ, thân củ, rễ ăn được như: Khoai tây, cà chua, hành, tỏi, nấm, các loại đậu…
- Qủa và quả hạch ăn được; vỏ quả thuộc chi cam, quýt và các loại dưa như: Dừa khô, táo, mơ, vải, nhãn…
Trang 22- Cà phê, chè, các loại gia vị như: Cà phê chưa rang, cà phê đã rang, chè nguyên cánh, hạt tiêu, ớt, quế và hoa quế…
- Ngũ cốc như: Lúa mỳ, lúa đại mạch, yến mạch, gạo…
- Các sản phẩm xay xát, tinh bột như: Bột mỳ, bột ngũ cốc, bột ngô…
- Qủa và hạt có dầu, các loại ngũ cốc, hạt và quả khác, cây công nghiệp hoặc cây dược liệu, rơm, rạ và cây làm thức ăn gia súc như: Đậu tương, lạc nhân
đã hoặc chưa vỡ mảnh, cùi dừa khô, hạt cải dầu, rong biển, gỗ đàn hương…
- Nhựa cánh kiến đỏ; Gôm, nhựa cây, các chất nhựa và các chất chiết xuất
từ thực vật khác như: Cách kiến đỏ, nhựa cam thảo, cao, thạch, chất nhầy thu được
từ các loại cây
- Nguyên liệu thực vật dùng để tết bện và các sản phẩm chưa được chi tiết như: Tre, song mây, lá trầu, lá cau, bông gạo…
(3) Mỡ và dầu động vật hoặc thực vật và các sản phẩm tách từ chúng; mỡ
ăn được đã chế biến; các loại sáp động vật hoặc thực vật như: Mỡ trâu, bò, cừu,
dê, dầu đậu tương, dầu ôliu, dầu cọ…
(4) Thực phẩm chế biến; đồ uống, rượu mạnh và giấm; thuốc lá và các nguyên liệu thay thế thuốc lá đã chế biến
- Các chế phẩm từ cá, thịt hay động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác như: Xúc xích lợn, bò, thịt hộp nước
ép của các loại trên…
- Đường và các loại kẹo đường như: Đường mía hoặc đường củ cải và đường xucroza tinh khiết như: Mật mía, mật ong nhân tạo…
- Ca cao và chế phẩm từ ca cao như: Hạt ca cao đã vỡ hoặc chưa vỡ mảnh,
đã rang hoặc chưa rang, bột và bơ ca cao, sôcôla…
- Chế phẩm từ tinh bột, ngũ cốc, bột hoặc sữa, các loại bánh như: Các sản phẩm dinh dưỡng dành cho trẻ em, các sản phẩm dinh dưỡng y tế, các sản phẩm bột nhào, thức ăn chế biến từ quá trình nổ hoặc rang ngũ cốc, từ các sản phẩm ngũ cốc, ngũ cốc ở dạng hạt, mảnh hoặc hạt đã làm thành dạng khác (trừ bột, tấm và bột thô), đã làm chín sơ hoặc chế biến cách khác…
Trang 23- Chế phẩm từ rau, quả, quả hạch hoặc các phần khác của cây như: Dưa chuột, hành, tỏi, cà chua, nấm đã chế biến hoặc bảo quản, khoai tây, măng tây, các loại quả và nước ép từ quả đóng hộp…
- Các chế phẩm ăn được khác như: Chất chiết xuất, tinh chất và các chất cô đặc từ cà phê, chè, và các chế phẩm có thành phần cơ bản là các sản phẩm này, rễ rau diếp xoăn rang và các chất khác thay thế cà phê rang, các chất chiết xuất, tinh chất hoặc các chất cô đặc này có thành phần cơ bản là cà phê như: Nước sốt, tương
ớt, kem lạnh, chế phẩm từ sâm, chế phẩm có chứa cồn, các chế phẩm hỗ hợp các vitamin và khoáng chất để tăng cường dinh dưỡng
- Đồ uống, rượu và dấm, nước kể cả nước khoáng tự nhiên hoặc nhân tạo và nước có ga, chưa pha thêm đường hoặc chất ngọt khác hay hương liệu, nước đá và tuyết như: Sữa tươi tiệt trùng có hương liệu, sữa đậu nành, bia đen và bia nâu, rượu vang và rượu vang có ga, hèm nho…
- Phế liệu và phế thải từ ngành công nghiệp thực phẩm, thức ăn gia súc đã chế biến như: Bột mịn, bột thô và bột viên, từ thịt hoặc phụ phẩm từ thịt sau giết
mổ, từ cá hay động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác, không thích hợp để làm thức ăn cho người, tóp mỡ, khô dầu, bã phế thải từ quá trình ủ hoặc chưng cất, nguyên liệu thực vật và phế thải thực vật, phế liệu thực vật và sản phẩm phụ từ thực vật ở dạng bột viên hoặc không ở dạng bột viên, loại dùng trong chăn nuôi động vật
- Thuốc lá và nguyên liệu thay thế thuốc lá đã chế biến như: Lá thuốc lá chưa chế biến; phế liệu thuốc lá, lá thuốc lá chưa tước cọng hoặc đã sấy, xì gà, thuốc lá điếu thuốc lá tinh chất hoặc đã được phối trộn dưới hình thức dùng để hút,
để nhai hoặc để ngậm
- Các loại tinh dầu kể cả tinh dầu sáp và tinh dầu nguyên chất, chất tựa nhựa, nhựa chứa dầu đã chiết, tinh dầu đậm đặc trong mỡ, các loại dầu không bay hơi, trong các loại sáp hay các chất tương tự, thu được bằng phương pháp tách hương liệu của hoa hoặc phương pháp dầm, ngâm; các loại tinh dầu, nước cất tinh
Trang 24dầu và dung dịch nước của các loại tinh dầu như của quýt, cam, hoa nhài, oải hương…
- Da sống của trâu, bò hoặc ngựa (tươi hoặc muối, khô ngâm vôi axit hóa hoặc được bảo quản cách khác nhưng chưa thuộc, chưa làm thành da trống hoặc gia công thêm), đã hoặc chưa khử lông hoặc lạng xẻ
- Kén tằm, tơ sống (chưa xe), phế liệu tơ chưa được chải thô hoặc chải kỹ, lông cừu xén…
Với cách hiểu này, nông sản bao gồm một phạm vi khá rộng các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như:
Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như: Lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…
Các sản phẩm phái sinh như: Bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt…
Các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như: Bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô…
Tất cả các sản phẩm còn lại trong hệ thống mã HS gọi là sản phẩm phi nông nghiệp (còn gọi là sản phẩm công nghiệp)
Việc xác định các sản phẩm nông sản có ý nghĩa rất quan trọng bởi nhóm nông sản này sẽ được hay phải áp dụng những quy chế pháp lý đặc thù, không giống với quy chế áp dụng chung cho các loại hàng hóa phi nông nghiệp
Vào những năm sau khi GATT được thành lập, những sản phẩm này phải chịu cả thuế quan lẫn thuế nội địa rất cao tại thị trường các nước phát triển Do những sản phẩm này là hàng xuất khẩu chủ yếu của các nước đang phát triển, những vòng đàm phán cuối cùng của GATT đã đặt ưu tiên cho việc xóa bỏ những hạn chế, cản trở việc nhập khẩu những sản phẩm này Chính vì vậy, thậm chí ngay trước vòng đàm phán Urugoay, một phần lớn những sản phẩm này, dưới dạng nguyên liệu thô hoặc chế biến, đã thâm nhập vào thị trường các nước phát triển và được miễn thuế theo tỷ lệ thấp của các Điều khoản tối huệ quốc hoặc theo những Hiệp định ưu đãi song phương
Trang 251.3 Các loại hình trợ cấp
Trợ cấp nông nghiệp trong nước phù hợp với Hiệp định nông nghiệp, đáp ứng các cam kết cắt giảm của các thành viên là hợp pháp Các trợ cấp rơi vào trợ cấp bị cấm không thuộc diện này trong khi trợ cấp không bị đối kháng và trợ cấp
có thể bị đối kháng không thuộc diện phải cam kết cắt giảm Theo điều khoản hòa bình, tất cả các biện pháp hỗ trợ (trợ cấp không bị đối kháng, trợ cấp có thể bị đối kháng và trợ cấp bị cấm) đều thuộc diện không bị kiện (với điều kiện là biện pháp trợ cấp có thể bị đối kháng và trợ cấp bị cấm không vượt quá mức trợ cấp năm
1992 Trợ cấp thể bị đối kháng là trợ cấp có thể bị kiện và trợ cấp bị cấm là những trợ cấp bị kiện Các trợ cấp thuộc hai loại này phải thỏa mãn điều kiện “hạn chế
có thời hạn” của các đối tác thương mại Kể từ khi điều khoản hòa bình hết hạn vào năm 2004, “hạn chế có thời hạn” này không còn hiệu lực đối với trợ cấp có thể bị đối kháng và trợ cấp bị cấm nữa nhưng biện pháp thuộc trợ cấp không bị đối kháng về nguyên tắc có thể bị đối kháng Trên thực tế thì khó duy trì như vậy Lý
do, vì những trợ cấp không bị đối kháng là ít bóp méo thương mại nhất và nhiều biện pháp thuộc loại này không thể bị kiện do nó mang tính áp dụng chung hoặc được quy định thành luật nên luật đối kháng của quốc gia không thể tiến hành đối kháng Ngoài ra, trong thời kỳ điều khoản hòa bình vẫ còn hiệu lực thì các trợ cấp loại này không thể bị kiện nhưng bây giờ mặc dù phù hợp với Hiệp định Nông nghiệp thì vẫn có thể bị kiện theo Hiệp định SCM trong lĩnh vực trợ cấp xuất khẩu
1.3.1 Trợ cấp không thể đối kháng
* Khái niệm
Trợ cấp không thể đối kháng là loại trợ cấp không có sự giúp đỡ giá cả đối với người sản xuất, không có trợ giá hoặc chỉ trợ giá một ít đối với thương mại hàng nông sản
Các chính sách thuộc trợ cấp không thể bị đối kháng được loại trừ hoàn toàn khỏi cam kết cắt giảm Đó là các biện pháp hỗ trợ nhưng không làm bóp méo giá trị thương mại
Trang 26Xác định những trợ cấp không thể đối kháng
(a) Trợ cấp không mang tính chất riêng biệt;
(b) Trợ cấp mang tính chất riêng biệt nhưng đáp ứng các điều kiện dưới đây:
- Trợ giúp cho các vùng khó khăn trên lãnh thổ nước thành viên theo chương trình chung phát triển vùng có nghĩa là những chương trình trợ cấp vùng là
bộ phận của một chính sách phát triển vùng đồng bộ từ bản thân chính sách và được áp dụng chung và là trợ cấp phát triển vùng không được cấp cho một địa điểm địa lý riêng biệt hay về thực chất không đem lại tác động đến sự phát triển của vùng và không mang tính chất riêng biệt trong phạm vi vùng đủ điều kiện được hưởng trợ cấp với điều kiện sau:
+ Mỗi vùng khó khăn phải được xác định ranh giới một cách rõ ràng về địa
lý với đặc điểm kinh tế và hành chính có thể làm rõ được;
+ Vùng đó được coi là một vùng khó khăn trên cơ sở những tiêu chí vô tư
và khách quan, nêu rõ ràng những khó khăn của vùng đó phát sinh từ những nhân
tố không chỉ mang tính nhất thời; các tiêu thức đó phải được nêu rõ trong luật, quy định hay những văn bản chính thức khác để có thể cho phép kiểm tra
+ Các tiêu chí đó bao gồm việc xác định mức độ phát triển kinh tế dựa vào
ít nhất là một trong những yếu tố: (i) Trong các chỉ tiêu thu nhập tính theo đầu người hoặc thu nhập hộ gia đình tính theo đầu người và chỉ tiêu đó không vượt quá 85% thu nhập trung bình của vùng lãnh thổ liên quan (ii) Chỉ số thất nghiệp phải
là mức thất nghiệp không dưới mức 110% mức thất nghiệp trung bình của vùng lãnh thổ liên quan và được tính toán trong thời kỳ 03 năm, tuy nhiên cách tính đó
có thể là một cách tính phức hợp hay bao gồm nhiều yếu tố khác
- Hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp hay các quy định đặt ra, làm cho các hãng phải chịu khó khăn hoặc gánh nặng tài chính hơn với điều kiện sự hỗ trợ đó:
+ Là một biện pháp nhất thời không kéo dài,
Trang 27+ Giới hạn không quá 20% chi phí nâng cấp,
+ Không bao gồm chi phí thay thế và vận hành khoản đầu tư đã hỗ trợ, những chi phí này phải hoàn toàn do các hãng tự chịu,
+ Phải có liên hệ trực tiếp tới hay tương ứng với các chương trình giảm tiếng ồn và ô nhiễm của doanh nghiệp và không bao gốm bất kỳ khoản tiết kiệm chi phí sản xuất nào có thể đạt được
+ Được cấp cho mọi doanh nghiệp có thể ứng dụng thiết bị mới hay quy trình sản xuất mới
Trợ cấp không thể bị đối kháng bao gồm các biện pháp trợ cấp thuộc một trong năm nhóm xác định và phải đáp ứng đủ ba điều kiện cụ thể
Là thành viên WTO Việt Nam có thể tùy ý thực hiện các loại trợ cấp nông nghiệp nội địa không thể bị đối kháng, không phải cam kết cắt giảm, không bị các thành viên khác khiếu kiện
* Năm nhóm trợ cấp có thể được xem là trợ cấp không thể bị đối kháng Nhóm 1: Trợ cấp cho các Dịch vụ chung
Ví dụ: Trợ cấp cho nghiên cứu khoa học; kiểm soát dịch bệnh; đào tạo; khuyến nông; tư vấn; kiểm tra sản phẩm và mục đích sức khỏe con người; tiếp thị; thông tin thị trường; tư vấn; kết cấu hạ tầng nông nghiệp (điện, đường, thủy lợi…)
Nhóm 2: Trợ cấp nhằm mục tiêu dự trữ an ninh lương thực quốc gia
Điều kiện: Khối lượng lương thực dự trữ phải phù hợp với các tiêu chí định trước, việc thu mua để dự trữ và thanh lý khi hết hạn dự trữ phải thực hiện theo giá thị trường
Nhóm 3: Trợ cấp lương thực trong nước
Điều kiện: Tiêu chí để cho hưởng trợ cấp phải rõ ràng, có liên quan đến mục tiêu dinh dưỡng
Nhóm 4: Hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai
Ví dụ: Các khoản chi phí hỗ trợ nhằm phục hồi sản xuất nông nghiệp cho vùng bị thiên tai
Trang 28Ví dụ: Các khoản chi phí hỗ trợ nhằm phục hồi sản xuất nông nghiệp cho những vùng bị thiên tai như giống, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, san ủi lại đồng ruộng…
Nhóm 5: Trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất
Bao gồm:
- Hỗ trợ thu nhập (không được gắn với yêu cầu sản xuất)
- Trợ cấp tài chính của Nhà nước vào chương trình an toàn và bảo hiểm thu nhập cho nông dân (khi mất mùa hoặc mất giá)
- Hỗ trợ bù đắp thiệt hại do thiên tai gây ra
- Trợ cấp hưu trí cho người sản xuất nông nghiệp
- Trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua chương trình chuyển các nguồn lực (đất đai, vật nuôi… khỏi mục đích sản xuất thương mại)
- Trợ cấp điều chỉnh cơ cấu thông qua chương trình trợ cấp đầu tư (đầu tư nhằm khắc phục các bất lợi về cơ cấu)
- Trợ cấp cho các chương trình môi trường (bù đắp chi phí sản xuất phải tăng thêm hoặc sản lượng giảm đi do thực hiện các yêu cầu về môi trường)
- Trợ cấp theo các chương trình trợ giúp vùng (vùng có vị trí hoặc điều kiện bất lợi)
* Ba điều kiện để được xem là trợ cấp không thể đối kháng
Để được xem là trợ cấp không thể bị đối kháng, biện pháp trợ cấp phải thuộc một trong năm nhóm trên phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, là các biện pháp không hoặc rất ít tác động bóp méo thương mại Thứ hai, thông qua chương trình do chính phủ tài trợ (kể cả các khoản đáng
ra phải thu nhưng được để lại)
Thứ ba, không có tác dụng trợ giá cho người sản xuất
1.3.2 Trợ cấp có thể đối kháng
Là những hình thức có thể bóp méo giá trị thương mại nhưng ở mức tối thiểu và vì vậy không yêu cầu phải cam kết cắt giảm
Trang 29Các khoản trợ cấp được nêu tại định nghĩa, không một thành viên nào thông qua việc sử dụng bất kỳ trợ cấp nào để gây ra tác động có hại đến quyền lợi của thành viên khác cụ thể:
(a) Gây tổn hại cho một ngành sản xuất của một thành viên khác
(b) Làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994, đặc biệt là những quyền lợi đó được hưởng từ những nhân nhượng đã cam kết
(c) Gây tổn hại nghiêm trọng tới quyền lợi của một thành viên khác
* Xác định tổn hại nghiêm trọng
Tổn hại nghiêm trọng được coi là tồn tại trong trường hợp:
(a) Tổng giá trị trợ cấp cho một sản phẩm vượt quá 5%;
(b) Trợ cấp để bù cho sự thua lỗ kéo dài trong hoạt động kinh doanh của một ngành sản xuất;
(c) Trợ cấp để bù cho các hoạt động kinh doanh thua lỗ của một doanh nghiệp, trừ khi nó là một biện pháp nhất thời một lần và không lặp lại với doanh nghiệp đó và được cấp chỉ thuần túy để cho phép có thời gian tìm kiếm một giải pháp lâu dài và tránh phát sinh một vấn đề xã hội gay gắt;
(d) Trực tiếp xóa nợ như xóa một khoản nợ Nhà nước hay cấp kinh phí để thanh toán nợ
Nếu nước thành viên có trợ cấp trong các nội dung trên sẽ không coi là tổn hại nghiêm trọng nếu thành viên áp dụng trợ cấp chứng minh được rằng việc trợ cấp được nêu ra không dẫn đến bất kỳ tác động nào để gây ra tổn hại nghiêm trọng
* Các trường hợp có thể phát sinh tổn hại
(a) Trợ cấp làm triệt thoái hay ngăn cản nhập khẩu các sản phẩm tương tự của một thành viên khác vào thị trường thành viên đang áp dụng trợ cấp;
(b) Trợ cấp đã làm triệt thoái hay ngăn cản xuất khẩu các sản phẩm tương
tự của một thành viên khác từ thị trường của một nước thứ ba;
Trang 30(c) Trợ cấp đã làm hạ giá ở mức độ lớn của một sản phẩm được trợ cấp so với giá của sản phẩm tương tự của một thành viên khác trên cùng một thị trường hay gây ra ép giá, đè giá hay giảm doanh số đáng kể trên cùng một thị trường
(d) Trợ cấp đã làm tăng thị phần trên thị trường thế giới của thành viên đang áp dụng trợ cấp với một sản phẩm hoặc mặt hàng chưa chế biến được trợ cấp
so với mức thị phần trung bình của một thành viên đó trong 03 năm trước đó hoặc trợ cấp như vậy duy trì một tốc độ tăng đều trong thời kỳ được trợ cấp
Những hình thức trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất trong chương trình hạn chế sản xuất nông nghiệp cũng được miễn trừ cam kết cắt giảm với các điều kiện:
Thứ nhất, những trợ cấp dựa trên diện tích hoặc năng suất cố định
Thứ hai, trợ cấp tối đa bằng 85% hoặc ít hơn mức sản xuất cơ sở
Thứ ba, trợ cấp trong chăn nuôi dựa trên số đầu con cố định
Thứ tư, Các chính sách thuộc “chương trình phát triển” Bao gồm Trợ cấp
đầu tư như cho vay ưu đãi, hỗ trợ sau đầu tư, hỗ trợ lãi suất…; Trợ cấp các loại vật
tư đầu vào cho người nghèo có thu nhập thấp hoặc nông dân ở những vùng khó khăn; Hỗ trợ để chuyển đổi cây thuốc phiện sang trồng cây khác
Đây là hình thức trợ cấp mà nhiều nước phát triển áp dụng trong chương trình hạn chế bớt sản xuất trong nông nghiệp Tất cả các nước đang phát triển đều không có hình thức trợ cấp này Nên mặc nhiên loại trợ cấp này dành cho các nước phát triển Tại vòng Doha, các nước cũng đang yêu cầu phải giảm nhiều và tiến đến loại bỏ hình thức trợ cấp này
1.3.3 Trợ cấp bị cấm
* Khái niệm
Trợ cấp bị cấm là loại trợ cấp nhằm bóp méo thương mại, buộc phải cam kết cắt giảm khi vượt mức tối thiểu về mức trợ cấp được phép Những trợ cấp trong nước có tác động đến sản lượng, ở cấp độ sản lượng cũng như cấp độ ngành nông nghiệp Tổng trợ cấp được xác định từ nguồn chi ngân sách của Chính phủ
Trang 31Do tính chất bóp méo thị trường nhiều nên, về nguyên tắc chung, WTO nghiêm cấm mọi hình thức trợ cấp xuất khẩu Các nước thành viên khi có trợ cấp xuất khẩu phải kê khai và cam kết cắt giảm theo nguyên tắc:
(i) Nguyên tắc dừng tại chỗ và cắt giảm
(ii) Giảm đồng thời cả khối lượng được nhận trợ cấp và giá trị trợ cấp (iii) Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển thể hiện mức giảm ít hơn và thời gian cắt giảm dài hơn
Theo quy định tại Hiệp định nông nghiệp, thành viên WTO vẫn có thể thực hiện các trợ cấp thuộc trợ cấp bị cấm nhưng mức trợ cấp phải đảm bảo một trong hai điều kiện dưới đây:
Thứ nhất, trong mức tối thiểu đối với tổng mức hỗ trợ gộp (mức tối thiểu
được tính bằng 5% trị giá sản phẩm hoặc 5% tổng giá trị sản lượng ngành nông nghiệp đối với các nước phát triển và bằng 10% đối với nước đang phát triển như Việt Nam ) Nếu vượt mức trên phải cắt giảm, theo quy định của WTO, các nước phát triển được yêu cầu cắt giảm 20% tổng mức hỗ trợ gộp trong thời kỳ 1995 –
2000, các nước đang phát triển phải cắt giảm 13,3% trong giai đoạn 1995 – 2004 Nhưng kết quả cắt giảm thực tế không đạt được kết quả như mong muốn
Thứ hai, không vượt mức trần cam kết
Trợ cấp thuộc trợ cấp bị cấm là tất cả các trợ cấp trong nước không thuộc
nhóm trợ cấp không thể đối kháng và trợ cấp có thể đối kháng hoặc “chương trình
hỗ trợ phát triển sản xuất” Đây hầu hết là các loại trợ cấp có tác động làm biến
dạng thương mại
Trên thực tế, hình thức trợ cấp thuộc trợ cấp bị cấm thông dụng nhất ở các nước là các chương trình thu mua nông sản của Chính phủ để can thiệp vào thị trường
Với những loại trợ cấp bị cấm, mặc dù điều kiện áp dụng khó khăn hơn nhưng đây là những trợ cấp cần thiết và mang lại lợi ích cho nông dân và doanh nghiệp liên quan, vì thế doanh nghiệp cũng cần phải chú ý để đề xuất các cơ quan liên quan trong điều kiện cụ thể
Trang 32Tuy vẫn được áp dụng nhưng nếu trợ cấp thuộc trợ cấp bị cấm gây tác hại hoặc có nguy cơ gây tác hại đến các thành viên WTO khác thì vẫn có thể bị các nước khác kiện Điều này có nghĩa là việc áp dụng các trợ cấp bị cấm của một nước dù đáp ứng đầy đủ các điều kiện của WTO nhưng gây thiệt hại cho các nước thành viên khác thì vẫn có thể bị kiện
Tuy nhiên các nước đang phát triển sử dụng các biện pháp thuộc trợ cấp bị cấm thường trở thành đối tượng cho các đối tác thương mại khác xem xét và áp dụng các biện pháp thuế đối kháng, thuế chống bán phá giá
1.3.4 Trợ cấp xuất khẩu
1.3.4.1 Khái niệm trợ cấp xuất khẩu
Trợ cấp xuất khẩu là những khoản chi trả của Chính phủ hoặc những khoản đóng góp tài chính của các Chính phủ cho các nhà sản suất hay xuất khẩu trong nước để họ xuất khẩu hàng hóa hay dịch vụ
1.3.4.2 Phân loại trợ cấp xuất khẩu
Đây là các chính sách được quy cho là có tác động bóp méo thương mại trên thị trường thế giới cả về giá và bất ổn thị trường Trợ cấp xuất khẩu có tác động trực tiếp và ngay lập tức đến thị trường nông sản Tuy nhiên, trợ cấp xuất khẩu nông sản được cho phép áp dụng với một số biện pháp giới hạn cụ thể
Việc Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một hãng hoặc một nghành sản xuất trong nước tính theo kết quả xuất khẩu
Các chương trình giữ lại ngoại tệ hoặc việc làm tương tự có thưởng khuyến khích xuất khẩu
Vận chuyển nội địa và cước phí giao hàng xuất khẩu, được Chính phủ cung cấp hoặc giao tiền cung cấp, với những điều kiện thuận lợi hơn so với giao hàng nội địa
Chính phủ hoặc cơ quan Chính phủ cung cấp sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu hoặc sản xuất trong nước sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, trực tiếp hay gián tiếp thông qua các chương trình được phép của Chính phủ, với những điều kiện thuận lợi hơn cung cấp cho các sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh
Trang 33trực tiếp hay dịch vụ để sử dụng trong sản xuất hàng tiêu thụ trong nước, nếu trong trường hợp là một sản phẩm, các điều kiện điều khoản đó thuận lợi hơn điều kiện thương mại thông thường sẵn có trên thị trường thế giới dành cho nhà xuất khẩu của thành viên đó
Miễn hay tạm ngừng thu một phần hoặc toàn bộ các khoản thuế trực thu hay các khoản đóng góp xã hội mà doanh nghiệp sản xuất hay thương mại đã hoặc phải thanh toán chỉ áp dụng riêng với xuất khẩu
Cho phép miễn giảm trực tiếp liên quan tới xuất khẩu hoặc kết quả xuất khẩu, vượt quá hay cao hơn mức miễn giảm dành cho sản xuất để tiêu thụ trong nước trong cách tính toán cơ sở để thu thuế trực tiếp
Miễn hay hoàn thuế gián thu cao hơn mức áp dụng đối với sản xuất hay lưu thông một sản phẩm tương tự tiêu thụ trên thị trường nội địa, đối với sản xuất hay lưu thông xuất khẩu hàng hóa
Miễn hay hoàn thuế gián thu sang kỳ sau thuộc diện thu gộp cho cả các cộng khoản trước đây với hàng hóa hay dịch vụ được sử dụng trong sản xuất hàng xuất khẩu vượt quá mức được miễn, giảm hay hoãn thu với các khoản thuế gián thu gộp đánh vào các sản phẩm hay dịch vụ thuộc các giai đoạn trước đây tương ứng được tiêu thụ trên thị trường trong nước; Tuy nhiên, với điều kiện là, các khoản thuế gián thu gộp được miễn, hoàn trả hay chuyển có thể áp dụng đối với hàng đã xuất khẩu mà không áp dụng với sản phẩm tương tự được tiêu thụ trong nước, khi các khoản thuế gián thu gộp được đánh vào vật tư đầu vào tiêu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu Điểm này có thể được hiểu một cách phù hợp với hướng dẫn về tiêu thụ đầu vào trong tiến trình sản xuất
Hoàn trả hay giảm các khoản thu phí nhập khẩu vượt quá số thu đối với hàng nhập khẩu tiêu thụ ở đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu; Tuy nhiên, nếu trong những trường hợp riêng biệt, một hãng có thể sử dụng một số lượng vật tư đầu vào trên thị trường trong nước ngang với hay có cùng chất lượng và đặc điểm như đầu vào nhập khẩu để thay thế đầu vào trong nước đó để có thể được hưởng
Trang 34lợi từ quy định này khi các hoạt động xuất khẩu hoặc nhập khẩu tương ứng cùng phát sinh trong một thời kỳ hợp lý nhưng không quá hai năm
Chính phủ hay các cơ quan đặc biệt do Chính phủ quản lý thực hiện các chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, các chương trình bảo hiểm hay bảo lãnh nhằm chống lại sự tăng chi phí sản phẩm xuất khẩu hay các chương trình về rủi ro ngoại hối, với phí thu thấp không hợp lý, không đủ để chi trả cho chi phí hoạt động dài hạn hay thâm hụt của các chương trình đó
Chính phủ hoặc các cơ quan đặc biệt trực thuộc hoặc do Chính phủ quản lý cấp các khoản tín dụng xuất khẩu với mức lãi suất thấp hơn mà mức họ thực tế phải trả để có tiền thực hiện việc này hay lẽ ra phải trả nếu vay trên thị trường vốn quốc tế để có được tiền với cùng thời hạn và các điều kiện tín dụng và được tính bằng cùng đồng tiền của tín dụng xuất khẩu hoặc các cơ sở đó trả cho toàn bộ hay một phần chi phí phát sinh với nhà xuất khẩu hay với thể chế tài chính để có được tín dụng, trong chừng mực các khoản tín dụng đó được sử dụng để bảo đảm dành cho nhà xuất khẩu những lợi thế đáng kể trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu
Có 06 hình thức trợ cấp xuất khẩu:
(1) Trợ cấp trực tiếp cho người sản xuất hàng xuất khẩu
(2) Bán thanh lý hàng nông sản dự trữ xuất khẩu với giá rẻ hơn
(3) Tài trợ các khoản chi trả cho xuất khẩu, kể cả phần được tài trợ từ nguồn thu thuế, các khoản được để lại
(4) Trợ cấp cho nông sản dựa trên tỷ lệ xuất khẩu
(5) Trợ cấp để giảm chi phí tiếp thị, kể cả chi phí xử lý, nâng cấp, tái chế sản phẩm, chi phí vận tải quốc tế, cước phí vận chuyển
(6) Ưu đãi cước phí vận tải trong nước và quốc tế đối với hàng xuất khẩu hơn hàng tiêu thụ nội địa
Các nước đang phát triển được phép áp dụng 02 hình thức 5 và 6
Hiệp định nông nghiệp hạn chế những chính sách trợ cấp xuất khẩu mà trước đây chưa có, khống chế cả khối lượng xuất khẩu được trợ cấp và chi tiêu ngân sách cho trợ cấp trên cơ sở mức cam kết Theo Hiệp định về nông nghiệp,
Trang 35các nước phát triển phải giảm 21% trợ cấp (tính theo lượng trợ cấp) và 36% (tính theo tiền) trong vòng 06 năm Các nước đang phát triển là 14% (tính theo lượng trợ cấp) và 24 (tính theo tiền) trong vòng 10 năm kể từ 1995 Thời kỳ cơ sở của cắt giảm trợ cấp xuất khẩu được tính từ 1986 – 1990
Trong quá trình cắt giảm, các nước có thể linh hoạt tùy theo sự biến động của thị trường vào thời điểm từ 2 đến 5 năm đầu, cho phép các nước có thể tiếp tục trợ cấp xuất khẩu Tuy nhiên, nếu điều này xảy ra thì mức trợ cấp trong năm tiếp theo phải bị cắt giảm tiếp để đảm bảo mức cắt giảm tổng cộng trong toàn bộ quá trình không bị ảnh hưởng
Các cam kết cắt giảm được thực hiện theo nhóm sản phẩm chứ không theo từng sản phẩm cụ thể Các nước không được phép bổ sung thêm các hình thức trợ cấp mới cũng như không được tăng trợ cấp so với các loại hình và số lượng trợ cấp trong thời kỳ cơ sở, trừ những trợ cấp được miễn trừ công bố trong lịch trình cắt giảm của nước đó
1.4 Quy trình chống trợ cấp
Nhiều nước và vùng lãnh thổ thường vận dụng phương tiện trợ cấp để mở rộng xuất khẩu, thúc đẩy phát triển ngành sản xuất của nước mình nhưng sự trợ cấp không thỏa đáng cũng có thể gây thiệt hại đến nguyên tắc cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế, đồng thời một số nước mượn cớ chống trợ cấp, vận dụng biện pháp chống trợ cấp thực hiện chủ nghĩa bảo hộ thương mại Kết quả của nó là biện pháp trợ cấp và biện pháp chống trợ cấp đã làm bóp méo và gây thiệt hại lợi ích thương mại của các nước và ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh thương mại quốc tế Năm 1947 khi thành lập GATT, đã có quy định nguyên tắc với trợ cấp và chống trợ cấp
* Khái niệm chống trợ cấp
Chống trợ cấp là một trong những công cụ cần thiết (ngoài ra còn biện pháp chống bán phá giá) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các ngành sản xuất trong nước trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc
hỗ trợ trong nước hoặc trợ cấp xuất khẩu
Trang 361.4.1 Chế tài đối với trợ cấp bị cấm
Chế tài đối với vụ tranh chấp trợ cấp bị cấm chỉ đặt ra khi có những bằng chứng chứng minh rằng một khoản trợ cấp bị cấm đang được một thành viên khác
áp dụng hay duy trì
* Trình tự giải quyết
Thành viên có bằng chứng để chứng minh rằng thành viên bên kia đang áp dụng hay duy trì các khoản trợ cấp thì thành viên đó có thể yêu cầu được tham vấn
- Hồ sơ yêu cầu tham vấn:
(i) Đơn yêu cầu tham vấn
(ii) Bản trình bày chứng cứ hiện có về sự tồn tại và tính chất của trợ cấp
- Trình tự thủ tục giải quyết
Bước 1:
Nếu trong vòng 30 ngày (có thể được gia hạn nếu các bên thỏa thuận) kể từ ngày có yêu cầu tham vấn mà không đạt được giải pháp nào được các bên chấp nhận, thì bất kỳ thành viên nào tham gia tham vấn cũng có thể đưa vấn đề ra cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) để ngay lập tức thành lập một Ban hội thẩm, trừ khi DSB nhất trí không thành lập Ban hội thẩm để giải quyết vấn đề đó
Bước hai:
Ngay khi được thành lập, Ban hội thẩm có thể yêu cầu sự trợ giúp của nhóm chuyên gia thường trực (PGE) để đánh giá xem xét biện pháp đang được nêu ra có phải là trợ cấp bị cấm không Nếu được yêu cầu PGE sẽ tiến hành xem xét ngay các chứng cứ về sự tồn tại và các chứng cứ được nêu ra và sẽ tạo cơ hội
để thành viên đang áp dụng hay duy trì biện pháp đó chứng minh rằng biện pháp
đó không phải là trợ cấp bị cấm Ban hội thẩm sẽ quy định thời hạn để PGE báo cáo kết luận lên Ban hội thẩm Kết luận này không được phép sửa đổi
Trang 37Bước ba
Ban hội thẩm sẽ nộp báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp trong vòng
90 ngày kể từ ngày Ban hội thẩm được thành lập và các điều khoản tham chiếu được chấp nhận
Nếu trong bản báo cáo xác định là trợ cấp bị cấm thì Ban hội thẩm sẽ khuyến nghị thành viên đang duy trì trợ cấp xóa bỏ trợ cấp đó trong thời hạn Ban hội thẩm quy định
Quyết định này có thể kháng cáo hoặc DSB không thông qua bản báo cáo
đó
Bước bốn:
Một trong các bên không đồng ý với quyết định trong báo cáo cuối cùng thì
có thể kháng cáo lên Cơ quan Phúc thẩm Thời hạn giải quyết kháng cáo không được vượt quá 60 ngày Báo cáo phúc thẩm sẽ đươc DSB thông qua và các bên liên quan chấp nhận một cách vô điều kiện
DSB có quyền không thông qua báo cáo phúc thẩm
Bước năm:
Trong trường hợp khuyến nghị của DSB không được thực thi trong thời hạn được Ban hội thẩm đề ra, DSB sẽ cho phép thành viên có khiếu nại áp dụng biện pháp đối kháng tương xứng với thực tế nội dung trợ cấp bị cấm
Theo quy định tại Khoản 6 Điều 22 của Thỏa thuận giải quyết tranh chấp (DSU), một bên tranh chấp có quyền yêu cầu trọng tài để giải quyết
1.4.2 Chế tài đối với trợ cấp có thể bị đối kháng
* Trình tự giải quyết
Bất kỳ một thành viên có chứng cứ để chứng minh rằng một khoản trợ cấp được một thành viên khác áp dụng hay duy trì, dẫn đến thiệt hại, làm vô hiệu hóa, suy giảm hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của mình, thành viên này có thể yêu cầu tham vấn với thành viên bên kia
Hồ sơ yêu cầu tham vấn:
- Đơn yêu cầu tham vấn
Trang 38- Có bằng chứng về sự tồn tại và tính chất của một khoản trợ cấp và thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước, hay sự vô hiệu hóa, suy giảm hoặc tổn hại nghiêm trọng gây ra với quyền lợi của thành viên yêu cầu tham vấn
Bước ba:
Ban hội thẩm xem xét và có báo cáo gửi cho các bên tranh chấp trong vòng
120 ngày kể từ ngày Ban hội thẩm được thành lập và điều khoản tham chiếu của ban được xác định
Bước bốn:
Báo cáo sẽ được thông qua trong vòng 30 ngày kể từ ngày các thành viên nhận được báo cáo, nếu một trong các bên tranh chấp kháng cáo thì sẽ gửi lên Cơ quan Phúc thẩm, cơ quan này sẽ ra quyết định bằng văn bản trong vòng 60 ngày
Trong mọi trường hợp, thủ tục giải quyết kháng cáo cũng không quá 90 ngày
Báo cáo phúc thẩm sẽ được thông qua vô điều kiện và được các bên tranh chấp chấp nhận
DSB có quyền không thông qua báo cáo trong vòng 20 ngày kể từ ngày gửi báo cáo tới các thành viên
Bước năm:
Khi báo cáo được thông qua xác định có tổn hại bất kỳ trợ cấp nào dẫn tới những tác động có hại tới quyền lợi của một số thành viên khác thì thành viên trợ
Trang 39cấp hay duy trì trợ cấp sẽ có những biện pháp thích hợp để loại bỏ tác động có hại hay loại bỏ trợ cấp
Trong trường hợp một thành viên không thực hiện những biện pháp thích hợp để loại bỏ tác động nghịch đó hay loại bỏ trợ cấp trong vòng 6 tháng kể từ ngày DSB thông qua báo cáo, thì DSB cho phép bên khiếu nại có biện pháp đối kháng tương xứng với mức độ và tính chất của tác động có hại đã xác định được, trừ khi nhất trí từ chối yêu cầu đó
Một trong các bên có quyền yêu cầu trọng tài giải quyết tranh chấp theo quy định tại Khoản 6 Điều 22 của DSU
1.4.3 Tham vấn và chế tài đƣợc phép trong trợ cấp không thể đối kháng
Trong quá trình thực hiện các chương trình trợ cấp được phép, cho dù chương trình đã phù hợp với các tiêu chí và quy định nhưng nếu một thành viên có
lý do để tin rằng chương trình này dẫn tới những tác hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước của thành viên đó tới mức có thể gây thiệt hại khó có thể khắc phục được thì thành viên đó có thể yêu cầu tham vấn với thành viên đang áp dụng hoặc duy trì trợ cấp
Nếu tham vấn không đạt được kết quả là nhằm làm rõ sự việc và để đạt tới một giải pháp có thể được các bên chấp nhận thì trong vòng 60 ngày kể từ ngày yêu cầu tham vấn thì thành viên yêu cầu tham vấn có thể đưa vấn đề ra trước Uỷ ban để giải quyết
Uỷ ban sẽ xem xét sự việc, nếu xác định có sự tác động thì Uỷ ban có thể khuyến nghị với thành viên đang áp dụng trợ cấp điều chỉnh chương trình trợ cấp sao cho triệt tiêu được tác động đó
Trong trường hợp các khuyến nghị nói trên không được tuân thủ trong vòng
6 tháng, Uỷ ban sẽ cho phép thành viên yêu cầu được áp dụng những biện pháp đối kháng tương xứng với tính chất và mức độ của tác động đã được xác định
Trang 401.5 Biện pháp chống trợ cấp
1.5.1 Khái niệm
Biện pháp chống trợ cấp là những cách thức do quốc gia bị thiệt hại tiến hành nhằm ngăn ngừa hoặc triệt tiêu những hành vi trợ cấp ở mức độ cần thiết và hợp lý
* Trình tự điều tra trong nước
Khi thẩm tra sự ảnh hưởng đối với nền nông nghiệp, nước nhập khẩu phải đánh giá ảnh hưởng biểu hiện ở tất cả các nhân tố và chỉ số kinh tế như: Phải tính xem việc đó có tăng thêm gánh nặng của Chính phủ trong quy hoạch giúp đỡ nông nghiệp hay không, việc trợ cấp trong nước có vượt mức cho phép hay không… Tóm lại là phải chứng minh được rằng hàng nhập khẩu được trợ cấp đang gây thiệt hại Song, còn có các nhân tố khác cũng gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp, không được áp đặt hết lên hàng nhập khẩu được trợ cấp những thiệt hại do những nhân tố này gây ra
Khi xác định thiệt hại đối với nông nghiệp trong nước, thì thiệt hại trong nước đối với nông nghiệp trong nước nói ở đây là chỉ tất thảy các thiệt hại đối với sản phẩm nông nghiệp cùng loại ở trong nước
Thứ hai, Yêu cầu phát động điều tra