Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề chống bán phá giá đã thu hút được nhiều đối tượng nghiên cứu từ các Bộ ngành chủ chốt như Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công thương với nghiên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ THỊ THÚY HẰNG
PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VÕ THỊ THÚY HẰNG
PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
VÀ VIỆT NAM VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
Chuyên ngành : Luật quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Năng
HÀ NỘI - 2012
Trang 31.1.2 Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại
quốc tế
8
1.2 Vai trò của pháp luật chống bán phá giá 10
1.3.1 Khái quát chung về Hiệp định chống bán phá giá của WTO 13 1.3.2 Các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo WTO 15
1.3.4 Thời hạn áp dụng và thủ tục xem xét lại thuế chống bán
phá giá
22
1.4 Tình hình bán phá giá và chống bán phá giá trên thế giới
trong thời gian qua
24
Trang 41.4.1 Phân loại các quốc gia 24 1.4.2 Tổng quan tình hình bán phá giá và chống bán phá giá 26 1.4.3 Thực trạng chống bán phá giá ở các nước phát triển 29 1.4.4 Thực trạng chống bán phá giá ở các nước đang phát triển 30
Chương 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
33
2.1 Pháp luật chống bán phá giá của Braxin 34 2.1.1 Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá 35 2.1.2 Thực trạng chống bán phá giá của Braxin 38
2.2 Pháp luật chống bán phá giá của Ấn Độ 39 2.2.1 Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá 39 2.2.2 Thực trạng chống bán phá giá của Ấn Độ 44 2.3 Pháp luật chống bán phá giá của Trung Quốc 47
2.3.1 Nội dung quy định pháp luật về chống bán phá giá 47 2.3.2 Thực trạng chống bán phá giá của Trung Quốc 51 2.4 Pháp luật chống bán phá giá của một số quốc gia ASEAN 54
2.4.1 Pháp luật chống bán phá giá của Indonesia 54 2.4.2 Pháp luật chống bán phá giá của Thái Lan 56
2.4.3 Pháp luật chống bán phá giá của Philippin 59
Chương 3: VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP
62
3.1.1 Pháp luật chống bán phá giá của Việt Nam 62
3.1.2 Thực trạng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam 70
Trang 53.1.3 Những vấn đề đặt ra trong công tác chống bán phá giá của
3.2.2 Tăng cường quản lý thị trường, đấu tranh ngăn chặn tệ nạn
buôn lậu, chống gian lận thương mại
82
3.2.3 Phát huy vai trò của các Hiệp hội ngành hàng trong các cuộc
điều tra chống bán phá giá
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADA : Hiệp định thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thương mại
và Thuế quan 1994 (Hiệp định Chống bán phá giá của WTO)
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CAMEX : Hội đồng thương mại Braxin
DECOM : Ban tự vệ thương mại trực thuộc Ủy ban Ngoại thương Braxin
DGAD : Ban về Chống bán phá giá và các Biện pháp tương tự của Bộ
Thương mại Ấn Độ
EU : Liên minh Châu Âu
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATT : Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan
SECEX : Ủy ban Ngoại thương Braxin
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 72.4 Các vụ điều tra bán phá giá do Ấn Độ tiến hành (phân
theo mặt hàng) giai đoạn 1995-2010
45
2.5 10 quốc gia là đối tượng kiện chống bán phá giá thường
xuyên nhất của Ấn Độ giai đoạn 1995-2010
46
2.6 Các vụ kiện chống bán phá giá hàng hóa Ấn Độ 47
2.7 Các vụ điều tra chống bán phá giá do Trung Quốc tiến
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
1.1 Xu hướng điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
trên thế giới
27
1.2 So sánh số lần áp dụng thuế chống bán phá giá giữa các
nước đang phát triển và phát triển
28
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng đã tạo ra các thách thức to lớn cho các quốc gia cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường thế giới Các quốc gia này phải đối mặt với những khó khăn trong đẩy mạnh xuất khẩu do các nước nhập khẩu đã tận dụng những qui định
mở để tạo ra những rào cản mới như chống bán phá giá, chống trợ cấp để bảo hộ sản xuất trong nước Kể từ khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập năm 1995 cho đến nay, công cụ chống bán phá giá ngày càng được áp dụng rộng rãi bởi nhiều quốc gia Tuy nhiên, một nét mới của vấn đề này đó là các nước đang phát triển đang dần trở thành những nước áp dụng biện pháp chống bán phá giá nhiều nhất trên thế giới, hơn cả những quốc gia phát triển khác như Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) Các nước này là đối tượng thường xuyên của điều tra bán phá giá nhưng cũng đồng thời áp dụng khá phổ biến biện pháp này đối với các quốc gia khác Việt Nam cũng là một quốc gia đang phát triển và là thành viên của WTO Việc mở cửa nền kinh tế, tham gia ngày càng tích cực vào thị trường khu vực và quốc tế đang đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam nhiều vấn đề của thương mại quốc tế, trong đó có vấn đề bán phá giá Việt Nam vừa có nguy cơ là đối tượng của hành vi bán phá giá của các nước xuất khẩu khác, đồng thời cũng có nguy cơ bị áp đặt các
Trang 10biện pháp chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu ra nước ngoài Đặc biệt, việc mở rộng thị trường, giảm mạnh các hàng rào thuế quan và nhập khẩu tăng mạnh tạo thuận lợi cho việc hàng hóa nước ngoài ồ ạt vào thị trường Việt Nam Điều này dễ dẫn đến xảy ra hiện tượng bán phá giá của hàng hóa nước ngoài Để bảo vệ sản xuất trong nước và tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong thương mại, chúng ta cần có những giải pháp, nghiên cứu
cụ thể về vấn đề này Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài "Pháp luật của các nước đang phát triển và Việt Nam về chống bán phá giá" để làm Luận văn Thạc
sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề chống bán phá giá đã thu hút được nhiều đối tượng nghiên cứu
từ các Bộ ngành chủ chốt như Vụ Chính sách thương mại đa biên - Bộ Công
thương với nghiên cứu "Cơ sở khoa học áp dụng thuế chống bán phá giá đối
với hàng nhập khẩu ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế"
(2002) đã đi vào phân tích một số mô hình áp dụng thuế chống bán phá giá của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra những kiến nghị cho việc áp dụng
thuế chống bán phá giá tại Việt Nam Đề tài "Chủ động ứng phó với các vụ
kiện chống bán phá giá trong thương mại quốc tế" (2005) của Cục Quản lý
cạnh tranh - Bộ Công thương, đã đi vào nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá hàng hóa xuất khẩu của một số nước tiêu biểu trên thế giới, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất những giải pháp cho Việt Nam
Bên cạnh đó, nhiều nhà kinh tế và pháp lý cũng có những công trình
đề cập đến lĩnh vực này: "Pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu ở
Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (Đoàn Trung Kiên, Đại học
Luật Hà Nội, Luận văn Tiến sĩ, 2010), "Pháp luật về chống bán phá giá trong
thương mại quốc tế về những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" (Vũ Thị
Trang 11Phương Lan, Đại học Luật Hà Nội, Luận văn Tiến sĩ, 2011), "Thuế chống bán
phá giá ở một số nước thành viên WTO và một số gợi ý cho Việt Nam" (Mai
Quỳnh Phương, Khoa Luật, Luận văn Thạc sĩ, 2009), "Một số vấn đề cơ bản
về pháp luật chống bán phá giá của WTO" (Trần Văn Hải, Khoa Luật, Luận
văn Thạc sĩ, 2007),… và nhiều bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí chuyên ngành Các luận án, bài viết tập trung vào các vấn đề như nghiên cứu pháp luật chống bán phá giá của WTO, Hoa Kỳ, EU…, đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá từ nước ngoài, chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào thị trường nội địa
Đối với luận văn này, trên cơ sở tham khảo một số tài liệu có liên quan, tác giả đã tiếp cận vấn đề một cách mới mẻ Từ việc nghiên cứu pháp luật chống bán phá giá của các nước đang phát triển, có tình hình kinh tế, xã hội, pháp luật phần nào tương đồng với Việt Nam và đưa ra một số kinh nghiệm về chống bán phá giá cho nước ta
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề cơ bản về bán phá giá, chống bán phá giá và tình hình chống bán phá giá trên thế giới trong thời gian qua; từ đó đi sâu nghiên cứu pháp luật, thực trạng chống bán phá giá và các kinh nghiệm của các nước đang phát triển nói chung và một số quốc gia điển hình về chống bán phá giá trong nhóm các nước đang phát triển như Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước khu vực Đông Nam Á Trên cơ sở đó, nghiên cứu vấn
đề bán phá giá và chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu tại thị trường Việt Nam và học hỏi kinh nghiệm từ các nước đang phát triển, đưa ra những giải pháp đối với vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các quy định chung về bán phá giá, chống bán phá giá và Hiệp định
về Chống bán phá giá của WTO - cơ sở chung nhất cho mọi luật quốc gia liên
Trang 12quan tới chống bán phá giá Pháp luật và tình hình chống bán phá giá của các nước đang phát triển (Braxin, Ấn Độ, Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á) và Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, khảo sát thực tiễn và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học để giải quyết các vấn đề mà nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt ra
6 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề chung về bán phá giá và chống bán phá giá; phân tích và làm sáng tỏ thêm quy định của WTO về chống bán phá giá, quy định pháp luật và thực trạng hoạt động chống bán phá giá ở một
số nước đang phát triển điển hình như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và các nước ASEAN
Luận văn hệ thống hóa và làm sáng tỏ hơn các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chống bán phá giá, có sự đối chiếu, so sánh với các quy định về chống bán phá giá của WTO và một số nước đang phát triển điển hình Từ đó, luận văn chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam
về chống bán phá giá và đề xuất được một vài giải pháp có cơ sở khoa học và thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành về chống bán phá giá
7 Kết cấu của luận văn
Trang 13Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về bán phá giá và các quy định quốc tế về
Trang 14Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ
VÀ CÁC QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BÁN PHÁ GIÁ
1.1.1 Khái niệm bán phá giá
Định nghĩa theo góc độ ngôn ngữ:
Từ trước đến nay, người ta thường hiểu một cách đơn giản, "bán phá giá" nghĩa là bán dưới giá thị trường Ví dụ như tại một khu chợ các sạp hàng rau đều bán một bó rau muống với giá 8.000 đồng, tuy nhiên có một cửa hàng bán với giá 5.000 đồng, thì hành động đó bị coi là bán phá giá Đối với thực trạng quan hệ thương mại quốc tế hiện nay, cách hiểu trên là không đúng
Từ điển tiếng Việt trực tuyến, phiên bản ngày 18/3/2004 của Trung tâm Từ điển học Việt Nam quy định: bán phá giá là việc bán
ồ ạt hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường, thậm chí chịu lỗ, để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường Đại từ điển Trung Việt - do Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành năm 1999 quy định: bán phá giá là bán với giá thấp hơn giá chung của thị trường để nhằm cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường (trang 96) [Dẫn theo: 7, tr 4]
Như vậy, các cách hiểu về bán phá giá như trên đều có đặc điểm chung là việc bán hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường bán phá giá là bán dưới giá thị trường thì khái niệm không quan tâm đến mục đích của việc bán phá giá là gì, có nhằm mục đích cạnh tranh, chiếm đoạt thị trường hay không Vì vậy rất khó để xác định chính xác hành động đó có được coi là bán phá giá Bởi vì trong nền kinh tế thị trường, cứ giá nào có người mua thì người ta có quyền bán, hơn nữa có thể hàng hóa của họ là hàng hóa dư thừa, tồn kho, bị kém chất lượng, mất mốt
Trang 15hoặc có nhu cầu quay vòng vốn nhanh nên cần phải bán dưới giá thị trường
để tiêu thụ được hàng hóa Tuy nhiên định nghĩa thuật ngữ bán phá giá của từ điển Tiếng Việt trực tuyến, hay Đại Từ điển Trung - Việt không chỉ quan tâm đến hiện tượng bán thấp hơn giá thị trường mà còn chú trọng đến cả mục đích của hành động bán dưới giá thị trường là để tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường Như vậy theo các cách định nghĩa này, bán phá giá thực chất là một hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cần phải ngăn chặn và
có biện pháp xử lý để duy trì sự ổn định của thị trường
Thuật ngữ bán phá giá trong Tiếng Anh được dịch ra là:
"dumping" thuật ngữ này có nhiều nghĩa khác nhau, theo nghĩa thông thường "dumping" có nghĩa là vứt bỏ những thứ không thích (to get rit of something you do not want) còn nghĩa được dùng trong thương mại là "to get rit of goods by selling them at a very low price, often in another country", có nghĩa là bán tống một hàng hóa ở mức giá rất thấp, thường là bán ra nước khác (Từ điển Oxford Advanced Genie - xuất bản lần thứ 6 - Oxford University Press 2000) [Dẫn theo: 25, tr 6-7]
Như vậy theo nghĩa chuyên ngành thì "dumping" được hiểu là bán phá giá và để xác định hành động bán phá giá người ta quan tâm đến mức giá bán
và có sự so sánh giữa thị trường các nước khác nhau
Có thể thấy những cách hiểu thông thường của các ngôn ngữ khác nhau về thuật ngữ bán phá giá đều phản ánh không đầy đủ, nhưng đã nói lên phần nào đặc trưng của bán phá giá đó là đặc trưng bán hàng ở một mức giá rất thấp, với mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường
mà thông thường là ở thị trường nước ngoài
Định nghĩa theo góc độ pháp lý:
Trong thương mại quốc tế, bán phá giá được hiểu là sự phân biệt giá
cả giữa các thị trường quốc gia Với cách hiểu này thì bán phá giá có thể xảy
Trang 16ra các tình huống khác nhau, có thể là: người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa của mình tại thị trường trong nước với giá thấp hơn giá bán hàng hóa đó ở thị trường nước ngoài; hoặc người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa đó ở thị trường trong nước với giá cao hơn giá bán hàng hóa đó ở nước ngoài; hoặc người sản xuất/người xuất khẩu bán hàng hóa của mình với các mức giá khác nhau ở các thị trường nước ngoài khác nhau Như vậy, điểm mấu chốt của cách hiểu này là sự phân biệt giá cả của cùng một hàng hóa ở các thị trường quốc gia khác nhau, bất luận là cao hơn hay thấp hơn được tính
ở mỗi thị trường quốc gia
Tuy nhiên, trong các tình huống có thể xảy ra như phân tích ở trên, thì thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế đã chứng minh rằng chỉ có cách hiểu thứ hai đó là hàng hóa được bán ở thị trường trong nước với mức giá cao hơn giá bán hàng hóa đó ở nước ngoài thì mới có thể gây tổn hại đối với nước nhập khẩu, nhất là đối với các nhà sản xuất hàng hóa tương tự ở nước nhập khẩu Do đó, hành động bán phá giá này mới cần phải ngăn chặn Với cách tiếp cận này, bán phá giá có thể được hiểu như sau:
Bán phá giá là sự phân biệt giá cả mang tính quốc tế, trong đó giá của một hàng hóa khi được bán tại thị trường của nước nhập khẩu với giá thấp hơn giá của hàng hóa đó được bán tại thị trường của nước xuất khẩu
Cách hiểu trên phù hợp với cách hiểu về bán phá giá của WTO Theo Điều 2, Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994 thì:
Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của một nước khác thấp hơn giá trị hàng hóa thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường [13]
Trang 17Theo định nghĩa trên, bán phá giá là hành động mang sản phẩm của một nước sang bán ở nước khác với mức Giá xuất khẩu thấp hơn Giá trị thông thường của sản phẩm đó được bán trong nước Ví dụ: người sản xuất vải ở Trung Quốc bán vải lụa ở thị trường Trung Quốc với giá 20 USD/m, nếu người
đó xuất khẩu vải cùng loại sang thị trường Việt Nam và bán với giá 15 USD/m, thì người đó đã có hành động bán phá giá
1.1.2 Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
Khái niệm "bán phá giá" trong thương mại quốc tế có một lịch sử lâu đời Các công trình nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc tế đã cho thấy ngay từ cuối thế kỷ XVI, các nhà sản xuất giấy ở Anh đã phàn nàn về hiện tượng những người nước ngoài đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh Đến thế kỷ XVII, các thương nhân Hà Lan cũng tiến hành những hoạt động bán hàng hóa với mức giá rất thấp nhằm xóa sổ các thương nhân Pháp ra khỏi vùng Baltic Vào cuối thế kỷ XVIII, thậm chí các nhà sản xuất Anh quốc còn bị khiếu nại về việc bán giá sản phẩm quá thấp nhằm vùi dập nền công nghiệp sản xuất ở Mỹ Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đã cảnh báo về các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác để nhằm mục tiêu chiếm lĩnh thị trường "Những trường hợp bán phá giá của các nhà sản xuất Anh tại thị trường mới mẻ ở nước Mỹ đã được báo cáo Cuộc tranh luận của công chúng về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập pháp nhằm đối phó với nó cũng được ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19" [10, tr 28]
Đầu thế kỷ 20, khi việc sử dụng thuế nhập khẩu để ngăn chặn hàng hóa bán phá giá tỏ rõ nhiều bất cập, các quốc gia mới bắt đầu ban hành luật riêng về chống bán phá giá Canada là nước đầu tiên sửa đổi luật thuế nhập khẩu của mình để có một phần riêng quy định về thuế chống bán phá giá vào năm 1904
và trở thành nước đầu tiên trên thế giới ban hành luật chống bán phá giá Mô
Trang 18hình pháp luật về chống bán phá giá của Canada nhằm trao quyền kiểm soát chống bán phá giá cho một vài cơ quan có thẩm quyền độc lập trong chính phủ, thường là các cơ quan cũng đồng thời chịu trách nhiệm kiểm soát thuế nhập khẩu và các loại thuế đặc biệt khác Sau khi được ban hành, pháp luật về chống bán phá giá của Canada đã tỏ rõ tác dụng của nó trong việc bảo hộ các nhà sản xuất nội địa trước luồng hàng hóa giá rẻ từ nước ngoài tràn vào Do vậy, pháp luật nước này đã nhanh chóng trở thành hình mẫu để các nước khác noi theo Luật chống bán phá giá được ban hành tại Newzealand năm 1905, Australia năm 1906 và Nam Phi năm 1914 Nước Mỹ có Đạo luật chống bán phá giá năm
1916 và nước Anh có vào năm 1921
Hoạt động bán phá giá tự bản thân nó đã là hoạt động mang tính xuyên quốc gia Các nước ngay lập tức đã thấy lợi ích của mình bị tác động bởi các hành vi bán phá giá và các biện pháp chống bán phá giá, cho dù đó là nước có doanh nghiệp bán phá giá ra nước khác hay bản thân nền kinh tế nước đó đang bị ảnh hưởng bởi hàng hóa bị bán phá giá Chính vì vậy, cũng là điều dễ hiểu khi không lâu sau khi bán phá giá trở thành mối quan tâm của chính phủ một
số nước thì nó đã trở thành mối quan tâm chung trên phạm vi quốc tế
Liên đoàn các quốc gia (The League of Nations), một trong những tổ chức quốc tế liên chính phủ đầu tiên trên thế giới đã ngay lập tức có sự quan tâm tới bán phá giá mặc dù đây là vấn đề không liên quan trực tiếp tới mục đích mà tổ chức này vẫn theo đuổi là chính trị
và ngoại giao Tuy vậy, những nỗ lực của tổ chức này đối với vấn đề bán phá giá cũng chỉ dừng lại ở việc chủ trì soạn thảo Biên bản ghi nhớ
về bán phá giá (Memorandum on Dumping) không có giá trị ràng buộc thực sự về mặt pháp lí đối với các quốc gia thành viên [10, tr 30]
Khi xây dựng Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) năm 1947, một điều khoản đặc biệt về các trường hợp chống bán phá giá đã được soạn thảo Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết được sử dụng
Trang 19các sắc thuế chống bán phá giá để bù trừ mức phá giá của các hàng nhập khẩu, miễn là chứng minh được việc bán phá giá đang gây ra, hoặc đe doạ nhậpra thiệt hại vật chất cho các ngành công nghiệp nội địa có cạnh tranh Cho đến nay, đây vẫn là luật quốc tế cốt lõi về việc bán phá giá
Tuy nhiên, một số quốc gia trong GATT nhận thấy rằng có một số nước đã áp dụng Luật chống phá giá để dựng lên những hàng rào thương mại mới, các thủ tục chống bán phá giá, những cách tính toán mức phá giá đã gây thiệt hại làm hạn chế và lệch lạc các dòng thương mại quốc tế Tại vòng đàm phán Kennedy của GATT (1962 - 1967) các bên ký kết GATT đã thảo luận bộ luật chống bán phá giá, đặt ra một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho việc áp dụng những sắc thuế chống bán phá giá nhằm hạn chế các thủ tục và phương thức đánh thuế của những Chính phủ có thể gây tổn hại đến thương mại quốc tế
Tại vòng đàm phán Tokyo 1973, các bên ký kết GATT đã xây dựng một Luật chống bán phá giá mới, có hiệu lực từ năm 1979 thay thế cho Luật chống bán phá giá năm 1967, có 26 nước thành viên ký kết có hiệu lực hơn mọi Hiệp định trước đó về bán phá giá Đến vòng đàm phán Urugoay 1994 về bán phá giá, dựa trên Luật chống bán phá giá trước đó các thành viên xây dựng "Hiệp định về việc thi hành điều VI của GATT năm 1994" điều chỉnh
kỹ hơn các quy tắc chống bán phá giá và có hiệu lực hơn đối với mọi thành viên của WTO và là Hiệp định cưỡng bức thi hành
Hiệp định nêu cụ thể ba loại nghĩa vụ khống chế việc áp dụng các sắc thuế: Các quy tắc chi tiết về các sự kiện cấu thành việc "bán phá giá"; Các quy tắc chi tiết " yêu cầu về thiệt hại "; Các quy tắc chi tiết về những thủ tục theo đó các Chính phủ xác định và áp dụng các sắc thuế chống bán phá giá
1.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
Pháp luật chống bán phá giá đóng vai trò quan trọng trong việc chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa
Trang 20trong nước, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng, góp phần chống lại sản phẩm nhập khẩu với giá rẻ
Trước hết, pháp luật chống bán phá giá là công cụ chống lại hành vi
cạnh tranh không lành mạnh nhằm duy trì một nền thương mại công bằng, bình đẳng
Cạnh tranh là quy luật tất yếu trong nền kinh tế thị trường Các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhau để chiếm lĩnh thị trường, khách hàng nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Mục đích tối đa hóa lợi nhuận đã tạo ra sức ép buộc họ phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình như vốn, nhân công, công nghệ… Như vậy dưới tác động của quy luật cạnh tranh cho phép nhà sản xuất có được những nguyên liệu, nhân công đầu vào đáp ứng đúng yêu cầu của sản xuất với giá cả cạnh tranh và hợp lý; có được trang thiết bị và công nghệ tiên tiến, người tiêu dùng được hưởng những sản phẩm tốt nhất với giá thấp nhất Dưới góc độ kinh tế này, rõ ràng bán phá giá không phải bao giờ cũng gây ra những tác động tiêu cực và cần phải ngăn chặn nhưng WTO lại cho phép các quốc gia ngăn cấm điều này vì cho rằng bán phá giá là hành động cạnh tranh không lành mạnh, bóp méo hoạt động thương mại bình thường, gây tổn hại cho ngành sản xuất nội địa và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng Vì vậy, hầu hết các quốc gia đều ban hành pháp luật chống bán phá giá nhằm mục đích duy trì và bảo vệ một nền thương mại công bằng
và bình đẳng
Thứ hai, pháp luật chống bán phá giá góp phần bảo vệ ngành sản xuất
hàng hóa cạnh tranh trong nước
Các sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá có thể gây thiệt hại nghiêm trọng, thậm chí có thể bóp chết ngành sản xuất các sản phẩm cạnh tranh ở trong nước Trước đây chỉ có ít quốc gia sử dụng luật chống bán phá giá, đó là
Mỹ và EU Tuy nhiên, kể từ cuối năm 1980, rất nhiều nước mà đặc biệt là các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Mỹ Latinh đã tăng cường ban hành
Trang 21và sử dụng luật chống bán phá giá của mình Trước đó các nước này thường
sử dụng thuế quan cao để bảo vệ sản xuất trong nước, chống lại việc bản phá giá Tuy nhiên, những cuộc đàm phán của vòng Urugoay đã dẫn đến việc giảm mạnh các mức thuế quan, do đó một số nước bắt đầu quay sang sử dụng luật thuế chống bán phá giá để bảo vệ ngành sản xuất trong nước Hơn nữa, các nhân tố kinh tế như các cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và sự cạnh tranh kinh tế mạnh mẽ đã khiến cho các nước tăng cường áp dụng các biện pháp chống bán phá giá để bảo vệ quyền lợi của mình Pháp luật chống bán phá giá còn là một vũ khí tự vệ, trấn an các nhà sản xuất hàng hóa cạnh tranh
Thứ ba, pháp luật chống bán phá giá góp phần bảo vệ lợi ích chính
đáng của người tiêu dùng
Nếu mục đích của bán phá giá là nhằm thôn tính và chiếm đoạt thị trường, thì trong ngắn hạn, người tiêu dùng sẽ được lợi vì mua được hàng hóa nhập ngoại với giá rẻ Tuy nhiên, sau khi "nuốt chửng" các đối thủ cạnh tranh, doanh nghiệp bán phá giá sẽ tăng giá để thu lợi nhuận độc quyền Trong bối cảnh đó, nếu không có pháp luật chống bán phá giá để kịp thời ngăn chặn hành động bán phá giá đang diễn ra bằng việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá thì người tiêu dùng sẽ là người chịu thiệt hại lớn nhất Điều này
sẽ làm giảm lợi ích toàn bộ xã hội nước nhập khẩu
Với vai trò quan trọng đã phân tích ở trên, hiện nay trên thế giới đã có
"hơn 85 quốc gia ban hành văn bản pháp luật chống bán phá giá dưới các cấp độ khác nhau như luật, pháp lệnh, nghị định hoặc thông tư liên tịch" [7, tr 20] Tuy nhiên, do bị chi phối bởi các điều kiện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cũng như quan điểm và kỹ thuật lập pháp nên có quốc gia ban hành các quy phạm về pháp luật chống bán phá giá vào một văn bản pháp luật riêng, có quốc gia ban hành vào trong Luật cạnh tranh hoặc Luật thuế hoặc Luật Hải quan Điều đó cho thấy rằng pháp luật chống bán phá giá là một bộ phận rất quan trọng của pháp luật thương mại, có liên quan mật thiết với pháp luật cạnh tranh, thuế
Trang 221.3 QUY ĐỊNH QUỐC TẾ VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.3.1 Khái quát chung về Hiệp định chống bán phá giá của WTO
Tính đến ngày 01/01/2011, WTO có 153 thành viên Thành viên của WTO là các quốc gia hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương
Là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO, Hiệp định chống bán phá giá có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO Các quy định trong Hiệp định là cơ sở pháp lý giúp các nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của các ngành sản xuất trong nước khi xảy ra hiện tượng bán phá giá Năm 1995, WTO đã thành lập Uỷ ban về chống bán phá giá để giám sát giác điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước thành viên Sau khi phát hiện ra hàng hóa bị bán phá giá có khả năng ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, các ngành đó đề nghị những cơ quan hữu trách thực hiện việc điều tra và đưa ra kết luận về việc có thực hiện hay không thuế chống bán phá giá để bảo vệ sản xuất trong nước Những quy định này được rút ra
từ thực tiễn thương mại quốc tế giữa các thành viên trong những năm qua Trên cơ sở Hiệp định này, nhiều nước đó ban hành luật chống bán phá giá của riêng mình
Hiệp định về chống bán phá giá của WTO qui định về các nhóm vấn
đề sau:
- Các qui định về nội dung: bao gồm các điều khoản chi tiết về cách thức, tiêu chí xác định việc bán phá giá, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại;
- Các qui định về thủ tục: bao gồm các điều khoản liên quan đến thủ tục điều tra, áp đặt thuế chống bán phá giá như thời hạn điều tra, nội dung đơn kiện, thông báo, quyền tố tụng của các bên liên quan, trình tự áp dụng các biện pháp tạm thời, quyền khiếu kiện ;
- Các qui định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến biện pháp chống phá giá, bao gồm các qui tắc áp dụng cho
Trang 23việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO liên quan đến biện pháp chống bán phá giá của một quốc gia thành viên;
- Các qui định về thẩm quyền của Ủy ban về Thực tiễn Chống bán phá giá (Committee on Anti-dumping Practices): bao gồm các qui định về thành viên, chức năng và hoạt động của Ủy ban trong quá trình điều hành các biện pháp chống bán phá giá thực hiện tại các quốc gia thành viên
Có thể nói một ưu điểm của ADA so với các quy định trước đây của GATT là đã đưa ra được các quy tắc cụ thể hơn để tính toán mức phá giá, nêu
rõ các thủ tục chi tiết, cụ thể cần phải tiến hành để có thể thực hiện các cuộc điều tra Đồng thời nó có các tiêu chuẩn cụ thể để các ủy ban giải quyết tranh chấp có thể áp dụng trong các vụ tranh chấp về chống bán phá giá Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm thì những quy định của ADA cũng có một số điểm hạn chế như sau: Trước hết, một số quy định còn chưa rõ ràng, chưa đầy đủ, là nguồn gốc cho những sự tranh chấp sau này, ví dụ như vấn đề so sánh giữa sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm tiêu thụ trong nước, quy định về sản phẩm tương tự; Các nước không phải là thành viên của WTO không có quyền trực tiếp khai thác những cái được của những quy định còn thiếu rõ ràng và chưa đầy đủ đó; Trình tự tiến hành điều tra quá phức tạp, gây nhiều tốn kém nguồn lực cả cho
cơ quan điều tra và đối tượng bị điều tra, bị áp dụng các biện pháp này chống bán phá giá, nói chung đe dọa quyền lợi của các nước có trình độ phát triển tương đối thấp; và ADA còn chưa rõ ràng trong việc quy định về những vụ việc liên quan đến các đối tác có liên hệ, trước hết là các công ty xuyên quốc gia
Những quy định của WTO về chống bán phá giá đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý để các quốc gia có thể dựa vào đó để chống lại một hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong kinh tế đang phổ biến hiện nay là bán phá giá, đồng thời ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp này như là một trở ngại phi thuế mới trong thương mại quốc tế Mỗi quốc gia thành viên WTO có quyền ban hành và áp dụng pháp luật về chống bán phá giá tại nước mình nhưng phải tuân thủ đầy đủ các qui định mang tính bắt buộc về nội dung cũng như
Trang 24thủ tục trong Hiệp định về chống bán phá giá (ADA) của WTO Pháp luật về chống bán phá giá của mỗi quốc gia có thể cụ thể hóa nhưng không được trái với các qui định liên quan tại Hiệp định ADA của WTO
1.3.2 Các điều kiện áp dụng biện pháp chống bán phá giá theo WTO
Xác định được có sự bán phá giá:
Toàn bộ hướng dẫn xác định có việc chống bán phá giá hay không được quy định tại Điều 2 của ADA Theo quy định tại Điều 2, cơ sở cho việc xác định này là sự so sánh "một cách công bằng" giữa giá trị thông thường và giá trị xuất khẩu của hàng hóa Nếu giá trị xuất khẩu của hàng hóa thấp hơn giá trị thông thường của nó thì có nghĩa là đã xảy ra sự bán phá giá Vì vậy, có thể nói là việc xác định được hai giá trị này để so sánh với nhau là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất cho các bước áp dụng thuế chống bán phá giá
- Giá trị thông thường của hàng hóa được xác định là giá của hàng hóa trong quá trình thương mại bình thường khi đưa ra tiêu thụ tại thị trường của nước xuất khẩu Việc xác định như thế nào là quá trình thương mại bình thường
là một trong những vấn đề phức tạp nhất trong điều tra chống bán phá giá "Thật đáng tiếc là ADA không đưa ra định nghĩa cụ thể về quá trình này" [10, tr 35]
Trên thực tế thì các nước muốn áp thuế chống bán phá giá sẽ không đi chứng minh là hàng hóa có được trao đổi trong quá trình thương mại bình thường hay không mà ngược lại, họ sẽ điều tra xem liệu hàng hóa có được trao đổi trong quá trình thương mại bất bình thường hay không Một trong những căn cứ thường được dùng để xác định một quá trình thương mại không bình thường đó là khi giá bán của sản phẩm thấp hơn đơn giá chi phí sản xuất của sản phẩm cộng với các chi phí hành chính, bán hàng và các chi phí chung khác Việc bán với giá thành thấp như vậy cũng phải kéo dài trong một khoảng thời gian không ít hơn 6 tháng (thông thường là 1 năm) Khối lượng hàng hóa được bán với mức giá này cũng phải chiếm khối lượng đáng kể, tức
là phải chiếm ít nhất 20% tổng số hàng hóa bán ra
Trang 25Như vậy, để xác định giá bán thông thường trong quá trình thương mại bình thường của một hàng hóa nào đó, trước tiên người ta sẽ xác định những quy trình thương mại không bình thường và số lượng hàng hóa trong những quy trình đó Sau đó người ta sẽ loại trừ khối lượng hàng hóa giao dịch trong các quy trình thương mại không bình thường này rồi lấy khối lượng hàng hóa còn lại để tính giá bán thông thường Tuy nhiên, khối lượng hàng hóa còn lại cũng không được quá nhỏ Điều kiện mà ADA đặt ra là khối lượng hàng hóa còn lại, tức là hàng hóa trong quá trình thương mại thông thường, phải bằng ít nhất 5% tổng khối 40 lượng xuất khẩu sang nước đang tiến hành điều tra chống bán phá giá đối với sản phẩm Nếu khối lượng còn lại thấp hơn mức này thì giá sản phẩm bán ra trong nước sẽ không được lấy
để làm mốc so sánh nữa mà lúc đó sẽ có hai cách lựa chọn để xác định mức giá thông thường: Hoặc là giá sản phẩm được bán cho nước thứ ba hoặc là giá mức giá bên điều tra tự xây dựng để tham chiếu, bao gồm chi phí sản xuất, các chi phí hành chính, bán hàng, chi phí chung và một mức lãi hợp lý (khoản 2 Điều 2 ADA)
- Giá xuất khẩu của hàng hóa: Giá nhập khẩu của hàng hóa thông thường là giá giao dịch của sản phẩm mà người bán ở nước xuất khẩu bán hàng hóa cho nhà nhập khẩu ở nước nhập khẩu Trên thực tế khi điều tra chống bán phá giá, việc xác định mức giá nhập khẩu đơn giản hơn nhiều so với mức giá thông thường Bởi vì các nhà nhập khẩu khi đưa hàng hóa vào nước mình đều phải khai báo giá nhập khẩu với hải quan
Tuy vậy cũng có một số trường hợp khó xác định giá nhập khẩu Ví
dụ, nếu giao dịch được thực hiện giữa công ty mẹ và công ty con thì giá xuất khẩu sẽ không được thể hiện trong hợp đồng Ví dụ thứ hai là trường hợp hàng hóa được trao đổi theo phương thức hàng đổi hàng chứ không phải mua bán Trường hợp này cũng không xác định được giá bán cụ thể Ví dụ thứ ba
là khi giao dịch mua bán được thực hiện thông qua sự sắp xếp giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu nằm trong cùng hiệp hội với nhau Trường
Trang 26hợp này thường có giá xuất khẩu nhưng giá đó không đáng tin cậy do thường
có sự dàn xếp nội bộ
Trong những trường hợp không xác định được giá xuất khẩu hoặc giá xuất khẩu không đáng tin cậy như trên thì nước nhập khẩu có thể áp dụng các cách thức xác định giá xuất khẩu khác Ví dụ như khi sản phẩm được bán lại cho một nhà thương mại nhập hàng độc lập hoặc nước nhập khẩu có thể tự xây dựng cơ sở để xác định giá xuất khẩu một cách hợp lý
Xác định có thiệt hại xảy ra và mối quan hệ nhân quả của nó với việc bán phá giá hàng hóa
Quá trình xác định xem có thiệt hại xảy ra hay không bắt đầu bằng việc xác định phạm vi ngành công nghiệp liên quan và mức thiệt hại xảy ra cho ngành công nghiệp đó
- Xác định ngành công nghiệp liên quan: Bước đầu tiên phải làm để xác định ngành công nghiệp liên quan trong thủ tục điều tra chống bán phá giá là phải xác định sản phẩm tương tự với sản phẩm đang bị điều tra (sau đây gọi là "sản phẩm tương tự") Đây là những sản phẩm giống hệt về mọi phương diện hoặc là có những đặc điểm gần giống với sản phẩm đang bị điều tra Những doanh nghiệp của nước nhập khẩu sản xuất ra sản phẩm tương tự
sẽ hợp thành ngành công nghiệp liên quan Trên thực tế thì ngành công nghiệp này có thể bao gồm toàn bộ các doanh nghiệp có sản xuất sản phẩm tương tự hoặc là chỉ bao gồm những doanh nghiệp chiếm đa số thị trường sản xuất sản phẩm tương tự trong nước nhập khẩu
- Xác định thiệt hại cho ngành công nghiệp liên quan: Để có thể áp mức thuế chống bán phá giá, sau khi xác định được ngành công nghiệp liên quan thì cơ quan điều tra của nước nhập khẩu phải xác định được là đã có thiệt hại xảy ra đối với ngành công nghiệp liên quan đó Theo ADA thì có ba loại thiệt hại có khả năng dẫn tới việc áp dụng thuế chống bán phá giá là: Đã
có thiệt hại vật chất đối với ngành công nghiệp liên quan; có mối đe dọa gây
Trang 27ra thiệt hại vật chất đối với ngành công nghiệp liên quan và có sự phá hủy vật chất đối với nền tảng của ngành công nghiệp liên quan Mặc dù quy định về
ba loại thiệt hại như vậy nhưng ADA chỉ quy định chi tiết về các tiêu chuẩn xác định hai loại thiệt hại đầu tiên
Để xác định được đã có thiệt hại vật chất, ADA yêu cầu phải căn cứ vào những chứng cứ khẳng định và những điều tra khách quan để xác định được: Khối lượng sản phẩm bị phá giá và tác động của nó đối với giá của sản phẩm tương tự trong nước và tác động nhân quả của lượng sản phẩm nhập khẩu tới các nhà sản xuất sản phẩm tương tự trong nước ADA không chỉ rõ mức thiệt hại được xác định bằng công thức nào và với mức thiệt hại bằng tiền cụ thể để làm căn cứ áp thuế chống bán phá giá Việc này trên thực tế phụ thuộc rất nhiều vào quá trình xem xét của nước nhập khẩu
Để xác định được có mối đe dọa gây ra thiệt hại vật chất, ADA đưa ra một số tiêu chí, bao gồm mức độ gia tăng khối lượng nhập khẩu sản phẩm bị phá giá, năng lực sản xuất của nhà xuất khẩu, tác động của giá sản phẩm nhập khẩu
và dư lượng tồn kho Tuy không quy định cụ thể, rõ ràng về những tiêu chí này
và cách xem xét chúng như thế nào nhưng ADA cũng nhấn mạnh rằng việc xác định thiệt hại phải dựa trên thực tế chứ không phải dựa vào sự quy kết, suy đoán hoặc khả năng xa ADA cũng yêu cầu cơ quan điều tra chống bán phá giá phải tiên liệu được những trường hợp thay đổi dẫn đến việc hàng hóa bán phá giá không còn gây ra thiệt hại vật chất cho ngành công nghiệp trong nước nữa
- Xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại vật chất đối với ngành công nghiệp liên quan
Để có thể áp thuế chống bán phá giá đối với một sản phẩm, ADA yêu cầu cơ quan điều tra chống bán phá giá phải làm rõ được mối liên hệ nhân quả giữa khối lượng hàng nhập khẩu phá giá với thiệt hại gây ra cho ngành công nghiệp trong nước Để làm được điều đó, cơ quan điều tra chống bán phá giá phải xem xét tất cả các chứng cứ liên quan Tuy nhiên, ADA không có hướng
Trang 28dẫn cụ thể để xác định chứng cứ nào là chứng cứ khách quan và phải xem xét đánh giá chúng như thế nào nhưng ADA quy định bắt buộc phải xem xét có hay không những yếu tố khác ngoài hàng hóa phá giá có thể đã gây ra thiệt hại cho ngành công nghiệp trong nước (ví dụ thay đổi trong nhu cầu người tiêu dùng, các sự kiện gây tiếng xấu cho chất lượng sản phẩm hay sự phát triển mới trong công nghệ sản xuất ra sản phẩm v.v ) Trong trường hợp có những yếu tố đó phải kết luận rằng nguyên nhân gây ra thiệt hại cho ngành công nghiệp chắc chắn không phải chỉ là hàng hóa nhập khẩu phá giá Nói tóm lại, khi xem xét mối quan hệ nhân quả, cơ quan điều tra chống bán phá giá của nước bản địa phải lựa chọn phương pháp phù hợp để phân tích và xử
lí chứng cứ trong từng trường hợp cụ thể đồng thời phải xem xét tất cả những yếu tố phi bán phá giá góp phần gây ra thiệt hại
Vấn đề chống bán phá giá trong WTO mang bản chất của một biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước, chính vì thế khi một sản phẩm được xuất sang nước khác với mức giá quá rẻ so với mức giá bán ở thị trường nước đó thì rất có thể sẽ bị kiện chống bán phá giá Các điều kiện để áp dụng thuế chống bán phá giá chủ yếu lại mang tính chất chung chung và cảm tính, tùy thuộc rất nhiều vào quan điểm xem xét của cơ quan điều tra chống bán phá giá (như vấn đề thiệt hại, vấn đề xác định giá xuất khẩu và giá thông thường) nên đây là biện pháp bảo hộ thương mại được ưa thích của các nước có nền kinh tế phát triển chống lại hàng hóa giá rẻ từ các nước đang phát triển
Về nguyên tắc, các biện pháp tạm thời đều được áp dụng sau khi các
cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận sơ bộ khẳng định có bán phá giá và có
Trang 29thiệt hại xảy ra Theo quy định của WTO, các biện pháp tạm thời không phải
để nhằm trừng phạt hành vi bán phá giá mà chỉ nhằm vào việc khắc phục kịp thời thiệt hại đối với ngành sản xuất nội địa do hàng hóa bán phá giá gây ra WTO quy định chỉ được áp dụng biện pháp tạm thời khi các điều kiện sau đây được thỏa mãn (Điều 7.1, 7.3, 7.4 ADA):
- Các cơ quan có thẩm quyền đã bắt đầu tiến hành điều tra vụ việc theo đúng quy định của pháp luật và đã có thông báo công khai về việc này
- Cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định sơ bộ khẳng định có bán phá giá và thiệt hại đã xảy ra
- Cơ quan có thẩm quyền xét thấy việc áp dụng biện pháp tạm thời là cần thiết để ngăn chặn thiệt hại xảy ra trong quá trình điều tra đang tiếp tục
Để tránh sự tùy tiện WTO quy định biện pháp tạm thời không được vượt quá
4 tháng kể từ khi được ban hành, ngoại lệ có thể kéo dài nhưng không quá 6 tháng Trong trường hợp đặc biệt thời hạn đó có thể kéo dài thêm nhưng không quá 9 tháng
Một số biện pháp tạm thời có thể được áp dụng như: mức thuế tạm thời hoặc một biện pháp đảm bảo tài chính (ký quỹ tiền mặt, trái phiếu), …
1.3.3.2 Cam kết về giá
Theo pháp luật của WTO, cam kết về giá có thể được thực hiện dưới một trong hai hình thức: cam kết sửa đổi giá hoặc cam kết ngừng xuất khẩu phá giá hàng hóa (Điều 8.1 ADA) Để có tác dụng loại trừ thiệt hại thì hai loại cam kết này thường đồng nghĩa với việc doanh nghiệp xuất khẩu phải nâng giá xuất khẩu sản phẩm của mình Mức nâng phù hợp là mức vừa đủ để loại trừ yếu tố biên độ phá giá
Về thời điểm, cam kết về giá bao giờ cũng được tiến hành sau khi cơ quan có thẩm quyền đã có kết luận sơ bộ khẳng định việc bán phá giá và thiệt hại liên quan
Trang 30Để đảm bảo thực hiện đúng những nội dung đã thỏa thuận trong cam kết về giá các doanh nghiệp xuất khẩu phải tuân thủ một chế độ báo cáo nghiêm ngặt với cơ quan có thẩm quyền, việc không thực hiện báo cáo này có thể được coi là một hình thức vi phạm cam kết Trong trường hợp có vi phạm cam kết về giá thì cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành thủ tục điều tra rút gọn và ngay lập tức áp dụng tạm thời dựa trên thông tin đã thu thập được Trong trường hợp đó mức thuế chống bán phá giá sau khi được công bố được phép có hiệu lực hồi tố trong thời hạn 90 ngày trước ngày áp dụng biện pháp tạm thời (Điều 8.6 ADA)
1.3.3.3 Thuế chống bán phá giá
Thuế chống bán phá giá là mức thuế trên hàng hóa bán phá giá sau khi các cơ quan có thẩm quyền đã xác định được một cách rõ ràng hàng hóa có bán phá giá ở mức độ đáng kể (trên 2%) và gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa Trong một vụ kiện bán phá giá thông thường, sau khi biện pháp tạm thời được áp dụng, giai đoạn điều tra thứ hai được bắt đầu và trong giai đoạn này các cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành thu thập chứng cứ để xác minh
và khẳng định việc bán phá giá và thiệt hại do sản phẩm bán phá giá gây ra Trên cơ sở kết luận của giai đoạn hai này cơ quan có thẩm quyền sẽ xác định mức thuế chống bán phá giá Sau khi quyết định áp thuế chống bán phá giá được ban hành, thông thường nó sẽ được áp dụng ngay lập tức
Theo quy định của WTO, về nguyên tắc mức thuế chống bán phá giá
cụ thể do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu hoàn toàn quyết định, song phải tuân thủ hai nguyên tắc:
Thứ nhất, mức thuế chống bán phá giá không được vượt quá biên độ phá giá đã được cơ quan điều tra công bố trong các giai đoạn điều tra trước đó
Thứ hai, tất cả các lô hàng hóa bị phát hiện có bán phá giá đều phải chịu thuế chống bán phá giá, dù được xuất khẩu bởi bất cứ doanh nghiệp nào, trừ trường hợp đã đạt được cam kết về giá Mức thuế chống bán phá giá phải
Trang 31được tính đối với từng nhà xuất khẩu cụ thể Khi công bố mức thuế chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền phải liệt kê đầy đủ các doanh nghiệp xuất khẩu có bán phá giá Nếu như có quá nhiều doanh nghiệp xuất khẩu mà không thể liệt kê hết được thì cơ quan có thẩm quyền phải liệt kê các nước xuất khẩu tương ứng Đây là nguyên tắc không phân biệt khi áp thuế chống bán phá giá
1.3.4 Thời hạn áp dụng và thủ tục xem xét lại thuế chống bán phá giá
1.3.4.1 Thời hạn áp dụng thuế chống bán phá giá
WTO quy định thuế chống bán phá giá không được có thời hạn áp dụng dài quá 5 năm kể từ khi có hiệu lực hoặc từ khi có lần rà soát gần nhất
cả về khía cạnh bán phá giá và thiệt hại Tuy nhiên, trước khi hết hạn đó, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu phải tiến hành rà soát toàn bộ việc bán phá giá Nên kết luận cho thấy hiện tượng bán phá giá vẫn còn và tiếp tục gây thiệt hại thì thuế chống bán phá giá vẫn có thể được tiếp tục áp dụng (Điều 11.3 ADA)
Sau khi điều tra kỹ càng về việc bán phá giá và thiệt hại gây ra thì mới
có thể ban hành quyết định áp thuế chống bán phá giá Như vậy, có thể xảy ra trường hợp hàng hóa đã bán phá giá và đã gây ra thiệt hại từ trước khi có quyết định áp thuế Nếu chỉ áp thuế vào thời điểm sau khi nó được ban hành thì sẽ không khắc phục được thiệt hại mà sản phẩm bán phá giá đã gây ra trong thời gian đó WTO quy định trong trường hợp nhất định có thể cho phép quyết định áp thuế chống bán phá giá có hiệu lực hồi tố
1.3.4.2 Thủ tục xem xét thuế chống bán phá giá
Mức thuế chống bán phá giá có thể bị xem xét lại qua ba loại thủ tục được tiến hành ở nước nhập khẩu, đó là khiếu kiện tư pháp, rà soát hành chính giữa kỳ, rà soát cuối kỳ Ngoài ba thủ tục này, thuế chống bán phá giá nói riêng và việc áp dụng biện pháp chống bán phá giá nói chung của nước nhập khẩu còn có thể bị khiếu kiện và được giải quyết theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Trang 32- Khiếu kiện tư pháp là thủ tục xem xét lại quyết định cuối cùng của
cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ngay sau khi quyết định được đưa ra WTO quy định mọi quốc gia thành viên đều phải quy định trong pháp luật của mình các thủ tục hoặc thiết chế nhất định để thực hiện việc xem xét lại quyết định cuối cùng về chống bán phá giá một khi các bên liên quan thực hiện quyền khiếu kiện tư pháp
- Rà soát hành chính giữa kỳ là biện pháp xem xét lại thuế chống bán phá giá đã được áp đặt đối với sản phẩm bị kiện bán phá giá Về bản chất, đây
là một thủ tục hành chính do chính các cơ quan hành chính có thẩm quyền chống bán phá giá của nước nhập khẩu thực hiện Mục tiêu của thủ tục này là xác định xem lúc này việc bán phá giá gây thiệt hại đã được loại trừ hay chưa Hai hiện pháp chống bán phá giá có thể được tiến hành rà soát giữa kỳ là thuế chống bán phá giá và cam kết về giá
- Rà soát cuối kỳ là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét lại biện pháp chống bán phá giá trước khi biện pháp này hết hiệu lực để xác định xem có tiếp tục áp dụng nữa hay không ADA quy định tại Điều 11:
- Bất kỳ thuế chống bán phá giá (hoặc cam kết về giá) nào cũng phải bị hết hiệu lực vào ngày không muộn hơn 5 năm kể từ khi được áp dụng, trừ khi cơ quan có thẩm quyền quyết định,…, rằng việc chấm dứt áp dụng thuế chống bán phá giá (hoặc cam kết về giá) có thể dẫn tới sự tồn tại tiếp tục của tình trạng bán phá giá và thiệt hại do nó gây ra [13]
- Rà soát cuối kỳ luôn được tiến hành với một giả định rằng thực tiễn bán phá giá và tác động gây hại của thực tiễn đó đã chấm dứt và do đó biện pháp chống bán phá giá phải được chấm dứt trừ khi thực tế rà soát chứng minh điều ngược lại Vì vậy rà soát cuối kỳ chỉ có thể được tiến hành nếu như
có đề nghị của ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu cũng có thể tự mình quyết định tiến hành rà soát cuối kỳ
Trang 331.4 TÌNH HÌNH BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI TRONG THỜI GIAN QUA
1.4.1 Phân loại các quốc gia
Hiện nay, một số tổ chức quốc tế tiến hành phân loại các nước theo cách thức khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau như các phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Liên Hợp Quốc hay của Tổ chức Hợp tác
và Phát triển kinh tế (OECD) WTO phân chia các nước thành viên thành 3 nhóm chính theo tiêu chuẩn phân loại của Liên Hợp Quốc: các nước phát triển (developed countries), các nước đang phát triển (developing countries)
và các nước kém phát triển (least developed countries) Ngoài ra trong WTO còn có các nước có nền kinh tế chuyển đổi (transition economies)
- Kém phát triển (chậm phát triển): Các thành viên được xếp vào loại này căn cứ vào những tiêu chuẩn phân loại của Liên hợp quốc và hiện nay WTO có khoảng 50 thành viên thuộc loại này Liên hợp quốc sử dụng ba tiêu chí sau đây để xác định các nước kém phát triển, theo đề nghị của Ủy ban chính sách phát triển (CDP): Mức thu nhập thấp, dựa trên giá trị bình quân của chỉ số Tổng thu nhập quốc gia trên đầu người hàng năm trong vòng
ba năm dưới 750 đô la Mỹ; Nguồn lực con người nghèo nàn: Chỉ số tài sản con người thấp hơn một mức nhất định; Nền kinh tế dễ bị tổn thương: Chỉ số mức độ dễ tổn thương về kinh tế thấp hơn một mức nhất định [32]
- Nước có nền kinh tế chuyển đổi: Các thành viên xếp vào loại này là những nước trước đây có nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nay chuyển sang nền kinh tế thị trường
- Nước đang phát triển: Đây là nhóm thành viên đông đảo nhất của WTO Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về việc nước nào được coi là đang phát triển Việc xác định một quốc gia đang phát triển được thực hiện theo nguyên tắc "tự nhận"
- Nước phát triển: Thuộc loại này là những thành viên còn lại ngoài 3
Trang 34nhóm trên và hầu hết đó là những nước thành viên của OECD Có khoảng trên 40 nước bao gồm nhóm bảy nước công nghiệp đứng đầu thế giới (thường được gọi là nhóm G7) và các nước công nghiệp phát triển khác Các nước thuộc nhóm G7 là Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức, Italia, Canada Những nước này nằm trong số những quốc gia có quy mô GNP lớn nhất thế giới Các nước công nghiệp khác bao gồm phần lớn các nước Tây Âu, Bắc Âu, Đông Âu cùng với Úc và New Zealand, có mức thu nhập trên đầu người đạt trên 15.000 đô la Mỹ, chỉ số phát triển con người (HDI) cao, phúc lợi xã hội cao, hoàn cảnh kinh tế xã hội ổn định
Với cách phân chia như vậy thì hiện nay hơn 2/3 số thành viên của WTO là các nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi Trong nhiều trường hợp, thuật ngữ “nước đang phát triển” được hiểu áp dụng rộng cho cả ba nhóm này Theo công bố ngày 01/7/2012, Ngân hàng Thế giới phân loại thu nhập theo tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người theo bốn mức cụ thể như sau: Thu nhập thấp 1.025 đô la hoặc ít hơn; Thu nhập trung bình thấp từ 1.026 đô la đến 4.035 đô la; Thu nhập trung bình cao: từ 4.036 đô la đến 12.475 đô la; Thu nhập cao: 12.476
đô la hoặc cao hơn [35] Sự phân chia này bao gồm các nước đang phát triển
và các nước phát triển.Các nền kinh tế có mức thu nhập thấp và thu nhập trung bình thấp đôi khi được gọi là các nền kinh tế đang phát triển Thuật ngữ này được sử dụng cho tiện, không có nghĩa là tất cả các nền kinh tế trong nhóm đang trải qua sự phát triển tương tự hoặc các nền kinh tế khác đã đạt đến một giai đoạn được ưu tiên hoặc giai đoạn cuối của sự phát triển Từ nửa sau thế kỷ XX, nhiều nền kinh tế đang phát triển ở Châu Á và Châu Mỹ La tinh đã tìm kiếm được con đường phát triển đúng đắn cho đất nước mình và vươn lên hàng đầu giữa các nước đang phát triển, trở thành các nước công nghiệp mới với mức thu nhập trung bình cao trở lên
Trang 351.4.2 Tổng quan tình hình bán phá giá và chống bán phá giá
Hiện nay chưa có một nước hay một tổ chức nào thống kê được các
vụ bán phá giá hàng hóa trên thế giới bởi vì đây là điều khó xác định và không một nước hay một công ty nào lại tự thừa nhận hành động bán phá giá của mình cả Cho nên để có thể hiểu rõ về tình hình bán phá giá hàng hóa trên thế mình chúng ta chỉ có thể xem xét thông qua các cuộc điều tra chống bán phá giá (mà cụ thể là các cuộc điều tra có kết luận cuối cùng là hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá) và số lần áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới
Trước khi WTO ra đời đã có nhiều cuộc điều tra chống bán phá giá và các biện pháp chống lại các hành động bán phá giá đó Nhưng các cuộc điều tra
đó không thống nhất về cách thức, thủ tục cũng như về các biện pháp chống lại các hành vi bán phá giá
Năm 1994, vòng đàm phán Uruguay kết thúc với sự ra đời của WTO
và một số các hiệp định liên quan đến thương mại quốc tế, trong đó có Hiệp định
về chống bán phá giá của WTO Đây chính là cơ sở pháp luật quốc tế mà các nước thành viên WTO phải tuân theo khi thực thi và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Các nước chưa là thành viên WTO cũng được khuyến nghị nên thực hiện theo các quy định của WTO, trong đó có quy định liên quan đến chống bán phá giá Kể từ khi WTO ra đời, tính đến thời điểm 31/12/2010, trên thế giới đã có tất cả "3.853 cuộc điều tra chống bán phá giá và
có tất cả 2.495 lần áp dụng thuế chống bán phá giá" [34] (chiếm 64,75 % tổng số các cuộc điều tra) Điều này cũng thể hiện không phải tất cả các cuộc điều tra chống bán phá giá đều có kết luận dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá Số lượng lớn các cuộc điều tra chống bán phá giá trên cũng phần nào cho thấy biện pháp phá giá để chiếm lĩnh thị trường, tối đa hóa lợi nhuận đã được sử dụng khá nhiều trong chiến lược kinh doanh của các công ty, tập đoàn, hay của một số nước riêng biệt nào đó
Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá thường bị nước xuất khẩu hàng hóa là đối tượng chịu thuế chống bán phá giá khởi kiện
Trang 36đến WTO, cụ thể là Cơ quan giải quyết tranh chấp Các vụ việc giải quyết tranh chấp về việc bán phá giá và chống bán phá giá luôn là vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi Đôi khi, kết quả thường dẫn đến các hành vi trả đũa trong thương mại, gây ra rất nhiều mâu thuẫn, ảnh hưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế giới Vì vậy, các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá vào nước mình
Trong phần này sẽ tập trung trình bày thực trạng các cuộc điều tra chống bán phá giá và việc áp dụng thuế chống bán phá giá ở các khu vực, các nước khác nhau trên thế giới để có cái nhìn bao quát về vấn đề bán phá giá hàng hóa hiện nay
Căn cứ vào số liệu thống kê của WTO từ 01/01/1995 đến 31/12/2010,
xu hướng điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế giới có thể được thể hiện tại Biểu đồ 1.1
Biểu đồ 1.1: Xu hướng điều tra và áp dụng thuế chống
bán phá giá trên thế giới
Trang 37Nhìn vào biểu đồ có thể thấy, trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm
1999, số cuộc điều tra chống bán phá giá tăng đều đặn và tăng đột biến vào năm
1999 Tuy nhiên từ năm 1999 đến năm 2003 thì số cuộc điều tra chống bán phá giá biến động khá mạnh, từ 2003 đến nay có xu hướng ổn định hơn Số cuộc điều tra có kết luận cuối cùng là bán phá giá và dẫn đến việc áp dụng thuế chống bán phá giá cũng biến động
Đó là thực trạng chung bán phá giá hàng hóa trên thế giới Sau đây ta sẽ
đi sâu phân tích từng nhóm nước cụ thể Theo các tiêu chí phân loại các nước phát triển và đang phát triển của WTO, ta có biểu đồ so sánh sau về số lần áp dụng thuế chống bán phá giá của hai nhóm nước này (Biểu đồ 1.2)
Nguồn: www.wto.org
Thực tế này cho thấy không chỉ có các nước phát triển tiến hành điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước đang phát triển và ngược lại mà các nước phát triển còn điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước phát triển khác Điều này cũng xảy ra tương tự đối với các nước đang phát triển
Các mặt hàng bị điều tra chống bán phá giá thường là các sản phẩm dệt may, giày dép, sắt thép, kim loại, hóa chất, nhựa và các sản phẩm từ nhựa, cao su và các sản phẩm từ cao su, máy móc, thiết bị cơ khí, thiết bị
Trang 38điện đặc biệt là kim loại cơ bản Tuy nhiên không phải tất cả các cuộc điều tra
về các mặt hàng đều dẫn tới việc áp dụng thuế chống bán phá giá Nhưng căn
cứ trên các số liệu thống kê được từ WTO cập nhật cho đến ngày 31/12/2010 thì nói chung các mặt hàng bị áp dụng thuế chống bán phá giá tỷ lệ thuận với số lượng các cuộc điều tra chống bán phá giá đối với các mặt hàng đó Điều đó có nghĩa là một khi một mặt hàng nào đó là đối tượng của điều tra chống bán phá giá thì xác suất mặt hàng đó bị áp dụng thuế chống bán phá giá
là rất cao Theo số liệu thống kê của WTO về chống bán phá giá theo các nhóm hàng, trong 3.853 vụ điều tra từ 01/01/1995 - 31/12/2010 có 5 nhóm mặt hàng
bị điều tra chống bán phá giá nhiều nhất là kim loại cơ bản và các sản phẩm từ chúng (chiếm 27,25% số vụ điều tra), hóa chất (20,5%), nhựa và cao su (13%), máy móc thiết bị cơ khí, đồ điện (8,9%), dệt may (7,81%) Riêng 5 nhóm mặt hàng này đã chiếm tới 77,46% số vụ điều tra bị áp dụng thuế chống bán phá giá Điều này chứng tỏ các vụ điều tra chống bán phá giá giai đoạn 1995 - 2010 không phân bố đều ở các mặt hàng mà có sự tập trung cao vào một số ít mặt hàng- đây là những mặt hàng rất nhạy cảm với các vụ điều tra chống bán phá giá Và cũng chính 4 nhóm mặt hàng này cũng thường bị áp dụng thuế chống bán phá giá
1.4.2 Thực trạng chống bán phá giá ở các nước phát triển
Kể từ thời điểm đầu năm 1995 cho đến cuối năm 2010, các nước phát triển đã tiến hành 1.360 cuộc điều tra chống bán phá giá chiếm 35,3% số cuộc điều tra chống bán phá giá trên thế giới giai đoạn này
Trong số các nước phát triển, Mỹ và EU luôn đi đầu trong việc tiến hành các cuộc điều tra về chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, nhưng cũng không tránh khỏi là đối tượng bị điều tra chống phá giá Mỹ đã tiến hành 443 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 301 lần áp dụng thuế chống bán phá giá Tuy nhiên, số vụ Mỹ bị các nước khác điều tra chống bán phá giá chỉ là 224 vụ, trong đó có chỉ 129 lần nước này bị áp dụng
Trang 39thuế chống bán phá giá Nhóm mặt hàng mà Mỹ áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất là nhóm kim loại cơ bản (chiếm 52,6% tổng số lần đánh thuế chống bán phá giá), hóa chất là đứng thứ hai nhưng chỉ chiếm 14,22% tổng số lần đánh thuế này Như vậy có thể thấy Mỹ có chính sách bảo hộ sát sao ngành sản xuất nhóm sản phẩm kim loại cơ bản, đặc biệt là ngành sản xuất thép Nhóm sản phẩm mà Mỹ bị các nước áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất là hóa chất, giày dép, máy móc thiết bị cơ khí, đồ điện nhưng
số lần áp dụng không nhiều Chẳng hạn hóa chất là nhóm sản phẩm mà Mỹ bị các nước áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất cũng chỉ là 90 lần trong
cả giai đoạn 1995 - 2010 Các phân tích trên phần nào cho thấy các nước bán phá giá hàng hóa rất nhiều vào Mỹ còn Mỹ ít tiến hành bán phá giá sang các nước khác
EU thì ít hơn Mỹ một chút, tiến hành 421 cuộc điều tra và có 271 lần
áp dụng thuế chống bán phá giá Các nhóm sản phẩm mà EU áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất bao gồm: Kim loại cơ bản (chiếm 34,2% số vụ áp dụng thuế này), hóa chất (18,76%), máy móc thiết bị cơ khí và đồ điện (13,54%) Các nhóm sản phẩm của EU bị các nước áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất bao gồm: hóa chất (52,38%), hàng hóa từ chất dẻo và cao su (19,05%)
Nhật Bản thì tương đối đặc biệt khi chỉ áp dụng thuế chống bán phá giá
6 lần (tất cả đều là đối với nhóm mặt hàng hóa chất và dệt may) nhưng lại 160 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá (trong đó nhóm sản phẩm của Nhật bị áp dụng loại thuế này nhiều nhất là hóa chất (chiếm tới 30% số vụ bị áp dụng loại thuế này) và kim loại cơ bản (28,13%)
1.4.3 Thực trạng chống bán phá giá ở các nước đang phát triển
Trong khi 4 quốc gia phát triển có "truyền thống" sử dụng chống bán phá giá là Mỹ, EU, Canada và Úc vẫn tiếp tục áp dụng thường xuyên biện pháp này trong khuôn khổ WTO Tuy nhiên, các quốc gia này không còn là các quốc gia dẫn đầu sử dụng chống bán phá giá như một thập kỷ trước (1985-1994) theo chế
Trang 40độ GATT Thay vào đó, nếu xét về mức độ thường xuyên của các vụ kiện đã khởi xướng và số lần áp dụng biện pháp chống bán phá giá, các nước đang phát triển như Argentina, Braxin, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Mexico, Peru, Thổ nhĩ kỳ và Venezuela đang trở thành "những quốc gia sử dụng tích cực" công cụ này.9 quốc gia này đã chiếm tới 40% số vụ điều tra chống bán phá giá mới và 45% số biện pháp chống bán phá giá mới được áp dụng Đây là một thay đổi đáng kể vì cách đây một thập niên, 4 quốc gia phát triển là Mỹ, EU, Canada và Úc chiếm tới gần 75% tổng số vụ điều tra chống bán phá giá Cũng trong thời gian đó, hàng hóa xuất khẩu của 62 nước đang phát triển là đối tượng của 1.374 cuộc điều tra và
805 lần bị áp dụng thuế chống phá giá
Ấn Độ là nước đang phát triển đi đầu trong việc áp dụng thuế chống bán phá giá Trong giai đoạn 1995 - 2010 nước này đã tiến hành 637 cuộc điều tra chống bán phá giá và có 450 lần áp dụng thuế chống bán phá giá Tuy nhiên,
Ấn Độ chỉ là đối tượng của 91 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá
Achentina, Nam Phi và Braxin cũng nhiều lần áp dụng thuế chống bán phá giá, tương ứng với 198 lần, 128 lần và 106 lần Hai nước này cũng là đối tượng của tương ứng 17 lần, 39 lần và 80 lần bị áp dụng thuế chống bán phá giá
Trung Quốc thì tương đối đặc biệt, khi mới chỉ áp dụng thuế chống bán phá giá 145 lần nhưng lại bị áp dụng thuế chống bán phá giá tới 590 lần Trung Quốc có thể coi là quốc gia "đi đầu" trong việc bán phá giá hàng hóa sang các nước khác Tất nhiên, một lý do quan trọng gây bất lợi cho các nhà xuất khẩu của Trung Quốc là nhiều nước phát triển chưa coi nền kinh tế Trung Quốc là kinh tế thị trường, do đó dễ dẫn tới kết luận là hàng xuất khẩu bị bán phá giá, mặc dù trên thực tế có thể không phải như vậy Xét về cơ cấu sản phẩm thì Trung Quốc áp dụng thuế chống bán phá giá chủ yếu đối với nhóm sản phẩm hóa chất Còn các nhóm sản phẩm của Trung Quốc bị nước ngoài áp dụng thuế chống bán phá giá nhiều nhất bao gồm: hóa chất, kim loại
cơ bản và các sản phẩm của chúng