Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh đã khẳng định trước công luận việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam là "một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện nhằm khuôn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ NHUNG
PH¸P LUËT BIÓN VIÖT NAM VíI LUËT BIÓN QUèC TÕ
Vµ PH¸P LUËT BIÓN N¦íC NGOµI
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Nhung
Trang 3MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM, LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 7
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam 7
1.1.2 Khái niệm và quá trình hình thành, phát triển pháp luật biển Việt Nam 9
1.1.3 Nguồn pháp luật biển Việt Nam 14
1.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN QUỐC TẾ 16
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm luật biển quốc tế 16
1.2.2 Nguồn luật biển quốc tế 18
1.3 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 23
1.3.1 Khái quát chung về các hệ thống pháp luật biển trên thế giới 23
1.3.2 Hệ thống pháp luật biển một số nước điển hình 24
Chương 2: SO SÁNH PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM VỚI LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 35
2.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM VỚI LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 35
2.1.1 Mối quan hệ giữa pháp luật biển Việt Nam với luật biển quốc tế 35
2.1.2 Mối quan hệ giữa pháp luật biển Việt Nam với pháp luật biển nước ngoài 38
2.2 SO SÁNH PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM VỚI LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI TRONG MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 39
Trang 42.2.1 Đường cơ sở để xác định chiều rộng lãnh hải của Việt Nam 39
2.2.2 Xác định và chế độ pháp lý các vùng biển Việt Nam 43
2.2.3 Các quy định về các hoạt động trong vùng biển Việt Nam 68
2.2.4 Quy chế các đảo, quần đảo 77
2.2.5 Nguyên tắc, chính sách quản lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển 79
2.2.6 Giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình 84
Chương 3: ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 88
3.1 MỘT SỐ ƯU ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 89
3.1.1 Việt Nam đã có một văn bản pháp luật bao trùm có tính thống nhất quản lý trong lĩnh vực luật biển 89
3.1.2 Luật biển Việt Nam phù hợp với Công ước luật biển 1982 91
3.1.3 Luật biển Việt Nam khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển của Việt Nam, đặc biệt là chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa 93
3.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI CỦA PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 96
3.2.1 Đường cơ sở của Việt Nam 96
3.2.2 Vấn đề phân định biển 97
3.2.3 Một số vấn đề khác 103
3.3 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM 104
3.3.1 Giải quyết vấn đề đường cơ sở xác định lãnh hải của Việt Nam 104
3.3.2 Giải quyết các vấn đề liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa 108
3.3.3 Giải quyết vấn đề phân định biển với các quốc gia trong khu vực 112
3.3.4 Một số vấn đề khác 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biển có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển và an ninh của các nước có biển nói riêng và của thế giới nói chung Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ''Thế kỷ của đại dương'', bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển Trong khi đó, trên bình diện quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) được coi như một bản “Hiến pháp đại dương” của nhân loại Đó là văn kiện pháp lý quốc tế tổng hợp toàn diện, đề cập những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương; quy định rõ các quyền lợi và nghĩa vụ trên biển quốc tế Cũng như với Hiến chương Liên hợp quốc, UNCLOS 1982 được coi là văn kiện pháp lý đa phương quan trọng nhất trong lịch sử Liên hợp quốc Kể từ khi UNCLOS
1982 chính thức có hiệu lực trong đời sống quốc tế ngày 16/11/1994, thì Việt Nam là nước thứ 64 phê chuẩn Công ước theo Nghị quyết phê chuẩn ngày 23/6/1994 của Quốc hội và Việt Nam đã nộp lưu chiểu Liên hợp quốc sau đó
1 tháng (25/7/1994) trước ngày Công ước có hiệu lực
Tuy nhiên, dù đã tham gia UNCLOS 1982 từ năm 1994 nhưng trong một thời gian dài, Việt Nam vẫn chưa có một văn bản luật về biển mà chỉ mới có các quy định trong một số văn bản đề cập đến một số khía cạnh cụ thể có liên quan Trên thực tế, các nước ven biển đều ban hành các luật về biển, luật về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Vì vậy để vận dụng hiệu quả, nhất quán những nguyên tắc,
Trang 6quy định trong UNCLOS đồng thời phù hợp với tình hình thực tiễn trên biển Đông của Việt Nam, yêu cầu bức thiết ở Việt Nam là cần xây dựng một bộ luật tổng quát về biển
Cho đến ngày 21/6/2012, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới thông qua Luật Biển Việt Nam và luật này có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/01/2013 Bộ trưởng Bộ Ngoại Giao Phạm Bình Minh đã khẳng định trước công luận việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam
là "một hoạt động lập pháp quan trọng nhằm hoàn thiện nhằm khuôn khổ
pháp lý của nước ta, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới Với việc thông qua Luật Biển Việt Nam, lần đầu tiên nước ta có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo của nước ta"
Bên cạnh đó, việc Quốc hội nước ta thông qua Luật Biển Việt Nam đã chuyển một thông điệp quan trọng đến cộng đồng quốc tế, là: Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, phấn đấu vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới
Ngoài ra, với luật biển Việt Nam chúng ta đã chính thức tuyên bố với thế giới về chủ quyền và quyền chủ quyền biển đảo của Việt Nam Đây là cơ
sở để bảo vệ, hợp tác và đàm phán giải quyết các xung đột, bất đồng về biển đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của chúng ta, tiếp tục khẳng định rõ Hoàng Sa, Trường Sa là hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam Trên cơ sở
đó giúp Việt Nam tự tin làm chủ vùng biển của mình, không xâm phạm đến vùng biển của các nước khác trong khu vực
Trang 7Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung cơ bản của luật biển Việt Nam trong tương quan so sánh với các nguyên tắc, quy phạm của luật biển quốc tế hiện đại và pháp luật một số nước trên thế giới là một việc làm có tầm đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay
Từ những phân tích trên đây, Học viên đã chọn đề tài: "Pháp luật biển
Việt Nam với luật biển quốc tế và pháp luật biển nước ngoài" cho luận văn
Thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Là một quốc gia ven biển và là thành viên của UNCLOS từ lâu, Việt Nam đã sớm có ý định xây dựng và ban hành một văn bản luật về biển Bên cạnh đó, tình hình tranh chấp biển Đông đang diễn ra ngày một căng thẳng Chính vì vậy, trong lĩnh vực này đã từng có rất nhiều những công trình nghiên cứu như sách chuyên khảo, các bài viết của các chuyên gia, nhà khoa học nổi tiếng, có vị thế trong ngành luật quốc tế trong nước và nước ngoài viết về các vấn đề khác nhau về những quy phạm của luật biển quốc tế hiện đại, quan điểm, lập trường và hành động mà cụ thể là pháp luật của bên có liên quan
Có thể kể ra đây một số những cuốn sách và các bài viết như: “Chính sách, pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến chủ biên, NXB Tư pháp năm 2006); “Thềm lục địa trong pháp luật quốc tế” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến, ThS Nguyễn Hùng cường, xuất bản năm 2012); “Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế, những vấn đề lý luận và thực tiễn” (PGS.TS.Nguyễn Bá Diến chủ biên, NXB Tư pháp năm 2009); “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (Monique-Cheillier Gendreau, NXB Chính trị quốc gia năm 2008); “Vấn đề phân định biển trong Luật biển quốc tế hiện đại” (PGS.TS Nguyễn Bá Diến, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế-Luật, số 1/2007)
Tuy nhiên, vì Luật Biển 2012 mới ra đời nên hệ thống các tài liệu
Trang 8nghiên cứu tổng thể về luật biển Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế Ngay cả đối với học viên, đây cũng là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những quy định của Luật biển Việt Nam 2012 và các quy định liên quan trước đó của Việt Nam đồng thời là
hệ thống các quy phạm của luật biển quốc tế hiện đại và pháp luật một số nước như Trung Quốc, Philippin và Canada Hệ thống những quy phạm này
sẽ được đặt trong sự tương quan so sánh với nhau
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất của luật biển Việt Nam, UNCLOS 1982 và pháp luật nước ngoài bao gồm các quy định chung; các vùng biển, cách xác định, các hoạt động và chế độ pháp lý các vùng biển; khai thác và quản lý biển và giải quyết tranh chấp trên biển Đặc biệt, mỗi
hệ thống quy phạm là đối tượng nghiên cứu của luận văn lại có những đặc trưng riêng, luận văn còn nghiên cứu, làm rõ và giải thích các quy định này
Ngoài ra, luận văn còn tập trung nghiên cứu thực trạng tình hình biển Đông cũng như động thái của các quốc gia có liên quan Từ đó để thấy được sự
ra đời của luật biển Việt Nam có những tác động gì trong bối cảnh hiện nay
4 Mục đích và phương pháp nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật biển Việt Nam trong sự phù hợp với những quy phạm của luật biển quốc tế hiện đại, đồng thời thể hiện sự tương quan so sánh với luật biển của một số quốc gia khác trên thế giới Trên cơ sở đó để đưa ra những nhận định về tính hợp pháp, hợp lý và tính khả thi của các quy định pháp luật biển Việt Nam Đặc biệt là cho thấy quan điểm và cách giải quyết của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Trang 94.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên phương pháp luận của Triết học Mác – Leenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Luận văn còn dựa trên sự kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu từ cái chung đến cái riêng, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp loogic
và lịch sử, phân tích và so sánh, đặc biệt là phương pháp so sánh luật học
Luận văn cũng kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình nghiên cứu và giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
5 Tính mới của đề tài
Ngày 21/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam Ngày 16/7/2012, Văn phòng Chủ tịch nước đã họp báo về lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3
và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 Gồm 55 điều, 7 chương, Luật Biển Việt Nam quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng
Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam; hoạt động trong vùng biển Việt Nam; phát triển kinh tế biển; quản lý và bảo vệ biển, đảo
Như vậy, dù vấn đề về biển đặc biệt là những vấn đề liên quan đến việc ban hành một đạo luật biển ở Việt Nam có rất nhiều những công trình khoa học nhưng có thể nói, luận văn là một trong những công trình đầu tiên nghiên cứu về Luật biển Việt Nam khi nó vừa mới được ban hành
Luận văn nghiên cứu những nội dung cơ bản của luật biển Việt Nam và các quy định của luật biển quốc tế hiện đại đồng thời chỉ ra sự tương thích với giữa hệ thống pháp luật biển Việt Nam với quy định của luật biển quốc tế Bên cạnh đó còn là mối tương quan với pháp luật các nước trên thế giới nhằm
có cái nhìn toàn diện, tất yếu Từ đó thấy được tính hợp pháp, tính hợp lý và tính khả thi của luật biển
Trang 10Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên cứu để thấy rõ quan điểm Luật Biển Việt Nam là một bước tiến pháp lý lớn và là cơ sở vững chắc để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển Đông, cũng như thể hiện sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho việc bảo vệ và quản lý biển, cũng như cho việc giải quyết tranh chấp trên biển hiện nay
6 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, bài luận văn được bố trí kết cấu thành ba phần như sau:
Chương 1 Tổng quan những vấn đề lý luận về pháp luật biển Việt
Nam, luật biển quốc tế và pháp luật biển nước ngoài
Chương 2 So sánh pháp luật biển Việt Nam với luật biển quốc tế và
pháp luật biển nước ngoài
Chương 3 Đánh giá pháp luật biển Việt Nam
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM, LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI
1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM
1.1.1 Điều kiện tự nhiên, vị trí địa kinh tế và địa chính trị của biển Việt Nam
Việt Nam (tọa độ địa lý: Kinh tuyến: 102°8′ - 109°27′ Đông; Vĩ tuyến: 8°27′ - 23°23′ Bắc) nằm ở cực Đông Nam bán đảo Đông Dương Diện tích phần đất liền khoảng 331.698 km² Việt Nam nằm bên bờ Biển Đông có vùng biển rộng trên 1 triệu km2 chiếm khoảng 30% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3
lần diện tích đất liền Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và Tây Nam, trung bình khoảng 100km2
đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ này của thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500km Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở Vịnh Bắc Bộ, với diện tích khoảng l.700km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích lớn hơn 10km2, 82 đảo
có diện tích lớn hơn l km2
và khoảng trên l.400 đảo chưa có tên [34] Về kinh
tế, chính trị - xã hội, biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc gia, cho đất nước tự chủ hơn trong phát triển kinh tế trong bối cảnh hiện nay Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở Biển Đông, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua
khá lớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động Vùng biển và
ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết
Trang 12mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Biển Đông đóng vai trò là chiếc ''cầu nối'' cực kỳ quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thế
giới Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển Với nhiều
trung tâm du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tế Đông Nam Á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Quảng Ninh có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ
điểm về du lịch biển Về quốc phòng - an ninh, biển nước ta là một không
gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước Với một vùng biển rộng lớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạy lan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh Quảng Bình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta cùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự, điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiện thuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta
Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giao lưu với quốc
tế và ngày càng có vai trò lớn trong tương lai Biển, đảo là một bộ phận cấu
thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta Chính vì vậy, pháp luật điều chỉnh các khu vực và các hoạt động trên biển đã được ra đời, phát triển từ rất sớm và ngày càng được chú trọng hơn Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, những nguồn tài nguyên thiên nhiên trên cạn đang dần khan hiếm
Trang 13thì mối quan tâm của các quốc gia được dịch chuyển sang nguồn tài nguyên trên biển vốn vô cùng dồi dào Bên cạnh đó, quá trình toàn cầu hoá đang diễn
ra một cách mạnh mẽ kéo theo sự liên kết ngày càng gần gũi của các quốc gia
đã làm cho các mâu thuẫn, bất đồng hình thành ngày càng nhiều và sâu sắc, điển hình là các tranh chấp ở Biển Đông của Việt Nam Điều này làm cho hệ thống pháp luật biển Việt Nam có tầm quan trọng lớn hơn bao giờ hết
1.1.2 Khái niệm và quá trình hình thành, phát triển pháp luật biển Việt Nam
1.1.2.1 Khái niệm pháp luật biển Việt Nam
Luật biển là tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận dùng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng các vùng biển
Về mặt cấu trúc thì luật biển Việt Nam là một ngành luật độc lập thuộc
hệ thống pháp luật Việt Nam, có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình xác định các vùng biển cũng như quá trình khai thác và sử dụng biển
1.1.2.2 Quá trình hình thành và phát triển pháp luật biển Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia ven biển, biển gắn liền với đất nước và con người Việt Nam trong tất cả quá trình hình thành và phát triển dân tộc Chính
vì tầm quan trọng to lớn của biển nên luật biển Việt Nam càng ngày càng được quan tâm hơn Sự hình thành và phát triển luật biển Việt Nam có thể chia thành các thời kỳ sau:
* Pháp luật biển Việt Nam giai đoạn trước năm 1954
Giai đoạn trước năm 1945 là thời kỳ các nhà nước phong kiến vẫn còn thống trị ở Việt Nam Trong thời kỳ này, pháp luật biển, đảo cũng đã được quan tâm một cách toàn diện Các nhà nước phong kiến đã xác định hải giới
và chú trọng bảo vệ chủ quyền trên biển Bên cạnh đó, việc khai thác, xác lập
Trang 14chủ quyền và quản lý lãnh thổ trên biển Đông cũng được cha ông ta tiến hành
từ lâu đời Trong sách Đại Nam nhất thống chí đời Nguyễn đã viết: “Phía Đông có dải đảo cát nằm ngang (Hoàng Sa đảo) liền với biển xanh làm hào che, phía Tây khống chế vùng Sơn Man có luỹ đá dài chồng chất giữ cho vững vàng, phía Nam bên tỉnh Bình Định, có sườn núi Bến Đá làm mũi chặn
ngang, phía Bắc tỉnh giáp tỉnh quảng Nam, có ghềnh sa có thể làm giới hạn”
Sau đó, thời kỳ Pháp xâm lược Việt Nam đã cai quản toàn bộ vùng lãnh thổ, vùng biển, hải đảo; thực hiện và củng cố chủ quyền trên biển của Việt Nam Thời kỳ này, Pháp áp dụng luật biển của chính quốc đối với thuộc địa
để khai thác các nguồn lợi trên biển của Việt Nam Pháp ban hành Nghị định này 09/12/1926 tuyên bố lãnh hải Việt Nam rộng 03 hải lý rồi sau đó mở rộng
ra 10 hải lý trong Nghị định ngày 22/9/1936 Đến năm 1948, chính quyền Pháp quy định lãnh hải của Việt Nam rộng 03 hải lý, vùng đánh cá rộng 20km
và vùng tiếp giáp lãnh hải 20km tính từ ngấn nước triều thấp nhất Như vậy, cho đến thời điểm 1954, Việt Nam đã mở rộng chủ quyền, quyền chủ quyền
và quyền tài phán của mình trên tất cả các vùng biển mà luật quốc tế về biển
công nhận, trừ vùng thềm lục địa
* Pháp luật biển, đảo Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975
Trong giai đoạn này, do hoàn cảnh chiến tranh và đất nước bị chia cắt, nhìn chung Việt Nam chưa có được một khung pháp lý đầy đủ, phù hợp với
xu hướng chung của luật biển quốc tế, do đó đã hạn chế một phần sự mở rộng
ra hướng biển của Việt Nam Hoạt động đáng chú ý nhất là ở miền Nam, chính quyền Sài Gòn tham dụ Hội nghị lần thứ nhất của Liên hợp quốc về luật biển tại Geneva và đã có những đóng góp nhất định trong việc xây dựng các khái niệm nghề cá và thềm lục địa Chính quyền Sài Gòn lúc này cũng duy trì lãnh hải rộng 03 hải lý theo Tuyên bố ngày 27/4/1965 về các biện pháp bảo vệ lãnh hải; vùng đánh cá được mở rộng đến 50 hải lý trong Tuyên bố ngày
Trang 1501/4/1972; đặc biệt đã phân thềm lục địa của Việt Nam thành 33 lô theo Nghị định ngày 09/6/1971 và tiến hành đấu thầu một số lô cho các công ty dầu mỏ nước ngoài khai thác, thăm dò Bên cạnh đó, chính quyền Sài Gòn cũng trực tiếp quản lý và bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam
* Pháp luật biển, đảo Việt Nam từ giai đoạn 1975 đến nay
Từ năm 1977, sau khi thống nhất đất nước và trở thành thành viên Liên Hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc
về Luật biển Việt Nam cũng là một trong 130 nước bỏ phiếu thông qua và sau đó cùng 118 nước khác ký Công ước Luật biển 1982 vào tháng 12/1982 tại Montego Bay (Jamaica) Ngày 23/6/1994 Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn và trở thành thành viên thứ 63 của Công ước Bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi, Việt Nam còn có trách nhiệm thực hiện các nghĩa
vụ cụ thể mà Công ước này mang lại Cụ thể, Việt Nam có quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo Công ước nhưng đồng thời cũng có nghĩa
vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nước láng giềng
Ngay từ khi Công ước Luật biển 1982 còn đang được thương lượng, Chính phủ Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Phạm vi các vùng biển của Việt Nam theo Tuyên bố này hoàn toàn phù hợp với các quy định sau này của Công ước Luật biển năm 1982 Liên quan đến phân định các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa Việt nam với các quốc gia láng giềng, Tuyên bố
năm 1977 đã quy định rõ như sau:“Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt nam sẽ cùng các nước liên quan, thông qua thương lượng trên cơ
sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”
Quan điểm này tiếp tục được khẳng định lại trong Tuyên bố của Chính
Trang 16phủ Việt Nam về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ngày 12/11/1982 cũng như Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội Việt Nam khi
phê chuẩn Công ước Luật biển năm 1982 Việt Nam đã chính thức hóa cơ sở
pháp lý quốc tế về phạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc gia trên các vùng biển, đảo Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển
Nghị quyết phê chuẩn Công ước luật biển 1982 của Quốc hội Việt Nam
đã xác định: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển
năm 1982, nước CHXHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc
tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác phát triển” Kể từ trước đó đến nay, Việt Nam luôn kề vai, hợp tác cùng
với cộng đồng quốc tế tích cực triển khai thực hiện từng bước có hiệu quả các quy định của Công ước luật biển 1982:
Thứ nhất, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh việc sửa đổi, bổ sung, xây
dựng mới những văn bản pháp luật trong lĩnh vực biển và quản lý biển hoặc
có liên quan đến biển như: Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Thuỷ sản năm 2003; Nghị định số 160 về quản lý hoạt động hàng hải tại cảng biển
và khu vực hàng hải năm 2003; Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990 (sửa đổi, bổ sung năm 2005); đặc biệt Việt Nam đang gấp rút soạn thảo, chỉnh lý trình Quốc hội thông qua Luật về các vùng biển Việt Nam, Pháp lệnh bắt giữ tàu biển, v.v…
Thứ hai, Việt Nam luôn là thành viên chủ động và có những hưởng ứng,
đóng góp tích cực trong việc đề xuất những sáng kiến nhằm thực thi hiệu quả Công ước luật biển 1982 Trong quá trình đàm phán, giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, nguyên tắc tự kiềm chế đã được Việt Nam sáng kiến đưa ra từ
Trang 17những năm 1988, đến ngày 20/4/1995, nguyên tắc này đã được Tổng Bí thư
Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười phát biểu chính thức tại Tokyo: “Chính
sách của Việt Nam là giữ nguyên trạng hiện nay để duy trì hoà bình và sự ổn định trong khu vực và tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho vấn đề này mà không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực”; Hội nghị thượng đỉnh
ASEAN lần thứ sáu (1998), được tổ chức tại Hà Nội, đã có sáng kiến: “kêu gọi
các nước ASEAN đẩy mạnh nỗ lực xây dựng một bộ quy tắc ứng xử trong biển đông giữa các bên liên quan” (khoản 7.16); ngày 04/11/2002 trong khuôn khổ
cuộc họp cấp cao ASEAN VIII tại Phnom-Pênh (Campuchia), các nhà lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về cách ứng xử của các Bên ở Biển Đông (DOC) Tuyên bố DOC là bước đi đầu tiên trong việc thông qua một bộ quy tắc ứng xử Biển Đông giữa các bên liên quan
Thứ ba, trong khuôn khổ hợp tác quốc tế về biển, hàng hải và nhằm triển khai thực thi có hiệu quả Công ước luật biển năm 1982, gần đây Việt Nam đã lần lượt ký các Hiệp định song phương về hàng hải với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Việt Nam - Rumani năm 1994; Việt Nam -
Ba Lan năm 1995; Việt Nam - Hàn Quốc năm 1995, v.v… đồng thời Việt Nam tích cực nghiên cứu, gia nhập các Công ước quốc tế về biển, hàng hải như: Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển năm 1974 (Việt Nam gia nhập năm 1990); Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm dầu từ tàu biển năm 1973, Nghị định thư sửa đổi năm 1978 (Việt Nam gia nhập năm 1990); Công ước quốc tế về thông tin toàn cầu (Việt Nam gia nhập năm 1999); Biên bản ghi nhớ về kiểm tra của quốc gia có cảng biển trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Việt Nam gia nhập năm 1999); Hiệp định khung ASEAN về tìm kiếm cứu nạn trên biển (Việt Nam ký năm 1998), v.v…
Với những việc làm cụ thể và thiết thực như trên, Việt Nam cùng với các nước thành viên của Liên hợp quốc về luật biển, ngày càng khẳng định
Trang 18vai trò, ý nghĩa và giá trị to lớn mà Công ước luật biển 1982 đem lại và khẳng định nỗ lực, quyết tâm của mình cùng cộng đồng quốc tế góp sức hoàn thiện hơn nữa các quy định của Công ước luật biển 1982 phục vụ cho việc khai thác, bảo vệ hữu hiệu tài nguyên biển - tài sản chung của nhân loại
1.1.3 Nguồn pháp luật biển Việt Nam
Viê ̣t Nam là quốc gia ven biển có những ưu thế và vi ̣ trí chiến lược quan tro ̣ng đối với khu vực và trên thế giới Tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, hệ thống pháp luâ ̣t về biển của Viê ̣t Nâm hầu như không phá t triển trong giai đoa ̣n trước năm 1975 Viê ̣t Nam chỉ thực sự có điều kiê ̣n ban hành quy đi ̣nh pháp luâ ̣t về biển từ năm 1977 Với tuyên bố của Chính phủ ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Viê ̣t Nam trở thành nước đầu tiên trong khu vực thiết lâ ̣p vùng đă ̣c quyền kinh tế 200 hải lý Viê ̣t Nam cũng là mô ̣t trong những nước đầu tiên ở Đông Nam
Á, bao gồm cả 2 quốc gia quần đảo là Indonesia và Philippin phê chuẩn Công ước luật biển 1982 trước khi Công ước có hiê ̣u lực Các văn bản pháp lý cơ bản về biển đảo của Việt Nam gồm:
- Tuyên bố củ a Chính phủ nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải , vùng tiếp giáp , vùng đặc quyền kinh tế và thềm lu ̣c đi ̣a
- Tuyên bố củ a Chính phủ nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rô ̣ng lãnh hải Viê ̣t Nam;
- Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội khóa IX phê chuẩn Công ước Luật biển
- Luật Biên giới quốc gia gồm 6 chương và 41 điều được Quốc hô ̣i nước CHXHCN Viê ̣t Nam khóa XI kỳ ho ̣p thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003,
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004
- Các bộ luật như Bộ Luật hàng hải , Luật Dầu khí , các nghị định của
Trang 19Chính phủ quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong các hoạt động liên quan đến biển như môi trường , thủy sản, hàng hải, dầu khí, bảo đảm an ninh quốc phòng trên các vùng biển Viê ̣t Nam
- Luật Biển Việt Nam thông qua ngày 21/6/2012
Trong những văn bản trên, Luật Biển 2012 đóng vai trò quan trọng nhất trong việc điều chỉnh các lĩnh vực thuộc luật biển Bằng việc thông qua Nghi ̣ quyết phê chuẩn Công ước luâ ̣t biển năm 1982 vào ngày 23/6/1994, Viê ̣t Nam đã
tỏ rõ ý chí thực hiện các quyền trong giới hạn cho phép của Công ước , có tính đến quyền tự do của các quốc gia khác Trong nghi ̣ quyết này, Quốc hô ̣i đồng thời giao cho “Ủy ban thường vu ̣ Quốc hô ̣i và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy đi ̣nh liên quan của pháp luâ ̣t quốc gia cho phù hợp với CƯ, bảo đảm lợi ích của Việt Nam Dự án luâ ̣t về các vùng biển của Việt Nam đã được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI , Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật , pháp lệnh năm 2009 và bổ sung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc
hô ̣i nhiê ̣m kỳ khóa XII Sau nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, dự thảo Luật Biển Việt Nam đã hoàn thiện và đủ điều kiện để xem xét thông qua Tại phiên họp ngày 21/6/2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam với số phiếu tán thành gần như tuyệt đối (99,8%)
Luật Biển Việt Nam được ban hành đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hiệp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới Với việc thông qua Luật Biển Việt Nam, lần đầu tiên nước ta có một văn bản luật quy định đầy đủ chế độ pháp lý của các vùng biển, đảo thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013
Trang 201.2 TỔNG QUAN VỀ PHÁP LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm luật biển quốc tế
1.2.1.1 Khái niệm
Luật biển quốc tế từng bước phát triển, nhằm mục đích chủ yếu là phân định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia trên biển, việc sử dụng, khai thác biển, bảo vệ môi trường biển và hợp tác giữa các quốc gia trong các lĩnh vực này Cho đến thế kỷ XV nguyên tắc tự do biển cả vẫn được áp dụng
Một trong những văn bản phân chia các vùng biển đầu tiên trên thế giới
là Hiệp ước Tordesillas được ký giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha dựa trên Sắc chỉ của Giáo hoàng ngày 04/5/1493 về phân chia khu vực ảnh hưởng của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Đường phân chia theo Hiệp ước này cách đường của Giáo hoàng 100 hải lý về phía ngoài của đảo Cap Verde và quy định các khu vực độc quyền của hai cường quốc biển vào thời kỳ đó trong giao thương hàng hải
Luật biển quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc và quy phạm luật quốc tế, được thiết lập bởi các quốc gia, trên cơ sở thoả thuận hoặc thông qua thực tiễn
có tính tập quán, điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển và các hoạt động
sử dụng, khai thác, bảo vệ môi trường biển cũng như quan hệ hợp tác của các quốc gia trong lĩnh vực này
Về cấu trúc và vị trí pháp luật thì luật biển quốc tế là ngành luật độc lập thuộc hệ thống luật quốc tế, bao gồm tổng thể các nguyên tắc, quy phạm điều chỉnh quan hệ quốc tế phát sinh trong lĩnh vực sử dụng và khai thác biển vì mục đích hoà bình và lợi ích thiết thực của các chủ thể khác nhau
Ở góc độ khoa học luật quốc tế, luật biển quốc tế là một môn khoa học pháp lý chuyên ngành, nghiên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia và thực thể khác, liên quan đến việc
Trang 21thiết lập, thực thi chủ quyền, các quyền chủ quyền và hợp tác quốc tế của quốc gia đối với sử dụng và khai thác biển
- Về quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật biển quốc tế: Luật biển quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế phát sinh trong quá trình khai thác và sử dụng biển Các quy phạm của luật biển quốc tế quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể luật biển quốc tế khi các chủ thể này tham gia vào các quan hệ về khai thác, sử dụng biển
- Về việc hình thành và thực thi luật biển quốc tế: Luật biển quốc tế được hình thành dựa trên sự tự nguyện của các chủ thể luật quốc tế, thể hiện ở
sự tự điều chỉnh quan hệ lập pháp mà các quốc gia tiến hành theo phương thức thoả thuận bằng quan hệ điều ước hoặc mặc nhiên thừa nhận những quy tắc xử sự theo tập quán quốc tế
Vấn đề thực thi luật biển quốc tế không nằm ngoài cơ chế chung của việc thực thi luật quốc tế Đó là quá trinh các chủ thể luật biển áp dụng các
cơ chế hợp pháp, phù hợp để đảm bảo các quy định của luật biển quốc tế được thi hành và được tôn trọng đầy đủ trong đời sống quốc tế Theo UNCLOS 1982, các quốc gia có chủ quyền đối với các vùng biển thuộc lãnh thổ quốc gia và quyền chủ quyền đối với các vùng biển quốc gia do chủ
Trang 22quyền đem lại Tại những vùng biển này, quốc gia ven biển có quyền thiết lập một trật tự pháp lý quốc gia phù hợp với quy định của luật biển quốc tế
để đảm bảo quyền lợi quốc gia trong tiến hành các hoạt động sử dụng biển Trên biển cả và vùng, quốc gia phải tôn trọng các quy định của luật biển quốc tế khi tham gia các hoạt động hợp tác trong sử dụng biển và hoạt động
về giao lưu hàng hoá quốc tế
1.2.2 Nguồn luật biển quốc tế
Nguồn của luật biển quốc tế là các hình thức chứa đựng các nguyên tắc
và quy phạm luật biển quốc tế Tương tự như nguồn của luật quốc tế, nguồn của luật biển quốc tế được xác định, phân loại và viện dẫn dựa trên khoản 1 Điều 38 Quy chế Toà án công lý quốc tế
1.2.2.1 Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế được coi là nguồn phổ biến, chứa đựng các thoả thuận quốc tế được ký kết bởi các chủ thể luật biển quốc tế điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình xác định, sử dụng và khai thác các vùng biển; các vấn đề về quản lý, bảo vệ và gìn giữ môi trường biển
Bên cạnh bốn Công ước quốc tế về luật biển năm 1958, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 là điều ước quốc tế được coi là bản “Hiến pháp đại dương” Công ước 1982 về Luật biển được thông qua tại Hội nghị quốc tế lần thứ 3 về biển, là một văn kiện toàn diện về biển Công ước không chỉ được các quốc gia có biển mà ngay cả các quốc gia không có biển cũng rất quan tâm Nó không chỉ bao gồm các điều khoản mang tính điều ước mà còn
là văn bản pháp điển hoá các quy định mang tính tập quán Chính điều này đã giải thích vì sao Công ước 1982 được các quốc gia viện dẫn và áp dụng một cách rộng rãi ngay cả khi nó còn chưa có hiệu lực Nó cũng giúp cho Công ước 1982 nhanh chóng đạt được sự thừa nhận và tham gia rộng rãi trên trường quốc tế mặc dù đây là một văn bản luật lớn, mang tính cả gói và không chấp
Trang 23nhận bảo lưu Với 320 điều khoản chứa đựng trong 17 phần và 9 phụ lục, Công ước 1982 thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế
và là một trong những thành tựu có ý nghĩa trong lĩnh vực luật quốc tế của thế
ký XX Công ước luật biển 1982 có hiệu lực kể từ ngày 16/11/1994, tức là sau
12 tháng kể từ ngày nước Guyana (nước thứ 60) phê chuẩn Công ước vào ngày 16/11/1993 Tính đến năm 2013 đã có 166 quốc gia thành viên UNCLOS [43] Công ước luật biển 1982 vừa là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng giúp các quốc gia trong việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của biển cả vừa là cơ sở pháp lý cho các quốc gia trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ biển cả
Lần đầu tiên trong lịch sử, Công ước 1982 đưa ra các quy định tổng thể
có tính chất bao trùm trong hầu hết các lĩnh vực biển: cách xác định các vùng biển, chế độ pháp lý của các vùng biển; các quy định về hàng hải và hàng không; sử dụng, khai thác và quản lý các tài nguyên biển, sinh vật và không sinh vật; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; an ninh trật tự trên biển, đấu tranh chống các tội phạm trên biển; vấn đề phân định biển và giải quyết các tranh chấp quốc tế liên quan đến biển Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì Công ước 1982 là một công ước tương đối bình đẳng và tiến
bộ, thể hiện quá trình đầu tranh và nhượng bộ giữa hai trường phái: tự do biển
cả và chủ quyền quốc gia Công ước Luật biển vừa là cơ sở pháp lý quốc tế
quan trọng giúp các quốc gia trong việc quản lý, khai thác và sử dụng biển có hiệu quả và bảo vệ nguồn tài nguyên biển vừa là cơ sở pháp lý cho các quốc gia giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến biển Công ước 1982 đã thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển tương đối công bằng và được thừa nhận rộng rãi
Trong thời gian tồn tại của Công ước 1982, vẫn luôn có những phát triển, thay đổi, bổ sung và hoàn thiện khung pháp lý biển mà Công ước đã
Trang 24thiết lập Hàng loạt các công ước mới đã được bổ sung như: Thoả thuận ngày 29/7/1994 về thực hiện phần XI của Công ước 1982 (Thoả thuận 1994) (4); Công ước áp dụng các điều khoản của Công ước 1982 liên quan đến bảo tồn
và quản lý các đàn cá xuyên biên giới và các đàn cá di cư xa (Công ước của LHQ về các đàn cá di cư) năm 1995; Công ước về trấn áp các hành động không hợp pháp chống lại an toàn hàng hải và Nghị định thư về trấn áp các hành động không hợp pháp chống lại an toàn của các dàn khoan cố định trong thềm lục địa năm 1999
1.2.2.2 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là quy tắc được áp dụng trong những điều kiện như nhau đối với tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế và không bị phụ thuộc và quyền loại bỏ hay được thực hiện một cách đơn phương bởi một quốc gia bất kỳ Các quy tắc này có thể được hình thành từ nhiều con đường khác nhau như từ thực tiễn sinh hoạt quốc tế, thực tiễn ký kết điều ước quốc
tế về biển, thực tiễn xét xử của Toà án công lý quốc tế hay thực tiễn thực hiện nghị quyết của các tổ chức quốc tế
Một số tập quán quốc tế thường xuyên được viện dẫn áp dụng trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật biển quốc tế như nguyên tắc estoppel, nguyên tắc uti possidetis…
Ngoài hai nguồn cơ bản trên, nguồn của luật biển quốc tế còn bao gồm các phương tiện bổ trợ nguồn bao gồm các học thuyết về luật biển, phán quyết của Toà án công lý quốc tế, hành vi pháp lý đơn phương của các chủ thể luật biển quốc tế và các văn kiện quốc tế được hình thành trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong lĩnh vực biển
1.2.2.3 Các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế
Nguyên tắc cơ bản luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thể
Trang 25luật quốc tế Hệ thống các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế là những nguyên tắc thể hiện tập trung nhất các quan điểm chính trị - pháp lý và cách xử sự của các quốc gia trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản của đời sống quốc tế Nguyên tắc cơ bản luật quốc tế mang tính mệnh lệnh, tính bao trùm và tính hệ thống, nghĩa là mọi chủ thể đều phải tuân thủ nguyên tắc này Nguyên tắc cơ bản luật quốc tế chính là chuẩn mực để xác định tính hợp pháp của toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp lý quốc tế Hiện nay, cộng đồng quốc tế ghi nhận bảy nguyên tắc cơ bản luật quốc tế trong đó những nguyên tắc có ảnh hưởng lớn đối với lĩnh vực luật biển quốc tế như:
- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia
- Nguyên tắc cấm đe doạ sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực
- Nguyên tắc hoà bình giải quyết tranh chấp quốc tế
- Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế
- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác
Các nguyên tắc cơ bản luật quốc tế có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển luật quốc tế nói chung, luật biển quốc tế nói riêng
1.2.2.4 Phán quyết của Toà án công lý quốc tế
Điều 38 Quy chế Toà án công lý quốc tế quy định phán quyết của toà
án được coi là phương tiện bổ trợ để xác định các quy phạm pháp luật Trong lịch sử thực thi tài phán của Toà án công lú có nhiều tranh chấp về biển được đưa ra giải quyết ở toà này Phán quyết của toà án đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích, viện dẫn áp dụng và hình thành các quy phạm của luật này Điều này có nghĩa là kết quả xét xử của toà án ngoài giá trị pháp lý ràng buộc các bên liên quan đối với các chủ thể luật biển khác, có giá trị tham khảo trong quá trình thực thi các quy định của luật biển Bên cạnh đó, một số phán quyết quan trọng mà toà án đưa ra còn có thể đưa đến
sự hình thành của các quy phạm mới trong luật biển quốc tế Thực tế, trong
Trang 26quá trình pháp điển hoá các quy phạm của luật biển quốc tế vào UNCLOS
1982 nhiều quy phạm mới có nguồn gốc xuất phát từ phán quyết của Toà án công lý quốc tế như quy định về đường cơ sở thẳng, về xác định chủ quyền của nước ven biển trong nội thuỷ, về phân định một số vùng biển chồng lấn,
về quyền tự do đánh cá truyền thống
1.2.2.5 Các học thuyết về luật biển quốc tế
Học thuyết về luật quốc tế là những tư tưởng, quan điểm thể hiện trong các công trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận của các học giả về những vấn
đề lý luận cơ bản của luật quốc tế Ngoài ra, những học thuyết này còn có thể đưa ra những vấn đề pháp lý giải thích điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
để làm sáng tỏ nội dung của chúng, trợ giúp cho việc áp dụng các quy phạm trong điều ước quốc tế và tập quán quốc tế đó một cách đúng đắn Các học thuyết về luật biển quốc tế là phương tiện bổ trợ nguồn luật quốc tế theo quy định tại Điều 38 Quy chế toà án công lý quốc tế Mặc dù không trực tiếp tạo
ra Điều ước quốc tế, tập quán quốc tế nhưng các học thuyết này đã phân tích các quy phạm luật quốc tế, trình bày và đưa ra các quan điểm, luận cứ khoa học về các quy phạm luật Điều này có ảnh hưởng tích cực đến quá trình phát triển của luật biển quốc tế đồng thời đến cả quá trình nhận thức của con người
về luật biển quốc tế
Trong thực tiễn, các học thuyết đóng vai trò lớn trong việc hình thành các quy phạm của luật biển quốc tế Thực tế hiện nay, nhiều quy phạm trong lĩnh vực biển hiện nay có nguồn gốc từ ý tưởng, lý luận của những học thuyết về pháp luật, lãnh thổ, chủ quyền Những học thuyết này, ngoài ý nghĩa phản ánh quá trình con người chinh phục thiên nhiên và tiến ra biển, còn có giá trị khái quát về tư tưởng pháp luật đối với quá trình sử dụng và khai thác môi trường thiên nhiên, không gian biển và đại dương trong điều kiện có nhà nước và pháp luật
Trang 271.3 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI 1.3.1 Khái quát chung về các hệ thống pháp luật biển trên thế giới
Với quy định các quốc gia ven biển có quyền có lãnh hải 12 hải lý, vùng tiếp giáp lãnh hải 24 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa, UNCLOS đã thúc đẩy quá trình tiến ra biển của các nước Vùng biển với diện tích khoảng 109 triệu km2 – chiếm 30% diện tích mặt biển toàn cầu được các nước ven biển xác định là khu vực biển thuộc quyền quản lý quốc gia theo chế độ đặc quyền kinh tế Trên thế giới có 151 nước ven biển với gần
400 đường biên giới biển cần phân định mà hiện mới chỉ giải quyết được 1/3 [36, 43] Trong những năm tới, vấn đề phân định và xác định các vùng biển sẽ
là vấn đề quan trọng của thế giới Các ngành về biển đã trở thành các lĩnh vực kinh tế mới Tranh chấp về vùng biển, về quyền quản lý các vùng biển, các lợi ích trên biển ngày càng gay gắt Xây dựng chiến lược biển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển được coi như một biện pháp cần thiết của các quốc gia ven biển nhằm giành ưu thế trong cuộc đấu tranh quyết liệt này
Trong quá trình thực thi UNCLOS, công ước không đưa ra biện pháp
để nội luật hoá các quy định của nó vào luật quốc gia Do đó, sẽ có nước áp dụng trực tiếp UNCLOS, trong khi một số khác thông qua luật để nội luật hoá Tuy nhiên, hiện nay, có thể thấy trên thế giới có hai xu hướng xây dựng
hệ thống luật biển quốc gia Xu hướng đầu tiên là xu hướng xây dựng luật các vùng biển, bao gồm xác định chiều rộng và chế độ pháp lý các vùng biển, tổ chức quản lý các vùng biển và các hoạt động trên biển theo hướng tổng hợp Điển hình của xu hướng này là các quốc gia như Canada với Luật biển Canada 1996, Mỹ với Luật biển 2000, Phương pháp này cho phép đưa ra một văn bản luật mang tính tổng thể, bao trùm các hoạt động trên biển Nó bảo đảm tính hài hoà, áp dụng mô hình quản lý biển tổng hợp, tạo điều kiện cho công tác tổ chức bộ máy quản lý biển, tốn ít thời gian trong triển khai và phát
Trang 28triển các văn bản dưới luật Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi phải có một trình độ xây dựng pháp luật cao, nhận thức về biển trong công chúng và các
cơ quan công quyền tốt
Ngược lại với xu hướng trên, phương pháp thứ hai được nhiều quốc gia lựa chọn hơn Theo phương pháp này thì các nước tuần tự thông qua một loạt văn bản pháp quy, mỗi văn bản giải quyết cụ thể một vấn đề của luật biển Phương pháp này đòi hỏi thời gian, không cho phép áp dụng quản lý tổng hợp biển ngay từ đầu, đòi hỏi đầu tư nhiều nhân lực và tiền của cho quản lý biển, phối hợp các hoạt động trên biển Song, phương pháp này phù hợp với tiến trình đi từ trình độ quản lý thấp lên cao, dễ vượt qua các thủ tục xây dựng luật cồng kềnh của các nước đang phát triển Một số quốc gia có hệ thống pháp luật biển này như Liên bang Nga (với Luật thềm lục địa 1995, Luật về các vùng biển nội thuỷ, lãnh hải và vùng tiếp giáp Nga 1998, Luật về vùng đặc quyền kinh tế 1998…); Trung Quốc và một số quốc gia châu Á khác
1.3.2 Hệ thống pháp luật biển một số nước điển hình
1.3.2.1 Pháp luật biển Canada
Canada là một quốc gia lớn về biển với ba mặt giáp biển, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất thế giới với tổng diện tích vùng biển khoảng 3 triệu km2
và khoảng 24% tổng dân số sinh sống dọc bờ biển [3] Bên cạnh đó, Canada còn có hệ thống pháp luật khá tiêu biểu về quản lý biển
Đây cũng là một trong những quốc gia đầu tiên ban hành đạo luật tổng quát về biển – Luật biển Canada trên cơ sở Công ước luật biển 1982 Luật biển Canada được Nghị viện Canada thông qua ngày 18/12/1996 và bắt đầu
có hiệu lực từ ngày 31/01/1997 Luật biển có hiệu lực, đi vào cuộc sống thì
“Canada đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới có hệ thống pháp luật
toàn diện về quản lý biển”
Trang 29Về cơ bản, Luật biển Canada là đạo luật toàn diện, đã quy định khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho việc quản lý biển hiện đại Cụ thể, Luật biển Canada được cơ cấu thành 3 phần: Phần I: Các vùng biển của Canada; Phần II: Chiến lược quản lý biển; Phần III: Quyền hạn, nghĩa vụ và chức năng của các bộ trưởng liên quan
Nhìn chung, Luật biển Canada là đạo luật tương đối toàn diện, tạo khung pháp lý chung cho hoạt động quản lý sử dụng biển ở Canada Điểm quan trọng thứ nhất mà đạo luật mang lại là đã xác định một cách cơ bản các vùng biển của Canada theo những nguyên tắc của Công ước luật biển 1982, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý biển và giải quyết các vấn đề về lãnh thổ, biên giới giữa Canada với các quốc gia láng giềng Thứ hai, luật biển Canada
đã làm hình thành nên cơ chế quản lý biển của Canada Cơ chế này là cơ chế quản lý tổng hợp dựa trên sự hợp tác, hỗ trợ của các ngành, các chủ thể liên quan kể cả cộng đồng người dân ven biển và người bản địa Cuối cùng, Luật biển Canada cũng đã đưa ra được cơ sở pháp lý, định hướng cho việc xây dựng chiến lược biển toàn diện ở tầm quốc gia Chiến lược này được xem là chính sách biển quốc gia của Canada dựa trên những nguyên tắc đã định trong Luật biển Việc xây dựng đạo luật về biển để tiến tới hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật biển của Canada là một trong những xu hướng quản lý biển hiện nay trên thế giới Bên cạnh đó, trên thế giới còn có một số xu hướng khác trong quản lý đại dương
Hệ thống pháp luật biển của Canada tương đối hoàn chỉnh Bên cạnh luật biển, còn một loạt những luật liên quan như Luật thuỷ sản 1985, Luật phòng chống ô nhiễm nguồn nước Bắc Cực 1985, Luật bảo vệ môi trường 1999… Ngoài ra, Chiến lược biển Canada được xây dựng và ban hành năm
2002 quy định về việc áp dụng phương pháp quản lý tổng hợp đối với các vùng biển, nhấn mạnh sự hợp tác, hỗ trợ về chính sách và chương trình quản
Trang 30lý giữa các cơ quan và các chủ thể liên quan đã góp phần hoàn thiện một trong những hệ thống pháp luật biển tiêu biểu của một quốc gia mà biển đóng vai trò quan trọng trong đời sống và kinh tế Canada
1.3.2.2 Pháp luật biển Trung Quốc
Thống kê chính thức cho thấy Trung Quốc có diện tích 9,6 triệu km2, quốc gia lớn thứ ba trên thế giới Trung Quốc có một bờ biển lục địa của hơn 18.000km Hiện có hơn 5.000 hòn đảo trong vùng lãnh hải của Trung Quốc, mỗi với diện tích hơn 500 mét vuông, và bờ biển của các hòn đảo tổng số hơn 14.000km [46] Trung Quốc cũng thực hiện chủ quyền và quyền tài phán trên các thềm lục địa rộng lớn và vùng đặc quyền kinh tế Chương trình nghị sự 21
về biển của Trung Quốc được xây dựng vào năm 1996 đưa ra một chiến lược phát triển bền vững cho các chương trình biển của Trung Quốc Ý tưởng cơ bản của chiến lược này là bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hàng hải của nhà nước, phát triển hợp lý và sử dụng nguồn tài nguyên biển, cung cấp cho bảo
vệ tích cực cho môi trường sinh thái biển và nhận ra việc sử dụng bền vững tài nguyên biển và môi trường biển cũng như sự phát triển phối hợp các công việc trong lĩnh vực này Bảo vệ trật tự hàng hải quốc tế mới và các quyền và lợi ích hàng hải của nhà nước.Vào tháng 2/1992, Uỷ ban thường vụ Quốc hội Nhân dân (NPC) của Trung Quốc đã thông qua Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp Luật này cung cấp một cơ sở pháp lý cho Trung Quốc thực hiện chủ quyền đối với lãnh hải của mình và quyền tài phán trên vùng tiếp giáp và bảo
vệ sự an toàn của nhà nước, quyền và lợi ích hàng hải
Để duy trì hệ thống pháp luật quốc tế mới hàng hải và quyền và lợi ích hàng hải của nhà nước, Uỷ ban thường vụ NPC đã thông qua Công ước luật Biển 1982 tháng 5/1996, và tuyên bố: “Phù hợp với các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển, Cộng hòa nhân dân Trung Quốc được hưởng chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng EEZ và thềm lục địa lên
Trang 31đến 200 hải lý ngoài khơi bờ biển của nó Cùng với các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc các nước láng giềng, Trung Quốc, thông qua tham vấn và trên
cơ sở của luật pháp quốc tế và nguyên tắc công bằng, sửa chữa các đường phân chia thẩm quyền hàng hải của mỗi nước Trung Quốc có chủ quyền đối với tất cả các quần đảo và đảo liệt kê trong Luật của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên vùng biển lãnh thổ của nó và khu lân cận Về tranh chấp về vấn đề biển giữa Trung Quốc và các nước láng giềng, chính phủ Trung Quốc thì theo quan điểm của các lợi ích sống còn mang về hòa bình và phát triển, đứng giải quyết thông qua tham khảo ý kiến thân thiện liên quan đến những vấn đề không thể được giải quyết trong thời gian tới”
Trung Quốc tăng cường sự phát triển toàn diện và quản lý vùng ven biển của nó, phát triển hợp lý và bảo vệ các vùng biển xa bờ, tham gia tích cực trong việc phát triển và sử dụng các đáy biển và đại dương quốc tế, và khai thác các khu vực đất và biển ven bờ trong một cách thống nhất để từng bước hình thành vành đai kinh tế ven biển và các khu kinh tế biển, do đó làm cho các vùng ven biển thịnh vượng và phát triển Trung Quốc có chính sách đặt trọng âm như nhau về phát triển và bảo vệ, để đảm bảo sử dụng bền vững tài nguyên biển Nó sẽ phát triển toàn diện và sử dụng nguồn tài nguyên biển của mình, tiếp tục khám phá các đại dương cho các nguồn tài nguyên mới, sử dụng công nghệ mới, và hình thức và phát triển các ngành công nghiệp hàng hải mới để thúc đẩy việc duy trì, phát triển nhanh và lành mạnh của kinh tế biển Đồng thời lập kế hoạch và thực hiện phát triển các nguồn tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển Trung Quốc sẽ làm việc ra một chương trình phát triển phối hợp các nguồn tài nguyên biển và bảo vệ môi trường sinh thái biển và phù hợp với các nguyên tắc của "đặt phòng đầu tiên, kết hợp với kiểm soát phòng ngừa" và "làm cho người gây ra ô nhiễm chịu trách nhiệm về điều trị nó ", tăng cường giám sát, giám sát, thực thi pháp luật và quản lý môi
Trang 32trường biển Căng thẳng sẽ được đặt vào việc tăng cường sự kiểm soát của các chất ô nhiễm đất có nguồn gốc và thực hiện hệ thống kiểm soát tổng lượng chất gây ô nhiễm, để ngăn chặn sự thoái hóa môi trường biển Trung Quốc sẽ chú ý đến nghiên cứu cơ bản và sắp xếp tất cả các lực lượng cần thiết
để giải quyết các vấn đề hải dương học trọng điểm, phát triển biển cao techs,
và không ngừng nâng cao trình độ công nghệ phát triển và dịch vụ hàng hải Nó sẽ tăng tốc độ chương trình khuyến mãi và sử dụng các công nghệ tiên tiến và áp dụng, và luôn thu hẹp sự khác biệt giữa các vùng về trình độ công nghệ phát triển hàng hải Hơn nữa, kỷ luật hải dương học sẽ được nhấn mạnh hơn nữa trong tổ chức học tập cao hơn, bao gồm cả giáo dục nghề nghiệp, và các nhân viên hải dương học các cấp được đào tạo Đồng thời, kiến thức hải dương học sẽ được lan truyền trong công chúng
Nhìn chung, bắt đầu từ những năm của thập kỷ 90, hệ thống pháp luật biển Trung Quốc có sự phát triển một cách tổng thể Hiện nay, hệ thống pháp luật biển của Trung Quốc rất phức tạp bao gồm nhiều quy định được ghi nhận
ở nhiều văn bản có hiệu lực khác nhau, có thể kể ra như:
- Tuyên bố gia nhập Công ước luật biển 1982;
- Tuyên bố lãnh hải 04/9/1958;
- Tuyên bố đường cơ sở 1996 Sau đó, Trung Quốc cũng đơn phương công bố đường cơ sở quần đảo Hoàng Sa ngày 15/6/1996 vi phạm chủ quyền Việt Nam
- Luật Lãnh hải và vùng biển tiếp giáp ngày 2/2/1992;
- Luật về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ngày 26/6/1998;
- Luật Quản lý và sử dụng các vùng biển của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ngày 2/10/2001;
- Luật nghề cá năm 2001;
- Quy hoạch chức năng các vùng biển toàn quốc tháng 12/2002;
Trang 33- Quy định về việc quản lý bảo vệ và sử dụng các đảo không có người ở tháng 7/2003;
- Quy định về quản lý sản xuất nghề cá “Nam Sa” năm 2004;
- Quy chế cho phép sử dụng các đảo không người ở năm 2008
- Luật Bảo vệ hải đảo nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 26/12/2009
1.3.2.3 Pháp luật biển Philippin
Philippines là một quần đảo nằm giữa 116° 40', và 126° 34' kinh Đông, 4° 40' và 21° 10' vĩ Bắc gồm 7.107 đảovà tổng diện tích, bao gồm cả vùng nước bên trong, là xấp xỉ 300.000km2
Philippines có 36.289km bờ biển, chiều dài bờ biển đứng thứ năm trên thế giới [47] Quốc gia này bị giới hạn bởi biển Philippines ở phía đông, biển Đông ở phía tây, và biển Celebes ở phía nam; đảo Borneo nằm ở phía tây nam và đảo Đài Loan nằm ở phía bắc Quần đảo Maluku và đảo Sulawesi nằm ở phía nam tây nam và đảo quốc Palau nằm ở phía đông
Philippin được hưởng quy chế của quốc gia quần đảo theo UNCLOS nên được xác định các vùng biển từ đường cơ sở quần đảo bằng những quy định khác với đường cơ sở của các quốc gia không phải là quốc gia quần đảo Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của mình, pháp luật biển Philippin trải qua nhiều giai đoạn phát triển
Đầu tiên phải kể đến là Hiệp định Paris – văn bản pháp lý quan trọng để xác định các vùng biển trong suốt quá trình là thuộc địa của Philippin cũng như
cả thời gian sau này Hiệp định Paris được kí năm 1898 giữa Tây Ban Nha và
Mỹ là một thoả thuận kết thúc chiến tranh Tây Ban Nha – Mỹ theo đó Tây Ban Nha giao nộp quyền kiểm soát Cuba, Puerto Rico, một phần Tây Ấn (thuộc vùng Caribe), Guam và Philippin cho Hoa Kỳ để lấy một khoản tiền trị giá hai mươi triệu đô la Hiệp định được ký kết ngày 10/12/1898 và có hiệu lực ngày
Trang 3411/4/1898 Điều 3 Hiệp ước này ghi nhận: “Tây Ban Nha nhượng lại cho Hoa
Kỳ quần đảo được biết đến với tên là quần đảo Philippin, và toàn bộ các đảo nằm bên trong đường sau ” Với Điều 3 này, một đường ranh giới đã được vạch ra bao gồm cả trên đất liền và biển, đảo Philippin Nếu xác định ranh giới Hiệp ước 1898, khi xác định các vùng biển thì diện tích của khu vực đặc quyền kinh tế của Philippin vào khoảng 395.400 hải lý vuông; vùng lãnh hải lịch sử của Philippin rộng 263.300 hải lý vuông Theo đó, nhiều quan điểm ở Philippin cho rằng sau khi chính phủ Philippin được thành lập độc lập với Mỹ, Chính phủ Philippin sẽ được thừa kế toàn bộ đối với các ranh giới, tài nguyên này trong khu vực biển liền kề xung quanh quần đảo
Ngày 07/11/1900, Hiệp định Washington tiếp tục được ký kết giữa Hoa
Kỳ và Tây Ban Nha để làm rõ thông tin chi tiết về việc nhượng lại Philippines Theo đó, với mục đích loại bỏ mọi hiểu lầm có thể phát sinh từ cách diễn giải Điều 3 của Hiệp định Paris 1898, Mỹ và Tây Ban Nha đã làm
rõ chi tiết về các vùng lãnh thổ mà Tây Ban Nha giao lại cho Hoa Kỳ Cụ thể, Hiệp định Washington nêu rõ: Tây Ban Nha giao lại cho Hoa Kỳ tất cả các danh nghĩa và tuyên bố chủ quyền, mà Tây Ban Nha có thể đã từng có vào lúc kết thúc kí kết Hiệp định Paris, đối với tất cả các đảo thuộc quần đảo Philippines
mà nằm ngoài những đường ranh giới được mô tả trong Điều 3 của Hiệp định Paris 1898 và cụ thể là đối với các đảo Cagayan Sulu và Sibutu cùng các đảo phụ thuộc; Tây Ban Nha đồng ý rằng tất cả các đảo trên phải được hàm nghĩa đầy đủ trong tuyên bố san nhượng lại Quần đảo Philipppin như thể chúng đã được bao hàm rõ ràng trong phạm vi của các đường ranh giới đã nhắc đến ở trên
Sau này, còn có Thỏa thuận Mỹ - Anh năm 1930 xác định rõ biên giới giữa Philippines và Bắc Borneo
Định nghĩa về lãnh thổ quốc gia của Philippin trong Hiệp ước 1898 đã được duy trì và tiến hành thông qua các văn bản pháp luật khác nhau ở trong
Trang 35nước như theo Hiến pháp 1935, 1973 và 1987 và Luật đường cơ sở 1961 được sửa đổi bằng đạo luật RA 5446 Hiến pháp 1935 của Philippin mô tả lãnh thổ quốc gia bao gồm tất cả các vùng lãnh thổ được nhượng lại cho Mỹ trong Hiệp ước Paris 1898 mà ranh giới của chúng được quy định cụ thể tại Điều 3 Hiệp ước này, cùng toàn bộ các hòn đảo được nêu trong Hiệp ước được ký kết tại Washington 1900, và trong hiệp ước được ký giữa Mỹ và Vương quốc Anh ngày 02/01/1930 cũng như tất cả vùng lãnh thổ mà Chính phủ Philippin
đã thực thi quyền tài phán tại thời điểm thông qua Hiến pháp 1935 Ngoài ra, toàn bộ các vùng nước trong giới hạn quy định trong các Hiệp ước nêu trên luôn được coi là một phần lãnh thổ của quần đảo Philippin
Trong khi đó, Hiến pháp 1987 cũng ghi nhận vùng nước bao quanh, ở giữa và nối liền các hòn đảo của quần đảo, bất kể bề rộng và kích thước, tạo thành một phần của vùng nội thuỷ của Philippin
Ngày 17/6/1961, Philippin ban hành Đạo luật Cộng hòa số 3064 xác định đường cơ sở lãnh hải của nước này Điều 1 của Đạo luật xác định 64 đường cơ sở lãnh hải của Philippin
Ngày 18/9/1968, Philippin ban hành Đạo luật Cộng hòa số 5446 quy định sửa đổi Điều 1 của Đạo luật 3046 nhưng về cơ bản vẫn không có những điều chỉnh lớn về tọa độ địa lý của 64 đường cơ sở đã có
Trang 36Như vậy, suốt một thời gian dài, Philippin đã duy trì đường cơ sở mở rộng kế thừa từ thời thuộc địa của Tây Ban Nha Thực chất, tuyến đường cơ
sở này không phù hợp với UNCLOS Bên cạnh những điều khác, UNCLOS quy định tỷ lệ giữa đất liền – biển, độ dài và chu vi của đường cơ sở quần đảo đối với các quốc gia quần đảo như Philippin Để phù hợp các quy định trên, Philippin đã xác định lại đường cơ sở của mình Cho đến tận tháng 3/2009 như một phần nỗ lực của họ nhằm đáp ứng hạn nộp hồ sơ cho Uỷ ban thềm lục địa UNCLOS Nói cách khác, để xác định thềm lục địa của mình, Philippin đầu tiên phải xác định các đường cơ sở để từ đó mới có thể vẽ ranh giới thềm lục địa Sự thay đổi này được thúc đẩy bởi việc cần thiết phải làm cho Đạo luật RA 3046 phù hợp với các điều khoản của UNCLOS mà Philippin phê chuẩn ngày 27/02/1984
Ngày 10/ 3/2009, chính phủ Philippin ban hành Đạo luật số 9522 – Đạo luật sửa đổi các điều khoản của Đạo luật 3046, như đã được sửa đổi bởi Đạo luật 5446, nhằm xác định đường cơ sở quần đảo của Philippin và nhằm các mục đích khác Ngày 11/3/2009, Tổng thống Philippin đã ký ban hành luật này Đạo luật ra đời như một nỗ lực của Philippin trong việc đảm bảo sự công nhận của quốc tế đối với đường cơ sở của nước này Tuy nhiên, “Philippin thông qua Luật đường cơ sở mà được hy vọng là cuối cùng sẽ có thể giải quyết tình thế khó xử lâu nay của nước này là có nên từ bỏ toàn bộ các đường hiệp ước năm 1898 và áp dụng các quy tắc hiện đại về Luật biển hay không Luật đã bị bác bỏ tại Toà án tối cao Philippin trong vụ kiện giữa Magallona và thư ký điều hành (G.R No 187167, ngày 16/8/2011) Toà đã quyết định – mặc dù chưa phải là phán quyết cuối cùng và hiện còn đang được xem xét – rằng luật đường cơ sở chính là luật thực thi trong nước cho Công ước về Luật biển nhưng nó không hoàn toàn vứt bỏ đường hiệp ước”
Luật đường cơ sở 2009 đơn thuần nối tiếp các điểm cơ sở được Luật
Trang 37năm 1961 vạch ra và giữ lại ít nhất 9 điểm cơ sở và chỉ sửa đổi chiều dài của một đường cơ sở và do đó thực hiện theo quy định giới hạn của UNCLOS về
độ dài tối đa của các đường cơ sở Đường cơ sở này theo Philippin là phù hợp với điều kiện được quy định tại Điều 47 UNCLOS là việc vẽ đường cơ sở không được chênh đáng kể so với hình dạng chung của quần đảo; chiều dài của đường cơ sở không vượt quá 100 hải lý và chỉ được thêm tối đa là 3% của tổng
số các đường cơ sở mà có thể lên tới 125 hải lý Như vậy, các đường cơ sở của Philippin được xác định theo Luật đường cơ sở 2009 là phù hợp với UNCLOS
Ngoài ra, Philippin xếp các vùng lãnh thổ tiếp giáp cụ thể là nhóm đảo Kalayyan và bãi cạn Scarborough như là các quy chế đảo mà các hòn đảo của chúng có thể tạo ra các vùng biển riêng xác định [24] Đạo luật đặt Kalayaan dưới “Chế độ quần đảo” theo Điều 121 của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) như một bước đi nhằm nâng cấp vai trò hành chính của Kalayaan để Philippin có cơ sở khẳng định chủ quyền không chỉ trong khu vực Kalayaan mà còn các khu vực khác ở quần đảo Trường Sa
Như vậy, Luật đường cơ sở 2009 đã sử dụng một công thức hỗn hợp
để xác định lại các đường cơ sở Dựa trên Điều 121 UNCLOS về quy chế đảo
và Điều 14 UNCLOS về xác định đường cơ sở, Luật này đã thông qua đường
cơ sở quần đảo cho các đảo chính của Philippin và quy chế đảo cho nhóm đảo Kalayyan ở khu vực quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough Nói cách khác, Luật này đã khước từ “thoả thuận trọn gói” để bao gồm toàn bộ các đảo, bao gồm cả KIG và bãi cạn Scarborough nằm trong đường cơ sở quần đảo [33, 7]
Tuy nhiên, Luật đường cơ sở 2009 này đã gây phản ứng từ phía nhiều quốc gia trong khu vực, vì nó tuyên bố chủ quyền của Philippin đối với các hòn đảo đang là đối tượng tranh chấp phức tạp ở biển Đông Ngày 12/03/09, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Dũng đã ra tuyên bố nhắc lại chủ quyền của
Trang 38Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Theo phát ngôn viên
Bộ Ngoại giao Việt Nam, việc tổng thống Arroyo ký ban hành lệnh nói trên
đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam và ''chỉ làm phức tạp thêm tình hình'' Cùng ngày 12/03/09, trợ lý Ngoại trưởng Trung Quốc, Hồ Chính Dượt đã khẩn cấp triệu đại sứ Phililippines tại Bắc Kinh lên để đưa ra lời phản đối mạnh mẽ, yêu cầu Manila đình chỉ mọi hành vi ''phương hại đến chủ quyền'' của Bắc Kinh trên vùng biển mà họ gọi là biển Nam Trung Hoa Đại
sứ Trung Quốc tại Manila cũng đưa ra phản ứng tương tự với Ngoại trưởng Philippines, Alberto Romulo Sau đó, đến lượt Đài Loan cũng triệu đại sứ Philipines lên Bộ ngoại giao để phản đối luật về lãnh hải mới của Philippines, cũng bị coi là vi phạm chủ quyền của Đài Loan đối với quần đảo Trường Sa
Ngày 8/4/2009, Philippin trình báo cáo một phần cho CLCS về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong khu vực rãnh Benham Khu vực này được giới hạn về phía Bắc
và Đông bởi bồn Tây Philippin và về phía Tây và Nam bởi quần đảo Luzon Philippin cho rằng báo cáo với các số liệu của khu vực rãnh Benham chạy dọc theo bờ Thái Bình Dương và hoàn toàn không ảnh hưởng đến phân định biển với các nước có bờ biển đối diện hay tiếp giáp Ranh giới ngoài của mảng thềm lục địa thuộc khu vực rãnh Benham được xác định hoàn toàn theo Điều
76, khoản 8 (a) (i) Ngoài ra, Philippin cũng bảo lưu quyền của mình được trình các báo cáo RGNTLĐ ngoài 200 hải lý cho các khu vực khác trong tương lai phù hợp Phụ lục I của Quy chế và thủ tục của CLCS Khu vực phía Tây trong biển Đông có thể được coi là một trong những khu vực như vậy Tuy nhiên, trong Công hàm đưa ra ngày 04/8/2009 về phản đối đối với hồ sơ xác định ranh giới ngoài thềm lục địa của Việt Nam đệ trình lên CLCS ngày 07/5/2009, Philippin đã đưa ra rằng vùng thềm lục địa mà Việt Nam và Malaysia yêu cầu trong khu vực biển Đông đã có chồng lấn lên các vùng thềm lục địa thuộc Philippin
Trang 39Chương 2
SO SÁNH PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM VỚI LUẬT BIỂN QUỐC TẾ
VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI
2.1 MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT BIỂN VIỆT NAM VỚI
LUẬT BIỂN QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT BIỂN NƯỚC NGOÀI
2.1.1 Mối quan hệ giữa pháp luật biển Việt Nam với luật biển quốc tế
Khi quốc gia là thành viên của điều ước quốc tế nào thì điều ước quốc
tế đó có hiệu lực ràng buộc đối với quốc gia đó Thực tiễn cho thấy sự giao thoa, đan chéo nhau giữa luật biển quốc gia và luật biển quốc tế là không thể thiếu được trong suốt quá trình phát triển Luật biển quốc tế và luật biển quốc gia có mối quan hệ biện chứng với nhau, thúc đẩy nhau phát triển và hoàn thiện Luật quốc tế được hình thành, phát triển từ thực tiễn quốc tế, luật pháp quốc gia rồi sau đó lại được đảm bảo thực thi qua hệ thống luật và các hoạt động thực tiễn của quốc gia Theo nguyên tắc chung, các quốc gia thành viên khi ký kết và phê chuẩn Công ước đã mặc nhiên thừa nhận một nghĩa vụ là thực thi Công ước tại quốc gia mình Trong quan hệ quốc tế nói chung thì việc tôn trọng và thực hiện nguyên tắc pacta sunt servanda về tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế đã trở thành một điều hiển nhiên Mặt khác, nghĩa vụ thực thi Công ước 1982 là một trong những điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của Công ước Những ý tưởng tốt đẹp về một môi trường biển công bằng
và một trật tự biển hợp lý cho tất cả các quốc gia chỉ thực sự trở thành hiện thực nếu các quốc gia nghiêm túc và tích cực thực thi công ước tại quốc gia mình một cách thiện chí Ở một khía cạnh khác, việc thực hiện Công ước tại các quốc gia còn là quyền lợi của các quốc gia thành viên Nói một cách khác, các quy định của pháp luật trong một quốc gia Nhà nước phụ thuộc vào sự phát triển của quốc tế, pháp luật trong cộng đồng thế giới và tham gia vào quá
Trang 40trình làm luật ở cấp toàn cầu Ngược lại, khi một quốc gia đã ký kết và phê chuẩn điều ước quốc tế, nó bị ràng buộc bởi hiệp ước và phải thực hiện nó ở cấp độ trong nước
Khi tham gia vào một điều ước quốc tế, nghĩa vụ đương nhiên của các thành viên là thực thi điều ước quốc tế đó Việc tham gia và thực thi các điều ước quốc tế dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế và sự tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế trên cơ sở có đi có lại Công ước luật biển 1982 đã tạo ra cơ sở pháp lý cho các quốc gia có biển xác định và thực hiện quyền của mình ở các vùng biển Hiện nay, theo Công ước Luật biển 1982, một quốc gia ven biển có thể mở rộng chủ quyền, quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán của mình ra phía biển đến một phạm vi 200 hải lý hoặc thậm chí xa hơn đối với vùng thềm lục địa Đây thực sự là một lợi thế của các quốc gia ven biển trong việc khai thác, sử dụng, và quản lý biển phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia mình Vấn đề còn lại ở đây là các quốc gia ven biển phải xây dụng và hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia để thực hiện luật biển tại quốc gia mình Hơn nữa, đây cũng là sự hợp pháp hoá và công khai hoá các chủ quyền, quyền chủ quyền, và quyền tài phán của quốc gia đối với các vùng biển của mình
Ngày nay việc các quốc gia mở rộng phạm vi các vùng biển và quy định chế độ pháp lý các vùng biển đều có thể đụng chạm đến quyền lợi của các quốc gia khác Do vậy, việc xây dựng và thực hiện tốt các quy phạm của luật biển quốc tế cụ thể là Công ước 1982 là điều kiện đảm bảo có hiệu quả các quy phạm tương ứng của luật pháp quốc gia và ngược lại Nói một cách khác, luật của các quốc gia ven biển nói chung, của Việt Nam nói riêng chỉ có thể thực thi được khi nó được xây dựng phù hợp với các quy phạm pháp lý quốc tế được thừa nhận Khi quốc gia ven biển cố tình áp đặt các quy phạm pháp lý quốc gia trái với các quy phạm pháp lý và thực tiễn quốc tế chung sẽ