Các điều ước đa phương do Liên hiệp quốc, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình: - Hiệp ƣớc về các quy tắc điều chỉnh hoạt độn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ MINH ÁNH
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI VÀ Ý NGHĨA
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐỖ MINH ÁNH
CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ ĐIỀU CHỈNH VẤN ĐỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI VÀ Ý NGHĨA
LÝ LUẬN, THỰC TIỄN ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÁ DIẾN
Hà nội – 2010
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 3
MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG, KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 6
1.1 Khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ: 6
1.1.1 Khái niệm khoảng không vũ trụ: 6
1.1.2 Khái niệm khai thác khoảng không vũ trụ: 7
1.1.3 Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ trên toàn cầu hiện nay: 9
1.2 Cơ sở pháp lý quốc tế về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình: 14
1.2.1 Hệ thống các điều ước quốc tế về vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình: 14
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hòa bình: 19
1.2.3 Pháp luật quốc gia trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ: 25
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ VẤN ĐỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI 39
2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 39
2.1.1 Các văn bản pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 39
2.1.2 Nội dung các nguyên tắc cơ bản của hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 41
2.2 Thực tiễn hoạt động và vấn đề thực thi các quy định pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 44
2.2.1 Các hình thức thương mại hoá việc sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ trên thế giới hiện nay: 44
2.2.2 Sự phát triển của một số dạng thức khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 46
Trang 42.2.3 Những vấn đề đặt ra – thách thức trong quá trình thực thi các quy phạm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 642.2.4 Vấn đề hoàn thiện pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 87CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG KINH NGHIỆM PHÁP LÝ VỀ KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ NHẰM MỤC ĐÍCH THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI VIỆT NAM 963.1 Xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ: 963.1.1 Sự cần thiết của việc xây dựng pháp luật về khoảng không vũ trụ của Việt Nam và áp dụng pháp luật quốc tế về sử dụng khoảng không vũ trụ vào Việt Nam: 963.1.2 Những kinh nghiệm pháp lý quốc tế và nước ngoài trong việc xây dựng mô hình khung và nội dung pháp luật về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 983.1.3 Vận dụng lý luận pháp lý quốc tế và nước ngoài vào việc xây dựng mô hình khung và nội dung pháp luật của Việt Nam về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 1033.2 Hoạt động thực tiễn và các kinh nghiệm pháp lý quốc tế trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại của Việt Nam: 1213.2.1 Một số hoạt động thực tiễn nổi bật mà Việt Nam đã và đang tham gia trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 1213.2.2 Một số giải pháp và đề xuất rút ra đối với Việt Nam trong quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại: 131KẾT LUẬN 137DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 - Sơ đồ vệ tinh viễn thông
Hình 2.2 - Sơ đồ hoạt động của vệ tinh GPS
Hình 2.3 - Cấu tạo hệ thống vệ tinh GPS
Hình 2.4 - Mô hình khách sạn trong vũ trụ của Orbital Technologies
Hình 2.5 - Hình ảnh minh hoạ rác vũ trụ
Hình 2.6 - Quỹ đạo địa tĩnh trong khoảng không vũ trụ
Hình 3.1 - Trình tự đăng ký hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ (theo đề xuất)
Trang 6MỞ ĐẦU
Khoảng không vũ trụ đã và đang chiếm một vị thế ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thế giới Các tổ chức thương mại luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến khoảng không vũ trụ bởi lẽ, nhiều ngành kinh tế hiện đại sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu vai trò của các vệ tinh nhân tạo bay quanh Trái Đất làm nhiệm vụ truyền thông Trên quy mô thế giới, có khoảng 1.100 hãng và công ty có các hoạt động liên quan đến khai thác khoảng không vũ trụ Trước tình hình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại ngày càng gia tăng, hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ nói chung và khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại nói riêng là công cụ cần thiết và hữu hiệu để đưa các hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ vào “quỹ đạo” pháp lý quốc tế Mặt khác, để quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại đem lại hiệu quả kinh tế và hợp pháp thì cần nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ và vấn đề thực thi các quy phạm pháp luật quốc tế này Những hiểu biết càng sâu sắc bao nhiêu về các quy phạm pháp luật quốc tế trong lĩnh vực khai thác khoảng không
vũ trụ thì càng giúp ích cho quá trình áp dụng vào hoạt động thực tiễn, xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia Việt Nam trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ
Đó chính là động lực để tác giả chọn đề tài nghiên cứu cho Luận văn cao học: ―Các
quy định pháp luật quốc tế điều chỉnh vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại và ý nghĩa lý luận, thực tiễn đối với Việt Nam‖
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài trước hết là hệ thống lại những kiến thức về các quy định pháp luật quốc tế về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình trên thế giới Đồng thời, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của các quy phạm pháp luật quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại Bằng những lập luận, phân tích khoa học, tác giả sẽ đề xuất những quan điểm, phương hướng và kiến nghị cụ thể để xây dựng pháp luật về khai thác vũ trụ của Việt Nam nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất, bảo vệ chủ quyền
Trang 7quốc gia và quyền khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại của
Việt Nam
Hiện nay trên thế giới, đã có một số lượng không nhỏ các công trình khoa học, nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau liên quan đến vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình Tại Việt Nam, pháp luật vũ trụ quốc tế được đề cập đến trong các Giáo trình luật quốc tế của Đại học Luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và một số sách báo, tạp chí, bài viết Pháp luật vũ trụ cũng là đề tài nghiên cứu đồ sộ đang được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức khoa học có uy tín, trong đó có Trung tâm Luật biển và Hàng hải quốc
tế - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Cũng theo tác giả được biết, một số đề tài luận văn thạc sĩ về pháp luật vũ trụ đang được tiến hành Có thể nhận định rằng pháp luật vũ trụ đang ngày càng dành được sự quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên, ngoài việc tìm hiểu tổng quan về hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế trong lĩnh vực sử dụng khoảng không vũ trụ, tác giả còn đặt mục tiêu tìm hiểu sâu
về xu hướng thương mại hóa các hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ Bởi lẽ,
giá trị thương mại, kinh tế là một trong những lợi ích quan trọng của việc khai thác khoảng không vũ trụ, bên cạnh lợi thế về quân sự, chính trị mà khoảng không vũ trụ đem lại cho nhân loại Điểm mới mà tác giả kỳ vọng đạt được trong phạm vi đề tài
là ý nghĩa lý luận và thực tiễn rút ra từ việc nghiên cứu các quy phạm pháp luật
quốc tế về khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại có thể được vận dụng vào Việt Nam
Luận văn được cấu trúc theo ba chương:
- Chương 1: Khái quát về hệ thống quy phạm pháp luật quốc tế về sử dụng,
khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình
- Chương 2: Nội dung của pháp luật quốc tế về vấn đề khai thác khoảng không
vũ trụ nhằm mục đích thương mại
- Chương 3: Xây dựng, hoàn thiện pháp luật và những kinh nghiệm pháp lý về
khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại đối với Việt Nam
Trang 8CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỬ DỤNG, KHAI THÁC KHOẢNG KHÔNG VŨ TRỤ VÌ
MỤC ĐÍCH HÒA BÌNH 1.1 Khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ:
1.1.1 Khái niệm khoảng không vũ trụ:
Khoảng không vũ trụ (thường gọi tắt là vũ trụ) là khoảng không tồn tại bên ngoài bất kỳ thiên thể (hành tinh) nào bao gồm cả Trái Đất Nó không hoàn toàn trống rỗng (có nghĩa là toàn bộ chân không), nhưng chứa một mật độ thấp các hạt, chủ yếu là hydro plasma, cũng như các bức xạ điện từ, từ trường và nơtrino Về mặt
lý thuyết, nó cũng chứa vật chất tối và năng lượng tối
Theo ý nghĩa khoa học, khoảng không vũ trụ là vùng tương đối chân không của khoảng không vũ trụ tầng khí quyển của các thiên thể (hành tinh) [82]
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: ―Vũ trụ là toàn bộ hệ thống
không-thời gian trong nó chúng ta đang sống, chứa toàn bộ năng lượng hay vật chất.‖
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam của Viện khoa học xã hội Việt
Nam: ―Vũ trụ là toàn bộ thế giới vật chất xung quanh ta, trong đó vật chất tồn tại và
biến hoá dưới mọi dạng khác nhau Phần quan trọng nhất của Vũ trụ tập trung ở các thiên thể.‖
Trong thiên văn học, Vũ trụ còn có nghĩa là phần thế giới vật chất có thể nghiên cứu được bằng các phương tiện thiên văn
Triết học duy vật biện chứng khẳng định Vũ trụ tồn tại khách quan, không phải do một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra, và điều này đã được chứng minh bằng các sự kiện khoa học Khi việc nghiên cứu Vũ trụ càng phát triển, càng tìm ra nhiều phát minh mới lạ Ví dụ: hiện tượng giãn nở Vũ trụ dẫn đến giả thuyết về vụ nổ lớn
Trang 9tuy nhiên còn nhiều điều chưa rõ Bởi vậy việc thám hiểm Vũ trụ bằng các trạm Vũ trụ hoặc tàu Vũ trụ là hướng nghiên cứu quan trọng của thời đại ngày nay.[29]
Theo Giáo trình Luật quốc tế của Trường đại học Luật Hà Nội:
Khoảng không vũ trụ là khoảng không nằm ngoài khoảng không khí quyển (môi trường hoạt động của phương tiện bay hàng không) và các hành tinh Khoảng không vũ trụ được xác định là phạm vi hoạt động đặc thù (độc đáo) của nhân loại mà tính chất hoạt động này rất đặc biệt [26, tr 226]
Giới hạn của khoảng không vũ trụ sẽ được xác định theo đường biên giới trong và đường biên giới ngoài Trong đó, đường biên giới ngoài của khoảng không
vũ trụ hoàn toàn được xác định theo khả năng khoa học - kỹ thuật của nhân loại, và trình độ khoa học của loài người vươn xa được tới đâu trong việc khám phá và chinh phục vũ trụ vươn xa tới đâu trong việc khám phá và chinh phục vũ trụ thì biên giới phía ngoài của khoảng không vũ trụ sẽ vươn xa đến đó Có nhiều quan điểm về đường biên giới phía trong của vũ trụ Có quan điểm cho rằng đường biên giới phía trong của vũ trụ nằm ỏ độ cao các điểm bay thấp nhất của quỹ đạo bay nhân tạo của trái đất Độ cao này là 100 km + 10 km Có quan điểm cho rằng đường biên giới trong của vũ trụ, theo “quy tắc cận điểm”, hoặc giới hạn tối đa của chủ quyền không gian, là tối thiểu 90 km trên mặt biển (gần bằng điểm thấp nhất của quỹ đạo của vệ tinh nhân tạo khi bay quanh trái đất vào năm 1957) [81, pg 15]
1.1.2 Khái niệm khai thác khoảng không vũ trụ:
Từ “khai thác” (“exploitation”) trong cụm từ “khai thác tài nguyên thiên nhiên của Mặt trăng và các thiên thể khác” (“exploitation of the natural resources of the Moon and other celestial bodies”) được ghi nhận chính thống trong Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 18/12/1979) và nhiều điều ước quốc tế có liên quan
Để tìm hiểu khái niệm của “khai thác khoảng không vũ trụ” cần đi từ khái
Trang 10Theo từ điển Oxford thì “exploit” được định nghĩa là “make full use of and derive benefit from (a resource)” – toàn quyền sử dụng và nhận được lợi ích từ (một nguồn tài nguyên)
Theo Từ điển tiếng Anh của Webster thì “exploit” có nghĩa là “to utilize; to make available; to get the value or usefulness out of…” - sử dụng, làm cho sẵn có
để dùng; lấy giá trị hoặc công dụng từ…”
Theo Từ điển bách khoa toàn thư mở wikipedia thì “exploit” được giải thích
là “the act of using something for any purpose” - hành vi sử dụng thứ gì đó cho bất
kỳ mục đích nào, đồng nghĩa với “sử dụng” [82]
Theo từ điển tiếng Anh của Webster được đăng trên một số website thì từ
“use” trong tiếng Anh được định nghĩa là “the act of employing anything, or of applying it to one's service; the state of being so employed or applied; application; employment; conversion to some purpose (law) the exercise of the legal right to enjoy the benefits of owning property” Hành vi sử dụng chính là cách ứng xử của con người đối với những phương tiện, những công cụ, những cơ sở vật chất nhằm đạt được mục đích của chủ thể - con người Cụm từ “sử dụng khoảng không vũ trụ” (“use of outer space”) cũng đã được ghi nhận một cách chính thống tại Hiệp ước về các nguyên tắc hoạt động của các quốc gia trong nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả mặt trăng và các hành tinh khác do Liên hiệp quốc thông qua ngày 27/01/1967 và nhiều điều ước quốc tế có liên quan
Trang 11Như vậy, khi nói đến ―khai thác khoảng không vũ trụ‖ là nhằm diễn đạt sự
sử dụng nhưng với gắn với việc có được những lợi ích của khoảng không vũ trụ, hay chính xác hơn là nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khoảng không vũ trụ, trên các hành tinh trong vũ trụ Tài nguyên thiên nhiên trong khoảng không vũ trụ có thể
kể đến như: năng lượng mặt trời trực tiếp, gió, không khí… và tài nguyên trên các hành tinh trong vũ trụ là các tài nguyên gồm 3 dạng chính:
- Phục hồi: thủy triều, dòng chảy
- Không phục hồi: nhiên liệu dưới đất, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi
kim
- Có thể phục hồi: tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học
Mặc dù trong các văn bản pháp luật quốc tế lại không quy định những hành
vi được coi là “khai thác khoảng không vũ trụ” hoặc “sử dụng khoảng không vũ
trụ” Tuy nhiên về mặt pháp lý có thể hiểu khai thác khoảng không vũ trụ là việc
một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện các hành vi phù hợp với pháp luật nhằm một hoặc nhiều mục đích nhất định để hưởng lợi ích và công dụng của khoảng không vũ trụ
Trong số nhiều mục đích mà con người hướng đến trong quá trình khai thác,
sử dụng khoảng không vũ trụ thì có mục đích thương mại có nghĩa là nhằm hưởng những lợi ích vật chất mang giá trị kinh tế cho con người
1.1.3 Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ và khai thác khoảng không vũ trụ trên toàn cầu hiện nay:
1.1.3.1 Tầm quan trọng của khoảng không vũ trụ:
Có thể khái quát các giá trị của khoảng không vũ trụ thể hiện ở các mặt:
Về mặt tự nhiên, loài người cần khoảng không vũ trụ để tồn tại, vạn vật trong
Trang 12tự nhiên đều tồn tại giữa khoảng không vũ trụ bao la và sự sống của con người khởi nguồn không thể tách rời khỏi khoảng không vũ trụ Khoảng không vũ trụ là nơi tồn tại của không khí, khí quyển và đem đến những vật chất thiết yếu cho không chỉ con người mà cả các động vật, thực vật và các thực thể sống khác trong khoảng không
vũ trụ Khoảng không vũ trụ cũng là nơi chứa tài nguyên không khí, năng lượng gió, tài nguyên tần số, quỹ đạo vệ tinh và chứa các hành tinh; trên mỗi hành tinh đó lại chứa tài nguyên riêng mà trái đất và mặt trời, mặt trăng chỉ là một trong những hành tinh mà chúng ta biết đến trong vô vàn hành tinh trong khoảng không vũ trụ
Về mặt xã hội, khoảng không vũ trụ có một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, quân sự của loài người Từ nửa cuối thế kỷ XX, trên thế giới bắt đầu một cuộc chạy đua về khoa học, thể diện quốc gia, ưu thế công nghệ, sức mạnh quân sự và kinh tế, khởi nguồn từ sự kiện lần đầu tiên Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo của Trái Đất (04/10/1957) và tiếp đến là Mỹ lần đầu tiên đưa người đổ bộ xuống Mặt Trăng (20/07/1969) Đến nay, bị cuốn hút vào cuộc chạy đua trong vũ trụ không chỉ có Nga và Mỹ, mà còn nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU Có ý kiến cho rằng khoảng không vũ trụ - "chiến trường thầm lặng" có thể trở thành "chiến trường nóng" trong thế kỷ XXI Điều không thể phủ nhận là vai trò của khoảng không vũ trụ đối với nền kinh tế thế giới ngày càng tăng Các tổ chức thương mại ngày càng quan tâm đến vũ trụ bởi lẽ, nhiều ngành kinh tế hiện đại sẽ không thể tồn tại và phát triển được nếu thiếu vai trò của các vệ tinh nhân tạo bay quanh Trái Đất làm nhiệm vụ truyền thông Hiện nay, trên quỹ đạo xung quanh Trái Đất có khoảng 550 vệ tinh, trong đó đa số thực hiện các chức năng dân sự Một nửa số vệ tinh này là của Mỹ, phần lớn là vệ tinh phục vụ mục đích dân dụng Nhiều tổ chức thương mại ngày càng bị cuốn hút vào vũ trụ Thí dụ, hãng truyền thông vệ tinh quốc tế "International Telecom Satellite Organization" đã phóng lên quỹ đạo 60 vệ tinh, nhiều hơn cả số
vệ tinh của cả nước Đức và nước Pháp cộng lại Chỉ tính riêng trong năm 2001, đầu
tư của các công ty tư nhân vào các chương trình vũ trụ đã lên tới con số khổng lồ, vào khoảng 100 tỉ USD, và có xu hướng không ngừng gia tăng từ đó tới nay Trên
Trang 13quy mô thế giới, có khoảng 1.100 hãng và công ty có các hoạt động liên quan đến khai thác khoảng không vũ trụ Tổng số các đơn đặt hàng của ngành công nghiệp vũ trụ Mỹ hàng năm tăng 20% Theo dự báo của Tạp chí "Air Force" (Mỹ ), trong 5 năm tới, thế giới sẽ đầu tư khoảng 500 tỉ đô la Mỹ cho các chương trình vũ trụ và sẽ
có 1000-1500 vệ tinh mới được phóng lên quỹ đạo Hãng nghiên cứu khoa học
"Forecast International" dự báo, khối lượng thị trường sản xuất các thiết bị quang học điện tử cho các khí tài vũ trụ trong 10 năm tới sẽ đạt tới con số 15,7 tỉ đô la Mỹ Nhiều khu vực khác đều hoạt động dưới quyền kiểm soát hoàn toàn của các hãng công nghiệp ở Mỹ như "Lockheed Martin", "Raytheon", "Rafael", "Northrop",
"Grumman" và "Boeing" [17]
Khoảng không vũ trụ có giá trị kinh tế, thương mại: đem lại cho chúng ta tài nguyên, vật chất để phục vụ sản xuất, kinh doanh nghiên cứu; ứng dụng khoa học công nghệ vũ trụ đem lại cho chúng ta những tiến bộ cho cuộc sống, làm giảm sự vất vả lao động cho con người và khiến cuộc sống của con người hiện đại, văn minh hơn Ví dụ: việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ vũ trụ để đưa vệ tinh lên khoảng không vũ trụ đã giúp cho con người có được những hình ảnh cho dịch vụ truyền hình, viễn thám trái đất đem lại những kết quả ảnh về thời tiết làm giảm rủi ro cho con người… Xu thế của thế giới đang có ngành sản xuất trong khoảng không vũ trụ,
sử dụng năng lượng gió và năng lượng mặt trời để chạy máy móc sản xuất, du lịch
Trang 14pháp luật quốc gia của những nước đầu tư nhiều cho khoảng không vũ trụ đã phản ánh đặc trưng này
Thương mại hóa khoảng không vũ trụ là việc một tổ chức kinh tế hoặc quốc gia sử dụng các thiết bị đã được phóng vào hoặc xuyên qua khoảng không vũ trụ để cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ có giá trị thương mại Ví dụ: hiện nay của việc sử
dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại bao gồm: hệ thống vệ tinh hàng hải, vệ tinh truyền hình và vệ tinh vô tuyến điện… Các lĩnh vực hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại là:
- Vệ tinh viễn thông:
- Vận tải khoảng không vũ trụ
- Du lịch khoảng không vũ trụ (không gian)
Nhờ có hoạt động ứng dụng, khai thác khoảng không vũ trụ thì các giá trị của vũ trụ mới đến được với con người, phục vụ cho lợi ích của con người Tuy nhiên, hoạt động khai thác khoảng không vũ trụ phải nhằm mục đích hòa bình thì mới đem đến vai trò tích cực; trái lại nếu hoạt động khai thác vũ trụ nhằm mục đích phi hòa bình thì sẽ đi ngược với trât tự, ổn định của hòa bình thế giới, đe dọa an ninh và đem đến ảnh hưởng tiêu cực cho cuộc sống con người trên thế giới
1.1.3.3 Tình hình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại:
Trong cuộc sống có rất nhiều sản phẩm và dịch vụ mà chúng ta sử dụng từ lâu bắt nguồn từ việc khai thác khoảng không vũ trụ như: dịch vụ truyền hình sử dụng vệ tinh, sản phẩm pin năng lượng mặt trời, những chiếc máy đun nước, sấy
Trang 15khô nông sản sử dụng năng lượng mặt trời, những chiếc cối xay gió sử dụng năng lượng gió… Gần đây xuất hiện ngày càng nhiều những ứng dụng của việc khai thác khoảng không vũ trụ với sự trợ giúp của công nghệ vũ trụ hiện đại đã được thương mại hóa như: những bức ảnh quan sát trái đất bằng vệ tinh, bản đồ vệ tinh có thể giúp chúng ta xem từng nóc nhà, những chuyến du lịch bằng tàu vũ trụ… Điều đó cho thấy khoảng không vũ trụ đã, đang và sẽ còn rất nhiều lợi ích mà loài người có thể khai thác
Hiện nay, quá trình khai thác khoảng không vũ trụ trên thế giới đang diễn ra một cách mạnh mẽ bởi các quốc gia có thế mạnh về công nghệ vũ trụ lẫn và các quốc gia đang phát triển Quá trình khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại được thực hiện trên cả hai phương diện: khai thác các nguồn lợi tự nhiên và khai thác lợi thế kinh tế, xã hội của khoảng không vũ trụ Trong cuộc trường chinh đầy hấp dẫn và tốn kém khám phá và khai thác không gian vũ trụ, các cường quốc đi theo những lộ trình khác nhau, nhưng mục tiêu quan trọng nhất vẫn
là giá trị thương mại của khoảng không vũ trụ Đặc biệt là một số hướng khai thác mới đang được các cường quốc vũ trụ mở ra
Thay vì đi tìm các tài nguyên, kim loại quý hiếm dưới lòng đất hoặc trong lòng đại dương, một số quốc gia trên thế giới đang có kế hoạch đi tìm các “kho báu” trong khoảng không vũ trụ Đó là những thiên thạch chứa vàng, bạc và có thể cả kim cương
Theo kết quả phân tích tại các trung tâm nghiên cứu vũ trụ, không chỉ kim cương mà hàm lượng của nhiều loại khoáng sản tài nguyên quý hiếm khác có trong các thiên thạch đều vượt xa hàm lượng có trong vỏ trái đất Với tốc độ phát triển hiện nay của nền văn minh, những nguồn tài nguyên khoáng sản quý hiếm trở thành thứ đặc biệt có giá trị Cuộc sống của con người trên trái đất sẽ được cải thiện khôn lường nếu một khi chúng ta với tới được sự giàu có của dải ngân hà Và công cuộc nghiên cứu tìm cách khai thác nguồn tài nguyên quý giá từ vũ trụ đã được đông đảo giới khoa học vũ trụ, thiên văn học của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm
Trang 16Mới nghe, ý tưởng khai thác kho báu vũ trụ có vẻ như không tưởng Nhưng với trình độ kỹ thuật hiện nay, công việc đã trở lên khá đơn giản Các nhà khoa học
Mỹ và Nga đã lập ra một phương án mang tính khả thi cao Phần lớn các thiên thạch quanh trái đất đều chuyển động xung quanh mặt trời theo các quỹ đạo gần với quỹ đạo của trái đất Vì thế có thể dễ dàng phóng các trạm vũ trụ tự động lên các thiên thạch để làm nhiệm vụ trinh sát mở đường Theo tính toán của nhà khoa học Mỹ Cargen thuộc Trung tâm địa lý thiên văn, nhiên liệu để phóng tàu vũ trụ lên một số thiên thạch ít hơn cả nhiên liệu cần thiết để phóng tàu vũ trụ lên mặt trăng Việc quay trở về từ các thiên thạch còn dễ dàng hơn nhiều việc đổ bộ lên nó Khi đã biết chắc chắn trên các thiên thạch có mỏ tài nguyên quý hiếm, các trạm vũ trụ tự động
sẽ được phóng tiếp lên đó mang theo đầy đủ thiết bị kỹ thuật để lắp ráp thành nhà máy tự động Việc khai thác kim loại quý hiếm trên các thiên thạch khá dễ dàng nhờ môi trường siêu lạnh trong vũ trụ Với nhiệt độ gần với độ 0 tuyệt đối, đa số kim loại sẽ dòn và dễ vỡ như thủy tinh Kim loại sau khi tinh luyện được nung nóng chảy và đổ thành từng viên tròn nặng tới 20 tấn rồi được chuyển về trái đất Lợi nhuận thu được từ chương trình khai thác kho báu vũ trụ theo dự tính hoàn toàn có thể đủ để bảo đảm thực hiện các đề án vũ trụ đầy tham vọng trong tương lai.[9]
Ngoài ra, sự phát triển của công nghệ vũ trụ của thế giới trong thế kỷ 21 sẽ giúp loài người tính đến việc xây dựng trạm phát điện vệ tinh bằng năng lượng mặt trời vận hành trên quỹ đạo của Trái đất Đó là “hạ tầng cơ sở không gian” để loài người có cơ hội khai thác bề mặt Mặt trăng và các hành tinh khác Có nhiều triển vọng sẽ phát triển phòng thí nghiệm trên không, xây dựng viện điều dưỡng trên không, tăng cường các loại hình quản lý Mặt trăng
1.2 Cơ sở pháp lý quốc tế về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình:
1.2.1 Hệ thống các điều ước quốc tế về vấn đề sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình:
Trang 171.2.1.1 Các điều ước quốc tế đa phương về sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hòa bình:
a Các điều ước đa phương do Liên hiệp quốc, Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua về vấn đề sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình:
- Hiệp ƣớc về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 27/01/1967);
- Hiệp định về cứu hộ phi hành gia, trả lại phi hành gia và trả lại các vật thể đã đƣợc phóng vào Khoảng không Vũ trụ (Liên hiệp quốc thông qua ngày 22/04/1968);
- Công ƣớc về trách nhiệm quốc tế đối với những thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra (Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/03/1972);
- Công ƣớc về đăng ký các vật thể đƣợc phóng vào Khoảng không Vũ trụ (Liên hiệp quốc thông qua ngày 14/01/1975);
- Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 18/12/1979)
- Tuyên bố về các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng không Vũ trụ (Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 13/12/1963);
- Quy tắc điều chỉnh việc các quốc gia sử dụng vệ tinh nhân tạo Trái đất cho viêc truyền sóng hình trực tiếp quốc tế (Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 10/12/1982)
- Quy tắc liên quan đến viễn thám Trái đất từ Khoảng không Vũ trụ;
- Quy tắc liên quan đến việc sử dụng nguồn năng lƣợng hạt nhân trong Khoảng không Vũ trụ;
- Tuyên bố về việc hợp tác quốc tế trong việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng
Trang 18không Vũ trụ vì lợi ích của tất cả các quốc gia, có tính đến nhu cầu cụ thể của các nước đang phát triển
- Hiệp ước cấm thử nghiệm vũ khí hạt nhân trong khí quyển, trong khoảng không vũ trụ và dưới nước ngày 05/08/1963
- Các Nghị quyết của Liên hiệp quốc về chống chạy đua vũ trang trong khoảng không vũ trụ
b Các điều ước quốc tế đa phương về truyền thông và phát sóng trực tiếp bằng vệ tinh:
- Công ước quốc tế liên quan đến việc sử dụng phát sóng vì mục đích hoà bình ngày 23/09/1936
- Hiệp định về việc thực hiện dự án Viễn thông châu Âu về chủ đề "Mạng không gian với cơ chế kiểm soát "
- Công ước ngày 21/05/1974 về phân phối tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ tinh
- Nghị quyết 37/92 của Liên hiệp quốc ngày 10/12/1982 về các nguyên tắc chung của việc sử dụng Vệ tinh trái đất nhân tạo để phát sóng truyền hình quốc tế trực tiếp của các quốc gia
- Công ước của Liên hiệp quốc ngày 18/06/1998 về việc cung cấp nguồn truyền thông để khắc phục thiên tai và hoạt động cứu trợ
- Công ước của Liên minh Châu Âu ngày 05/05/1989 về truyền hình xuyên biên giới
c Các điều ước quốc tế đa phương về quan sát và viễn thám trái đất từ khoảng không vũ trụ:
- Công ước ngày 19/05/1978 về chuyển giao và sử dụng dữ liệu viễn thám về Trái đất từ khoảng không vũ trụ
Trang 19- Nghị quyết 41/65 của Liên hiệp quốc ngày 03/12/1986 về nguyên tắc liên quan đến viễn thám Trái đất từ khoảng không vũ trụ
- Khuyến nghị 555 của Liên minh Tây Âu tháng 12/1993 về phát triển hệ thống quan sát trên không gian (phần II) của Châu Âu
- Khuyến nghị 555 của Liên minh Tây Âu tháng 30/11/1994 về phát triển hệ thống quan sát trên không gian (phần III) của Châu Âu.[65, pg 2-3]
Ngoài các điều ước quốc tế đa phương, vấn đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hòa bình còn được thể hiện qua một nguồn không kém phần quan trọng, đó là các báo cáo và ấn phẩm của Liên hiệp quốc như: Phần “Pháp luật vũ trụ” - Báo cáo về các sự kiện nổi bật về vũ trụ năm 2006, năm 2007, năm
2008 và năm 2009
1.2.1.2 Các điều ước quốc tế song phương giữa các Quốc gia:
a Các điều ước quốc tế song phương về sử dung khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hoà bình:
- Hiệp định trao đổi về hợp tác trong lĩnh vực viễn thông qua vệ tinh thử nghiệm giữa Hoa Kỳ và Pháp ngày 31/03/1961
- Công ước về hợp tác kỹ thuật và công nghiệp trong lĩnh vực phát thanh vệ tinh giữa Chính phủ nước Cộng hòa Pháp và Chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức
- Hiệp định dưới hình thức trao đổi thư giữa Chính phủ Cộng hòa Pháp và Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức theo Công ước ngày 29/04/1980 liên quan đến hợp tác kỹ thuật và công nghiệp trong lĩnh vực phát thanh vệ tinh
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Liên minh châu Âu phát sóng (EBU) về việc sử dụng vệ tinh Olympus ngày 28/05/1985 (ESA2)
- Hiệp định giữa Tổ chức Viễn thông châu Âu truyền hình vệ tinh (Eutelsat) và
Cơ quan Vũ trụ châu Âu về hệ thống viễn thông vệ tinh châu Âu cho dịch vụ cố định ngày 12/03/1986 (ESA2)
Trang 20- Hiệp định giữa Chính phủ Liên bang Áo và Cơ quan Vũ trụ châu Âu về sự tham gia của Áo trong chương trình chuẩn bị cho hệ thống dữ liệu vệ tinh chuyển tiếp ngày 28/11/1986 (ESA2)
- Biên bản ghi nhớ giữa một số thành viên của Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Cơ quan Vũ trụ châu Âu liên quan đến việc thực hiện các dự án MERCURE ngày 25 tháng 11 năm 1994 (ESA2)
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Liên Hợp Quốc liên quan đến việc mua sắm, lắp đặt và thử nghiệm hệ thống truyền thông MERCURE ngày 25/11/1994 (ESA2)[65, pg 6]
b Điều ước quốc tế song phương về quan sát /giám sát/viễn thám vũ trụ:
- Bản ghi nhớ giữa Hoa Kỳ quốc gia hàng không vũ trụ (NASA) và Cơ quan
Vũ trụ châu Âu liên quan đến tài nguyên trái đất vệ tinh, Landsat, SEASAT-1 ngày 07/10/1978 (ESA2)
- Hiệp định giữa Cơ quan Vũ trụ châu Âu và Tổ chức Kỹ thuật Hàng không Quốc gia (Instituto Nacional de Técnica Aérospacial - INTA) liên quan đến việc sử dụng các trạm Maspalomas cho việc xử lý dữ liệu viễn thám ngày 21/11/1988 (ESA2)
- Biên bản ghi nhớ giữa Việt Nam và Australia đối với việc thực hiện các dự
án viễn thám từ xa ngày 08/02/1990 (Philippines)
- Hiệp định liên quan đến sự tham gia của Phần Lan trong Chương trình DRTM của Cơ quan vũ trụ châu Âu ngày 18/01/1991 (ESA2)
- Hiệp định liên quan đến sự tham gia của Phần Lan trong Chương trình ASTP-4 của Cơ quan vũ trụ châu Âu ngày 18/01/1991 (ESA2)
c Các điều ước quốc tế song phương về các hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại:
- Biên bản ghi nhớ giữa Bộ Bưu chính và Truyền thông của Cộng hoà
Trang 21Indonesia (Ditjen Postel) và Cơ quan Vũ trụ và Hàng không của Hoa Kỳ (NASA)
về việc thực hiện phóng và hợp tác với Tàu Vũ trụ PALAPA-B Space Craft ngày 09/04/1979
- Bản ghi nhớ thoả thuận giữa Hoa Kỳ và Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa liên quan đến hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại quốc tế ngày 26/01/1989
- Hiệp định giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Nga về hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại quốc tế ngày 02/09/1993
- Hiệp định giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại quốc tế tháng 3/1995
- Hiệp định giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Nga sửa đổi Hiệp định giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Liên bang Nga về hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại quốc tế ngày 30/01/1996 (đăng trên Công báo Luật Vũ trụ năm 1996, trang 183)
- Hiệp định giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ về hoạt động vũ trụ nhằm mục đích thương mại quốc tế ngày 21/02/1996 (đăng trên Công báo Luật Vũ trụ năm 1996, trang 187) [65, pg 9]
1.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của việc sử dụng, khai thác khoảng không
vũ trụ nhằm mục đích hòa bình:
Các điều ước quốc tế về Khoảng không Vũ trụ cùng thể hiện một số nguyên tắc chung xuyên suốt, cụ thể trong hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích hòa bình như sau:
Việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng không Vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác được tiến hành cho và vì lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế hay khoa học, và là lãnh thổ của toàn nhân loại
Khoảng không Vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác, được tất cả
Trang 22các quốc gia tự do nghiên cứu, sử dụng không phân biệt chỉ được sử dụng vào mục đích hoà bình;
Không được đưa vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giết người hàng loạt khác vào vũ trụ;
Nhà nước chịu trách nhiệm quốc tế về hoạt động vũ trụ của mình
Xuất phát từ quy định tại Điều II của Hiệp ước về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 27/01/1967) [sau đây gọi tắt là Hiệp ước nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ 1967]:
―Khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, không
bị phụ thuộc vào sự chiếm hữu của quốc gia bằng cách tuyên bố chủ quyền, bằng cách sử dụng hoặc cư trú, hoặc bởi bất kỳ cách thức nào khác‖
Có thể kết luận rằng khoảng không vũ trụ là vùng khai thác chung, không phụ thuộc vào ý chí đơn phương của các quốc gia về vấn đề xác định chủ quyền hoặc những hoạt động công nghệ hay sử dụng vũ trụ trên thực tế của các quốc gia trên thế giới Vì vậy, Điều I của Hiệp ước nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ năm 1967 đã nêu:
- Việc thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, được thực hiện vì nhu cầu và lợi ích của tất cả các quốc gia, không phân biệt trình độ phát triển kinh tế hoặc khoa học, và là lãnh thổ của toàn nhân loại
- Khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, sẽ được
tự do thăm dò và sử dụng bởi tất cả các quốc gia mà không có phân biệt đối xử, trên
cơ sở của bình đẳng và phù hợp với luật pháp quốc tế, và việc tiếp cận đến
Trang 23tất cả các khu vực của các thiên thể
- Việc nghiên cứu khoa học về khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác là tự do, và Liên hiệp quốc sẽ tạo điều kiện và khuyến khích hợp tác quốc tế trong việc nghiên cứu đó
Mặc dù vậy, sự “tự do” trong vấn đề hoạt động công nghệ và sử dụng khoảng không vũ trụ được nhắc đến ở đây liệu có thể là sự tự do tuyệt đối? Nghĩa
là, các quốc gia có quyền hoạt động công nghệ và sử dụng khoảng không vũ trụ theo kế hoạch của mình mà không phải tuân theo một trật tự chung? Câu trả lời là không! Minh chứng là Điều 3 - Hiệp ước về các quy tắc điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trong việc nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm mặt trăng và các thiên thể khác đã nêu:
Các quốc gia với Hiệp ước phải thực hiện các hoạt động trong thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, theo quy định luật pháp quốc tế, bao gồm Điều lệ của Liên Hiệp Quốc, nhằm duy trì hòa bình
và an ninh quốc tế và thúc đẩy hợp tác quốc tế
Điều 2 - Hiệp định điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên mặt trăng và các thiên thể khác (Liên hiệp quốc thông qua ngày 18/12/1979) quy định:
“Mọi hoạt động trên Mặt Trăng, bao gồm việc thăm dò và sử dụng, được thực hiện theo quy định của pháp luật quốc tế, cụ thể là Hiến chương Liên hiệp quốc, tuân theo Tuyên bố về các nguyên tắc của Luật quốc tế liên quan đến quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia theo quy định của Điều lệ của Liên Hiệp Quốc, được Đại hội đồng thông qua vào ngày 24 /10/1970, vì lợi ích của việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế và thúc đẩy hợp tác quốc tế và hiểu biết lẫn nhau, và cùng có lợi với các quốc gia khác.”
Như vậy, cũng như mọi hoạt động khác, hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ của các quốc gia cho dù được diễn ra “tự do” nhưng là
Trang 24“tự do” trong một khuôn khổ pháp lý, đó là: quy định pháp luật quốc tế và các quy định của Liên hiệp quốc
Ngoài ra, Hiệp ước nghiên cứu và sử dụng khoảng không vũ trụ còn đưa ra một số giới hạn cần thiết cho việc khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ tại các điều tiếp theo:
“Điều IV: Các quốc gia tham gia Hiệp ước cam kết không để các đối tượng mang vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt hoạt động trong quỹ đạo vòng quanh Trái Đất, cài đặt các vũ khí đó trên các thiên thể, hay trạm vũ khí trong khoảng không vũ trụ bằng bất cứ cách nào khác Mặt Trăng và các thiên thể khác được sử dụng bởi tất cả các quốc gia tham gia Hiệp ước nhằm mục đích duy nhất vì hòa bình Việc thành lập căn cứ quân sự, các thiết bị và công sự, các thử nghiệm của bất kỳ loại vũ khí nào và thực hiện việc của diễn tập quân sự trên các thiên thể đều bị cấm.”
“Điều IX: Các quốc gia tham Hiệp ước được thực hiện các nghiên cứu về khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, và tiến hành thăm dò để tránh ô nhiễm có hại và cả những thay đổi bất lợi trong môi trường của Trái đất gây ra do vật chất ngoài trái đất và trong trường hợp cần thiết, sẽ chấp thuận biện pháp thích hợp vì mục đích này Nếu một quốc gia tham gia Hiệp ước có căn cứ để tin rằng một hoạt động hoặc thử nghiệm do quốc gia hoặc công dân của mình lập kế hoạch trong khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, sẽ can thiệp có hại đến các hoạt động của các quốc gia khác trong thăm dò
và sử dụng khoảng không vũ trụ bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác một cách hoà bình, thì tiến hành tham vấn quốc tế thích hợp trước khi tiến hành bất kỳ hoạt động hoặc thử nghiệm đó Một quốc gia tham gia Hiệp ước có căn cứ để tin rằng một hoạt động hoặc thử nghiệm do quốc gia thành viên khác lập kế hoạch trong khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các thiên thể khác, sẽ can thiệp có hại cho các hoạt động thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm
cả Mặt Trăng và các thiên thể khác một cách hoà bình thì có thể yêu cầu tham vấn
Trang 25liên quan đến hoạt động hoặc thử nghiệm đó
Như vậy, có thể khái quát lên những điểm chủ đạo nhất trong các quy định
về pháp luật quốc tế về hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ như sau:
Về cơ bản những nguyên tắc chung về các hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ được quy định trong Hiệp định về nguyên tắc chung về các hoạt động của các quốc gia trong thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các hành tinh khác năm 1967 và được cụ thể hoá trong các điều ước quốc tế đa phương có liên quan
Các văn bản pháp lý quốc tế không đề cập đến chủ thể sử dụng khoảng không vũ trụ và tiến hành hoạt động công nghệ vũ trụ là các tổ chức hoặc cá nhân
mà chỉ đề cập đến các quốc gia và nguyên tắc áp dụng đối với các quốc gia Các quốc gia chịu trách nhiệm đối với các hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ và hoạt động công nghệ vũ trụ của các cá nhân, tổ chức cư trú hoặc mang quốc tịch của quốc gia đó
Luật pháp quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế của Liên hiệp quốc ghi nhận quyền tự do sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ; tuy nhiên đồng thời cũng tuyên bố các nguyên tắc, khuôn khổ pháp lý mà cá nhân/tổ chức thực hiện hoạt động công nghệ vũ trụ, sử dụng khoảng không vũ trụ phải tuân theo:
- Việc nghiên cứu và sử dụng Khoảng không Vũ trụ, bao gồm Mặt trăng và các thiên thể khác phải được tiến hành cho và vì lợi ích của tất cả các quốc gia
- Khoảng không vũ trụ chỉ được sử dụng vào mục đích hoà bình;
- Không được đưa vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí giết người hàng loạt khác vào vũ trụ;
- Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát hoạt động công nghệ vũ trụ, sử dụng khoảng không vũ trụ của quốc tế là Liên hiệp quốc và các quốc gia có trách
Trang 26nhiệm báo cáo với Liên hiệp quốc về các hoạt động vũ trụ của quốc gia mình
Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động sử dụng khoảng không vũ trụ và hoạt động công nghệ vũ trụ của các quốc gia là Liên hiệp quốc và Tổng Thư ký Liên hiệp quốc trực tiếp nhận các báo cáo thông tin đăng ký của các quốc gia về phương tiện vũ trụ
Thẩm quyền cấp phép cho các hoạt động công nghê vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ thuộc về mỗi quốc gia và quốc gia phải chịu trách nhiệm quốc tế về hoạt động vũ trụ của mình
Trách nhiệm pháp lý: Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với những thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra (Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/03/1972) quy định:
- Quốc gia phóng phương tiện vũ trụ chịu trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại gây ra bởi phương tiện vũ trụ trên bề mặt trái đất hoặc tàu vũ trụ khi đang bay…
- Một quốc gia bị thiệt hại hoặc thể nhân, pháp nhân của quốc gia đó bị thiệt hại có thể khởi kiện quốc gia phóng tàu vũ trụ đòi bồi thường thiệt hại
- Nếu quốc gia mà pháp nhân hoặc thể nhân mang quốc tịch không khởi kiện thì quốc gia có vùng lãnh thổ xảy ra thiệt hại có thể khởi kiện quốc gia phóng phương tiện vũ trụ
- Nếu quốc gia mang quốc tịch và quốc gia có lãnh thổ xảy ra thiệt hại không khởi kiện hoặc thông báo ý định khởi kiện thì quốc gia nơi cư trú của pháp nhân, thể nhân bị thiệt hại sẽ tiến hành khởi kiện quốc gia phóng phương tiện vũ trụ
Như vậy, trách nhiệm pháp lý của quốc gia khi tham gia vào hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ đã được điều chỉnh khá rõ ràng và chi tiết trong Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với những thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra năm 1972 Theo đó, quốc gia không những chịu trách nhiệm về toàn bộ các hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ do pháp nhân, thể nhân
Trang 27nước mình thực hiện mà còn có trách nhiệm khởi kiện và bảo vệ lợi ích của công dân, pháp nhân mang quốc tịch hoặc cư trú tại nước mình trong quá trình đó Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên các điều ước quốc tế không điều chỉnh vấn đề trách nhiệm pháp lý của từng thể nhân, pháp nhân tham gia trong lĩnh vực này mà hầu hết vấn đề đó thuộc về phạm vi quy định của pháp luật từng quốc gia
1.2.3 Pháp luật quốc gia trong lĩnh vực khai thác khoảng không vũ trụ:
1.2.3.1 Nhận định chung về hệ thống quy phạm pháp luật về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam:
Quá trình nghiên cứu hệ thống pháp luật về vũ trụ của các quốc gia trên thế giới cho thấy vấn đề hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ thường không gói trọn riêng biệt trong một văn bản quy phạm pháp luật của một quốc gia Vấn đề này được điều chỉnh với tư cách là một chế định hoặc một nhóm các quy phạm nằm rải rác trong các văn bản pháp luật và chính sách khác nhau
a Một số quốc gia có hệ thống văn bản pháp luật về vũ trụ khá đồ sộ như: Nga, Ukraina, Hoa Kỳ… Đó là những nước có nền khoa học vũ trụ tiên tiến phát triển trên thế giới Vì vậy, vấn đề hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ cũng được điều chỉnh khá chặt chẽ và chi tiết Trong đó, Nga và Hoa Kỳ là hai quốc gia điển hình, ban hành các đạo luật vũ trụ được phân chia theo từng lĩnh vực:
Nga:
- Luật hoạt động vũ trụ của Nga, ban hành kèm theo Pháp lệnh số 5.664-1
ngày 20/08/1993
- Luật số 147-F3 về việc sửa đổi, bổ sung vào Luật hoạt động vũ trụ của Nga
- Luật hoạt động vũ trụ của Nga ngày 29/11/1996
Trang 28- Chương trình vũ trụ của Nga đến năm 2000, Pháp lệnh số 1282 do Chính phủ
Nga phê duyệt ngày 11/12/1993
- Quy chế của Cơ quan Vũ trụ Nga, Pháp lệnh số 468 của Chính phủ Liên
bang Nga phê duyệt ngày 15/05/1995
- Pháp lệnh số 791 của Chính phủ Nga về việc tiến hành các hoạt động vũ trụ
vì lợi ích của nền kinh tế, nghiên cứu khoa học và an ninh của Nga ngày 07/08/1995
- Pháp lệnh số 104 của Chính phủ Nga về việc cấp giấy phép hoạt động vũ trụ
ngày 02/02/1996
- Đề cương của chính sách vũ trụ quốc gia của Nga, phê duyệt theo Pháp lệnh
số 533 của Chính phủ Nga ngày 01/05/1996
- Pháp lệnh số 70 của Chính phủ Nga ngày 19/01/1999 về việc công bố các
sửa đổi, bổ sung Quy chế của Cơ quan vũ trụ Nga, phê duyệt theo Pháp lệnh
số 468 của Chính phủ Nga ngày 15/05/1995
Hoa Kỳ:
- Luật vũ trụ năm 1934
- Luật Hàng không và Vũ trụ Quốc gia năm 1958
- Luật Truyền hình vệ tinh năm 1962
- Luật Viễn thám Thương mại năm 1984
- Luật tàu vũ trụ thương mại năm 1984
- Luật về Cơ quan Hàng không và Vũ trụ năm 1985
- Luật về Cơ quan Hàng không và Vũ trụ năm 1986
Trang 29- Luật về Cơ quan Hàng không và Vũ trụ năm 1988
- Luật về Cơ quan Hàng không và Vũ trụ năm 1989
- Luật về Cơ quan Hàng không và Vũ trụ năm 1992
- Luật quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia năm 1992
- Luật về chính sách Viễn thám năm 1992
Tương ứng với từng văn bản của từng lĩnh vực đó chứa đựng các quy định khác nhau về vấn đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ của Nga và Hoa Kỳ
b Hungary và Phần Lan là hai trong số nhiều quốc gia lựa chọn cách thức ban hành các văn bản pháp luật về vũ trụ theo hướng nội luật hoá các điều ước quốc
tế Hầu như tương ứng với mỗi điều ước quốc tế có liên quan đến vũ trụ là có một hoặc nhiều văn bản pháp luật có chức năng nội luật hoá trong pháp luật của Ukraina
và Phần Lan Vì vậy, hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ cũng được nội luật hoá từ các quy định của pháp luật quốc tế vào pháp luật các quốc gia này
Hungary:
- Nghị định số 41/1967 về việc gia nhập Hiệp định về nguyên tắc chung về các
hoạt động của các quốc gia trong thăm dò và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các hành tinh khác năm 1967
- Nghị định số 22/1969 về việc gia nhập Hiệp định về cứu hộ phi hành gia, trả
lại phi hành gia và trả lại các vật thể đã được phóng vào Khoảng không Vũ trụ năm 1968
- Nghị định số 3/1973 về việc gia nhập Công ước về trách nhiệm quốc tế đối
với những thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra năm 1972
Trang 30- Luật Nghị định số 7 / 1978 về việc gia nhập Công ước về đăng ký các vật thể
được phóng vào Khoảng không Vũ trụ năm 1974
Phần Lan
- Mục 7 - Chương 1 - Bộ luật hình sự nội luật hoá điều 8 của Hiệp định Hiệp
định về nguyên tắc chung về các hoạt động của các quốc gia trong thăm dò
và sử dụng khoảng không vũ trụ, bao gồm cả Mặt Trăng và các hành tinh khác năm 1967
- Luật số 616/1970 về việc gia nhập Hiệp định về cứu hộ phi hành gia, trả lại
phi hành gia và trả lại các vật thể đã được phóng vào Khoảng không Vũ trụ năm 1968; và Nghị định 617/1970 triển khai thực hiện Hiệp định này
- Luật số 194/1977 về việc gia nhập Công ước về trách nhiệm quốc tế đối với
những thiệt hại do các tàu vũ trụ gây ra; và Nghị định 195/1977 triển khai thực hiện Công ước này
c Một số quốc gia Châu Á có nền khoa học vũ trụ phát triển cũng đã hình thành hệ thống pháp luật và chính sách vũ trụ tương đối hoàn chỉnh như: Nhật Bản, Hàn Quốc… Tuy nhiên, các quốc gia này mới chỉ ban hành các văn bản điều chỉnh vấn đề này ở cấp độ luật hoặc chính sách chung chứ chưa có nhiều văn bản dưới luật hoặc chưa có văn bản hướng dẫn chi tiết Nhưng không phải vì thế mà hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ chưa được điều chỉnh chi tiết và rõ nét trong các văn bản pháp luật của các quốc gia đó
Ngoài ra, các quốc gia khác trên thế giới ở mức độ khác nhau cũng đã xây dựng các quy định về hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ như: Trung Quốc, Pháp, Anh, Đức… Danh mục các văn bản pháp luật vũ trụ của một số lượng lớn các quốc gia trên thế giới đã được ghi nhận trong nhiều báo cáo và tài liệu của Liên hiệp quốc Việt Nam chưa được liệt kê trong danh sách này
Trang 311.2.3.2 Tình hình xây dựng pháp luật của Việt Nam về sử dụng, khai thác khoảng không vũ trụ:
a Các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam về hoạt động khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ:
Nhóm các văn bản pháp luật đề ra chủ trương, đường lối cho hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ:
- Quyết định 362/TTg ngày 30/05/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 5 năm 1996-2000
- Quyết định 272/2003/QĐ-TTg ngày 31/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm
2010
- Quyết định 67/2006/QĐ-TTg ngày 21/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 5 năm 2006 - 2010
- Quyết định 137/2006/QĐ-TTg ngày 14/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020"
- Quyết định 22/2009/QĐ-TTg ngày 16/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm
Trang 32- Luật Viễn thông số 41/2009/QH12 ngày 23/11/2009
- Luật tần số vô tuyến điện 42/2009/QH12 ngày 23/11/2009
- Nghị định 12/2002/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động đo đạc và bản đồ
- Nghị định 133/2008/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ
- Nghị định 24/2004/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Bưu chính, Viễn thông về tần số vô tuyến điện
- Nghị định 50/1998/NĐ-CP của Chính phủ về quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh An toàn và Kiểm soát bức xạ
- Thông tư 06/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xây dựng lưới toạ độ
- Thông tư 19/2009/TT-BGTVT của Bộ Giao thông Vận tải quy định về khí tượng hàng không dân dụng
- Thông tư 27/2009/TT-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
"Quy hoạch kênh tần số vô tuyến điện của Việt Nam cho các nghiệp vụ cố định và lưu động mặt đất (30-30000 MHz)"
- Thông tư hướng dẫn xác định và công nhận các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư theo khoản 5, Danh mục I, phụ lục I, Nghị định 10/1998/NĐ-CP
- Thông tư liên tịch 06/2005/TTLT-BTNMT-BQP-BCA-BBCVT của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Bưu chính, Viễn thông
về việc hướng dẫn quản lý công tác bay chụp ảnh mặt đất từ máy bay và thu, truyền, phát dữ liệu đo đạc, bản đồ, không ảnh
- Quyết định 18/2008/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc
Trang 33ban hành "Quy định về hoạt động vô tuyến điện nghiệp dư"
- Quyết định 20/2007/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hoá-Thông tin về việc bãi bỏ một
số quy định về thủ tục trong hồ sơ xin cấp giấy phép để thực hiện thủ tục một cửa
- Quyết định 21/2006/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính, Viễn thông về việc ban hành cước thuê kênh viễn thông quốc tế của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
- Quyết định 22/2005/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành mức thu lệ phí cấp giấy phép tần số vô tuyến điện và phí sử dụng tần số vô tuyến điện
- Quyết định 27/2001/QĐ-TCBĐ của Tổng cục Bưu điện về việc ban hành quy định về việc xây dựng, ban hành và công bố tiêu chuẩn trong ngành bưu điện
- Quyết định 27/2002/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính, Viễn thông ban hành bảng cước dịch vụ thông tin vệ tinh bằng các trạm vệ tinh mặt đất cỡ nhỏ (VSAT)
- Quyết định 32/2006/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính, Viễn thông về việc ban hành Danh mục công trình viễn thông bắt buộc kiểm định
- Quyết định 39/2005/QĐ-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải về việc ban hành "Quy chế công tác thông tin, dẫn đường và giám sát hàng không dân dụng"
- Quyết định 40/2008/QĐ-BTTTT của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành định mức hỗ trợ duy trì và phát triển cung ứng dịch vụ viễn thông công ích giai đoạn 2008 - 2010
- Quyết định 45/2006/QĐ-BBCVT của Bộ Bưu chính, Viễn thông về việc ban hành "Danh mục sản phẩm thuộc quản lý chuyên ngành của Bộ Bưu chính, Viễn thông bắt buộc phải chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn"
- Quyết định 88/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Tần số vô tuyến điện
Trang 34thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông
- Quyết định 69/2001/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành mức thu lệ phí cấp giấy phép sử dụng máy phát tần số vô tuyến điện và phí sử dụng tần số vô tuyến điện
- Quyết định 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ
- Thông báo 134/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại cuộc họp xem xét việc thực hiện dự án xây dựng Trung tâm vũ trụ Hòa Lạc tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc
- Công văn 2360/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ về việc bảo đảm quyền sử dụng các vị trí quỹ đạo vệ tinh của Việt Nam
- Công văn 2712/VPCP-QHQT của Văn phòng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh vốn dự án "Vệ tinh nhỏ Việt Nam giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai (VNREDSat-1)"
- Công văn 3030/VPCP-QHQT của Văn phòng Chính phủ về chủ trương đầu
tư dự án thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn truyền hình số vệ tinh Việt Nam
- Công văn 5768/VPCP-KGVX của Văn phòng Chính phủ về việc phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình, địa phương trên vệ tinh Vinasat-1
- Công văn 6137/VPCP-KTTH của Văn phòng Chính phủ về việc các ưu đãi
về vốn đối với dự án VINASAT
- Công văn 8705/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ về việc phương án sử dụng các vị trí quỹ đạo vệ tinh của Việt Nam
- Công nghệ vũ trụ đã được ứng dụng vào nhiều ngành nghề kinh tế - kỹ thuật
ở Việt Nam như: khí tượng - thủy văn, thông tin liên lạc, viễn thám và định vị nhờ
Trang 35vệ tinh Việc liệt kê các văn bản pháp luật vừa thực hiện ở trên cho thấy phần lớn các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề hoạt động công nghệ và sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam hiện nay đang phân bố rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, chủ yếu trong các lĩnh vực có liên quan như: Viễn thông, tần số vô tuyến điện, vệ tinh quản lý đất đai, tài nguyên môi trường…
Chưa hình thành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về vấn
đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ
Hoạt động công nghệ vũ trụ còn đang ở giai đoạn sơ khai, tản mạn, thiếu định hướng và sự phối hợp liên ngành Thời gian gần đây, như đã đề cập ở trên, các chính sách, đường lối của Đảng và nhà nước ta về lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đã được ban hành Tuy nhiên, những quy định pháp luật cụ thể về khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ chưa được hình thành rõ nét và hầu như chưa tồn tại Theo mục 1 - phần IV – Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg ngày 14/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ thì một trong bốn nhiệm vụ phải được
cơ bản hoàn thành trong giai đoạn 2006 – 2010 là xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ, bao gồm các nội dung:
―a) Nghiên cứu các luật quốc tế và các quy định sử dụng khoảng không vũ trụ để đảm bảo chủ quyền quốc gia
b) Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy chung của Nhà nước và của các ngành, liên quan đến việc nghiên cứu và ứng dụng CNVT
c) Xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp quy về lưu trữ, quản lý, khai thác
và sử dụng ảnh vệ tinh và các thông tin dẫn suất như bản đồ, cơ sở dữ liệu
d) Xây dựng và ban hành quy định về bảo mật liên quan đến chương trình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ Việt Nam
Trang 36đ) Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn định dạng và định chuẩn trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ vũ trụ, bảo đảm sự tương thích trong nước và ra quốc tế.‖
Có thể nhận ra rằng sự cần thiết phải xây dựng, ban hành các quy định pháp luật về vấn đề khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ đã được khẳng định trong các nội dung tổng quát tại Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg ngày 14/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ
Hiện nay, một số Dự thảo trực tiếp có liên quan đến hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ đang và sẽ cần được các cơ quan tiến hành soạn thảo như:: Dự thảo Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Quy định về thu nhận, lưu trữ, xử lý, khai thác và sử dụng dữ liệu viễn thám quốc gia (đang lấy ý kiến đóng góp)
b Đánh giá, bình luận các quy định pháp luật của Việt Nam về hoạt động
khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ:
Đánh giá chung:
Vấn đề công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ ở Việt Nam hiện nay mới chỉ được đề cập trong văn bản mang tính chủ trương như: các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu và nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ các giai đoạn từ 1996-2000, từ 2003 đến
2010, từ 2006 đến 2010 và gần đây nhất là Quyết định 137/2006/QĐ-TTg ngày 14/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt "Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020"
Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam chưa có văn bản nào điều chỉnh chuyên biệt về lĩnh vực công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không
vũ trụ Khái niệm “biên giới quốc gia trên không” đã được quy định trong Luật Biên giới quốc gia năm 2003 nhưng các khái niệm pháp lý cơ bản nhất về vũ trụ như:
Trang 37khoảng không vũ trụ, hoạt động công nghệ vũ trụ, hành vi sử dụng khoảng không
vũ trụ… chƣa đƣợc đề cập hoặc giải thích trong bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào Vì vậy, các hoạt động công nghệ vũ trụ cụ thể và sử dụng khoảng không vũ trụ theo khuôn khổ pháp lý nhƣ thế nào còn là vấn đề chƣa định hình đƣợc Nhƣ đã phân tích ở trên, những vấn đề cốt yếu nhƣ: nguyên tắc chung, cơ quan quản lý, chủ thể thực hiện, trình tự, thủ tục cấp phép, đăng ký và nghĩa vụ pháp lý trong hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ tại Việt Nam… vẫn chƣa đƣợc xác định rõ ràng trong pháp luật Việt Nam
- Về cơ quan quản lý các hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ của Việt Nam:
Chính phủ thống nhất quản lý, Bộ chuyên ngành quản lý trực tiếp, các Bộ ngành khác phối hợp quản lý - đây là một cách tổ chức khoa học và thống nhất với
Trang 38các hoạt động kinh tế - xã hội khác Tuy nhiên, với sự phát triển và vai trò quan trọng của vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ thì cần hình thành cơ quan chuyên trách của Chính phủ có chức năng quản lý hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ
Ngày 17/09/2010, Chính phủ đã ký Quyết định 1720/QĐ-TTg thành lập Uỷ ban Vũ trụ Việt Nam Ủy ban Vũ trụ Việt Nam là tổ chức tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những vấn đề liên ngành trong việc thực hiện chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020 Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban Vũ trụ Việt Nam là nghiên cứu, đề xuất với Thủ tướng Chính phủ về chương trình, kế hoạch và các biện pháp thực hiện Chiến lược cho từng thời kỳ; giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và đôn đốc các cơ quan liên quan thực hiện Chiến lược; đại diện chính thức cho Việt Nam tại các tổ chức quốc tế về công nghệ vũ trụ; định kỳ 6 tháng hoặc đột xuất theo yêu cầu, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình hoạt động của Ủy ban Vũ trụ Việt Nam; thực hiện các nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao
Ngoài ra, cần phát huy vai trò của các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ vũ trụ như: Viện nghiên cứu vũ trụ cũng được dự kiến xây dựng và thành lập trong thời gian tới
- Về vấn đề chủ thể được phép đăng ký thực hiện hoạt động công nghệ vũ trụ
và sử dụng khoảng không vũ trụ:
Hiện nay, nếu căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành thì tất cả các cá nhân/tổ chức trong nước và nước ngoài đều có thể được cấp phép hoạt động này miễn là đáp ứng đủ các điều kiện về chuyên môn và có đề án được chấp nhận; một
số hoạt động nghiệp dư không nhằm mục đích lợi nhuận cũng có thể được cơ quan
có thẩm quyền chấp thuận Điều đó thể hiện sự tự do và bình đẳng trong môi trường kinh doanh giữa các thành phần kinh tế tại Việt Nam trong lĩnh vực này Tuy nhiên,
có rất nhiều loại hình hoạt động công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ
Trang 39chưa được điều chỉnh và sẽ được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật
mà nằm ngoài các hoạt động hiện đã được biết đến (viễn thông, sử dụng tần số vô tuyến điện, đo đạc bản đồ…) Vì vậy, cần cân nhắc để dự liệu xem các hoạt động nào liên quan đến công nghệ vũ trụ và sử dụng khoảng không vũ trụ có thể được thực hiện bởi tất cả các chủ thể, các hoạt động nào cần phát huy vai trò của nhà nước và chỉ nên để nhà nước tiến hành Ví dụ: Viễn thám (quan sát trái đất từ vũ trụ) chủ yếu dựa trên việc thu, xử lý và sử dụng các ảnh chụp trái đất từ vệ tinh là lĩnh vực nên dành riêng để cơ quan nhà nước tiến hành mà chưa nên có sự tham gia của các tổ chức, cá nhân kinh doanh Bởi lẽ, công việc này phục vụ chủ yếu cho nghiên cứu khoa học, một số lĩnh vực quản lý và sản xuất thuộc các ngành đo đạc bản đồ… Nhưng ngược lại lĩnh vực ứng dụng công nghệ vũ trụ trong thông tin liên lạc thì lại nên có sự tham gia của cả tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài để tranh thủ nhận chuyển giao công nghệ hiện đại về viễn thông từ nước ngoài
- Công nghệ vũ trụ theo quy định pháp luật hiện hành chưa phải là lĩnh vực công nghệ cao?
Khoản 1 - điều 3 – Luật công nghệ cao số 21/2008/QH12 do Quốc hội thông
qua ngày 13/11/2008 quy định: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.”
Theo điều 5 của Luật công nghệ cao thì Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển bao gồm: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa
Như vậy, có thể kết luận rằng công nghệ vũ trụ không phải là công nghệ cao theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành
Trang 40Tuy nhiên, tại lời mở đầu của Chiến lược nghiên cứu và ứng dụng công nghệ
vũ trụ đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 137/2006/QĐ-TTg ngày 14
tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ) đã khẳng định: ―Công nghệ vũ trụ
(CNVT) là một lĩnh vực công nghệ cao được hình thành nhờ tích hợp nhiều ngành công nghệ khác nhau nhằm tạo ra các phương tiện như vệ tinh, tàu vũ trụ, tên lửa, trạm mặt đất, v.v… để khám phá, chinh phục và sử dụng khoảng không vũ trụ phục
vụ lợi ích của con người.”
Trên cơ sở đó, nội hàm của khái niệm “công nghệ cao” theo Luật công nghệ cao vừa mới được ban hành năm 2008 cũng cần phải đươc bổ sung thêm một lĩnh