Đánh giá thực trạng LĐTE, pháp luật LĐTE khi Việt Nam thực thi các công ước quốc tế về LĐTE 73 Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LĐTE TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2009
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HOÀNG PHƯƠNG
CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật quốc tế
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN HỒNG BẮC
Hà nội - 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hoàng Phương
Trang 4Danh mục các từ viết tắt
1) Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em: BVCSGDTE
2) Bảo vệ quyền trẻ em: BVQTE
3) Chương trình quốc tế về xóa bỏ lao động trẻ em: IPEC
4) Lao động trẻ em: LĐTE
5) Người chưa thành niên: NCTN
6) Ngân hàng thế giới :WB
7) Quỹ Dân số của Liên hợp quốc: UNFPA
8) Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc: UNICEF
9) Quyền trẻ em: QTE
10) Tổ chức Lao động quốc tế: ILO
11) Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá: UNESCO
12) Thu nhập quốc dân tính trên đầu người trong một năm : GDP 13) Trách nhiệm hữu hạn : TNHH
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ
CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM
1.3.1 Vai trò và hoạt động của tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong việc xây
dựng các công ước quốc tế về LĐTE
Trang 62.2.2 Thực trạng pháp luật Việt Nam về LĐTE 57
2.3
Đánh giá thực trạng LĐTE, pháp luật LĐTE khi Việt Nam thực thi
các công ước quốc tế về LĐTE
73
Chương 3 - MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT
NAM VỀ LĐTE TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật và tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề
3.3 Một số biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện giải pháp 97
3.3.1 Đối với các địa phương có ngành nghề truyền thống 97
3.3.2 Đối với cơ quan quản lý nhà nước về lao động, trẻ em cấp quận,
huyện; cấp tỉnh, thành phố
97
3.3.4 Đối với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội 98
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Hoàng Phương
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ và chăm sóc trẻ em là nội dung hoạt động cơ bản trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Ở nước nào cũng vậy, trẻ em sinh ra và lớn lên trong những điều kiện hoàn cảnh gia đình, cộng đồng đa dạng và không giống nhau Mỗi
em một vẻ, mỗi em một hoàn cảnh và mỗi em mang theo mình một tâm sự buồn vui khác nhau Nhưng các em đều có chung một nhu cầu khẩn thiết, nhu cầu được sự giúp đỡ, cưu mang của xã hội
Tiến trình toàn cầu hoá đã và đang diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ đã góp phần làm thay đổi nhanh chóng đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội; đời sống vật chất - tinh thần của đông đảo các tầng lớp
xã hội không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu xã hội không thể phủ nhận thì còn tồn tại một thực tiễn không mong muốn đó là tình trạng trẻ em bị bóc lột, bị lao động cực nhọc trong các công trường, hầm mỏ; trẻ em vẫn phải xả súng vào chính đồng loại của mình; trẻ em lang thang trên đường phố, bị sử dụng vào các mục đích vô nhân đạo Đó đang là những thách thức đối với nhân loại tiến bộ trong công cuộc chăm sóc, bảo vệ trẻ em, bảo vệ thế hệ tương lai của nhân loại
Trong xu hướng toàn cầu hóa, quyền con người nói chung và quyền của trẻ em nói riêng không còn là vấn đề quan tâm của từng quốc gia đơn lẻ, mà nó đã và luôn được cả cộng đồng quốc tế quan tâm Trong Tuyên ngôn về quyền của trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1959 đã ghi nhận “Loài người có trách nhiệm trao cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất”; Công ước quốc tế về quyền chính trị - dân sự năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) chỉ ra rằng: "Mọi trẻ em… đều có quyền được hưởng sự bảo hộ của gia đình, xã hội và của nhà nước" (Điều 24); Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hoá năm 1966 (Việt Nam gia nhập năm 1982) khẳng định: "Thanh thiếu niên cần được bảo vệ và không bị bóc lột về kinh tế - xã hội, cấm bóc lột lao động trẻ em" (Điều 10) Năm 1989, với
sự nỗ lực của một số quốc gia, Công ước quốc tế về quyền trẻ em (Việt Nam là
Trang 9quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước) được thông qua Công ước đã ghi nhận khá đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ
em, đồng thời xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia thành viên và chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của gia đình, của cộng đồng và của toàn xã hội trong việc đảm bảo thực thi quyền của trẻ em
Một xã hội văn minh, tiến bộ cần phải có chính sách và kế hoạch cụ thể, tập hợp mọi nguồn lực, tìm mọi phương thức đa dạng để bảo vệ và chăm sóc trẻ em một cách hiệu quả, nhất là những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu phải trải qua những năm tháng dài của chiến tranh nên đời sống của nhân dân còn chưa cao, còn có nhiều hộ gia đình nghèo khổ, gia đình đơn thân, gia đình li tán nên số trẻ em phải lang thang kiếm sống, trẻ lao động sớm chiếm tỷ
lệ ngày càng cao Vì vậy việc bảo vệ trẻ em đã trở thành công việc hết sức cần thiết
và từ lâu đã được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội Cho đến nay, Việt Nam đã có hệ thống chính sách, pháp luật về vấn đề bảo vệ trẻ em nhằm xã hội hóa công tác này Tuy nhiên, luật pháp về bảo vệ trẻ em nhất là những quy định pháp luật về lĩnh vực lao động trẻ em (LĐTE) còn nhiều bất cập, việc thực thi pháp luật còn yếu, việc tổ chức kiểm tra, giám sát, xử lý các vi phạm vẫn chưa được tiến hành một cách thường xuyên, nghiêm túc Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách pháp luật về vấn đề bảo vệ trẻ em nói chung, lĩnh vực LĐTE nói riêng để điều chỉnh, sửa đổi chính sách nhằm đáp ứng với tình hình thực tiễn đất nước và nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo vệ trẻ em ngày càng trở nên cần thiết
LĐTE là một vấn đề rất phức tạp, do đó đây là vấn đề được quan tâm của các quốc gia trên thế giới Ở nước ta, việc nghiên cứu chính sách bảo vệ trẻ em mới được đặt ra nên chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề LĐTE mà chỉ có ở một số đề tài khoa học nghiên cứu về quyền trẻ em, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… Vì thế, trước yêu cầu cấp thiết của công tác hoạch định chính
sách, xây dựng pháp luật về vấn đề LĐTE, tôi chọn đề tài “Các công ước quốc tế về
LĐTE và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” - một vấn đề có ý nghĩa quan trọng
trong chính sách bảo vệ trẻ em của nước ta để nghiên cứu với mong muốn góp phần
Trang 10làm sáng tỏ về lý luận và thực tiễn chính sách bảo vệ trẻ em nói chung, chính sách đối với LĐTE nói riêng làm đề tài luận văn thạc sỹ luật học
2 Mục đích, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu:
Luận văn được nghiên cứu với mục đích làm sáng tỏ:
- Những vấn đề lý luận cơ bản về trẻ em và LĐTE
- Làm sáng tỏ nội dung cơ bản của các công ước quốc tế về LĐTE, đồng thời phân tích những thuận lợi, khó khăn đối với Việt Nam khi thực thi các công ước quốc tế này
- Đánh giá thực trạng LĐTE, pháp luật LĐTE ở Việt Nam từ khi phê chuẩn công ước quốc tế về LĐTE từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về LĐTE trong điều kiện hội nhập quốc tế
Phạm vi nghiên cứu:
Đây là một đề tài tương đối rộng nên không thể nghiên cứu được tất cả các vấn đề liên quan đến LĐTE Do vậy, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hai công ước quốc tế về LĐTE đó là: Công ước số 138 của tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc và Công ước số 182 của tổ chức lao động quốc tế về nghiêm cấm
và hành động khẩn cấp xoá bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất Khi đánh giá thực trạng LĐTE, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu tình hình LĐTE từ năm 2000 đến nay ở một số thành phố lớn là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh … là những địa phương thu hút nhiều LĐTE Đồng thời, khi phân tích về LĐTE, luận văn chỉ phân tích về LĐTE mà không đề cập đến vấn đề trẻ em tham gia làm việc
3 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước đây, đã có một số công trình nghiên cứu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em (nay là Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội), công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về LĐTE như, công trình nghiên cứu của Thanh tra Bộ Lao động -
Trang 11Thương binh và Xã hội về “Các hình thức LĐTE tồi tệ nhất”, công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Ngọc Bình về “Vấn đề LĐTE”, công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Loan về “Thực trạng LĐTE trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, công trình nghiên cứu của tác giả Trần Văn Thắng về “Quyền trẻ em” Tuy nhiên, đây chỉ là những nghiên cứu mang tính chất chuyên đề, hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi một địa phương, hoặc nghiên cứu ở tầm vi mô, chưa nghiên cứu một cách có hệ thống toàn
bộ thực trạng LĐTE, pháp luật LĐTE, chưa đưa ra các giải pháp mang tính khả thi, phù hợp nhằm ngăn chặn việc sử dụng LĐTE… Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về vấn đề LĐTE từ đó đề xuất những kiến nghị để bảo vệ quyền trẻ em nói chung, quyền trẻ em tham gia lao động nói riêng là rất cần thiết
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh nhằm làm sáng tỏ các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về LĐTE, có đối chiếu, so sánh với quy định của pháp luật Việt nam để tìm ra điểm tương đồng
và điềm khác biệt của pháp luật Việt Nam so với pháp luật của một số quốc gia trong lĩnh vực này
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương: Chương 1 - Một số vấn đề chung về LĐTE và các công ước quốc tế về
LĐTE
Chương 2 - Thực trạng vấn đề LĐTE ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra đối
với Việt Nam khi tham gia các công ước quốc tế về LĐTE trong điều kiện hội nhập quốc tế
Chương 3 - Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về LĐTE trong
điều kiện hội nhập quốc tế
Trang 12Chương 1 - MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM VÀ CÁC
CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM 1.1 Khái niệm trẻ em, LĐTE và pháp luật về trẻ em
1.1.1 Trẻ em
Trong khoa học, trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể Trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội Con người sáng tạo ra lịch
sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, dân tộc đều tùy thuộc vào việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em
Trong xã hội học, xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn Điều này thể hiện ở chỗ trẻ em được xã hội quan tâm tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển thành người lớn Trẻ em là người chưa đạt tới sự trưởng thành về thể chất cũng như về tinh thần để được coi là người lớn
Trong tâm lý học, khái niệm "Trẻ em" được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì
Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo “độ tuổi” Điều đó có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định Độ tuổi trẻ em được xác định tùy theo mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa - xã hội cụ thể Các tổ chức của Liên hợp quốc, như Quỹ dân số (UNFPA), tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi Điều 1,
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 xác định “ Trong phạm vi của Công
ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Điều 2 Công ước số 182 của Tổ
chức lao động quốc tế ban hành năm 1999 (Việt Nam gia nhập ngày 19/12/2000)
Trang 13cũng quy định “Trong Công ước này, thuật ngữ „trẻ em” sẽ áp dụng cho tất cả
những người dưới 18 tuổi”.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, hầu như chưa có một định nghĩa nào về trẻ em cũng như về sự điều chỉnh pháp luật đối với trẻ em mà chỉ có một số ngành luật nhắc đến các khái niệm trẻ em, người chưa thành niên (NCTN) và các quy định này không thống nhất giữa tất cả các ngành luật Theo quy định tại Điều l, Luật Bảo
vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004): “Trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi” Còn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác
định tuổi nuôi con nuôi là từ 15 tuổi trở xuống (Điều 34) Trong khi đó, Bộ luật hình sự năm 1999 lại quy định người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14
tuổi đến dưới 18 tuổi Và Bộ luật lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002,
2006, 2007) lại quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Điều 119) còn khái niệm trẻ em được hiểu là người chưa đủ 15 tuổi (Điều 120) Bên cạnh đó, Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2008 lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hành chính “là người từ đủ 14 tuổi trở lên có thể bị xử phạt vi
phạm hành chính” Từ đó, có thể hiểu khái niệm trẻ em bao gồm cả NCTN hay
cũng có thể hiểu rằng NCTN cũng bao gồm cả trẻ em và đều 1à những người ở độ tuổi dưới thành niên (dưới 18 tuổi)
Như vậy, trẻ em trước hết là một con người được hưởng mọi quyền và mọi
tự do đã được nêu ra trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà không bị bất cứ một sự phân biệt đối xử nào vì chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản, dòng dõi hoặc mối tương quan khác Nhưng trẻ em lại là người chưa trưởng thành nên có quyền được chăm sóc sự sống, tồn tại, phát triển, được bảo vệ và được bày tỏ ý kiến
Trang 14- Về độ tuổi: trẻ em là nguời dưới 18 tuổi;
- Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc có ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ em
Với cách lập luận như trên, ILO cho rằng “Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ
tình trạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập
và vui chơi”, [33, 40]
Ở nước ta, tính đến thời điểm này chưa có khái niệm thống nhất về LĐTE Bộ luật lao động của Việt Nam quy định người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên và lao động dưới 18 tuổi là lao động chưa thành niên mà không chỉ rõ như thế nào là LĐTE Hơn nữa khái niệm người chưa thành niên được sử dụng khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như: Bộ luật Dân sự (Điều 20), Bộ luật Hình sự (Điều 68) đều quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Điều
6, Bộ luật Lao động quy định “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động” Điều 119, Bộ luật Lao động quy định “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Điều 120,
Bộ luật Lao động quy định “Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc, trừ một
số nghề và công việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định”
Như vậy, nếu căn cứ vào các quy định của Bộ luật lao động và Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em thì có thể hiểu rằng, lao động trẻ em là những người dưới
16 tuổi phải tham gia hoạt động để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình
Theo đó, khái niệm lao động trẻ em ở Việt Nam là thuật ngữ chỉ tình trạng
trẻ em (những người dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều
Trang 15hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi
Trong phạm vi luận văn, tác giả sử dụng khái niệm lao động trẻ em với nội hàm và ngoại diên nêu trên
Khi nghiờn cứu về LĐTE cần phõn biệt giữa LĐTE với trẻ em tham gia làm việc Đây là khái niệm đề cập đến những trẻ em làm các công việc có thể chấp nhận được, bao gồm các hoạt động không làm hại tới và có thể góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ, những công việc này mở ra những cơ hội trong cuộc sống
và tạo cho trẻ những kinh nghiệm mới mẻ
Thực tế cho thấy, hoạt động lao động (không mang tính bóc lột) đóng vai trò quan trọng đối với chính sự phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của trẻ Giáo dục học, tâm lý học và các khoa học có liên quan đều chỉ ra rằng lao động được tổ chức một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi là con đường, là cơ chế
và là nhân tố phát triển thể chất, năng lực tư duy và đời sống tình cảm của trẻ em Chủ tịch Hồ chí Minh đã từng nhắn nhủ “tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”
Trẻ em tham gia làm việc có sự khác biệt so với lao động trẻ em như sau:
Trẻ em tham gia làm việc (child work) Lao động trẻ em (child labour)
Công việc phù hợp với độ tuổi, khả năng,
thể chất và trí tuệ của trẻ em
Công việc quá sức, quá nặng nhọc đối với tuổi
Thời gian làm việc hạn chế, không cản trở
trẻ em đến trường, vui chơi và nghỉ ngơi
Làm việc nhiều giờ, trẻ em bị hạn chế hoặc không có thời gian đi học, vui chơi và nghỉ ngơi
Nơi làm việc an toàn và có môi trường bạn
bè thân thiết, không độc hại tới sức khoẻ va
Nơi làm việc độc hại đến sức khoẻ và cuộc sống của trẻ em
Trang 16cuộc sống của trẻ em
Môi trường làm việc góp phần nuôi dưỡng
và phát triển thể chất, tình cảm, trí tuệ và
tinh thần của trẻ em
Trẻ em dễ bị lạm dụng về tinh thần, thể chất và tình dục
Trẻ em làm việc tự nguyện để tham gia
trách nhiệm trong việc duy trì công việc và
phát triển sản xuất của gia đình, tăng thu
Công việc của trẻ là một phương tiện rèn
luyện sức khoẻ, phẩm chất đạo đức cho trẻ
Công việc của trẻ có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ và sự phát triển của trẻ
Như vậy, so với trẻ em tham gia làm việc và LĐTE thì một trong những điểm khác biệt nhất của hai hình thức lao động này là LĐTE phải làm những công việc nặng nhọc, điều kiện độc hại, nguy hiểm
Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông thì “nặng nhọc là vất vả, phải bỏ nhiều công sức”, “độc hại là dễ gây hại cho sức khỏe và tinh thần”; “nguy hiểm là có thể gây tai nạn lớn, khó lòng vượt qua hay khắc phục hậu quả” [35]
Từ đó, có thể hiểu:
Lao động nặng nhọc: Là việc người lao động phải thực hiện các công việc
vất vả, phải bỏ nhiều công sức
Lao động trong điều kiện nguy hiểm: Là việc người lao động phải thực hiện
những công việc dễ gây ra tai nạn, bệnh nghề nghiệp cho bản thân hoặc cho những người xung quanh
Trang 17Lao động trong điều kiện độc hại: Là việc người lao động phải tiếp xúc với
các chất, yếu tố dễ gây hại cho sức khỏe hoặc tinh thần trong quá trình thực hiện công việc của mình
Tại Chương IX, An toàn lao động, vệ sinh lao động (Điều 100, 101, 104) và tại các Điều 113, 121, 127 của Bộ luật Lao động có đề cập đến công việc nặng nhọc, điều kiện độc hại, nguy hiểm Tuy nhiên, trong Bộ luật Lao động cũng như trong các văn bản hướng dẫn thi hành do Chính phủ và Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội hướng dẫn thi hành chưa đưa ra khái niệm như thế nào là công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm mà chỉ có các quy định mang tính chất liệt kê các công việc được coi là nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm: Quyết định số 1453/LĐTBXH-QĐ ngày 13/10/1995 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; Quyết định số 915/LĐTBXH-QĐ ngày 30/7/1996, Quyết định số 1629/LĐTBXH-QĐ ngày 26/12/1996 , Quyết định số 190/1999/QĐ-BLĐTBXH ngày 03/3/1999, Quyết định số 1580/2000/QĐ-BLĐTBXH ngày 26/12/2000, Quyết định số 1152/2003/QĐ-BLĐTBXH ngày 18/9/2003 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
1.1.3 Pháp luật về trẻ em
Những quy định của pháp luật về trẻ em được ghi nhận trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật chưa có khái niệm thống nhất về sự điều chỉnh pháp luật đối với trẻ em Xét về một cách phổ
quát nhất, sự điều chỉnh pháp luật về trẻ em là một bộ phận của sự điều chỉnh pháp
luật nói chung, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến trẻ em
Sự điều chỉnh pháp luật xác định địa vị pháp lý của trẻ em Địa vị pháp lý này được hiểu là tổng thể những quyền và nghĩa vụ pháp lý của trẻ em cùng với những đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này
Trang 18Hệ thống pháp luật Việt Nam bao gồm nhiều ngành luật, có đối tượng điều chỉnh là các nhóm quan hệ xã hội thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Trẻ em với tính cách là một chủ thể pháp luật, các quan hệ xã hội về trẻ em cũng là một trong những đối tượng điều chỉnh của các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật nước ta
Pháp luật về trẻ em có phạm vi điều chỉnh rộng, liên quan đến nhiều nhóm quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau Các ngành luật thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam: Luật Hiến pháp, Luật Quốc tịch, Luật Hành chính, Luật Hình
sự, Luật Tố tụng Hình sự, Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình đều bảo vệ quyền trẻ em theo một đặc thù riêng của ngành luật mình Bất cứ một ngành luật nào cũng coi trẻ em là một chủ thể đặc biệt và có những quy định riêng điều chỉnh về LĐTE Điều này xuất phát trước tiên từ những đặc điểm riêng
về độ tuổi cũng như sự phát triển chưa đầy đủ về tâm sinh lý Sau nữa, xuất phát từ những quan niệm, tư tưởng nhân đạo, dân chủ, thấm nhuần nét tinh hoa của văn hóa, đạo lý truyền thống của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta Tất cả các quy định pháp luật đều hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, đảm bảo cho trẻ em phát triển bình thường trong sự đầy đủ về tình cảm và vật chất, trong một môi trường trong sạch, lành mạnh
Trên bình diện quốc tế, quyền trẻ em được quy định trong các điều ước quốc
tế, đặc biệt là trong các công ước quốc tế về LĐTE Công ước quốc tế là “văn bản
pháp lý quốc tế, do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quy phạm gọi là quy phạm điều ước” [32, 27]
Theo đó, có thể hiểu, công ước quốc tế về LĐTE là văn bản pháp lý quốc tế,
do các quốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên, nhằm thỏa thuận về việc thực hiện các chính sách đối với vấn đề LĐTE, đảm bảo các quyền của trẻ em tại nơi làm việc và các chuẩn mực có liên quan
Các công ước quốc tế quy định về lĩnh vực LĐTE, ngoài công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em, văn bản quan trọng khác trực tiếp điều chỉnh quan hệ LĐTE là các Công ước của Tổ chức lao động quốc tế như: Công ước số 138 về
Trang 19Tuổi tối thiểu làm công và Công ước số 182 về Cấm và hành động ngay lập tức để hạn chế và xóa bỏ hình thức LĐTE tồi tệ nhất
1.2 Những vấn đề chung về LĐTE
1.2.1 Các hình thức của LĐTE
Trong thực tế, có thể chia LĐTE thành bảy hình thức chính, không hình thức nào trong số đó là duy nhất cho bất cứ khu vực nào trên thế giới Đó là việc đi ở, lao động cưỡng bức và lao động cầm cố, bóc lột tình dục vì mục đích thương mại, lao động trong công nghiệp đồn điền, lao động trên đường phố, làm việc nhà, và công việc của trẻ em gái
và tình dục khi còn quá nhỏ
Trẻ em đi ở có thể phải chịu đựng tổn hại nặng nề về mặt phát triển thể chất
và xã hội Các em thường bị tách khỏi xã hội, bị cấm nghỉ ngơi và vui chơi Tuổi thơ của những trẻ em này đã bị tước đoạt, không được như trẻ em khác
* Lao động cưỡng bức và lao động cầm cố
Nhiều hình thức LĐTE trên thế giới là “cưỡng bức” theo nghĩa trẻ em được dạy phải chấp nhận những hoàn cảnh của cuộc sống mà không được chống lại Nhưng tình trạng của một số trẻ em vượt quá xa việc chấp nhận các hoàn cảnh khốn khó, chúng rơi vào tình trạng nô lệ thực sự Ở Nam Á, “cầm cố” LĐTE gần như là
Trang 20quen thuộc Ở đây trẻ em thường chỉ tám hay chín tuổi, bị cha mẹ cầm cố cho chủ nhà máy hay các đại lý của họ thay cho những món nợ rất nhỏ
Dạng nô lệ trẻ em thực tế này thường chỉ gắn liền với Ấn Độ, Nêpan và Pakistan Nhưng nó cũng tồn tại ở cả những nơi khác trên thế giới Để xóa bỏ LĐTE cưỡng bức, xóa bỏ tình trạng những người trục lợi một cách vô đạo đức từ thực tế này, các Chính phủ cần tăng những nỗ lực trong các biện pháp hành chính của mình
* Bóc lột tình dục vì mục đích thương mại
Có nhiều mối liên hệ trực tiếp giữa việc bóc lột tình dục trẻ em vì mục đích thương mại và các hình thức lao động mang tính bóc lột khác Những người cho vay nặng lãi ở nông thôn thường hoạt động như những kẻ dắt trẻ em gái cho các nhà thổ ở thành thị, khi các gia đình vay tiền để cho con gái họ phải làm việc để trả nợ
Dù xảy ra như thế nào, hầu như tất cả những trẻ em như vậy đều bị những người mình tin cậy phản bội và kết cục có thể bị bán đi xa và qua biên giới Việc cứu trợ
và hồi phục tỏ ra phức tạp cho trẻ em Các em thường bị buộc tội bởi chính hệ thống pháp luật đáng lẽ phải bảo vệ mình Ngay cả khi được trả về nhà, thường là ở dạng bị trục xuất như những kẻ nhập cư bất hợp pháp, các em có thể gặp phải sự lảng tránh và chối bỏ của gia đình và cộng đồng và thường ít có khả năng chọn lựa ngoài việc trở lại nhà chứa hay ra đường phố
* Công việc trong công nghiệp và đồn điền
Ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có tình trạng trẻ em phải lao động trong điều kiện nguy hiểm Các ngành công nghiệp có trẻ em tham gia lao động rất đa dạng, từ ngành công nghiệp chế biến da ở khu vực Naples của Ý đến ngành công nghiệp sản xuất gạch ở Côlômbia và Pêru, ở đó người ta có thể thâu nạp cả trẻ em chỉ mới 8 tuổi
Đôi khi trẻ em được thuê mướn trong những công việc khai thác mỏ có thể được coi như nguy hiểm cho người lớn ở thế giới công nghiệp - ví dụ trong các mỏ khai thác kim cương và vàng ở Bờ biển Ngà và Nam Phi, và trong các mỏ than ở
Trang 21Côlômbia Ở đó trẻ em phải làm việc với trang thiết bị an toàn ở mức tối thiểu nhất
và thường xuyên phải hít thở bụi than
Số lượng trẻ em bị bóc lột trong các đồn điền nông nghiệp trên toàn thế giới
có thể tương đương với số trẻ tham gia vào ngành công nghiệp - và những mối nguy hiểm liên quan với công việc của chúng cũng không kém phần khủng khiếp
* Công việc trên đường phố
Tương phản với trẻ em đi ở, một số trẻ em làm việc ở những chỗ có thể dễ thấy nhất trên đường phố của các nước đang phát triển Trẻ em có mặt ở khắp mọi nơi: chào hàng trong chợ, đi qua đi lại trong làn giao thông dày đặc, rao hàng trên
xe bus và trong nhà ga, trước cửa khách sạn và các trung tâm thương mại Các em
có mặt trên đường phố với hàng triệu người lớn, nhiều người coi chúng là những kẻ quấy rầy nếu không phải là kẻ phạm tội hình sự nguy hiểm có tầm vóc nhỏ bé
Nhưng cũng nhiều trẻ em phải vật lộn với những công việc hợp pháp trên đường phố vì sự sống của bản thân và của gia đình Trẻ em làm việc trên đường phố thường xuất thân từ các khu dân cư ổ chuột và những ngôi nhà chiếm dụng, nơi sự nghèo nàn và hoàn cảnh gia đình không ổn định, nơi trường học quá chật chội và thiếu thốn, và nơi không hề tồn tại những chỗ chơi an toàn
Một điều không tránh khỏi là những trẻ em này trở nên có xu hướng thiên về tham gia vào các công việc phi pháp như ăn cắp vặt Nhiều em bị lôi kéo vào thế giới bất chính và nguy hiểm của các băng đảng tội phạm bảo kê cho việc móc túi,
ăn trộm, buôn lậu, ma tuý và mại dâm
* Làm việc tại nhà
Trong số tất cả những công việc mà trẻ em làm, phổ biến nhất là lao động nông nghiệp hay làm việc nhà trong khuôn khổ của bản thân gia đình của trẻ Đa số gia đình ở mọi nơi trên thế giới hy vọng con cái họ làm giúp việc nhà, hoặc là nấu
ăn, lấy nước hay đi mua bán lặt vặt, chăm gia súc, chăm sóc em nhỏ hay làm những việc nặng hơn ngoài đồng Hình thức công việc này có thể mang lại lợi ích cho trẻ
em Trẻ em học tập được từ mức độ tham gia hợp lý vào việc nhà, vào các hoạt
Trang 22động phát triển lương thực cho sinh kế và tạo thu nhập Chúng có thể cảm nhận được giá trị của mình qua những việc làm trong khuôn khổ gia đình
Nhưng không phải việc này luôn mang lại lợi ích Ngược lại, việc nhà có thể đòi hỏi ở trẻ em quá nhiều, buộc các em phải làm việc quá nhiều giờ làm cho chúng không đi học được và có thể phải trả giá quá lớn cho sự phát triển của cơ thể Những công việc như vậy có thể ngăn cản không cho trẻ em thực hiện các quyền của mình và phát triển đến mức tối đa
* Công việc của trẻ em gái
Đa số những nguy hiểm mà trẻ em lao động gặp phải thì trẻ em gái cũng gặp phải Tuy nhiên trẻ em gái còn gặp phải những vấn đề của riêng chúng nữa: từ áp lực tình dục của các ông chủ đến việc không được đi học Khoảng cách về giới tính trở thành một cái vòng luẩn quẩn cho các cô gái ở mọi nơi trong thế giới đang phát triển Không có khả năng đi học vì địa vị xã hội thấp hay vì trách nhiệm đối với gia đình, không có được sức mạnh bổ sung và những chân trời rộng lớn hơn mà giáo dục có thể mang lại Nếu họ đi tìm việc làm ở ngoài nhà, cơ hội của họ bị hạn chế vào những công việc đơn giản nhất Địa vị thấp kém của họ được củng cố và chuyển tiếp cho thế hệ tiếp theo Điều này thấy được rõ ràng là các cô gái càng được học lên cao, họ càng có ít con Gia đình nghèo càng có nhiều con, sẽ càng có nhiều trẻ em lao động
1.2.2 Nguyên nhân của tình trạng LĐTE
Vấn đề LĐTE hiện nay đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội phổ biến, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân các nhà khoa học Đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm ngăn chặn tiến tới xoá bỏ hiện tượng tiêu cực này Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra hiện tượng LĐTE thường phát sinh từ những yếu tố chủ yếu sau:
* Yếu tố kinh tế gắn với các gia đình của trẻ em
Trang 23Trẻ em phải lao động sớm là một hiện thực phổ biến nếu gia đình rơi vào hoàn cảnh đói nghèo Vì hoàn cảnh đói nghèo buộc các gia đình phải ưu tiên cho việc kiếm sống, dẫn tới mọi thành viên trong gia đình, gồm cả trẻ em, đều bị huy động phải làm việc, phải lao động
* Yếu tố kinh tế gắn với lợi ích của người sử dụng lao động
Xuất phát từ mục tiêu lợi nhuận, ở một số quốc gia trên thế giới, người sử dụng lao động đã triệt để tận dụng những lợi ích kinh tế trực tiếp hoặc gián tiếp từ việc sử dụng LĐTE Lợi ích kinh tế trực tiếp thể hiện ở việc họ có thể trả cho trẻ em những khoản tiền công rẻ mạt, mặc dù công việc các em phải làm có thể ngang bằng với công việc của người lớn Mặt khác, thông thường, LĐTE dễ "điều khiển" hơn lao động đã thành niên, nên việc bắt các em phải làm thêm giờ mà không trả thêm tiền công cũng thường được các “chủ doanh nghiệp” này áp dụng Lợi ích kinh tế gián tiếp thể hiện ở việc trẻ em thường không nhận biết và hiểu rõ các quyền
và lợi ích của mình nên các chủ sử dụng LĐTE thường không phải lo đối phó với những yêu cầu đòi tăng lương hoặc cải thiện điều kiện làm việc
* Yếu tố kinh tế xã hội
Tình trạng kém phát triển về kinh tế xã hội của một quốc gia thường đi liền với đói nghèo, dẫn đến số đông người dân trong quốc gia đó có mức sống thấp kém, trong khi các chính sách an sinh xã hội của quốc gia không đủ khả năng đáp ứng nhằm cải thiện đời sống của người dân, và hệ quả tất yếu là LĐTE phát sinh Theo một nghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), ở các quốc gia có thu nhập quốc dân tính trên đầu người trong một năm (GDP) dưới 500 USD thì tỷ lệ LĐTE chiếm từ
30 đến 60% tổng số trẻ em trong xã hội; ở các quốc gia có GDP từ 501 đến 1.000 USD thì tỷ lệ đó là từ 10 đến 30% [33, 8] Mặt khác, sự chuyển đổi cơ chế kinh tế ở một số quốc gia thường dẫn đến việc giảm mức trợ cấp của nhà nước với các dịch
vụ xã hội, từ đó buộc trẻ em phải tham gia các hoạt động kinh tế để đáp ứng các nhu cầu của bản thân và của gia đình, dẫn đến tỷ lệ LĐTE gia tăng
Trang 24 Thứ hai, là các yếu tố về xã hội - văn hoá
* Quan niệm lạc hậu về vấn đề LĐTE
Từ trước đến nay, đã và đang tồn tại quan niệm cho rằng, trẻ em cần phải tham gia làm việc để phát triển về mọi mặt, hoặc để kế tục nghề gia truyền Vì vậy, nhiều gia đình hoặc khuyến khích hoặc bắt buộc trẻ em phải tham gia lao động, thậm chí phải làm cả những công việc nặng nhọc, độc hại mà do nhận thức hạn chế,
họ không biết được điều đó
* Định kiến giới
Ở một số quốc gia, dân tộc còn tư tưởng phân biệt đối xử về giới như trọng
nam, khinh nữ; đề cao địa vị của người đàn ông, dẫn đến hàng triệu trẻ em gái trên thế giới phải tham gia lao động từ sớm, với gánh nặng công việc khiến các em không còn thời gian học tập, vui chơi, giải trí Ở một số quốc gia, tình trạng thất học
và gánh nặng kinh tế trong gia đình đã khiến các trẻ em gái làm các công việc nặng nhọc, độc hại với mức tiền lương rẻ mạt trong các nhà máy, xí nghiệp, công xưởng; hoặc tồi tệ hơn, bị buộc phải tham gia "nền công nghiệp tình dục"
* Yếu tố việc làm
Yếu tố xã hội này gắn liền với yếu tố kinh tế và tác động đến vấn đề LĐTE Một là: tình trạng thiếu việc làm dẫn đến nạn thất nghiệp, khi người cha, người mẹ hoặc những thành viên lớn tuổi trong gia đình bị thất nghiệp thì lẽ tất nhiên là nguồn thu nhập trong gia đình bị giảm sút, thậm chí mất hẳn, từ đó buộc trẻ em phải tham gia vào các hoạt động kinh tế để tự kiếm sống, hoặc nhiều trẻ em còn phải gánh trách nhiệm trụ cột về kinh tế thay cho bố mẹ mình Hai là: khi một nền kinh
tế phát triển quá "nóng" (thừa việc làm), có thể dẫn tới tình trạng thiếu lao động đã thành niên, dẫn đến người sử dụng lao động tuyển mộ cả LĐTE, hoặc khi thiếu lao
động, buộc ngươì sử dụng lao động phải trả tiền lương ở mức cao (điều này họ
không mong muốn) cho những lao động đã thành niên để giữ, thu hút lao động, dẫn
đễn ngươì sử dụng lao động tìm cách thuê/nhập lậu nhân công nước ngoài hoặc thuê mướn LĐTE để giảm mức chi trả tiền lương hoặc các chi phí khác kèm theo
Trang 25* Sự yếu kém của nền giáo dục
Một nền giáo dục yếu kém tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề LĐTE Khi chi phí cho học tập trở thành gánh nặng cho gia đình thì trẻ em có thể bị buộc phải bỏ học để tham gia các hoạt động kinh tế, hoặc phải kết hợp giữa việc học tập với các hoạt động kinh tế Tình trạng bi đát về cơ sở vật chất của ngành giáo dục (trường lớp thiếu, dột nát hoặc quá xa khu dân sinh .) cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc trẻ em thất học hay bỏ học sớm để làm việc Theo nhiều nghiên cứu, việc trẻ em thất học hay bỏ học sớm vì bất kỳ lý do nào cũng thường dẫn tới tình trạng các em phải tham gia lao động sớm
* Tác động của hệ thống an sinh xã hội
Ở các quốc gia có hệ thống bảo trợ xã hội rộng khắp và hiệu quả là cơ sở góp phần ổn định cuộc sống cho nhiều gia đình, từ đó bảo đảm cho con cái họ được học tập, không phải tham gia các hoạt động kinh tế quá sớm Ngược lại, ở các quốc gia
có hệ thống bảo trợ xã hội kém hiệu quả thì khi các gia đình gặp khó khăn về kinh
tế sẽ buộc họ phải để con cái lao động sớm, tự kiếm sống hoặc giúp đỡ gia đình Tương tự, việc có một chế độ cứu trợ xã hội tốt sẽ giúp nhiều gia đình khắc phục những tai hoạ, rủi ro đột xuất mà họ gặp phải, từ đó hạn chế việc trẻ em trong các gia đình đó phải bỏ học để tham gia những hoạt động kinh tế, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong trường hợp xảy ra chiến tranh, thiên tai, bệnh dịch …
ở khu vực này trở thành một vấn đề xã hội bức xúc, bởi các cơ quan chấp pháp chưa
có biện pháp can thiệp Mặt khác, tuy đã có một hệ thống chính sách pháp luật đầy
đủ, phù hợp nhưng lại không được tổ chức thực hiện hay tổ chức thực hiện kém hiệu quả thì tình trạng LĐTE gia tăng vẫn có thể xảy ra
Trang 26Hậu quả của tình trạng trẻ em phải lao động sớm
Qua phân tích có thể thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng LĐTE, và
tình trạng trẻ em lao động sớm sẽ dẫn đến những hậu quả sau:
* Bệnh tật và sự kém phát triển về thể chất
Những mối nguy hại đe doạ trẻ em thay đổi tuỳ thuộc vào loại hình lao động
môi trường lao động và điều kiện lao động Tuy nhiên cũng có thể kể ra một số
nguy hại chung đe doạ phần lớn trẻ em như điều kiện vệ sinh kém, không có
phương tiện bảo hộ lao động hoặc có nhưng không đạt yêu cầu, không gian và thiết
bị lao động không phù hợp, máy móc và công cụ lao động cũ kỹ và hỏng hóc,
những căng thẳng, áp lực về thể lực về tinh thần đối với các em
Trẻ em làm việc trong những nghề nguy hiểm phải tiếp xúc với các loại hoá
chất độc hại, bụi, khói và khí độc, các tác nhân lý học và sinh học độc hại, các
ngưỡng giới hạn được phép tiếp xúc không được tuân thủ Một tỷ lệ rất lớn trẻ em
bị tổn thương do lao động Những chấn thương nghề nghiệp thường gặp là bị tai nạn
lao động, bị nhiễm trùng mắt, viêm da, rối loạn hệ hô hấp, cảm nhiệt, ngộ độc do sử
dụng hoá chất và thuốc trừ sâu…
Do phải làm những công việc nặng nhọc, quá sức dẫn đến các em dễ bị lao
lực, suy dinh dưỡng, chứng thiếu chất, thể lực phát triển không bình thường
Mặc dù là những nạn nhân của những tai nạn lao động, suy dinh dưỡng, bệnh
tật liên quan đến lao động nhưng trong phần lớn các trường hợp, những trẻ em này
không được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ một cách tương xứng
Những yếu tố nêu trên ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ, đến sự phát triển
về thể chất của các em
* Khủng hoảng về tinh thần, lệch lạc về nhân cách, kém phát triển về trí tuệ
Trang 27Một điều không thể phủ nhận là khi trẻ em tham gia lao động sớm thì các em
sẽ không còn thời gian dành cho học tập, vui chơi, giải trí; ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ xã hội tiên tiến để tiếp thu, nâng cao kỹ năng sống
Bên cạnh việc phải tham gia lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, thường xuyên các em phải đối mặt với sự đối xử bất công, bị phân biệt đối xử, bị xúc phạm
về thể chất, tinh thần và nhiều trường hợp các em bị lạm dụng về tình dục, thậm chí nhiều em còn là nạn nhân của ngành “công nghiệp tình dục” như đã nêu ở trên, trong khi các em còn non nớt về trí tuệ, hạn chế về kinh nghiệm sống, hạn chế về khả năng chống chọi thì những yếu tố nêu trên tác động dễ làm cho các em sa ngã, lao vào những tệ nạn xã hội, hoặc bị khủng hoảng về tinh thần, tha hoá về đạo đức, lối sống
Như vậy, LĐTE, ngoài hậu quả ảnh hưởng đến sức khoẻ và sự phát triển về thể chất, còn ảnh hưởng trầm trọng đến sự phát triển về tinh thần, trí tuệ và nhân cách của các em
Hai là, hậu quả đối với gia đình và xã hội
LĐTE không chỉ tác động tiêu cực đến bản thân các em như đã nêu ở trên mà còn gây ra những hậu quả bất lợi cả cho trước mắt và lâu dài đối với sự phát triển của mỗi gia đình và toàn xã hội
Nếu tình trạng này diễn ra phổ biến thì không chỉ là một sự thiệt thòi lớn với bản thân và gia đình các em mà còn là một nguy cơ đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia và của cả cộng đồng Các nhà nghiên cứu đã cảnh báo rằng, một quốc gia không ngăn chặn và xoá bỏ được tình trạng LĐTE sẽ không thể có được một lực lượng lao động khoẻ mạnh và lành nghề để có được một nền kinh tế
có lợi thế cạnh tranh
Đối với cộng đồng quốc tế, nếu không ngăn chặn và xoá bỏ được tình trạng LĐTE thì cũng sẽ lâm vào khủng hoảng thị trường lao động chất lượng cao, khi ấy chỉ còn những nhân lực lao động chân tay, lao động phổ thông, trong khi xu thế
Trang 28phát triển của kinh tế thế giới đòi hỏi lực lượng lao động có hàm lượng công nghệ cao, đây là đang là một nghịch lý cần sớm được giải quyết
Một vấn đề mà các doanh nghiệp (giới chủ) cũng cần phải quan tâm, đó là: trong “Những tiêu chuẩn lao động cơ bản” (Core labor standards, viết tắt là CLS)
hiện hành do ILO ban hành đã được toàn thế giới công nhận và có hiệu lực bắt buộc đối với các quốc gia thành viên thì một trong bốn tiêu chuẩn đó là “Xóa bỏ LĐTE
và đặt ưu tiên hàng đầu là loại trừ những hình thức lao động tồi tệ nhất”, vì vậy việc các “doanh nghiệp” có sử dụng LĐTE vào sản xuất hàng hoá xuất khẩu là hành động mà cộng đồng thế giới không thể chấp nhận Những sản phẩm, hàng hoá của các “doanh nghiệp” này sẽ bị thị trường thế giới tẩy chay, và vì thế, nguy cơ dẫn đến sự phá sản của “doanh nghiệp”, của cả một ngành công nghiệp…là không thể
tránh khỏi (thực tế này đã diễn ra với ngành công nghiệp dệt may của Băng-la-đét,
nghề khâu bóng đá xuất khẩu của Pa-ki-xtan…)
Một vấn đề mà không thể không tính đến đó là: do các em bị khủng hoảng về tinh thần, lệch lạc về nhân cách như đã nêu trên đây, có thể làm cho các em lao vào các tệ nạn xã hội, nảy sinh tư tưởng chống đối xã hội và từ đó dẫn đến con đường phạm tội là không bao xa Đây quả là là một thách thức, một gánh nặng cho xã hội
1.3 Các công ƣớc quốc tế về LĐTE
1.3.1 Vai trò và hoạt động của tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong việc xây dựng các công ƣớc quốc tế về LĐTE
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) được thành lập năm 1919 Lúc mới thành lập, ILO là tổ chức tự trị liên kết với Hội Quốc Liên Năm 1946, ILO ký Hiệp định quy định mối quan hệ với Liên hợp quốc và trở thành tổ chức chuyên môn đầu tiên của Liên hợp quốc Năm 1920, ILO đóng Trụ sở tại Giơnevơ, Thuỵ Sỹ
Khi thành lập năm 1919, ILO chỉ có 45 nước tham gia Đến nay, ILO đã có
179 quốc gia thành viên, trong đó Cộng hòa Montenegro là thành viên trẻ nhất vừa gia nhập ILO ngày 14/ 7/2006 Nguồn kinh phí cho các hoạt động của ILO gồm nguồn ngân sách thường xuyên do các nước thành viên ILO đóng góp niên liễm
Trang 29theo tỷ lệ của Liên hợp quốc, và các nguồn tài chính do các nhà tài trợ song phương
và đa phương hỗ trợ
ILO được thành lập nhằm mục tiêu thúc đẩy công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước và Nghị quyết trong đó qui định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động (ví dụ quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv…) Ngay từ năm 1886, Đại hội Công nhân Quốc tế đã kêu gọi tiến hành một cuộc vận động quốc tế nhằm chấm dứt tình trạng LĐTE và yêu cầu các chính phủ trên thế giới phải quy định thành luật về độ tuổi lao động tối thiểu Mặc dù vậy, chỉ đến đầu thế kỷ XX mới có các văn kiện pháp luật quốc tế đầu tiên liên quan đến vấn đề LĐTE, chủ yếu do ILO ban hành
Kể từ khi thành lập(1919), tính đến tháng 2 năm 2007, ILO đã thông qua 187 Công ước và 197 Khuyến nghị, trong đó có 08 Công ước được coi là các Công ước
cơ bản, điều chỉnh bốn nhóm quyền và nghĩa vụ cơ bản tại nơi làm việc, đó là: Loại
bỏ mọi hình thức lao động cưỡng ép hoặc bắt buộc; xóa bỏ tình trạng LĐTE và đặt
ưu tiên hàng đầu là loại trừ những hình thức lao động tồi tệ nhất; tạo cơ hội công bằng và chống phân biệt đối xử về việc làm; tự do liên kết và quyền được thương thuyết tập thể
Cũng trong số các Công ước và khuyến nghị do ILO ban hành, có khoảng 30 văn kiện đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và lạm dụng sức lao động, trong đó có hai Công ước và một Khuyến nghị cơ bản trực tiếp đề cập đến vấn đề ngăn ngừa, cấm và xóa bỏ LĐTE và loại trừ những hình thức lao động tồi tệ nhất, đó là Công ước về Tuổi tối thiểu, 1973 (được gọi là Công ước 138); Công ước
về cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất,
1999 (được gọi là Công ước 182) và Khuyến nghị về loại bỏ những hình thức
LĐTE tồi tệ nhất, 1999 (được gọi là Khuyến nghị 190)
Trang 30Việt Nam gia nhập ILO từ năm 1980 Trải qua gần 30 năm hợp tác, mối quan
hệ Việt Nam - ILO ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực Trong đó, có một số mốc thời gian đáng chú ý như: năm 1982, Việt Nam rút khỏi ILO vì một số
lý do kỹ thuật; năm 1993, Việt Nam tái gia nhập ILO; năm 2000, Việt Nam phê chuẩn Công ước số 182 “Cấm và hành động ngay lập tức loại bỏ hình thức LĐTE tồi tệ nhất” (Quyết định số 169/QĐ/CTN ngày17/11/2000);năm 2002, Việt Nam và ILO đã ký Hiệp định thiết lập Văn phòng ILO tại Hà Nội (04/02/2002); năm 2003, Việt Nam gia nhập Công ước số 138 qui định tuổi tối thiểu được đi làm việc (09/06/2003); năm 2006, Chính phủ VN chấp thuận Văn kiện sửa đổi Điều lệ ILO bãi bỏ các Công ước đã lỗi thời (15/03/2006) và ký Văn kiện Khuôn khổ hợp tác quốc gia VN-ILO giai đoạn 2006-2010 về xúc tiến việc làm bền vững (7/2006) Hiện nay Việt Nam và ILO đang xây dựng Dự án tạo việc làm cho Thanh niên Việt Nam đến năm 2010 Mọi hoạt động của ILO tại Việt Nam luôn gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ và phù hợp với bốn mục tiêu chiến lược về chương trình việc làm của ILO Các hỗ trợ của ILO tập trung giúp Chính phủ hoạch định chiến lược và chính sách về lao động, việc làm nhằm giúp cải thiện điều kiện sống và điều kiện làm việc của người lao động Trong thời gian tới ILO sẽ tập trung
hỗ trợ cho công tác ngăn chặn và xoá bỏ tình trạng LĐTE, tăng cường bình đẳng nam nữ, phát triển các doanh nghiệp, bảo trợ xã hội, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, thúc đẩy các mối quan hệ lao động và đối thoại xã hội
1.3.2 Sự cần thiết nghiên cứu các công ƣớc quốc tế về LĐTE
Các vấn đề về bảo vệ trẻ em ngày càng được quan tâm tại Việt Nam Trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt ở Việt Nam có trẻ em bị lạm dụng, bị bóc lột và buôn bán
vì mục đích tình dục; trẻ em lang thang cơ nhỡ; trẻ em tật nguyền; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ mồ côi; trẻ em bị ruồng bỏ; trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS; và trẻ
em sống trong cảnh nghèo đói
Hoàn cảnh của các em đều hết sức nghiệt ngã Chỉ có một số ít trẻ em Việt Nam được nuôi dưỡng và chăm sóc ở các cơ sở của nhà nước, còn rất nhiều em khác phải tự bươn trải để kiếm sống Một số em bị bắt lao động, còn một số khác
Trang 31sống lang thang trên các đường phố - chính tình cảnh đó khiến cho các em có nguy
cơ cao bị nhiễm HIV, sử dụng ma túy và bị lôi cuốn vào các hành vi phạm tội và mại dâm
Có nhiều lý do phức tạp khiến các em lâm vào những tình cảnh éo le như vậy Các yếu tố kinh tế như nghèo đói, chênh lệch về thu nhập và sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng làm cho các em trở nên dễ bị tổn thương hơn Các trào lưu xã hội như di cư, các giá trị gia đình đang bị băng hoại và tình trạng phân biệt đối xử về giới cũng ảnh hưởng xấu tới trẻ em Các vấn đề bất cập mang tính hệ thống như thiếu một khung pháp lý toàn diện, việc thực thi pháp luật còn yếu và nhận thức về vấn đề bảo vệ trẻ em còn hạn chế cũng đe dọa ảnh hưởng tới trẻ em
Số trường hợp nhiễm HIV đang gia tăng cũng khiến cho trẻ em phải đối mặt với nguy cơ cao hơn
Một thực tế làm cho vấn đề trở nên trầm trọng hơn, đó là Việt Nam chưa có
hệ thống bảo vệ trẻ em một cách toàn diện cũng như chưa có các dịch vụ bảo vệ trẻ
em Vấn đề này gây cản trở những nỗ lực tiếp cận và chăm sóc cho những trẻ em cần được bảo vệ đặc biệt Chính phủ Việt Nam đang bắt đầu giải quyết những vấn
đề này Với sự hỗ trợ trực tiếp của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), Chính phủ đang xây dựng Chiến lược Quốc gia về Bảo vệ trẻ em nhằm thiết lập một bộ máy và hệ thống bảo vệ cho trẻ em trong giai đoạn 2006 - 2015
Đã có rất nhiều nghiên cứu và cảnh báo về vấn nạn LĐTE Ngoài việc mất đi tuổi thơ và sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng trầm trọng do phải lao động quá sớm, sức khỏe tinh thần của các em cũng bị ảnh hưởng nặng nề suốt cả cuộc đời Tỉ lệ trẻ
em bị lạm dụng tình dục, nguy cơ mắc AIDS trong lao động cũng rất cao Ngoài ra, nguy cơ rất cao là LĐTE bị thất học rồi sẽ trở thành cha mẹ và lại để con cái mình thành LĐTE và thất học như cha mẹ chúng
LĐTE là một vấn đề nhức nhối trên thế giới trong cả thế kỷ qua Những nỗ lực đầu tiên là trong thời kỳ công nghiệp hóa ở Mỹ và châu Âu đầu thế kỷ 20 Cùng với hoạt động của tổ chức lao động quốc tế ILO, nhiều luật lệ và quy định đã ra đời
để hạn chế tình trạng LĐTE, cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe của
Trang 32những LĐTE Làn sóng thứ hai, vào cuối những năm 1970, tập trung can thiệp vào cuộc sống của những trẻ em lao động nhằm cải thiện điều kiện làm việc và dạy nghề, dạy kỹ năng sống, chống trẻ em bị bóc lột và lạm dụng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục cho các em
Trường phái này ra đời từ lập luận rằng trẻ em phải làm việc do nhu cầu cá nhân và gia đình, từ những nguyên nhân có tính cấu trúc trong xã hội như nghèo đói, các tệ nạn , và từ thực tế là chấm dứt ngay tình trạng LĐTE là không tưởng
Đã có nhiều nước châu Phi, châu Á như Zimbabwe, Ấn Độ, Sri Lanka có những chương trình giữ được một số lượng rất lớn các em ở lại trường học chỉ với việc cung cấp cho các em những chai dầu ăn hay bữa ăn sáng cùng những chương trình giáo dục kỹ năng sống và dạy nghề thích hợp, mà đã có thể cứu được cả một thế hệ không sớm rơi vào nạn bóc lột sức lao động và tệ nạn xã hội khó lường
Làn sóng thứ ba, từ đầu những năm 1990, sự bùng nổ của toàn cầu hóa kinh
tế đã hình thành phong trào tẩy chay hàng hóa và dịch vụ do trẻ em sản xuất Tuy nhiên, theo UNICEF, chỉ có khoảng 5% LĐTE làm việc trong khu vực thương mại, còn phần lớn là ở khu vực sản xuất và kinh doanh không chính thức Vì vậy, luật lao động và những quy định cấm hàng hóa từ những nơi có sử dụng LĐTE chỉ ảnh hưởng đến một số công ty và tập đoàn lớn
Ở Việt Nam, báo chí vừa rộ lên về chuyện LĐTE bị buộc làm việc hơn 12 giờ một ngày trong điều kiện tồi tệ Đây là điều tất yếu khi năm 2007 - 2008 bộc phát tình trạng học sinh nông thôn ồ ạt bỏ học lên các thành phố làm việc Cần lưu ý rằng hiện nay chính là lúc LĐTE trở thành vấn nạn nặng nề và sẽ tiếp diễn trầm trọng hơn, do tình hình kinh tế khủng hoảng sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến các gia đình nghèo và nông dân, buộc các em phải nghỉ học mưu sinh nhiều hơn, và do các chủ lao động ưa thích mướn LĐTE để có lợi thế giá rẻ Người nghèo và trẻ em đang trở thành dễ bị thương tổn hơn bao giờ hết trong tình hình hiện nay
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu để có những chính sách, pháp luật bảo
vệ trẻ em thích hợp nhất là bảo vệ trẻ em tham gia lao động là rất cần thiết Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, các nhà đầu tư vào Việt Nam ngày một
Trang 33nhiều, nhân công dần hạn chế, nhu cầu sử dụng LĐTE sẽ ngày một lớn Vì vậy, Việt Nam gia nhập các công ước quốc tế về LĐTE với những cam kết bảo vệ trẻ
em, không sử dụng trẻ em dưới 18 tuổi lao động, nhất là làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ là căn cứ pháp lý bảo vệ các em khỏi việc lao động sớm, là cơ sở để xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp trong nước cũng như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cố ý sử dụng LĐTE Từ đó, góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ trẻ em nói chung, công tác bảo vệ trẻ em ở Việt Nam nói riêng
1.3.3 Các công ƣớc của tổ chức lao động quốc tế về LĐTE
1.3.3.1 Vai trò của các điều ƣớc quốc tế về LĐTE đối với Việt Nam
Công ước Vienna ngày 23/5/1969 về Luật điều ước (Điều 2 Đ1-a) định nghĩa:
“Khái niệm điều ước được hiểu là một thỏa thuận quốc tế thành văn giữa các quốc gia và được điều chỉnh bởi luật quốc tế, thể hiện trong một văn bản duy nhất hoặc hai hay nhiều văn bản liên quan, bất kể tên gọi riêng biệt nào của nó” Theo khoản
1, Điều 2 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2006): “Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết hoặc gia nhập nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc chủ thể khác của pháp luật quốc tế, không phụ thuộc nghị định thư, bản ghi nhớ, công hàm trao đổi hoặc văn kiện có tên gọi khác”
Các điều ước quốc tế được coi như “phương tiện phát triển sự hợp tác hòa bình giữa các quốc gia” (Lời mở đầu Công ước Vienna ngày 23/5/1969 về luật điều ước) Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, điều ước quốc tế ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và xây dựng luật pháp quốc tế, trong củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam tham gia và thực thi các điều ước quốc tế dựa trên nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế (pacta sunt servanda) về tự
Trang 34nguyện thực hiện các cam kết quốc tế và trên cơ sở có đi có lại, vì hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và trên thế giới
Trong lĩnh vực quyền trẻ em, khi tham gia các điều ước quốc tế, Việt Nam luôn thể hiện chủ trương, quyết sách quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em, tăng cường hợp tác quốc tế, cùng hợp tác để giải quyết các vấn đề chung về quyền trẻ
em của khu vực và trên thế giới
1.3.3.2 Việt Nam với việc phê chuẩn các công ƣớc quốc tế về LĐTE
Cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một cuộc điều tra mang tính quốc gia về LĐTE; dù vậy, qua các cuộc điều tra mức sống dân cư có thể thấy tỷ lệ trẻ em tham gia hoạt động kinh tế đã giảm qua các thời kỳ, từ 41,1% vào năm 1993 xuống còn 29,3% năm 1998 và 18,0% năm 2003 [13] Nhận rõ những tác động nguy hại của vấn đề LĐTE, từ rất sớm, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những biện pháp đồng bộ và kiên quyết nhằm giải quyết vấn đề này
Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế quan trọng nhất về chống sử dụng LĐTE, bao gồm hai Công ước số 138, Công ước số 182 của ILO; Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em và hai Nghị định thư không bắt buộc bổ sung
về chống bóc lột tình dục và văn hoá phẩm khiêu dâm trẻ em và về bảo vệ trẻ em trong xung đột vũ trang Cam kết chính trị mạnh mẽ của Việt Nam trong việc giải quyết vấn đề LĐTE đã nhận được sự hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, trong
đó có ILO Chương trình quốc tế về xoá bỏ LĐTE của ILO (IPEC) được bắt đầu tại Việt Nam từ năm 2000 với mục đích giúp Chính phủ Việt Nam biến những cam kết chính trị đó thành hành động
Hiện tại, vấn đề ngăn ngừa và xoá bỏ LĐTE được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam, quan trọng nhất là trong Bộ luật Lao động Tương ứng với các tiêu chuẩn cơ bản trong các Công ước số 138 và Công ước số 182 của ILO, Bộ luật Lao động (2002) quy định: Độ tuổi lao động tối thiểu là 15 (với những công việc nặng nhọc, độc hại là 18); Chỉ được nhận trẻ em dưới 15 tuổi vào làm một số nghề, công việc với những điều kiện chặt chẽ; Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc
Trang 35với các chất độc hại hoặc ảnh hưởng xấu tới nhân cách… Luật Bảo vệ, Chăm sóc
và Giáo dục Trẻ em (2004) nghiêm cấm một loạt hành vi bóc lột, lạm dụng hoặc
xô đẩy trẻ em vào hoàn cảnh bị bóc lột, lạm dụng Bộ luật Hình sự (1999) quy định nhiều tội danh về sử dụng LĐTE với các mức hình phạt nghiêm khắc Nhằm phòng ngừa LĐTE, Luật phổ cập giáo dục tiểu học (1991) và Luật Giáo dục (2004) quy định chi tiết về quyền học tập của trẻ em, đặc biệt là quyền được học tiểu học miễn phí Bên cạnh đó, từ năm 1991, Chính phủ Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình có tác dụng ngăn ngừa và xoá bỏ tình trạng LĐTE, như Chương trình Hành động Quốc gia vì trẻ em Việt Nam giai đoạn 2001-2010; Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010; Chương trình hành động quốc gia chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2004-2010; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010; Chương trình hỗ trợ trực tiếp giải quyết việc làm; Chương trình quốc gia về xoá đói giảm nghèo Các chương trình trên đã huy động được sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cộng đồng và cá nhân có liên quan vào việc ngăn ngừa và xoá bỏ LĐTE
1.3.3.3 Các công ƣớc quốc tế về LĐTE
Theo một số công trình nghiên cứu, năm 1284 Italia đã ban hành một văn bản pháp luật bảo vệ trẻ em lao động trong các nhà máy thủy tinh Vài thế kỷ sau đó, nhiều nước châu Âu cũng ban hành những đạo luật nhằm bảo vệ trẻ em lao động trong một số ngành công nghiệp Năm 1833, ở nước Anh, các tổ chức công đoàn
đã đấu tranh thành công buộc nhà nước phải ban hành Luật Công xưởng, trong đó
đề cập đến vấn đề độ tuổi lao động tối thiểu Năm 1836, vấn đề này được lặp lại ở nước Mỹ Tuy nhiên, hiệu lực của những văn bản pháp luật đó chỉ giới hạn trong từng quốc gia Năm 1866, Đại hội Công nhân Quốc tế đã kêu gọi tiến hành một cuộc vận động quốc tế nhằm chấm dứt tình trạng LĐTE và yêu cầu các chính phủ trên thế giới phải quy định thành luật về độ tuổi lao động tối thiểu Mặc dù vậy, chỉ đến đầu thế kỷ XX mới có các văn kiện pháp luật quốc tế đầu tiên liên quan
Trang 36đến vấn đề LĐTE, chủ yếu do ILO ban hành Trong số gần 200 công ước (và cũng khoảng từng đó khuyến nghị) của ILO ban hành từ năm 1919 (năm thành lập
tổ chức này) đến nay, có gần 30 văn kiện đề cập đến việc bảo vệ trẻ em khỏi các hình thức bóc lột và lạm dụng sức lao động, trong đó có hai công ước cơ bản trực
tiếp đề cập đến vấn đề ngăn ngừa, cấm và xóa bỏ LĐTE là Công ước số 138 về
tuổi lao động tối thiểu (1973) và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất (1999) Trong phạm vi luận văn
sẽ nghiên cứu hai Công ước nêu trên
Sở dĩ tác giả chọn hai công ước này để nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề chung về LĐTE vì những lý do sau:
Thứ nhất, các văn bản pháp lí quốc tế mặc dù đã đề cập về LĐTE nhưng
chưa xác lập được các cơ chế, nghĩa vụ mà các quốc gia phải thực hiện để đảm bảo quyền được bảo vệ cho trẻ em
Thứ hai, các văn bản như Tuyên bố năm 1959 của Đại hội đồng Liên hợp
quốc… không có giá trị pháp lí bắt buộc mà chỉ nêu lên những tư tưởng của quyền trẻ em để khuyến cáo hành động của các quốc gia
Thứ ba, các văn bản pháp lí quốc tế chỉ đề cập quyền của trẻ em trong một số
lĩnh vực (ví dụ: quyền đăng kí khai sinh, quyền được học tập…)
Thứ tư, việc bảo vệ quyền trẻ em nói chung, nhất là quyền trẻ em được bảo
vệ không bị buộc phải lao động chỉ được quy định cụ thể, chi tiết ở Công ước 138, nhất là Công ước 182 của tổ chức lao động quốc tế
Trẻ em cần phải được sống trong hoà bình, trong xã hội thân ái; cần phải được sự chăm sóc của nhà nước, xã hội, gia đình và cần có sự bảo vệ về mặt pháp lí Điều này đặc biệt có ý nghĩa ở những quốc gia đang phát triển Vì vậy, cần phải có điều ước quốc tế đa phương ghi nhận và điều chỉnh lĩnh vực này
Trang 37a Công ƣớc số 138 của tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc
Công ước quốc tế về độ tuổi lao động tối thiểu năm 1973 được Hội nghị toàn
thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua qua ngày 26/07/1973 và có hiệu lực từ
ngày 19/6/1976 (Việt Nam gia nhập Công ước 138 ngày 09/6/ 2003) Mục tiêu của
công ước, ràng buộc các quốc gia thành viên cam kết nhằm bảo đảm thật sự việc bãi
bỏ LĐTE và nâng dần tuổi tối thiểu được đi làm việc hoặc được lao động tới độ tuổi
mà các thiếu niên có thể phát triển đầy đủ nhất về thể lực và trí lực (Điều 1)
Theo Công ước, tuổi tối thiểu được đi làm việc hoặc được lao động không
được dưới độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và bất kỳ trường hợp nào
cũng không được dưới 15 tuổi; không một ai ở tuổi dưới mức tối thiểu đó được đi
làm việc hoặc được lao động trong bất cứ nghề nào (khoản 3 Điều 2) Tuy nhiên,
Công ước cũng chỉ ra rằng, các nước thành viên mà nền kinh tế và hệ thống giáo
dục chưa phát triển đầy đủ thì sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức hữu quan
của người sử dụng lao động và của người lao động (nếu có) thì có thể ghi nhận mức
tối thiểu là 14 tuổi nhưng phải báo cáo lý do với ILO (khoản 4 Điều 2)
Công ước cho phép các quốc gia thành viên có thể cho phép sử dụng người từ
13 đến 15 tuổi làm những công việc nhẹ nhàng hoặc những công việc mà không có
khả năng tác hại đến sức khoẻ hoặc sự phát triển của họ; không phương hại đến việc
học tập cũng như việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo
nghề của họ khi đã được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận, hoặc không phương
hại đến khả năng giáo dục mà họ đã nhận được (Điều 7)
Đối với mọi loại việc làm hoặc loại lao động nào mà tính chất hoặc điều kiện
tiến hành có thể có hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc phẩm hạnh của thiếu niên, thì
mức tối thiểu không được dưới 18 tuổi Tuy nhiên, Công ước cũng cho phép các
quốc gia thành viên, sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức hữu quan của người sử
dụng lao động và của người lao động (nếu có) có thể ghi nhận cho phép các thiếu
niên ngay từ độ tuổi 16 được làm những công việc nêu trên với điều kiện là an toàn
Trang 38và phẩm hạnh của họ phải được bảo đảm đầy đủ, phải có sự dạy dỗ cụ thể và thích đáng, hoặc đào tạo nghề cho họ trong ngành hoạt động tương ứng (Điều 3)
Riêng đối với các ngành nghề: công nghiệp khai khoáng; các ngành công nghiệp chế tạo; xây dựng và các công trình công cộng; điện; khí đốt và nước; các dịch vụ vệ sinh y tế, vận tải; lưu giữ trong kho và giao thông; các đồn điền và các cơ
sở nông nghiệp khác chủ yếu được khai thác nhằm mục đích thương mại thì phải áp
dụng độ tuổi tối thiểu theo Khoản 3 Điều 2, nghĩa là không được dưới 15 tuổi
(Điều 5)
Công ước 138 đã ghi nhận và xét lại những nội dung về độ tuổi của một số Công ước được thông qua trước đó như: Công ước về Tuổi tối thiểu làm việc trong ngành công nghiệp năm 1919 và xét lại năm 1937; Công ước về Tuổi tối thiểu làm công việc trên biển năm 1920 và xét lại năm 1936; Công ước về Tuổi tối thiểu làm việc trong ngành nông nghiệp năm 1921; Công ước về Tuổi tối thiểu làm dưới hầm tàu và đốt lò năm 1921; Công ước về Tuổi tối thiểu làm nghề phi công nghiệp năm
1932 và xét lại năm 1937; Công ước về Tuổi tối thiểu làm nghề đánh cá năm 1959; Công ước về Tuổi tối thiểu làm công việc dưới mặt đất năm 1965
Qua phân tích có thể thấy, công ước số 138 xác lập các tiêu chuẩn về độ tuổi lao động tối thiểu nhằm bảo đảm cho mọi trẻ em đều được học tập thay vì phải làm việc, trừ khi công việc không ảnh hưởng tới việc học tập của trẻ Công ước đề ra ba mức tuổi lao động tối thiểu, bao gồm: Từ đủ 15 tuổi và đã hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc ở quốc gia có thể được làm các công việc thông thường; từ đủ 13 hoặc 15 tuổi nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc có thể được làm những công việc nhẹ nhàng; từ đủ 18 tuổi mới được làm những công việc nặng nhọc, độc hại Với các quốc gia có nền kinh tế và điều kiện giáo dục còn hạn chế thì
có thể hạ thấp các mức tuổi kể trên, cụ thể là từ đủ 14 tuổi với mức 1; từ đủ 12 hoặc
14 tuổi với mức 2 và từ đủ 16 với mức 3 Với một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt như hoạt động biểu diễn nghệ thuật…có thể cho phép trẻ em tham gia từ độ tuổi nhỏ, nhưng phải được sự đồng ý của cha mẹ và phải xác định rõ giới hạn thời giờ lao động và các điều kiện sử dụng lao động
Trang 39b Công ƣớc số 182 của ILO về Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa
bỏ các hình thức LĐTE tồi tệ nhất
Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xóa bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất là một trong những công ước cơ bản nhất về LĐTE trong số hàng trăm các công ước và Nghị định thư của ILO Công ước được Hội nghị toàn thể Tổ chức Lao động quốc tế thông qua ngày 17/06/1999 (Việt Nam phê chuẩn Công ước 182 tại Quyết định số 169/QĐ-CTN ngày 17/11/2000) Tại khoá họp, Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế đã xem xét nhu cầu thông qua những văn kiện mới để cấm và loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất, coi đây là một
ưu tiên chính trong hành động quốc gia và quốc tế, bao gồm cả hợp tác và trợ giúp quốc tế để bổ sung cho Công ước về tuổi tối thiểu được chấp nhận làm việc theo Công ước 138 (đây vẫn là văn kiện cơ bản về LĐTE) nêu trên Hội nghị đã đồng thời thông qua hai văn kiện quan trọng về LĐTE, đó là: Công ước về việc cấm và những hành động tức thời để loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất (Công ước 182) và Khuyến nghị thứ 6 trong chương trình nghị sự của khoá họp được gọi là Khuyến nghị về loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất (Khuyến nghị 190) và quyết định rằng những quy định của Khuyến nghị 190 bổ sung cho Công ước 182
và được áp dụng cùng với Công ước
Công ước 182 là sự tiếp nối và cụ thể hóa của các công ước: Công ước về Quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989, và Việt Nam đã phê chuẩn năm 1990; Công ước và Khuyến nghị về Tuổi tối thiểu được phép đi làm, năm 1973 mà hiện vẫn là văn kiện cơ bản về LĐTE; Tuyên bố của ILO về các Nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc và những hoạt động triển khai được Hội nghị Lao động quốc tế thông qua tại kỳ họp thứ 86 năm 1998
Một số hình thức LĐTE tồi tệ nhất được nêu tại các văn kiện quốc tế khác như: Công ước về lao động Cưỡng bức (1930), và Công ước bổ sung của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ buôn bán nô lệ và các hình thức tương tự như nô lệ (1956)
Công ước lần đầu tiên xác định “các hình thức LĐTE tồi tệ nhất” gồm cả
cấm việc cưỡng bức sử dụng hay tuyển mộ trẻ em làm binh lính, yêu cầu các quốc
Trang 40gia thành viên hành động có hiệu quả ngay lập tức, chú ý đặc biệt đến các nhóm trẻ
em đặc biệt, thúc đẩy sự hợp tác và hành động toàn cầu
Công ước nhằm mục tiêu đặt ra cho các quốc gia thành viên phải áp dụng những biện pháp tức thời và hữu hiệu để đảm bảo việc cấm và loại bỏ những hình thức LĐTE tồi tệ nhất như một vấn đề khẩn cấp (Điều 1)
Theo Công ước 138, quy định chung về độ tuổi được tham gia làm việc hoặc lao động là không dưới 15 tuổi (khoản 3 Điều 2); Tuy nhiên, đối với những công việc hoặc loại lao động nào mà tính chất hoặc điều kiện làm việc có thể có hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc phẩm hạnh thì độ tuổi tối thiểu không được dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 3) Trên cơ sở đó Công ước 182 đã ghi nhận thuật ngữ "trẻ em" được
áp dụng cho tất cả những ai dưới 18 tuổi Nói cách khác, Công ước 182 với mục đích loại bỏ những hình thức lao động tồi tệ nhất đối với tất cả những người lao động dưới 18 tuổi (Điều 2)
Tuy nhiên, với những loại công việc có khả năng làm hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay đạo đức của trẻ em, do bản chất của công việc hay do môi trường, hoàn cảnh, điều kiện làm việc quy định tại khoản d, Điều 3 Công ước 182, thì Khuyến nghị 190 cho phép luật lệ của các quốc gia hay cơ quan có thẩm quyền của các quốc gia thành viên (sau khi tham khảo ý kiến của Tổ chức người lao động và người sử dụng lao động) có thể cho phép tuyển lao động từ 16 tuổi trở lên với điều kiện là sức khoẻ, sự an toàn và đạo đức của những trẻ em đó phải được bảo vệ đầy đủ, và những trẻ em này đã được hướng dẫn đầy đủ cụ thể hay đã được đào tạo nghề trong lĩnh vực tương ứng (Đoạn 4)
Ngoài việc quy định độ tuổi là căn cứ để tính thời gian tham gia làm việc, Công ước 192 quy định những hình thức LĐTE tồi tệ nhất gồm:
Theo đó, những hình thức LĐTE tồi tệ nhất bao gồm: Tất cả những hình thức nô
lệ hay những tập tục giống như nô lệ, như buôn bán trẻ em, giam cầm thế nợ, lao động khổ sai, lao động cưỡng ép hay bắt buộc để sử dụng trong các cuộc xung đột
có vũ trang; Việc sử dụng, mua bán hay chào mời trẻ em cho mục đích mại dâm,