Gần đây đã phát sinh một số vụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tại nước ngoài, trong đó các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Việt Nam đã
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VĂN HIỆP
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CỦA
TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM TẠI NƯỚC NGOÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VĂN HIỆP
BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CỦA
TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM TẠI NƯỚC NGOÀI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số : 60 38 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ VĂN BÍNH
Hà Nội – 2014
Trang 33
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Do vậy, tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trang 44
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
Chương 1 15
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP 15
1.1 Khái niệm và đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp 15
1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp 19
1.2.1 Đối tượng quyền 19
1.2.2 Chủ thể quyền 20
1.2.3 Căn cứ xác lập quyền 20
1.2.4 Phạm vi quyền 21
1.2.5 Ý nghĩa của quyền năng sở hữu công nghiệp 22
1.3 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp 23
1.3.1 Bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể quyền 23
1.3.2 Góp phần thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ 24
1.3.3 Thúc đẩy hoạt động đầu tư và chuyển giao công nghệ 25
1.3.4 Thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác kinh tế quốc tế 26
Chương 2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC NGOÀI 28
2.1 Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 28
2.2 Thời điểm đăng ký bảo hộ 30
2.3 Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 31
2.3.1 Theo đường quốc gia 31
Trang 55
2.3.2 Theo đường khu vực 34
2.3.3 Theo đường quốc tế 39
2.3.4 Các thủ tục khác 50
2.4 Xác định hành vi xâm phạm quyền 51
2.5 Thực thi quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 54
2.5.1 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại tòa án 56
2.5.2 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp hành chính 74
2.5.3 Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại biên giới 75
2.5.4 Các biện pháp khác 76
Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC BẢO QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CỦA TỔ CHỨC, CÁ NHÂN VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI 80
3.1 Tình hình đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân của Việt Nam ở trong và ngoài nước 80
3.2 Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của tổ chức, cá nhân của Việt Nam tại nước ngoài 88
3.3 Nguyên nhân của hành vi xâm phạm 92
3.3.1 Từ phía người xâm phạm 92
3.3.2 Từ phía chủ sở hữu quyền 93
3.3.3 Từ phía Chính phủ 94
3.4 Kinh nghiệm quốc tế về bảo quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 95
Trang 66
3.4.1 Xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại nước
ngoài 95
3.4.2 Hoàn thiện chức năng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài của các cơ quan Nhà nước 98
3.4.3 Hài hòa hóa pháp luật quốc tế 106
3.4.4 Thực hiện hợp tác quốc tế về sở hữu công nghiệp 108
3.4.5 Hỗ trợ trực tiếp cho các chủ thể quyền trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 111
3.5 Một số kiến nghị nhằm bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của tổ chức, cá nhân của Việt Nam tại nước ngoài 112
3.5.1 Nhóm kiến nghị về hoàn thiện thể chế, chính sách 112
3.5.2 Nhóm kiến nghị nhằm tăng cường hợp tác quốc tế về bảo vệ sở hữu công nghiệp tại nước ngoài 114
3.5.3 Nhóm kiến nghị nhằm hỗ trợ trực tiếp cho các chủ thể quyền 117
KẾT LUẬN 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 77
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
IPOPhi Cơ quan Sở hữu trí tuệ Philippines
SHCN Sở hữu công nghiệp
SHTT Sở hữu trí tuệ
TRIPS Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ
USPTO Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ
WIPO Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
Trang 88
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1 Số đơn đăng ký SHCN trong nước của các chủ thể Việt Nam
Bảng 3.5 Số đơn sáng chế và nhãn hiệu quốc tế có nguồn gốc Việt Nam nộp qua
Văn phòng quốc tế WIPO 83
Bảng 3.6 Số đơn đăng ký SHCN trong nước của Thái Lan 86 Bảng 3.7 Số đơn đăng ký SHCN trong nước của Philippines 86
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ các đơn đăng ký SHCN trong nước của các chủ thể Việt
Nam 85
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ văn bằng bảo hộ SHCN trong nước của các chủ thể Việt
Nam 85
Biểu đồ 3.3 So sánh lượng đơn sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu và kiểu
dáng công nghiệp từ 2000 đến 2011 của Việt Nam, Thái Lan và Philipines 87
Trang 99
MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Tài sản trí tuệ đang ngày càng trở thành một loại tài sản quan trọng của
tổ chức, cá nhân và nền kinh tế đất nước Bên cạnh quyền tác giả và quyền đối với giống cây trồng mới, tài sản trí tuệ còn bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và bí mật kinh doanh, v.v hay còn được gọi chung là các đối tượng sở hữu công nghiệp Chúng là sản phẩm của hoạt động trí tuệ con người, tồn tại dưới dạng thông tin và tri thức Tài sản trí tuệ là nhân tố quyết định gia tăng giá trị của sản phẩm và dịch vụ, cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế quốc gia
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngày càng nhiều tổ chức, cá nhân ý thức được rằng cần phải bảo hộ tài sản trí tuệ không chỉ ở trong nước
mà còn ở cả nước ngoài, đặc biệt là ở các thị trường xuất khẩu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích, nâng cao năng lực cạnh tranh, cũng như thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình
Gần đây đã phát sinh một số vụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp của các tổ chức, cá nhân Việt Nam tại nước ngoài, trong đó các quyền
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Việt Nam đã bị xâm phạm, như vụ xâm phạm nhãn hiệu thuốc lá Vinataba, kiểu dáng công nghiệp của võng xếp Duy Lợi và chỉ dẫn địa lý cà phê Buôn Ma Thuột, v.v., và trong nhưng vụ việc đó thì các chủ thể quyền của Việt Nam phải chịu những thiệt hại nhất định
Là học viên chuyên ngành Luật Quốc tế, hiện đang công tác tại Cục Sở hữu trí tuệ - một Cơ quan quản lý nhà nước về sở hữu công nghiệp của Việt
Nam, học viên đã lựa chọn vấn đề “Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp của tổ chức, cá nhân Việt Nam tại nước ngoài: thực trạng và giải pháp” làm đề tài
Trang 1010
nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn tìm hiểu, làm rõ các vấn đề liên quan đến việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài và các kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này, qua đó có thể đưa ra một số khuyến nghị cho các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể quyền Việt Nam trong việc bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp của mình tại nước ngoài
2 Tình hình nghiên cứu
Quyền sở hữu công nghiệp là một vấn đề còn tương đối mới đối với các
tổ chức, cá nhân của Việt Nam Từ trước đến nay, Việt Nam luôn bị coi là nước có nhiều hành vi xâm phạm các quyền sở hữu công nghiệp của các chủ thể nước ngoài Tuy nhiên, trong những năm gần đây, với nhận thức về vai trò
và giá trị của quyền sở hữu công nghiệp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao, số lượng quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng này càng nhiều thông qua số lượng văn bằng bảo hộ trong nước và ngoài nước được cấp ngày càng tăng Các chủ thể quyền Việt Nam không chỉ đăng
ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình ở trong nước mà còn đăng ký
ra nước ngoài Tuy nhiên, số lượng các quyền sở hữu công nghiệp được đăng
ký tại nước ngoài là chưa nhiều Một số quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã
bị các đối tượng tại nước ngoài chiếm đoạt, xâm phạm
Có khá nhiều tài liệu nước ngoài đề cập đến vấn đề bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở nước khác Tuy nhiên, các tài liệu đó chủ yếu được viết dưới các bài báo hoặc Tài liệu hướng dẫn về đăng ký vào bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở một nước cụ thể, ví dụ như các Bộ tài liệu về đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp ở 19 nước khác nhau, trong đó có Việt Nam, do Chính phủ Hoa Kỳ (USPTO) biên soạn và được đăng tải trên trang web chuyên về các vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ nói chung và sở hữu công nghiệp nói riêng, tại nước ngoài là http://www.stopfakes.gov
Trang 1111
Cho đến nay, ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu có chứa
các thông tin về việc bảo hộ nhãn hiệu tại nước ngoài như Tiểu luận “Thương
hiệu Việt Nam bị đánh cắp ở thị trường nước ngoài: Nguyên nhân và giải pháp bảo vệ thương hiệu Việt Nam” của học viên Nguyễn Thị Tú Anh
(Trường Đại học Kinh tế quốc dân), Luận văn tốt nghiệp đại học “Thương
hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế và một số biện pháp phát triển và bảo
vệ thương hiệu”, “Bài học thương hiệu PetroVietnam và biện pháp bảo vệ thương hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam” và một số bài viết khác liên
quan đến việc bảo hộ nhãn hiệu của các tổ chức, cá nhân của Việt Nam tại nước ngoài Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu
và phân tích về việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của các chủ thể quyền của Việt Nam tại nước ngoài Do đó, vấn đề nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu các cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài bằng cách phân tích pháp luật các nước và các điều ước quốc tế liên quan, cũng như phân tích cơ chế, chính sách và pháp luật của Việt Nam, tác giả sẽ đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, xây dựng và thực hiện một số biện pháp cụ thể để bảo hộ hiệu quả quyền sở hữu công nghiệp tổ chức, cá nhân Việt Nam tại nước ngoài
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Làm rõ các vấn đề cơ bản liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp: định nghĩa, đặc điểm và vai trò của quyền sở hữu công nghiệp;
Trang 124 Phạm vi nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, tác giả cố gắng tập trung nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài, qua đó đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam
về vấn đề liên quan Tuy nhiên, trong phạm vi của một Luận văn thạc sỹ và
do đây là một vấn đề có phạm vi rộng cả về đối tượng nghiên cứu và khu vực địa lý áp dụng, nên việc nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đề có tính chất điển hình nhất
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như lý luận về pháp luật, xã hội học pháp luật, luật dân sự, điều ước và pháp luật quốc tế; các tài liệu nghiên cứu, tài liệu chuyên khảo và bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài Ngoài ra, để góp phần phân tích khoa học làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sở hữu
Trang 1313
công nghiệp, trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả còn sử dụng hệ thống văn bản pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế, những văn bản, tài liệu hướng dẫn, cũng như nhiều vấn đề thực tiễn
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành để tiếp cận, làm sáng tỏ về mặt khoa học các vấn đề nghiên cứu tương ứng với
cơ sở phương pháp luật là triết học Mác – Lênin (đi từ những nội dung có tính
lý luận đến những vấn đề thực tiễn) Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm: phân tích, hệ thống hoá, so sánh, thống kê, tổng hợp, v.v
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sau:
- Làm rõ và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quyền sở hữu công nghiệp;
- Làm rõ sự cần thiết và các quy định của pháp luật liên quan đến bảo
hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài; cách thức và thủ tục xác lập quyền ;
- Phân tích, đánh giá và rút ra kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện các biện pháp để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài;
- Tìm hiểu một số vụ việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam tại nước ngoài để tìm ra nguyên nhân của hàn vi xâm phạm;
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả về việc bảo
hộ quyền sở hữu trí tuệ tại nước ngoài cho các tổ chức, cá nhân Việt Nam, cũng như các kiến nghị đối với Chính phủ trong việc hỗ trợ các chủ thể quyền thực hiện việc này
7 Kết cấu của luận văn
Trang 1414
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, Luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Khái quát chung về quyền sở hữu công nghiệp;
- Chương 2 Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài;
- Chương 3 Thực trạng và giải pháp cho việc bảo quyền sở hữu công
Trang 1515
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1 Khái niệm và đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp
động trí tuệ của con người trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học
và nghệ thuật Nhà nước nhằm bảo hộ sở hữu trí tuệ vì hai lý do chính Thứ nhất là bảo vệ quyền nhân thân và quyền về tài sản của người tạo ra các kết quả sáng tạo, cũng như quyền của công chúng trong việc tiếp cận với những kết quả sáng tạo đó Thứ hai là để thúc đẩy hoạt động sáng tạo, như là biện pháp có chủ đích trong chính sách của Nhà nước liên quan đến việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội, cũng như phổ biến và thúc đẩy ứng dụng các kết quả sáng tạo, khuyến khích kinh doanh lành mạnh
Công ước Stockholm về thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới
(WIPO) năm 1967 (Công ước Stockholm) định nghĩa “sở hữu trí tuệ bao gồm
các quyền liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sỹ biểu diễn, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; kiểu dáng công nghiệp; nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh; và, tất cả những quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”
[41] Như vậy, ngay cả WIPO cũng không đưa ra một định nghĩa thế nào là sở hữu trí tuệ mà chỉ liệt kê các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Chịu ảnh hưởng của sự vận động, phát triển của khoa học, công nghệ
và đời sống xã hội, quyền sở hữu trí tuệ cũng có sự phát triển tương ứng theo
Trang 1616
hướng mở rộng thêm các đối tượng quyền Cụ thể, so với Công ước Stockholm năm 1967 thì Hiệp định các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO (Hiệp định TRIPS) đã bổ sung thêm những một số đối tượng sở hữu trí tuệ mới gồm: chỉ dẫn địa lý, thiết kế bố trí mạch tích hợp, thông tin bí mật, chương trình máy tính và bộ sưu tập dữ liệu Điều
đó cho thấy sự thích ứng của quyền sở hữu công nghiệp với phát triển công nghệ, văn hóa, kinh tế và xã hội Và trong tương lai, khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ có thể tiếp tục được mở rộng, ví dụ, sang các đối tượng đang được thảo luận tại WIPO như nguồn gen, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian
Theo quan niệm truyền thống, quyền sở hữu trí tuệ được chia thành hai nhánh chính, gồm quyền sở hữu công nghiệp và quyền tác giả Tuy nhiên, ở một số nước quyền sở hữu trí tuệ được chia làm ba nhánh chính, bao gồm quyền đối với giống cây trồng mới Chính Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 của
Việt Nam đã quy định “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân
đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”[12]
Trong đó:
- Quyền tác giả đề cập đến quyền của người sáng tạo trí tuệ trong lĩnh
vực văn học, nghệ thuật và khoa học Những sáng tạo được bảo hộ quyền tác giả là những sáng tạo trong việc lựa chọn và sắp xếp từ ngữ, nốt nhạc, màu sắc và hình khối Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức thể hiện của các tác phẩm mà không bảo hộ nội dung các ý tưởng đó
- Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu
Trang 1717
- Quyền sở hữu công nghiệp đề cập đến quyền của người sáng tạo trí
tuệ liên quan đến các đối tượng thuộc lĩnh vực công nghệ và thương mại, bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại (tên thương mại, chỉ dẫn địa lý) và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu trí tuệ Do vậy, trong luận văn này khi đề cập đến khái niệm quyền sở hữu trí tuệ thì được hiểu là bao gồm cả quyền sở hữu công nghiệp
Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp có thể được chia thành hai nhóm theo tính chất riêng của chúng:
- Nhóm các kết quả sáng tạo khoa học - công nghệ: gồm sáng chế, giải
pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, thông tin bí mật, thiết kế bố trí mạch tích hợp
- Nhóm các dấu hiệu đặc trưng có chức năng phân biệt: gồm nhãn
hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại Những đối tượng này tuy hàm chứa yếu
tố sáng tạo trí tuệ ít hơn nhưng vẫn được coi là đối tượng sở hữu công nghiệp
vì chúng chứa đựng những dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hoặc dịch vụ của các chủ thể hoặc truyền tin tới người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ mang đối tượng sở hữu công nghiệp lưu thông trên thị trường Việc bảo hộ các dấu hiệu mang tính đặc trưng này nhằm khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng
Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “quyền sở hữu công nghiệp” được hiểu
theo hai nghĩa:
- Về mặt khách quan: quyền sở hữu công nghiệp là tổng hợp các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
Trang 1818
tạo dựng, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ
- Về mặt chủ quan: quyền sở hữu công nghiệp là quyền nhân thân,
quyền tài sản của cá nhân, tổ chức, với tư cách là chủ sở hữu, người sử dụng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp, gồm quyền khai thác, sử dụng, định hoạt các đối tượng sở hữu công nghiệp trong phạm vi pháp luật cho phép
Bộ luật Dân sự 2005 Việt Nam đã định nghĩa về quyền sở hữu công
nghiệp theo hướng liệt kê các đối tượng quyền, cụ thể “Đối tượng quyền sở
hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.”[11]
Luật Sở hữu trí tuệ - với tư cách là một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh về lĩnh vực sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, định nghĩa quyền sở hữu công
nghiệp là “quyền hợp pháp của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng
công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”[12]
Định nghĩa về quyền sở hữu công nghiệp nói chung và các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp nói chung trong pháp luật Việt Nam về cơ bản
là phù hợp với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS và các điều ước quốc tế về
sở hữu công nghiệp mà Việt Nam là thành viên, cũng như thông lệ quốc tế
Liên quan đến khái niệm bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp: Hiệp định TRIPS, tại chú thích 3, Điều 1 đã xác định “bảo hộ” phải bao gồm “các vấn
đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền sở hữu trí tuệ, cũng như các vấn đề ảnh
Trang 1919
hưởng đến việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ được quy định rõ trong Hiệp định này” Như vậy, có thể hiểu một cách tương tự rằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp boao gồm các vấn đề ảnh hưởng đến khả năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi các quyền sở hữu công nghiệp, cũng như các vấn đề ảnh hưởng đến việc sử dụng các quyền sở hữu công nghiệp
Như vậy, quyền sở hữu công nghiệp được thừa nhận nhằm bảo hộ các thành quả sáng tạo trí tuệ của con người Với sự ghi nhận bảo hộ bởi quyền lực nhà nước, quyền sở hữu công nghiệp đã trở thành một loại quyền tài sản
có giá trị đối với chủ sở hữu Để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, mỗi quốc gia xây dựng cho mình một hệ thống bảo hộ riêng, phù hợp với các đặc điểm kinh tế, chính trị và xã hội của mình
1.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp
Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền tài sản, do vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của quyền sở hữu tài sản nói chung, đó là chủ sở hữu có toàn quyền đối với tài sản của mình, không ai được sử dụng tài sản đó nếu không được chủ sở hữu cho phép Sự khác biệt giữa quyền sở hữu công nghiệp và quyền sở tài sản hữu hình xuất phát từ thuộc tính vô hình của các đối tượng sở hữu công nghiệp Quyền sở hữu công nghiệp không thể xác định được thông qua các đặc điểm vật chất của đối tượng sở hữu công nghiệp mà phải được thể hiện thông qua một dạng vật chất hữu hình hoặc một các thức
cụ thể để có thể bảo vệ được Có thể thấy sự khác biệt giữa hai phạm trù này qua một số đặc điểm sau:
1.2.1 Đối tượng quyền
Đối tượng của quyền sở hữu tài sản nói chung là các loại vật chất hữu hình có thể “cầm, nắm, giữ” được và một số quyền tài sản luôn xác định được
Trang 2020
bằng một số lượng vật chất cụ thể Trong khi đó, đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là những thứ vô hình chỉ có thể định lượng được khi gắn với loại sản phẩm hữu hình hoặc các hoạt động cụ thể
1.2.2 Chủ thể quyền
Chủ thể quyền sở hữu tài sản nói chung có thể là bất kỳ cá nhân, pháp nhân, tổ chức và cũng có thể là Nhà nước – là người có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản hợp pháp Trong khi đó, chủ thể quyền sở hữu công nghiệp chỉ có thể là những cá nhân, tổ chức đáp ứng các điều kiện nhất định, tương ứng với từng loại đối tượng sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Cụ thể, chủ sở hữu nhãn hiệu phải là những người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc lĩnh vực đăng ký nhãn hiệu; chủ ở hữu nhãn hiệu tập thể chỉ có thể là cơ quan nhà nước hoặc một tổ chức (hiệp hội, hiệp hội ngành nghề) được Cơ quan nhà nước ủy quyền; chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận chỉ có thể là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng nhận đối với loại sản phẩm mang nhãn hiệu, mà không được sử dụng nhãn hiệu đó; chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý là Nhà nước và nhà nước trao quyền quản lý và sử dụng chỉ dẫn địa lý cho các tổ chức cá nhân đáp ứng các điều kiện nhất định
1.2.3 Căn cứ xác lập quyền
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập theo những căn cứ cụ thể dưới những hình thức nhất định phù hợp với quy định của pháp luật, nhưng khác với các căn cứ xác lập quyền đối với các sở hữu tài sản hữu hình Quyền sở hữu công nghiệp có thể được xác lập thông qua việc nộp đơn đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ, hoặc có thể được xác lập một cách tự động nếu đối tượng sở hữu công nghiệp đáp ứng những tiêu chuẩn bảo hộ nhất định do pháp luật quy định Cụ thể, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết
Trang 21có được thông tin tạo thành bí mật kinh doanh và bảo mật thông tin đó; quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở thực tiễn của hoạt động cạnh tranh Các quyền sở hữu công nghiệp trên được xác lập một cách
tự động mà không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký
1.2.4 Phạm vi quyền
Thông thường, quyền sở hữu đối với tài sản được bảo hộ vô thời hạn và chỉ chấm dứt khi có các căn cứ chấm dứt theo quy định của pháp luật hoặc khi tài sản bị tiêu huỷ Quyền sở hữu đối với tài sản thông thường không bị giới hạn về mặt không gian Trong khi đó, quyền sở hữu công nghiệp bị giới hạn
về mặt thời gian và không gian
- Về mặt thời gian: thời điểm phát sinh và thời hạn hiệu lực của quyền
sở hữu công nghiệp được quy định theo pháp luật, có sự khác nhau giữa các đối tượng và giữa các quốc gia về cùng một đối tượng Theo đó, tùy từng đối tượng quyền sở hữu công nghiệp mà thời điểm phát sinh quyền và thời hạn bảo hộ quyền là khác nhau Thông thường, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 20 năm tính từ ngày nộp đơn; đối với giải pháp hữu ích có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn; đối với kiểu dáng công nghiệp có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết 05 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn thêm 10
Trang 2222
năm; đối với nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần; và, đối với chỉ dẫn địa lý có hiệu lực vô thời hạn kể từ ngày cấp Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật thương mại phát sinh ngay từ ngày tạo ra bí mật thương mại đó và có hiệu lực đến khi nó
bị bộc lộ
- Về mặt không gian: quyền sở hữu công nghiệp có tính lãnh thổ sâu
sắc Theo đó, sự bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp chỉ có hiệu lực ở một phạm vi địa lý nhất định, có thể là ở phạm vi quốc gia hoặc khu vực Cụ thể, các quyền sở hữu công nghiệp do các Cơ quan sở hữu công nghiệp quốc gia cấp hoặc công nhận thì chỉ có hiệu lực ở lãnh thổ của các quốc gia đó; do các cơ quan sở hữu trí tuệ khu vực (EPO, OHIM) cấp thì có hiệu lực ở lãnh thổ của khu vực đó
Một số đối tượng sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu nổi tiếng, ví dụ, nhãn hiệu Coca-Cola, Apple hay Google có thể có hiệu lực bảo hộ trên phên phạm vi toàn cầu và trong khoảng thời gian không xác định
1.2.5 Ý nghĩa của quyền năng sở hữu công nghiệp
Đối với tài sản hữu hình, trong ba quyền năng cơ bản của chủ sở hữu (chiếm hữu, sử dụng, định đoạt) thì quyền chiếm hữu dường như là quyền cơ bản và quan trọng nhất Điều này xuất phát từ các đặc tính của tài sản hữu hình là trong hầu hết các trường hợp chủ sở hữu phải chiếm hữu tài sản thì mới có thể khai thác công dụng của tài sản đó
Trong khi đó, đối với quyền sở hữu công nghiệp, quyền sử dụng lại được coi là quyền năng cơ bản nhất Điều này xuất phát từ đặc tính vô hình của các đối tượng sở hữu công nghiệp Chủ sở hữu quyền không thể chiếm hữu (cầm, nắm, giữ) những tài sản này mà việc khai thác quyền được thực hiện thông qua hành vi sử dụng đối tượng Bản thân các đối tượng sở hữu
Trang 2323
công nghiệp không tạo ra giá trị mà chúng phải được ứng dụng vào những loại vật chất hữu hình cụ thể và phát sinh giá trị quá trình sử dụng, vận hành, khai thác các loại vật chất hữu hình này
Về bản chất, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng là sự bảo hộ độc quyền khai thác, sử dụng đối tượng chống lại các hành vi khai thác, sử dụng trái phép Quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp cũng được thể hiện chủ yếu và cơ bản nhất ở quyền sử dụng đối tượng
1.3 Vai trò của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp có vai trò quan trọng không chỉ đối với các chủ thể quyền nói riêng, mà còn có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và khoa học và công nghệ, cũng như quá trình hợp tác quốc tế
1.3.1 Bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể quyền
Việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cho các chủ thể sáng tạo và chủ
sở hữu quyền bởi Nhà nước đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong việc khai thác, sử dụng đồng thời ngăn chặn hành vi khai thác, sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ một cách trái phép Điều này góp phần khích lệ các chủ thể trong hoạt động nghiên cứu và sáng tạo
Khi được cấp Văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, chủ sở hữu được độc quyền khai thác đối tượng trong một khoảng thời gian nhất định Trong thời gian đó, chủ sở hữu có thể tự mình sử dụng, khai thác các lợi ích vật chất từ đối tượng hoặc có thể chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu đối tượng cho người khác và thu về một khoản lợi ích vật chất để bù đắp cho những chi phí và công sức đã bỏ ra trong quá trình sáng tạo, cũng như để đầu tư cho các hoạt động sáng tạo tiếp theo
Trang 2424
Ngoài ra, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp sẽ tạo cho chủ sở hữu
có được những lợi thế so với các chủ thể khác thông qua việc khai thác, sử dụng đối tượng phục vụ cho mục đích của mình
1.3.2 Góp phần thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ
Mục tiêu chính của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là khuyến khích hoạt động sáng tạo, sáng chế và đổi mới, nhờ đó mang lại cho đại bộ phận công chúng những lợi ích của hoạt động đó một cách kinh tế và nhanh chóng Bảo hộ sở hữu công nghiệp trao cho chủ sở hữu quyền độc quyền sử dụng đối tượng được bảo hộ trong một thời hạn nhất định để thu lợi, qua đó khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu và phát triển để tạo ra các đối tượng sở hữu công nghiệp mới, đồng thời thúc đẩy việc nhanh chóng áp dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp, đặc biệt là các công nghệ tiến bộ vào thực tiễn, nhằm tạo ra những sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Đổi lại, để nhận được sự độc quyền, chủ sở hữu phải bộc lộ công khai (trừ bí mật kinh doanh) các đối tượng sở hữu công nghiệp đó để xã hội có được những thông tin cần thiết, phục vụ cho các hoạt động sáng tạo tiếp theo
và tránh trùng lặp trong hoạt động sáng tạo
Theo thống kê của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), đế nay ước tính có khoảng hơn 80 triệu đơn đăng ký sáng chế đã được công bố trên toàn thế giới Đây là kho thông tin cập nhật, đầy đủ và toàn diện nhất về sự phát triển công nghệ của thế giới, là nguồn dữ liệu hết sức quý giá phục vụ nghiên cứu và phát triển Mỗi tư liệu sáng chế, ngoài các nội dung kỹ thuật (bản chất
kỹ thuật của sáng chế) còn chứa đựng những các nội dung pháp lý (người nộp đơn, tác giả sáng chế, nước cấp bằng, ngày nộp đơn, ngày cấp, hiệu lực bảo hộ) và thông tin kinh doanh (loại công nghệ, hàng hóa, dịch vụ), v.v
Trang 2525
Ngoài ra, dữ liệu sáng chế còn giúp các nhà quản lý khoa học và công nghệ xác định được trình độ công nghệ trong nước so với nước ngoài; nghiên cứu, thiết kế các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường; dự báo tiến
bộ khoa học công nghệ, dự báo sự phát triển của sản phẩm và thị trường; xây dựng kế hoạch nghiên cứu-phát triển, áp dụng công nghệ tiến bộ; ký kết các hợp đồng chuyển giao công nghệ, know-how, v.v
1.3.3 Thúc đẩy hoạt động đầu tư và chuyển giao công nghệ
Một công ty đa quốc gia có nhiều lựa chọn khác nhau để xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường nước ngoài Họ có thể đầu tư trực tiếp (tức là trực tiếp chọn địa điểm đầu tư, xây dựng nhà máy và điều hành sản xuất) hoặc liên doanh với doanh nghiệp địa phương thông qua góp vốn, công nghệ, nhân lực hay đơn giản nhất là chuyển giao công nghệ Việc lựa chọn hình thức đầu tư
và kinh doanh của nhà đầu tư phụ thuộc vào thị trường và hệ thống luật pháp của nước sở tại, trong đó hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp đóng một vai trò quan trọng Nét đặc trưng của các công ty đa quốc gia là họ thường sở hữu những khoản tài sản vô hình rất lớn, trong đó công nghệ là một trong những loại tài sản vô hình quan trọng nhất Xét trên góc độ quyền sở hữu công nghiệp, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, sáng chế đã tạo nên danh tiếng của công
ty Các công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty 100% vốn của mình tại các nước có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mạnh Ưu điểm của hình thức đầu tư này là có thể bảo vệ tốt nhất bí mật công nghệ của mình dù tốn ké, hơn và không thể tận dụng được các ưu thế của địa phương
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp còn thúc đẩy chuyển giao công nghệ Công nghệ được phân loại thành loại dễ bắt chước và loại khó bắt chước Loại công nghệ dễ bắt chước thường gồm có công nghệ sao chép băng đĩa nhạc, sản xuất đồ chơi, v.v Có nhiều lý do dẫn đến hiện tượng bắt chước công nghệ, chẳng hạn đối với các công ty nhỏ việc bắt chước công nghệ nhằm phục
Trang 2626
vụ cho sản xuất kinh doanh; còn đối với các công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh, việc nghiên cứu công nghệ của đối phương sẽ giúp khắc phục những nhược điểm của công nghệ hiện đang sử dụng và sáng chế ra những công nghệ mới Loại công nghệ khó bắt chước thường được sử dụng trong lĩnh vực dược phẩm và phần mềm máy tính Việc bắt chước công nghệ sẽ giúp giảm bớt chi phí trong việc nghiên cứu ra những loại thuốc mới và giúp nhanh chóng đưa ra thị trường các sản phẩm cạnh tranh tương tự, thậm chí có thể là những sản phẩm ưu việt hơn Nhìn chung, các sản phẩm máy móc, thiết bị y
tế thường khó bắt chước Tuy nhiên, dù tinh vi và phức tạp đến mức nào, tất
cả các sản phẩm đều hàm chứa rủi ro bị lộ bí mật công nghệ, hay bị bắt chước Chính vì vậy, các nhà đầu tư phải cân nhắc khá nhiều vấn đề khi tiến hành chuyển giao công nghệ Một hệ thống bảo hộ Sở hữu công nghiệp mạnh
có thể hạn chế việc sao chép, làm giả sản phẩm và tăng chi phí bắt chước, quá
đó thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ
Bất kỳ quốc gia nào xây dựng được một hệ thống bảo hộ sở hữu công nghiệp mạnh sẽ có điều kiện tiếp nhận các công nghệ tiên tiến phục vụ cho việc phát triển đất nước Ngược lại, các quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp yếu sẽ chỉ có cơ hội tiếp nhận các công nghệ đã phát minh từ lâu, thậm chí đã lỗi thời và mất dần giá trị khai thác
1.3.4 Thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác kinh tế quốc tế
Sở hữu công nghiệp gắn liền với nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, do
đó việc mở rộng hợp tác, trao đổi, giao lưu quốc tế giữa các quốc gia, tổ chức quốc tế trong bảo hộ sở hữu công nghiệp cũng là cầu nối cho việc phát triển quan hệ hợp tác quốc tế trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như: khoa học, công nghệ, văn hoá, giáo dục, thương mại, v.v Bảo hộ sở hữu công nghiệp được coi là cầu nối thúc đẩy quá trình giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực
Trang 2727
Ngoài ra, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội, nó tạo điều kiện đảm bảo cho người tiêu dùng được sử dụng những sản phẩm, dịch vụ tốt về chất lượng do được áp dụng những thành quả sáng tạo trong quá trình sản xuất, đúng về nguồn gốc xuất xứ thông qua lựa chọn các dấu hiệu đặc trưng hoặc chỉ dẫn về nguồn gốc
Kết luận Chương 1:
Tóm lại, các thành quả sáng tạo trí tuệ luôn luôn là những sản phẩm có
ý nghĩa quan trọng đối với mọi thời đại và hình thái kinh tế - xã hội Nó góp phần tạo nên sự phát triển của xã hội nói chung Mặt khác, thực tế đã chỉ ra rằng cơ chế bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là một trong những điều kiện quan trọng nhằm khuyến khích việc sáng tạo ra ngày càng nhiều hơn các sản
phẩm mới đáp ứng các nhu cầu của xã hội Có thể nói "cơ chế bảo hộ sở hữu
công nghiệp đã tồn tại một cách thực sự ở tất cả các quốc gia văn minh như một phần quan trọng trong hạ tầng cơ sở của một xã hội hiện đại”.[6]
Trang 2828
Chương 2 BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC NGOÀI
2.1 Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mang lại sự độc quyền cho chủ sở hữu của đối tượng được bảo hộ, cho phép chủ thể quyền, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia các hoạt động thương mại quốc tế, kiểm soát được việc sử dụng các đối tượng được bảo hộ tại thị trường nước ngoài Việc bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài sẽ mang đến cho chủ sở hữu quyền một số lợi thế sau:
- Có độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại lãnh thổ quốc gia/khu vực nhận được sự bảo hộ Chủ sở hữu quyền cũng có thể này có thể chuyển giao hoặc chuyển nhượng các độc quyền này cho các chủ thể khác thông qua hợp đồng chuyển nhượng hoặc hợp đồng li xăng để thu lợi;
- Đảm bảo giá trị pháp lý đối với việc tạo ra giá trị gia tăng từ đối tượng sở hữu công nghiệp;
- Tạo ra lợi thế trong các cuộc thương lượng khi hợp tác với các đối tác hoặc lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ kinh doanh khác;
- Kiểm soát được quá trình xuất khẩu , hạn chế nguy cơ bị chiếm đoạt quyền sở hữu công nghiệp tại thị trường nước ngoài, qua đó tránh được các chi phí cho việc giải quyết tranh chấp liên quan quyền sở hữu công nghiệp
- Tăng lợi nhuâ ̣n biên bằng cách tiết kiê ̣m chi phí trung gian; và
ngoài
Tuy nhiên, trong quá trình đăng ký bảo hộ tại nước ngoài, người đăng
ký có thể gặp rủi ro khi đối tượng sở hữu công nghiệp đó đã bị người khác đã
Trang 2929
đăng ký trước với mục đích “chiếm chỗ” Những người đăng ký nhằm mục đích chiếm chỗ thường là:
- Kiều bào, đặc biệt là một nước có nhiều kiều bào như Việt Nam;
- Các tổ chức nước ngoài là đối tác của chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp;
- Đối thủ cạnh tranh của các chủ sở hữu công nghiệp
Mục đích của việc đăng ký chiếm chỗ thường là:
- Thu lợi từ việc yêu cầu chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp phải mua lại với giá cao;
- Ngăn cản việc nhập khẩu hàng hoá hoặc việc kinh doanh của các chủ
sở hữu quyền sở hữu công nghiệp ở thị trường nước sở tại;
- Lợi dụng uy tín của sản phẩm mang sở hữu công nghiệp đối với bộ phận người tiêu dùng biết đến sản phẩm đó;
- Làm tổn hại đến uy tín của chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp thực tế
Hậu quả của những rủi ro đó có thể là:
- Việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của chủ thể quyền trên trên lãnh thổ nước sở tại có thể bị coi là hành vi vi phạm pháp luật;
- Tốn kém thời gian và nguồn lực cho việc giành lại quyền đối với đối tượng sở hữu công nghiệp liên quan
Do vậy, nếu một tổ chức, cá nhân có ý định kinh doanh quốc tế thì phải xem xét việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình ở quốc gia/khu vực liên quan nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở đó
Trang 3030
2.2 Thời điểm đăng ký bảo hộ
Khi đăng ký bảo hô ̣ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài, thời gian
là yếu tố quyết định Tuy nhiên, sẽ rất khó xác đi ̣nh được khi nào là thời điểm thích hợp để tiến hành nô ̣p đơn đăng ký Người nộp đơn có thể cân nhắc các yếu tố dưới đây:
- Thời điểm chủ sở hữu quyền muốn đưa sản phẩm ra thi ̣ trường, kể cả thị trường trong nước và nước ngoài;
- Số lượng đ ối tượng dự định đăng ký và khả năng tài chí nh để đăng
ký bảo hô ̣ và duy trì quyền sở hữu công nghiệp ở nước ngoài;
- Khả năng ngư ời khác có thể đô ̣c lâ ̣p phát triển , sao chép hoă ̣c bắt chước các đă ̣c điểm của đối tượng đăng ký (ví dụ, kỹ thuật của sáng chế, kiểu dáng hoặc nhãn hiê ̣u)
Đăng ký bảo hô ̣ quy ền sở hữu công nghiệp, đặc biệt là sáng chế, ở nhiều nước khác nhau có thể rất tốn kém Do vậy, không nên tiến hành đăng
ký quá sớm vì ngư ời nộp đơn sẽ phải trả các chi phí nô ̣p đơn , phí dịch thuật và/hoă ̣c phí duy trì mô ̣t cách không cần thiết khi chưa ti ến hành kinh doanh ở thị trường liên quan
Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý để bảo đảm không nô ̣p đơn đăng ký bảo
hô ̣ sở hữu trí tuê ̣ quá muô ̣n vì đối với các đ ối tượng sở hữu công nghi ệp mà quyền được xác lập trên cơ sở đăng ký (ví dụ, sáng chế, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp ) thì nguyên tắc quy ền ưu tiên được áp du ̣ng ở hầu hết các
trường hợp có nhiều người cùng đăng ký một đối tượng Ngoài ra, khi thông tin về đối tượng sở hữu công nghiệp, đặc biệt là đối với sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, đã bị bô ̣c lô ̣ thì khó có th ể nhâ ̣n được sự bảo hô ̣ vì chúng sẽ không còn đáp ứng điều kiê ̣n về tính mới nữa
Trang 3131
2.3 Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại nước ngoài
Một trong những đặc điểm nổi bật của quyền sở hữu công nghiệp là tính lãnh thổ Quyền sở hữu công nghiệp phát sinh trên cơ sở pháp luật nước nào thì chỉ được bảo hộ trong phạm vi lãnh thổ nước đó Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, phần lớn các quyền sở hữu công nghiệp chỉ phát sinh khi được đăng ký tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo đó để đạt được sự bảo hộ tại nước ngoài, chủ sở hữu công nghiệp phải tiến hành đăng ký bảo hộ tại nước ngoài
Để bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp của mình ở một hay nhiều nước, chủ thể quyền có thể thực hiện đăng ký trực tiếp với cơ quan sở hữu công nghiệp ở nước sở tại, hay còn gọi là theo con đường quốc gia, hoặc đăng ký theo một nhóm nước tại cơ quan sở hữu công nghiệp khu vực hoặc đăng ký theo thủ tục quốc tế, cụ thể như sau:
2.3.1 Theo đường quốc gia
Người nộp đơn có thể lựa chọn bảo hộ quyền của mình ở từng quốc gia riêng biệt bằng cách tiến hành đăng ký trực tiếp tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp của quốc gia đó Thông thường, khi tiến hành đăng ký theo đường quốc gia, người nộp đơn phải tuân thủ các yêu cầu sau:
- Đơn phải được làm bằng ngôn ngữ của nước sở tại, thường người nộp đơn sẽ phải chịu chi phí dịch thuật đơn ra ngôn ngữ nước sở tại;
- Phải nộp các khoản phí theo quy định;
- Phải sử dụng dịch vụ đại diện (luật sư) sở hữu công nghiệp để đại diện cho mình trước Cơ quan Sở hữu công ngiệp cũng như thực hiện các công việc theo đuổi đơn
Trang 32ở mỗi quốc gia, theo đó kiểu dáng công nghiệp có thể được bảo hộ theo pháp luật về kiểu dáng công nghiệp hoặc pháp luật về quyền tác giả hoặc pháp luật
về nhãn hiệu hoặc pháp luật cạnh tranh không lành mạnh; hay đối với chỉ dẫn địa lý, nhiều nước không có hệ thống đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý riêng mà bảo hộ theo pháp luật về nhãn hiệu (Hoa Kỳ) hoặc bảo hộ theo pháp luật cạnh tranh ( Nhật Bản, Singapore), v.v
Ví dụ 1: Đăng ký bảo hộ sở hữu công nghiệp tại Hoa Kỳ
Có thể nói, Hoa Kỳ là một quốc gia có chế độ bảo hộ nghiêm ngặt và khá phức tạp đối với tất cả các đối tượng sở hữu công nghiệp Tại Hoa Kỳ, tồn tại hai hệ thống pháp luật song song là luật liên bang và luật tiểu bang Tuy nhiên, hầu hết các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ thuộc quyền tài phán của liên bang và luật áp dụng cho những vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng hầu hết là luật liên bang
Vấn đề xác lập và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được đặt ra từ rất lâu ở Mỹ với đạo luật đầu tiên về đăng ký nhãn hiệu và cấm vi phạm nhãn hiệu năm 1870 Trước đây, Hoa Kỳ áp dụng nguyên tắc “first to invent” (sáng tạo trước) đối với sáng chế và “first to use” (sử dụng trước) đối với nhãn hiệu, tuy nhiên, gần đây Hoa Kỳ đã ban hành Đạo luật Sáng chế mới (American Invention Act) chuyển sang áp dụng nguyên tắc “first to file” (nộp đơn trước) đối với sáng chế, còn nhãn hiệu vẫn giữ nguyên
Trang 3333
- Đối với sáng chế: pháp luật Mỹ quy định người nộp đơn đăng ký
sáng chế phải là tác giả sáng chế; sau khi nộp đơn, người này có thể chuyển nhượng quyền sở hữu đơn cho doanh nghiệp hoặc tổ chức nơi người đó đang làm việc Quá trình xem xét đơn yêu cầu bảo hộ sáng chế được thực hiện tại
Cơ quan Nhãn hiệu và Sáng chế Hoa kỳ (USPTO) Thông thường, quá trình xem xét cấp Bằng độc quyền sáng chế kéo dài khoảng 18-20 tháng kể từ ngày nộp đơn
- Đối với nhãn hiệu, theo Luật Nhãn hiệu Hoa kỳ, quyền sở hữu đối
với nhãn hiệu được tự động xác lập theo luật án lệ trong phạm vi từng bang khi nhãn hiệu đó được sử dụng trong kinh doanh hoặc được người tiêu dùng biết đến một cách rộng rãi nếu nhãn hiệu không có tính phân biệt tự thân (mang tính mô tả hoặc chỉ bao gồm chữ cái, chữ số đơn thuần…) Nói cách khác, ở Mỹ không nhất thiết phải đăng ký nhãn hiệu để nhãn hiệu có thể được bảo hộ Tuy nhiên, việc đăng ký nhãn hiệu ở liên bang mang lại cho chủ nhãn hiệu nhiều lợi thế về vật chất và quyền lợi Khi đã được đăng ký liên bang, nhãn hiệu sẽ được bảo hộ trên toàn lãnh thổ liên bang thay vì bị giới hạn trong bang mà nhãn hiệu được sử dụng Để đăng ký nhãn hiệu liên bang, người nộp đơn phải nộp đơn cho USPTO và nêu rõ cơ sở nộp đơn là “đã sử dụng” (used), “dự định sử dụng” (intent to use) hay dựa trên đăng ký nhãn hiệu đã được cấp tại nước ngoài
Các đối tượng sở hữu công nghiệp khác chủ yếu được xác lập và bảo
hộ theo luật chống cạnh tranh không lành mạnh
Có thể nhận thấy cơ chế xác lập quyền sở hữu công nghiệp ở Mỹ được quy định khá linh hoạt nhằm bảo hộ tốt nhất quyền lợi hợp pháp cho chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp Nhìn chung, việc sử dụng thực tế đối tượng sở hữu công nghiệp là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc xác lập quyền Cách xác định này là phù hợp với thực tế xã hội, nhằm tránh hiện
Trang 3434
tượng đăng ký bảo hộ nhãn hiệu với động cơ không trung thực, trục lợi bất hợp pháp hoặc cạnh tranh không lành mạnh
2.3.2 Theo đường khu vực
Nếu có nhu cầu bảo hộ ở một nhóm nước, người nộp đơn có thể thực thiện đăng ký các đối tượng sở hữu công nghiệp ở các Cơ quan Sở hữu công nghiệp khu vực, theo đó có khả năng nhận được sự bảo hộ trên lãnh thổ toàn khu vực đó Các Cơ quan Sở hữu công nghiệp khu vực trên thế giới bao gồm:
- Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO): bảo hộ sáng chế trên 38 quốc gia
thành viên Công ước Sáng chế châu Âu;
- Cơ quan Hài hòa hóa thị trường nội địa châu Âu (OHIM): bảo hộ
nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp, trao cho chủ sở hữu quyền trên toàn bộ lãnh thổ các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu;
- Tổ chức Sở hữu công nghiệp khu vực châu Phi (ARIPO): bảo hộ sáng
chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp tại 18 nước châu Phi nói tiếng Anh;
- Tổ chức Sở hữu công nghiệp châu Phi (OAPI): bảo hộ sáng chế, giải
pháp hữu ích, chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và thiết kế bố trí mạch tích hợp dành tại 15 nước châu Phi nói tiếng Pháp và Bồ Đào Nha;
- Cơ quan Sáng chế Á – Âu (AEPO): bảo hộ sáng chế ở 9 quốc gia
thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG);
- Cơ quan Nhãn hiệu Benelux & Cơ quan Kiểu dáng Benelux: bảo hộ
nhãn hiệu và kiểu dáng ở các nước Bỉ, Hà Lan và Lúc-xem-bua;
- Cơ quan Sáng chế của Hội đồng hợp tác các quốc gia Ả-rập vùng
Vịnh: bảo hộ sáng chế ở các nước Bahrain, Cô-oét, Ô-man, Qua-ta, Ả rập
Xê-út và Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
Trang 3535
Ưu điểm của việc nộp đơn đăng ký bảo hộ tại các Cơ quan Sở hữu công nghiệp khu vực là người nộp đơn chỉ phải thực hiện một thủ tục nộp đơn duy nhất, bằng ngôn ngữ quy định và nộp phí bằng một loại tiền duy nhất Phạm
vi hiệu lực bảo hộ của đối tượng đăng ký có thể là ở một số hoặc toàn bộ các nước thành viên của Cơ quan Sở hữu công nghiệp khu vực
Ví dụ 2: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp tại châu Âu
Liên minh châu Âu (EU) hiện tại bao gồm 27 nước thành viên (Áo, Bỉ,
Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Pháp, Hy Lạp, Luxambua, Phần Lan, Ireland, Italia, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Anh, Ba Lan, Hungary, Séc, Slovakia, Slovenia, Lithuania, Latvia, Estonia, Síp, Malta, Romania và Bungary) Các nước này đã thiết lập một hệ thống đăng ký nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp (cộng đồng) nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có nhu cầu
có thể đăng ký bảo hộ các đối tượng này tại Liên minh châu Âu một cách thuận lợi, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí Đối tượng SHCN nêu trên khi được đăng ký sẽ có hiệu lực ở tất cả các nước thành viên EU Cũng giống như các hệ thống đăng ký quốc tế khác nhằm xác lập quyền đối với các đối tượng
sở hữu công nghiệp, việc đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp ở châu Âu có ưu điểm là thủ tục nộp đơn đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm chi phí Người nộp đơn khi muốn chuyển đổi đơn đăng ký tại cộng đồng thành đơn đăng ký quốc gia tại từng nước thuộc
EU sẽ được bảo lưu ngày nộp đơn Đơn đăng ký khi bị từ chối ở một trong các nước thành viên của EU có thể chuyển đổi thành đơn đăng ký quốc gia ở các nước khác
Đơn đăng ký phải được nộp tại bộ phận phụ trách chuyên môn tương ứng của Cơ quan Hài hoà hoá thị trường nội địa châu Âu (OHIM)
Trang 3636
OHIM không thẩm định nội dung các đơn đăng ký mà áp dụng cơ chế phản đối của các bên liên quan đối với việc bảo hộ đối tượng đăng ký Sau khi được tiếp nhận, Đơn sẽ được xét nghiệm hình thức, sau đó được công bố trong một khoảng thời gian để các bên liên quan phản đối Sau một thời gian xác định tuỳ thuộc vào từng đối tượng, nếu không có ý kiến phản đối thì đối tượng được ghi nhận đăng ký Chủ sở hữu các đối tượng có nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng các biện pháp khác nhau trong đó có biện pháp theo dõi việc công bố các đối tượng yêu cầu đăng
ký để phản đối việc đăng ký đối tượng đó nếu có căn cứ, cơ sở cho rằng đối tượng vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình
Ví dụ 3: Đăng ký bảo hộ sáng chế tại châu Âu
Để bảo hộ sáng chế tại châu Âu, người nộp đơn phải nộp đơn đăng ký sáng chế tại Cơ quan Sáng chế châu Âu (EPO) Hồ sơ đơn gồm: Tờ khai đăng
ký sáng chế (theo mẫu), bản tóm tắt về sáng chế, bản mô tả chi tiết kỹ thuật của sáng chế, các điểm yêu cầu bảo hộ, bản vẽ (nếu có) Người nộp đơn phải chỉ rõ muốn đăng ký sáng chế ở một, một số hay toàn bộ các nước thành viên EPO
Đơn có thể nộp bằng một trong ba ngôn ngữ làm việc chính thức của EPO là tiếng Anh, Pháp và Đức Nếu đơn được làm bằng ngôn ngữ khác thì phải nộp kèm theo bản dịch Nếu người nộp đơn không cư trú tại một trong số các nước thành viên của EPO và không có cơ sở thương mại hoặc công nghiệp tại các nước này thì buộc phải nộp đơn thông qua đại diện sở hữu công nghiệp
Sau khi nhận được đơn, EPO sẽ thẩm định hình thức của đơn để bảo đảm rằng đơn đáp ứng tất cả các yêu cầu về thủ tục, cũng như tất cả các thông tin, tài liệu đã được cung cấp đầy đủ Đồng thời, EPO cũng tiến hành tra cứu
Trang 3737
sơ bộ để tìm ra tất cả các tài liệu có liên quan để làm cơ sở đánh giá tính mới
và trình độ sáng tạo của sáng chế được yêu cầu bảo hộ Đơn đăng ký sáng chế
sẽ được công bố trong vòng 18 tháng tính từ ngày nộp đơn, cùng với các tài
có liệu liên quan tìm được
Người nộp đơn sẽ có 06 tháng kể từ ngày công bố đơn để quyết định có tiếp tục theo đuổi đơn bằng cách yêu cầu thẩm định nội dung hay không Kể
từ ngày công bố đơn, sáng chế sẽ nhận được sự bảo hộ tạm thời ở các quốc gia được chỉ định trong đơn
EPO sẽ tiến hành thẩm định nội dung khi người nộp đơn có yêu cầu Nếu sáng chế đáp ứng được các tiêu chuẩn về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp thì bằng độc quyền sẽ được cấp, và được công bố trên Công báo của EPO Bằng độc quyền sáng chế do EPO cấp sẽ có hiệu lực
ở các nước thành viên EPO được chỉ định trong đơn đăng ký
Trong thời hạn 09 tháng kể từ ngày công bố, bằng độc quyền sáng chế
có thể bị phản đối bởi bên thứ ba - thường là các đối thủ cạnh tranh của người nộp đơn hoặc các tổ chức bảo vệ quyền lợi cộng đồng – nếu thấy rằng sáng chế không xứng đáng được cấp bằng độc quyền, ví dụ, do sáng chế thiếu tính mới hoặc không có trình độ sáng tạo hoặc không có khả năng áp dụng công nghiệp, hoặc xâm hại đến trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội
Trang 3838
Quy trình đăng ký sáng chế tại EPO
Với lịch sử phát triển lâu đời, hệ thống sở hữu trí tuệ nói chung và cơ chế xác lập quyền sở hữu công nghiệp nói riêng ở châu Âu đã đạt đến trình độ phát triển cao Thủ tục xác lập quyền được quy định một cách đơn giản, thuận tiện nhằm bảo hộ tốt nhất quyền và lợi ích của chủ sở hữu Hoạt động xác lập quyền ở châu Âu được thực hiện dưới hình thức cung cấp “dịch vụ công”, hoàn toàn thoát khỏi những ràng buộc mang tính mệnh lệnh, hành chính như
ở nhiều nước khác
Trang 3939
2.3.3 Theo đường quốc tế
Với mục đích hỗ trợ người nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đồng thời ở nhiều quốc gia, các thành viên Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) đã xây dựng các hệ thống đăng ký sở hữu công nghiệp toàn cầu
Ưu điểm chung của các hệ thống này là cho phép người nộp đơn với một đơn đăng ký duy nhất, làm bằng một ngôn ngữ theo quy định và nộp một khoản lệ phí bằng một loại tiền có thể thực hiện đăng ký đối tượng sở hữu công nghiệp của mình trên toàn bộ các nước thành viên của hệ thống liên quan Các hệ thống nộp đơn quốc tế không chỉ tạo thuận tiện về thủ tục nộp đơn mà còn giảm thiểu đáng kể chi phí để nhận được sự bảo hộ ở các nước liên quan Các
hệ thống đăng ký sở hữu công nghiệp quốc tế do WIPO quản lý gồm:
a Hệ thống PCT về đăng ký sáng chế quốc tế:
Là hệ thống đăng ký bảo hộ sáng chế toàn cầu, được thiết lập theo Hiệp ước Hợp tác về sáng chế (PCT), cho phép người nộp đơn có thể đồng thời đăng ký bảo hộ sáng chế ở 146 quốc gia là thành viên của Hiệp ước PCT [63]
Một trong số những ưu điểm nổi bật của Hệ thống PCT là việc trao cho người quy định 18 tháng quyền ưu tiên thay vì chỉ 12 tháng (như được quy định bởi Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp) để quyết định đăng
Trang 4040
ký bảo hộ ở những quốc gia thành viên nào Với khoảng thời gian đó, người nộp đơn sẽ có cơ hội đánh giá khả năng thương mại của đối tượng đăng ký bảo hộ sáng chế ở các quốc gia liên quan và đưa ra quyết định đăng ký bảo hộ
ở quốc gia nào, qua đó tiết kiệm được phí nộp đơn và các chi phí khác
Hệ thống PCT được sử dụng một cách rộng rãi để tạo cơ hội bảo hộ sáng chế ở nhiều quốc gia khác nhau trong khoảng thời gian dài nhất Người nộp đơn có thể nộp đơn đăng ký sáng chế ở Cơ quan sở hữu công nghiệp ở nước sở tại, Cơ quan sở hữu công nghiệp khu vực hoặc nộp trực tiếp với Văn phòng quốc tế của WIPO
Nếu không sử dụng quy trình đăng ký quốc tế theo Hệ thống PCT, thì người nộp đơn sẽ phải chuẩn bị đơn để nộp tại nước ngoài trước khi kết thúc thời hạn ưu tiên từ 03 đến 06 tháng, đồng thời phải chuẩn bị bản dịch của đơn
và gửi kèm theo các đơn đã được nộp ở các quốc gia khác để được hưởng quyền ưu tiên
Quy trình xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế đăng ký theo hệ thống PCT được chia thành hai giai đoạn, gồm “giai đoạn quốc tế” và
“giai đoạn quốc gia”