Tuy nhiên, qua tổng kết hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn còn nhiều
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
Trang 2Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC
THẨM
1.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm 9 1.1.1 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm 9 1.1.2 Các khía cạnh thể hiện vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm 14 1.2 Vai trò của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) trong thủ tục
giám đốc thẩm một số nước trên thế giới 30 1.2.1
Vai trò của Viện công tố trong thủ tục giám đốc thẩm hình
sự theo pháp luật liên bang Hoa Kỳ - quốc gia theo truyền
thống luật án lệ (common law)
30
1.2.2 Vai trò của Viện Công tố trong thủ tục giám đốc thẩm (thủ
tục phá án) theo pháp luật của Cộng hòa Pháp 31 1.2.3 Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm theo
pháp luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga 33 1.2.4
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc
thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa
nhân dân Trung Hoa
36
1.2.5
Một số bài học kinh nghiệm Việt Nam có thể vận dụng đê
hoàn thiện và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong thủ
tục giám đốc thẩm
39
1.3 Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm ở
1.3.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm 42
Trang 3trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
1.3.2 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về
vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm 47
Chương 2: THỰC TIẾN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát trong thủ
2.1.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong việc phát hiện những bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có dấu
hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng
54
2.1.2
Vai trò của Viện kiểm sát trong công tác tổ chức, nghiên
cứu và giải quyết các vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc
thẩm
69
2.1.3 Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp tại
2.2 Những vướng mắc trong việc thụ lý, giải quyết các trường
hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm vụ án hình sự 74 2.2.1 Tình trạng quá tải trong việc giải quyết án giám đốc thẩm
hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao 74 2.2.2
Quy định của pháp luật liên quan đến việc xử lý, giải quyết
các trường hợp đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm còn
những điểm bất cập
75
2.3 Nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình thụ lý, giải
quyết vụ án hình sư theo thủ tục giám đốc thẩm 76
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
3.1 Cơ sở, nguyên tắc hoàn thiện các quy định về vai trò của 81
Trang 4Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
3.1.1 Cơ sở hoàn thiện các quy định về vai trò của Viện kiểm sát
3.1.2 Nguyên tắc hoàn thiện các quy định về vai trò của Viện
Trang 5: Thực hành quyền công tố : Viện kiểm sát nhân dân tối cao : Viện kiểm sát nhân dân
: Xã hội chủ nghĩa
Trang 670
2.4 Kết quả xét xử giám đốc thẩm vụ án hình sự (từ
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời gian qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân đất nước ta đã vượt qua những khó khăn, thử thách; nền kinh tế tiếp tục có những chuyển biến tích cực, quốc phòng an ninh được giữ vững, trật tự xã hội
ổn định, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng nâng cao Trong tình hình chung đó, dưới sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với ngành Kiểm sát nhân dân vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong
hệ thống các cơ quan Nhà nước tiếp tục được khẳng định Chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp được nâng lên một bước; góp phần tích cực vào việc phát hiện, điều tra, xử lý đúng người, đúng tội, hạn chế tỷ lệ oan sai trong tố tụng hình sự, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa; theo đúng tinh thần Nghị quyết đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra: “Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp [13, tr133]”
Là một thiết chế trong nhánh quyền tư pháp, quyền công tố ở Việt Nam được giao cho Viện kiểm sát đảm trách Có thể nói đây là quyền năng đặc thù của Viện Kiểm sát nhưng cũng gắn với đó là trách nhiệm nặng nề nhằm đảm bảo cho việc truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng oan sai và bỏ lọt tội phạm Thực hành quyền công tố
là một hoạt động mấu chốt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nó được tiến hành từ khi người thực hiện hành vi phạm tội bị khởi tố cho đến khi thi hành phán quyết của Tòa án về hành vi phạm tội đó
Tuy nhiên, qua thực tiễn tố tụng cho thấy các phán quyết của Tòa án qua các bản án, quyết định không phải khi nào cũng đúng mà có không ít bản
Trang 8án, quyết định sai phạm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc sai lầm trong áp dụng luật hình sự xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Đòi hỏi tất yếu cho thấy việc khắc phục những sai lầm, vi phạm đó là hết sức cần thiết, nhằm một mặt bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án hoặc người có liên quan đến vụ án, mặt khác để đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ một cách triệt để Đó là những yêu cầu thiết yếu cần phải có thủ tục đặc biệt trong
tố tụng hình sự để xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm Đây là một chế định quan trọng của luật tố tụng hình sự
và là một thủ tục đặc biệt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Điều 272
Bộ luật tố tụng hình sự quy định “Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án” [3, tr 199] Thực tiễn khẳng định,
kháng nghị giám đốc thẩm chính là một biện pháp, một công cụ hữu hiệu để kiểm tra lại tính hợp pháp của các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, qua tổng kết hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế nhất là trong lĩnh vực giám đốc thẩm vụ án hình sự: tình trạng đơn yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm tăng nhanh vượt quá khả năng giải quyết của Tòa án và Viện kiểm sát, tiến độ giải quyết đơn chậm, kéo dài; tình trạng kháng nghị giám đốc thẩm nhiều nhưng không được Hội đồng xét xử chấp nhận; đặc biệt là tình trạng bản án kháng nghị chưa mang ý nghĩa là chuẩn mực trong việc áp dụng pháp luật để hướng dẫn, chỉ đạo rút kinh nghiệm đối với cấp dưới Điều này do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, từ nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của công tác kháng nghị giám đốc thẩm trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, cho đến trình độ năng lực, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ,
Trang 9Kiểm sát viên làm công tác giám đốc thẩm còn hạn chế cũng như chưa có hệ thống các văn bản hướng dẫn để áp dụng thống nhất các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự
Một tình trạng nổi bật và phổ biến ở nước ta là trong một thời gian dài vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân hầu như chỉ được đề cập và quan tâm nhiều trong các lĩnh vực Kiểm sát điều tra, Kiểm sát xét xử sơ thẩm, phúc thẩm mà không chú ý đầy đủ công tác Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm hình sự Thêm vào đó, công tác nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực mang tính thời sự ở giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự mà chưa đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực hoạt động trong giai đoạn giám đốc thẩm, mặc dù đây cũng là một giai đoạn hết sức cần thiết và quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự cụ thể Với mong muốn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này trên phương diện lý luận và thực tiễn, để xây dựng những luận cứ khoa học, góp phần tìm ra giải pháp nâng cao trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân mà cụ thể là nâng cao hiệu quả công tác Thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn giám đốc thẩm; vì vậy,
việc nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về “Vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm các vụ án hình sự”, là cần thiết trong thời
điểm hiện nay
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Công tác giải quyết án hình sự trong giai đoạn xét xử nói chung và giai đoạn giám đốc thẩm nói riêng đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, các cuốn sách, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài viết trên các tạp chí …Có thể thống kê một số công trình sau:
Trang 10- TS Dương Thanh Biểu (2010),“Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm”, Nhà
- Chuyên đề (2006), “Nâng cao chất lượng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, công tác kiểm tra giám đốc thẩm hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp hiện nay”, Vụ 3, Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Đỗ Văn Đương (2006), “Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Kiểm sát, Hà Nội;
Tuy vậy, các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề nêu trên đều đề cập một cách toàn diện, hệ thống thủ tục giám đốc thẩm hoặc vai trò của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng Còn luận văn tập trung đến vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn góp phần giải quyết một số vấn đề pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát ở giai đoạn giám đốc thẩm, tăng cường vị trí, vai trò cũng như trách nhiệm của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan Nhà nước, bảo đảm pháp chế trong xét xử hình sự
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến chế
định Giám đốc thẩm; vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục Giám đốc thẩm theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự trong tiến trình cải cách
tư pháp trên tinh thần của Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm
2005 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị nhằm xây dựng hệ thống tố tụng hoàn chỉnh, tiến bộ và vì con người
Về mặt thực tiễn:
vụ án hình sự theo thủ tục giám đốc thẩm ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao qua đó đánh giá vị trí, trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân ở giai đoạn này, góp phần hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm như Nghị quyết 49 của Bộ
chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đã nêu: “Từng bước hoàn thiện thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo hướng quy định chặt chẽ những căn cứ kháng nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị đối với bản
án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực; khắc phục tình trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ”
Thứ hai, nghiên cứu để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt
động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật từ đó đưa
ra các giải pháp khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng giám đốc thẩm, tăng cường trách nhiệm tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn giám đốc thẩm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
Trang 12Một là, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về vai
trò, trách nhiệm, quyền hạn, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn giám đốc thẩm các vụ án hình sự ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
Hai là, chỉ rõ những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật tố
tụng hình sự hiện hành gây ra khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình ở giai đoạn giám đốc thẩm trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011
Ba là, đề xuất các quan điểm luận chứng, một số tiêu chí hoàn thiện các
quy định về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò,
của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự ở Việt Nam
và một số nước trên thế giới
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Do điều kiện có hạn, luận văn chỉ
tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về thủ tục giám đốc thẩm cũng như vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (trừ Viện kiểm sát quân sự) theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các bản án hình sự Luận văn không nghiên cứu thủ tục này đối với các bản án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận: Để phù hợp với nội dung nghiên cứu và giải quyết được
các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra; Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Đường lối quan điểm của Đảng thực hiện cải cách tư pháp về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công
Trang 13dân; về vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong
bộ máy nhà nước
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn trực tiếp sử dụng các phương pháp
kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích, tổng hợp cụ thể Ngoài ra, luận văn có
sử dụng một số phương pháp chuyên ngành như tổng hợp, phân tích, thống
kê, so sánh, quy nạp và diễn dịch Đặc biệt, phương pháp khảo sát thực tế, thăm dò ý kiến của những người làm công tác thực tiễn được sử dụng ở mức
độ đáng kể trong quá trình nghiên cứu luận văn
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Luận văn là một công trình nghiên cứu chuyên khảo, đề cập một cách trực tiếp và khá toàn diện về vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giai đoạn giám đốc thẩm các vụ án hình sự
Luận văn có nêu rõ một số khái niệm khoa học pháp lý về chức năng của Viện kiểm sát, vai trò của Kiểm sát viên trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn giám đốc thẩm các vụ án hình sự Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần giải đáp về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn giám đốc thẩm
Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về thực hành quyền công tố đối với các nhà hoạch định chính sách,
xây dựng luật và những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Chương 2: Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
1.1 VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
1.1.1 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Cũng như thông lệ quốc tế, các hoạt động tố tụng hình sự trong pháp luật Việt Nam đều nhằm phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời và công minh mọi hành vi phạm tội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân Để đạt được
Trang 15mục đích đó, Bộ luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Tuy nhiên, trong thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có lúc, có nơi việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng còn để lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xét xử quá nặng, quá nhẹ hoặc có những vi phạm pháp luật cần khắc phục, sửa chữa Quá trình
tố tụng hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn trước
là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau lại là sự kiểm nghiệm kết quả của giai đoạn trước Chính vì vậy, một mặt
để đảm bảo nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam là thực hiện chế độ hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời vẫn bảo đảm quyền con người được bảo vệ ở mức cao nhất với phương châm mọi oan sai trong vụ án đều được khắc phục bởi các thủ tục tố tụng công khai, dân chủ, Bộ luật tố tụng hình sự quy định một thủ tục tố tụng đặc biệt - thủ tục giám đốc thẩm "là xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án", bởi lẽ:
Một là, giám đốc thẩm không phải là việc xét xử lại vụ án mà là xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm nghiêm trọng, bị kháng nghị;
Hai là, không phải bất cứ trường hợp nào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có vi phạm cũng được tiến hành xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, mà phải là các trường hợp bản án, quyết định đó của Toà án có vi phạm nghiêm trọng mới được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
Ba là, việc đặt ra thủ tục giám đốc thẩm không phải là phổ biến đối với mọi vụ án hoặc phần lớn số vụ án mà chỉ là trường hợp thật đặc biệt mới đặt
ra, cho nên nó chỉ là hãn hữu, là rất ít
Trang 16Để đưa một bản án hay quyết định của Tòa án ra xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm cần phải có đủ các điều kiện sau:
- Một là, chỉ thực hiện đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật Theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003, những bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật bao gồm: (1) những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (2) những bản án và quyết định của Tòa
án cấp phúc thẩm; (3) những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
- Hai là, có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án
- Ba là, có kháng nghị của người có thẩm quyền
Là một thủ tục tố tụng đặc biệt, xong ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau mà quan niệm về thủ tục giám đốc thẩm cũng có sự khác nhau Trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới theo truyền thống luật án lệ thường không quy định thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án mà việc kháng cáo được tiến hành theo thủ tục tố tụng tại Tòa kháng cáo với nhiều loại thủ tục khác nhau như pháp luật Australia hay pháp luật Hoa Kỳ Theo hệ thống pháp luật của những nước này thì đều coi các bản án, quyết định đã tuyên của Tòa án cấp thứ nhất (tòa sơ thẩm) là phán quyết cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án; tuy nhiên các cấp tòa án cao hơn vẫn có thể xem xét lại các bản án, quyết định đã tuyên của tòa án cấp thấp hơn nếu bị kháng cáo hay kháng nghị Việc xem xét lại các phán quyết cuối cùng này cùng có phần tương tự như thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật hoặc lời kết tội của quy chế Rôma về Tòa hình sự quốc tế (ICC) Điều 84, quy chế Rôma: "Người bị kết án hoặc nếu người đó chết thì vợ hoặc chồng, con, cha, mẹ hoặc một người đang sống vào thời điểm bị cáo chết mà được người
đó chỉ dẫn rõ ràng bằng văn bản việc đệ đơn khiếu nại, hoặc Trưởng công tố
Trang 17có quyền đề nghị Hội đồng Phúc thẩm xét lại phán quyết cuối cùng về lời buộc tội hoặc bản án" Tuy khác nhau về tên gọi, nhưng việc các chủ thể
"khiếu nại" hay "đề nghị" hoặc "kháng cáo" hay "kháng nghị" đều là căn cứ
để bắt đầu thủ tục tố tụng kháng cáo và có cùng nội dung là yêu cầu Hội đồng Phúc thẩm xét lại lời kết tội hay bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Trái lại, ở những quốc gia theo truyền thống luật lục địa (luật dân sự), thường thực hiện chế độ "hai cấp xét xử" thì lại có sự quy định cụ thể thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án như pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Liên bang Nga, pháp luật Trung Hoa…Theo đó, sau khi vụ án được xét xử theo thủ tục
sơ thẩm, bản án, quyết định sơ thẩm không có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án Mặc dù vậy, ngay cả khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng nếu phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình tiến hành tố tụng thì Tòa án cấp trên vẫn có quyền xét lại bản
án theo một thủ tục đặc biệt gọi là thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án
Pháp luật Việt Nam vừa có những nét tương đồng với pháp luật thế giới để phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, lại có những đặc thù riêng đáp ứng nhu cầu về tình hình trị an, đặc điểm văn hóa xã hội trong nước Việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt và có những đặc thù so với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và tái thẩm Thủ tục giám đốc thẩm được hiểu
là việc "xét lại bản án, quyết định" có hiệu lực pháp luật khi bản án, quyết định đó bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý
vụ án chứ không phải là thủ tục "xét xử lại vụ án" Và do vậy, chỉ khi có một trong những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 273 BLTTHS năm 2003 thì người có thẩm quyền kháng nghị mới được thực hiện quyền kháng nghị và Tòa án mới tiến hành xét lại bản án theo thủ tục giám
Trang 18đốc thẩm Trong thủ tục giám đốc thẩm, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân là không thể thiếu: vừa là chủ thể có trách nhiệm phát hiện ra những thiếu sót, sai lầm trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật đồng thời thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm để sửa chữa, khắc phục những sai lầm đó; vừa là chủ thể đảm bảo cho hoạt động xét xử giám đốc thẩm được tiến hành đúng quy định của pháp luật Theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thuộc nhánh quyền tư pháp trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện kiểm sát Do đặc thù của từng giai đoạn, từng thủ tục tố tụng mà hình thức thể hiện các dạng quyền năng tương ứng với từng giai đoạn như quyền truy tố, xét hỏi, tranh luận, luận tội, phát biểu ý kiến, kết luận kháng nghị… cũng khác nhau Ở giai đoạn này, chức năng công tố của Viện kiểm sát vẫn tiếp tục được duy trì, quyền công tố thể hiện rõ nét nhất chính là quyền kháng nghị giám đốc thẩm, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng xoay quanh việc kháng nghị hay không kháng nghị giám đốc thẩm Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát là căn
cứ giúp cho Hội đồng giám đốc thẩm quyết định việc chấp nhận hay bác bỏ các nội dung kháng nghị cho rằng bản án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm nghiêm trọng Qua đó đảm bảo việc đưa bản án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành đúng đắn, phù hợp với chân lý khách quan, góp phần bảo vệ quyền con người xét trên cả hai góc độ: bảo vệ công dân trước sự xâm hại của các loại tội phạm và bảo đảm quyền và lợi ích của người bị kết án Để hoàn thành vai trò quan trọng của mình, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm
vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân cũng có những quyền hạn nhất định gắn liền với trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể tương ứng và phù hợp với chức năng của ngành kiểm sát nhân dân Cụ thể: quyền kháng nghị theo thủ tục
Trang 19giám đốc thẩm; quyền hoãn, tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án; quyền tham gia phiên tòa, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án cùng với nhiều quy định liên quan Các quy định về thủ tục giám đốc thẩm trong BLTTHS năm 2003 được xây dựng
đã tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao hơn nữa chất lượng giám đốc thẩm, bảo
vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân, đồng thời khẳng định sự hiện diện của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng là để góp phần sửa chữa, khắc phục những thiếu sót, sai lầm trong việc điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự đảm bảo việc truy tố, xét xử, thi hành án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo đảm các nguyên tắc tố tụng hình sự được thực hiện một cách chính xác, triệt để
Từ những nội dung phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm "vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm là những hoạt động của Viện kiểm sát thể hiện chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết
án hoặc người có liên quan đến vụ án và đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ một cách triệt để"
1.1.2 Các khía cạnh thể hiện vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
1.1.2.1 Chức năng của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Kể từ Hiến pháp năm 1959, lần đầu tiên trong lịch sử Nhà nước dân chủ nhân dân Việt Nam, Viện kiểm sát nhân dân được quy định là một cơ quan độc lập, tổ chức và hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân; chức năng của Viện kiểm sát tuy có sự thay đổi về nội dung qua các thời kỳ lịch sử khác nhau xong chức
Trang 20năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật vẫn là hai chức năng hiến định của ngành, thể hiện: Hiến pháp năm 1959, ngoài chức năng công tố còn thực hiện một chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát nhưng chức năng công tố vẫn giao cho Viện kiểm sát đảm nhiệm Đến Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì Viện kiểm sát nhân dân có hai chức
năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Tại Nghị
quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về "Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020" vẫn khẳng định: "Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp" [15, tr 5]
Riêng ở giai đoạn giám đốc thẩm, vẫn là chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với các chủ thể, nhưng có những điểm khác biệt đối với thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các giai đoạn khác của tố tụng hình sự Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn giám đốc thẩm chỉ có thể phát sinh khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị vì có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án [3, tr 199]
Trong quá trình thực hành quyền công tố ở giai đoạn giám đốc thẩm, thì Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát là những người trực tiếp thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Thực hành quyền công tố thể hiện rõ nét nhất ở giai đoạn này chính là quyền kháng nghị Giám đốc thẩm, quyền tham gia phiên tòa và phát biểu quan điểm
Trang 21về việc giải quyết vụ án Thông qua việc xem xét lại các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp hoặc cấp dưới gửi đến (được gọi là nguồn án văn), thông qua việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của người bị kết án, công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức về bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án (nguồn đơn), thông qua các báo cáo đề xuất kháng nghị xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm của Viện kiểm sát cấp dưới (nguồn thỉnh thị), thông qua kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ và cuối cùng là các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng [38, tr 17-18], Viện kiểm sát sử dụng các quyền năng pháp lý để xác minh các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, qua đó đưa ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm hoặc thông báo không có căn cứ giám đốc thẩm hay thể hiện quan điểm về những trường hợp Tòa án kháng nghị Ngoài ra, đối với những vụ án hình sự
mà những vi phạm pháp luật trong hoạt động xét xử chưa nghiêm trọng đến mức phải dùng đến biện pháp "kháng nghị" thì Viện kiểm sát có thể "kiến nghị" để yêu cầu Tòa án nhân dân khắc phục những vi phạm đó
Đối tượng của công tác kiểm sát ở giai đoạn giám đốc thẩm là sự tuân thủ pháp luật của Hội đồng giám đốc thẩm và những người tham gia tố tụng khác trước, trong và sau phiên tòa giám đốc Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án xét xử giám đốc thẩm về thời hạn xét xử, về việc triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị (nếu có); thành phần Hội đồng xét xử giám đốc thẩm; thủ tục xét hỏi những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa (nếu có); việc Hội đồng xét
xử giám đốc thẩm biểu quyết và áp dụng thay đổi biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo; việc ra và gửi các quyết định giám đốc thẩm; việc chuyển hồ sơ vụ
án để điều tra, xét xử lại
Trang 22Tóm lại, ở giai đoạn giám đốc thẩm, Viện kiểm sát vẫn có hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật như các giai đoạn tố tụng trước Viện kiểm sát vừa là chủ thể có trách nhiệm phát hiện
ra những vi phạm nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và thực hiện quyền kháng nghị đối với những bản án, quyết định đó; vừa là chủ thể đảm bảo cho hoạt động của phiên tòa giám đốc thẩm được tiến hành đúng quy định của pháp luật Đồng thời, thông qua hoạt động phát biểu quan điểm, kết luận về nội dung kháng nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra được những quyết định có căn cứ, đúng pháp luật bảo đảm việc xét xử được đúng người, đúng tội, góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống vi phạm pháp luật, đảm bảo pháp chế Xã hội chủ nghĩa
1.1.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Để thực hiện tốt chức năng Hiến định của ngành Kiểm sát nhân dân, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng, trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền sau:
Trang 23đã có hiệu lực pháp luật để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm là cơ sở phát sinh thủ tục giám đốc thẩm, nếu không có kháng nghị giám đốc thẩm thì cho dù bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, vụ án cũng không được xét xử lại theo thủ tục giám đốc thẩm
Về chủ thể có quyền kháng nghị: Ngay từ khi mới có chế định giám đốc
thẩm hình sự, pháp luật đã quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của VKSND Qua các lần sửa đổi BLTTHS, thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát vẫn được khẳng định Theo quy định tại Điều
275 BLTTHS năm 2003, ở hệ thống cơ quan Viện kiểm sát thì chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát mới có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm Điều luật nêu rõ, Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án các cấp, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án cấp dưới
So sánh với Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cho thấy, Điều 275 BLTTHS năm 2003 đã bỏ quy định tại khoản 2, Điều 244 BLTTHS năm 1988 quy định về thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm của Phó Chánh án TANDTC và Phó Viện trưởng VKSNDTC đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các Tòa án cấp dưới Quy định này là phù hợp với Luật tổ chức TAND năm 2002 và Luật tổ chức VKSND
năm 2002
Về nguồn để phát hiện ra căn cứ kháng nghị: Với tư cách là cơ quan
tiến hành tố tụng, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị giám
Trang 24đốc thẩm có thể xuất phát từ đơn đề nghị của người bị kết án, thông báo của
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; thông tin trên các phương tiện truyền thông;
do Viện kiểm sát cấp dưới đề nghị hay xuất phát từ cơ sở do chính người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm phát hiện được vi phạm pháp luật Điều này có nghĩa là, pháp luật không quy định phạm vi kháng nghị giám đốc thẩm phải dựa trên yêu cầu của người bị kết án hoặc có thông báo của người phát hiện có vi phạm, trên cơ sở xem xét các căn cứ luật định, người có thẩm quyền kháng nghị quyết định phạm vi, nội dung của việc kháng nghị Khi có kháng nghị của người có thẩm quyền, trong thời hạn luật định, Tòa án phải xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm Tính có căn cứ của kháng nghị là cơ sở để Hội đồng giám đốc thẩm đưa ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận kháng nghị chứ không phải là căn cứ để Tòa án xem xét
có mở thủ tục giám đốc thẩm hay không
Về nội dung kháng nghị: Điều 285 BLTTHS năm 2003 quy định về
thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm Đây cũng chính là nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm Xét trên phương diện kháng nghị giám đốc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân có thể kháng nghị theo hai hướng:
Thứ nhất, trường hợp khi Kiểm sát viên được giao giải quyết vụ án chứng minh được bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
có một trong những căn cứ được quy định tại Điều 107 BLTTHS, gồm: (1) không có sự việc phạm tội; (2) hành vi không cấu thành tội phạm; (3) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (4) người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực; (5) đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (6) tội phạm đã được đại xá; (7) người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác thì báo cáo lãnh đạo
Trang 25Viện kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án
Thứ hai, khi xác minh được bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án có một trong những căn cứ quy định tại Điều 273 BLTTHS,
cụ thể: (1) việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ; (2) kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (3) có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử; (4) có những sai lầm trong việc áp dụng BLHS thì Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án để điều tra lại hoặc xét xử lại
Kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại là trường hợp trong quá trình điều tra có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc còn nhiều tình tiết chưa được làm sáng tỏ, dẫn tới việc phán quyết của bản án, quyết định đó thiếu khách quan, toàn diện
Kháng nghị theo hướng hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại thì tùy từng trường hợp có thể đề nghị hủy bản án hoặc quyết định đó để xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm khi bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm có những sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật hình sự hoặc vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng trong quá trình xét xử
Về quyền bổ sung, rút kháng nghị: Đây được coi là một quyền năng
pháp lý khác được trao cho Viện kiểm sát để đảm bảo quyền kháng nghị giám đốc thẩm thực hiện một cách có hiệu quả, chính xác, hạn chế việc kháng nghị thiếu căn cứ đó chính là quyền được bổ sung, rút kháng nghị Khoản 3, Điều
277 BLTTHS quy định: "Trước khi bắt đầu phiên tòa giám đốc thẩm, người
đã kháng nghị có quyền bổ sung kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị
Trang 26quy định tại Điều 278 của Bộ luật này hoặc rút kháng nghị" Theo nội dung Điều luật, trong trường hợp VKSND phát hiện thấy nội dung kháng nghị còn thiếu sót cần bổ sung hoặc xét thấy việc kháng nghị không còn cần thiết thì Viện kiểm sát kháng nghị bổ sung hoặc quyết định rút kháng nghị giám đốc thẩm Còn trong trường hợp Tòa án kháng nghị, nếu Viện kiểm sát phát hiện
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác cần kháng nghị thì trao đổi với Tòa
án để Tòa án kháng nghị bổ sung Nếu Tòa án không kháng nghị bổ sung thì Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định [38, tr 20]
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì người kháng nghị chỉ có quyền bổ sung hoặc rút kháng nghị trước khi bắt đầu phiên tòa, không có quyền thay đổi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm Thực tiễn áp dụng pháp luật thấy rằng, trong nhiều trường hợp, việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phát sinh sau khi đã có lập luận, tranh luận của những người tham gia phiên tòa, trong khi Viện trưởng Viện kiểm sát đã ký kháng nghị thường không trực tiếp tham gia phiên tòa mà phân công Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nhưng Kiểm sát viên tham gia phiên tòa lại không thể thay đổi nội dung kháng nghị Vậy vấn đề này phải giải quyết như thế nào? Trong trường hợp này, trên thực
tế thì đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng giám đốc thẩm cho hoãn phiên tòa để báo cáo Viện trưởng xem xét và giải quyết Với cách giải quyết như vậy là chưa phù hợp, đồng thời về phương diện lập pháp việc hoãn phiên tòa trong trường hợp này chưa được quy định Bởi lẽ, qua nghiên cứu phần thủ tục giám đốc thẩm, BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định một trường hợp được hoãn phiên tòa tại khoản 2, Điều 281: "Tại phiên tòa của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán nếu sau khi biểu quyết nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa" Nhưng trên thực tế, ngoài trường hợp nêu trên còn có nhiều lý do khách quan dẫn đến cần phải hoãn
Trang 27phiên tòa như trường hợp Viện kiểm sát không thể tham sự phiên tòa hay vì lý
do cần thông báo cho người có kháng nghị (Viện trưởng) xem xét có bổ sung, rút kháng nghị hay không hoặc qua thảo luận thấy có những vấn đề cần nghiên cứu thêm thì cũng phải hoãn phiên tòa Cho đến nay, những trường hợp hoãn phiên tòa với những lý do trên vẫn xảy ra, xong BLTTHS năm 2003 lại chưa có quy định cụ thể Về vấn đề này, tác giả đưa ra quan điểm cần phải sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng, quy định cụ thể các trường hợp hoãn phiên tòa thủ tục giám đốc thẩm thành một Điều luật và tăng quyền hạn cho Kiểm sát viên tham gia phiên tòa có quyền quyết định việc bổ sung, rút kháng nghị tại phiên tòa trước khi Hội đồng giám đốc thẩm tiến hành biểu quyết chứ không phải là trước khi phiên tòa thủ tục giám đốc thẩm bắt đầu như trước đây, đồng thời gắn trách nhiệm của Kiểm sát viên đối với quyết định của mình
Hai là, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Kháng nghị giám đốc thẩm là một văn bản tố tụng làm phát sinh một số hậu quả pháp lý nhất định: vụ án hình sự sẽ được xem xét lại Nhưng về nguyên tắc quyết định kháng nghị giám đốc thẩm chưa làm mất hiệu lực của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị nếu người kháng nghị không ra quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó Thông thường việc tạm đình chỉ thi hành án phải tùy thuộc vào nội dung kháng nghị và từng trường hợp cụ thể Quy định này tương tự với pháp luật của một số nước trên thế giới: kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm không đương nhiên dẫn đến việc hoãn hoặc tạm đình chỉ thi hành bản án bị kháng cáo, kháng nghị
Trang 28Theo pháp luật Việt Nam, "những người đã kháng nghị bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đó" (Điều 276 BLTTHS năm 2003) Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự không quy định trường hợp hoãn thi hành án
Tại thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988 hướng dẫn: "Nếu thấy trong thời gian chờ xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, việc tiếp tục thi hành bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có thể gây thiệt hại cho người phải thi hành thì người đã kháng nghị có quyền quyết định việc tạm đình chỉ việc thi hành đó Chỉ có thể quyết định việc tạm đình chỉ thi hành án ngay trong khi bản án kháng nghị hoặc sau khi đã kháng nghị Nếu chưa có quyết định kháng nghị thì không được tạm đình chỉ thi hành bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật"
Đối với trường hợp đang chấp hành hình phạt tù thì chỉ nên tạm đình chỉ thi hành án khi có kháng nghị theo hướng sau đây: Đình chỉ vụ án, tuyên bố không phạm tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, cho hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
Cho đến nay, kể từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được ban hành thay thế cho Bộ luật cũ, quy định về việc tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
đã có sửa đổi, bổ sung xong lại chưa có văn bản hướng dẫn về vấn đề này Trên thực tế, việc quyết định tạm đình chỉ thi hành án hình sự khi đã kháng nghị giám đốc thẩm không phổ biến, việc áp dụng là tùy nghi, phụ thuộc vào
"ý chí" của chủ thể ra kháng nghị giám đốc thẩm và chủ yếu chỉ áp dụng trong trường hợp kháng nghị theo hướng bị cáo không phạm tội, cho bị cáo
hưởng án treo hoặc các hình phạt không tước tự do khác…
Trang 29Ba là, thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án
Theo quy định tại Điều 280 BLTTHS, "phiên tòa giám đốc thẩm phải
có sự tham gia của Viện kiểm sát cùng cấp" Như vậy, kể cả trường hợp phiên tòa giám đốc thẩm được mở do có kháng nghi giám đốc thẩm của Viện kiểm sát hay do có kháng nghị của Tòa án thì Viện kiểm sát vẫn bắt buộc phải tham gia phiên tòa giám đốc thẩm Từ các quy định trên cho thấy các quy định về thủ tục giám đốc thẩm chưa phân biệt rõ ràng các trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm Theo quy định của pháp luật, cơ sở để tiến hành thủ tục giám đốc thẩm là kháng nghị của người có thẩm quyền, trong đó
có trường hợp Viên trưởng Viện kiểm sát kháng nghị, cũng có trường hợp Chánh án Tòa án kháng nghị Tuy nhiên, trong hai trường hợp này, Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giám đốc thẩm với mục đích nhiệm vụ khác nhau Trong trường hợp phiên tòa được mở do có kháng nghị của Viện kiểm sát thì tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát ngoài việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án còn phải bảo vệ quan điểm kháng nghị của Viện kiểm sát Đối với kháng nghị của Tòa án thì Viện kiểm sát chỉ cần đưa ra kết luận và nêu rõ lý do có nhất trí với kháng nghị hay không Vì vậy, cần phải có những quy định khác nhau về thủ tục phiên tòa
Tại phiên tòa, theo Điều 282 BLTTHS, "đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án" Khi tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát chỉ phát biểu quan điểm về những vấn đề đã được Viện trưởng cho ý kiến Nếu phải thay đổi cơ bản quan điểm, nội dung kháng nghị thì cần phải đề nghị hoãn phiên tòa để báo cáo Viện trưởng Thực
tế cho thấy, với những quy định như hiện hay sẽ hạn chế tính chủ động và trách nhiệm của Kiểm sát viên khi tham gia phiên tòa, không đáp ứng được
Trang 30yêu cầu cải cách tư pháp như Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị đã đề ra "tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình"
1.1.2.3 Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm
Trong quá trình giải quyết vụ án các cơ quan tiến hành tố tụng có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp của luật tố tụng hình sự quy định nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và
xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Với một sứ mệnh đặc biệt, thủ tục giám đốc thẩm được xây dựng nhằm phát hiện và khắc phục những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án Do vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình trong thủ tục giám đốc thẩm, ngành Kiểm sát luôn trú trọng nâng cao vai trò đồng thời gắn liền trách nhiệm đối với từng Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án
Trước hết đó là trách nhiệm phát hiện bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm Điều 274 BLTTHS quy định: Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi công dân có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật này [3,tr 200]
Quyết định số 960/QĐ-VKSTC ngày 17 tháng 9 năm 2007 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Ban hành Quy chế công tác thực hành quyền công
tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự cũng quy định: Kiểm sát viên nghiên cứu phát hiện các vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định của Tòa
Trang 31án đã có hiệu lực pháp luật căn cứ vào những nguồn sau đây: 1) Báo cáo đề xuất kháng nghị của Viện kiểm sát các cấp; 2) Đơn đề nghị của người bị kết
án và của mọi công dân hoặc kiến nghị của các cơ quan, tổ chức; 3) Các tin tức trên các phương tiện thông tin đại chúng ; 4) Kết quả kiểm tra công tác nghiệp vụ [38, tr 17-18]
Với việc quy định như vậy cho thấy pháp luật nước ta không hạn chế quyền phát hiện, quyền thông báo (của mọi công dân, tổ chức kể cả người bị kết án) về vi phạm pháp luật trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Đây là một quy định có ý nghĩa to lớn trong việc thể hiện quyền dân chủ, thể hiện sự giám sát công khai của toàn xã hội đối với hoạt động xét xử của Tòa án, phù hợp với nguyên tắc "trách nhiệm của các tổ chức
và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội pham" (Điều 25 BLTTHS) Đồng thời, khẳng định hoạt động phát hiện bản án hoặc quyết định
đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm là rất quan trọng, đây là hoạt động tiền đề cho một loạt các thao tác nghiệp vụ tiếp theo được tiến hành để thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát Việc phát hiện chính xác, kịp thời là một trong những yếu tố giúp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giám đốc thẩm, sửa chữa những sai lầm thiếu sót của Tòa án các cấp Thực tiễn cho thấy, có nhiều bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng xong lại không bị kháng nghị do không phát hiện được hoặc phát hiện không kịp thời nên đã hết thời hạn kháng nghị dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội
Sau khi những vi phạm pháp luật trong bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật được phát hiện cần được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, thì Kiểm sát viên làm văn bản yêu cầu Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đó chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát để xem xét giải quyết theo quy
Trang 32định của pháp luật tố tụng hình sự Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án phải xem xét các nguồn phát hiện vi phạm pháp luật có hợp pháp và có căn cứ hay không Khi tiến hành xác minh theo thủ tục giám đốc thẩm trong những trường hợp cần làm rõ thêm những căn cứ kháng nghị hoặc kết luận kháng nghị thì tùy từng trường hợp Kiểm tra viên, Kiểm sát viên có thể: lấy lời khai của người bị kết án hoặc những người tham gia tố tụng khác, trưng cầu giám định, thu thập vật chứng, chụp ảnh, đo đạc, xác minh hiện trường Để xác định được những sai lầm nghiêm trọng về áp dụng pháp luật hoặc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong đề nghị giám đốc thẩm của đương sự, của
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác hay trong kháng nghị của Tòa án có căn cứ hay không thì Kiểm sát viên phải tiến hành tổng hợp đánh giá chứng cứ Tổng hợp, đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy độc lập của Kiểm sát viên khi giải quyết vụ án Hoạt động tư duy này tùy thuộc vào năng lực, trình độ tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài liệu, tình tiết vụ án của Kiểm sát viên Việc tổng hợp, đánh giá chứng cứ có chất lượng sẽ là cơ sở cho việc xem xét, kết luận những đề nghị giám đốc thẩm có căn cứ như thế nào và trong trường hợp ấy
có cần thiết phải kháng nghị hay không
Trong trường hợp phát hiện thấy những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án thì Kiểm tra viên, Kiểm sát viên phải thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị
để tiến hành kháng nghị giám đốc thẩm Ngược lại, nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc có vi phạm pháp luật nhưng ít nghiêm trọng không phải kháng nghị thì trước khi hết thời hạn kháng nghị, người có quyền kháng nghị phải ra "Thông báo không kháng nghị giám đốc thẩm", đồng thời trả lời cho người hoặc cơ quan, tổ chức đã phát hiện biết lý
do của việc không kháng nghị Đối với bản án, quyết định do Tòa án kháng nghị, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ quyết định kháng nghị, kiểm tra bản
Trang 33án hoặc quyết định và hồ sơ vụ án, đề xuất quan điểm nhất trí hoặc không nhất trí với kháng nghị, nêu rõ những điểm mới phát hiện theo hướng có lợi cho bị cáo cần đề nghị Tòa án xem xét thêm để báo cáo lãnh đạo đơn vị và lãnh đạo Viện
Khi tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, ngoài nhiệm vụ bảo vệ quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục giám đốc thẩm Bao gồm: kiểm sát về thời hạn giám đốc thẩm, về việc triệu tập người tham gia phiên tòa (nếu có), kiểm sát về thành phần giám đốc thẩm, kiểm sát việc biểu quyết của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm và việc ra quyết định giám đốc thẩm, gửi quyết định giám đốc thẩm
Ngoài ra, Theo Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC quy định về công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật ở thủ tục giám đốc thẩm có quy định những việc Kiểm sát viên phải làm sau phiên tòa Giám đốc thẩm:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải báo cáo lãnh đạo viện và lãnh đạo đơn vị về kết quả xét xử và đề xuất những vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết, phải làm thông báo kết quả xét xử gửi cho các Viện kiểm sát đã tham gia xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án biết
Đối với bản án hoặc quyết định bị Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án để điều tra lại thì Kiểm sát viên đã tham gia phiên tòa làm thủ tục chuyển ngay
hồ sơ vụ án đến đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra cùng cấp
để giải quyết vụ án theo thẩm quyền
Trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và kiểm sát viên là những người tiến hành tố tụng (Điều 33 BLTTHS) Ở thủ tục giám đốc thẩm, Viện
Trang 34kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử giám đốc thẩm các vụ án hình sự nhằm đảm bảo việc xét
xử của Tòa án đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời Qua các quy định của pháp luật cho thấy việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn giám đốc thẩm của Viện kiểm sát là quyết định và rất quan trọng Tòa án có chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự hay không; quyết định giám đốc thẩm của Tòa án có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không; các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kết án, của những người tham gia tố tụng có được bảo đảm hay không phụ thuộc rất lớn vào hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của Viện kiểm sát ở giai đoạn giám đốc thẩm các vụ án hình sự Qua đó khẳng định, vai trò quan trọng không thể thiếu của Viện kiểm sát trong quá trình tiến hành tố tụng nói chung và trong thủ tục giám đốc thẩm nói riêng
1.2 VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN CÔNG TỐ (VIỆN KIỂM SÁT) TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.2.1 Vai trò của Viện công tố trong thủ tục giám đốc thẩm hình sự theo pháp luật liên bang Hoa Kỳ - quốc gia theo truyền thống luật án lệ (common law)
Ở Hoa Kỳ cũng như các nước theo truyền thống luật án lệ, cơ quan công tố đều thuộc chính quyền hành pháp và do đó không có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án Cơ quan công tố về cơ bản thực hiện nhiệm vụ trong mô hình tố tụng tranh tụng Trong mô hình này, cơ quan công
tố chỉ tập trung vào việc điều tra, truy tố và chỉ có thể trình bày quan điểm, lập luận như một bên đương sự, còn Tòa án có toàn quyền trong hoạt động xét
Trang 35xử Và do vậy, mô hình tố tụng của Hoa Kỳ có rất nhiều điểm khác biệt so với
hệ thống pháp luật của những nước theo truyền thống luật lục địa
Theo pháp luật Hoa Kỳ, các bản án, quyết định đã được Tòa án tuyên đều là phán quyết cuối cùng và có hiệu lực ngay Tuy vậy, mọi bản án, quyết định của Tòa án đều có nguy cơ có thể bị xem xét bởi tòa án cấp trên Tại các phiên tòa xét xử phúc thẩm, nếu Viện công tố kháng nghị, công tố viên phải trình bày quan điểm về căn cứ kháng nghị, lập luận nêu ra và tranh luận với phía người bị kết án Nếu phía người bị kết án kháng cáo (về việc định tội hay
về quyết định hình phạt), công tố viên có thể tham gia hoặc không tham gia phiên tòa xử phúc thẩm Cấp tòa phúc thẩm liên bang không có cơ quan công
tố tương đương nên công tố viên đã tham gia truy tố tại Tòa án liên bang cấp quận tiếp tục tham gia phiên tòa phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm liên bang
Ở Hoa Kỳ không có thuật ngữ giám đốc thẩm mà chỉ có thuật ngữ phúc thẩm với nhiều loại thủ tục khác nhau Sau khi tòa phúc thẩm đã xét xử kháng cáo, kháng nghị, Viện công tố chỉ có thể kháng nghị tiếp lên Tòa án tối cao liên bang nếu được sự đồng ý rõ ràng của Tổng chưởng lý hay phó Tổng chưởng
lý liên bang Tuy nhiên, rất khó có thể tạo ra việc xem xét lại bản án, quyết định của tòa án cấp dưới một cách dễ dàng trừ khi các sai sót là rõ ràng hay khác nhau cơ bản về quan điểm cần phải có cách đánh giá, giải thích pháp luật hoàn toàn khác Nguyên nhân là do cơ quan công tố ở các nước theo truyền thống án lệ (trong đó có Hoa Kỳ) đều thuộc chính quyền hành pháp, Tòa án
có toàn quyền trong hoạt động xét xử Việc tham gia tố tụng ở các cấp tòa án cao hơn (tòa cấp phúc thẩm, Tòa án tối cao liên bang) khi vụ án được đưa ra xét xử lại hầu như chỉ mang tính trình bày quan điểm, lập luận các vấn đề giải thích Hiến pháp hay luật mà không chú trọng xét xử những tình tiết thực tế của vụ án nên việc tham gia của các cơ quan công tố chỉ thực sự có ý nghĩa quan trọng khi vụ việc do cơ quan công tố kháng nghị Đối với các phiên xử
Trang 36do Tòa án tối cao liên bang tiến hành, công tố viên liên bang thuộc Bộ tư pháp Hoa Kỳ sẽ tham gia phiên tòa Các công tố viên liên bang (đã tiến hành công tòa tại các tòa cấp dưới) thuộc văn phòng công tố liên bang cấp quận có trách
nhiệm phối hợp, trợ giúp họ khi được yêu cầu
1.2.2 Vai trò của Viện công tố trong thủ tục giám đốc thẩm (thủ tục phá án) theo pháp luật của Cộng hòa Pháp
Về mặt hình thức Viện Công tố Pháp được đặt trong hệ thống Tòa án, nhưng không lệ thuộc vào Tòa án Viện Công tố Pháp trực thuộc Bộ Tư pháp, chịu sự giám sát của Bộ Tư pháp, các Công tố viên hoạt động dưới sự kiểm tra của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hệ thống cơ quan Công tố Pháp gồm có: Viện Công tố bên cạnh các Tòa án sơ thẩm, Viện Công tố bên cạnh Tòa án phúc thẩm, Viện Công tố bên cạnh Tòa phá án Hiến pháp năm 1958 đã nêu, tất cả các Thẩm phán xét xử và công tố viên đều độc lập, dưới sự bảo đảm thống nhất của Tổng thống Viện công tố đóng vai trò quan trọng không chỉ với tư cách là cơ quan đại diện cho xã hội bảo vệ lợi ích chung và bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật
Tại Pháp, là một quốc gia theo truyền thống luật lục địa, quan niệm rằng tính chất của giám đốc thẩm là xem xét vấn đề áp dụng pháp luật chứ không xem xét việc đánh giá chứng cứ, cho nên vai trò của Viện công tố trong thủ tục phá án (thủ tục giám đốc thẩm) là khá quan trọng Trước tiên, đó là thẩm quyền kháng nghị phá án (kháng nghị giám đốc thẩm)
Theo BLTTHS nước Cộng hòa Pháp được Nghị viện Pháp ban hành theo luật số 57-1426 ngày 31/12/1957, có hiệu lực thì hành năm 1958 và sau năm lần sửa đổi với lần sửa đổi gần đây nhất vào ngày 04/1/1993 đã quy định
về thẩm quyền kháng nghị tại Điều 567 của Bộ luật Nội dung Điều luật thể hiện, quyền kháng cáo giám đốc thẩm của bản án hình sự thuộc về tất cả các
Trang 37bên bị ảnh hưởng tiêu cực từ bản án Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa
án phá án có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm lên Tòa phá án để xin hủy quyết định hoặc bản án đó Đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án phúc thẩm, Tòa đại hình, Tòa tiểu hình hoặc Tòa vi cảnh, mặc
dù các bên không kháng cáo, thời hạn kháng cáo, kháng nghị đã hết, nhưng vì lợi ích của pháp luật, Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa án phá án vẫn
có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm [4]
Như vậy, người có quyền kháng cáo là rất rộng nhưng thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ thuộc về Viện trưởng Viện Công
tố bên cạnh Tòa án phá án
Đối tượng của kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm:
- Các quyết định của Tòa điều tra phúc thẩm;
- Bản án phúc thẩm, bản án chung thẩm về trọng tội, khinh tội hoặc tội
vi cảnh có vi phạm pháp luật
Luật tổ chức Tòa án Cộng hoà Pháp quy định việc tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử bao gồm Tòa sơ thẩm, Toà phúc thẩm, Toà phá án Toà phá án là Tòa án tối cao là cơ quan duy nhất trong hệ thống Tòa
án làm nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm
Hội đồng giám đốc thẩm có quyền ra một trong các quyết định: (1) không chấp nhận đơn kháng cáo, kháng nghị hoặc truất quyền kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đơn kháng cáo, kháng nghị không hợp lệ; (2) bác đơn kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp đơn kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ; (4) đình chỉ việc xét xử nếu đối tượng của việc kháng cáo, kháng nghị không còn; (5) huỷ bản án, quyết định và chuyển vụ án cho Tòa
án, phòng điều tra có thẩm quyền để tiếp tục tiến hành các thủ tục tố tụng
Trang 38hoặc để xét xử lại; (6) huỷ quyết định của phòng điều tra và chuyển vụ án cho phòng điều tra có thẩm quyền để tiếp tục tiến hành các hoạt động tố tụng
Ngoài thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, Viện Công tố còn có những quyền hạn khác, như:
- Nhận thông báo kháng cáo phá án của các bên đương sự (Điều 578);
- Tham gia phiên tòa phá án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ
tổ chức kiểm sát hữu hiệu có chức năng giám sát các chính quyền địa phương
ở đế chế Nga rộng lớn Sau đó, năm 1864 mô hình trên được thay thế bởi chế định Viện kiểm sát với chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự và duy trì quyền công tố tại phiên tòa Tuy nhiên, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát này bị xóa bỏ vào năm 1918 Cho đến năm 1922, hệ thống cơ quan Viện kiểm sát ở Liên Xô được thành lập lại với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật để đảm bảo pháp luật được tuân thủ, thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất Từ đó, cấu trúc của Viện kiểm sát Nga về cơ bản được giữ nguyên cho đến ngày hôm nay và được khẳng định trong các Hiến pháp năm 1936, năm 1977, năm 1993 và Luật Liên bang về Viên kiểm sát Liên bang năm 1995, được công bố ngày 17/11/1996 Theo Điều 4 Luật Liên bang về Viện kiểm sát Liên bang Nga năm 1996 quy định [23]:
Trang 39"Viện kiểm sát Liên bang Nga xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất, trên cơ sở các Kiểm sát viên cấp dưới phải phục tùng các Kiểm sát viên cấp trên và tất cả đều phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga
Viện kiểm sát thực hiện các thẩm quyền của mình một cách độc lập với các cơ quan quyền lực của liên bang, của các chủ thể liên bang, của các chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội"
Theo BLTTHS Liên bang Nga, trong thủ tục giám đốc thẩm, vai trò của Viện kiểm sát Liên bang Nga được thể hiện ở quyền kháng nghị giám đốc thẩm Theo quy định của Bộ luật, Viện kiểm sát kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khi có căn cứ cho rằng: (1) kết luận của Tòa án nêu trong bản án không phù hợp với những tình tiết thực tế của vụ án; (2) việc xét xử của Tòa án vi phạm luật tố tụng hình sự; (3) áp dụng không đúng pháp luật hình sự; (4) không bảo đảm tính công bằng của bản án
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga [9] quy định những người có quyền kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm (còn gọi là thủ tục phá án) gồm: Người bị tình nghi, bị can,
bị cáo, người được Tòa án tuyên vô tội, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của những chủ thể này; Viện công tố; Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ
Đối tượng kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết định đó đã được ban hành không phù hợp với với những tình tiết thực tế của
vụ án, việc giải quyết vụ án vi phạm pháp luật tố tụng hình sự hoặc việc giải quyết vụ án đã không áp dụng đúng pháp luật hình sự
Trang 40Tòa án có thẩm quyền hoặc trong những trường hợp cần thiết, cá nhân thẩm phán có trách nhiệm tiến hành thủ tục xem xét đơn kháng cáo, kháng nghị và ra một trong những quyết định sau:
- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị giám đốc thẩm;
- Chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và chuyển kháng cáo, kháng nghị cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án có thẩm quyền có thể ra quyết định huỷ bỏ quyết định của Thẩm phán về việc không chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và ra quyết định chấp nhận giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm
Qua xét xử giám đốc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm có quyền: (1) không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật; (2) huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và các quyết định tiếp theo của Tòa án và đình chỉ vụ án; (3) huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và các quyết định tiếp theo của Tòa án và để xét
xử lại; (4) huỷ bản án của Tòa án cấp chống án và trả lại vụ án để xét xử lại theo thủ tục chống án; (5) huỷ quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm và các quyết định tiếp theo của Tòa án cấp phúc thẩm và trả lại vụ án để xét xử phúc thẩm lại; (6) sửa bản án, quyết định của Tòa án
1.2.4 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong thủ tục giám đốc thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Sau khi Cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản lãnh đạo giành thắng lợi, Nhà nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập ngày 01/10/1949 Hệ thống cơ quan Viện kiểm sát nước Cộng hòa nhân dân Trung Hòa là cơ quan giám sát pháp luật, được thành lập theo địa giới hành chính nhưng độc lập với hệ thống cơ quan hành chính và cơ quan Tòa án, bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân các cấp ở địa phương
và Viện kiểm sát chuyên ngành