Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cá
Trang 1Đại học Quốc gia Hà nội
Trang 2Đại học Quốc gia Hà nội
luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Thị Ngọc Tuyết
Hà nội - 2010
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT
SƯ BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.2 Địa vị pháp lý và vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự 19
Chương 2: SỰ THAM GIA CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG
Trang 42.2.3 Nguyên nhân của những ha ̣n chế trong hoa ̣t đô ̣ng của Luâ ̣t
sư ta ̣i phiên toà phúc thẩm vụ án hình sự
82
2.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 82 2.2.3.2 Nguyên nhân khách quan 83
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
LUẬT SƯ BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM
88
3.1 Đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo 88
3.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vai trò
của Luâ ̣t sư bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
95
3.3 Giải pháp về tổ chức 104
3.4 Giải pháp về con người 107
3.5 Đổi mới mối quan hệ giữa Luật sư bào chữa với cơ quan tiến
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra
CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng HĐXX : Hội đồng xét xử
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1 Số vụ án có luật sư tham gia ở các loại tội phạm trên cả
nước qua các năm 2005-2008
65
2.2 Số vụ án có LSBC tham gia trong XXPT VAHS tại tỉnh
Nam Định qua các năm 2007-2009
67
2.3 Số vụ án có luật sư bào chữa tham gia trong XXPT
VAHS tại tỉnh Bắc Giang qua các năm 2007-2009
67
2.4 Số vụ án có LSBC tham gia theo chỉ định trong XXPT
VAHS tại tỉnh Nam Định qua các năm 2007-2009
68
2.5 Số vụ án có LSBC tham gia theo chỉ định trong XXPT
VAHS tại tỉnh Bắc Giang qua các năm 2007-2009
68
2.6 Số vụ án được Toà án chấp nhận theo đề xuất của LSBC
trong XXPT VAHS tại tỉnh Nam định qua các năm
2007-2009
69
2.7 Số vụ án được Toà án chấp nhận theo đề xuất của LSBC
trong XXPT VAHS tại tỉnh Bắc Giang qua các năm
2007-2009
69
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử vụ án hình sự (VAHS), trong đó có xét xử phúc thẩm (XXPT) là giai đoạn trung tâm của hoạt động tố tụng nhằm tìm ra sự thật khách quan của vụ
án thông qua xét hỏi, tranh luận công khai Thông qua phiên tòa, các chức năng
cơ bản của tố tụng hình sự (TTHS) là buộc tội (Viện kiểm sát (VKS)) và bào chữa (Luật sư) được thực hiện một cách dân chủ và bình đẳng Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình trạng vi phạm nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa vẫn xảy
ra, một số Thẩm phán còn hạn chế thời gian trình bày lời bào chữa của bị cáo hoặc người bào chữa; mặc định về việc bị cáo là người có tội và chỉ chú ý tới chứng cứ buộc tội do VKS đưa ra Thực tế cho thấy, khi quyền bào chữa không được đảm bảo thì sẽ mất đi sự cân đối, mất đi đối trọng cần thiết giữa hai chức năng "buộc tội" và "gỡ tội" Vì vậy, sự tham gia của Luật sư bào chữa (LSBC) tại phiên tòa nói chung và phiên tòa phúc thẩm nói riêng là hết sức quan trọng
Sau phiên tòa sơ thẩm, Tòa án sẽ xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật (HLPL) bị kháng cáo, kháng nghị Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng mà Nhà nước quan tâm, nhằm đảm bảo việc xét xử được khách quan, công bằng; đồng thời nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có tình trạng vi phạm pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử phúc thẩm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bị cáo Vì vậy, sự tham gia của LSBC sẽ là nhân tố quan trọng để hạn chế những vi phạm này, kiểm tra và giám sát công tác xét xử có hiệu quả hơn; đảm bảo tốt nhất việc thực hiện các quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo
Sự tham gia của LSBC cũng là căn cứ để Tòa án ra quyết định một cách chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị đã nêu:
Trang 8Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp
để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục
và trong thời hạn pháp luật quy định [2]
Bên cạnh đó, Nghị quyết số 49-NQ/TW còn đề ra những định hướng rất quan trọng đối với việc xây dựng và hoàn thiện chế định luật sư cho phù hợp với tình hình mới của đất nước trước xu hướng pháp triển và hội nhập, cụ thể là:
Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn; hoàn thiện cơ chế đảm bảo để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về mặt pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình [4]
Như vậy, việc nâng cao vai trò của LSBC trong giai đoạn xét xử nói chung và XXPT nói riêng là phù hợp với yêu cầu đối mới của Đảng và Nhà nước ta
Vai trò của LSBC trong XXPT được thể hiện chủ yếu trong quá trình chuẩn bị XXPT; trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm Phán quyết của Tòa án sẽ mang tính khách quan, chính xác nếu được xem xét toàn diện ở cả khía cạnh buộc tội và gỡ tội Vì vậy, vai trò của Luật sư ở giai đoạn XXPT nói riêng và trong TTHS nói chung là rất quan trọng
Sự tham gia có trách nhiệm của LSBC trong quá trình XXPT góp phần đảm bảo quyền, lợi ích của bị cáo nói riêng và quyền con người nói chung Đồng thời, trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Trang 9Việt Nam của dân, do dân, vì dân; việc đảm bảo quyền công dân - quyền con người là nhiệm vụ trọng tâm và có ý nghĩa chiến lược quan trọng
Với những ý nghĩa như trên, việc nghiên cứu "Vai trò của Luật sư bào
chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự" là vấn đề mang tính cấp thiết
Vì vậy, học viên đã mạnh dạn lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Vai trò của LSBC trong XXPT VAHS là một trong những nội dung quan trọng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo nói riêng và bảo đảm quyền công dân - quyền con người nói chung Hiện nay cũng đã có
khá nhiều bài viết có liên quan đến vấn đề này Chẳng hạn: "Vai trò của Luật
sư trong tố tụng hình sự" của T.S Nguyễn Văn Tuân; "Thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự" của TS Hoàng Thị Minh Sơn;
"Vai trò của Luật sư trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự" của ThS Ngô Thị Ngọc Vân; "Hành nghề Luật sư trong vụ án hình sự" và "Bút kí Luật sư" của
LS Phan Trung Hoài
Các công trình nghiên cứu của các tác giả thường dưới dạng bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành, hoặc một phần trong các bài giảng của giáo trình giảng dạy hoặc một phần trong sách chuyên khảo Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
sâu sắc, hệ thống và toàn diện về "Vai trò của Luật sư bào chữa trong xét xử
phúc thẩm vụ án hình sự"
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn
về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS; phân tích các qui định của pháp luật
về sự tham gia của LSBC tại phiên tòa phúc thẩm: vai trò của LSBC trong quá trình chuẩn bị XXPT VAHS và tại phiên tòa phúc thẩm VAHS
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để phục vụ mục đích nghiên cứu nêu trên, những nhiệm vụ nghiên
cứu sẽ là:
Về mặt lý luận: Xem xét có hệ thống những vấn đề cơ bản như: phân
tích khái niệm, đặc điểm của XXPT, địa vị pháp lí cũng như vai trò của Luật
sư trong TTHS, quyền và nghĩa vụ của Luật sư Bên cạnh đó, nghiên cứu về thực trạng chất lượng bào chữa của Luật sư trong XXPT VAHS Cuối cùng đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định có liên quan đến vai trò của LSBC tại phiên tòa phúc thẩm: bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo
Về mặt thực tiễn: Khái quát thực trạng về vai trò của Luật sư trong
XXPT (số liệu của Luật sư là những số liệu không chính thống, chưa được các cơ quan chức năng tổng kết Vì vậy, luận văn giải quyết vấn đề thực trạng trên cơ sở phân tích và bình luận một vấn đề, sau đó đưa ra số liệu cụ thể và các ví dụ minh họa, đồng thời đưa ra những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề này; từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các qui định có liên quan đến vai trò của Luật sư trong XXPT VAHS
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Luật sư trong XXPT VAHS; cụ thể là: khái niệm, đặc trưng của XXPT, quyền và nghĩa vụ của Luật sư, vai trò của LSBC trong phần thủ tục bắt dầu phiên tòa, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Luận văn còn kết hợp với nghiên cứu thực trạng về sự tham gia của LSBC tại phiên tòa phúc thẩm, xác định nguyên nhân tồn tại và hướng giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện vai trò của LSBC trong XXPT VAHS
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những nội dung cơ bản về vai trò của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm, các qui định của pháp luật về sự tham gia
Trang 11của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm; từ đó xác định nội hàm cơ bản và hướng hoàn thiện của các quy định có liên quan đến vai trò của Luật sư trong XXPT nói riêng và trong TTHS nói chung
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo đảm quyền công dân, quyền con người; cũng như đảm bảo nguyên tắc xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, chính xác và toàn diện; không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Ngoài ra, luận văn còn sử dụng, tiếp thu, kế thừa các thành tựu khoa học của chuyên ngành pháp lý, các nhà chuyên môn, nhà khoa học, các luận điểm nghiên cứu của các nhà khoa học, các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết chuyên ngành pháp lý được đăng trên các tạp chí về vai trò của Luật sư trong TTHS nói chung
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản
sau để làm rõ bản chất của đối tượng nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích: Phương pháp này thể hiện trong luận văn là
những lý giải, phân tích những vấn đề cơ bản về vai trò của Luật sư trong XXPT VAHS; cụ thể: khái niệm về XXPT, đặc trưng của XXPT; những qui định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của Luật sư, về vai trò của LSBC trong phần: chuẩn bị XXPT, phần bắt đầu, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; thực trạng về vai trò của LSBC tại phiên tòa phúc thẩm và các giải pháp hoàn thiện các quy định về vấn đề này
Trang 12- Phương pháp so sánh: Luận văn sử dụng phương pháp so sánh để
đối chiếu, so sánh về thực trạng vai trò của LSBC tại phiên tòa phúc thẩm qua các năm, từ đó rút ra những mặt đạt được và những bất cập, hạn chế
- Phương pháp thống kê xã hội học: Được thể hiện là những tài liệu
được tổng hợp qua thực tiễn áp dụng như tổng hợp các kết quả về sự tham gia của Luật sư tại phiên tòa phúc thẩm, thực trạng của vấn đề này thể hiện qua các số liệu cụ thể, làm cơ sở phân tích về nguyên nhân và giải pháp Bên cạnh
đó, phương pháp này còn thể hiện về các số liệu tài liệu nghiên cứu trên mạng Internet cũng như tổng hợp các tri thức khoa học tương ứng của đề tài
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp tiếp cận khác như: lịch
sử, tổng hợp… đồng thời đề tài còn sử dụng các văn bản pháp luật của Nhà nước như Luật Luật sư, Bộ luật hình sự (BLHS), BLTTHS…
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đây là đề tài nghiên cứu các quy định về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS trên phương diện lý luận và thực tiễn Đề tài tập trung giải quyết được các nội dung sau:
1) Phân tích và tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS: khái niệm, đặc điểm, tính chất của XXPT; quyền và nghĩa vụ của Luật sư, địa vị pháp lí và vai trò của Luật sư trong trong TTHS nói chung và XXPT nói riêng
2) Phân tích các qui định của pháp luật về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS, thể hiện ở phần bắt dầu phiên tòa, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; khái quát thực trạng hoạt động của LSBC trong XXPT VAHS (bình luận vấn đề và nêu một số ví dụ minh họa); qua đó đánh giá và nhận xét về thực trạng của hoạt động này (những kết quả đạt được và những bất cập, hạn chế)
3) Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS, góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế;
Trang 13các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Luật sư trong XXPT VAHS (bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, các giải pháp về tổ chức đoàn Luật sư, đội ngũ Luật sư…)
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Đề tài có thể có những đóng góp nhất định trên phương
diện lý luận về vai trò của LSBC trong XXPT VAHS
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn và
thống nhất những vấn đề cơ bản liên quan đến vai trò của luật sư trong XXPT VAHS, phân tích những nguyên nhân của tồn tại và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này Ngoài ra, luận văn còn
cú ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các học sinh, sinh viên trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, cho các nhà hoạt động thực tiễn
và tất cả những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về vai trò của Luật sư bào chữa trong
Trang 14Vậy, XXPT VAHS cần hiểu như thế nào?
Sau khi xét xử sơ thẩm, bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có HLPL ngay trong thời hạn luật định Nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có kháng cáo, kháng nghị thì bản án của Tòa án cấp sơ thẩm mới có HLPL và được thi hành Ngược lại, nếu có kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định hoặc ngoài thời hạn luật định nhưng có lý
do chính đáng và được Tòa án chấp thuận thì sẽ phát sinh thủ tục XXPT Khi
đó, việc XXPT là bắt buộc để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị
Tính hợp pháp của bản án thể hiện ở chỗ: Bản án đó phải phù hợp với những qui định của BLHS trong việc định tội, quyết định hình phạt…; đồng
Trang 15thời phải tuân thủ nghiêm những qui định của BLTTHS về thủ tục XXPT, phiên tòa XXPT VAHS…
Tính có căn cứ của bản án thể hiện ở chỗ: những kết luận của bản án phải phù hợp với các chứng cứ, tình tiết, sự kiện thực tế của vụ án trên cơ sở thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa
Theo Điều 230 BLTTHS năm 2003 thì "xét xử phúc thẩm là việc Tòa
án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản
án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị" Điều 204 BLTTHS năm 1988 qui định: "Xét xử phúc thẩm
là việc Tòa án cấp trên xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị" Như vậy, so với BLTTHS năm
1988 thì BLTTHS 2003 phản ánh đầy đủ hơn tính chất của XXPT Tuy nhiên, đối với các quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vẫn qui định là
"xét lại" Việc qui định tính chất của XXPT VAHS là "xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị" hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử được thừa nhận trong BLTTHS năm 2003 (Điều 20) Theo đó, xét xử sơ thẩm
là cấp xét xử thứ nhất và XXPT là cấp xét xử thứ hai Hiện nay, nguyên tắc này được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận Có thể nói, nguyên tắc
"hai cấp xét xử" sẽ không thể tồn tại, nếu trong TTHS chỉ có một cấp xét xử
là Tòa sơ thẩm Bởi vì, giám đốc thẩm và tái thẩm chưa bao giờ được thừa nhận là một cấp xét xử, mà chỉ được coi là thủ tục tố tụng đặc biệt có nhiệm
vụ "xét lại" những bản án, quyết định đã có HLPL Hơn nữa, việc thực hiện chế độ hai cấp xét xử đã được thừa nhận là một trong các nguyên tắc cơ bản của TTHS Nguyên tắc hai cấp xét xử không chỉ là một trong các nguyên tắc
tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án mà còn là một trong những bảo đảm quan trọng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, các đương sự; là căn cứ để xác định tính chất, nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm
Trang 16Trong phạm vi của luận văn, tác giả chỉ đề cập đến XXPT với tính chất là xét xử lại những vụ án mà bản án, quyết định đối với vụ án đó chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị
Liên quan đến XXPT, chúng ta cũng cần hiểu: thế nào là bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có HLPL? Đây cũng là vấn đề hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau và trong một số trường hợp, việc xác định bản án hoặc quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực hay chưa không phải là điều dễ dàng Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi thì các bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bao gồm các bản án, quyết định sơ thẩm còn trong thời hạn kháng cáo hoặc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Trên thực tế cũng có những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo ngoài thời hạn luật định (kháng cáo quá hạn) nhưng người kháng cáo, kháng nghị có lí do chính đáng về việc này thì Tòa
án vẫn có thể xem xét; và nếu chấp thuận thì bản án hoặc quyết định đó vẫn được coi là chưa có HLPL
Như vậy, XXPT VAHS là một giai đoạn TTHS, trong đó Tòa án cấp
trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị nhằm kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
Xét xử phúc thẩm có các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Về đối tượng của XXPT VAHS
Đối tượng của XXPT trong khoa học TTHS còn có nhận thức không thống nhất tập trung ở hai loại quan điểm sau đây:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, đối tượng của XXPT là những bản án
(quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
[38, tr 262], [39, tr 287]
Quan điểm thứ hai cho rằng, đối tượng của XXPT là những vụ án mà
bản án (quyết định) sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị [34, tr 114]
Trang 17Chúng tôi cho rằng, quan điểm thứ hai về đối tượng của XXPT chính xác và có căn cứ hơn Theo quy định các Điều 20, 24, Điều 30 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002; Điều 18 và Điều 22 Pháp lệnh tổ chức Tòa án
quân sự năm 2002, thì đối tượng của phúc thẩm được xác định là những vụ án
mà bản án (quyết định) chưa có HLPL của Tòa án cấp dưới bị kháng cáo hoặc
kháng nghị
Hoạt động xét xử của Tòa án là nhằm xác định sự thật khách quan về
vụ án Để đạt được mục đích đó, Tòa án nói chung và Tòa án cấp phúc thẩm nói riêng, phải xem xét, đánh giá toàn bộ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ cũng như các chứng cứ mới được đưa ra tại phiên tòa, trong đó có bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL Bản án, quyết định sơ thẩm chỉ là một trong các văn bản tố tụng phản ánh kết quả giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm và chỉ là một trong những nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh về vụ
án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cùng với các chứng cứ khác Do đó, đối tượng của xét xử nói chung và XXPT nói riêng chỉ có thể là các vụ án
Từ phân tích trên, có căn cứ để khẳng định rằng đối tượng của XXPT
chỉ có thể là những vụ án mà bản án (quyết định) sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị
Thứ hai: XXPT chỉ có thể được tiến hành khi có kháng cáo của
những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 231 BLTTHS, hoặc kháng nghị của VKS theo quy định tại Điều 232 BLTTHS
Có ý kiến cho rằng: giai đoạn phúc thẩm không phải là một giai đoạn độc lập của quá trình TTHS vì nó phụ thuộc vào việc có hay không có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án (quyết định) sơ thẩm trong thời hạn luật định
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, ý kiến này đã sai lầm khi đồng nhất "giai đoạn
phúc thẩm" với "thủ tục xét xử phúc thẩm" Đối với một vụ án cụ thể, thủ tục
XXPT không phải là bắt buộc Thủ tục XXPT chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án (quyết định) sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Trang 18Trong trường hợp bản án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì mặc dù không phải tiến hành XXPT vụ án đó, nhưng đối với vụ án đó giai đoạn phúc thẩm vẫn tồn tại và được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và bản án có HLPL
Thứ ba: Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử không chỉ kiểm tra tính hợp
pháp và tính có căn cứ của bán án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị mà còn xét xử lại vụ án về nội dung Bằng quyền hạn của mình, Tòa án cấp phúc thẩm ngăn chặn việc đưa ra thi hành các bản án, quyết định
có vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN
Khi XXPT Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án Tòa án cấp phúc thẩm không bị ràng buộc bởi những lý do kháng cáo hoặc kháng nghị, mà kiểm tra toàn bộ vụ án đối với tất cả những người bị kết án, kể cả những người không kháng cáo và không bị kháng nghị
XXPT không cho phép người đã kháng cáo hoặc VKS đã kháng nghị được bổ sung, thay đổi kháng cáo theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; không cho phép Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của VKS, Tòa án cấp trên theo hướng đó Đối với thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm phải xem xét toàn
bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị
Thứ tư: Chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng trong XXPT bao gồm:
Tòa án cấp phúc thẩm, VKS cấp phúc thẩm; những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác mà Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa Ngoài ra, ở một mức độ nhất định, chủ thể tham gia ở giai đoạn tố tụng này còn bao gồm cả Tòa án cấp sơ thẩm
Trang 19(trong việc thông báo kháng cáo, kháng nghị, xác minh lý do kháng cáo quá hạn) và VKS cấp sơ thẩm (trong việc kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL);
Thứ năm: Phiên tòa phúc thẩm có một số đặc thù như: khi khai mạc
phiên tòa, thẩm phán chủ tọa phiên tòa không phải đọc quyết định đưa vụ án
ra xét xử; trước khi tiến hành xét hỏi, việc công bố cáo trạng của kiểm sát viên (KSV) được thay thế bằng việc một thành viên Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị; việc luận tội của KSV ở phần tranh luận được thay thế bằng việc trình bày kết luận của VKS Ngoài ra, XXPT cũng có những đặc trưng riêng về thủ tục kháng cáo, kháng nghị và thông báo kháng cáo, kháng nghị; về tính hợp pháp và có căn cứ của bản án (quyết định) sơ thẩm; đề nghị chấp nhận hay bác kháng cáo, kháng nghị
Thứ sáu: XXPT có những đặc điểm đặc trưng trong các quan hệ pháp
luật tố tụng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) như: giữa Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm (trong việc thông báo kháng cáo, kháng nghị; xác minh lý do kháng cáo quá hạn ) giữa VKS cấp sơ thẩm và VKS cấp phúc thẩm (trong việc kháng nghị bản án sơ thẩm); Tòa án cấp phúc thẩm
và VKS cấp phúc thẩm trong quá trình giải quyết vụ án
Thứ bảy: Khi XXPT, những người tham gia tố tụng có các quyền
rộng rãi Người kháng cáo hoặc kháng nghị không chỉ viện dẫn những chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án mà còn được xuất trình những tài liệu mới chưa được xem xét tại Tòa án cấp sơ thẩm Bản án của Tòa án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và mới
XXPT VAHS bao gồm hai tiểu giai đoạn, đó là: giai đoạn chuẩn bị XXPT và phiên tòa phúc thẩm
Chuẩn bi ̣ xét xử phúc thẩm VAHS là bước đầu tiên của giai đoa ̣n xét xử phúc thẩm Đây là giai đoạn mà thẩm phán (chủ tọa phiên tòa ) nghiên cứu
Trang 20hồ sơ và quyết đi ̣nh những công viê ̣c về thủ tục cũng như nô ̣i dung để chuẩn
bị tiến tới mở phiên toà xét xử Việc nghiên cứu hồ sơ của Thẩm phán nhằm kiểm tra xem hồ sơ có đủ các tài liệu, chứng cứ để xác định các căn cứ chấp nhận hoặc bác kháng cáo, kháng nghị Vì vậy trong quá trình nghiên cứu hồ
sơ để chuẩn bị XXPT, Thẩm phán cần chú ý làm rõ nội dung kháng cáo, kháng nghị; tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án hoặc quyết định sơ thẩm Ngoài ra, thẩm phán cũng cần xem xét, giải quyết việc áp dụng hoặc thay đổi , huỷ bỏ biê ̣n pháp ng ăn chă ̣n đối với bi ̣ cáo (Điều 243 BLTTHS); giải quyết việc bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa… Trường hợp trước khi mở phiên tòa mà người kháng cáo rút toàn
bộ kháng cáo hoặc VKS rút toàn bộ kháng nghị thì việc XXPT phải được đình chỉ Nếu đơn kháng cáo gửi đến Tòa án phúc thẩm thì Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý rồi chuyển đơn về Tòa án cấp sơ thẩm làm thủ tục kháng cáo rồi chuyển hồ sơ đến Tòa án XXPT
Về việc xét kháng cáo quá hạn: Đơn kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận nếu có lý do chính đáng Đó là trường hợp mà người có quyền kháng cáo không thể thực hiện được quyền của mình trong thời hạn luật định
vì lí do bệnh tật hay tai nạn… HĐXX phúc thẩm (gồm 3 thẩm phán) xét và quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn Khi xét đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm không phải mở phiên tòa
Các công việc chuẩn bị khác cho việc mở phiên tòa XXPT của thẩm phán bao gồm: Lên lịch xét xử và gửi cho VKS cùng cấp, trại tạm giam nơi giam giữ bị cáo (nếu bị cáo bị tạm giam), Đoàn Luật sư (nếu phải chỉ định luật sư); xác định những người cần được triệu tập đến phiên tòa; nếu thấy cần thiết phải mời đại diện các cơ quan, tổ chức đến tham dự phiên tòa thì làm giấy mời…
Phiên tòa phúc thẩm hình sự là phiên tòa do Tòa án có thẩm quyền XXPT tiến hành để xét xử lại VAHS mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, nhưng
có kháng cáo, kháng nghị Về hình thức, phiên tòa phúc thẩm hình sự cũng
Trang 21giống như phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, về HĐXX phúc thẩm, về những người tham gia phiên tòa phúc thẩm và thủ tục phiên tòa có một số điểm khác biệt so với phiên tòa sơ thẩm Cụ thể:
HĐXX phúc thẩm gồm có 3 thẩm phán và trong trường hợp cần thiết
có thể có thêm 2 hội thẩm (trong khi HĐXX sơ thẩm chỉ bao gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm)
Những người tham gia phiên tòa phúc thẩm cũng là những người đã tham gia phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, do tính chất của phúc thẩm nên có những điểm khác nhau Theo nguyên tắc chung, Tòa án không cần triệu tập tất cả những người đã tham gia phiên tòa sơ thẩm mà chỉ triệu tập những người mà Tòa án cho là cần thiết và có liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị.Tại phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của KSV là bắt buộc, nếu họ vắng mặt thì HĐXX phải hoãn phiên tòa Người bào chữa của bị cáo, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người kháng cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập và tham gia phiên tòa, Nếu họ vắng mặt không có lí do chính đáng thì HĐXX vẫn có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt
Tại phiên tòa phúc thẩm, tất cả những tài liệu, chứng cứ đã được Tòa
án cấp sơ thẩm nghiên cứu, thẩm tra, đánh giá cũng như các tài liệu, chứng cứ mới, chưa được biết đến, chưa được trình bày, đánh giá ở cấp sơ thẩm đều được đưa ra xem xét, thẩm tra, đánh giá và kết luận Xét hỏi là giai đoạn điều tra công khai nhằm kiểm tra, đánh giá các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ
án cũng như các chứng cứ, tài liệu được bổ sung tại phiên tòa làm căn cứ cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Sau khi xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, HĐXX phúc thẩm sẽ nghị án và đưa ra một trong các quyết định sau đây:
- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm BLTTHS không qui định cụ thể nhưng căn cứ vào tính chất của phúc thẩm thì
Trang 22Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm khi nhận định bản án sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
- Sửa bản án sơ thẩm
- Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét
xử lại
- Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ điều tra
Tùy từng trường hợp cụ thể và căn cứ cụ thể mà HĐXX phúc thẩm có thể ra một trong các quyết định trên
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các chứng cứ cũ và mới cũng như thẩm tra các chứng cứ, tài liệu có liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị; HĐXX phúc thẩm sẽ cân nhắc các quan điểm, yêu cầu, đề xuất để đưa ra một bản án khách quan, toàn diện, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Như vậy, XXPT VAHS là một giai đoạn rất quan trọng trong quá trình giải quyết một VAHS đảm bảo khách quan, công bằng và đúng pháp luật Ngoài việc kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án và quyết định sơ thẩm bị kháng cáo kháng nghị; XXPT còn kiểm tra, sửa chữa những sai phạm của Tòa án cấp sơ thẩm nhằm đưa ra một bản án đúng đắn, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Đồng thời, XXPT cũng có vai trò hướng dẫn áp dụng pháp luật thống nhất trên toàn quốc
1.1.2 Vai trò của xét xử phúc thẩm vụ án hình sự trong tố tụng hình sự
Trong TTHS, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết đúng đắn , khách quan vụ án hình sự ; bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức , công dân
Như đã phân tích ở trên, tính chất của XXPT là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo, kháng nghị Như vậy, khi kết thúc giai đoạn xét xử sơ thẩm, những người tham gia phiên tòa
Trang 23xét xử sơ thẩm cũng như VKS có thể không đồng tình với quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm Họ cho rằng, Tòa án đã kết án oan người vô tội; bỏ lọt tội phạm, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, kết án sai tội danh… hoặc họ nhận thấy khung hình phạt chưa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội… Vì vậy, pháp luật TTHS qui định những người
có quyền kháng cáo (bị cáo, người bị hại, người bào chữa, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đại diện hợp pháp của những người này) và VKS có quyền kháng nghị Qua đó, họ có thể đưa ra quan điểm của mình về những điểm mà họ cho là bất hợp lí trong vụ án
để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và đưa ra phán quyết cuối cùng Thông qua việc xem xét lại nội dung kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa; cũng như việc thẩm tra lại các chứng cứ cũ và chứng cứ mới; Tòa án cấp phúc thẩm sẽ cân nhắc để đưa ra một phán quyết công bằng, hợp tình, hợp lý Hơn thế nữa, XXPT còn giúp cho Tòa án cấp trên kiểm tra những sai phạm mà Tòa án cấp dưới đã vấp phải Thực tế cho thấy, có nhiều vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đã bỏ lọt tội phạm hoặc kết án sai tội danh Thông qua XXPT, Tòa án cấp phúc thẩm đã kiểm tra tính hợp pháp và có căn
cứ các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có HLPL; đồng thời khắc phục và sửa chữa những vi phạm đó, giúp cho vụ án được giải quyết đúng đắn, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm, bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng cáo; có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình trước Tòa án cấp phúc thẩm, được nói lời sau cùng; Tòa án và các cơ quan có trách nhiệm bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền này và phải cử người bào chữa cho bị cáo Các quyền này của bị cáo không chỉ thể hiện bản chất nhân đạo và dân chủ của TTHS, mà còn là phương tiện để bị cáo có thể bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình Mặt khác, XXPT cho phép phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc thi hành các bản
án sơ thẩm không hợp pháp hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp
Trang 24luật (xử phạt oan, sai người vô tội) Nhờ đó các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là bị cáo được bảo vệ kịp thời và có hiệu quả Như vậy, XXPT là một trong các phương tiện hữu hiệu để bảo vệ kịp thời và có hiệu quả lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là của bị cáo
Theo quy định của BLTTHS hiện hành của nước ta, thì người kháng cáo hoặc VKS có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo (Điều 238) Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn, nếu VKS kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu theo hướng đó Tòa án cấp phúc thẩm không được sửa bản án sơ thẩm theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo, nếu không có kháng cáo của người bị hại hoặc kháng nghị của VKS theo hướng đó Điều đó cho thấy bản chất dân chủ và tiến bộ của TTHS nói chung và xét xử VAHS nói riêng
XXPT còn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguyên tắc "Hai
cấp xét xử" trong TTHS Đây là một nguyên tắc được pháp luật của hầu hết
các nước thừa nhận và áp dụng trong lĩnh vực tư pháp hình sự Theo nguyên tắc này, sau khi xét xử sơ thẩm, nếu bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có HLPL bị kháng cáo hoặc kháng nghị, thì vụ án được xét xử lại ở Tòa án cấp trên Khi xét xử lại vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ xem xét về mặt áp dụng luật mà còn giải quyết về nội dung vụ án Như vậy, nguyên tắc hai cấp xét xử không chỉ là một trong các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án (trong đó có Tòa án cấp phúc thẩm) mà còn là một trong những bảo đảm quan trọng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, các đương sự
Xét xử phúc thẩm c òn có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nâng cao ý thức pháp luâ ̣t cho công dân , ý thức tuân thủ pháp luật và chủ động tham gia đấu tranh phòng chống tô ̣i pha ̣m Thông qua việc xét xử các vụ án,
Trang 25Tòa án cấp phúc thẩm hướng dẫn cho các Tòa án cấp dưới và các CQTHTT khác trong việc nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật; góp phần nâng cao chất lượng xét xử các VAHS, tăng cường hiệu quả giáo dục pháp luật và củng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân, đấu tranh phòng và chống tội phạm Thông qua xét hỏi , tranh luâ ̣n trước phiên toà
và bản án được tuyên công khai , Toà án giúp cho những người tham dự phiên toà nâng cao ý thức pháp luật , biết đươ ̣c những gì là trái pháp luâ ̣t , những gì là hợp pháp và qua đó nhìn nhận pháp luật đúng đắn , tuân thủ pháp luâ ̣t và tham gia đấu tranh phòng chống tô ̣i pha ̣m
1.2 ĐỊA VỊ PHÁP LÍ VÀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƢ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Hoạt động bào chữa và nghề Luật sư xuất hiện từ rất sớm trong li ̣ch sử, gắn liền với thiết chế Toà án trong sự xuất hiê ̣n của tổ chức bô ̣ máy Nhà nước và viê ̣c thừa nhâ ̣n quyền được bào chữa của đương sự Ở Việt Nam, nghề luật sư đã tồn tại từ trước Cách mạng Tháng tám với sắc lệnh ngày 25/5/1930 của thực dân Pháp về việc tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn Chỉ hơn một tháng sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là người đứng đầu chính quyền mới
đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 về tổ chức đoàn thể luật sư Sắc lệnh
số 46/SL ngày 10-10-1945 duy trì tổ chức luật sư cũ trong đó có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hòa Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 khẳng định quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân Điều 67 của Hiến pháp quy định "Người bị cáo được quyền
tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư" (Điều 67 của Hiến pháp năm 1946)
Pháp lệnh tổ chức luật sư ngày 18/12/1987 là văn bản pháp luật có ý nghĩa lịch sử trong việc khôi phục nghề luật sư và mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Điều 2 ghi:
Trang 26Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích bảo
về pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật, thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa [43]
Ngày 1 tháng 10 năm 2001, pháp lệnh đó được thay thế bởi Pháp lệnh luật sư năm 2001 Đây là văn bản luật đánh dấu một bước phát triển của nghề luật sư, tạo tiền đề cho đội ngũ luật sư Việt Nam phát triển cả về số lượng và chất lượng Luật này cũng là văn bản đầu tiên tạo ra cơ sở pháp lý cho việc thành lập tổ chức luật sư toàn quốc với tư cách là tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong phạm vi cả nước, đại diện cho các luật sư, các đoàn luật sư Trong các năm 2005, 2006, 2007, Nhà nước ta đã ban thành một số lượng lớn các đạo luật mới hoặc thay thế các đạo luật không còn phù hợp, trong đó có Luật Luật sư được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007
Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng một đội ngũ luật sư, nghề luật
sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Đặc biệt Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm tổ chức luật sư toàn quốc và các Đoàn luật sư Với quy định này, Luật Luật sư đã tạo cơ sở pháp lý nâng cao vai trò tự quản của nghề luật sư
Theo Đại từ điển tiếng Việt: "Luật sư là người có chức trách, dùng
pháp luật bào chữa cho bị can trước tòa án" [46, tr 1059]
Luâ ̣t sư theo quy đi ̣nh của Luật Luâ ̣t sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Điều 2 Luật Luật sư) Luâ ̣t sư là người hoa ̣t đô ̣ng
Trang 27chuyên nghiê ̣p tham gia trong mô ̣t Đoàn Luật sư nhất định theo quy đi ̣nh của pháp luật Theo Điều 10 Luật Luâ ̣t sư, tiêu chuẩn Luật sư được qui định như
sau: "Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và
pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư" [31]
Người có đủ tiêu chuẩn như trên muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư Luâ ̣t sư muốn tham gia tố tụng phải tuân theo quy đi ̣nh của Luật Luật sư 2006 Pháp lệnh luật sư 2001 qui định hai hình thức tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư và công ty luật hợp danh Trong đó, văn phòng luật sư được thực hiện dịch vụ pháp lí trong lĩnh vực tố tụng; còn công ty luật hợp danh thì không có quyền hạn này Nói cách khác, chỉ có LSBC (Luâ ̣t sư thuô ̣c văn phòng Luâ ̣t sư) mới được thực hiê ̣n di ̣ch vụ pháp lý trong lĩnh vực tố tụng cũng như tham gia tố tụng trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu theo sự phân công của Đoàn Luâ ̣t sư Tuy nhiên, theo Luật Luật sư 2006, đã có một bước chuyển quan trọng khi cho phép luật sư, dù hành nghề dưới bất kì hình thức nào (hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư là văn phòng luật sư, công ty luật hay hành nghề độc lập) đều có quyền thực hiện các dịch vụ pháp lí theo qui định của pháp luật Điều đó có nghĩa là việc tham gia tố tụng không còn là phạm vi hành nghề của riêng văn phòng luật sư nữa như Pháp lệnh luật sư 2001
Xét về một phương diện nào đó, Luật sư là chủ thể thực hiện pháp luật thông qua các thiết chế và khuôn khổ pháp lí do Nhà nước qui định và tổ chức, được tiến hành các biện pháp pháp lí, thực hiện các quyền và nghĩa vụ khi cung cấp dịch vụ pháp lí cho khách hàng, bảo đảm sự áp dụng thống nhất pháp luật Trong điều kiện hiện nay, sự tham gia của luật sư trong các hoạt động xét xử tại Tòa án không chỉ đảm bảo sự dân chủ trong tiến trình tố tụng, mà còn là cơ sở cho việc thực hiện quyền con người trong hoạt động tư pháp Vào những năm trước đây, trong quan niệm của người dân cũng như trong các ngành Tòa án,
Trang 28VKS; việc Luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi của đương sự còn bị hạn chế nhiều mặt, vai trò hết sức mờ nhạt Tuy nhiên, những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Pháp lệnh Luật sư năm 2001 ra đời, sau đó là Luật Luật sư năm 2006, hình ảnh các luật sư tham gia tố tụng trước Tòa án với các cuộc tranh luận gay cấn tại phiên tòa đã thu hút được sự chú ý của dư luận Quan niệm về bản chất hoạt động của Luật sư cũng đã có sự chuyển biến tích cực cùng với sự phát triển của xã hội Điều đó đồng nghĩa với việc địa vị pháp lí cũng như vai trò của Luật sư được nhìn nhận khách quan và thiện cảm hơn
Luật Luật sư năm 2006 đã có một sự thay đổi lớn khi qui định về hình thức hành nghề của luật sư Theo đó, Luật sư có thể lựa chọn một trong hai hình thức hành nghề là: hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư và hành nghề với tư cách cá nhân
Thực tiễn cho thấy , Luâ ̣t sư có vai trò rất quan trọng trong viê ̣c bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can, bị cáo và các đương sự, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng điều tra , truy tố , xét xử vụ án được chính xác , khách quan Đồng thời, luật sư còn có vai trò phản ánh các chuẩn mực, các giá trị xã hội, niềm tin vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị con người Tuy nhiên, hiê ̣n nay vẫn còn tồn ta ̣i nhiều ý kiến khác nhau về
vị trí và vai trò của Luật sư trong tố tụng hình sự Luật sư có phải là người tham gia tố tụng đô ̣c lâ ̣p không, hay ho ̣ chỉ là người đa ̣i diê ̣n của bi ̣ can, bị cáo?
- Quan điểm thư ́ nhất cho rằng : Luâ ̣t sư là người bào chữa , là người
tham gia tố tụng đô ̣c lâ ̣p Vị trí độc lập của Luật sư trong tố t ụng hình sự được xác định bằng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự , trong đó quy đi ̣nh cụ thể quyền và nghĩa vụ của ho ̣ Mô ̣t số tác giả đã dựa vào quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t tố tụng hình sự thực đi ̣nh cho người bào c hữa quyền được tự mình kháng cáo bản án theo hướng có lợi cho bị cáo trong trường hợp bị cáo là người
chưa thành niên , người có nhược điểm về tâm thần hoă ̣c thể chất ; quyền đưa
ra tài liê ̣u , chứng cứ và yêu cầu ; có quyền trình bầy quan điểm của mình mà
Trang 29không phụ thuô ̣c vàp ý muốn chủ quan của bi ̣ can , bị cáo từ đó coi Luâ ̣t sư
là người tham gia tố tụng độc lập [13, tr 43]
- Quan điểm thư ́ hai cho rằng: Luâ ̣t sư trong tố tụng hình sự chỉ thuần
tuý là người đại diện của bị can , bị cáo, thông qua viê ̣c sử dụng phương tiê ̣n , biê ̣n pháp luâ ̣t đi ̣nh để thể hiê ̣n vi ̣ trí tố tụng đô ̣c lâ ̣p của mình Luật sư có quyền không tuân theo những đòi hỏi bất hợp pháp , vô căn cứ của bị can , bị cáo Viê ̣c thừa nhâ ̣n vi ̣ trí đô ̣c lâ ̣p của Luâ ̣t sư trong tố tụng hình sự phải được xác định bằng các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự , đă ̣c biê ̣t trong hê ̣ thống quyền và nghĩa vụ mà pháp luâ ̣t quy đi ̣nh cho Luâ ̣t sư [40, tr 43]
- Quan điểm thư ́ ba cho rằng : Luâ ̣t sư vừa là chủ thể đô ̣c lâ ̣p trong tố
tụng hình sự, vừa là người đa ̣i diê ̣n cho quyền và lợi ích hợp pháp của bi ̣ can, bị cáo nhưng là một loại hình đại diện đặc b iê ̣t trong quan hê ̣ tư pháp [40, tr 43]
- Quan điểm thư ́ tư cho rằng: không thể coi Luâ ̣t sư là người tham gia
tố tụng đô ̣c lâ ̣p Bởi vì, mối quan hê ̣ giữa Luâ ̣t sư và người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can,
bị cáo chỉ được thiết lập khi ngườ i bi ̣ ta ̣m giữ , bị can, bị cáo mời (hoă ̣c người
đa ̣i diê ̣n hơ ̣p pháp , người thân của ho ̣ mời ) Luâ ̣t sư cho ho ̣ và được cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhâ ̣n hoă ̣c cơ quan tiến hành tố tụng cử Luâ ̣t sư bào chữa cho những người này và được họ đồng ý Do đó, có thể khẳng định ý chí của người bị tạm giữ , bị can, bị cáo luôn là yếu tố quyết định có hay không có sự tham gia tố tụng của Luâ ̣t sư Xuất phát từ ý chí chủ quan của mình , họ có thể từ chối Luâ ̣t sư ở bất kỳ giai đoa ̣n nào của quá trình tố tụng nế u ho ̣ nhâ ̣n thấy sự tham gia của Luâ ̣t sư là không còn cần thiết , không thể giú p đỡ gì hoă ̣c làm xấu hơn tình tra ̣ng của ho ̣ [40, tr 13]
Mỗi quan điểm nêu trên ở một khía cạnh nào đó đều có sức thuyết phục riêng Bở i lẽ, các tác giả khi nêu quan điểm của mình đều có cách nhìn nhận vấn
đề trên cơ sở sở pháp lý và thực tiễn nhất định Luật sư là người bào chữa, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ dựa trên cơ sở pháp luật Bằng các chứng cứ có sức thuyết phục, Luật sư trình bày trước Tòa án quan điểm bào
Trang 30chữa, bảo vệ của mình; chứng minh sự vô tội của thân chủ hoặc đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS)… Đồng thời, Luật sư cũng nêu lên những điều bất hợp lí trong bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra (CQĐT) hay cáo trạng truy tố của VKS, những vi phạm thủ tục tố tụng của các cơ quan trên nhằm bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho thân chủ Đối với việc luật sư tham gia tranh tụng trong các VAHS thì mục đích chủ yếu nhất và thường xuyên nhất là nhằm bào chữa cho hành vi phạm tội của bị cáo; trên cơ sở đó để Toà án có sự ghi nhận về quan điểm của luật sư mà đưa ra một bản án có lợi cho bị cáo
Việc xác đi ̣nh vi ̣ trí tố tụng của Luật sư là vấn đề hết sức phức tạp , mang tính thời sự của lý luâ ̣n và thực tế trong tố tụng hình sự Muốn xác đi ̣nh
vị trí của Luật sư bào chữa cần phải xuất phát từ việc làm rõ mối quan hệ giữa Luật sư và bị can , bị cáo mà Luật sư có trách nhiệm bảo vệ và mối quan hệ giữa ho ̣ với các cơ quan tiến hành tố tụng , đă ̣c biê ̣t là Toà án Chúng tôi cho rằng, Luâ ̣t sư là người bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp của bi ̣ c an, bị cáo , giúp cho việc giải quyết vụ án hình sự khách quan , chính xác, hơ ̣p tình, hợp lý
và góp phần nâng cao hiệu quả của pháp luật Họ là người tham gia tố tụng
đô ̣c lâ ̣p nhưng đô ̣c lâ ̣p ở đây chỉ mang tính tương đối m à thôi
Luật sư và người bào chữa không hoàn toàn đồng nhất với nhau Theo qui định tại khoản 1 Điều 56 BLTTHS thì người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân Trong thực tế, không ít người cho rằng: nói đến người bào chữa là nói đến luật sư bởi vì họ cho rằng Luật sư là nhân vật trung tâm về hoạt động bào chữa, còn những người khác không phải là luật sư thì không phải người bào chữa Theo quy định của pháp luật thì luật sư chỉ trở thành người bào chữa khi họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo
Để tạo cơ sở pháp lý cho Luật sư thực hiện chức năng của mình và thực hiện chủ trương cải cách tư pháp về tăng cường vai trò của Luâ ̣t sư trong tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung nhiều nô ̣i dung quan tro ̣ng khẳng đi ̣nh các quyền và nghĩa vụ của Luật sư khi tham gia tố tụng Trước đây, quyền và
Trang 31nghĩa vụ của Luật sư được quy định tại Điều 36 BLTTHS năm 1988 Đến nay, BLTTHS năm 2003 đã kế thừa hầu hết các quy đi ̣nh về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa nói chung, Luâ ̣t sư nói riêng của BLTTHS năm 1988
Để luật sư thực hiện chức năng làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo và giúp đỡ bị can, bị cáo về mặt pháp lí; so với BLTTHS 1988, BLTTHS năm 2003 đã bổ sung đầy đủ hơn và thể hiê ̣n mô ̣t cách rõ ràng , cụ thể hơn quyền và nghĩa vụ của Luật sư Điều đó nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp là:
Xác định rõ hơn quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng; tạo điều kiện để người bào chữa tham gia vào qua trình tố tụng như tham gia hỏi cung bi ̣ can , tranh luận dân chủ tại ph iên toà để bảo đảm thực hiện đầy đủ hơn các quyền của họ trong tố tụng hình sự, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng [4]
Theo Từ điển luật học địa vi pháp lý là:
Vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp luật với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình [1, tr 244] Địa vị pháp lí của Luật sư là tổng thể các quyền năng cũng như nghĩa
vụ, trách nhiệm của Luật sư (được thể hiện trong các qui định của pháp luật
về quyền và nghĩa vụ của Luật sư) Trong TTHS, địa vị pháp lí của Luật sư được xác định khi họ tham gia tố tụng với vai trò là người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 58, Điều 59 BLTTHS)
Để thực hiện nhiệm vụ của mình khi bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo; luật sư có những quyền năng tố tụng theo quy định của pháp luật Điều đó được thể hiện cụ thể như sau:
Trang 32* Về ca ́ c quyền của Luật sư trong tố tụng hình sự
Quyền của người bào chữa nói chung , của Luật sư nói riêng được quy
đi ̣nh cụ thể ta ̣i các điều 56, 57, 58 BLTTHS năm 2003 Đồng thời, quyền này còn được thể hiện tại các chương qui định về trình tự, thủ tục tố tụng (ví dụ: Điều 19 BLTTHS…)
- Theo quy định ta ̣i khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003 thì Luật sư tham gia tố tụng từ khi khởi tố bi ̣ can ; đối vớ i trường hơ ̣p bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoă ̣c pha ̣m tô ̣i quả tang hoă ̣c đang bi ̣ truy nã thì Luâ ̣t sư tham gia tố tụng từ khi có quyết đi ̣nh ta ̣m giữ Trong trường hợp cần phải giữ
bí mật điều tra đối với các tộ i đă ̣c biê ̣t nguy hiểm xâm pha ̣m an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định để Luật sư tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra Qui định này là một bước tiến mới, một biểu hiện dân chủ, tiến bộ trong pháp luật TTHS Việt Nam nhằm mở rộng hơn nữa biện pháp bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của bị can, bị cáo BLTTHS năm 2003 đã quy đi ̣nh cho phép Luâ ̣t sư tham gia tố tụng sớm hơn so với quy đi ̣nh của
BLTTHS năm 1988 (đối với trường hợp bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoă ̣c pha ̣m tô ̣i quả tang hoă ̣c đang bi ̣ truy nã ) Trước khi BLTTHS ra đời, người bào chữa nói chung cũng như luật sư nói riêng chỉ được quyền tham gia
tố tụng khi mà hồ sơ vụ án đã được chuyển sang Tòa án (trừ trường hợp CQĐT, VKS xét thấy cần thiết)
Để thực hiê ̣n đươ ̣c quy đi ̣nh trên , Luâ ̣t sư cần bố trí thời gian và thực hiê ̣n đúng các yêu cầu , thông báo của cơ quan tiến hành tố tụng Đồng thời , các cơ quan tiến hành tố tụng cũng phải tạo điều kiện thuận lợi để Luật sư tham gia Về mặt thực tế, viê ̣c Luâ ̣t sư đươ ̣c tham gia sớm vào quá trình tố tụng đã ta ̣o cho ho ̣ những điều kiê ̣n pháp lý cần thiết để bảo vê ̣ hiê ̣u quả quyền và
lơ ̣i ích hợp pháp của bi ̣ can , bị cáo Luật sư tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can góp phần hạn chế việc làm trái pháp luật trong việc bắt, giam, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can Tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, Luật sư
Trang 33có điều kiện nghiên cứu quyết định khởi tố bị can, từ đó có thể tiếp cận vụ án một cách toàn diện và đầy đủ hơn Mặt khác, tạo điều kiện cho Luật sư tìm hiểu, nắm bắt nội dung vụ án ngay từ đầu, thuận lợi trong việc phát hiện chứng cứ gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can; giúp cho công tác điều tra được tiến hành kịp thời, nhanh chóng
Rõ ràng, sự tham gia của Luâ ̣t sư ngay từ thời điểm khởi tố vụ án hay từ khi mô ̣t người bi ̣ ta ̣m giữ theo quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 58 là rất quan trọng vì đây là giai đoạn bắt đầu hình thành hồ sơ vụ án Ngay từ lúc này , sự trơ ̣ giúp của Luâ ̣t sư sẽ giúp bi ̣ can bình tĩnh hơn , tự tin hơn tránh tình tra ̣ng bi ̣ can quá căng thẳng, tâm lý không ổn đi ̣nh mà gây ra những hành đô ̣ng đáng tiếc
- Theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS, Luật sư có quyền:
can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bi ̣ tạm giữ , bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác ; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết
đi ̣nh tố tụng có liên quan đến người mà mình bào chữa [30]
Với quy đi ̣nh này , so với BLTTHS 1988, BLTTHS năm 2003 đã quy
đi ̣nh mở rô ̣ng thêm quyền của Luâ ̣t sư BLTTHS năm 1988 quy đi ̣nh Luâ ̣t sư
"có quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu điều tra viên đồng ý thì được hỏi
bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác "
Trong quá trình lấy lời khai của người bi ̣ ta ̣m giữ , hỏi cung bị can; nếu luật sư phát hiện ra những tình tiết có lợi cho bị can và cần thiết cho việc bào chữa như để minh oan hoặc giảm nhẹ tội cho bị can thì luật sư đề nghị với Điều tra viên lưu ý tình tiết đó Sự có mặt của Luật sư sẽ làm cho bị can yên tâm hơn và khai báo chính xác sự việc, đồng thời ngăn ngừa việc vi phạm pháp luật của Điều tra viên trong trường hợp bị can bị mớm cung, bức cung hoặc dùng nhục hình Nếu phát hiện Điều tra viên có vi phạm pháp luật trong quá trình hỏi cung, luật sư có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền
Trang 34Viê ̣c có mă ̣t của Luâ ̣t sư bào chữa trong các hoa ̣t đô ̣ng tố tụng sẽ là đô ̣ng lực
để các cán bộ tiến hành tố tụng phải thận trọng , cân nhắc kỹ lưỡng hơn đối với các quyết đi ̣nh của mình
Khi tham dự việc hỏi cung bị can cũng như lấy lời khai người bị tạm giữ, nếu được Điều tra viên đồng ý thì luật sư có quyền hỏi bị can về những tình tiết có lợi cho bị can mà Điều tra viên chưa đề cập tới hoặc đã đề cập nhưng chưa làm rõ Quy định này giúp Điều tra viên và luật sư tiếp nhận cũng như làm sáng tỏ thêm một số tình tiết quan trọng đối với việc bảo vệ quyền lợi cho bị can; từ đó đánh giá khách quan, công bằng hơn đối với vụ án
Đối với các hoạt động điều tra khác, Luật sư chỉ được quyền tham gia khi được Điều tra viên đồng ý, đó là các hoạt động điều tra được quy định tại các điều từ chương X đến chương XII BLTTHS Khi tham gia các hoạt động này, Luật sư có điều kiện thu thập thêm một số tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ
án trong quá trình điều tra CQĐT có trách nhiệm tạo mọi điều kiện, đảm bảo
để Luật sư thực hiện quyền này theo đúng quy định của pháp luật
Quyền "xem các biên bản về hoa ̣t đô ̣ng tố tụng liên quan đến người
mà mình bào chữa " là một quyền hoàn toàn mới mà BLTTHS năm 2003 quy
đi ̣nh cho Luâ ̣t sư Đây thực chất là quy đi ̣nh nhằm ta ̣o sự giám sát lẫn nhau giữa người tiến hành tố tụng và Luâ ̣t sư , buô ̣c người tiến hành tố tụng phải cẩn thâ ̣n hơn , thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định và thực hiê ̣n đúng các quy đi ̣nh của BLTTHS về hoa ̣t đô ̣ng điều tra , tránh những vi pham nghiêm trọng về thủ tục tố tụng
- Điểm b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 quy đi ̣nh Luâ ̣t sư có
quyền "đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung
bị can để có mặt khi hỏi cung bị can" Đây là quy đi ̣nh mới , bổ sung thêm các
quyền của Luâ ̣t sư trong giai đoa ̣n điều tra Với các quy đi ̣nh trước đây , phần lớn các quyền của Luâ ̣t sư trong giai đoa ̣n này chỉ được sử dụng thông qua
Trang 35điều tra viên , phụ thuộc vào điều tra viên Trên thực tế , viê ̣c Luâ ̣t sư có mă ̣t trong các buổi hỏi cung bi ̣ can thường gă ̣p rất nhiều khó khăn Họ thườ ng không đươ ̣c Cơ quan điều tra thông báo về thời gian hỏi cung hoặc đã được hẹn ngày nhưng sau đó la ̣i bi ̣ hoãn nhiều lần Do đó , Luâ ̣t sư gă ̣p nhiều trở ngại trong việc thu thập chứng cứ chứng minh cho sự vô tô ̣i hay giảm nh ẹ TNHS cho bị can Với quy đi ̣nh mới nêu trên , Luâ ̣t sư được chủ đô ̣ng hơn trong hoa ̣t đô ̣ng của mình , điều đó ta ̣o điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho ho ̣ trong viê ̣c thu thâ ̣p các chứng cứ và tài liê ̣u cần thiết cho viê ̣c bào chữa
- Điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS "Luâ ̣t sư có quyền đề nghi ̣ thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám đi ̣nh, người phiên di ̣ch"
Pháp luật tố tụng hình sự quy định quyền này không chỉ dành cho bị can, bị cáo mà còn cho cả Luâ ̣t sư Bởi lẽ, trên thực tế khả năng bi ̣ can , bị cáo tự thực hiê ̣n đươ ̣c quyền này là rất thấp , do đó Luâ ̣t sư thực hiê ̣n quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng , người giám đi ̣nh , người phiên di ̣ch thực chất là sự hỗ trợ c ho bi ̣ can, bị cáo thực hiện quyền của mình Quyền đề nghi ̣ thay đổi người tiến hành tố tụng , người giám đi ̣nh , người phiên di ̣ch được sử dụng trong giai đoạn điều tra , truy tố và cả trong giai đoa ̣n xét xử ở các cấp đối với Thẩm phán , Hô ̣i thẩm nhân dân và Thư ký phiên toà Luâ ̣t sư căn cứ vào quy định của BLTTHS về các trường hợp phải thay đổi người tiến hành tố tụng để đề nghị thay đổi nếu thấy cần thiết
Viê ̣c Luâ ̣t sư đề nghi ̣ thay đổi ng ười tiến hành tố tụng , người giám
đi ̣nh, người phiên di ̣ch sẽ góp phần đảm bảo sự vô tư , khách quan của những người này trong hoa ̣t đô ̣ng tố tụng , đảm bảo cho những quyết đi ̣nh có liên quan đến lơ ̣i ích của bi ̣ can , bị cáo đư ợc chính xác , công bằng Sự kết hợp giữa quyền đề nghi ̣ thay đổi người tiến hành tố tụng , người giám đi ̣nh , người phiên di ̣ch và các quyền khác của Luâ ̣t sư ta ̣o nên cơ chế hữu hiê ̣u , tạo cho Luâ ̣t sư mô ̣t vi ̣ trí quan tro ̣ng tr ong hoa ̣t đô ̣ng tố tụng , giúp Luật sư thực hiện tốt vai trò của mình trong viê ̣c bảo vê ̣ quyền lợi của bi ̣ can , bị cáo
Trang 36Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch là một trong những quy định thể hiện tính dân chủ trong TTHS Việt Nam
- Điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTHS quy định luật sư có quyền: "Thu
thập tài liê ̣u, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ,
bị can , bị cáo , người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan , tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ , bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác" [30]
Đây là qui định mới, nhấn mạnh về quyền của người bào chữa nói chung cũng như luật sư nói riêng Những quyền nêu trên còn là biện pháp quan tro ̣ng để Luâ ̣t sư bảo vê ̣ quyền , lợi ích hợp pháp của bi ̣ can , góp phần bảo đảm tính khách quan , chính xác , đúng pháp luâ ̣t của hoa ̣t đô ̣ng tố tụng Với quy đi ̣nh mới này , Luâ ̣t sư đã có quyền tự mình tiến hành các hoa ̣t đô ̣ng điều tra để thu thâ ̣p chứng cứ , chủ động đưa ra tài liệu , đồ vâ ̣t liên quan đến
vụ án vào bất kỳ thời điểm nào và đó là trách nhiệm của họ khi được bị can ,
bị cáo nhờ bào chữa Pháp luật quy định chặt chẽ trình tự , thủ tục thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng vì trách nhiê ̣m chứng minh tô ̣i phạm thuộc về các cơ quan này , nhưng không quy đi ̣nh trình tự , thủ tục thu thâ ̣p tà i liê ̣u , đồ vâ ̣t của Luâ ̣t sư vì bi ̣ can , bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tô ̣i nhưng có quyền đưa ra các tài liê ̣u , đồ vâ ̣t để tự bào chữa hoă ̣c nhờ người khác bào chữa Viê ̣c đánh giá , sử dụng các tài liê ̣u , đồ
vâ ̣t do Luâ ̣t sư đưa ra như thế nào thuô ̣c về cơ quan có thẩm quyền tố tụng
Bên ca ̣nh đó , viê ̣c Luâ ̣t sư đề xuất các yêu cầu trong quá trình tố tụng như yêu cầu giám đi ̣nh , giám định lại , đối chất, tạm đình chỉ , đình chỉ vụ án, thay đổi , huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ pháp lý đã góp phần quan tro ̣ng trong viê ̣c làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án , tránh làm oan người
vô tô ̣i , bảo vệ quyền tự do dân chủ của công dân Khi hồ sơ vụ án được chuyển sang VKS thì Luật sư có quyền đưa ra những chứng cứ và yêu cầu
Trang 37mới như điều tra la ̣i , điều tra bổ sung, yêu cầu hỏi thêm người làm chứng , đối chất giữa các bi ̣ can Mục đích của việc thực hiện quyền nà y vẫn là bảo v ệ quyền lơ ̣i hơ ̣p pháp của bi ̣ can, đồng thời giúp kiểm sát viên xem xét , đánh giá các tình tiết vụ án một cách khách quan nhằm truy tố đúng người , đúng tô ̣i
- Điểm đ khoản 2 BLTTHS qui định luật sư có quyền "đưa ra tài liệu,
đồ vật, yêu cầu"
Khi làm nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho bị can trong giai đoạn điều tra, Luật sư có thể phát hiện ra các tài liệu mới, chứng cứ mới mà CQĐT chưa phát hiện được Trong trường hợp này, Luật sư có quyền yêu cầu CQĐT xem xét nhưng chỉ khi tài liệu, đồ vật đó có lợi cho bị can và không làm xấu đi tình trạng của bị can Chẳng hạn, đó là các chứng cứ chứng minh sự vô tội của bị can hoặc các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can mà CQĐT chưa thể hiện trong hồ sơ…
Trong quá trình điều tra, cùng với việc đưa ra chứng cứ, Luật sư cũng có quyền yêu cầu CQĐT khắc phục những thiếu sót trong hoạt động điều tra khi cần thiết như đề nghị triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định pháp
y, giám định thương tật Khi Luật sư đưa ra những yêu cầu có liên quan đến
vụ án thì CQĐT trong phạm vi, trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu của luật sư và báo cho Luật sư biết kết quả Trường hợp CQĐT không chấp nhận yêu cầu của người bào chữa thì phải ra quyết định và nói rõ lý do Nếu thấy việc không chấp nhận yêu cầu đưa ra là không có căn cứ thì Luật sư có quyền khiếu nại đến CQĐT hoặc VKS cùng cấp
Khi hồ sơ chuyển sang VKS, Luật sư có thể đưa ra những chứng cứ mới, yêu cầu mới như yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng; yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ sung Việc Luật sư đưa ra những chứng cứ, những yêu cầu mới có lợi cho bị can không chỉ có tác dụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can mà còn giúp VKS xem xét, đánh giá chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện hơn khi lập cáo trạng truy tố bị can trước Tòa án
Trang 38Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật và những yêu cầu của luật sư có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của bị can, đồng thời giúp CQTHTT đánh giá khách quan hành vi mà bị can đã thực hiện để kết luận và giải quyết vụ án
Điều 19 BLTTHS năm 2003 quy đi ̣nh ta ̣i phiên toà , Luâ ̣t sư có quyền bình đẳng với kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ , tài liệu, đồ vâ ̣t, đưa ra yêu cầu và tranh luâ ̣n trước Toà án Toà án có trách nhiê ̣m ta ̣o điều kiê ̣n cho Luâ ̣t sư thực hiê ̣n các quyền đó nhằm làm rõ sự thâ ̣t khách quan của vụ án Đây không chỉ là mô ̣t quyền của người bào chữa mà là nguyên tắc cơ bản
trong luâ ̣t tố tụng hình sự
- Quyền gặp người bi ̣ tạm giữ; gă ̣p bi ̣ can, bị cáo đang bị tạm giam Viê ̣c Luâ ̣t sư gă ̣p người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can, bị cáo là rất quan trọng Bởi thông qua sự gă ̣p gỡ này Luâ ̣t sư mới có thể nắm rõ sự thâ ̣t về người đã thực hiê ̣n hành vi pha ̣m t ội, về những điều ho ̣ đã khai báo và yêu cầu của ho ̣ đối với mình Từ đó, Luâ ̣t sư mới tìm hiểu được nguyên nhân , mục đích, đô ̣ng
cơ pha ̣m tô ̣i , điều kiê ̣n , hoàn cảnh thúc đẩy bị can , bị cáo phạm tội để có hướng bào ch ữa mô ̣t cách chính xác Đồng thời, thông qua cuộc gặp gỡ này, Luật sư giúp họ nhận thức đúng đắn việc bào chữa là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân họ trên cơ sở pháp luật và tôn trọng sự thật khách quan của vụ án; giải thích những vấn đề pháp luật liên quan đến việc bảo vệ bị can, bị cáo mà họ chưa hiểu hoặc không biết trình bày trước CQTHTT nhằm minh oan hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho mình; phân tích cho
họ thấy cần phải khai báo thành khẩn để luật sư có căn cứ rõ ràng, vững chắc bảo vệ bị can Qua việc gặp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo luật sư có thể nắm được nội dung của vụ án một cách đầy đủ, chính xác và toàn diện hơn, giúp cho việc chuẩn bị luận cứ bào chữa, chuẩn bị kế hoạch xét hỏi tại phiên tòa tốt hơn
- Quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án liên quan đến viê ̣c bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t
Trang 39Sau khi kết thúc điều tra , hồ sơ vụ án đã chuyển sang VKS để xem xét viê ̣c truy tố , Luâ ̣t sư ngoài quyền được gă ̣p bi ̣ can bi ̣ ta ̣m giam , được đo ̣c, ghi chép những điều cần thiết thì trong điều kiện hiện nay với sự phát triển vượt
bâ ̣c của khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t , đă ̣c biê ̣t là công nghê ̣ thông tin thì viê ̣c Luâ ̣t sư đươ ̣c sao chụp tài liê ̣u trong hồ sơ vụ án có liên quan đến v iê ̣c bào chữa là cần thiết Trước đó, BLTTHS 1988 không qui định về việc Luật sư có quyền sao chụp, photocopy các tài liệu trong vụ án Điều đó làm cho Luật sư gặp nhiều khó khăn trong hoạt động nghề nghiệp của mình Những vụ án phức tạp, tài liệu và bút lục lên đến vài trăm trang mà cứ ngồi ghi chép lại thì đó quả là một khó khăn lớn đối với Luật sư Nhiều luật sư đã than về nỗi phiền toái, bất tiện khi phải ngồi mà ghi chép hồ sơ Việc này đã làm mất nhiều thời gian, công sức mà hiệu quả hạn chế Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 đă kịp thời quy định bổ sung vấn đề này cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
Quyền đọc hồ sơ vụ án và ghi chép những điều cần thiết giúp luật sư nắm vững các tình tiết của vụ án Có đọc hồ sơ thì luật sư mới biết bị can phạm tội gì, theo điều khoản nào của BLHS; mới nắm được bị can bị buộc tội trên cơ sở nào và từ đó tìm ra các chứng cứ gỡ tội cho bị can Qua đó, luật sư
có một cách nhìn toàn diện hơn về vụ án từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra
- Quyền được tham gia hỏi, tranh luâ ̣n ta ̣i phiên toà
Trong giai đoa ̣n xét xử , thông qua việc xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, Luâ ̣t sư góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn vướng mắc , xác định tính xác thực của các chứng cứ buộc tội cũng như gỡ tội nhằm là m rõ sự thâ ̣t khách quan của vụ án , lấy đó làm cơ sở để Hô ̣i đồng xét xử ra phán quyết chính xác Hoạt động này của luật sư nhằm bảo vê ̣ quyền lợi cho bi ̣ cáo, bởi tại phiên toà , với sự có mặt đầy đủ của những người tham gia tố tụng thì viê ̣c đối chất và đưa ra các chứng mới , bác bỏ các chứng cứ buộc tội sẽ có nhiều thuâ ̣n lơ ̣i hơn
Trang 40- Ngoài các quyền cơ bản nêu trên , BLTTHS năm 2003 còn sử a đổi ,
bổ sung quy đi ̣nh về quyền "khiếu nại quyết đi ̣nh hành vi tố tụng của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng"
Bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo của công dân đối với hoạt động của cơ quan THTT là một vấn đề có tính nguyên tắc được ghi nhận tại Điều 31 BLTTHS Theo đó, công dân có quyền khiếu nại và tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạt động TTHS của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc cơ quan đó Như vậy, nếu thấy quyết định của các CQTHTT không có căn cứ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc việc ra quyết định không có lợi cho bị can mà luật sư bảo vệ thì luật sư có quyền khiếu nại
- Quyền "Kháng cáo bản án , quyết đi ̣nh của Toà án nếu bi ̣ cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất"
Sau khi tuyên án sơ thẩm, LSBC có thể giúp bị cáo làm đơn kháng cáo
đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Trường hợp bị cáo mà mình bảo vệ là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần thì LSBC có quyền kháng cáo độc lập
Như vâ ̣y , quyền của luật sư cũng là quyền của người bào chữa theo qui định tại Điều 58 BLTTHS Sự tham gia của người bào chữa nói chung và luật sư nói riêng trong TTHS là rất cần thiết, trước hết ở vai trò của họ trong việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của những người bị buộc tội Chức năng buộc tội và chức năng gỡ tội luôn tồn tại song song với nhau, điều đó tạo nên cơ chế tranh tụng giữa các bên nhằm xác định chân lí khách quan của vụ án Việc qui định các quyền của luật sư giúp cho vụ án được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện; tránh sự lạm quyền, vi phạm pháp luật
từ phia các CQTHTT; đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo