Để tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án, Toà án chỉ trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung nếu xét thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án
Trang 1đại học quốc gia hà nội
khoa luật
- -
trần xuân huệ
Trả hồ sơ để Điều tra bổ sung của toà án cấp sơ thẩm
những vấn đề lý luận và thực tiễn
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 7
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 7
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài 7
1.3 Phạm vi và thời gian nghiên cứu 8
1.3.1 Phạm vi nghiên cứu 8
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 9
1.4 Mục đích nghiên cứu 9
1.5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 9
1.6 Những đóng góp mới của Luận văn 9
1.7 Kết cấu của Luận văn 10
CHƯƠNG 1 11
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 11
1.1 Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung 11
Trang 31.3 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án ở một số nước trên thế giới 15 1.3.1.Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà Liên bang Đức 20 1.3.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga 23 1.3.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 26
CHƯƠNG 2 29 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM 29
2.1 Những căn cứ ( các trường hợp ) Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 29 2.1.1 Các căn cứ pháp luật và thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung 45 2.1.2 Thủ tục Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 46 2.2 Việc giải quyết của Viện kiểm sát sau khi Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung 50 2.3 Thời hạn chuẩn bị xét xử của Toà án sau khi trả hồ sơ để điều tra bổ sung 52
CHƯƠNG 3 54 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM ( TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ, KHẮC PHỤC NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TRẢ LẠI HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 54
3.1 Thực trạng áp dụng các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà
án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Thành phố Hà nội ) 54 3.1.1 Tình hình Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ để điều tra bổ sung 54
Trang 43.1.2 Lý do Toà án các Quận, Huyện thuộc Thành phố Hà nội trả hồ sơ để
điều tra bổ sung 57
3.1.3 Nguyên nhân của tình trạng Toà án trả hố sơ để điều tra bổ sung 65
3.3 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung 68
3.3.1 Một số giải pháp 68
3.1.2 Một số kiến nghị 72
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 85
Trang 5TANDTC Tòa án nhân dân tối cao
TAND Tòa án nhân dân
XHCN Xã hội chủ nghĩa
VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG 1.Bảng thống kê các vụ án do Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra
bổ sung ( trên toàn quốc)
2 Bảng thống kê các vụ án do Toà án cấp sơ thẩm trên địa bàn Thành Phố Hà Nội trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung ( từ năm 2003 - 2007)
Trang 7MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng đã và đang được tiến hành một cách toàn diện, sâu sắc Những thành tựu to lớn do quá trình đổi mới mang lại đã tạo ra những tiền đề cần thiết đưa đất nước ta bước vào một thời
kỳ mới Cùng với công cuộc đổi mới kinh tế và cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp và coi đây là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhiều tư tưởng, quan điểm, định hướng về cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 08 – NQ/ TW
ngày 2/1/2002 của Bộ chính trị “ Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư
pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49 – NQ/ TW ngày 2/6/2005 của
Bộ chính trị “ Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, đặt ra nhiều
vấn đề cần tiếp tục được thể chế hoá thành những quy định của pháp luật trong đó có pháp luật tố tụng hình sự, đồng thời những hạn chế bất cập của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành cần được khắc phục nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng của hoạt động tư pháp, bảo đảm tốt hơn quyền tự do dân chủ của công dân, bảo đảm sự thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm hiện nay
Trong những năm qua, hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp đã
có nhiều tiến bộ Tuy nhiên vẫn còn tình trạng việc áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong việc giải quyết các vụ án không đúng và không thống nhất cũng như việc áp dụng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong đó
có chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến việc giải quyết vụ án còn kéo dài gây lãng
Trang 8phí thời gian, công sức, tài sản của Nhà nước và làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Việc nghiên cứu một cách hệ thống những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Hà Nội giai đoạn từ năm 2003 đến 2007 ), nhằm đối chiếu với thực tế và đưa ra những kiến nghị, giải pháp góp phần giải quyết hạn chế tình trạng trên là rất cần thiết
1.2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về vấn đề này Một số bài viết trong các sách, báo pháp lý có đề cập đến vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung, như bài viết “ Những trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 179
BLTTHS” Tạp chí TAND số 5 tháng 3 năm 2006 của tác giả Nguyễn Đức
Dũng; “ Một số ý kiến về việc áp dụng quy định trả hồ sơ để điều tra bổ sung
trong BLTTHS năm 2003” Tạp chí TAND số 6 tháng 3 năm 2006 của tác giả
Nguyễn Minh Đức Song các bài viết đó mới đề cập, xem xét đến các trường hợp Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhưng chưa giải quyết được vấn đề tổng thể về lý luận và thực tiễn cũng như chưa đưa ra được những giải pháp thực hiện trong thực tiễn giải quyết các vụ án hình sự
1.3 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Trang 9quá trình áp dụng pháp luật, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam về việc Tòa án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Hà Nội ) trả
hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn từ năm 2003 – 2007
1.4 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận có liên quan đến thủ tục trả
hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án
- Phân tích, nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật về trả hồ sơ điều tra bổ sung của Toà án
- Đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và áp dụng pháp luật về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án
1.5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận của Luận văn là các nguyên lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền
- Để nghiên cứu Luận văn, tác giả sử dụng một cách tổng thể các phương pháp phân tích, quy nạp, đối chiếu, so sánh, phương pháp tổng kết lịch sử, thống kê hình sự Việc nghiên cứu đề tài dựa vào các văn bản pháp luật có liên quan đến việc Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm của Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn Hà Nội
1.6 Những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn được nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành về thủ tục trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm và phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình
Trang 10sự trong việc giải quyết các vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Hà nội từ năm 2003 – 2007 Từ kết quả nghiên cứu luận văn, tác giả đưa ra những giải pháp cụ thể để hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự nhằm hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung của các cơ quan tiến hành tố tụng ở Việt Nam
1.7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn được xây dựng dựa trên mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài, theo đó cơ cấu của luận văn bao gồm:
- Chương 1: Những vấn đề chung về trả hồ sơ để điều tra bổ sung
- Chương 2: Những Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm
- Chương 3: Thực trạng áp dụng các quy định về trả hồ sơ để điều tra
bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm ( trên địa bàn Thành phố Hà Nội ) và một số giải pháp kiến nghị, khắc phục nhằm hạn chế việc trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung
- Kết Luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 11CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG 1.1 Khái niệm về trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án cấp sơ thẩm là chế định pháp lý được quy định tại Điều 179 và khoản 2 Điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự Điều 179 quy định về việc Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Khoản 2 Điều 199 BLTTHS quy định Hội đồng xét xử trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung tại phiên tòa Đây là quyền năng pháp lý của Tòa án được thực hiện khi có căn cứ pháp luật cho rằng việc điều tra, truy tố, các vụ án hình sự còn thiếu sót, chưa đảm bảo khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trong hệ thống khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay, khái niệm trả hồ
sơ điều tra bổ sung cũng chưa có khái niệm cụ thể Điều 179 BLTTHS chỉ quy định căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Thẩm phán; Khoản 2 Điều
199 BLTTHS không quy định cụ thể căn cứ Hội đồng xét xử sơ thẩm yêu cầu điều tra bổ sung Song nghiên cứu tổng thể các quy định của BLTTHS và qua thực tiễn áp dụng pháp luật có thể thấy Điều 179 BLTTHS cũng chính là căn
cứ để Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung Việc áp dụng các căn cứ quy định tại điều 179 của Hội đồng xét xử là phù hợp với thực tế trong giải quyết vụ án hình sự
Hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm có
Trang 12định tại khoản 1 Điều 179 BLTTHS thì việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung do
Hội đồng xét xử quyết định
- Chủ thể tiếp nhận hồ sơ Toà án trả để điều tra bổ sung là Viện Kiểm sát nơi ra quyết định truy tố
- Căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Toà án cấp sơ thẩm chỉ được trả hồ
sơ cho Viện Kiểm sát khi có các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 179 BLTTHS
Để tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án, Toà án chỉ trả lại hồ sơ
để điều tra bổ sung nếu xét thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án mà Toà án không bổ sung được tại phiên toà Ví dụ, những chứng cứ liên quan đến việc định tội hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt của bị cáo
Nếu xác định có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc vụ án
có đồng phạm khác thì tuỳ từng trường hợp nếu thấy việc trả lại hồ sơ không cần thiết thì vẫn tiến hành xét xử Ví dụ, có căn cứ xác định ngoài hành vi phạm tội của bị can đã bị điều tra, truy tố còn có căn cứ để xác định bị can phạm một tội khác mà việc điều tra, truy tố về tội đó không thể hoàn thành sớm được, đồng thời tội đó độc lập với hành vi phạm tội đã được điều tra, truy tố thì vẫn tiến hành xét xử đối với tội mà Viện kiểm sát có quyết định truy tố, đối với tội mới phát hiện thì Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ
án hoặc có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra khởi tố giải quyết bằng một vụ
án khác
Đối với trường hợp có vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố Hiện nay cũng chưa có văn bản nào quy định, hướng dẫn thế nào là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Thực tiễn xét xử những năm qua cho thấy,
Trang 13hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án hoặc xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng
Mục đích, ý nghĩa của hoạt động trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà
án cấp sơ thẩm:
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung là nhằm bảo đảm tránh bỏ lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội Qua việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đánh giá những nguyên nhân của những vấn đề đã làm được và những tồn tại Một mặt, vừa kịp thời sửa chữa, khắc phục những tồn tại đó, mặt khác thâu lượm tích luỹ thêm được những kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử
Chức năng chính của Toà án là xét xử Do đó, mọi chứng cứ đã được điều tra, thu thập trong hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu để Toà án xem xét, kiểm tra nhằm đưa ra những phán quyết khách quan phù hợp với quy định của pháp luật Tất cả những thông tin, tài liệu, đồ vật thu thập được trong giai đoạn điều tra, truy tố đều được đưa ra xem xét công khai tại phiên toà thông qua việc xét hỏi và tranh luận xét xử dựa vào kết quả điều tra, truy tố và hoạt động buộc tội chính thức của Viện kiểm sát tại phiên toà Mặt khác, việc xét xử không thể bỏ qua kết quả thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên toà do cả phía buộc tội ( Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, người bị hại ) và phía bào chữa gỡ tội đưa ra ( bị can, bị cáo, người bào chữa, nhân chứng gỡ tội ) và đặc biệt là kết quả tranh tụng công khai tại phiên toà sẽ đem lại cho Toà án có được phán quyết chính xác để tuyên được bản án đúng pháp luật
Qua các phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm: “Trả hồ sơ để điều tra
bổ sung của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm” như sau:
“Trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm là việc Toà án cấp sơ thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên toà quyết định trả
Trang 14sung nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra, truy tố để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện và đúng các quy định của pháp luật”
1.2 Những quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm trong các giai đoạn phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho đất nước ta, Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa được thành lập Tuy nhiên, do mới hình thành nên bộ máy cơ quan nhà nước Việt Nam nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng đều thiếu và yếu Trong khi đó, tình hình chính trị và an ninh trật tự của đất nước diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải thành lập kịp thời hệ thống Toà án nhân dân và Toà án quân sự để xét xử các vụ án hình sự Bên cạnh hệ thống Toà án nhân dân thì Viện công tố cũng được thành lập Lúc đó hoạt động xét xử tuân theo sắc lệnh số 13/SL ngày 24 01.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành
Theo quy định tại Điều 17 của Sắc lệnh thì Toà án sơ cấp ( quận, huyện) xét xử về dân sự và thương sự, Chánh án xử một mình Những khi xử các việc tiểu hình, phải có thêm hai viên Phụ thẩm Nhân dân góp ý kiến Toà án xét xử những vụ việc do Ban tư pháp xã lập biên bản đệ lên Mặc dù đã có Viện công
tố nhưng Viện công tố chỉ lập Cáo trạng ở phiên toà Đại hình Do đó không
có quy định về việc Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở Toà án sơ cấp
Cùng với việc cải cách bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước, hệ thống Toà án tư pháp cũng được kiện toàn Sắc lệnh số 85 ngày 25/5/1950 quy định đổi tên các Toà án sơ cấp, đệ nhị cấp, thượng thẩm thành TAND huyện, TAND tỉnh, TAND liên khu Theo Sắc lệnh 150/SL ngày 22/11/1950 thì TAND liên khu là sự hợp nhất giữa Toà Thượng thẩm và Toà án quân sự TAND liên khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án và quyết định sơ
Trang 15Ngày 17/11/1950, Chủ Tịch nước ra Sắc lệnh số 157/SL tổ chức các TAND vùng tạm bị chiếm đóng Thẩm quyển của những Toà án này rộng hơn các Toà án vùng tự do Theo Điều 3 Sắc lệnh 157 thì “TAND vùng bị tạm chiếm có thẩm quyền của TAND huyện, TAND tỉnh và Toà án quân sự”
Thẩm quyền của Toà án cấp huyện theo Luật Tổ chức TAND 1981
được xác định theo loại việc chứ không xác định theo mức hình phạt mà TA
có thể áp dụng như trước đây Sau khi Luật Tổ chức TAND 1981 được ban hành, ngày 6/2/1982 TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ ( nay là
Bộ Công an ) ban hành Thông tư liên ngành hướng dẫn thực hiện thẩm quyền của TA cấp huyện Theo Thông tư này, các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh được xét xử những tội phạm về hình sự thường mà khung
1 của hình phạt từ 7 năm tù trở xuống, nếu là hình phạt được quy định trong khung 2 nhưng thực tế chỉ cần xử phạt tương đương với khung 1 vì có những tình tiết giảm nhẹ quan trọng thì TAND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh cũng có thẩm quyền xét xử Toà án cấp huyện không có thẩm quyền xét xử những tội phản cách mạng và những vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp gây hậu quả lớn
Trước khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời, các văn bản pháp luật trước đó quy định về thẩm quyền xét xử cũng như thủ tục xét xử tại phiên toà sơ thẩm của Toà án nhưng không có quy định nào về việc Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ cho Viện kiểm sát ( trước đây là Viện công tố)
Chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm được quy định lần đầu tiên tại Điều 154 và Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
1988
Điều 154 BLTTHS năm 1988 quy định: Quyết định trả hồ sơ để điều tra
bổ sung
Trang 161 “ Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện Kiểm sát để điều tra
bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được;
b Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác;
c Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu điều tra bổ sung
2 Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới đình chỉ vụ án thì Viện Kiểm sát
ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết
Trong trường hợp Viện Kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn tiến hành xét xử”
Điều 173 BLTTHS năm 1988 quy định: Việc ra bản án và các quyết định của Toà án
“1
2 Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người giám định, người phiên dịch, Thư ký Toà án, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
và phải được lập thành văn bản”
Để việc áp dụng các quy định của pháp luật đƣợc thống nhất trong hoạt
Trang 17tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên ngành số 01/ TTLN “ Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự ” tại Mục 4 Phần 1 Thông tư quy định: “ Khi Toà án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, thì Toà án xoá sổ thụ lý, Viện kiểm sát ghi việc Toà án trả
hồ sơ vào sổ thụ lý của mình Khi nhận lại hồ sơ, Toà án thụ lý lại Ngày chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát và ngày thụ lý lại cũng được đóng dấu ( hoặc ghi ) vào bìa hồ sơ Do đó, đối với quyết định đưa vụ án ra xét xử trước đó Toà án không phải giải quyết gì, mà vẫn được lưu trong hồ sơ vụ án Sau khi Viện kiểm sát đã điều tra bổ sung hoặc không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu điều tra bổ sung và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án thì Toà án thụ lý lại và giải quyết vụ án theo thủ tục chung khi nhận lại hồ sơ trong thời hạn 15 ngày, Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử ”
Tuy nhiên, Thông tư trên cũng chỉ quy định về trình tự thụ lý khi Toà
án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát chứ không hướng dẫn về việc thực hiện Điều
154 BLTTHS Bên cạnh đó, BLTTHS chưa có quy định cụ thể về vấn đề thời hạn điều tra bổ sung là như thế nào, nên ngày 05.11.1996, liên ngành Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, Bộ nội vụ ( nay là Bộ công an ) thống nhất ra Thông báo số 61/ KT- LN hướng dẫn về thời hạn điều tra bổ sung tại điểm c khoản 5 Mục IV Thông báo quy định “ Trường hợp Toà
án trả lại hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 1 tháng Nếu vụ án có bị can bị tạm giam nhưng đã hết thời hạn tạm giam thì Viện kiểm sát ra lệnh tạm giam tiếp 30 ngày Việc điều tra bổ sung phải hoàn thành trong thời gian trên dù hồ sơ vụ án ở Cơ quan điều tra hoặc ở Viện
kiểm sát”
Ngày 10.06.2002, Toà án nhân dân tối cao có hướng dẫn tại Công văn
số 81/2002/TANDTC “ Mặc dù trong phần xét xử sơ thẩm của BLTTHS không có điều luật quy định cụ thể việc Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ
để điều tra bổ sung như quy định tại Điều 154 quy định tại phiên toà sơ thẩm
Trang 18tố tụng hình sự Hội đồng xét xử không được ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS thì một trong các quyết định mà Hội đồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
là quyết định yêu cầu điều tra bổ sung Điều đó có nghĩa là, tại phiên toà khi xét thấy có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 BLTTHS thì Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173 BLTTHS để ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”
Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 quy định các căn cứ để Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung Đối chiếu với quy định tại Điều 154 BLTTHS năm 1988 thì quy định tại Điều 179 trong BLTTHS năm 2003 cơ bản không có gì thay đổi, chỉ khác nhau ở một số từ như: “Những vấn đề cần
điều tra bổ sung phải được nói rõ trong quyết định yêu cầu bổ sung”
(BLTTHS 2003 sửa “nói rõ” thành “nêu rõ”), “nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện Kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và báo cho Toà án biết” (BLTTHS 2003 sửa “báo” thành “thông báo”) và đoạn cuối của Điều 179 bổ sung thêm cụm từ “vụ án” Điều 199 thay đổi cụm từ “ viết ” bằng cụm từ “ lập” tại khoản 3 Việc giữ nguyên nội dung và chỉ sửa đổi câu chữ trong các điều luật cho thấy quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án mang tính ổn định và phù hợp với thực tiễn xét xử của nước
ta Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là việc áp dụng chúng trong hoạt động
tố tụng không có vướng mắc gì Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thời gian qua cho thấy còn nhiều vụ án Viện kiểm sát trả cho Cơ quan điều tra, Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung Trong số hồ sơ bị trả lại, không ít trường hợp sau khi nhận lại hồ sơ, Viện kiểm sát lại chuyển ngay hồ
sơ sang Toà án, thậm chí có vụ hồ sơ bị trả, nhận lại nhiều lần Tình trạng trên làm cho việc giải quyết vụ án bị kéo dài, gây lãng phí thời gian, công sức và tiền bạc, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Một trong những nguyên nhân chủ yếu của việc trả, nhận lại hồ sơ
Trang 19tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng về nội dung quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự đối với các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung
Tại khoản 2 Điều 121 BLTTHS năm 2003 quy định, Toà án chỉ được ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung không quá hai lần
và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2004/NQ- HĐTP ngày 05.11.2004 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hướng dẫn thi hành một số
quy định trong Phần thứ ba “ Xét xử sơ thẩm ” của Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2003, nếu phát hiện thấy vấn đề cần điều tra bổ sung thì vẫn phải tiếp tục nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án để xem xét có vấn đề nào khác cần điều tra bổ sung hay không Toà án chỉ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung lần thứ hai trong trường hợp những vấn đề yêu cầu điều tra bổ sung trong quyết định tra hồ sơ để điều tra bổ sung lần thứ nhất chưa được điều tra bổ sung hoặc tuy
đã được điều tra bổ sung, nhưng chưa đạt yêu cầu hoặc từ kết quả điều tra bổ sung xét thấy cần điều tra bổ sung vấn đề mới Như vậy, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà sơ thẩm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chỉ được trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra bổ sung không quá hai lần Do đó, nếu sau khi đã trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung lần thứ hai, nhưng Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra vẫn không điều tra theo yêu cầu của Toà án, thì Thẩm phán phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử
1.3 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án ở một số nước trên thế giới
1.3.1 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà Liên
bang Đức
Cộng hoà Liên bang Đức ( CHLB ) là một đất nước có truyền thống pháp luật lục địa, thủ tục tố tụng hình sự của họ được xây dựng và áp dụng trên mô hình tố tụng thẩm vấn, xét hỏi Trên cơ sở được xây dựng, hình thành
từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, qua quá trình dài hoàn thiện, được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, cho đến nay Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 20phần với khoảng gần 470 điều quy định cụ thể từng hoạt động, thủ tục trong trình tự tố tụng giải quyết vụ án hình sự của CHLB Đức
Thẩm quyền xét xử của Toà án được quy định dẫn chiếu tại Điều 1, theo đó nêu ngắn gọn: Thẩm quyền xét xử của các Toà án sẽ được Luật tổ chức Toà án quy định Tố tụng ở cấp sơ thẩm được quy định tại Phần hai từ Điều 151 đến Điều 295, bao gồm các quy định về điều tra, truy tố và xét xử
sơ thẩm
Giai đoạn xét xử sơ thẩm (hay còn gọi là giai đoạn tố tụng chính) bắt đầu khi công tố viên chuyển sang Toà án bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và đơn đề nghị đưa vụ án ra xét xử (Điều 199 - Quyết định mở thủ tục chính thức) Trước khi Toà án quyết định mở thủ tục chính thức, Toà án có thể yêu cầu thu thập chứng cứ riêng biệt để làm rõ vụ án Quyết định này của Toà án không bị khiếu nại ( Điều 202 - Điều tra bổ sung )
Cơ quan thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung của Toà án là Viện công tố Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự thì Viện công tố của Cộng hoà Liên bang Đức không trực tiếp tiến hành điều tra, bổ sung chứng cứ
mà Viện công tố chỉ đạo tiến trình tiền xét xử và đưa ra các mệnh lệnh cho cảnh sát để tiến hành hoạt động điều tra theo yêu cầu của Toà án Sau khi điều tra bổ sung đầy đủ theo yêu cầu của Toà án thì Viện công tố chuyển toàn bộ tài liệu đó cho Toà án Sau đó Toà án có thẩm quyền sẽ quyết định liệu có đưa
vụ án ra xét xử hay tạm thời đình chỉ (từ chối xét xử) Về nguyên tắc Toà án
sẽ quyết định xét xử vụ án khi thấy có đủ lý do để nghi ngờ bị can bị truy tố
đã thực hiện tội phạm (Điều 203 - Điều kiện mở thủ tục chính thức ) Tất nhiên điều này hoàn toàn tuỳ thuộc vào các nhận định, đánh giá của Toà án trên cơ sở chứng cứ do các bên đưa ra trong giai đoạn chuẩn bị cho việc mở phiên toà (các căn cứ thực tế) Toà án không có nghĩa vụ bắt buộc phải hành động theo đơn của công tố viên trong việc đưa ra các quyết định của mình (Điều 206 – Yêu cầu không bắt buộc ) Tuy nhiên, Luật quy định cụ thể các
Trang 21vắng mặt bị can bị truy tố hoặc khi có cản trở mang tính cá nhân khác ngăn cản việc đưa vụ án ra xét xử trong một thời hạn đáng kể (Điều 205 - Chấm dứt tạm thời ) Cũng thuộc các căn cứ pháp lý để đình chỉ tố tụng (phân biệt với tạm thời đình chỉ và cũng có nghĩa là từ chối xét xử) đó là khi có một cản trở mang tính thủ tục phát sinh sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử; khi một chuẩn mực hình sự áp dụng vào thời điểm thực hiện tội phạm được sửa đổi trước khi ra quyết định; và nếu tố tụng đang bị tạm hoãn tại toà án hình sự liên quan đến một tội phạm bị xử phạt theo luật cũ nhưng không bị xử phạt theo luật mới Có thể hiểu là việc sửa đổi luật diễn ra trong thời gian tạm hoãn tố tụng Do đó khi có căn cứ thì Toà án phải ra lệnh đình chỉ tố tụng Các quyết định đình chỉ tố tụng này đều có thể bị khiếu nại trong thời hạn ngắn nhất( Điều 206a - Chấm dứt mở phiên toà khi cản trở tố tụng và Điều 206b - Chấm dứt thủ tục tố tụng khi luật pháp có sửa đổi ) Trường hợp sau khi có quyết định từ chối xét xử mà phát hiện các tình tiết hoặc chứng cứ mới thì có thể phục hồi tố tụng ( Điều 211- Hiệu lực quyết định từ chối mở thủ tục chính)
Nhìn chung, trong giai đoạn tiền xét xử (ở Đức không có khái niệm về giai đoạn truy tố) có thể thấy rằng Công tố viên có nhiều thẩm quyền hơn so với cảnh sát đối với việc ra lệnh áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng trong giai đoạn tiền xét xử
Kết quả là trong suốt giai đoạn tiền xét xử, không chỉ thẩm quyền của Công tố viên mà cả những quyết định bãi bỏ tố tụng (đình chỉ) của họ đều là đối tượng kiểm soát của Thẩm phán tiền xét xử Tuy nhiên, dưới góc độ phương pháp và chủ động trong hoạt động điều tra, công tố viên độc lập và hoàn toàn chịu trách nhiệm Do đó, Công tố viên có quyền kiểm soát cảnh sát, bao gồm cả quyền chỉ đạo hoạt động điều tra, đưa ra các hướng dẫn, được thông báo về tiến độ điều tra và ra các lệnh để cảnh sát thực hiện nếu các hoạt động điều tra liên quan, ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân
Trang 22Một điểm đáng lưu ý nữa trong giai đoạn tiền xét xử là Thẩm phán của Đức khi tham gia tiến hành tố tụng có các chức năng khác nhau trong giai đoạn tiền xét xử và xét xử Ở giai đoạn điều tra, Thẩm phán tiền xét xử ( chứ không phải là công tố viên) thực hiện chức năng kiểm soát đối với các cơ quan có chức năng điều tra Bất chấp vai trò chỉ đạo của công tố viên đã được
Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì công tố viên không thể ra tất cả các mệnh lệnh áp dụng các biện pháp cưỡng chế và hầu hết thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nghiêm khắc nhất thuộc về Thẩm phán tiền xét
xử Thẩm phán có quyền xem xét tính hợp pháp của các biện pháp do Công tố viên áp dụng chứ không chỉ xem xét tính cần thiết của các biện pháp đó Tuy nhiên, thẩm phán không có quyền thực hiện điều tra tư pháp Nếu thông tin
mà thẩm phán yêu cầu chưa được đáp ứng đủ thì Thẩm phán phải đề nghị cảnh sát hoặc Công tố viên cung cấp thêm bằng chứng
Khác với luật tố tụng Việt Nam, các quy định liên quan đến xét xử vụ
án hình sự của Toà án tại phiên toà được quy định ở phần thủ tục xét xử Bộ luật tố tụng hình sự CHLB Đức quy định về các quyết định và thông báo của Toà án ( Chương IV ) ở phần những quy định chung Bên cạnh đó, Luật tố tụng hình sự của Liên bang Đức không quy định cụ thể về thẩm quyền, thủ tục và các căn cứ để Toà án trả hồ sơ vụ án hình sự để điều tra bổ sung cho Viện công tố cũng như quy định thời gian Viện công tố phải hoàn thành hồ
sơ điều tra bổ sung
1.3.2 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Liên bang Nga
Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga được ĐuMa quốc gia thông qua
ngày 22/11/2001 và được Hội đồng Liên bang phê chuẩn ngày 5/12/2001 Bộ luật gồm 18 Chương 473 Điều Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền xét xử của Toà án được quy định tại Mục 5 Chương II – Các chủ thể tham gia tố tụng hình sự Theo quy định của Bộ luật tố tụng Liên bang Nga thì Toà án không phải là cơ quan truy tố hình sự không thuộc bên buộc tội hoặc bên bào
Trang 23chữa Toà án tạo điều kiện cần thiết để các bên thực hiện các nghĩa vụ tố tụng của mình thực hiện các quyền được giao cho họ
Điều 30 Khoản 2 quy định: Toà án cấp sơ thẩm xét xử vụ án hình sự với thành phần sau:
1
2 Thẩm phán Toà án liên bang thẩm quyền chung và Đoàn bồi thẩm gồm 12 thành viên xét xử những vụ án theo yêu cầu của bị can về những tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật này
Điều 227 quy định – Quyền hạn của Thẩm phán đối với vụ án hình sự
được chuyển đến Toà án:
1 Đối với vụ án được chuyển đến Toà án Thẩm phán ra một trong những quyết định sau:
1) Chuyển vụ án theo thẩm quyền xét xử
2) Tiến hành điều tra sơ bộ
3) Đưa vụ án ra xét xử
2 Quyết định của Thẩm phán được thể hiện ở bản quyết định, trong đó nêu rõ:
1) Thời gian và địa điểm ra quyết định
2) Tên của Toà án, họ, tên, Thẩm phán ra quyết định
3) Những căn cứ của việc ra quyết định
3 Quyết định được ban hành trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày vụ án được chuyển đến Toà án Nếu trong vụ án có bị can bị tạm giam thì Thẩm phán ra quyết định trong thời hạn không quá 14 ngày kể từ ngày vụ
án được chuyển đến Toà án Yêu cầu của các bên về việc nghiên cứu bổ sung
hồ sơ vụ án trong thời hạn nói trên được Thẩm phán xem xét giải quyết theo thủ tục quy định tại Mục 15 Bộ luật này
Khoản 2 Điều 229 - Những căn cứ tiến hành điều tra sơ bộ quy định:
Khi có căn cứ để trả lại vụ án cho Kiểm sát viên trong những trường hợp quy định tại Điều 237 Bộ luật này
Trang 24Điều 236 quy định - Những quyết định do Thẩm phán ban hành khi kiểm tra sơ bộ
1 Căn cứ kết quả thẩm tra sơ bộ Thẩm phán ra một trong những quyết định sau:
1)
2) Về việc trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên
2 Phán quyết của Thẩm phán thể hiện dưới hình thức bản quyết định phù hợp với những yêu cầu quy định tại Khoản 2 Điều 227 Bộ luật này
Điều 237 quy định - Trả hồ sơ cho Kiểm sát viên
1.Thẩm phán tự mình hoặc theo yêu cầu của một trong các bên trả lại
hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên để khắc phục những trở ngại trong việc xét xử của Toà án trong những trường hợp , nếu:
1) Việc lập Cáo trạng hoặc quyết định truy tố vi phạm những quy định của Bộ luật này dẫn đến Toà án không có khả năng ra bản án hoặc quyết định dựa trên cơ sở bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố đó
2) Bản sao bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố không được giao cho bị can
3) Cần thiết phải lập bản Cáo trạng hoặc quyết định truy tố và chuyển cho Toà án kèm theo quyết định biện pháp bắt buộc chữa bệnh
2 Trong những trường hợp quy định tại khoản 1 điều này Thẩm phán giao trách nhiệm cho Kiểm sát viên trong thời hạn 5 ngày phải bảo đảm khắc phục những vi phạm
3 Trong trường hợp trả hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên, Thẩm phán quyết định vấn đề về biện pháp ngăn chặn đối với bị can
Khoản 2 Điều 238 quy định - Tạm đình chỉ giải quyết vụ án
1.Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án:
1) Trong trường hợp bị can bỏ trốn và không biết được họ đang ở đâu
Trang 252 Trong trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều này Thẩm phán tạm đình chỉ giải quyết vụ án và nếu bị can bị tạm giam bỏ trốn thì trả
hồ sơ cho Kiểm sát viên và giao cho Kiểm sát viên bảo đảm việc truy nã hoặc
bị can không bị tạm giam nhưng bỏ trốn thì áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ và giao cho Kiểm sát viên bảo đảm việc truy nã họ
Như vậy, thẩm quyền ra quyết định trả hồ sơ là Thẩm phán và chủ thể nhận hồ sơ là Kiểm sát viên Khi nhận hồ sơ, trong quá trình nghiên cứu nếu thấy cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung về tố tụng ( tức là việc lập cáo trạng có vi phạm tố tụng dẫn đến Toà án không có khả năng ra bản án) hoặc
bị can bỏ trốn phải ra quyết định truy nã Thẩm phán cũng có thể trả hồ sơ cho Kiểm sát viên theo yêu cầu của các bên tham gia tố tụng nếu có căn cứ cho rằng việc lập Cáo trạng có vi phạm Khi trả hồ sơ cho Kiểm sát viên thì Thẩm phán phải ra quyết định nêu rõ nội dung trả hồ sơ để điều tra bổ sung và giao trách nhiệm cho Kiểm sát viên trong thời hạn 05 ngày phải bảo đảm khắc phục những vi phạm đó
Những quy định về thẩm quyền, thủ tục và thời hạn của việc trả hồ sơ
để điều tra bổ sung của Toà án cấp sơ thẩm rất cụ thể, rõ ràng làm cho quá trình giải quyết vụ án được nhanh chóng đảm bảo đúng các quy định của pháp luật Đây là điểm khác biệt so với quy định tương ứng trong pháp luật nước
ta
1.3.3 Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa
Bộ luật Tố tụng của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thông qua tại Kỳ họp thứ hai Đại hội Đại biểu nhân dân Toàn quốc lần thứ 5 ngày
01 tháng 7 năm 1979 và được sửa đổi theo quyết định sửa đổi Luật tố tụng hình sự cua nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thông qua tại Kỳ họp thứ tư Đại biểu Nhân dân Toàn Quốc lần thứ 8 ngày 17 tháng 3 năm 1996, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/1997 Bộ luật bao gồm 4 phần Phần thứ 1: Những quy định chung gồm 9 Chương 82 Điều; Phần thứ 2: Khởi tố vụ án, Điều tra
Trang 26và Truy tố, gồm 3 Chương 10 Mục 53 điều; Phần thứ 3: Xét xử, gồm 5 Chương 68 Điều; Phần thứ 4: Thi hành án, 17 điều và điều khoản bổ sung
Thẩm quyền và thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Toà án được quy định tại Phần thứ 3: Xét xử
Điều 5 quy định: Toà án nhân dân thực hành quyền tư pháp độc lập theo quy định của pháp luật và Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công
tố độc lập theo quy định của pháp luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào
Điều 19 quy định: Toà án nhân dân sơ cấp có thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự thông thường, trừ những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp trên theo quy định của Bộ luật này
Điều 150 quy định: Sau khi thẩm tra vụ án đã đề nghị truy tố, Toà án nhân dân quyết định mở phiên toà xét xử nếu cáo trạng đã nêu được đầy đủ các tình tiết, chứng cứ phạm tội rõ ràng ngoài ra còn có danh sách chứng cứ
và nhân chứng cũng như bản sao hoặc ảnh của các chứng cứ quan trọng đi kèm
Điều 158 quy định: Trong quá trình xét xử tại toà, nếu Hội đồng xét xử
có nghi ngờ về chứng cứ thì có thể tuyên bố hoãn để tiến hành điều tra để kiểm tra chứng cứ
Điều 159 quy định: Trong quá trình xét xử tại phiên toà, các bên đương
sự, người bào chữa và người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải
có quyền yêu cầu triệu tập nhân chứng mới, thu thập chứng cứ mới, giám định
bổ sung và các yêu cầu khác
Điều 165 quy định: Có thể tạm dừng xét xử nếu xảy ra một trong những tình huống ảnh hưởng đến tiến trình xét xử như sau:
1 Nếu cần triệu tập người làm chứng mới, thu thập chứng cứ mới, giám định bổ sung hoặc thẩm tra khác
2 Nếu Kiểm sát viên thấy rằng vụ án mình truy tố cần điều tra bổ sung,
Trang 273 Nếu việc xét xử không thể tiếp tục vì một bên đương sự đề nghị thay đổi một nhân viên tư pháp
Điều 166 quy định: Nếu việc xét xử vụ án bị tạm đình chỉ theo quy định tại đoạn (2) Điều 165 Luật này, Viện kiểm sát nhân dân phải hoàn tất việc điều tra bổ sung trong vòng một tháng
Điều 168 quy định: Đối với vụ án Viện kiểm sát phải tiến hành điều tra bổ sung, Toà án phải bắt đầu tính thời hạn giải quyết mới sau khi hoàn tất việc điều tra bổ sung và vụ án đã được chuyển sang cho mình
Qua nghiên cứu về các quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Toà án sơ cấp, có thể thấy thủ tục trả hồ sơ điều tra bổ sung của Toà án chỉ được thực hiện tại phiên toà nếu thấy cần bổ sung về chứng cứ hoặc giám định lại về nội dung nào đó thì Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ Việc yêu cầu để điều tra bổ sung có thể là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hoặc có thể là do yêu cầu của một bên đương sự tham gia tố tụng Mặc dù những quy định về thủ tục và căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung còn quy định chung chung chưa cụ thể nhưng Luật tố tụng của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lại quy định rất cụ thể thời hạn Viện kiểm sát phải điều tra bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán và cách tính thời hạn Toà án phải mở phiên toà xét xử khi hồ sơ điều tra bổ sung được chuyển sang
Trang 28CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM
2003 VỀ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG CỦA
TOÀ ÁN CẤP SƠ THẨM
2.1 Những căn cứ (các trường hợp) Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ
sung
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định việc Toà án trả hồ sơ cho
Viện kiểm sát để điều tra bổ sung nhằm khắc phục những thiếu sót trong quá
trình điều tra, truy tố góp phần quan trọng đảm bảo cho Toà án xét xử các vụ
án hình sự một cách khách quan, toàn diện và chính xác theo đúng quy định
của pháp luật
Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
1 “ Thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra
bổ sung trong những trường hợp sau đây:
a) Cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà
không thể bổ sung tại phiên toà được;
b) Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng
phạm khác;
c) Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Những vấn đề cần điều tra bổ sung phải được nêu rõ trong quyết định
yều cầu điều tra bổ sung
2 Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện
Trang 29Trong trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu bổ sung và giữ nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án”
Điều 199 BLTTHS quy định: Việc ra bản án và các quyết định của Toà
án
1 Bản án của Toà án quyết định việc bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Bản án phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
2 Quyết định về việc thay đổi thành viên của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và về việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án
và phải được lập thành văn bản
3 Quyết định về các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không phải lập thành văn bản, nhưng phải được ghi vào biên bản phiên toà
Theo quy định trên thì Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nơi ra quyết định truy tố bao gồm hai trường hợp:
Thứ nhất: Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung trong quá trình chuẩn bị xét
Trang 3081/2002/TANDTC ngày 10/06/2002 của Toà án nhân dân tối cao ban hành có hướng dẫn “ Mặc dù trong phần xét xử sơ thẩm của BLTTHS không có điều luật quy định cụ thể việc Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung như quy định tại Điều 154 quy định tại phiên toà sơ thẩm Khi thấy có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật tố tụng hình
sự Hội đồng xét xử không được ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung Theo quy định tại khoản 2 Điều 173 BLTTHS năm 1988 ( nay là Điều 179 BLTTHS ) thì một trong các quyết định mà Hội đồng xét xử phải thảo luận và thông qua tại phòng nghị án là quyết định yêu cầu điều tra bổ sung Điều đó
có nghĩa là, tại phiên toà, khi xét thấy có một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 154 BLTTHS năm 1988 ( nay là Điều 179 ) BLTTHS thì Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 173 BLTTHS năm 1988 ( nay là Điều
199 ) BLTTHS để ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung”
Theo quy định tại Điều 179 và khoản 2 Điều 199 BLTTHS thì Thẩm phán và Hội đồng xét xử trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong những trường hợp sau:
- Cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà không thể bổ sung tại phiên toà được:
Theo quy định của Điều 63 BLTTHS về những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự, có thể xác định các chứng cứ phản ánh đối tượng chứng minh là: Chứng cứ phản ánh các tình tiết của hành vi phạm tội, hoàn cảnh, không gian, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm; chứng cứ phản ánh ai là người thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết xác định lỗi, năng lực trách nhiệm hình sự, mục đích và động cơ phạm tội; chứng cứ phản ánh các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; chứng cứ phản ánh tính chất và mực độ thiệt hại do hành vi
Trang 31Tại khoản 1 Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: 1 “ Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định
mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”
Theo quy định trên thì “ chứng cứ quan trọng ” là chứng cứ, đảm bảo việc giải quyết nhanh chóng vụ án và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Để khẳng định một chứng cứ là quan trọng ngoài việc phải xem xét chứng cứ đó có phản ánh đối tượng cần chứng minh không thì còn phải xem xét, xem nếu thiếu nó Viện kiểm sát, Toà án có thể giải quyết được đúng đắn vụ án không Nếu vẫn đảm bảo truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì không coi đó là chứng cứ quan trọng Bởi lẽ, có quy định như vậy mới hạn chế được các trường hợp trả hồ sơ và khắc phục tình trạng Viện kiểm sát, Toà án không xem xét toàn diện, thận trọng mức độ liên quan
và sự cần thiết của chứng cứ đối với việc giải quyết vụ án mà cứ thấy thiếu là trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung
“Chứng cứ quan trọng” đối với vụ án là những chứng cứ mà thiếu nó thì không thể xác định được sự thật của vụ án như: Không xác định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có thì là tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự; các tài liệu có liên quan mà thiếu nó không thể xử lý được vật chứng, không thể áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như quyết định việc bồi thường thiệt hại Để xác định việc điều tra của Cơ quan điều tra đã đầy đủ hay chưa Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ căn cứ vào các quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh như:
- Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
Trang 32- Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cố
ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích hoặc động
cơ phạm tội;
- Những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Vấn đề đặt ra là trong các trường hợp cụ thể như bị cáo có dấu hiệu tâm thần mà cần phải được giám định tâm thần, hồ sơ có hai kết luận thương tích, định giá tài sản, người bị hại cố tình không đi giám định thương tật thì quan điểm đánh giá chứng cứ nào là quan trọng đối với việc giải quyết vụ án thường không thống nhất Ví dụ: Trong vụ án “ Phá huỷ công trình quan trọng
về an ninh quốc gia” vật chứng thu được là một đống sắt vụn Khi nghiên cứu
hồ sơ, Thẩm phán đã ra quyết định trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định số sắt vụn thu được có phải là sắt của công trình bị phá huỷ không và định giá số sắt vụn đó Viện kiểm sát sau khi nhận lại hồ sơ cho rằng số sắt vụn này không có ý nghĩa đối với việc định tội danh cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không hiểu được
lý do Toà án yêu cầu giám định số sắt vụn trên để làm gì [12,tr 23] Đối với trường hợp này, hiện nay có quan điểm cho rằng Toà án có thể trưng cầu giám định, thành lập hội đồng định giá để tiếp tục giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát Quan điểm khác và cũng là quan điểm của tác giả, các trường hợp trên Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung là có cơ sở Bởi vì, ngoài những chứng cứ quan trọng như các chứng cứ xác định sự việc phạm tội; xác định bị can có tội hay không có tội; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can có ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt; xác định tình chất và mức độ thiệt hại do hành
Trang 33nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án một cách khách quan toàn diện Hơn nữa, theo quy định tại khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải “ Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định: Nguyên nhân chết người, tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động; tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc người bị hại trong trường hợp có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức và khai báo đúng đắn đối với tình tiết của vụ án; tuổi bị can, bị cáo, người bị hại, nếu việc đó có ý nghĩa đối với vụ án và không có tài liệu khẳng định tuổi của
họ hoặc có sự nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó; chất độc, chất
ma tuý, chất phóng xạ, tiền giả ” Do đó, các trường hợp nêu trên nếu chưa có kết luận giám định thì Toà án phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung
Nếu các tài liệu của hồ sơ vụ án đã đầy đủ để xác định những vấn đề trên, thì không cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung nữa.Ví dụ, bị can Nguyễn Hoàng A khai khi thực hiện hành vi phạm tội “ Trộm cắp tài sản” có người yêu bị can là Vũ Thị B cũng có mặt tại hiện trường nhưng Cơ quan điều tra chưa lấy lời khai của Vũ Thị B mặc dù bị can khai rõ địa chỉ của Vũ Thị B Trong trường hợp này, nếu lấy lời khai của Vũ Thị B không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ án thì Toà án không cần phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để lấy lời khai của Vũ Thị B với tư cách người làm chứng mà chỉ cần triệu tập chị B ra Toà với tư cách người làm chứng để xét hỏi Việc xác định
bị can cố ý phạm tội hay vô ý phạm tội có nhiều trường hợp không phải do điều tra mà biết mà là do đánh giá thông qua hành vi khách quan của bị can hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhiều trường hợp có thể xác định tại phiên toà Thậm chí, có những chứng cứ rất quan trọng nhưng vẫn có thể
bổ sung tại phiên toà Thực tiễn xét xử cho thấy, một số Thẩm phán không phân biệt giữa chứng cứ và đánh giá chứng cứ nên đã quyết định trả hồ sơ để
Trang 34Xuân Chung bị truy tố về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì đã có hành vi nhận 42.000kg phân đạm DAP của Công ty dịch vụ sản xuất kinh doanh tổng hợp Huyện A Số phân đạm trên, Chung đầu tư cho các hộ nông dân để các hộ nông dân phải thanh toán cho Chung bằng lúa Hết hạn thanh toán, Chung chỉ giao được cho công ty dịch vụ được 30.000kg lúa còn nợ lại 10.000kg lúa Chung không thanh toán được là vì còn một số hộ nông dân nhận phân đạm của Chung về sản xuất nhưng chưa thanh toán cho Chung Các tài liệu này đã được Cơ quan điều tra xác minh đầy đủ họ tên từng hộ nông dân còn nợ Chung Nhưng do đánh giá không đúng, nên Viện kiểm sát nhân dân vẫn truy tố Lê Xuân Chung về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Tại phiên toà, Toà án chỉ cần xác định lại xem lý do mà Chung không thanh toán đúng hạn cho Công ty A có đúng như bị cáo khai và Cơ quan điều tra đã xác định không? Sau khi đã xác định lý do không thanh toán được nợ đúng hạn với Công ty A như lời khai của bị cáo với Cơ quan điều tra đã xác minh nên Toà án đã tuyên bố bị cáo Lê Xuân Chung không phạm tội ( vì không có hành vi chiếm đoạt) Trong trường hợp này, chứng cứ để xác định Chung có chiếm đoạt hay không là một chứng cứ rất quan trọng đã được Cơ quan điều tra thu thập, đó là các khoản nợ của các hộ nông dân đối với Chung, nhưng do đánh giá chứng cứ không đúng nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cho rằng Chung phạm tội và truy tố Chung ra toà và trường hợp này lại không thuộc trường hợp Toà án được đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 180 BLTTHS
Đối với “chứng cứ quan trọng” không thể bổ sung được tại phiên toà là chứng cứ mà việc thu thập chúng đòi hỏi phải có nghiệp vụ điều tra, phải được tiến hành với điều kiện, hoàn cảnh về không gian, thời gian, địa điểm nhất định Ví dụ, thiếu chứng cứ xác định tình hình tài sản của bị cáo trong trường hợp cần áp dụng hình phạt tiền hoặc thiếu chứng cứ xác định tuổi của
Trang 35sản, phải có các giấy tờ liên quan đến quyền sở hữu, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú hoặc lời khai của những người có liên quan Để xác định tuổi của người bị hại cần thu thập các tài liệu như giấy khai sinh, hộ khẩu, học bạ hoặc xác nhận của nhà trường ( nếu người bị hại là học sinh ) bệnh viện và lời khai của những người quen biết người bị hại, trong trường hợp cần thiết phải giám định gen Đối với các chứng cứ khác dù quan trọng nhưng xét thấy có thể áp dụng các biện pháp bổ sung tại phiên toà được thì không cần thiết phải trả hồ sơ Ví dụ, thiếu biên bản đối chất giữa bị cáo
và người bị hại hoặc với nhân chứng thì Toà án có thể triệu tập họ đến phiên toà để tiến hành đối chất
Điều 65 BLTTHS quy định:
1 “ Để thu thập chứng cứ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án ”
Như vậy, theo quy định trên thì không chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mà cả Toà án cũng có quyền thu thập chứng cứ Để thu thập chứng
cứ, Toà án có quyền triệu tập những người biết về vụ án đến phiên toà để hỏi
và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án ( kể cả nhưng người chưa được Cơ quan điều tra lấy lời khai), trưng cầu giám định, yêu cầu các cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bầy những tình tiết làm sáng tỏ vụ án Do đó, ngoại trừ những chứng cứ đòi hỏi phải có nghiệp vụ điều tra mới thu thập được thì Toà án cần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát yêu cầu điều tra bổ sung còn các chứng cứ khác, Toà án có thể tự bổ sung được tại phiên toà Ví dụ, nếu trong hồ sơ thiếu các tài liệu xác định thu nhập
Trang 36đang công tác hoặc đại diện gia đình người bị hại đến phiên toà để họ cung cấp các chứng cứ trên
Tuy nhiên, Điều 65 BLTTHS là qui định chung về thẩm quyền thu thập chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Toà án, nhưng thẩm quyền cụ thể và cách thức thu thập chứng cứ của từng cơ quan như thế nào thì lại phải căn cứ vào qui định của BLTTHS trong từng giai đoạn tố tụng giải quyết vụ án hình sự ( điều tra, truy tố, xét xử ) Toà án thường triệu tập những người biết về vụ án đến phiên toà để xét hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án khi họ đã có lời khai lưu giữ trong hồ sơ Đối với những người chưa được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lấy lời khai, nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cũng có thể triệu tập họ đến phiên toà để bổ sung chứng cứ nhưng phải cân nhắc hết sức thận trọng và chỉ coi lời khai đó là chứng cứ khi nó phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án Nếu lời khai đó là trái ngược với các tài liệu, chứng cứ khác thì tuỳ từng trường hợp
có thể không coi đó là chứng cứ hoặc phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung Như vậy, việc tự bổ sung chứng cứ quan trọng tại phiên toà là rất khó khăn nên ngay từ khi chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải nghiên cứu kỹ tính chất, nội dung của chứng cứ còn thiếu trên cơ sở
đó xác định có thể bổ sung được tại phiên toà hay không
Như vậy, chứng cứ và đánh giá chứng cứ là hai phạm trù khác nhau Theo Điều 66 Bộ luật Tố tụng hình sự thì: “ Việc đánh giá chứng cứ là việc của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân tiến hành sau khi đã nghiên cứu một cách tổng thể, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất
cả các tình tiết của vụ án” Mối quan hệ giữa chứng cứ với đánh giá chứng cứ
là mối quan hệ tồn tại giữa khách quan với nhận thức chủ quan của con người
Vì vậy, khi nghiên cứu hồ sơ Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải phân biệt cái gì là chứng cứ còn vấn đề nào thuộc lĩnh vực đánh giá
Trang 37Ngoài các chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can thì còn những chứng cứ quan trọng khác để xử lý vật chứng, để áp dụng hình phạt bổ sung,
áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như quyết định việc bồi thường thiệt hại nhưng không được điều tra đầy đủ Đây là vấn đề tồn tại tương đối phổ biến,
vì thông thường khi chứng minh hành vi phạm tội của bị can, Cơ quan điều tra thường trú trọng đến việc thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm chứ
ít quan tâm đến việc xử lý vật chứng, áp dụng hình phạt bổ sung, áp dụng các biện pháp tư pháp cũng như quyết định việc bồi thường thiệt hại.Ví dụ, Cơ quan điều tra thu giữ chiếc xe ôtô nhưng lại không thu giữ giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu chiếc xe đó để làm rõ ai là chủ sở hữu, vì việc thu giữ giấy chứng nhận quyền sở hữu và ghi lời khai của người sở hữu mới có căn cứ để giải quyết việc xử lý vật chứng của vụ án
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 179 BLTTHS thì chứng cứ còn thiếu cần điều tra bổ sung phải là “ chứng cứ quan trọng ” và Viện kiểm sát cũng như Toà án không thể tự bổ sung được Nếu chứng cứ còn thiếu không quan trọng thì không thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung Những chứng
cứ tuy có liên quan đến vụ án nhưng thiếu nó vẫn có thể giải quyết được vụ án thì được coi là không quan trọng Do đó Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà vẫn quyết định đưa vụ án ra xét xử
Như đã phân tích trên, chứng cứ dù quan trọng nhưng có thể bổ sung tại phiên toà thì không được trả hồ sơ để điều tra bổ sung Vậy, trong trường hợp nào có thể bổ sung được và trường hợp nào không Thực tế xảy ra không
ít trường hợp Thẩm phán bảo có, Kiểm sát viên nói không, kết cục là hồ sơ chuyển đi chuyển lại giữa Toà án và Viện kiểm sát làm cho quá trình giải quyết vụ án kéo dài không đúng các quy định của pháp luật
- Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng
phạm khác;
Trang 38+ Bị cáo phạm một tội khác
Vấn đề này hiện nay chưa có văn bản pháp luật của các Cơ quan có thẩm quyền giải thích hoặc hướng dẫn nên trong hoạt động thực tiễn có nhiều
ý kiến khác nhau về căn cứ này:
Ý kiến thứ nhất cho rằng, bị cáo phạm một tội khác là khác với tội mà
Viện kiểm sát đã truy tố Nghĩa là vẫn hành vi ấy, nhưng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử cho rằng bị cáo phạm tội khác và tội này nặng hơn tội Viện kiểm sát đã truy tố Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ” theo Điều 106 BLHS Nhưng Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử cho rằng bị cáo phạm tội “ Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ” theo Điều 105 thì Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để thay đổi tội danh
Ý kiến thứ hai cho rằng, bị cáo phạm một tội khác là ngoài tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố bị cáo còn phạm thêm tội ( có thể một tội và cũng có thể nhiều tội ) tức là còn bỏ lọt tội Ví dụ, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật hình sự, nhưng Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ lại cho rằng bị cáo còn phạm tội: Lừa đảo tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự, nên đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố thêm bị cáo về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu có căn cứ cho rằng hành vi của bị cáo còn phạm một tội khác ngoài tội mà Viện kiểm sát truy tố Nghĩa là cùng với hành vi đó nhưng cần phải truy tố thêm tội đối với bị cáo Ví dụ: Nguyễn Văn A dùng dao đâm Anh Lê B vào lưng làm anh B gục xuống đường để cướp chiếc xe máy trị giá 12 triệu đồng Kết quả giám định thương tật đối với anh B có tỷ lệ thương tật là 9% Viện kiểm sát truy tố Nguyễn Văn
A về tội “ Cướp tài sản” theo Điều 133 BLHS, nhưng Thẩm phán hoặc Hội
Trang 39gây thương tích ” theo Điểm a khoản 1 Điều 104 BLHS mới đúng với hành vi phạm tội của bị cáo
Ý kiến thứ ba lại cho rằng, bị cáo phạm tội khác bao gồm cả trường
hợp bị cáo phạm tội khác với tội Viện kiểm sát truy tố và trường hợp bị cáo phạm thêm tội Tác giả đồng ý với quan điểm này vì nó phù hợp với thực tiễn xét xử và phù hợp với quy định của Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử
+ Có đồng phạm khác
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà hoặc Hội đồng xét xử phát hiện vụ án còn có đồng phạm khác ( người phạm tội khác là đồng phạm với bị cáo) thì ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra, truy tố lại Việc xác định có thêm người phạm tội, nhưng người này phải là đồng phạm với người đã bị truy tố thì mới thuộc trường hợp trả hồ sơ, nếu phát hiện có người phạm tội, nhưng người này lại không phải là đồng phạm theo quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự thì Toà án không được trả hồ sơ để truy tố lại, mà chỉ có quyền khởi tố tại phiên toà theo quy định của Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự
Theo quy định tại khoản 1 Điều 20 BLHS thì đồng phạm là trường hợp
có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm và theo khoản 2 Điều này thì người đồng phạm là người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm; người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm; người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm; người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm Phạm tội có tổ chức cũng là một hình thức đồng phạm nhưng có sự câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm [47, tr.120-137 ( đồng phạm)]
Trang 40Nhiều trường hợp xác định đồng phạm trong một vụ án không phải dễ dàng, nó là kết quả của sự đánh giá chứng cứ nên nó phụ thuộc vào nhận thức của con người Như chúng ta đã biết, nhận thức là cả một quá trình và tuỳ thuộc vào từng chủ thể nhận thức: Thẩm phán đánh giá khác Kiểm sát viên và Điều tra viên Trong hoạt động thực tiễn có không ít trường hợp, Toà án trả
hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố thêm người phạm tội, nhưng Viện kiểm sát không chấp nhận, vì cho rằng Thẩm phán xác định vụ án có đồng phạm khác
Vụ án không có đồng phạm Viện kiểm sát chỉ truy tố A về tội trộm cắp tài sản còn B không bị khởi tố, điều tra ( với lý do tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại) Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán phát hiện việc không truy tố B là bỏ lọt tội phạm nên đã quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung nhằm truy tố đối với B với lý do còn bỏ lọt người phạm tội Trong trường hợp này, hầu hết Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu của Toà án Tuy nhiên, về mặt lý luận, có vấn đề cần phải xem xét, đó là B không phải đồng phạm với A, mà chỉ là người có hành vi phạm tội có liên quan chặt chẽ với A ( tiêu thụ tài sản do A trộm cắp mà có ), không truy tố B và A trong