Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình Điều 151 Bộ luật Chương 3: HOÀN THIỆN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THÙY DƯƠNG
TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THÙY DƯƠNG
TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2011
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG
VÀ BẢO VỆ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
5
1.1 Khái niệm quyền bình đẳng của phụ nữ 5 1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ 7 1.3 Khái quát sự phát triển các quy định của pháp luật về quyền
bình đẳng của phụ nữ
12
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ
NỮ VÀ THỰC TRẠNG XỬ LÝ LOẠI TỘI PHẠM NÀY
2.1.3.1 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội
hành hạ người khác (Điều 110 Bộ luật hình sự)
31
2.1.3.2 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội 36
Trang 42.1.3.3 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội
cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
(Điều 146 Bộ luật hình sự)
40
2.1.3.4 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội
ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con,
cháu, người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 Bộ luật
Chương 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
3.2.1 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng
trong đấu tranh phòng, chống vi phạm và tội phạm có liên
quan đến vấn đề bình đẳng giới
70
3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 75 3.2.3 Nâng cao trình độ, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ
làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm
pháp luật liên quan đến vấn đề bình đẳng giới
79
Trang 5Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới là người sớm quan tâm đến vai trò, vị thế của người phụ nữ, là một trong những người đi đầu, giương cao tư tưởng chống áp bức và nô dịch phụ nữ Trong suốt quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập, tự do, xây dựng chế đội mới, có một
tư tưởng xuyên suốt, có một điều luôn thường trực trong tâm khảm của Người
là làm thế nào, làm gì để giải phóng phụ nữ nước ta, để thực hiện nam nữ bình quyền, để quyền lợi của người phụ nữ thật sự được tôn trọng, thật sự được bảo vệ Đó là cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ
Xã hội càng phát triển, bình đẳng nam nữ ngày càng được bảo đảm Đặc biệt trong đời sống pháp luật hiện nay, việc phát huy và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ đang ngày càng được các cơ quan bảo vệ pháp luật quan tâm và đề cao Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tại Điều 130 tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ; đồng thời cụ thể hóa các chế tài nhằm đảm bảo quyền con người cơ bản cho phụ nữ Tuy nhiên, quyền bình đẳng của phụ nữ là vấn đề mà giữa pháp luật và thực tiễn còn khoảng cách rất lớn Làm thế nào để đạt được sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xã hội ngày nay vẫn gặp nhiều khó khăn, thử thách Ở một số nơi vẫn còn tình trạng vi phạm pháp luật, đối xử không bình đẳng nam nữ, tình trạng ngược
Trang 6đãi, hành hạ phụ nữ, tình trạng bạo lực gia đình… vẫn diễn ra với nhiều hình thức và thủ đoạn khác nhau Pháp luật Việt Nam, trong đó có pháp luật hình
sự, đã quy định nhiều chế tài xử lý những hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, song trên thực tế, số vụ án được xử lý bằng các biện pháp hình sự trong những năm gần đây hầu như ít được thực hiện Việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, các dấu hiệu pháp lý của tội phạm, thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, tìm ra những nguyên nhân để đề ra những giải pháp khắc phục trong việc xử lý các hành vi phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là việc làm cần
thiết Đó là lý do tác giả lựa chọn nội dung "Tội xâm phạm quyền bình
đẳng của phụ nữ theo luật hình sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực xã hội học, tội phạm học Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu hoàn thiện về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với góc độ khoa học pháp lý cụ thể để từ đó đề xuất những vấn đề liên quan đến cải cách pháp lý nhằm đảm bảo các quyền bình đẳng của nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa,
xã hội Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ hầu hết được đề cập và phân tích trong một số công trình nghiên cứu trong đó có đề cập riêng đến
"Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ" tại Điều 130 Bộ luật hình sự
năm 1999 Như: Luật Hình sự Việt Nam phần các tội phạm, của Thạc sĩ Phạm Văn Beo - Đại học Cần Thơ - 2008; Về các tội xâm phạm quyền tự do, dân
chủ của công dân trong Luật Hình sự Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc
và Thụy Điển, của Tiến sĩ Trịnh Tiến Việt, Trần Thị Quỳnh - Khoa Luật Đại
học Quốc gia Hà Nội (đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Luật học 26, 2010… Ngoài ra, "Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ"
Trang 7còn được phân tích trong các giáo trình và sách tham khảo như: Giáo trình
Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2003 của tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên; Giáo trình Luật hình sự
Việt Nam, (tập II) của tập thể tác giả do PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên,
Nxb Công an nhân dân, 2006
3 Phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong luật hình sự Việt Nam Đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ khái niệm, sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ và khái quát sự phát triển các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của phụ nữ
- Phân tích làm rõ những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ và phân biệt tội phạm này với một
số tội phạm khác có liên quan
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, trên cơ sở phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, nghiên cứu lịch sử và phương pháp tổng hợp, đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ trong các công trình nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Trang 8Chương 1: Một số vấn đề chung về quyền bình đẳng và bảo vệ quyền
bình đẳng của phụ nữ
Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm
quyền bình đẳng của phụ nữ và thực trạng xử lý loại tội phạm này
Chương 3: Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự và một số giải pháp
nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Trang 9Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG
VÀ BẢO VỆ QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
1.1 Khái niệm quyền bình đẳng của phụ nữ
Nói đến quyền bình đẳng của phụ nữ nghĩa là nói đến sự bình đẳng giữa nam và nữ, tức là sự bình đẳng giữa hai giới tính Để làm rõ khái niệm này cần phải phân tích nội hàm của hai khái niệm cấu thành nên nó: khái niệm
"bình đẳng" và khái niệm "giới"
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Bình đẳng là sự được đối xử như
nhau về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… không phân biệt thành phần và địa
vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật
Như vậy, khái niệm bình đẳng nghĩa là nói đến sự công bằng, ngang bằng giữa các chủ thể, phải gánh chịu (nghĩa vụ) hoặc được thụ hưởng (quyền lợi) như nhau
Theo Chương trình bình đẳng giới khu vực Ðông Nam Á, một chương trình khu vực thuộc Tổ chức phát triển Quốc tế Canada (CIDA) hỗ trợ việc
xuất bản cuốn tài liệu: "Thúc đẩy sự thay đổi: Cơ sở cho lồng ghép Giới:
Chương trình bình đẳng Giới khu vực Đông Nam Á" Nguyên bản tiếng Anh
của tài liệu này là kỷ yếu của "Hội thảo chuyên ngành về lồng ghép giới dành cho các bộ máy quốc gia về phụ nữ", được tổ chức tại Seun, Indonexia
từ ngày 20-25/02/2000 Tác giả SEAGEP đã đưa ra khái niệm "giới" được
hiểu như sau: Giới là sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và phụ nữ
như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử và các giá trị Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập và khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới có thể thay đổi được Ví dụ: nữ thường để tóc dài, nam
thường để tóc ngắn
Trang 10Khái niệm "giới" và "giới tính" cũng được giải nghĩa tại khoản 1, 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới của Việt Nam năm 2006:
1 Giới, chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất
cả các mối quan hệ xã hội
2 Giới tính, chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ [37]
Như vậy, khái niệm giới chỉ đến vai trò xã hội của nam và nữ Cả nam giới và nữ giới đóng nhiều vai trò trong xã hội và các vai trò này là khác nhau theo giới Các vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi
ở phụ nữ và nam giới liên quan đến những đặc điểm và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ trong một xã hội hay một nền
văn hóa cụ thể nào đó
Trong xã hội có một sự phân công lao động giữa nam và nữ Sự phân công lao động theo giới đề cập đến công việc khác nhau của nam và nữ trong gia đình, trong sản xuất và trong cộng đồng Sự khác nhau này có liên quan đến vị trí quyền lực của mỗi giới và che giấu sự tồn tại đáng kể của sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ, nó ảnh hưởng và khẳng định vị trí phụ thuộc của phụ nữ
Như vậy, giới là một khái niệm bao hàm một nội dung khá đa dạng thể hiện sự khác biệt về mặt xã hội giữa nam giới và nữ giới như vai trò, thái độ, quan niệm, sự phân công lao động, sức khỏe Vai trò của cả nam và nữ là khác nhau nên cả hai có những vị trí xã hội không giống nhau Tuy nhiên, sự khác biệt tự nhiên đó không phải là cơ sở để phân biệt về địa vị pháp lý giữa hai giới Vậy nên quyền bình đẳng giới là quyền được tất cả các văn bản pháp
lý quốc tế về quyền con người thừa nhận
Kết hợp nội hàm khái niệm "bình đẳng" và khái niệm "giới" có thể hiểu một cách đơn giản: bình đẳng giới là sự nhìn nhận, đối xử công bằng, ngang bằng về mọi phương diện giữa hai giới nam và nữ Giống như Luật
Trang 11bình đẳng giới năm 2006 định nghĩa: "Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị
trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau
về thành quả của sự phát triển đó" [37, Khoản 3 Điều 5]
Quyền bình đẳng giới là quyền của nam và nữ có vị trí, vai trò xã hội ngang nhau, được hưởng lợi ích và gánh chịu nghĩa vụ xã hội như nhau Do
đó, quyền bình đẳng của phụ nữ là quyền phụ nữ có vị trí ngang bằng với
nam giới, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả
của sự phát triển đó
"Bình đẳng giới" là một khái niệm được đề cập đến trong hầu hết các
lĩnh vực đời sống xã hội Mục tiêu bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử
về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình Xã hội chúng ta đang ngày càng hướng đến sự công bằng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Như vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ thực chất là một mặt trong công cuộc đấu tranh chung của quyền con người Vì vậy, quyền bình đẳng của phụ nữ được xác định là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ đối với cuộc sống và sự phát triển của phụ nữ mà còn đối với sự phát triển của mỗi quốc gia và toàn nhân
loại "Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" [32, Điều 63]
1.2 Sự cần thiết phải bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ
Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một
bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã
Trang 12hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là:
Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì và phát triển
xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hóa nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng
có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ Song song với những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, phụ
nữ còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì
sự tiến bộ của nhân loại
Trong một xã hội văn minh, người phụ nữ đóng vai trò đặc biệt quan trọng Phụ nữ không chỉ giỏi trong công việc nhà mà còn tích cực tham gia và gặt hái nhiều thành công rực rỡ trong các lĩnh vực xã hội Trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ 11 (WLN) của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) diễn ra vào tháng 9-2006 tại Hà Nội, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định, Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát
triển và hội nhập quốc tế Trong bài viết "Quan điểm, mục tiêu của Đảng về
xây dựng đội ngũ nữ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của TS Nguyễn Bắc Sơn, có dẫn lời của nguyên Chủ tịch
nước Nguyễn Minh Triết: Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và
nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang
Thật khó có thể kể hết những gì mà phụ nữ đóng góp cho gia đình và
xã hội Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của phụ nữ
Trang 13trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của gia đình Không chỉ chăm sóc, giúp đỡ chồng tại gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyên thiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệp của chồng Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấm gương cho con cái noi theo Người mẹ luôn sẵn sàng hy sinh những lợi ích của bản thân với ước nguyện cho con cái trưởng thành và thành công trong cuộc sống Trong cuộc sống thường nhật đầy khó khăn, chúng ta tìm thấy ở những người phụ nữ, những người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng ta vượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm 50,5% dân số và 50,6% lực lượng lao động xã hội Trong xã hội phong kiến trước đây, vai trò của nam giới được coi trọng và đề cao bao nhiêu thì phụ nữ lại chịu thiệt thòi từ nhiều phía bấy nhiêu Họ không được bình đẳng, bình quyền trong gia đình và ngoài xã hội, vai trò và tiếng nói của họ hầu như không được khẳng định, phụ nữ hoàn toàn
bị lệ thuộc vào người đàn ông, với những định kiến nặng nề, khắc nghiệt Những ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến phụ nữ, nhất là với trẻ em gái do quan niệm và cách ứng xử như nói trên, đến nay đã được thay đổi một cách căn bản Tuy nhiên, thực trạng bị đối xử bất bình đẳng của phụ nữ vẫn tồn tại
ở nhiều trong xã hội, đặc biệt là những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa do nhận thức yếu kém, phụ nữ không phát huy được khả năng, vai trò đối với xã hội, khiến cho người phụ nữ bị tụt hậu so với nam giới và chính với môi trường xung quanh mình Do đó bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ để thúc đẩy xã hội tiến bộ
Chính vì vậy, giải phóng phụ nữ ra khỏi những ràng buộc, quan niệm lạc hậu, đồng thời tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ bình đẳng, tiến bộ và phát triển, thực hiện chống phân biệt đối xử với phụ nữ là cái gốc, là cơ sở để tạo
cơ hội cho phụ nữ tiến bộ Bình đẳng giới trở thành mục tiêu của sự phát triển, đồng thời nó cũng trở thành vấn đề trung tâm của phát triển, là một yếu
Trang 14tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia, xóa đói giảm nghèo và quản lý nhà nước có hiệu quả
Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của phụ nữ đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới Những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của đất nước, các quyền cơ bản của phụ nữ cũng ngày càng được hoàn thiện cả về mặt pháp lý, nội dung và điều kiện thực hiện Xem xét một cách tổng quát nội dung hệ thống pháp luật nước ta, có thể nói rằng, qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, căn cứ vào những điều kiện cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, trình độ dân trí của nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn luôn tôn trọng những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế
về quyền con người nói chung và các quyền cơ bản của phụ nữ nói riêng
Pháp luật Việt Nam trong những năm qua đã từng bước được hoàn thiện theo hướng ngày càng mở rộng và tăng cường bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trên mọi lĩnh vực, thể hiện ngày càng đầy đủ và bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con người đặc biệt là bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ Kể từ năm 1946 đến nay, Hiến pháp nước ta đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1959, 1980, 1992 và 2001, với những điều khoản quy định rõ ràng về các quyền con người được Hiến pháp bảo vệ: các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; các quyền riêng của từng giới xã hội, đặc biệt là của trẻ em, phụ nữ, các dân tộc thiểu số và quyền bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo
Điều 69 Hiến pháp nước năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), khi nói về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã quy định như sau:
"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin,
Trang 15có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật" [35, Điều 69]
Điều 71 Hiến pháp quy định:
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách Nhà nước [35, Điều 70]
Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân [35, Điều 71]
Điều 130 Bộ luật hình sự quy định như sau: "Người nào dùng vũ lực
hoặc có hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm" [33]
Như vậy, ở Việt Nam, các quyền cơ bản của con người đặc biệt là quyền bình đẳng của phụ nữ đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật bảo vệ Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Với nhiệm vụ và phạm vi quy định như vậy thì việc xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới, xác định trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được Bộ luật hình sự điều chỉnh nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới là việc làm cần thiết
Trang 16Các văn bản pháp lý quan trọng của quốc tế cũng đã khẳng định quyền bình đẳng của phụ nữ (như Hiến chương của Liên hiệp quốc, Tuyên bố toàn cầu về nhân quyền, Công ước Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ
số lý thuyết nữ quyền mới, như: Nữ quyền hậu hiện đại, Nữ quyền da đen, Nữ quyền phụ nữ thế giới thứ ba
Chính các lý thuyết nữ quyền này đã tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống xã hội, đã tạo nên những quan điểm lý luận và làn sóng nữ quyền đấu tranh giải phóng phụ nữ và bình đẳng giới rất sôi động ở
các xã hội này hơn một nửa thế kỷ qua Đó là làn sóng Phụ nữ trong phát
triển (WID) xuất hiện vào đầu những năm 70, Phụ nữ và phát triển (WAD)
xuất hiện vào cuối những năm 70, Giới và sự phát triển (GAD) xuất hiện vào
những năm 80 của thế kỷ trước và ngày càng được điều chỉnh, bổ sung và tiếp tục phát triển Trong ba quan điểm tạo nên những cuộc tranh luận nữ quyền
và phong trào xã hội ở các nước phát triển phương Tây thì WAD và GAD
Trang 17được hình thành trên cơ sở lý luận mác-xit và xã hội chủ nghĩa Đặc biệt, quan điểm GAD, sau khi xuất hiện đã tạo nên phong trào xã hội rộng lớn và
có đóng góp tích cực đến sự phát triển không chỉ của phụ nữ mà của cả xã hội, không chỉ ảnh hưởng mạnh ở xã hội phương Tây phát triển mà còn ở nhiều xã hội đang phát triển, nhất là châu Á, châu Phi và Nam Mỹ
Cùng với quá trình giao lưu và hội nhập, vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, bằng nhiều con đường khác nhau, quan điểm giới được nhanh chóng du nhập và truyền bá vào Việt Nam Sự xuất hiện cách tiếp cận giới chính là bước đột phá quyết định sự phát triển mạnh mẽ và ấn tượng của khoa học nghiên cứu về phụ nữ và cùng với nó là sự biến đổi nhanh chóng quan niệm, thái độ, hành vi của xã hội và thực tiễn tạo lập bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới
Vào đầu những năm 90 thế kỷ XX, qua giao lưu và hội nhập, các lý thuyết nữ quyền từng bước được truyền bá vào Việt Nam và sự truyền bá này ngày càng mạnh mẽ và đa dạng Xem xét quá trình và xu hướng nghiên cứu Giới ở Việt Nam thời gian qua, có thể thấy có ba thời kỳ tương đối rõ rệt Thời kỳ thứ nhất là 5 năm đầu của thập niên cuối thế kỷ XX, thời kỳ thứ hai
là 5 năm cuối thế kỷ và thời kỳ thứ ba là những năm đầu của thế kỷ XXI Hai thời kỳ sau, việc nghiên cứu và truyền bá về giới nói riêng và phong trào giải phóng phụ nữ ở nước ta nói chung chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của hai sự kiện quan trọng Đó là Cương lĩnh hành động Bắc Kinh và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Sự du nhập và truyền bá quan điểm giới đã trải qua ba giai đoạn với những xu hướng và đặc trưng khác nhau Để nâng cao tác động của quan điểm giới thiết thực góp phần tạo lập sự bình đẳng giới, giải phóng phụ nữ trong đời sống xã hội, cần thực hiện một loạt giải pháp vừa tổng thể vừa cụ thể
Sau gần hai chục năm du nhập vào Việt Nam, quan điểm giới đã nhanh chóng được tiếp nhận và triển khai sâu rộng trong nhiều lĩnh vực của
Trang 18đời sống xã hội Thực tế, vấn đề giới đã trở thành mối quan tâm chung của xã hội và trở thành phong trào thực tiễn sâu rộng của phụ nữ Việt Nam Mặc dù
đã có sự chuyển biến tích cực trong quan hệ giới, địa vị, đời sống của người phụ nữ Việt Nam đã từng bước được nâng cao, cải thiện cùng với những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới nhưng sự nghiệp giải phóng phụ nữ
và tạo lập bình đẳng giới ở Việt Nam vẫn là những vấn đề bức xúc, cần nhiều
nỗ lực hơn nữa của cả hai giới và của cả xã hội
Ở Việt Nam, một số công trình nghiên cứu về văn hóa cũng cho thấy, ảnh hưởng của các định kiến bất bình đẳng với phụ nữ của Nho giáo ở Việt Nam không nặng nề như ở Trung Quốc, Triều Tiên hay Nhật Bản Dẫn chứng sinh động cho nhận định này có thể tìm thấy trong Bộ luật Hồng Đức (đời Hậu Lê) Mặc dù được ban hành từ thế kỷ XV, song Bộ luật nổi tiếng này
đã thừa nhận một số quyền dân sự của phụ nữ như quyền được ly hôn, tái hôn, quyền thừa kế tài sản, quyền được chia tài sản chung trong hôn nhân, quyền được bảo vệ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm Cùng với nhiều quy định khác, những quy định kể trên thể hiện sự tiến bộ nổi bật trên phương diện bảo đảm nhân quyền của Bộ luật Hồng Đức so với pháp luật của các nước trên thế giới - điều mà ngay các học giả Phương Tây cũng phải thừa nhận Bộ luật Hồng Đức có ý nghĩa rất lớn trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam Pháp luật ấy về cơ bản được duy trì để thi hành ở những thế kỷ sau, cho đến khi nhà Nguyễn ban hành bộ luật Gia Long thì uy tín, tinh thần những điều khoản luật Hồng Đức vẫn còn sống trong dân gian Bộ luật ấy đã có những quy định tương đối tiến bộ, công nhận cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến một
số quyền lợi và phần nào bảo vệ họ đối với thái độ "trọng nam khinh nữ" Tính đặc thù của "Quốc triều hình luật" thể hiện rõ trong hai chương "Hộ hôn" và "Điền sản" Qua hai chương này, các nhà làm luật đã coi trọng cá nhân và vai trò của người phụ nữ - điều mà các bộ luật trước và sau không mấy quan tâm Có 53/722 điều luật (7%) bàn về hôn nhân - gia đình; 30/722 điều luật (4%) bàn về việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản Những
Trang 19điều luật này ít nhiều đã đề cập đến một số quyền lợi của người phụ nữ trong
xã hội và trong gia đình
Điều 322 - "Quốc triều hình luật" quy định: "Con gái thấy chồng chưa
cưới có ác tật có thể kêu quan mà trả đồ sính lễ", nếu "con rể lăng mạ cha mẹ
lại, pháp luật nhà Lê không phân biệt con trai - con gái Nếu cha mẹ mất cả thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trưởng giữ,
còn lại chia đều cho các con (Điều 388); "người giữ hương hỏa có con trai
trưởng thì dùng con trai trưởng, không có con trai trưởng thì dùng con gái trưởng" (Điều 391) "Ruộng hương hỏa giao cho con trai, cháu trai, nếu không có thì giao cho cháu gái ngành trưởng" [40]
Về việc áp dụng hình phạt "ngũ hình" có sự phân biệt giữa đàn ông và đàn bà: không áp dụng hình phạt "trượng" cho đàn bà và áp dụng riêng từng loại tội "đồ" cho đàn ông và đàn bà (Điều 1 - Quốc triều hình luật) Có thể
khẳng định, Quốc triều hình luật là di sản văn hóa của dân tộc, hàm chứa
nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử, xã hội, phong tục của một giai đoạn lịch sử trong chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam
Lịch sử đấu tranh giành quyền bình đẳng cho phụ nữ đã trải qua chặng đường dài kể từ khi phụ nữ tham gia những cuộc tuần hành trong phong trào vận động quyền bầu cử của phụ nữ vào thế kỷ 19 Một trong những bước tiến quan trọng của thế giới trong thế kỷ 20 là sự ra đời Công ước Liên hợp quốc
về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) ngày 18/12/1979 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 3/12/1981 CEDAW đảm bảo đầy
đủ sự công bằng cho phụ nữ, thể hiện qua những quy định cụ thể trong Công ước, bao gồm hệ thống luật pháp, quyền bầu cử, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, việc làm, các quyền cơ bản của con người CEDAW cũng yêu cầu các quốc gia cần tiến hành các biện pháp chống lại nạn buôn bán, bóc lột phụ nữ và trẻ
em gái đang diễn ra khá phổ biến Nhận thức rõ vai trò và vị thế của người
Trang 20phụ nữ, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới đã phê chuẩn và tham gia Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) ngày 27/11/1981
Công ước CEDAW là văn bản pháp lý quốc tế về quyền con người nêu ra vấn đề quyền sinh sản của phụ nữ, vấn đề văn hóa và truyền thống có ảnh hưởng đến việc hình thành vai trò về giới và vấn đề phụ nữ có quyền nhập, giữ hoặc thay đổi quốc tịch của họ và con cái nếu họ muốn Việc thực hiện CEDAW trong 30 năm qua đã tạo ra những chuyển biến tích cực, đạt được một số thành tựu đáng kể trong nhận thức và thực tiễn, góp phần quan trọng vào việc cải thiện vai trò của phụ nữ tại nhiều nước trên thế giới Bên cạnh Công ước CEDAW, Cương lĩnh hành động Bắc Kinh ra đời năm 1995 đóng vai trò như một khuôn khổ định hướng cho việc đảm bảo bình đẳng giới
và tăng quyền năng cho phụ nữ ở cả trên các lĩnh vực công và tư, với các cơ quan nhà nước và ngoài nhà nước Có thể xem sự ra đời của Công ước CEDAW là kết quả hơn 30 năm đấu tranh của Ủy ban về địa vị phụ nữ Liên hợp quốc (CSW) Ủy ban được thành lập năm 1946 nhằm giám sát địa vị và nâng cao quyền lợi của phụ nữ Hoạt động của Ủy ban đã góp phần thúc đẩy bình đẳng giới ở những nơi mà phụ nữ chưa được bình quyền như nam giới Kết quả của những nỗ lực vì sự tiến bộ của phụ nữ là sự ra đời một số tuyên
bố và điều ước quốc tế, trong đó CEDAW là văn kiện quan trọng và toàn diện nhất về quyền bình đẳng của phụ nữ
Trong phần mở đầu, Công ước thừa nhận một cách rõ ràng rằng "sự
phân biệt đối xử với phụ nữ vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi" và nhấn mạnh sự
phân biệt đối xử "vi phạm các nguyên tắc về quyền bình đẳng, xúc phạm tới
nhân phẩm con người" Sự phân biệt đối xử đã được định nghĩa ở Điều I là
"bất kỳ sự phân biệt, loại trừ, hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính trong
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác"
Công ước còn khẳng định rõ: tất cả các hình thức phân biệt đối xử đều bị lên
án và các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp, bao gồm
Trang 21cả biện pháp pháp luật, nhằm bảo đảm cho phụ nữ được thực hiện và thụ hưởng đầy đủ quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới (Điều 2 và Điều 3)
Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ năm 1776 ghi rõ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
quyền mưu cầu hạnh phúc" Tuyên ngôn của cách mạng tư sản Pháp (1789)
tuyên bố: "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn
được tự do và bình đẳng về quyền lợi" Những lời tuyên bố trong các tuyên
ngôn nói trên đã khẳng định sự mong muốn của con người, của công dân-một khát vọng tột bậc đó là sự bình đẳng
Thông qua nhiều diễn đàn quốc tế khác nhau mà đặc biệt là Hội nghị thế giới lần thứ hai về quyền con người ở Viên (Áo) trong năm 1993, bạo lực gia đình ngày càng được nhìn nhận như một trở ngại đối với sự bình đẳng và
là sự vi phạm thô bạo không thể chấp nhận được đối với nhân phẩm và các quyền con người Liên hợp quốc trong năm 1999 đã thông qua ngày 25 tháng 11 hàng năm là Ngày Quốc tế về xóa bỏ bạo lực chống lại phụ nữ
Sống trong một đất nước đã phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược do các thế lực thù địch gây ra và do đó, cũng là một quốc gia dân tộc bị
vi phạm lớn nhất về quyền con người, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam hiểu rằng, quyền con người nói chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của cả nhân loại, được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng quốc gia dân tộc Vì vậy, trong một thế giới toàn cầu hóa kinh tế
và ngày càng phát triển đa dạng, khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người, cần có sự kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội
và những giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán của mỗi
Trang 22quốc gia dân tộc Đồng thời, cần có sự nhìn nhận toàn diện đối với tất cả các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của phụ nữ trong một tổng thể hài hòa, không nên xem nhẹ bất cứ quyền nào
Việc bảo đảm và thúc đẩy thực hiện quyền con người trước hết là bảo
vệ quyền bình đẳng của phụ nữ là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia dân tộc Các quốc gia có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên hợp quốc, có tính đến hoàn cảnh của quốc gia mình để bảo đảm cho người dân được hưởng thụ quyền con người một cách tốt nhất Thế nhưng, do khác biệt về hoàn cảnh lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người của mỗi quốc gia có thể khác nhau Sự hợp tác và đối thoại giữa các quốc gia để thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu cần thiết và khách quan
Xã hội Việt Nam ngày nay, các quyền cơ bản của phụ nữ đã và đang được thực hiện trên thực tế và được Hiến pháp, pháp luật Nhà nước bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang làm tất cả những gì có thể làm được nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực vào việc giải quyết các vấn đề dân chủ, nhân quyền trên thế giới Những năm qua, cùng với sự phát triển không ngừng về mọi mặt của đất nước, các quyền cơ bản của phụ nữ cũng ngày càng được hoàn thiện cả về mặt pháp lý, nội dung và điều kiện thực hiện Xem xét một cách tổng quát nội dung hệ thống Hiến pháp, pháp luật nước ta, có thể nói rằng, qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, căn cứ vào những điều kiện
cụ thể về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí của nhân dân, Nhà nước Việt Nam luôn luôn tôn trọng những nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và các công ước quốc tế về quyền con người nói chung và các quyền cơ bản của phụ nữ nói riêng
Trang 23Hiến pháp năm 1946 khẳng định nguyên tắc bình đẳng nam nữ trên tất
cả các lĩnh vực khi quy định: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện" (Điều 9); "Mọi công dân đều bình đẳng về quyền trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa" (Điều 6) và " Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" (Điều 7) Những quy định kể trên đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực Những quy định đó cũng cho thấy tính chất tiến bộ của pháp luật Việt Nam trên lĩnh vực này, nếu
so sánh với pháp luật quốc tế Bình đẳng nam nữ (trên tất cả các phương diện) được khẳng định ngay từ Hiến pháp năm 1946, khi nước Việt Nam mới được thành lập Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và xây dựng đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ghi nhận và đánh giá cao
Các Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 của nước ta đã kế thừa những nguyên tắc tiến bộ của Hiến pháp năm 1946 và liên tục bổ sung những nội dung mới nhằm bảo đảm và thúc đẩy hơn nữa vị thế, việc hưởng thụ các quyền con người của phụ nữ Không những vậy, rất nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật lao động, Luật hôn nhân - gia đình cũng được Nhà nước ban hành và sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ, nhằm cụ thể hóa các nguyên tắc về bình đẳng nam nữ trong Hiến pháp Trước hết, Hiến pháp năm 1980 khẳng định lại các quyền xã hội cơ bản trong Hiến pháp năm 1959, nhưng bổ sung, mở rộng nội dung phần lớn các quyền đó cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới Đối với quyền bình đẳng nam, nữ
(Điều 63), Hiến pháp bổ sung các điểm mới: một là, Nhà nước và xã hội có
nghĩa vụ chăm lo nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật và
nghề nghiệp của phụ nữ để phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội; hai là,
Nhà nước cần hoạch định chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ
Là sản phẩm của thời kỳ đổi mới, Hiến pháp năm 1992 đạt tới sự phát triển cao trong việc hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân Hiến
Trang 24pháp năm 1992, một mặt, tiếp tục ghi nhận những quyền xã hội mà Hiến pháp năm 1980 quy định; mặt khác, sửa đổi, bổ sung nội dung các quyền đó cho phù hợp với khả năng và điều kiện của đất nước Từ đó cũng làm xuất hiện một số quyền xã hội mới Điều 63 quy định quyền bình đẳng nam, nữ và bổ
sung: "Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân
phẩm phụ nữ" Việc bổ sung này là cần thiết nhằm phòng ngừa và chống lại
những hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, đánh đập, hành hạ, mua bán phụ
nữ, sử dụng phụ nữ như là một công cụ để làm giầu phi pháp
Nhận thức được vai trò to lớn của phụ nữ đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết thể hiện sự quan tâm, tạo điều kiện để phụ nữ đạt được sự tiến bộ
và bình đẳng trong gia đình và xã hội Quy định trên là căn cứ để tiến hành truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xâm phạm đến quyền bình đẳng của phụ nữ, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc răn đe, ngăn chặn tình trạng xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Căn cứ vào các chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới, các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới và yêu cầu của việc phải lồng ghép giới trong việc xây dựng pháp luật, Bộ luật hình sự đã hình sự hóa những hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cũng như các hành vi khác trên cơ sở giới bảo đảm các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, trong đó đặc biệt chú trọng đến các nguyên tắc như: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới; chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới; biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới Cụ thể, về nguyên tắc xử lý
tội phạm, Điều 3 của Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định "1- Mọi hành vi
phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật 2- Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội" [33]
Quy định này phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 1992: "Mọi công dân
Trang 25đều bình đẳng trước pháp luật" [32, Điều 52] và thể hiện sự không phân biệt
đối xử, không có đặc quyền, đặc lợi trong xử lý tội phạm, bình đẳng về trách nhiệm pháp lý trước hành vi phạm tội, bình đẳng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự
Bộ luật hình sự năm 1999 với vai trò là công cụ sắc bén trong đấu tranh và bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ cùng với Luật bình đẳng giới năm 2006 đã xác định rõ chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới trong việc quy định các dấu hiệu cấu thành tội phạm (trong các tình tiết định tội, tình tiết định khung); trong các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trong các quy định về hình phạt Bộ luật hình sự năm 1999 chú trọng tới việc thực hiện chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ; chú ý tới các đặc điểm về giới tính dẫn đến hành vi phạm tội đồng thời bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ Các hành vi phạm tội gây ra sự bất bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình cần phải được xử lý thích đáng
Bên cạnh Điều 130 tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, Bộ luật hình sự năm 1999 còn có các điều luật khác đề cập đến vấn đề giới như: Tội mua bán phụ nữ (Điều 119); Tội phá thai trái phép (Điều 243) Quy định của Bộ luật hình sự đã chú trọng tới việc thực hiện chính sách trong việc bảo vệ
và hỗ trợ người mẹ; hoặc đã thể hiện tính nhân đạo, cân nhắc tới các đặc điểm
về giới tính dẫn đến hành vi phạm tội như trong điểm h, khoản 1 Điều 48; điểm b khoản 1 Điều 93; điểm d, khoản 1 Điều 104; điểm a, điểm g khoản 2 Điều 110; điểm g khoản 2 Điều 111; điểm b, khoản 2 112, điểm đ khoản 2 Điều 113… Quy định của Bộ luật hình sự đã chú ý tới đặc điểm sinh học của phụ nữ khi mang thai; thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như trong điểm h, khoản 1 Điều 48, Điều 35, Điều 94
Ngoài ra, trong Bộ luật hình sự có những điều luật tuy quy định mang tính chất trung tính nhưng trong điều kiện thực tiễn hiện nay của nước ta thì
Trang 26tác động của điều luật tới các giới là có sự khác nhau như: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng…) Có thể nói việc quy định về các tội này có tác dụng tích cực trong việc xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, các hành vi vi phạm pháp luật khác cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Trên cơ sở rà soát các quy định hiện hành, xác định các vấn đề giới, đồng thời phân tích, đánh giá những vấn đề giới trong Bộ luật hình sự, có thể thấy Bộ luật hình sự đã phần nào bảo đảm được các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới, cụ thể là:
Bộ luật hình sự hiện hành đã thể hiện được tính nhân đạo và vì con người, trước hết là trong việc bảo vệ người phụ nữ Điều này phù hợp với quy
định về bảo vệ quyền phụ nữ trong Hiến pháp năm 1992: "Công dân nữ và
nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ" [32, Điều 63] và phù hợp với một trong các nguyên tắc
cơ bản về bình đẳng giới: "Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời
sống xã hội và gia đình" [37, khoản 1, Điều 6] Đồng thời, các quy định của
Bộ luật hình sự cũng đã chú trọng tới việc bảo vệ và hỗ trợ người mẹ, có tính đến yếu tố đặc thù của người phụ nữ như hạn chế sức khỏe, thực hiện chức năng sinh sản, nuôi con nhỏ… mà cần phải bảo vệ trong những trường hợp nhất định để bảo đảm bình đẳng giới thực chất Bộ luật hình sự có khá nhiều điều luật quy định về các tội xâm phạm quyền của phụ nữ, các hành vi xâm phạm quyền của phụ nữ là tình tiết định khung tăng nặng
Trang 27Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ TỘI XÂM PHẠM QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA PHỤ NỮ
VÀ THỰC TRẠNG XỬ LÝ LOẠI TỘI PHẠM NÀY
2.1 Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
2.1.1 Khái niệm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [33]
Quyền bình đẳng của phụ nữ là một khái niệm đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ sống, học tập, làm việc, hưởng thụ trong khuôn khổ cai trị của nhà nước trong đó có xem xét yếu tố về tâm sinh lý giới tính, thuần phong mỹ tục, văn hóa của dân tộc Quyền bình đẳng của phụ nữ là một khái niệm mới nói về quyền bình đẳng giữa người nam và người nữ trong
xã hội ngày nay
Điều 130 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội xâm phạm quyền bình
đẳng của phụ nữ: "Người nào dùng vũ lực hoặc có hành vi nghiêm trọng khác
cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã
Trang 28hội thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến một năm" [33]
Xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là hành vi "bằng hành động"
về thực chất được hiểu là sự ứng xử bằng vũ lực như đánh đập, ép buộc quan
hệ tình dục, nhục mạ, xúc phạm… phụ nữ của người vi phạm và "không hành
động" là sự ứng xử không bằng vũ lực (hay còn gọi là hình thức bạo lực về
tinh thần) được biểu hiện bằng hàng loạt các hành vi như sự ruồng rẫy, lạnh lùng, vô cảm, không quan tâm, chia sẻ… Như vậy, có thể đưa ra khái niệm:
Xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là hành vi dùng vũ lực hoặc hành vi nghiêm trọng khác cản trở phụ nữ tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội
2.1.2 Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Bộ luật hình sự 1999 đã quy định một cách rõ ràng khái niệm và các dấu hiệu của cấu thành tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ Vấn đề đặt
ra là cần phải hiểu khái niệm đó và các dấu hiệu của nó như thế nào cho đúng Hiểu và giải thích đúng các dấu hiệu của tội phạm đó có ý nghĩa lớn đối với việc xác định tội danh, quyết định hình phạt và áp dụng các biện pháp tư pháp
• Khách thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Khách thể của tội phạm nói chung là các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ nhằm tránh bị các hành vi xâm hại đến Do đó khách thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1999 là quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội mà pháp luật hình sự bảo vệ Tội phạm này xâm phạm đến quyền bình đẳng của phụ nữ
Đối tượng tác động của tội phạm này là hành vi của người phụ nữ khi tham gia vào các hoạt động trong các các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa, xã hội…
Trang 29• Mặt khách quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Mặt khách quan của tội phạm là tổng hợp tất cả các dấu hiệu được biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm Đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, các dấu hiệu thuộc mặt khách quan là những dấu hiệu rất quan trọng để xác định hành vi phạm tội cũng như để phân biệt tội này với các tội phạm khác
Trước hết, người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ phải là người có hành vi cản trở không cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động mà pháp luật quy định họ được quyền tham gia
Hàng loạt các hành vi cản trở phụ nữ tham gia thực hiện quyền của mình trên các lĩnh vực mà Hiến pháp và pháp luật quy định cho họ có quyền tham gia như: cản trở phụ nữ được học tập, làm việc, tham gia các hoạt động
xã hội, đoàn thể, quyền được nghỉ ngơi Hay các hành vi xử không bình đẳng, không công bằng giữa phụ nữ và nam giới như cùng công việc mà trả lương thấp hơn nam, không nhận nữ vào làm việc Việc cản trở này có thể được thực hiện bằng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác (dọa nạt, hành hạ, ngược đãi…) buộc phụ nữ không được hoặc thôi tham gia các hoạt động mà pháp luật quy định họ có thể tham gia
Theo GS.TS khoa học Lê Cảm, hành vi cản trở được thực hiện bằng các thủ đoạn sau:
- Dùng vũ lực: Là dùng sức mạnh về thể chất tác động vào thân thể người phụ nữ như đánh, trói để buộc người phụ nữ phải làm hoặc không được phép làm một việc theo ý muốn của người dùng vũ lực Ví dụ: Bố mẹ hành hạ, đánh đập con gái, không cho con đi học ở nhà để đi làm hoặc chồng đánh, trói vợ để buộc vợ phải thôi công tác xã hội
- Hành vi nghiêm trọng khác: Là hành vi như lợi dụng chức
vụ, quyền hạn đe dọa, uy hiếp tinh thần người phụ nữ buộc họ phải
Trang 30làm theo ý muốn của người phạm tội hoặc lợi dụng mê tín dị đoan
để dọa nạt người phụ nữ khiến họ sợ hãi mà không dám tham gia hoặc từ bỏ tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, khoa học, văn hóa, xã hội [9, tr 195].
Hậu quả của hành vi phạm tội này là những hậu quả về tinh thần hoặc vật chất Hậu quả của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, xét về phương diện các yếu tố cấu thành tội phạm thì không phải dấu hiệu bắt buộc tức là, dù hậu quả chưa xảy ra nhưng hành vi vẫn cấu thành tội phạm
Mặt khách quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thực hiện dưới nhiều thủ đoạn bạo lực khác nhau như: bạo lực về thể chất; bạo lực về tình dục và bạo lực về tinh thần
Đối với loại hình bạo lực về thể chất: là những hành vi đánh đập, chửi
mắng của người thực hiện hành vi phạm tội đối với phụ nữ, ví dụ như: hành
vi của người chồng đối với vợ, cha mẹ đối với con gái Nạn nhân - những người phụ nữ là những người vợ, người mẹ trong gia đình phải chịu bao uất
ức, tủi hờn cả về thể xác lẫn tinh thần bởi đủ mọi lý do từ phía các ông chồng của họ, song rất nhiều trường hợp người vợ thường im lặng, cam chịu
Tuy nhiên, những thiệt hại về sức khỏe nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì phải truy cứu tội tương ứng Chẳng hạn vì ngăn chặn vợ mình tham gia văn nghệ nên đã đánh gây thương tích tỷ lệ trên 11%, phải bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích
Đáng lo ngại là bạo lực tinh thần không chỉ gây tổn thương cho người
vợ hoặc chồng, mà còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình, đặc biệt là trẻ em Những tiểu xảo trong bạo lực tinh thần có thể làm không khí gia đình trở lên căng thẳng hơn và sẽ khiến tâm lý trẻ không ổn định, gây lệch lạc về nhận thức cũng như sự phát triển về thể chất
Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có một trong các hành vi kể trên, không cần xảy ra hậu quả
Trang 31• Chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Chủ thể của phạm tội là người thực hiện tội phạm được quy định trong
Bộ luật hình sự (hay chính là người phạm tội) Chỉ những người thực hiện tội phạm có đủ các điều kiện sau đây mới có thể bị coi là chủ thể của tội phạm và
bị xử lý hình sự: là phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: chỉ những người từ
đủ 14 tuổi trở lên mới có thể bị coi là chủ thể của tội phạm Những người từ
đủ 14 tuổi, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Người từ đủ
16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm
Những người nói ở trên phải là những người có trí óc phát triển bình thường: có khả năng hiểu biết về việc mình làm, không mắc bệnh tâm thần hoặc bị tật nguyền đến mức không thể hiểu biết hoặc điều khiển được việc làm của mình
Chủ thể của tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là bất kỳ người nào có đủ độ tuổi theo luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự Trong thực tế thì chủ thể của tội phạm này là người có quan hệ nhất định với người phụ nữ về mặt gia đình (như bố, mẹ, con, chị anh) hoặc về mặt xã hội (như thủ trưởng với nhân viên dưới quyền) Vì đây là tội ít nghiêm trọng nên chỉ có người từ đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 130
Bộ luật hình sự
• Mặt chủ quan của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
Mặt chủ quan của tội phạm là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra Tội phạm thực hiện hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) Người phạm tội luôn nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; không có trường hợp xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ nào được thực hiện do vô ý, vì người phạm tội bao giờ cũng mong muốn xâm
Trang 32phạm đến các quyền hợp pháp của người phụ nữ Hơn ai hết, bản thân người thực hiện tội phạm, ngay từ khi ý định phạm tội đã nhận thức được rõ ràng, cụ thể những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình có thể gây nên đồng thời,
ở cương vị của mình, họ cũng hoàn toàn có đủ khả năng để hiểu rằng họ đang trực tiếp xâm phạm hoạt động đúng đắn Họ nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng họ vẫn thực hiện Mục đích và động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này
Trên cơ sở những dấu hiệu pháp lý tác giả đã phân tích về mặt lý luận
ở chương 1, có thể nhận thấy nội dung quy định tại điều luật trên là chưa đầy
đủ, chưa mang tính toàn diện Ví dụ ở mặt khách quan thì theo phân tích trên cho thấy tội này gồm hành vi cản trở không cho phụ nữ tham gia và hành vi hạn chế quyền tham gia của phụ nữ để phụ nữ tham gia một cách không ngang bằng với nam giới nhưng Điều 130 mới chỉ đề cập đến hành vi cản trở
Một số lĩnh vực mà tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ xâm phạm đến được liệt kê tại điều luật trên chưa bao quát hết được mọi lĩnh vực của thực tiễn, chưa đầy đủ, chưa tương thích với các quy định về quyền bình đẳng của phụ nữ do đó chưa phát huy được hết hiệu quả của điều luật
Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Điều 130 Bộ luật hình sự mới chỉ đề cập đến lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội, như vậy còn thiếu một số lĩnh vực rất quan trọng chưa được đề cập đến như: lao động, y tế, giáo dục-đào tạo, an ninh-quốc phòng
Chế tài được quy định trong điều luật trên cũng chưa thực sự thỏa đáng với diễn biến ngày càng phức tạp của loại tội phạm này Như chúng ta đã biết, hậu quả của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là những thiệt hại về thể chất, tinh thần, kinh tế mà người phụ nữ phải gánh chịu Khi thiết kế các quy phạm pháp luật, chế tài là một bộ phận không thể thiếu được của quy phạm pháp luật nhằm đưa ra những biện pháp tác động mà nhà nước dự kiến
Trang 33áp dụng đối với chủ thể không thực hiện các yêu cầu của nhà nước đã nêu trong bộ phận quy định của quy phạm pháp luật Trong các chế tài về quyền bình đẳng của phụ nữ ở nước ta thường được xem xét ở hai phương diện:
1 Thể hiện ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, kể cả sự lên
án về đạo đức, phong tục, tập quán và pháp luật trong lĩnh vực hình sự, dân
sự, hôn nhân gia đình…
2 Chế tài thể hiện ngay trực tiếp ở các quy phạm của lĩnh vực bảo vệ quyền bình đẳng phụ nữ
Theo quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự năm 1999, chỉ quy định khung hình phạt cơ bản đối với người phạm tội xâm phạm quyền bình đẳng
của phụ nữ có thể bị "phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc
bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm" [33] Quy định về khung hình phạt trên theo
tác giả là quá chung chung, chưa thể hiện được cụ thể những trường hợp tăng nặng và giảm nhẹ cũng như mức độ vi phạm của hành vi phạm tội Vì vậy, trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự dẫn đến tình trạng hiểu không đúng,
áp dụng quy định pháp luật không chuẩn xác Căn cứ nào để phân biệt mức độ nặng nhẹ trách nhiệm hình sự để từ đó áp dụng đúng các hình phạt theo quy định tại Điều 130 Bộ luật hình sự 1999? Từ khi được ghi nhận lần đầu tiên tại Điều 130 Bộ luật hình sự 1985 và được kế thừa trong Bộ luật hình sự 1999 chưa có một văn bản hướng dẫn cụ thể nào về việc áp dụng và thi hành chế tài của điều luật trên
Theo Điều 130 Bộ luật hình sự 1999 khung hình phạt đầu tiên và nhẹ
nhất đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ là "cảnh cáo" Có lẽ
đây là khung hình phạt áp dụng mang tính nhắc nhở, cảnh báo với người vi phạm nếu tái phạm sẽ phải chịu chế tài nặng hơn
Khung hình phạt tiếp theo là "cải tạo không giam giữ đến một năm"
Về hình thức cải tạo không giam giữ đối với tội xâm phạm quyền bình đẳng của
phụ nữ được áp dụng "đến một năm" đối với tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội
Trang 34nghiêm trọng do bộ luật này quy định mà đang có nơi làm việc ổn định hoặc
có nơi thường trú rõ ràng, nếu xét thấy không cần thiết phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 3 ngày cải tạo không giam giữ
Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước Trong trường hợp đặc biệt, tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án
Người thực hiện hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ còn
có thể bị áp dụng hình phạt tù "từ ba tháng đến một năm" Đây là khung hình
phạt cao nhất mà tội phạm xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ phải gánh chịu Trong khi cả thể giới đang lên án hàng loạt những hành vi xâm phạm thô bạo đến quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ cũng như những hậu quả
vô cùng nặng nề mà họ phải gánh chịu, vậy khung hình phạt trên liệu có đủ sức răn đe, ngăn chặn và tiến tới xóa bỏ loại tội phạm này khỏi xã hội?
Nếu hành vi dùng vũ lực mà gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của phụ nữ từ 11% trở lên, thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể cấu thành tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác (Điều 104 Bộ luật hình sự 1999) và người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự trên những
cơ sở chung Hành vi phạm tội này có thể tương tự với hành vi hành hạ người khác (Điều 110) Tuy nhiên, ở tội phạm này, người bị hại không lệ thuộc vào người phạm tội Nếu có quan hệ lệ thuộc, dù người phạm tội có hành vi xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ cũng bị xử về tội hành hạ người khác Bên cạnh đó, nếu người phạm tội có quan hệ họ hàng với người bị hại (cha, mẹ - con, ông, bà - cháu, vợ - chồng, người có công nuôi dưỡng - người được nuôi dưỡng) thì phải xác định tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ, chồng, con hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 151 Bộ luật hình sự 1999)
Trang 35Bên cạnh Điều 130 quy định tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ
nữ Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã có những quy định nhằm trừng trị những hành vi bạo lực gia đình như: Các tội quy định tại chương XII các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người bao gồm Điều 93 Tội giết người; Điều 100 Tội bức tử; Điều 104 Tội cố ý gây thương tích; Điều 110 Tội hành hạ người khác; Điều 121 Tội làm nhục người khác; Điều 146 Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; Điều 151 Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình
Đối với các tội giết người, cố ý gây thương tích, đây là những quy định mang tính chung nhất đối với mọi hành vi xâm phạm đến tính mạng sức khỏe con người, chứ không phải để xử lý riêng đối với các hành vi bạo lực trong gia đình Chỉ khi những hành vi bạo lực trong gia đình gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng như làm cho người vợ, người chồng bị chết, bị thương tích thì tùy theo mức độ những người bạo hành sẽ phải bị xử lý theo quy định tại Điều 93 hoặc 104 Bộ luật hình sự Đối với các tội như tội bức tử, tội hành hạ người khác, tội làm nhục người khác; tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình
2.1.3 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với một
số tội phạm khác
2.1.3.1 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội hành hạ người khác (Điều 110 Bộ luật hình sự)
Điều 110 Bộ luật hình sự quy định Tội hành hạ người khác như sau:
1 Người nào đối xử tàn ác với người lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến hai năm
Trang 362 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:
a) Đối với người già, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc người tàn tật; b) Đối với nhiều người [33]
Sự tương quan giữa tội hành hạ người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thể hiện ở những đặc điểm sau:
Về mặt khách quan của hai tội đều có thể biểu hiện bằng hành vi bạo lực về thể chất hoặc tinh thần
Chủ thể của các tội này có ảnh hưởng hoặc quyền hành với người bị hại Chủ thể xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thông thường là người có quan hệ nhất định hoặc có quyền hành nhất định đối với người phụ nữ Chủ thể của tội hành hạ người khác là người mà người bị hại lệ thuộc
Hình thức lỗi trong cả hai tội đều là lỗi cố ý
Tội hành hạ người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ đều là những tội ít nghiêm trọng: tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ
có mức cao nhất của khung hình phạt đến 1 năm tù; tội hành hạ người khác có mức khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù
Bên cạnh những điểm giống nhau, giữa hai tội danh này còn tồn tại những điểm khác biệt Về mặt khách thể, nếu như tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ xâm phạm quyền tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, gia đình một cách bình đẳng với nam giới thì tội hành hạ người khác xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe, tự do, danh dự của con người
Về mặt khách quan, tội hành hạ người khác luôn biểu hiện bằng hành
vi bạo lực thể xác hoặc tinh thần Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ngoài việc thể hiện qua các hành vi bạo lực còn có thể biểu hiện bằng các thủ đoạn khác như: không tuyển dụng phụ nữ, không cho phụ nữ tham gia tổ chức
Trang 37hay hoạt động nào đó, tuyên truyền để cản trở phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của mình v.v
Ví dụ: không cho phụ nữ tham gia vào các danh sách bầu cử Trong trường hợp này hành vi vừa xâm phạm đến quyền bình đẳng của phụ nữ vừa xâm phạm đến quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân
Ví dụ, nghiêm cấm không cho phụ nữ tham gia lãnh đạo cơ quan, xí nghiệp, không cho phụ nữ tham gia vào Ban Chấp hành Công đoàn, gạt phụ nữ khỏi những tổ chức chính trị xã hội nào đó… Về chủ thể của tội phạm, chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ thông thường có quan hệ hoặc quyền hành với người bị hại, tuy nhiên cũng có thể là không Trong khi đó, chủ thể của tội hành hạ người khác luôn luôn là người mà người bị hại lệ thuộc
Về chủ thể của tội phạm, chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ có thể được thực hiện hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên Tuy nhiên, để thực hiện được những hành vi cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đòi hỏi chủ thể của hành vi phải có những quyền năng nhất định đối với những người phụ nữ cụ thể đó Quyền lực ở đây có thể là quan hệ trực tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đối với bản thân người phụ nữ, cũng có thể là có quyền lực, ảnh hưởng gián tiếp thông qua cấp trên, thông qua những người thân như chồng con, bố mẹ Do vậy chủ thể của tội phạm này là những người có quan hệ thân thuộc gia đình, họ tộc, chồng con, bố mẹ hoặc người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan xí nghiệp, trong tổ chức mà người phụ nữ
có quyền bị xâm hại là thành viên
Chủ thể của tội hành hạ người khác là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên và có quan hệ lệ thuộc với nạn nhân Trong mối quan hệ đó nạn nhân là người bị lệ thuộc Quan hệ lệ thuộc ở đây thường được phát sinh do quan hệ công tác (thủ trưởng đối nhân viên), do quan hệ thầy trò (thầy, cô giáo đối với học sinh, sinh viên), do quan hệ tín ngưỡng (cha cố đối với con chiên)…
Trang 38Một vụ án điển hình đã được đưa ra xét xử với tội danh hành hạ người
đã gây xôn xao dư luận được đăng tải trên website:http://laodong.com.vn ngày 28/07/2010:
Chị Nguyễn Thị Lưu sinh 1976 kết hôn với Nguyễn Văn Doanh sinh
1975, trú tại thôn Đạo Thượng, Tân Hưng, Sóc Sơn, Hà Nội Cuộc hôn nhân kéo dài 15 năm, hai người đã có hai mặt con Thế nhưng chị Lưu thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ dã man Từ cán cuốc, đòn gánh, mũ cối, dây
cu roa đến tuýp nước, tất cả những vật dụng Doanh vớ được đều trở thành hung khí hành hạ vợ Nhiều lần, chị Lưu phải đi cấp cứu tại trạm xá do những trận đòn của chồng Người phụ nữ lam lũ sống ở làng quê vẫn cắn răng chịu đựng cảnh bị chồng hành hạ nhiều năm mà không dám giải thoát cho mình
Ngày 31/5/2009, chị gái của Doanh bị ốm có nhờ chị Lưu đến gặt lúa
hộ Chị Lưu đến làm và còn biếu chị gái của Doanh 200 ngàn đồng để bồi dưỡng, thuốc men Khi về nhà, chị thật thà kể cho chồng nghe thì liền bị Doanh chửi mắng vì đã đi gặt hộ lại còn cho những 200 nghìn đồng
Sau khi dùng dây cu roa trói vợ và mặc sức đánh đập tàn nhẫn, được người hàng xóm can ngăn thì Doanh mới chịu thả vợ ra Người chồng vũ phu này bắt vợ phải cùng lên nhà bố mẹ vợ để kể tội Trước mặt mọi người trong gia đình nhà vợ, Doanh ra sức thóa mạ vợ mình Sau đó, hai vợ chồng lại dắt nhau về nhà
Khoảng 23h cùng ngày, gia đình chị Lưu chưa hết tâm trạng lo lắng chị sẽ tiếp tục bị Doanh hành hạ khi về tới nhà thì nhận tin dữ chị Lưu chết vì
tự tử bằng bả chó
Tại phiên tòa sơ thẩm, Viện kiểm sát truy tố Nguyễn Văn Doanh về hành vi ngược đãi theo Điều 151 Bộ luật hình sự Sau khi xem xét vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn tuyên phạt Doanh mức án 24 tháng tù treo, bồi thường gần 20 triệu đồng
Trang 39Trước khi chết, lá thư của chị Nguyễn Thị Lưu (thôn Đạo Thượng, xã Tân Hưng, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) gửi đến các cơ quan chức năng ngày 7/6/2007 với những lời lẽ thống thiết: "Tôi không hiểu tại sao gần đây chồng tôi lại hay đánh đập, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, thể xác của tôi bằng những hành động quá tàn bạo"
Chị Lưu tố cáo anh Nguyễn Văn Doanh, chồng chị, đã có những hành
vi bạo hành tàn bạo như sau:
Lần 1, khi đi chăn vịt, anh Doanh đã ném mũ cối vào mặt chị Lưu rồi đấm đá túi bụi
Lần 2, anh Doanh cầm chuôi cuốc thúc mạnh vào cổ chị Lưu khiến chị phải đi viện Lần thứ 3, chỉ vì thời tiết mưa bão nhiều khiến lúa bị bọ dầy phá hoại, anh Doanh đổ lỗi cho chị Lưu làm hỏng lúa và đã đi mua xăng về đốt lúa rồi lấy dây cô loa đánh túi bụi vào người chị Lưu ở bờ ruộng
Vào khoảng tháng 4/2004, do ghen tuông, Doanh đã chửi mắng chị Lưu vì khi chị Lưu đi bán hoa quả ở chợ đã có một thanh niên đến mua hoa quả và bắt tay chị "Những lời nhiếc móc, những trận đòn phũ phàng, những
sự tra tấn tàn bạo có thể ập đến với tôi bất cứ lúc nào khiến tôi luôn sống trong tâm trạng sợ hãi giữa sự sống và cái chết Nửa đêm, anh ta bắt tôi ngồi dậy và ký vào đơn ly dị Anh ta chửi mắng tôi là ngu như chó, "mày có chết đi thì tao cũng chỉ mất với mày một cỗ ván với mấy triệu là xong, nửa tháng sau
là tao lại có vợ mới"…
Vụ án trên là một vụ án điển hình cho hành vi bạo hành gia đình cả về thể chất và tinh thần đối với nạn nhân là người phụ nữ Trên thực tế, những hành vi vi phạm pháp luật mang đầy đủ dấu hiệu pháp lý của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ ở mức độ nhẹ thì không được đưa ra xét xử Trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng thường được đưa ra xét xử với các tội danh như hành hạ người khác, cố ý gây thương tích hoặc làm nhục người khác.Tính đến nay, chưa có vụ án nào được đưa ra
Trang 40xét xử với tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ theo quy định tại Điều
130 Bộ luật hình sự Điều đó cho thấy điều luật này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn xét xử hiện nay Một điều luật được quy định trong một Bộ luật lớn
và quan trọng như Bộ luật hình sự mà không được áp dụng trong thực tiễn thì phải chăng quy định của điều luật đó là không phù hợp, không cần thiết
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để Điều 130 Bộ luật hình sự được vận dụng trong thực tiễn xét xử, đặc điểm và dấu hiệu pháp lý phân biệt giữa loại tội phạm này với các tội phạm khác phải có căn cứ chuẩn xác, rõ ràng, tránh tình trạng tội danh của điều luật này quy định lại được đưa ra xét xử với tội danh khác Hoàn thiện quy định pháp luật quy định tại Điều 130 Bộ luật hình
sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cần thiết để điều luật này phát huy được hiệu quả pháp lý trong thực tiễn đời sống
2.1.3.2 Phân biệt tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ với tội làm nhục người khác (Điều 121 Bộ luật hình sự)
Điều 121 Bộ luật hình sự quy định: "1 Người nào xúc phạm nghiêm
trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm " [33]
Điểm giống nhau giữa tội làm nhục người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ được thể hiện như sau:
Tội làm nhục người khác và tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ
nữ đều là những tội ít nghiêm trọng: tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ
nữ có mức cao nhất của khung hình phạt đến 1 năm tù; tội làm nhục người khác có mức khung hình phạt cao nhất đến 3 năm tù (nếu phạm tội một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 121 Bộ luật hình sự)
Chủ thể của tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ và tội làm nhục người khác đều có thể được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 16 tuổi trở lên Chủ thể của các tội này có ảnh hưởng hoặc quyền hành với người bị hại Chủ thể xâm phạm quyền bình đẳng