1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam

115 977 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiệm vụ của luận văn Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: - Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội ch

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN TH.S LUẬT

Ngưới hướng dẫn:TS Trần Quang Tiệp

Hà Nội 2007

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị "Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới", Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-05-2005 của Bộ Chính trị "Về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020", Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-06-2005 của Bộ Chính trị "Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ chức Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện với quyết tâm cao đạt được nhiều kết quả Nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Tuy nhiên, kết quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm mới tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm còn nhiều hạn chế Tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tình hình tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có đang là vấn đề bức xúc của người dân Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy, trong không ít vụ án, một số công dân

do chạy theo lợi nhuận bằng mọi giá, mặc dù biết tài sản mình chứa chấp, tiêu thụ là tài sản do người khác phạm tội mà có, đã cố tình chứa chấp, tiêu thụ những tài sản này, gây thêm khó khăn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong điều tra, khám phá vụ án Việc một số công dân không tham gia đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, trái lại chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đã gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội, làm phức tạp

Trang 3

thêm tình hình đấu tranh phòng, chống tội phạm Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học pháp lý phải nghiên cứu, giải quyết như khái niệm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm này Về mặt lý luận, xung quanh tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài, "Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam", mang tính cấp

thiết, không những về mặt lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm có tính nhạy cảm cao, phức tạp, đã được một số nhà luật học đề cập trong

Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Giáo trình luật

hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, 1998; Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự

Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb

Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự

1999 (Phần các tội phạm) của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS

ThS Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, ThS Nguyễn Sĩ Đại, ThS Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001

Các công trình nói trên đã đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có dưới góc độ pháp lý hình sự

Trang 4

3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn

Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đề xuất những giải pháp mang tính hệ thống nhằm hoàn thiện việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này

Nhiệm vụ của luận văn

Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam

- Làm sáng tỏ khái niệm, ý nghĩa của việc quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội trong pháp luật hình sự; phân tích các quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội phạm này

- Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật hình sự hiện hành

về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng loại tội phạm này, nêu lên những vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử, đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên cứu giải quyết

- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Trang 5

Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, dưới góc độ pháp lý hình sự, trong thời gian 10 năm từ năm

1997 đến năm 2007

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân

và vì nhân dân, và về xây dựng pháp luật

Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án

về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của các cơ quan bảo vệ pháp luật về tội phạm này

Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: hệ thống, lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh pháp luật, điều tra xã hội

5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam ở cấp độ luận văn thạc sĩ luật học, nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và tương đối có hệ thống về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có dưới góc độ pháp lý hình sự Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới về khoa học của luận văn:

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam

- Phân tích, đánh giá những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, trong pháp luật hình sự một số nước trên

Trang 6

thế giới nhằm rút ra những giá trị hợp lý về lập pháp hình sự, để vận dụng có chọn lọc, bổ sung cho những luận cứ và giải pháp được đề xuất trong luận văn

- Phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và thực tiễn

áp dụng, nêu lên những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội phạm này

- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

6 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu và những đề xuất của luận văn có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ở nước ta Thông qua kết quả nghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển khoa học luật hình sự nói chung, về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nói riêng

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 mục

Trang 7

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CHỨA CHẤP

HOẶC TIÊU THỤ TẢI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH TỘI PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ

1.1.1 Khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Trong Đại từ điển tiếng Việt, chứa chấp được hiểu là "chứa, cất, giữ

một cách trái phép" [46, tr 412], còn tiêu thụ được hiểu là "bán được (hàng hóa)" [46, tr 1461] Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác

phạm tội mà có hiểu theo nghĩa chung nhất là hành vi chứa, cất, giữ một cách trái pháp luật hoặc bán một cách trái pháp luật tài sản do người khác phạm tội mà có

Khái niệm tài sản được quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm

2005: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản"

Vật là một bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại dưới một hình thức nhất định, có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, nằm trong sự chiếm hữu của con người, có giá trị và trở thành đối tượng của giao lưu dân sự Khi là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo,

chiếm đoạt tài sản… vật phải nằm trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản

Ngoài vật, tiền, giấy tờ có giá cũng được coi là tài sản Giấy tờ có giá trong hoạt động kinh tế hoặc giao dịch dân sự rất đa dạng, Điều 4 Quy chế phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định

số 02/2005/ QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 04-01-2005

quy định: "Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để

Trang 8

huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua"

Giấy tờ có giá có nhiều hình thức khác nhau, tên gọi của giấy tờ có giá

có thể là: cổ phiếu, séc, giấy ủy nhiệm chi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm… Những loại giấy tờ này có tính chất chung là có thể định giá được bằng tiền và khi đưa vào lưu thông dân sự chúng có thể thay thế tiền Tuy nhiên, giấy tờ có giá lại được chia làm hai loại: giấy tờ có giá ghi danh và

giấy tờ có giá vô danh Theo Điều 4 của Quy chế trên đây thì: "Giấy tờ có giá

vô danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu Giấy tờ có giá vô danh thuộc quyền sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá"

Như vậy, chỉ có giấy tờ có giá vô danh mới trở thành đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản… Khi lấy đi loại giấy tờ này, người phạm tội có thể thực hiện các

quyền sở hữu đối với tài sản được giấy tờ đó xác nhận Họ có thể đem giấy tờ

này đi chuyển nhượng như: mua, bán, tặng, cho, trao đổi mà không phải thỏa mãn thêm bất kỳ điều kiện nào liên quan đến giấy tờ này Giấy tờ có giá hữu danh tuy có thể đem chuyển nhượng trong giao dịch dân sự nhưng chỉ chủ sở hữu đứng tên trong giấy tờ đó mới có khả năng thực hiện được sự chuyển nhượng đó Vì vậy, giấy tờ có giá hữu danh không thể trở thành đối tượng tác động của các loại tội phạm trên

Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tài sản như sau:

"Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ" [41, tr 482] Đây là quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện các quyền đó, chủ sở hữu sẽ có được tài sản Quyền tài sản cũng không thể là đối tượng tác động của tội trộm cắp tài sản, cướp tài sản, cướp giật tài sản, lừa đảo, chiếm đoạt tài sản… bởi lẽ chỉ chủ sở hữu mới có thể thực hiện quyền này trong giao dịch dân sự

Trang 9

Từ sự phân tích ở trên có thể thấy, thuật ngữ "tài sản" trong cụm từ: chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là vật, tiền, giấy tờ có giá vô danh

Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có, mặc dù có mối liên hệ về mặt khách quan với tội phạm do người khác thực hiện, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm đó Đây là đặc điểm giúp phân biệt hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với những hành vi của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho

xã hội, nhưng nó không nằm trong mối liên kết thống nhất với tội phạm được thực hiện bởi người khác Người thực hiện tội phạm trước đó không biết trước được việc tài sản do mình mang về từ hành vi phạm tội sẽ được người khác chứa chấp hoặc tiêu thụ Điều đó có nghĩa, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không tác động vào mặt ý thức chủ quan đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước đó, không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tội phạm của người đó

Mặt khác, cần phân biệt tội che giấu tội phạm và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Cả hai tội phạm này có những điểm giống nhau như sau:

Thứ nhất, đều được thực hiện sau khi tội phạm do người khác thực

hiện đã hoàn thành và kết thúc trên thực tế

Tội phạm hoàn thành là một khái niệm pháp lý chỉ hành vi phạm tội

đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành tội phạm nhất định được quy định tại Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, còn tội phạm kết thúc là một khái niệm để chỉ tội phạm không được thực hiện trong thực tế nữa mà không kể lý do gì Tội phạm có thể kết thúc trước khi tội phạm hoàn thành, cũng có thể kết thúc cùng với thời điểm tội phạm hoàn thành hoặc kết thúc sau thời điểm tội phạm hoàn thành Từ thời điểm tội phạm hoàn thành

Trang 10

cho đến khi tội phạm kết thúc là giai đoạn tội phạm hoàn thành Trong giai đoạn này, tội phạm vẫn còn đang tiếp diễn, cho nên về mặt lý thuyết, vẫn có thể xuất hiện hành vi đồng phạm; hành vi này vẫn có thể có mối quan hệ nhân quả với hậu quả phạm tội chung Người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, cũng như người phạm tội che giấu tội phạm nếu có hứa hẹn trước với người phạm tội, thì thời điểm hứa hẹn trước phải ở thời điểm trước khi tội phạm đã hoàn thành và kết thúc trên thực tế và trong trường hợp này, người hứa hẹn trước sẽ chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có hoặc hứa trước sẽ che giấu tội phạm thì bị coi

là người đồng phạm tội tương ứng

Thứ hai, người phạm các tội này đều không có sự thỏa thuận trước với

người phạm tội và hành vi phạm tội do những người này thực hiện không nằm trong mối quan hệ nhân quả với tội phạm đó

Tuy vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có khác với tội che giấu tội phạm ở những điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, đối tượng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có chỉ có thể là tài sản do người khác phạm tội mà có, còn

ở tội che giấu tội phạm, người phạm tội chẳng những che giấu các tang vật của tội phạm (trong đó bao gồm cả những tài sản do người khác phạm tội mà có) mà còn che giấu người phạm tội, các dấu vết của tội phạm hoặc có hành

vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội

Thứ hai, khi che giấu tội phạm, người che giấu biết rõ hành vi của mình

tạo thuận lợi cho người phạm tội trốn tránh pháp luật, cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội Đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, thì người phạm tội chỉ biết tài sản mà mình chứa chấp, tiêu thụ là tang vật phạm pháp, chỉ biết chứa chấp, tiêu thụ tài sản đó với mục đích vụ lợi,mà không có ý thức cản trở việc phát hiện, điều tra và xử lý người phạm tội Vì vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có được coi là một trong những tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội

Trang 11

Tính chất của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nguy hiểm hơn so với tội che giấu tội phạm, bởi lẽ hành vi đó gián tiếp khuyến khích người phạm các tội có tính chất chiếm đoạt tài sản, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, đồng thời nó cũng gây trở ngại cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, mặc dù người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản có thể không ý thức được vấn đề đó Xuất phát từ tính chất nguy hiểm của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, trong pháp luật hình sự hiện hành, nhà làm luật quy định hình phạt đối với tội này cao hơn hình phạt đối với tội che giấu tội phạm

Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Trước hết, cần khẳng định, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm,

mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a) bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b) bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c) bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi [17, tr 105]

Từ sự phân tích ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm tội chứa chấp

hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: tội chứa chấp hoặc tiêu

thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuy không hứa hẹn trước, mà chứa, cất, giữ, bán tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, xâm phạm trật tự công cộng và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam

Trang 12

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm có lịch sử lâu đời, thể hiện thái độ xử lý kiên quyết của các nhà nước phong kiến và Nhà nước ta đối với người có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có Việc ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản

do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam có những ý nghĩa sau đây:

Thứ nhất, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội chứa

chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ở nước ta

Trong tình hình tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tiếp tục gia tăng, gây ra những hậu quả xấu cho xã hội, gián tiếp khuyến khích những người trực tiếp thực hiện tội phạm, xâm phạm đến trật tự xã hội, đồng thời gây trở ngại cho việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm, thì việc ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thể hiện thái độ kiên quyết chống loại tội phạm này của Nhà nước ta Việc ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật hình sự tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này

Thứ hai, có ý nghĩa giáo dục với người dân và các tác dụng răn đe đối

với người có ý định chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là tội phạm vì mục đích vụ lợi, mà bản chất của nó là tham lam, kiếm tiền bằng cách chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Nói cách khác, tư tưởng tư hữu, mong muốn có lợi ích từ việc chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, không chịu sống bằng lao động chính đáng là lối sống của người phạm tội này Vì lẽ đó, việc ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, có ý nghĩa giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, trong đó có tác dụng răn đe đối với những người có ý định phạm tội này Như vậy, nó có ý nghĩa giáo dục tính thiện, tức là giáo dục

Trang 13

về tư tưởng, hành vi, lối sống, nhân cách con người trong cuộc sống đáp ứng những yêu cầu của xã hội, phân biệt với cái ác, tức là tư tưởng, hành vi, lối sống chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, qua đó bảo vệ lợi ích chính đáng của cá nhân, của tập thể, xã hội

Thứ ba, góp phần bảo vệ, tài sản của Nhà nước, tổ chức và nhân dân

Điều 1 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: "Bộ luật hình sự có nhiệm

vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội" Việc pháp luật hình sự hiện hành ghi nhận tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thể hiện thái độ nhất quán của Nhà nước ta trong việc chống chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, bảo vệ tài sản của Nhà nước, tổ chức và nhân dân

1.2 KHÁI LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ

1.2.1 Thời kỳ nhà Ngô đến nhà Lê

Năm 939, Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, giành lại độc lập hoàn toàn cho đất nước ta Trong buổi đầu của nền quân chủ phong kiến tự chủ, để bảo vệ nền thống trị mới được thành lập, chính quyền mới đã sử dụng các biện pháp bạo lực với các hình phạt nghiêm khắc đối với những kẻ chống đối Theo sử sách để lại, việc quy định hành vi nào là tội phạm và hình phạt được áp dụng dưới thời Đinh, Lê đều tùy ý của Vua hay các viên quan đứng đầu khu vực Thời kỳ đó có pháp luật thành văn hay không, ta chưa thể giải đáp được một cách chắc chắn Nhưng điều có thể khẳng định được là pháp luật thành văn thời đó đã được sử dụng tại Trung

Trang 14

Hoa phong kiến, cho nên chính quyền phong kiến dân tộc hoàn toàn có điều kiện sử dụng kinh nghiệm lập pháp của họ để áp dụng vào nước ta So với nhà Ngô, nhà Đinh, dưới thời nhà tiền Lê, hoạt động lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng được tăng cường hơn, nhưng chúng ta không có tài liệu khẳng định, thời kỳ này có quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không?

Dưới thời nhà Lý, quyền thống trị của giai cấp phong kiến đã được xác lập, tổ chức cai trị có quy củ hơn Để củng cố quyền hành của mình, ổn định tình hình xã hội, năm 1042, Lý Thái Tông sai trung thư sảnh sửa định luật lệ, chia môn loại, biên ra điều khoản lập ra Hình thư Đây là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta, nhưng rất tiếc bộ luật đó hiện nay không còn nữa, nên chúng ta không biết rõ các điều luật có nội dung như thế nào và có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không? Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, thì trong thời kỳ Nhà Minh đô hộ nước ta (1407-1427), họ đã thu nhiều sách quý của nước ta, trong đó Bộ hình thư đem về Kim Lăng, Trung Quốc [32, tr 188]

Thời kỳ nhà Trần, nhân dân ta đã tiến hành ba cuộc kháng chiến anh hùng chống quân Mông - Nguyên xâm lược Về mặt lập pháp, có hai bộ luật được ban hành dưới đời vua Trần Thái Tông và Trần Dụ Tông

Trần Thái Tông (1225-1258), ông Vua đầu tiên của nhà Trần, sau khi lên ngôi đã nghĩ ngay đến việc lập pháp Năm 1230, nhà Vua cho khảo định lại những luật lệ của các triều vua trước, sửa đổi hình luật, lề nghi, soạn thành Quốc triều thông chế gồm 20 quyển Trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Quốc triều thông chế còn có tên khác là Quốc triều hình luật Về bộ luật này, ngày này chỉ còn một đoạn được ghi lại trong cuốn Lịch triều hiến chương loại chí, quyền thứ ba mươi ba, chương hình luật chí:

"Năm thứ 6, niên hiệu Kiến Trung đời Vua Thái Tông nhà Trần, làm sách Quốc triều hình luật, khảo xét những luật lệ đời trước làm ra" [19 tr 525]

Trang 15

Bộ luật thứ hai của triều Trần được ban hành dưới đời Vua Trần Dụ Tông (1341-1369) Năm 1341, Trần Dụ Tông "sai Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ hình thư để ban hành" [20, tr 12]

Cũng như Bộ hình thư thời Lý, hai bộ luật nhà Trần cũng đã bị mất, cho nên chúng ta không thể biết về từng điều khoản của hai bộ luật đó và cũng không có tài liệu khẳng định, thời kỳ này có quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không?

Thời kỳ nhà Hồ, về mặt lập pháp hình sự, năm 1401, Hồ Hán Thương

"định quan chế và hình luật nước Đại Ngu" [20, tr 202] Nếu như pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lý còn mang nhiều tính khoan dung, đến pháp luật hình

sự thời kỳ nhà Trần đã mang tính nghiêm khắc hơn, thì đến thời kỳ nhà Hồ,

để khôi phục kỷ cương và củng cố uy quyền của Nhà nước phong kiến, chế tài hình sự được áp dụng đã mang tính chất hà khắc, nặng nề hơn các triều đại trước rất nhiều Tuy nhiên, chúng ta chưa có tài liệu khẳng định, thời kỳ này

có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

Thời kỳ nhà Lê, năm 1428, sau khi lên ngôi Vua, Lê Thái Tổ đã hạ lệnh cho các tướng hiệu và các quan rằng: "Từ xưa tới nay, trị nước phải có pháp luật, không có pháp luật thì sẽ loạn Cho nên, học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để đến nỗi phạm pháp" [20, tr 291]

Đáng chú ý, hoạt động lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng của nhà Lê được tiến hành thành công nhất dưới thời Vua Lê Thánh Tông Chính triều đại Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốc triều hình luật hay còn gọi

là Bộ luật Hồng Đức nổi tiếng vào năm 1483

Trang 16

Nghiên cứu Quốc triều hình luật cho thấy, mặc dù chưa có quy định riêng về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, nhưng có đề cập tội phạm này tại nhiều điều luật Điều 429 Quốc triều hình luật quy định: "Giữa ban ngày ăn cắp vặt cũng xử tội đồ, đã lấy được của, thì phải bồi thường một phần tang vật Những kẻ chứa chấp, thì đều bị tội nhẹ hơn một bậc và bắt bồi thường một phần ba tang vật Kẻ biết việc mà không cáo giác bị tội nhẹ hơn hai bậc" [34, tr 159] Tại điều luật này, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có được nhà làm luật đánh giá là ít nguy hiểm cho xã hội hơn tội phạm chính (ăn cắp vặt), nhưng lại được coi là nguy hiểm hơn so với tội không tố giác tội phạm (tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có bị tội nhẹ hơn một bậc, còn tội không tố giác tội phạm bị tội nhẹ hơn hai bậc) Ngoài ra, trong quy định này, người chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, ngoài hình phạt chính, còn phải chịu hình phạt bổ sung - hình phạt tiền với giá trị bằng một phần ba tang vật

Quốc triều hình luật còn đề cập tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có tại Điều 456:

Đày tớ đi ăn trộm, mà chủ không báo quan, thì xử biếm năm tư; ăn cướp thì biếm năm tư và bãi chức; chủ không có quan chức, thì thay xử đồ làm chủng điền binh và đều phải bồi thường thay những tang vật ăn trộm hay ăn cướp Nếu chủ giấu giếm nhận của

ăn trộm, ăn cướp thì phải đồng tội Đã báo quan mà sau lại bao dung những đày tớ ăn cướp ăn trộm ấy, thì xử như tội biết việc mà không trình [34, tr 165]

Tại điều luật này, hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội

mà có bị coi là hành vi đồng phạm, mà không cần xem xét điều kiện người chủ có cùng cố ý thực hiện tội trộm cắp tài sản hoặc tội cướp tài sản với người đầy tớ hay không? Nhà làm luật trong trường hợp này đã buộc trách nhiệm

Trang 17

của người chủ phải quản lý người đày tớ, phải biết tất cả những việc người đày tớ thực hiện Đây là một điểm đáng chú ý trong Bộ luật Hồng Đức

Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được đề cập tại Điều 460 Quốc triều hình luật:

Những kẻ nhận tài vật của kẻ ăn trộm, thay đổi hình dạng rồi đem bán, thì xử nhẹ hơn tội ăn trộm một bậc Nếu vì nhầm mà nhận những đồ vật ấy, thì chỉ phạt 60 trượng, biếm, biếm hai tư Nếu không biết mà mua phải đồ vật ấy, thì truy số tiền mua ở người bán mà trả cho; còn đồ vật thì phải trả lại chủ mất [34, tr 166] Như vậy, tại điều luật này, tương tự như tại Điều 429, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được nhà làm luật đánh giá là ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm chính (ăn trộm) Người mua phải đồ gian, nhưng ngay tình, thì được lấy lại số tiền đã mua ở người bán, còn đồ gian thì được trả lại cho người mất trộm Đây là quy định rất hợp lý, hợp tình, thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp rất cao của Bộ luật Hồng Đức

1.1.2 Thời kỳ nhà Tây Sơn đến thời kỳ nước ta bị thực dân Pháp xâm lược

Thời kỳ nhà Tây Sơn, về mặt lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng, ngay từ năm 1788, Quang Trung đã có chủ trương biên soạn một bộ luật cho triều đại mới Các giáo sĩ phương Tây có mặt ở nước ta lúc bấy giờ

đã ghi chép trong Nhật ký của Giáo hội Đàng ngoài Chiếu chỉ của Quang Trung như sau:

Từ trước tới nay, các vua chúa đều lấy luật pháp để cai trị thần dân và duy trì hòa bình, nên ta cũng nêu gương các vị tiền bối

mà đánh dấu ngày khởi đầu của triều đại ta bằng cách soạn ra một

bộ luật để dân chúng sống trên đất ta nghiêm ngặt tuân theo Vì thế,

ta đã giao cho các quan tư pháp và tham chính viện nhiệm vụ hoàn

Trang 18

thành bộ luật đó trong một hai tháng [29, tr 190]

Đến nay, chúng ta không có tài liệu chứng minh bộ luật mà Quang Trung chủ trương biên soạn có được hoàn thành không, nhưng có thể do thời gian trị vì quá ngắn ngủi, nên Quang Trung chưa kịp hoàn thành ước nguyện này Sau khi Quang Trung mất, Quang Toản nối ngôi lấy niên hiệu là Cảnh Thịnh Cảnh Thịnh Hoàng đế đã giao cho thượng thư bộ hình Lê Công Miễn soạn Bộ hình thư Bộ luật này gồm ba quyển đã được biên soạn xong, chưa kịp thi hành, thì Lê Công Miễn bị bệnh mất

Bộ hình thư triều Tây Sơn không còn nữa, nhưng gia phả họ Lê cho biết: "Bộ hình thư được biên soạn trên cơ sở tham chước luật nhà Thanh và

Bộ luật Hồng Đức, nhằm khắc phục tình trạng chính sự bất nhất" [29, tr 188] Như vậy, mặc dù chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, nhưng triều Tây Sơn đã

để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc, lịch sử lập pháp nói chung và lịch sử lập pháp hình sự nói riêng

Năm 1802, sau khi đánh bại hoàn toàn lực lượng của Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu Gia Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay) Về mặt lập pháp nói chung, lập pháp hình sự nói riêng, sau khi lên ngôi hoàng đế, Vua Gia Long giao cho Tiền quân Bắc thành tổng trấn Nguyễn Văn Thành (1757 - 1817) là Tổng tài soạn thảo Bộ luật có tên Hoàng Việt luật

lệ (Bộ luật Gia Long) Hoàng Việt luật lệ được khắc in lần đầu vào năm 1812

ở Trung Quốc, có hiệu lực từ năm 1813 trên phạm vi toàn quốc [24, tr 11] Vì bắt chước nhà Thanh, cho nên Bộ luật của nhà Nguyễn không gọi là hình thư hay hình luật như các bộ luật của các triều trước, mà gọi là Hoàng Việt luật lệ (nhà Thanh gọi là Đại Thanh luật lệ)

Mặc dù chịu ảnh hưởng của Đại Thanh luật lệ khá nặng nề, nhưng nhiều điều luật trong Hoàng Việt luật lệ vẫn được quy định trên cơ sở tiếp thu những giá trị lập pháp của Bộ luật Hồng Đức Điều 7, quyền thứ 13, Hoàng Việt luật lệ có đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với tên gọi tội đạo tặc oa trữ (trộm cắp, chứa đồ gian) như sau:

Trang 19

Phàm có thâm ý trộm bạo, chứa đồ gian, dù chính bản thân không thực hiện, chỉ chia phần tang vật thì cũng xử chém Nếu cùng thực hiện thì không nói đến việc chia tang vật, không chia tang vật, chỉ theo bọn mà làm cho có của tiền thì không chia thủ tòng đều bị chém cả Nếu không biết việc trộm nọ, chỉ là chứa tạm thì không buộc tội

Nếu không cùng đi ăn trộm và cũng không chia tang vật thì phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm

Về mưu kế, kẻ chứa đồ gian chưa có thâm ý lập mưu, chỉ là cùng biết mưu kế của giặc và cùng thực hiện nhưng không chia tang vật hay có chia tang vật nhưng không cùng thực hiện vụ trộm, thì đều xử chém cả Nếu không làm, không chia tang vật, thì phạt 100 trượng [26, tr 650]

Hoàng việt luật lệ đã có phần giải thích cụ thể về tội trên:

Điều này chuyên luận về tội chứa đồ gian Trộm cắp thì phải

có kẻ chứa đồ gian, nhưng kẻ chứa đồ gian có chia ra hai hạng để buộc tội là cố ý cùng mưu, có làm hay không làm, có chia tang vật hay không chia tang vật Trước nổi lên ý ăn trộm, rồi đi ăn trộm ngay, chỉ huy cân nhắc ắt là tùy công mà chia tang vật, thì xử cầm đầu là người tạm thời cố ý ăn trộm, còn các người khác, xử tội a tòng Còn như bạo trộm thì không chia thủ, tòng Đây là nói sơ qua

về ăn trộm Tiết kế đây luận về ăn trộm không dự mưu kế, nhân đó luận về người chứa đồ gian, nhưng không hẳn chỉ chủ chứa đồ gian

vì gọi là chủ chứa đồ gian là người ra lịnh, chiêu tập kiểm soát gom

về của nhiều người để chứa giấu tại nhà, khác gì ăn trộm được chia tang vật Cho nên, người chứa đồ gian là cùng nghĩa ăn trộm Nếu

có lúc không đồng mưu, mà kẻ khác ăn trộm đem chứa đồ gian nơi nhà người này thì đều là có mưu ăn trộm cả Nay nói hai việc ấy có khác âm mưu, cùng gặp cùng ăn trộm thì chẳng phải là chuyên chỉ

Trang 20

cho kẻ chưa đồ gian có thể hiểu

- Hoặc tình cờ ở nhà, liền cùng tham gia ăn trộm, thì cũng vậy, không được coi là chứa đồ gian

- Còn như biết đồ ăn cướp bán ra, đồ dụ dỗ lấy, sau khi bạo trộm chia các tang vật lấy được, thì tính theo số đó thuộc về mình,

xử theo tội a tòng chứa đồ gian ăn trộm, khỏi xăm chữ Đây không nói về thỏa thuận láy và ép buộc, hăm dọa, gian trá mà lấy được đều

là loại ấy cả, vì sức ép buộc do dọa nạt gian trá lấy được, đối với luật gốc, là của cải của người bình thường, nay lấy một cách không bình thường Và tang vật ăn trộm lại không giống của cải bình thường, cho nên lấy việc sau khi chia tang vật trộm được mà buộc tội, không xử theo luật gốc

- Nếu biết rõ đó là tang vật ăn trộm mà nhận cho gởi, chứa cất thì tính số tang vật gởi ấy để buộc tội, giảm 1 bậc so với cố ý mua, như cố ý mua tang vật ấy 100 lạng chia làm hai làm 50 lạng, phạt 70 trượng, giảm 1 bậc nhân gởi còn 60 trượng Mút tội cố ý mua, nhận gởi là 100 trượng

- Nếu không biết đồ trộm, không mua lầm, không nhận cho gởi thì không tội [26, tr 651-652]

Từ quy định trên có thể thấy, Hoàng việt luật lệ đã quy định tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có ở những điểm đáng chú ý sau:

Thứ nhất, tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, có liên

quan đến một tội chính là tội trộm cắp tài sản

Thứ hai, nếu cố ý cùng thực hiện tội trộm cắp dưới dạng giúp sức,

chứa chấp tài sản trộm cắp được, được chia tang vật trộm cắp được, thì bị xử chém cùng những người trộm cắp Điều này thể hiện sự nghiêm khắc của Bộ luật Gia Long đối với tội trộm cắp tài sản

Thứ ba, nếu cùng thực hiện tội trộm cắp và sau đó chứa chấp tài sản

Trang 21

trộm cắp được, thì không cần biết có được chia tang vật trộm cắp được hay không, đều bị xử chém

Thứ tư, trường hợp người chứa chấp tài sản trộm cắp được không thực

hiện tội trộm cắp và cũng không được chia tang vật trộm cắp được, thì phạt

100 trượng, lưu 3.000 dặm

Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, Hoàng Việt luật lệ đã có quy định về hiệu lực Bộ luật này theo không gian và theo thời gian Về hiệu lực của Bộ luật này đối với các hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, Điều 33 - Người ngoại quốc phạm tội - Hoàng Việt luật lệ quy định: "Hết thảy người ngoại quốc phạm tội thì cũng y luật xử trị Người ngoại quốc khi đến (nước nào) là lệ thuộc vào dân bản xứ, như vua, dân nước nầy có tội, cũng theo luật mà xử, chỉ cho họ biết rằng mọi hành vi không nằm ngoài pháp luật" [25, tr 195] Về hiệu lực của Bộ luật này theo thời gian, Điều 42 - Xử theo luật mới ban - Hoàng Việt luật lệ quy định: "Phàm luật bắt đầu áp dụng là từ ngày ban xuống Nếu phạm tội trước đó, y luật mới mà xử như việc phạm tội lúc chưa định lệ thì vẫn y luật và các lệ đã thi hành mà xử" [25, tr 207-208] Như vậy, người ngoại quốc phạm tội chứa đồ gian (chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có) trên lãnh thổ Việt Nam, thì đều có thể bị xử lý theo quy định được đề cập ở trên

Thời kỳ nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, chúng thực hiện chính sách "chia để trị", chia đất nước Việt Nam làm ba xứ với ba chế độ chính trị khác nhau Nam Kỳ là đất thuộc địa, không còn quan hệ phụ thuộc vào triều đình Huế; Bắc Kỳ là đất "nửa bảo hộ" đặt dưới quyền cai trị của một viên thống sứ người Pháp; ở Trung Kỳ, triều đình bù nhìn vẫn còn được duy trì với danh hiệu "Chính phủ Nam triều", nhưng quyền hành thực tế nằm trong tay viên khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Trung Kỳ Sắc luật ngày 31/12/1912 của Toàn quyền Đông Dương đã sửa đổi 56 điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải (Code pénal modifié) và cho áp dụng tại Nam kỳ Ở Bắc Kỳ, Nghị định ngày 2/12/1921 của Toàn quyền Đông Dương

Trang 22

đã cho áp dụng Luật hình An Nam Ở Trung Kỳ, bằng Dụ số 43 ngày 31/7/1933 của Bảo Đại, Hoàng Việt hình luật được ban hành

Khoản 6 Điều 351 Hoàng Việt hình luật đã đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có:

Người nào tri tình mà oa trữ một phần hay toàn phần của trộm cướp, hoặc của lừa gạt hoặc của gì do sự phạm tội đại hình hay trừng trị mà lấy được

Nếu xét quả của oa trữ ấy do sự phạm tội đại hình mà lấy được, thời người oa trữ sẽ bị phạt một nửa tội danh mà luật đã định phạt về tội đại hình ấy và về trọng hình trong tội đại hình ấy mà người oa trữ đã tri tình Tuy nhiên, nếu tội danh ấy là tử hình hay khổ sai chung thân, thời người oa trữ sẽ bị phạt khổ sai từ 6 năm đến 20 năm [21, tr 470-471]

Từ quy định trên có thể thấy, tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có đã được Hoàng Việt hình luật đề cập cụ thể hơn so với quy định tương ứng trong Hoàng Việt luật lệ Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có không chỉ liên quan tội trộm cắp tài sản như trong Hoàng Việt luật lệ, mà có thể liên quan đến những tội phạm khác, và hình phạt đối với tội này chỉ bằng một nửa hình phạt đối với tội phạm mà nó liên quan, trừ trường hợp nếu hình phạt đối với tội phạm mà nó liên quan là tử hình, hay khổ sai chung thân, thì người phạm tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà

có sẽ bị phạt khổ sai từ 6 năm đến 20 năm Đây có thể coi là một bước tiến bộ đáng kể về kỹ thuật lập pháp hình sự đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Hoàng việt hình luật

1.1.3 Thời kỳ từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến nay

Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền nhân dân non trẻ phải đối mặt với những khó khăn chồng chất Nền kinh tế của đất nước

Trang 23

vốn đã nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét xác xơ, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá Trong tình hình đó, nhân dân ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn, đó là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm và "Đảng ta xác định giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu" [30, tr 468]

Để bảo vệ những công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia, Nhà nước ta cũng đã ban hành Sắc lệnh số 26/SL ngày 25-02-1946 trừng trị nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu cống, đường xe lửa, đường giao thông, đê đập, các nhà máy điện, nhà máy nước, dây điện thoại, điện tín Đáng chú ý, Sắc lệnh này đã đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội

mà có: "những kẻ oa chữ các dây điện thoại hay dây điện tín cũng bị phạt như những kẻ ăn trộm các đồ vật ấy" [3, tr 113] Như vậy, trong quy định này, phạm

vi đồng phạm được quy định rộng, bao gồm cả hành vi oa chữ tức là hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, không phân biệt có hứa hẹn trước hay không Tương tự như vậy, Điều 2 Sắc lệnh số 27-SL ngày 28-02-1946 về truy tố các tội bắt cóc, tống tiền, ám sát quy định: "Những người tòng phạm hoặc oa chữ những tang vật của tội phạm trên cũng bị phạt như chính phạm" [3, tr 79]

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay sai thống trị Ở miền Bắc, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả nước; ở miền Nam, tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ nhằm giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta đòi hỏi việc quản lý nền kinh tế quốc dân phải đi đúng các quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa Những quy luật ấy được thể hiện thành chính sách, pháp luật, chế độ, thể lệ của Nhà nước, thành một hệ thống những quy định đồng bộ thống nhất mà mọi người phải chấp hành thống nhất, đầy đủ, nghiêm chỉnh Để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần phải xây dựng, bổ sung các luật lệ về kinh tế, tài chính, dân

sự, lao động, hình sự và có biện pháp bảo đảm cho những luật lệ đó được thi

Trang 24

hành có hiệu quả Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa được Nhà nước ta ban hành ngày 21-10-1970 cũng là nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hỗ trợ đắc lực cho việc bảo vệ sở hữu xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực của các luật lệ khác về tài chính, kinh tế và góp phần giáo dục sâu sắc các quan điểm về quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa Việc ban hành cùng một lúc hai pháp lệnh: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, không những đối với tài sản xã hội chủ nghĩa, mà cả đối với tài sản riêng của công dân

Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt như sau:

1 Kẻ nào biết rõ tài sản xã hội chủ nghĩa đã bị chiếm đoạt mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây:

a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức;

c) Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản với số lượng lớn hay là tài sản có giá trị đặc biệt;

d) Dùng tài sản chứa chấp vào việc kinh doanh, bóc lột, đầu

cơ, đút lót hoặc vào những việc phạm tội khác; thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm

Trong Pháp lệnh trên, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt được hiểu là tội phạm do người tuy đã biết rõ là tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt, nhưng vẫn chứa chấp, tiêu thụ dưới bất kỳ hình thức nào (mua để dùng, mua đi bán lại, nhận bán hộ, nhận giữ hộ, cầm cố, gán nợ…) Những hành vi này đã gián tiếp khuyến khích người trực tiếp chiếm đoạt bất hợp pháp tài sản xã hội chủ nghĩa Điểm quan trọng là phải xác định

Trang 25

rõ ý thức chủ quan của người phạm tội Nếu không biết được tài sản bị chiếm đoạt, thì việc chứa chấp, tiêu thụ không cấu thành tội phạm Pháp lệnh này đã phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt với tính chất là tội phạm độc lập (có khung hình phạt tương đối nhẹ), mà đặc điểm là người chứa chấp, tiêu thụ không cùng với người chiếm đoạt tài sản bàn bạc trước, thỏa thuận trước, không đồng phạm tội trộm cắp, lừa đảo, tham

ô hoặc chiếm đoạt khác (với mức hình phạt nặng hơn)

Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân được Nhà nước ta ban hành ngày 21-10-1970, cũng đã quy định tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt tại Điều 13:

1 Kẻ nào biết rõ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản đó thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm

2 Phạm tội trong những trường hợp sau đây:

a) Có tính chất chuyên nghiệp hoặc tái phạm nguy hiểm; b) Có tổ chức;

c) Chứa chấp hoặc tiêu thụ một số lớn tài sản; thì bị phạt tù

từ 2 năm đến 10 năm

Như vậy, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản riêng của công dân bị chiếm đoạt và tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt đều cơ bản giống nhau về tội danh, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng, chỉ có khác là khung hình phạt thấp hơn một cách đáng kể

Sau khi giải phóng miền Nam năm 1975, trong khi chờ đợi thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, trên thực tế về hình thức, tạm thời tồn tại hai Nhà nước: Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam; mỗi Nhà nước có pháp luật riêng [22, tr 35] Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành ngay một số chính sách, văn bản quy phạm pháp luật hình sự nhằm phục vụ thực hiện một trong những nhiệm vụ

Trang 26

quan trọng, cấp bách là trấn áp bọn phản cách mạng và tội phạm khác, bảo vệ vững chắc an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội ở nửa đất nước mới được giải phóng

Cùng với việc ban hành Sắc luật về tổ chức Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, Sắc luật quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà

ở, đồ vật của Người phạm tội, Nhà nước Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15-03-1976 quy định các tội phạm và hình phạt Sắc luật gồm 4 chương, 12 điều, quy định 7 loại tội phạm: 1) Tội phản cách mạng; 2) Tội xâm phạm tài sản công cộng; 3) Tội xâm phạm đến thân thể và nhân phẩm của công dân; 4) Tội phạm kinh tế; 5) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn và tội hối lộ; 6) Tội xâm phạm tài sản riêng của công dân; 7) Tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Điểm đ Điều 4 Sắc lệnh quy định: "Biết rõ tài sản đã bị chiếm đoạt

là tài sản công mà vẫn chứa chấp hoặc tiêu thụ thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm Trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến 12 năm" Như vậy, quy định này tương tự như tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa được quy định tại Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Thông tư số 03-BTP, ngày 15-04-1976 của Bộ Tư pháp, Chính phủ Cách mạng lâm thời đã hướng dẫn cụ thể về tội này như sau:

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản công cộng bị chiếm đoạt

là hành vi của những kẻ tuy không có hứa hẹn trước nhưng đã biết

rõ là tài sản công bị chiếm đoạt mà vẫn cố ý chứa chấp hoặc tiêu thụ Hành vi của bọn này tiếp tay cho bọn chiếm đoạt tài sản công cộng Chống tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản công cộng bị chiếm đoạt là nhằm ngăn chặn nguồn cất giữ, tiêu thụ tài sản công cộng bị

kẻ gian chiếm đoạt

Trường hợp có sự bàn nhau trước giữa những kẻ chiếm đoạt tài sản công cộng với kẻ cất giữ hoặc tiêu thụ thì phải coi là cùng nhau phạm tội chiếm đoạt (cộng phạm) và phải xử theo khoản a

Trang 27

hoặc b Điều 4 của Sắc luật, mà không coi là tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản công cộng bị chiếm đoạt

Trường hợp chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản nhưng không biết rõ là tài sản công cộng bị chiếm đoạt, thì không xử phạt về tội này, nhưng tài sản đó phải được thu hồi lại cho Nhà nước, cho hợp tác xã hoặc cho tập thể nhân dân, tức là trả lại cho cơ quan, tập thể

đã bị mất tài sản đó

Những kẻ phạm các tội xâm phạm tài sản công cộng, ngoài những hình phạt tù giam có thời hạn, tù chung thân hoặc tử hình, còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Đây là hình phạt phụ mà Tòa án không bắt buộc phải tuyên [6, tr 161]

Ở miền Bắc, Tòa án nhân dân tối cao cũng đã tổng kết kinh nghiệm về việc xét xử các vụ án đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó có đề cập vấn đề người lớn chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người chưa thành niên chiếm đoạt Công văn số 37-NCPL ngày 16-01-1976 của Tòa án nhân dân tối cao đã nêu:

Trường hợp sau cùng là trường hợp chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người chưa thành niên trộm cắp chiếm đoạt (trường hợp này khác với trường hợp nói ở phần trên là ở chỗ can phạm không chứa chấp, tụ tập bản thân người chưa thành niên, mà chỉ có quan hệ về mặt chứa chấp, tiêu thụ tài sản bi chiếm đoạt, tính chất có ít nghiêm trọng hơn) Có thể là hẹn trước nếu lấy được sẽ tiêu thụ, tức là hình thức cộng phạm; có thể chỉ là tiêu thụ sau khi người chưa thành niên đã chiếm đoạt tài sản, tức là phạm một tội riêng biệt Hiện nay, thường có khuynh hướng xử nhẹ bọn này, vì cho rằng bọn chúng không trực tiếp đi chiếm đoạt Cần thấy rõ tính chất nguy hiểm của bọn chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người chưa thành niên chiếm đoạt được, không kể là có hứa hẹn trước hoặc không hứa hẹn trước (đương nhiên nếu có hứa hẹn trước tức là cộng phạm thì nguy hiểm

Trang 28

hơn), vì hành vi này đã khuyến khích người chưa thành niên hoạt động phạm tội Do đó về nguyên tắc, đối với bọn chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người chưa thành niên chiếm đoạt được, thì phải xử nặng hơn bọn chứa chấp, tiêu thụ tài sản do bọn trộm cắp tài sản lớn tuổi chiếm đoạt được mới hợp lý, vì bọn này, ngoài tác hại

về mặt tài sản, còn gây tác hại đối với việc giáo dục lứa tuổi trẻ [6,

tr 61]

Từ năm 1975 đến năm 1979, trong bối cảnh bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận và phải đối phó với hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới phía Tây Nam và phía Bắc, chúng ta còn phải đương đầu với những khó khăn chồng chất và gay gắt về kinh tế và đời sống; tình hình tiêu cực, nhất là

tệ hối lộ diễn biến phức tạp Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ

6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã đề ra chủ trương: "Kiên quyết đấu tranh khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và xã hội, nhất là tệ ăn cắp, hối lộ, ức hiếp quần chúng" [31, tr 8] Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng, ngày 20-05-1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Sự ra đời của Pháp lệnh là một sự kiện pháp lý quan trọng, góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, động viên, cổ vũ mọi công dân tích cực đấu tranh chống tệ hối lộ và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác trong xã hội Tuy nhiên, trong Pháp lệnh này, nhà làm luật không đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Trong thời gian từ năm 1978 đến những năm 1980, 1981, tình hình đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép diễn biến phức tạp, gây rối loạn thị trường, ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch nhà nước và đời sống của nhân dân Đấu tranh chống tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép và những hiện tượng tiêu cực trên thị trường là một yêu cầu cấp bách nhằm thiết lập trật tự xã hội chủ nghĩa trên mặt trận phân phối lưu thông, góp phần ổn định giá cả, thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân Pháp

Trang 29

lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30-06-1982 là để đáp ứng yêu cầu trên và nguyện vọng của nhân dân Tuy nhiên, cũng như Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ, trong Pháp lệnh này, nhà làm luật cũng không đề cập tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã giành được những thành tựu quan trọng trên một số lĩnh vực, tạo ra những cơ

sở đầu tiên cho sự phát triển mới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn

đó, chúng ta đã gặp phải nhiều khó khăn và khuyết điểm như không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn; pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm được tăng cường; pháp luật, kỷ cương bị buông lỏng Mặt khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta Vì vậy, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ngày 27-06-1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, đã thông qua Bộ luật hình sự,

có hiệu lực từ ngày 01-01-1986 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1985) Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 201, mục B - Các tội xâm phạm trật tự công cộng

Điều 201 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

Trang 30

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tài sản, vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc có giá trị lớn; c) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm

So với các quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong các văn bản pháp luật hình sự đơn hành trước đây, quy định

về tội phạm này trong Bộ luật hình sự năm 1985 đã có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, so với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản riêng của công dân

bị chiếm đoạt, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản xã hội chủ nghĩa bị chiếm đoạt, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản công cộng bị chiếm đoạt trong các văn bản pháp luật hình sự đơn hành trước đây, tội danh chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Bộ luật hình sự năm 1985 có tính khái quát cao hơn, nội hàm rộng, chính xác hơn

Thứ hai, thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật, tạo điều

kiện cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong áp dụng pháp luật, Bộ luật hình sự năm 1985 đã quy định ba khung hình phạt, ngoài khung cơ bản, còn có hai khung tăng nặng hình phạt So với các văn bản pháp luật hình sự đơn hành, quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Bộ luật hình sự năm 1985, thể hiện sự phân hóa trách nhiệm hình sự rõ ràng, với các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt cụ thể hơn

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, việc sửa đổi toàn diện

Bộ luật hình sự năm 1985 là một đòi hỏi khách quan của hoạt động lập pháp hình sự Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 21-12-1999, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại kỳ họp thứ 6, khóa X đã thông qua Bộ luật hình sự

Trang 31

(sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999), thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985 Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01-7-2000 Trong

Bộ luật hình sự năm 1999, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 250 chương XIX Các tội xâm phạm

an toàn công cộng, trật tự công cộng:

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền

từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;

d) Thu lợi bất chính lớn;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn;

b) Thu lợi bất chính rất lớn;

4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn;

b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn

5 Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một

Trang 32

trong hai hình phạt này

So với quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, tại khung cơ bản, có bổ sung thêm hình phạt tiền từ năm

triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, nâng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm và nâng mức khởi điểm của hình phạt tù có thời hạn lên sáu tháng

Thứ hai, tiếp tục phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật để tạo điều

kiện cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật bằng việc quy định ba khung hình phạt tăng nặng, trong đó có quy định các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt cụ thể như: có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn, thu lợi bất chính lớn, tái phạm nguy hiểm, tài sản, vật phạm pháp có giá trị rất lớn, thu lợi bất chính rất lớn; tài sản, vật phạm pháp có giá trị đặc biệt lớn, thu lợi bất chính đặc biệt lớn

Thứ ba, quy định thêm hình phạt bổ sung để tăng mức trừng phạt, răn

đe đối với loại tội phạm này

1.3 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Nghiên cứu những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Nga, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển… cho thấy, các nước đã ghi nhận tội phạm này trong pháp luật hình sự nước mình với các quy định khác nhau

Bộ luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào quy định loại tội phạm này tại hai điều luật với các chế tài khác nhau Điều 107 Tội tàng trữ, mua

Trang 33

bán tài sản của Nhà nước hoặc của tập thể bị chiếm đoạt, chương IV Các tội xâm phạm quyền sở hữu tập thể của Nhà nước hoặc sở hữu tập thể quy định:

Người nào biết rõ tài sản của Nhà nước hoặc của tập thể bị chiếm đoạt do cướp, trộm cắp, lừa đảo, tham ô hoặc bằng các hành

vi trái pháp luật khác mà cất giữ, mua bán, thì bị phạt tước quyền tự

do từ ba tháng đến hai năm

Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, có tổ chức thành băng hoặc trường hợp gây thiệt hại lớn thì bị phạt tước quyền

tự do từ một năm đến năm năm [14, tr 33-34]

Điều 115 Tội cất giữ, mua bán tài sản của công dân bị chiếm đoạt, chương V Các tội xâm phạm quyền sở hữu của công dân quy định:

Người nào biết rõ tài sản của người khác bị chiếm đoạt bằng cách cướp, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo, lợi dụng tín nhiệm hoặc bằng các phương pháp khác mà vẫn lấy, mua, cất giữ hoặc mang đi bán thì bị phạt tước quyền tự do từ ba tháng đến một năm

Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, có tổ chức thành băng hoặc trường hợp gây thiệt hại lớn thì bị phạt tước quyền

tự do từ một năm đến năm năm [14, tr 36]

Như vậy, trong pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định không cần phân biệt có hứa hẹn trước hay không? Theo pháp luật hình sự nước này, chỉ cần biết rõ tài sản của Nhà nước hoặc của tập thể bị chiếm đoạt

do cướp, trộm cắp, lừa đảo, tham ô hoặc bằng các hành vi trái pháp luật khác

mà cất giữ, mua bán hoặc biết rõ tài sản của người khác bị chiếm đoạt bằng cách cướp, cướp giật, trộm cắp, lừa đảo, lợi dụng tín nhiệm hoặc bằng các phương pháp khác mà vẫn lấy, mua, cất giữ hoặc mang đi bán, thì hành vi đó cấu thành tội phạm tương ứng được quy định tại Điều 107 hoặc Điều 115

Trang 34

Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1996 của Liên bang Nga quy định về tội sở hữu hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ do phạm tội mà có như sau:

1 Không hứa hẹn trước mà sở hữu hay tiêu thụ tài sản biết

rõ do phạm tội mà có,

- Thì bị phạt tiền từ 50 lần đến 100 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian đến 1 tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ 180 giờ đến 240 giờ hoặc lao động cải tạo từ 1 năm đến 2 năm

1 Cũng hành vi đó, nếu:

a) Do người trước đây đã bị kết án về tội chiếm đoạt, cưỡng đoạt hoặc sở hữu hay tiêu thụ tài sản biết rõ do phạm tội mà có;

b) Với số lượng lớn;

c) Do một nhóm người có dự mưu thực hiện,

- Thì bị phạt hạn chế tự do đến 3 năm hoặc bị phạt giam từ 4 tháng đến 6 tháng hoặc bị phạt tù đến 4 năm, bị phạt tiền đến 50 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian đến 1 tháng

2 Hành vi quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này nếu do một nhóm người có tổ chức thực hiện,

- Thì bị phạt tù đến 5 năm, bị phạt tiền đến 100 lần mức thu nhập tối thiểu hay mức lương hay khoản thu nhập khác của người bị kết án trong thời gian đến 1 tháng [35, tr 97]

Từ quy định trên cho thấy, quy định về tội sở hữu hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ do phạm tội mà có trong pháp luật hình sự Liên bang Nga về cơ bản tương tự như quy định tương ứng trong pháp luật hình sự Việt Nam, chỉ có khác về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt và chế tài hình sự được

áp dụng Việc quy định tội hợp pháp hóa (tẩy rửa) tiền hoặc tài sản có được

Trang 35

một cách bất hợp pháp là một kinh nghiệm lập pháp hình sự có giá trị mà các nhà lập pháp hình sự Việt Nam cần tham khảo, bởi lẽ hành vi hợp pháp hóa tiền hoặc tài sản có được một cách bất hợp pháp chưa được tội phạm hóa trong luật hình sự Việt Nam

Khác với pháp luật hình sự Liên bang Nga, pháp luật hình sự Nhật Bản quy định chương XXXIX về các tội liên quan đến tài sản có được do phạm tội Điều 256 Bộ luật hình sự Nhật Bản quy định về tội nhận, mua bán tài sản do phạm tội mà có như sau:

1 Người nào nhận tài sản có được do phạm các tội về tài sản thì bị phạt tù có lao động bắt buộc đến 3 năm

2 Người nào vận chuyển, nhận đặt cọc, mua bán hoặc hành động với tư cách là người môi giới cho những hoạt động bằng tài sản có được do phạm các tội về tài sản thì bị phạt tù có lao động bắt buộc đến 10 năm hoặc bị phạt tiền đến 500.000 yên [12, tr 69] Điều 257 quy định về tội nhận, mua bán tài sản do phạm tội mà có giữa những người thân với nhau:

1 Người nào thực hiện tội phạm quy định tại Điều 256 trên đây thì được miễn hình phạt, nếu tội phạm xảy ra giữa những người thân thích cùng dòng máu trực hệ, giữa vợ chồng hoặc giữa những người thân thích cùng chung sống trong gia đình và vợ hoặc chồng của những người đó

2 Các quy định của khoản 1 trên đây không áp dụng đối với những người đồng phạm là người không thân thích [12, tr 70] Như vậy, trong pháp luật hình sự Nhật Bản, hành vi vận chuyển, nhận đặt cọc, mua bán hoặc hành động với tư cách là người môi giới cho những hoạt động bằng tài sản có được do phạm các tội về tài sản, bị coi là phạm tội nhận, mua bán tài sản do phạm tội mà có So với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ

Trang 36

tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật hình sự Việt Nam, tội nhận, mua bán tài sản do phạm tội mà có trong pháp luật hình sự Nhật Bản có nội hàm rộng hơn, bao quát cả hoạt động sử dụng tài sản do phạm tội mà có vào hoạt động kinh doanh Đây là vấn đề cần được các nhà làm luật nước ta quan tâm, nghiên cứu

Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển có quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có tại chương 9 Tội lừa đảo và các tội gian dối khác Điều 6 Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển quy định:

Người nào mua tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc

sử dụng tài sản đó hoặc dính dáng với nó dưới các hình thức khác gây khó khăn cho việc truy thu, thì bị phạt tù đến hai năm về tội nhận tài sản trộm cắp Nếu tội phạm ít nghiêm trọng thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến sáu tháng

Quy định này cũng áp dụng đối với người nào thu lợi bất chính từ thu nhập do phạm tội mà có của người khác bằng việc thúc

nợ, chuyển nhượng tài sản hoặc các hình thức tương tự khác đòi quyền lợi từ tài sản do phạm tội mà có

Người nào trong các hoạt động kinh doanh hoặc một phần của hoạt động kinh doanh được tiến hành thường xuyên hoặc trên quy mô lớn mà có được tài sản hoặc bằng cách gây khó khăn cho việc thu hồi, nhận một tài sản nào đó mà người khác có thể suy luận một cách hợp lý là do phạm tội mà có, thì cũng bị kết án nhận tài sản do trộm cắp

Phạm tội nói ở đoạn 1 và đoạn 2 Điều này trong trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ sáu tháng đến bốn năm [27, tr 26] Điều 7 Bộ luật này có quy định về tội vô ý nhận tài sản bị trộm cắp:

Trang 37

Nếu người phạm tội nói tại đoạn 1 Điều 6 không biết nhưng

có cơ sở pháp lý để nhận định rằng đó là tài sản do người khác phạm tội mà có thì bị kết án về tội vô ý nhận tài sản bị trộm cắp và

bị phạt tiền hoặc phạt tù đến sáu tháng

Người nào đồng phạm các tội nói tại đoạn 1, Điều 6 trong trường hợp không biết nhưng có cơ sở để biết rằng tội phạm đang được thực hiện thì cũng bị xử phạt về tội vô ý nhận tài sản trộm cắp [27, tr 26]

Từ những quy định trên, có thể thấy, trong pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển, hành vi mua tài sản do người khác phạm tội mà có hoặc sử dụng tài sản đó hoặc dính dáng với nó dưới các hình thức khác gây khó khăn cho việc truy thu được coi là nguy hiểm cho xã hội hơn là hành vi mua tài sản

do người khác phạm tội mà có Mặt khác, pháp luật hình sự của nước này còn quy định hành vi nhận tài sản do người khác phạm tội mà có do không biết nhưng có cơ sở pháp lý để nhận định rằng, đó là tài sản do người khác phạm tội mà, thì phạm tội vô ý nhận tài sản bị trộm cắp Đây là một cách nhìn nhận mới của các nhà lập pháp nước này về loại hành vi này

Từ sự phân tích ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có trong pháp luật hình sự của các nước: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Nga, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển… rất khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm

lý xã hội của từng nước

Thứ hai, pháp luật hình sự Liên bang Nga có quy định tội hợp pháp

hóa (tẩy rửa) tiền hoặc tài sản có được một cách bất hợp pháp, còn pháp luật hình sự Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển không quy định tội rửa tiền thành

Trang 38

một tội độc lập, nhưng có đề cập hành vi này trong tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Thứ ba, pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển đã đề cập tội vô ý

nhận tài sản bị trộm cắp Việc ghi nhận tội phạm này trong pháp luật hình sự thể hiện trình độ văn hóa rất cao của nước này

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà

có, mặc dù có mối liên hệ về mặt khách quan với tội phạm do người khác thực hiện, nhưng không phải là nguyên nhân gây ra hậu quả của tội phạm đó Đây là đặc điểm giúp phân biệt hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với những hành vi của người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức trong đồng phạm Hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là hành vi nguy hiểm cho

xã hội, nhưng nó không nằm trong mối liên kết thống nhất với tội phạm được thực hiện bởi người khác Người thực hiện tội phạm trước đó không biết trước được việc tài sản do mình mang về từ hành vi phạm tội sẽ được người khác chứa chấp hoặc tiêu thụ Điều đó có nghĩa, hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không tác động vào mặt ý thức chủ quan đối với người thực hiện hành vi phạm tội trước đó, không ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tội phạm của người đó

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có đã được quy định rất sớm trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam Điều đó chứng tỏ, các Nhà nước phong kiến đã nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này Đáng chú ý, trong Bộ luật Hồng Đức, tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được nhà làm luật đánh giá là ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm chính (ăn trộm) Người mua phải đồ gian, nhưng ngay tình, thì được lấy lại số tiền đã mua ở người bán, còn đồ

Trang 39

gian thì được trả lại cho người mất trộm Đây là quy định rất hợp lý, hợp tình, thể hiện trình độ kỹ thuật lập pháp rất cao của Bộ luật Hồng Đức

Nghiên cứu những quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong pháp luật hình sự của các nước: Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Liên bang Nga, Nhật Bản, Vương quốc Thụy Điển… cho thấy, tội phạm này được quy định rất khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý xã hội của từng nước

Trang 40

Chương 2

NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TẢI SẢN DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỨA CHẤP HOẶC TIÊU THỤ TÀI SẢN

DO NGƯỜI KHÁC PHẠM TỘI MÀ CÓ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có như sau:

1 Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản, vật phạm pháp có giá trị lớn;

d) Thu lợi bất chính lớn;

e) Tái phạm nguy hiểm

3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Tài sản vật phạm pháp có giá trị rất lớn;

b) Thu lời bất chính rất lớn;

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thống kê số liệu về số vụ án, bị cáo phạm tội chứa chấp   hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong cả nước - Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong luật hình sự Việt Nam
Bảng 1.1. Thống kê số liệu về số vụ án, bị cáo phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có trong cả nước (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm