1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em trong Luật Hình sự Việt Nam

95 732 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với cách lập luận như trên, ILO cho rằng “Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em những người dưới 18 tuổi phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN ĐỨC THẮNG

TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH

VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Hình sự

Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH Lê Văn Cảm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những kết quả và nội dung của luận văn là trung thực, chưa được công bố ở những công trình nghiên cứu khác

Tác giả

Trần Đức Thắng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 5

1.1 Khái niệm trẻ em và lao động trẻ em 5

1.1.1 Khái niệm trẻ em 5

1.1.2 Khái niệm lao động trẻ em 6

1.2 Đặc điểm của người lao động chưa thành niên 19

1.3 Phân loại người lao động chưa thành niên 24

1.4 Các tố ảnh hưởng đến lao động trẻ em 28

1.4.1 Các quan niệm truyền thống 28

1.4.2 Sự phát triển kinh tế 29

1.4.3 Giáo dục và các yếu tố khác 29

1.5 Vai trò của pháp luật lao động đối với việc bảo vệ lao động trẻ em 31

1.5.1 Pháp luật lao động là hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ trẻ em trong quan hệ lao động 31

1.5.2 Pháp luật lao động tạo sự công bằng trong việc bảo vệ lao động trẻ em 32

1.5.3 Pháp luật lao động hình thành ý thức xã hội về việc bảo vệ lao động trẻ em 33

Chương 2: TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 34

2.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 34

Trang 4

2.1.1 Khách thể của tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em 34

2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm 37

2.1.3 Chủ thể của tội phạm 51

2.1.4 Mặt chủ quan của tội phạm 53

2.2 Hình phạt đối với tội sử dụng lao động trẻ em trong Bộ luật Hình sự năm 1999 56

Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM 60

3.1 Yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự về lao động trẻ em 60

3.1.1 Khắc phục những nhược điểm còn tồn tại trong hệ thống pháp luật lao động 60

3.1.2 Bảo đảm phù hợp với các nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về người lao động chưa thành niên 61

3.1.3 Đảm bảo phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam 62

3.1.4 Bảo đảm phù hợp với điều kiện hội nhập quốc tế 64

3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em 68

3.2.1 Các biện pháp liên quan đến hoạt động tuyên truyền trong cộng đồng về phòng, chống tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em 69

3.2.2 Các biện pháp thuộc về hoạt động quản lý nhà nước có liên quan 73

3.2.3 Các biện pháp liên quan đến nạn nhân của tội phạm 76

3.2.4 Các biện pháp liên quan đến hoạt động đấu tranh chống tội vi phạm các quy định về sử dụng lao động trẻ em 79

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm

2010, cả nước có 26.027 trẻ em phải tham gia vào các hình thức lao động Nếu thống kê từ năm 2006 thì đã có khoảng 930.000 lao động trẻ em tham gia các hoạt động kinh tế

Kết quả khảo sát cho thấy gần 45% trẻ em phải làm việc trong điều kiện không đảm bảo về nhiệt độ, ánh sáng; gần 40% phải làm việc trong môi trường có nồng độ bụi cao ảnh hưởng đến sức khoẻ và trên 27% bị ảnh hưởng của hoá chất độc, ô nhiễm không khí, hơi, khí độc hại nơi làm việc Theo báo cáo này, lao động trẻ em thường ở độ tuổi từ 10-14 tuổi, chiếm 72,6% tổng số trẻ em đang tham gia lao động được khảo sát Tiếp đến là nhóm tuổi từ 15-17 tuổi (chiếm 17%) và nhóm 6-9 tuổi (chiếm khoảng 10%) Khảo sát cũng cho thấy lao động trẻ em đang làm việc chiếm tỷ trọng cao nhất trong lĩnh vực nông nghiệp, thương mại - dịch vụ và thấp nhất là trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Thời gian làm việc bình quân theo ngày của lao động trẻ em phổ biến ở mức từ 4-5 giờ Nhóm lao động trẻ em làm thuê có thời gian làm việc trong ngày nhiều nhất trong số lao động trẻ em với thời gian làm việc trên 6 giờ/ ngày, thậm chí tại những cơ sở may, chế biến thực phẩm vào mùa vụ sản xuất

có thể làm việc tới 8-9 hoặc 10-12 giờ/ ngày

Ở VN, lao động trẻ em vẫn còn là vấn đề gây nhiều tranh cãi Mặc dù luật pháp VN cấm sử dụng lao động trẻ em dưới 15 tuổi nhưng trẻ em vẫn phải chia sẻ gánh nặng công việc và trách nhiệm gia đình ở cả nông thôn lẫn thành thị Chủ sử dụng lao đô ̣ng thường chọn lao động trẻ em vì chúng dễ tìm

Trang 6

kiếm, tiền công thấp và dễ sai bảo Theo nhâ ̣n định của những người làm công tác chăm sóc bảo vê ̣ tr ẻ em thì chính sự nghèo đói, gia tăng dân số nhanh ở các thành phố lớn, công nghiệp hoá, đô thị hoá, vấn đề di cư đến các đô thị phát triển… là những nhân tố góp phần làm gia tăng lao động trẻ em

Những năm qua, cùng với việc ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, các cơ quan có thẩm quyền cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, có một số quy định của luật hình sự về bảo vệ trẻ em còn chưa chuẩn xác và không phù hợp với diễn biến thực tế của tình hình tội phạm Các tội phạm xâm hại trẻ em có diễn biến phức tạp, ngày càng xuất hiện nhiều hành vi phạm tội với những phương pháp thủ đoạn mới, tinh vi xảo quyệt và nguy hiểm hơn trước Điều đó đã làm cho một số quy định của luật hình sự không đáp ứng được yêu cầu làm cơ sở pháp lý cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ trẻ em, đặc biệt là hành vi vi phạm các quy định về lao động trẻ em

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu vấn đề trẻ em và lao động trẻ em là một vấn đề có tính cấp thiết cả về lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên, số lượng các bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này lại không nhiều Và đặc biệt tài liệu nghiên cứu về lao động trẻ em nhìn từ góc độ pháp luật còn ít Có một số tài liệu nghiên cứu như: Vấn đề lao động trẻ em, Vũ Ngọc Bình, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002; Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Vụ pháp luật hình sự hành chính, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2005; Vấn đề lao động trẻ em - Thực trạng và giải pháp, BS Nguyễn Trọng An, Phó vụ trưởng

Vụ Trẻ em, Bé Lao động - Thương binh và Xã hội, 2007

Khác với các tài liệu nghiên cứu trên, hầu hết chỉ đưa ra các số liệu đánh giá thực trạng vấn đề lao động trẻ em và liệt kê các quy định hiện hành của pháp

Trang 7

luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động trẻ em, khóa luận đã đưa ra nhận xét, đánh giá những quy định này để từ đó kiến nghị các giải pháp phù hợp

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Lao động trẻ em là một vấn đề phức tạp, đề cập đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: văn hoá, giáo dục, y tế Mỗi lĩnh vực khác nhau có cách nhìn, cách nghiên cứu khác nhau về vấn đề này Ở đây, khóa luận chỉ nghiên cứu đến những vấn đề pháp luật điều chỉnh quan hệ lao động trẻ em ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến quy định pháp luật quốc tế và một số quy định mang tính so sánh của một số nước trên thế giới

4 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là góp phần xây dựng hệ thống các khái niệm về trẻ em, lao động trẻ em; xác định vai trò của lao động trẻ em trong hệ thống quan hệ lao động và trong xã hội; chỉ ra thực trạng của những quy định của pháp luật về lao động trẻ em đồng thời đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại của các quy định đó nhằm đề ra biện pháp bảo vệ lao động trẻ em

5 Những đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần xây dựng hệ thống các khái niệm, quan điểm và các vấn đề lý luận về lao động trẻ em, bảo vệ lao động trẻ em bằng pháp luật lao động Đề tài cũng góp phần hệ thống và phân tích khoa học các quy định chủ yếu của pháp luật lao động về lao động trẻ em và tìm hiểu thực trạng của việc

áp dụng các quy định đó trong thực tế Ngoài ra, đề tài còn đưa ra kết quả so sánh một số quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của pháp luật quốc tế và quy định của một số quốc gia trên thế giới Qua đó đề tài đã góp một tiếng nói chung nhằm bảo vệ trẻ em - thế hệ tương lai của đất nước

Trang 8

HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Chương 3: HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP

DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM

Trang 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ

SỬ DỤNG LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm trẻ em và lao động trẻ em

1.1.1 Khái niệm trẻ em

Trong khoa học, trẻ em được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thể Trong triết học, trẻ em được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển xã hội Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội Trong mọi thời đại, tương lai của một quốc gia, dân tộc đều tuỳ thuộc vào việc chăm sóc, bảo

vệ và giáo dục trẻ em

Trong xã hội học, xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người lớn Điều này thể hiện ở chỗ trẻ em được xã hội quan tâm tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triển thành người lớn Trẻ em là người chưa đạt tới sự trưởng thành về thể chất cũng như về tinh thần để được coi là người lớn

Trong tâm lý học, khái niệm "Trẻ em" được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý - nhân cách con người Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì [9]

Dưới khía cạnh pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo

“độ tuổi” Điều đó có nghĩa là một cá nhân có thể được coi là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào năm sinh của người đó tại thời điểm xác định Độ tuổi trẻ em được xác định tuỳ theo mỗi quốc gia, mỗi nền văn hoá - xã hội cụ thể Các tổ chức của Liên hợp quốc, như Quỹ dân số (UNFPA), tổ chức lao động quốc tế (ILO), tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá (UNESSCO) xác định

Trang 10

trẻ em là người dưới 18 tuổi Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm

1989 xác định “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” Điều 2 Công ước số 182 của Tổ chức lao động quốc tế

ban hành năm 1999 (Việt Nam gia nhập ngày 19/12/2000) cũng quy định

“Trong Công ước này, thuật ngữ „trẻ em‟ sẽ áp dụng cho tất cả những người dưới 18 tuổi”

Vấn đề trẻ em trên thế giới đang được cộng đồng nhân loại quan tâm ngày càng nhiều hơn trong vài thập kỷ qua Đã có những cam kết cấp toàn cầu

và những cố gắng bước đầu được thực hiện để đem lại cho trẻ em một tương lai tốt đẹp hơn Tuy nhiên, để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về trẻ em lại là một điều không đơn giản, bởi hệ thống chính trị, nền văn hoá và hoàn cảnh sống của các quốc gia khác nhau, nên khái niệm trẻ em ở mỗi quốc gia cũng được hiểu không giống nhau Chính vì thế, Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 chỉ đưa ra ngưỡng độ tuổi cao nhất là 18 tuổi để xác định tuổi của trẻ

em: “Trẻ em là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng thành niên sớm hơn” Hay trong Điều 2

Công ước số 182 về loại bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (gọi tắt

là Công ước số 182) cũng có quy định: “Vì mục đích của Công ước này, thuật ngữ “trẻ em” sẽ được áp dụng cho tất cả những ai dưới 18 tuổi”[9]

Việt Nam là quốc gia đầu tiên của Châu Á và là quốc gia thứ 2 trên thế giới tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em vào năm 1990 Theo đó,

Điều 1 Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 đã quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi”

1.1.2 Khái niệm lao động trẻ em

Muốn xác định chính xác khái niệm lao động trẻ em, theo tôi, phải làm

rõ khái niệm “lao động”

Trang 11

Theo từ điển tiếng việt thông dụng thì “Lao động là hoạt động tạo ra sản phẩm vật chất hay tinh thần”

Lao động là hiện tượng xã hội nảy sinh, biến đổi và phát triển trong hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội cụ thể Qua nghiên cứu, chúng tôi định nghĩa khái niệm lao động như sau:

Lao động là hoạt động có ý chí, có mục đích của con người tác động vào thế giới xung quanh để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình

Đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất của lao động là tính tích cực và tính mục đích của hoạt động chế tạo, sử dụng các công cụ, phương tiện để thực hiện các chức năng nhất định Lao động có chức năng cơ bản là tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của sự phát triển cá nhân

và xã hội Quá trình lao động là con đường, là cơ chế và là nhân tố quyết định

sự phát triển nhân cách của chủ thể lao động

Từ khái niệm trẻ em và khái niệm lao động như trên, chúng ta có thể xây dựng khái niệm lao động trẻ em Đây là khái niệm có nội dung rộng lớn

và phức tạp vì được ghép lại từ hai khái niệm "lao động" và "trẻ em" Căn cứ

vào định nghĩa trẻ em và định nghĩa lao động ở trên ra có thể xác định Lao

động trẻ em là lao động do trẻ em thực hiện Còn trẻ em là người như thế nào

thì được xác định theo độ tuổi, mà độ tuổi này lại phụ thuộc vào quy định pháp luật của từng quốc gia khác nhau [9]

Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm Lao động trẻ em đòi hỏi ngoài góc độ độ tuổi, còn phải tiếp cận từ góc độ tính chất công việc mà chủ thể phải làm:

- Về độ tuổi ILO cho rằng trẻ em là người dưới 18 tuổi;

- Về tính chất công việc, lao động trẻ em bao gồm những công việc

có ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển toàn diện của trẻ em

Trang 12

Với cách lập luận như trên, ILO cho rằng “Lao động trẻ em là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 18 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi”

Cũng theo ILO, bên cạnh khái niệm lao động trẻ em, còn có khái niệm “Trẻ em tham gia làm việc”: Đây là khái niệm đề cập đến những trẻ

em làm các công việc có thể chấp nhận được, bao gồm các hoạt động không làm hại tới, và có thể góp phần vào sự phát triển lành mạnh của trẻ, những công việc này mở ra những cơ hội trong cuộc sống và tạo cho trẻ những kinh nghiệm mới mẻ

Thực tế cho thấy, hoạt động lao động (không mang tính bóc lột) đóng vai trò quan trọng đối với chính sự phát triển toàn diện và hài hoà nhân cách của trẻ Giáo dục học, tâm lý học và các khoa học có liên quan đều chỉ ra rằng lao động được tổ chức một cách khoa học, phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi

là con đường, là cơ chế và là nhân tố phát triển thể chất, năng lực tư duy và đời sống tình cảm của trẻ em Chủ tịch Hồ chí Minh đã từng căn dặn “Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tuỳ theo sức của mình”

Bảng 1.1 Trẻ em tham gia làm việc có sự khác biệt so với lao động trẻ em Trẻ em tham gia làm việc

(child work)

Lao động trẻ em (child labour)

Công việc phù hợp với độ tuổi, khả

năng, thể chất và trí tuệ của trẻ em

Công việc quá sức, quá nặng nhọc đối với tuổi và khả năng của trẻ Được người lớn chăm sóc và chịu trách

Trang 13

cản trở trẻ em đến trường, vui chơi và

nghỉ ngơi

chế hoặc không có thời gian đi học, vui chơi và nghỉ ngơi

Nơi làm việc an toàn và có môi trường

bạn bè thân thiết, không độc hại tới sức

khoẻ và cuộc sống của trẻ em

Nơi làm việc độc hại đến sức khoẻ

Trẻ em làm việc tự nguyện để tham gia

trách nhiệm trong việc duy trì công

việc và phát triển sản xuất của gia

đình, tăng thu nhập gia đình

rèn luyện sức khoẻ, phẩm chất đạo đức

cho trẻ

Công việc của trẻ có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ và sự phát triển của trẻ

Nguồn: Cục Việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Pháp luật quốc tế, chủ yếu là các Công ước của Tổ chức lao động quốc

tế, không sử dụng thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” Từ khi được thành lập năm 1919 đến nay,

Tổ chức lao động quốc tế đã thông qua gần 200 Công ước, với gần 30 Công ước đề cập đến vấn đề lao động trẻ em, trong đó có hai Công ước cơ bản đề cập trực tiếp và mang tính bao quát (so với các công ước trước đó) về vấn đề lao động trẻ em là Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu (1973) và Công ước số 182 về cấm và hành động ngay lập tức để xoá bỏ những hình

Trang 14

thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (1999) Hai công ước này không trực tiếp đưa

ra khái niệm “lao động trẻ em”, nhưng Điều 2 Công ước số 182 đã gián tiếp đưa ra khái niệm về trẻ em, đó là những người dưới 18 tuổi Với những trẻ em dưới 18 tuổi, Công ước số 138 về độ tuổi lao động tối thiểu lại phân chia thành những nhóm tuổi khác nhau dựa trên hoàn cảnh thông thường và hoàn cảnh đặc thù (tức với các quốc gia có nền kinh tế và điều kiện giáo dục còn hạn chế, chưa thích hợp để áp dụng các mức tuổi lao động tối thiểu trong hoàn cảnh thông thường) Xuất phát từ tính đa dạng của các loại hình công việc, Công ước đưa ra ba mức tuổi chính, áp dụng với các công việc nguy hại, các công việc nhẹ nhàng và các công việc không thuộc phạm vi các công việc nguy hại và công việc nhẹ nhàng Ngoài ra, xét đến tính chất đặc biệt của một

số nghề nghiệp cần phải luyện tập từ độ tuổi còn nhỏ, Công ước còn đề cập đến một độ tuổi ngoại lệ, không thuộc vào các dạng độ tuổi kể trên Cụ thể:

Thứ nhất, trong hoàn cảnh thông thường, người lao động có thể được

tuyển dụng hoặc làm các công việc không có tính chất nguy hại với độ tuổi ít nhất là 15 tuổi và kèm theo điều kiện là không thấp hơn độ tuổi hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc; với những công việc nhẹ nhàng mà tính chất

và điều kiện không ảnh hưởng đến sức khoẻ, sự phát triển, việc học tập, học nghề hay các cơ hội giáo dục khác của trẻ thì độ tuổi tối thiểu ít nhất là từ 13 hoặc 15 tuổi; với những loại nghề nghiệp hoặc công việc mà tính chất hoặc điều kiện làm việc có thể làm tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay nhân cách của trẻ thì mức tuổi tối thiểu được tuyển dụng và cho phép đi làm việc phải từ

18 tuổi (Khoản 3 Điều 2; khoản 1, 2 Điều 7 và khoản 1 Điều 3 Công ước)

Thứ hai, trong hoàn cảnh đặc thù (ở các quốc gia mà nền kinh tế và các

phương tiện giáo dục chưa phát triển đầy đủ), tuổi lao động tối thiểu có thể là

14 tuổi; với những công việc nhẹ nhàng mà tính chất và điều kiện tiến hành không ảnh hưởng đến sức khoẻ, sự phái triển, việc học tập, học nghề hay các

Trang 15

cơ hội giáo dục khác của trẻ thì tuổi tối thiểu tham gia lao động có thể là từ 12 hoặc 14 tuổi nhưng chưa hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc; với những loại nghề nghiệp hoặc công việc mà tính chất hoặc điều kiện làm việc

có thể làm tổn hại tới sức khoẻ, sự an toàn hay nhân cách của trẻ thì mức tuổi tối thiểu được tuyển dụng và cho phép đi làm việc có thể là 16 tuổi nhưng với điều kiện là an toàn, phẩm hạnh của trẻ phải được đảm bảo đầy đủ, phải có sự hướng dẫn cụ thể và thích đáng hoặc phải đào tạo nghề cho họ trong công việc tương ứng (khoản 4 Điều 2; khoản 4 Điều 7; khoản 1 Điều 3 Công ước)

Thứ ba, với một số công việc, nghề nghiệp đặc biệt như biểu diễn nghệ

thuật thì các em có thể tham gia từ độ tuổi nhỏ những việc quy định này phải tham khảo ý kiến những tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động, đồng thời trong giấy phép cấp cho những trường hợp cá biệt này phải xác định rõ giới hạn thời giờ lao động, các điều kiện trong việc sử dụng lao động (Điều 8 Công ước)

Như vậy, hai Công ước trên đã bổ sung cho nhau khi quy định về lao

động trẻ em, theo đó một Công ước gián tiếp nêu khái niệm về lao động trẻ

em là những người dưới 18 tuổi và một Công ước đưa ra những quy định cụ

thể hơn về lao động trẻ em khi phân chia lao động trẻ em thành những nhóm tuổi khác nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau Điều này tạo ra

sự linh hoạt, thể hiện quan điểm “mở” đối với các nước thành viên khi phê chuẩn Công ước Nó cho phép các quốc gia căn cứ vào những hoàn cảnh, đặc thù riêng của mình để phân chia lao động trẻ em hay những lao động dưới 18 tuổi thành những nhóm tuổi khác nhau (như nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhóm dưới 15 tuổi…) sao cho phù hợp với tinh thần của hai Công ước Hai Công ước thể hiện quan điểm của cộng đồng quốc tế về việc không loại bỏ hoàn toàn hình thức lao động trẻ em hay hình thức lao động của người chưa thành niên, tức vẫn thừa nhận các hình thức lao động của người dưới 18 tuổi, chỉ loại bỏ những hình thức lao động tồi tệ nhất đối với họ [9]

Trang 16

Cụ thể hoá nội dung của hai Công ước trên, các nước phê chuẩn Công ước khi quy định về trẻ em lao động thường dùng thuật ngữ: “lao động trẻ em” trùng với thuật ngữ được dùng trong hai Công ước Điều này có thể thấy trong pháp luật lao động của Vương quốc Anh, Kenya, Malaysia… Song cũng có quốc gia lại sử dụng thêm thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” như Slovakia, Thụy Điển, Oman, Trung Quốc… Các quốc gia có sử

dụng thuật ngữ “lao động trẻ em” quan niệm: lao động trẻ em là những em dưới 18 tuổi Ví dụ như Điều 1 Luật tuyển dụng lao động trẻ em của Vương

quốc Anh quy định: (trong Luật này) “trẻ em là người dưới 18 tuổi” [36]

Các quốc gia sử dụng thuật ngữ “lao động chưa thành niên” lại có quy

định khác nhau Thứ nhất, có quốc gia quy định về người lao động chưa thành

niên là toàn bộ những người dưới 18 tuổi Chẳng hạn, Điều 1 Chương V Luật môi trường làm việc của Thụy Điển, Điều 40 Luật lao động Slovakia đều quy định: “người lao động dưới 18 tuổi là người lao động chưa thành niên” [36]

và Điều 2 Chương V Luật môi trường làm việc của Thụy Điển còn quy định

bổ sung về việc: Chính phủ phải có những quy định riêng liên quan đến việc tuyển dụng lao động chưa thành niên dưới 13 tuổi để làm công việc phù hợp

Thứ hai, có những quốc gia quy định người lao động chưa thành niên lại

không phải tất cả những người dưới 18 tuổi Ở đây, các quốc gia quy định người lao động chưa thành niên chỉ là những người từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi Điều này có thể thấy trong quy định tại Điều 1 Luật Việc làm của Oman (2003), Luật bảo vệ người trẻ tuổi tại nơi làm việc của Cuprus (2001) Bên cạnh đó, có quốc gia sử dụng đồng thời hai thuật ngữ “lao động chưa thành niên” và “lao động trẻ em” nhưng có quy định để phân biệt rõ sự khác nhau giữa hai thuật ngữ này Chẳng hạn, Điều 2 Luật cấm lao động trẻ em của Trung Quốc quy định: “lao động trẻ em để chỉ người chưa thành niên hay trẻ

em dưới 16 tuổi” và Điều 13 Luật này quy định: “chỉ được sử dụng lao động

Trang 17

trẻ em vào lĩnh vực thể thao, nghệ thuật” [36] Trong Luật lao động của Trung Quốc, Điều 58 quy định: “lao động chưa thành niên là những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi” Đây là điểm khác biệt với nhiều quốc gia khác, khi quy định về người lao động dưới 18 tuổi, pháp luật Trung Quốc tách ra làm hai nhóm, một nhóm có độ tuổi từ 16 tuổi đến 18 tuổi, được gọi là lao động chưa thành niên

và một nhóm dưới 16 tuổi, được gọi là lao động trẻ em

Như vậy, có thể thấy pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của nhiều quốc gia không thống nhất về tên gọi chỉ “người lao động chưa thành niên” (hay “lao động trẻ em”) Tuy nhiên, dù khác nhau về tên gọi nhưng nội hàm của thuật ngữ “người lao động chưa thành niên” và “lao động trẻ em” lại giống nhau và đều lấy 18 tuổi là giới hạn để phân biệt với người lao động trưởng thành

Ở nước ta, tính đến thời điểm này chưa có khái niệm thống nhất về lao

động trẻ em Bộ Luật lao động của Việt Nam quy định người lao động là

người từ đủ 15 tuổi trở lên và lao động dưới 18 tuổi là lao động chưa thành niên mà không chỉ rõ như thế nào là lao động trẻ em Hơn nữa khái niệm người chưa thành niên được sử dụng khá nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như: Bộ luật dân sự (điều 20), Bộ luật hình sự (điều 68) đều quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi

Bộ luật Lao động Việt Nam quy định:

Điều 119

1- Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi Nơi

có sử dụng người lao động chưa thành niên phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi thanh tra viên lao động yêu cầu

2- Nghiêm cấm lạm dụng sức lao động của người chưa thành niên

Trang 18

Tuy nhiên nếu căn cứ vào các quy định của Bộ luật lao động và Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em thì có thể hiểu rằng, lao động trẻ em là những người dưới 16 tuổi phải tham gia hoạt động để tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng đa dạng của mình

Theo quan điểm của chúng tôi, Việt Nam nên sử dụng định nghĩa của ILO về lao động trẻ em là phù hợp Theo đó khái niệm lao động trẻ em ở Việt

Nam là thuật ngữ chỉ tình trạng trẻ em (những người dưới 16 tuổi) phải trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia làm những công việc nặng nhọc, độc hại hay nguy hiểm,ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ; hoặc phải làm việc quá nhiều hay ở độ tuổi quá nhỏ, khiến các em không có thời gian cần thiết để học tập và vui chơi”

Lao động trẻ em (child labour) là một vấn đề xã hội rộng lớn và phức tạp, tồn tại từ trước tới nay trong xã hội loài người Pháp luật quốc tế không đưa ra một khái niệm thống nhất về lao động trẻ em, mà chỉ đưa ra những hình thức lao động trẻ em tồi tệ quy định trong Công ước số 182 của ILO Tuy nhiên, theo khái niệm trẻ em được quy định trong Công ước quốc tế về

quyền trẻ em năm 1989, có thể hiểu “Lao động trẻ em là người lao động chưa

đủ 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi trưởng thành niên sớm hơn”

Ở Trung Quốc, Bộ luật lao động nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Trung Hoa không đưa ra khái niệm lao động trẻ em mà chỉ đưa ra khái niệm

Trang 19

về lao động chưa thành niên:“Lao động chưa thành niên là người lao động từ

đủ 16 tuổi nhưng chưa tròn 18 tuổi” (Điều 58 Bộ luật lao động Trung Quốc)

Độ tuổi lao động giới hạn mà pháp luật Trung Quốc quy định cao hơn so với

độ tuổi lao động được quy định trong Công ước số 138 về tuổi tối thiểu làm việc năm 1973 của ILO

Luật lao động Việt Nam cũng không đưa ra định nghĩa về lao động trẻ

em mà chỉ có khái niệm về lao động chưa thành niên Theo quy định tại Điều

6 Bộ luật lao động (sửa đổi, bổ sung 2002): “Người lao động là người Ít nhất

đủ 15 tuổi, có khả năng giao kết hợp đồng lao động” Ngoài ra, Điều 119 Bộ luật Lao động cũng có quy định“ Lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”

Pháp luật lao động Việt Nam quy định rất nghiêm ngặt về điều kiện lao động đối với người lao động chưa thành niên Điều 121 của Bộ Luật lao động quy định người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để đảm bảo sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động Điều 121 cũng quy định việc cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ việc làm, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục do Bộ Lao động-Thương binh và

Xã hội và Bộ Y tế ban hành

Các điều kiện lao động có hại và một danh mục những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại cấm sử dụng người lao động chưa thành niên đã được quy định trong Thông tư liên bộ số 09/TT-LB ngày 13/4/1995 do Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành Trong đó quy định Danh mục 81 công việc cấm sử dụng lao động chưa thành

Trang 20

niên và 13 Điều kiện lao động có hại cấm sử dụng lao động chưa thành niên Những điều kiện đó gồm:

+ Lao động thể lực quá sức (mức tiêu hao năng lượng lớn hơn 4 kcal/ phúc, nhịp tim 120/phút);

+ Tư thế làm việc gò bó, thiếu dưỡng khí;

+ Trực tiếp tiếp xúc với hoá chất có khả năng gây biến đổi gen, gây ảnh hưởng xấu đến chuyển hoá tế bào, gây ung thư, gây tác hại sinh sản lâu dài (gây thiểu năng tinh hoàn, thiểu năng buồng trứng), gây bệnh nghề nghiệp và các tác hại khác;

+ Tiếp xúc với các yếu tố gây truyền nhiễm;

+ Tiếp xúc với chất phóng xạ (kể cả các tiết bị phát tia phóng xạ)

+ Tiếp xúc với điện từ trường ở mức quá giới hạn cho phép;

+ Trong môi trường có độ rung ồn cao hơn tiêu chuẩn cho phép;

+ Nhiệt độ không khí trong nhà xưởng trên 400C về màu hè và trên

350C về mùa đông, hoặc chịu ảnh hưởng của bức xạ nhiệt cao;

+ Nơi có áp suất không khí cao hơn hoặc thấp hơn áp suất khí quyển; + Trong lòng đất;

+ Nơi cheo leo nguy hiểm;

+ Nơi làm việc không phù hợp với thần kinh, tâm lý người chưa thành niên;

+ Nơi gây ảnh hưởng xấu tới việc hình thành nhân cách

Ngoài ra, ngày 9/12/2004 Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và Bộ

Y tế cũng đã ban hành Thông tư số 21/2004/TTLT-BLĐTBXH-BYT quy định danh mục chỗ làm việc, công việc không được sử dụng lao động dưới 18 tuổi trong các cơ sở kinh doanh, dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm Danh mục này gồm 4 nhóm sau:

- Nhóm các cơ sở dịch vụ lưu trú gồm 5 loại hình kinh doanh (khách

Trang 21

sạn, nhà nghỉ, nhà khách, biệt thự kinh doanh du lịch, căn hộ cho thuê) và 4 hình thức công việc (lễ tân, bảo vệ, phục vụ buồng, phòng, phục vụ bàn, bar)

- Nhóm các cơ sở dịch vụ văn hoá gồm 5 loại hình kinh doanh (vũ trường, karaoke, hoạt động biểu diễn nghệ thuật thuộc diện không chuyên tại khách sạn; hoạt động biểu diễn nghệ thuật không chuyên tại quán giải khát, quán bar, quán cà phê; đại lý cung cấp dịch vụ truy cập Internet) và 7 hình thức công việc (Điều khiển âm thanh, ánh sáng; hát với khách; khiêu vũ cùng khách; nhảy trình diễn nghệ thuật; biểu diễn nhạc sống; điều hành các hoạt động trực tiếp tại sàn khiêu vũ; các công việc khác tại sàn khiêu vũ; phụ vụ khách truy cập Internet)

- Nhóm các cơ sở dịch vụ trị liệu-phục hồi sức khoẻ gồm 4 loại hình kinh doanh (Xoa bóp/massage, tắm hơi, tẩm quất bấm huyệt, vật lý trị liệu)

- Nhóm các cơ sở dịch vụ khác gồm 4 loại hình kinh doanh (Tắm nóng lạnh, hớt tóc, gội đầu thư giãn, cơ sở kinh doanh vận chuyển khách du lịch, lữ hành, nhà hàng ăn uống, quán bia) và 5 hình thức công việc khác (Phục vụ khách tắm, cắt tóc, gội đầu; Xoa bóp/massage; hướng dẫn du lịch; lái xe xích

lô và các phương tiện thô sơ chuyên dùng vận chuyển khách du lịch, tiếp thị bia rượu, đồ uống)

Ở Việt Nam, những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần

nhưng tham gia lao động là hiện tượng phổ biến và được nhà nước thừa nhận Điều này có thể thấy thông qua những quy định trong những văn bản pháp luật từ khi nước ta giành độc lập đến khi Bộ Luật lao động được ban hành năm 1994 Các văn bản có thể kể đến như Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định những giao dịch về việc làm công giữa các chủ tư nhân Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự

do (Điều 12, Điều 57, Điều 99, Điều 131…); Sắc lệnh số 77/SL ngày

Trang 22

22/5/1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Quy chế công nhân (Điều 8, Điều 52); Nghị định số 24/CP ngày 13/3/1963 của Hội đồng Bộ trưởng về Điều lệ tuyển dụng và cho thôi việc đối với công nhân viên chức Nhà Nước (Điều 3); Thông tư liên tịch số 06-TT/LT ngày 6/9/1963 của Bộ Lao động- Nội Vụ về việc hướng dẫn và giải thích Điều lệ tuyển dụng quy định những ngành nghề cần tuyển dụng

Người dưới 18 tuổi (Điểm C Mu ̣c II ); Thông tư số 01/LĐTBXH-TT ngày 9/1/1988 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hô ̣i về lao đô ̣ng –tiền lương (Điểm 3 Mục I); Thông tư số 09/LĐTBXH-TT ngày 18/4/1989 của Bộ Lao đô ̣ng- Thương binh và Xã hô ̣i về thực hiê ̣n chính sách lao đô ̣ng và xã hội đối với lao đô ̣ng và làm thuê ở các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh

(Điểm 3, Điểm 6 Mục II); Pháp lệnh hợp đồng lao động do hội đồng nhà nước ban hành ngày 30/9/1990 (Điều 19)… Các văn bản trên , mă ̣c dù đề câ ̣p đến quyền lợi, nghĩa vụ của những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần khi tham gia quan hê ̣ lao đô ̣ng nhưng không đề câ ̣p về tên go ̣i chung để chỉ đối tượng này khi tham gia lao động

Năm 1994 khi Bô ̣ Luâ ̣t lao đô ̣ng được ban hành, lần đầu tiên thuâ ̣t ngữ” người lao đô ̣ng chưa thành niên” được sử du ̣ng để chỉ những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất , tinh thần tham gia lao đô ̣ng Theo đó , Điều 119:

“người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi” Đây là

khái niệm đơn giản chỉ dựa trên cơ sở giới hạn độ tuổi tối đa là 18 tuổi để đề

câ ̣p những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất , tinh thần tham gia lao

đô ̣ng Khái niệm này chưa được nêu rõ những dặc tính cơ bản làm cơ s ở để nhâ ̣n biết đối tượng người lao đô ̣ng chưa thành niên

So với quy định về độ tuổi của trẻ em Việt Nam trong Luật chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em năm 2004 thì người lao động dưới 16 tuổi có đầy đủ quyền và bổn phận của trẻ em, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ

Trang 23

Như vậy, mặc dù quy định và áp dụng chung cho người dưới 18 tuổi, các quy định của pháp luật lao động về người lao động chưa thành niên vẫn có

ý nghĩa bảo vệ các quyền trẻ em Nói cách khác, pháp luật Việt Nam đã

bao hàm lao động trẻ em trong khái niệm “lao động chưa thành niên”

nhằm tạo ra sự bảo vệ chung đối với những người chưa có năng lực pháp luật và năng lực hành vi toàn diện

Các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em là lực lượng lao động đặc thù do các yếu tố sau:

Thứ nhất, lao động trẻ em là người còn chưa đến tuổi trưởng thành, thể

lực, trí lực chưa phát triển toàn diện Vì thế khả năng chịu đựng trong điều kiện lao động nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại còn kém; các em chưa thể tự bảo vệ được chính mình

Thứ hai, trẻ em thường chưa có sự định hình về nhân cách, dễ thay đổi

và chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh Trong môi trường có những tác động tích cực về giáo dục, người lao động sẽ có nhân cách tốt Ngược lại, làm việc trong một môi trường có những tác nhân tiêu cực, nhân cách của họ rất dễ chuyển biến theo chiều hướng tiêu cực

Thứ ba, lao động trẻ em là người dễ bị lợi dụng, dễ bị bóc lột vì thiếu

kiến thức xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, trong những trường hợp đặc biệt trẻ em còn cần đến sự giám hộ hoặc đại diện hợp pháp của một người khác

để đảm bảo việc tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó có quan hệ pháp luật lao động

1.2 Đặc điểm của người lao động chưa thành niên

So sánh với người lao động chưa thành niên, có thể thấy người lao động chưa thành niên có một số đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, người lao động chưa thành niên là những người lao động

chưa phát triển đầy đủ về thể chấy, tinh thần Đây là nhóm lao động đặc thù,

Trang 24

là những người chưa trưởng thành Khác với người lao động đã trưởng thành

là người đã phát triển đầy đủ cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Do đó, người lao động chưa thành niên chưa thể tham gia đầy đủ vào các quan hệ lao động của đời sống xã hội, trước tiên là đặc trưng về sinh lý: dưới 18 tuổi, là giai đoạn có sự phát triển mang tính đột biến về sinh lý, biểu hiện ở các em phát triển nhanh về chiều cao và trọng lượng cơ thể, hệ xương, cơ bắp phát triển mạnh, đặc biệt xương tay, xương chân Ở giai đoạn này, nếu phải lao động với cường độ nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với môi trường xấu tới sự hình thành và phát triển nhân cách (như làm việc ở quán Bar, nhà hàng, phòng hát karaoke ) đều dễ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cả về thể lực của họ

Tiến đến là đặc trưng về tâm lý: Do sự phát triển vượt bậc về mặt thể chất, nên các em ở lứa tuổi chưa thành niên thường có những biểu hiện về mặt tâm lý khá phức tạp Ở giai đoạn này các em tưởng mình đã là người lớn, thường có biểu hiện khá rõ nét nhất về sự tự ý thức về cá tính của mình

và hình thành “cái tôi”, cũng như các phẩm chất tâm lý độc lập (phẩm chất tâm lý tích cực hoặc tiêu cực) Các em thường biểu hiện tính bồng bột, dũng cảm, mạnh mẽ, muốn mình như người lớn Cũng ở giai đoạn này quan hệ giao tiếp cũng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt quan hệ với nhóm bạn, có thể vượt qua ngoài giới hạn của tuổi học sinh, hoạt động có tính độc lập Những đặc điểm về tâm lý này ảnh hưởng đến khả năng học nghề, khả năng lao động của các em, nhất là tâm lý “cả thèm, chóng chán”, hiểu thắng Các

em dễ bồng bột phản ứng lại với người dạy nghề hoặc sử dụng lao động Đây là những đặc điểm cơ bản tạo ra sự khác biệt giữa người lao động thành niên và người lao động chưa thành niên và cũng là cơ sở xuất phát điểm cho các đặc điểm tiếp theo

Thứ hai, người lao động chưa thành niên được pháp luật bảo vệ ở mức

Trang 25

độ cao hơn so với người lao động thành niên Đặc điểm này xuất phát từ sự chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần của người lao động chưa thành niên nên khi tham gia quan hệ lao động họ được pháp luật bảo vệ theo hướng

“ưu tiên” trong công việc được hưởng một số quyền, lợi ích ngang bằng hoặc hơn những quyền, lợi ích mà pháp luật quy định với người lao động thành niên Điều này thể hiện qua một số quy định về tiền lương, giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Chẳng hạn, quy định người lao động chưa thành niên được hưởng mức lương ngang bằng so với lương của người lao động thành niên khi

là cùng công việc hoặc được giảm giờ làm tối thiểu là một giờ trong một ngày làm việc, được hạn chế làm thêm giờ, làm đêm hay thời gian nghỉ hàng năm của họ lại nhiều hơn hay họ được đảm bảo thời gian học văn hoá, được quan tâm chăm sóc về các mặt lao động, sức khoẻ trong quá trình lao động so với người lao động thành niên Những quy định này có thể thấy rõ trong pháp luật lao động của nhiều quốc gia như Điều 132 Luật lao động của Latvia, Điểm 9 Luật lao động của Nepal

Mặt khác, việc bảo vệ lao động chưa thành niên còn thể hiện ở quy định hạn chế họ tham gia làm một số công việc, ngành nghề nhất định Quy định hạn chế này không phải là sự giới hạn quy định về quyền, tạo ra sự phân biệt đối xử với người lao động chưa thành niên, đi ngược lại nguyên tắc: mọi người có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không phân biệt đối xử Đây là sự thể hiện việc bảo vệ của pháp luật đối với người lao động chưa thành niên Việc áp dụng nguyên tắc bình đẳng trên không có nghĩa là sự “cào bằng” mà cần căn cứ vào đặc điểm riêng của từng đối tượng

để có quy định về cách thức bảo vệ khác nhau Cách thức bảo vệ người lao động chưa thành niên được sử dụng ở đây là việc áp dụng quy định “hạn chế” Nội dung của sự hạn chế này thể hiện trong quy định của pháp luật về những ngành nghề, công việc mà người lao động chưa thành niên bị cấm làm hoặc

Trang 26

giới hạn những ngành nghề, công việc họ được tham gia lao động, tuyển dụng nhưng kèm theo điều kiện

Về quy định những ngành nghề, công việc người lao động chưa thành niên không được tham gia làm việc hay tuyển dụng thì những ngành nghề, công việc này thường mang tính chất nặng nhọc, nguy hiểm, độc hại hoặc sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, nhân cách của các em Đó là những ngành nghề, công việc có sử dụng các loại máy móc, thiết bị, dụng cụ nguy hiểm hoặc liên quan đến điều khiển thủ công hay vận chuyển, mang vác hàng hoá nặng hay những công việc dưới mặt đất, dưới nước, ơ độ cao nguy hiểm Bên cạnh đó là những công việc trong môi trường có hại cho sức khoẻ như để người lao động chưa thành niên tiếp xúc trực tiếp với các hoá chất độc hại hay

ở nơi có nhiệt độ cao, các mức độ tiếng ồn hoặc độ rung ảnh hưởng đến sức khoẻ Ngoài ra, là những công việc trong những điều kiện đặc biệt khó khăn như làm việc nhiều giờ liên tục, làm việc ban đêm hoặc công việc khiên người lao động chưa thành niên bị giam hãm trong các nhà xưởng, trong không gian chật hẹp của người sử dụng lao động Các công việc khác cũng bị cấm là những công việc chứa yếu tố khiến người lao động chưa thành niên sẽ lâm vào tình trạng dễ bị lạm dụng về thể chất, tâm lý, tình dục Thông thường những ngành nghề, công việc trên sẽ được nhà nước quy định thành danh mục ngành nghề cấm sử dụng lao động chua thành niên Điều này có thể thấy trong quy định của nhiều quốc gia như Philipin, Ấn Độ, Slovakia

Đối với một số công việc nhẹ nhàng, phù hợp với lứa tuổi của người lao động chưa thành niên, pháp luật cũng quy định cụ thể thành danh mục những công việc sử dụng lao động chưa thành niên và kèm theo những điều kiện nhằm hạn chế việc sử dụng lao động từ người sử dụng lao động và quan trong hơn là để bảo vệ người lao động chưa thành niên khi họ tham gia quan hệ lao động

Trang 27

Thứ ba, người lao động chưa thành niên bị hạn chế một phần năng lực

hành vi khi giao kết hợp đồng lao động trong những trường hợp nhất định

Theo pháp luật dân sự, trong các giao dịch của người chưa thành niên đều cần đến sự trợ giúp của cha mẹ, người giám hộ Cụ thể, Điều 20, Điều

21 Bộ Luật dân sự quy định: người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi đến chưa

đủ mười tám tuổi khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý Người chưa đủ sáu tuổi khi tham gia giao dịch dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện Yêu cầu về người đại diện cho người chưa thành niên trong pháp luật dân sự cũng tương tự như trong pháp luật lao động Theo đó, người lao động chưa thành niên khi giao kết hợp đồng lao động phải có “sự đồng ý” của cha mẹ,

người giám hộ “Sự đồng ý” được thể hiện ở những mức độ khác nhau Thứ nhất, quy định khi giao kết hợp đồng lao động, người lao động chưa thành

niên được trực tiếp giao kết (tự ký hợp đồng) với người sử dụng lao động nhưng kèm theo điều kiện phải có sự đồng ý bằng văn bản của chao mẹ, người giám hộ để hợp đồng đó có hiệu lực Quy định này nhìn chung được

áp dụng với người lao động chưa thành niên dưới 15 tuổi Tuy nhiên, một số quốc gia lại áp dụng quy định này đối với tất cả những người lao động chưa thành niên dưới 18 tuổi (như quy định tại Điều 40 và Điều 41 Bộ luật lao

động Slovakia) Thứ hai, quy định khi giao kết hợp đồng lao động, người lao

động chưa thành niên dưới 18 tuổi không được tự giao kết mà cha mẹ hoặc người giám hộ sẽ giao kết hợp đồng với người sử dụng lao động Điều này

có thể thấy trong quy định tại Điều 58 Luật tiêu chuẩn lao động của Nhật Những quy định trên có thể hạn chế một số phần năng lực hành vi của người lao động chưa thành niên hoặc kéo dài trình tự, thủ tục khi giao kết hợp đồng lao động giữa người sử dụng lao động với người lao động chưa thành niên Tuy nhiên, thông qua những quy định này lại góp phần bảo vệ tốt hơn

Trang 28

quyền, lợi ích của người lao động chưa phát triển đầy đủ về thể lực, trí lực khi họ tham gia quan hệ lao động

1.3 Phân loại người lao động chưa thành niên

Việc phân loại người lao động chưa thành niên có thể dựa trên các tiêu chí khác nhau

Thứ nhất, nếu căn cứ vào độ tuổi tính theo năm có thể phân chia người

lao động chưa thành niên thành ba nhóm tuổi: nhóm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi; nhóm từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi và nhóm dưới 13 tuổi

Cơ sở của việc lựa chọn nhóm 15 tuổi đến dưới 18 tuổi dựa chủ yếu trên khía cạnh giáo dục Ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia, đây là độ tuổi đã hoàn tất chương trình giáo dục bắt buộc, các em có thể tiếp tục học bậc cao hơn hoặc vì những lý do nhất định dẫn đến thôi học Đối với những

em thôi học, trong số đó, có nhiều em học ở cuối cấp phổ thông cơ sở đã được trường học ở cuối cấp phổ thông cơ sở đã được trường học tạo điều kiện cho học thêm một số nghề nhất định, các em có thể bắt đầu lao động gần như người trưởng thành và chỉ bị hạn chế làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay ảnh hưởng tới nhân cách và được áp dụng thời gian làm việc ngắn hơn Việc giới hạn nhóm tuổi từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phù hợp với pháp luật lao động quốc tế, nhất là Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu được làm việc Theo khoản 3 Điều 2 Công ước số 138 quy định: tuổi tối thiều được làm việc không dưới 15 và đã kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc

Về nhóm từ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi là nhóm tuổi đang trong quá trình phát triển về thể chất, tinh thần, đa phần vẫn còn đi học bắt buộc nên việc các

em tham gia làm việc chỉ được phép với những công việc nhẹ nhàng, đơn giản, không ảnh hưởng đến việc học hành của các em Bởi vì, ở nhóm tuổi này, hệ xương của các em ở vào giai đoạn phát dục và trưởng thành, sụn xương tương đối nhiều, thành phần nước và các vật chất hữu cơ trong tổ chức

Trang 29

xương nhiều, các muối vô cơ ít, các chất liên kết xương tương đối kém, xương có khả năng đàn hồi tốt song không chắc chắn, do độ cứng của xương nhỏ, độ dẻo cao nên dễ bị gẫy, biến dạng hoặc cong khi phải lao động quá mức Bên cạnh đó, ở nhóm tuổi này mặc dù các em rất hăng hái, sôi nổi, nhiệt tình tham gia các hoạt động phát triển trí tuệ, các hoạt động xã hội, tuy nhiên, khả năng duy trì tư duy tập trung còn hạn chế nên hay chóng chán với việc tham gia các hoạt động diễn ra trong thời gian dài, đòi hỏi sự tập trung Điều này cho thấy nếu các em tham gia lao động thì chỉ thích hợp với các công việc đơn giản, nhẹ nhàng, thời gian ngắn [44] Ngoài ra, ở nhóm tuổi này do bản thân các em còn hạn chế về trình độ và kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp chưa

có nhiều nên việc tham gia lao động của các em chỉ với một số công việc đơn giản, ít yêu cầu về kỹ năng, chuyên môn Chính vì vậy, nhóm tuổi này nên bị hạn chế chỉ được làm những công việc do nhà nước quy định và kèm theo đó

là việc phải áp dụng những điều kiện chặt chẽ

Về nhóm dưới 13 tuổi là nhóm trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, các em còn quá non nớt để có thể tham gia lao động nên nhóm này không được khuyến khích tham gia lao động Tuy nhiên, do nhu cầu của một

số ngành nghề đặc thù và tính chất công việc lại nhẹ nhàng, không phức tạp, không gây ảnh hưởng đến sự phát triển trí lực, thể lực, việc đi học và với những điệu kiện riêng để bảo vệ các em khi tham gia làm việc thì các em có thể tham gia làm việc trong thời gian ngắn Ví dụ đóng phim, đóng kịch, ca hát, quảng cáo trên truyền hình… Đây là những công việc thuộc về lĩnh vực nghệ thuật đã được nên trong Điều 8 Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu được làm việc quy định cho phép những người dưới 13 tuổi có thể tham gia

Hiện nay, cách phân loại dựa trên cơ sở tuổi đi học thường được áp dụng trong pháp luật quốc tế và pháp luật ở nhiều quốc gia Trước đây, các Công ước được ban hành trước Công ước số 138 như: Công ước số 5 về tuổi

Trang 30

tối thiểu (công nghiệp) (1919); Công ước số 7 về tuổi tối thiểu (trên biển) (1920); Công ước số 10 về tuổi tối thiểu (nông nghiệp) (1921); Công ước số

15 về tuổi tối thiểu (dưới hầm tàu và đốt lò) (1921)… thường dựa trên các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp, hàng hải… để xác định độ tuổi tối thiểu được làm việc và mỗi Công ước điều chỉnh một lĩnh vực có đặc thù riêng nên sẽ áp dụng một độ tuổi tối thiểu riêng Điều này tạo ra sự không thống nhất về độ tuổi tối thiểu được làm việc nên gây khó khăn cho việc áp dụng Do vậy, việc phân loại độ tuổi dựa trên cơ sở độ tuổi đi học sẽ khắc phục được sự không thống nhất về độ tuổi tối thiểu đi làm việc Cách phân loại dựa trên cơ sở độ tuổi đi học này dễ dàng áp dụng ở nhiều quốc gia, ở nhiều hoàn cảnh so với các cách phân loại khác Chính vì vậy, ở khía cạnh pháp luật, cách phân loại dựa trên độ tuổi tính theo năm và độ tuổi đi học để phân chia thành các nhóm như từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, từ 13 tuổi đến dưới

15 tuổi và dưới 13 tuổi thường được coi là cơ sở chủ yếu để hình thành nên những quy định riêng biệt áp dụng cho phù hợp với mỗi nhóm tuổi

Thứ hai, nếu căn cứ vào giới tính, có thể phân thành lao động chưa

thành niên nam, lao động chưa thành niên nữ Do cấu trúc cơ thể của nam và

nữ có nhiều điểm khác nhau nên cách phân loại này có vai trò quan trọng, nhằm có những biện pháp bảo vệ và sử dụng người lao động chưa thành niên cho phù hợp, chẳng hạn khi quy định về những công việc, những ngành nghề, nơi làm việc dễ xảy ra hiện tượng lạm dụng với người lao động chưa thành niên nữ, những công việc mang vác nặng, ngâm mình dưới nước…

Thứ ba, nếu căn cứ vào trình độ chuyên môn kỹ thuật có thể phân loại

thành: người lao động chưa thành niên đã qua đào tạo và người lao động chưa thành niên chưa qua đào tạo nghề Người lao động chưa thành niên đã qua đào tạo là những người đã được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp bằng hoặc chứng chỉ nghề hoặc có thể bao gồm những người tuy chưa qua trường

Trang 31

lớp đào tạo nào nhưng tự trưởng thành thông qua tự học hoặc kèm cặp tay nghề Người lao động chưa thành niên chưa qua đào tạo nghề là những người ngoài nhóm người lao động chưa thành niên đã qua đào tạo Mục đích của cách phân loại này nhằm có những chính sách cần thiết để hỗ trợ, đào tạo tay nghề cho người lao động chưa thành niên, nâng cao chất lượng nguồn lao động trong tương lai

Thứ tư, nếu căn cứ vào điều kiện, môi trường lao động có thể phân chia

thành người lao động chưa thành niên làm việc trong điều kiện, môi trường lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và người lao động chưa thành niên làm việc trong điều kiện, môi trường lao động bình thường Người lao động chưa thành niên làm việc trong điều kiện, môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm là làm việc tại nơi hoặc trong điều kiện tiến hành công việc gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển thể chất, tinh thần hoặc ảnh hưởng đến nhân cách, việc học hành của người lao động chưa thành niên Ngược lại, điều kiện, môi trường lao động bình thường là nơi làm việc hoặc điều kiện tiến hành công việc đảm bảo phù hợp với sự phát triển thể chất, tinh thần, không ảnh hưởng đến nhân cách, việc học hành của người lao động chưa thành niên

Cách phân loại trên cũng phù hợp với quy định tại điểm d Điều 3 Công ước số 182 và có ý nghĩa trong việc bảo vệ người lao động chưa thành niên thông qua việc ban hành những quy định cấm việc sử dụng họ làm việc trong điều kiện, môi trường lao động không phù hợp

Ngoài ra, còn có các cách phân loại khác: như dựa vào quốc tịch có thể phân thành người lao động chưa thành niên có quốc tịch Việt Nam và người lao động chưa thành niên có quốc tịch nước ngoài (cách phân loại này hầu như không được sử dụng vì hiện nay theo quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP ngày 25/3/2008 của Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì điều kiện đối với

Trang 32

người lao động nước ngoài phải từ 18 tuổi); dựa trên căn cứ các ngành kinh tế nơi người lao động chưa thành niên tham gia lao động có thể phân chia thành: người lao động chưa thành niên làm việc ở khu vực nông-lâm-ngư nghiệp, ở khu vực công nghiệp, ở khu vực dịch vụ; dựa vào trình độ học vấn có thể chia người lao động chưa thành niên thành người lao động chưa thành niên đã học xong phổ thông cơ sở và chưa học xong phổ thông cơ sở… Như vậy, có nhiều cách để phân loại người lao động chưa thành niên, mỗi cách phân loại lại dựa

trên những căn cứ khác nhau, để phục vụ những mục đích khác nhau

1.4 Các tố ảnh hưởng đến lao động trẻ em

1.4.1 Các quan niệm truyền thống

Từ xưa đến nay, việc trẻ em tham gia làm việc hay lao động đã không phải là hiện tượng mới lạ ở nước ta Trẻ em thường là nguồn lao động quan trọng của gia đình Ở nông thôn, do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp và điều kiện kinh tế của các hộ gia đình, vì thế ngay từ khi còn bé, trẻ em đã phải tham gia vào các công việc đồng áng, chăn trâu, cắt cỏ, chăn nuôi gia sóc, gia cầm phụ giúp người lớn Ngoài ra, trẻ em còn là những người lao động chính trong gia đình có nghề phụ ở các vùng làng nghề thủ công mỹ nghệ phát triển

Trong nhận thức của người lớn, trẻ em lao động cùng cha mẹ trong gia đình là hoàn toàn cần thiết và là nghĩa vụ của trẻ em Lao động không chỉ nhằm tăng thu nhập cho gia đình và bản thân mà còn được coi là quá trình xã hội hoá để giúp các em trưởng thành, vững vàng, có thêm kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp, phát triển trí lực, thể lực và nhân cách, chuẩn bị cho cuộc sống ngày mai Tham gia lao động làm cho các em thêm lòng tin, sự tự trọng

và giúp các em thêm hoà nhập, gắn bó với cộng đồng Vì vậy, việc trẻ em tham gia lao động từ lâu đã được coi là một chuẩn mực đạo đức để đánh giá hành vi, nhân cách của các em

Trang 33

1.4.2 Sự phát triển kinh tế

Theo báo cáo của Văn phòng Chính phủ, Cơ cấu nền kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, nghiệp, thuỷ sản Sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã và đang làm thay đổi căn bản nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có ảnh hưởng không ít tới sự phát triển của trẻ em Nền kinh tế phát triển tạo điều kiện cho trẻ em có cơ hội học tập, vui chơi, giải trí và tiếp cận với những kiến thức mới, nền văn minh mới của nhân loại

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn là một nước nghèo Tình trạng thiếu đói tập trung nhiều ở các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ

và Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên

Qua các số liệu ở trên, ta có thể thấy được sự thay đổi mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam Sự phát triển này đã tạo điều kiện cho trẻ em phát triển về mọi mặt, hạn chế việc trẻ em tham gia lao động Tuy nhiên, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường thì việc giãn cách giàu nghèo khá rõ (tỷ lệ

hộ nghèo ở nước ta hiện nay còn khoảng 14,87%) cũng khiến một bộ phận trẻ

em buộc phải đi tìm kiếm việc làm xa nhà và lâm vào tình trạng bị lạm dụng sức lao động Từ đó tạo điều kiện cho chủ doanh nghiệp tư nhân tiết kiệm chi phí sản xuất bằng biện pháp sử dụng nhiều lao động trẻ em với tiền công rẻ mạt Thêm vào đó, thiên tai liên miên, nghèo đói, sự cách biệt về thu nhập và mức sống ngày càng gia tăng giữa nông thôn và thành thị, tình trạng thiếu việc làm, đã và đang là những nguyên nhân dẫn tới việc di cư ngày càng tăng của người dân nông thôn ra thành phố, kéo theo đó là sự gia tăng tỉ lệ lao động trẻ em ở các đô thị

1.4.3 Giáo dục và các yếu tố khác

Theo báo cáo mới được công bố của Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), những năm gần đây, số lượng trẻ em đến tuổi đi học đến trường

Trang 34

tăng mạnh ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở các nước Đông Nam Á Bởi hiện nay, giáo dục được đánh giá là nhân tố thúc đẩy sự bùng nổ kinh tế Trên thực tế, hơn hai phần ba số trẻ em ở Philippines, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam theo học trung học với mức 50% ở Ấn Độ và 68% ở Trung Quốc

Ở nước ta, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm Giáo dục không chỉ giúp các em tiếp cận với những kiến thức mới

mà còn góp phần hoàn thiện nhân cách của các em Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù kinh tế đang tăng trưởng, phúc lợi xã hội và thu nhập bình quân tăng mạnh, nhưng nhóm người nghèo ở nước ta vẫn có nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa và ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ em Hiện số lượng học sinh bỏ học vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm và phải tích cực khắc phục Năm học

2007 - 2008, cả nước có 215,1 nghìn học sinh bỏ học, chiếm gần 1,4% tổng

số học sinh, bao gồm 32 nghìn học sinh tiểu học, chiếm 0,5% tổng số học sinh tiểu học; 105,2 nghìn học sinh trung học cơ sở, chiếm 1,8% số học sinh trung học cơ sở; 77,9 nghìn học sinh trung học phổ thông, chiếm 2,6% số học sinh trung học phổ thông Phần lớn là trẻ em những địa phương có điều kiện kinh

tế - xã hội khó khăn ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Tây Nam bộ, đặc biệt là trẻ em gái Những trẻ em này phải tham gia lao động sớm hơn các

em khác cùng trang lứa Điều này cũng đã giải thích lý do vì sao ở nước ta tỷ

lệ trẻ em lao động vẫn còn ở mức cao

Về mặt xã hội, phần lớn mọi người chưa nhận thức hết được hậu quả của lao động trẻ em, bao gồm cả các cơ quan ở trung ương, ở các cấp địa phương đang thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến lao động trẻ em và đặc biệt là nhận thức của bản thân gia đình và của chính trẻ em Ngoài ra còn do

có nhiều biến cố lớn của gia đình như: mồ côi; cha mẹ bất hoà, ly hôn nên

bỏ mặc con cái, các em phải tự lo cuộc sống cho mình, phải lang thang đi làm kiếm sống Theo thông tin từ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tại hội

Trang 35

thảo “Đánh giá mô hình bảo vệ trẻ em ??a vào cộng đồng” ngày 13/02/2009,

hiện cả nước có 153.000 em mồ côi không nơi nương tựa, bị bỏ rơi

Về mặt luật pháp, tuy đã tương đối đầy đủ và phù hợp với quy định của các Công ước quốc tế nhưng vẫn còn thiếu các văn bản hướng dẫn, các chế tài

xử lý vi phạm của pháp luật còn chưa tương xứng với hành vi vi phạm, điều này đã làm giảm tính răn đe và giáo dục của pháp luật Ngoài ra, nhiều văn bản pháp luật còn chưa cụ thể nên gây khó khăn cho việc thực thi pháp luật lao động Vẫn có những vấn đề khó giải quyết được về lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài của việc đi làm và đi học của trẻ em Những điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ trẻ em khi tham gia quan hệ lao động

1.5 Vai trò của pháp luật lao động đối với việc bảo vệ lao động trẻ em

Gia đình là môi trường đầu tiên và đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của trẻ trong những năm đầu đời Nếu như gia đình là hồ nước hiền hoà bao bọc con trẻ thì xã hội là biển lớn bao la, đem lại cho con trẻ niềm đam mê khám phá nhiều bí ẩn và sự hiểu biết vô tận Nếu gia đình bảo vệ trẻ em bằng

sự che chở, quan tâm, chăm sóc bằng tình yêu thương của ông bà, cha mẹ và những người thân thích khác, thì xã hội bảo vệ trẻ em bằng sự quan tâm của các đoàn thể, các tổ chức, bảo vệ trẻ em bằng chính sách pháp luật của Nhà nước trên cơ sở các quy định của pháp luật quốc tế

1.5.1 Pháp luật lao động là hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ trẻ

em trong quan hệ lao động

Bảo vệ người lao động, trong đó có lao động trẻ em là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật lao động Tư tưởng bảo vệ người lao động xuất

phát từ quan điểm coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là “vì con người, phát huy nhân tố con người” được đề ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII Trẻ em là mầm non của đất nước, là lực lượng lao động “non nớt”, các em chưa có thể bảo vệ chính mình Vì thế, đòi hỏi pháp luật phải thể

Trang 36

hiện quan điểm bảo vệ trẻ em với tư cách bảo vệ con người, bảo vệ chủ thể của quan hệ lao động Sự bảo vệ này không chỉ bao hàm mục đích bảo vệ sức lao động mà còn bảo vệ quyền lợi chính đáng của trẻ em Pháp luật lao động thể hiện sự bảo vệ trẻ em trên các phương diện: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập, tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, thậm chí cả nhu cầu nghỉ ngơi, nâng cao trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp, liên kết và phát triển trong môi trường lao động và xã hội lành mạnh Bằng việc ban hành Bộ luật Lao động với một mục riêng (Mục I chương IX) quy định về đối tượng lao động chưa thành niên và ban hành các văn bản pháp luật lao động khác, pháp luật lao động Việt Nam có vai trò là hành lang pháp lý vững chắc bảo vệ trẻ

em khi tham gia các quan hệ lao động

1.5.2 Pháp luật lao động tạo sự công bằng trong việc bảo vệ lao động trẻ em

Sự tăng trưởng kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hoá đang khuyến khích thành lập và xác định lại vị thế của nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng như doanh nghiệp dân doanh, theo đó việc sử dụng lao động có trình độ chuyên môn, khả năng nghề nghiệp với giá rẻ được coi là yếu tố ảnh hưởng lớn đến su cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế Sự cạnh tranh này vô hình chung đã kéo theo sự cạnh tranh trong vấn đề sử dụng lao động Trong khi đó, lao động trẻ em tuy là lực lượng lao động dồi dào, nhưng lại chưa có điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, khả năng nghề nghiệp vì thế khó được tuyển dụng và chi trả các quyền lợi tương xứng Ngoài ra, vì nhiều điều kiện hoàn cảnh mà trẻ em phải lao động Các em bị trả công lao động với giá rẻ mạt, đồng thời phải chịu nhiều bất công, bị lạm dụng và bị bóc lột sức lao động do các em không hiểu biết pháp luật, chưa thể tự bảo vệ được bản thân khi bị xâm phạm quyền và lợi ích Những điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong các mối quan hệ lao động Vì

Trang 37

thế, yêu cầu pháp luật phải tạo ra sự công bằng thông qua các quy định pháp luật về việc làm, tiền lương, thu nhập, an toàn lao động cho lao động trẻ em

Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu đúng giữa sự công bằng, bình đẳng với sự

ưu tiên trong việc bảo vệ lao động trẻ em giữa các vùng miền với những điều kiện khác nhau Đối với trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, do thiếu thốn về mặt vật chất, các em ít có điều kiện học tập, vui chơi, giải trí, ít

có điều kiện tiếp xúc với các phương tiện truyền thông, vốn kiến thức trang bị cho các em về mặt xã hội còn hạn chế Do đó, Nhà nước có sự ưu tiên đối với những đối tượng lao động trẻ em ở vùng sâu, vùng xa cũng là điều dễ hiểu

1.5.3 Pháp luật lao động hình thành ý thức xã hội về việc bảo vệ lao động trẻ em

Pháp luật lao động hình thành trong tiềm thức của mỗi chúng ta ý thức

về việc bảo vệ trẻ em, ý thức này trong khoa học gọi là ý thức “ảo” Điều này

có nghĩa là không phải chỉ ở những nơi nào có trẻ em hoặc tiếp xúc với trẻ em chóng ta mới cần có ý thức bảo vệ trẻ em, mà ý thức này hình thành ngay cả khi chóng ta không tiếp xúc với trẻ em, hoặc cả khi không xác lập quan hệ lao động với đối tượng là trẻ em Đó là một trong những vai trò quan trọng của pháp luật Không chỉ có những giá trị đạo đức mới đánh thức lòng trắc ẩn của chúng ta khi nhìn thấy cảnh một trẻ em đang lao động vất vả, hay bị lạm dụng, bóc lột sức lao động, mà pháp luật cũng góp phần đánh thức lòng trắc

ẩn đó, và hơn nữa nó còn đánh thức sự lên tiếng bảo vệ lẽ phải, bảo vệ trẻ em của mỗi chúng ta

Với quyền lực của mình, Nhà nước sẽ sử dụng pháp luật như là một công cụ để xác định các tiêu chuẩn lao động nhằm bảo vệ và bảo đảm cho quyền lợi của trẻ em trong quá trình lao động Đó chính là vấn đề quan trọng của luật lao động trong xã hội hiện đại

Trang 38

Chương 2 TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM TRONG

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về

sử dụng lao động trẻ em trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999

2.1.1 Khách thể của tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự quy định bảo vệ và bị tội phạm xâm hại tới Trong bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải tất cả các quan hệ xã hội đó là khách thể của tội phạm mà chỉ những quan hệ xã hội có tầm quan trọng nhất định được luật hình sự bảo vệ để tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm Trong quy định của Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999, khi định nghĩa về tội phạm nói chung đã liệt

kê các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ Trong số các quan hệ xã hội được liệt kê tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 1999 thì “những lĩnh vực khác của trật

tự pháp luật xã hội chủ nghĩa” là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của một nhóm tội phạm An toàn công cộng là một trong những loại quan hệ xã hội thuộc “lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN” An toàn công cộng theo nghĩa rộng là an toàn ở những nơi sinh hoạt công cộng, đông người Theo nghĩa hẹp thì an toàn công cộng là an toàn trong các lĩnh vực cụ thể như: an toàn trong giao thông vận tải, an toàn trong lao động sản xuất, an toàn trong quản lý vũ khí, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn đối với sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của trẻ em…

Tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em xâm hại đến an toàn đối với sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của trẻ em Việc sử dụng trẻ em vào những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần của trẻ em

Trang 39

Trẻ em là lớp người ở độ tuổi đang lớn xét về mặt thể chất và đang hình thành nhân cách Lý trí và ý chí của các em cũng đang được bồi đắp và củng

cố để có thể nhận thức và điều khiển hành vi của mình trong những hoàn cảnh

cụ thể Nếu sử dụng trẻ em làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại sẽ làm chậm hoặc không thể phát triển được về thể chất (chiều cao, cân nặng, sức mạnh cơ bắp, sự dẻo dai, sự chịu đựng…)

về tinh thần (tư duy, lý trí, ý chí, quan niệm…)

Có ý kiến cho rằng khách thể của tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em xâm hại quyền lao động của trẻ em đã được quy định tại Hiếp pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ

em và Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em mà Việt Nam tham gia

Điều 55 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân Nhà nước và xã hội có

kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động”

Điều 5 Bộ luật lao động 2012 quy định: “1 Người lao động có các quyền sau đây:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hợp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể…”

Điều 49 Bộ luật dân sự 2005 quy định về quyên lao động như sau: “Cá nhân có quyền lao động

Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo.”

Trang 40

Điều 8 Bộ luật lao động 2012 quy định những hành vi bị nghiêm cấm: “7 Sử dụng lao động chưa thành niên trái pháp luật” Tại khoản 7 Điều 7 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cũng quy định những hành vi bị nghiêm cấm: “7 Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động;”

Như vậy, trong các văn bản pháp luật nêu trên đều có quy định quyền lao động, quyền có việc làm của công dân, đồng thời cũng quy định cấm sử dụng lao động trẻ em trong những trường hợp “lao động trẻ em tồi tệ nhất” Chúng tôi cho rằng hành vi phạm tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em tuy có xâm hại đến quyền lao động của trẻ em nhưng đó không phải

là khách thể trực tiếp của tội phạm này Nếu coi quyền lao động của trẻ em

là khách thể trực tiếp thì sẽ không phản ánh đúng bản chất của tội phạm này Suy cho cùng hành vi vi phạm quy định về lao động trẻ em sẽ làm cho

sự phát triển về thể chất, tinh thần, tâm lý của trẻ em không bình thường những công việc mà tính chất hoặc các điều kiện của nó có thể xâm hại đến sức khoẻ, an toàn và đạo đức của trẻ Tại Điều 3 Công ước 182 cũng nêu rõ

đó là “những công việc mà tính chất hoặc các điều kiện của nó có thể xâm hại đến sức khoẻ, an toàn và đạo đức của trẻ” Như vậy không phải ngẫu nhiên

mà các nhà làm luật xếp tội phạm này vào chương “các tội xâm phạm an toàn công công, trật tự công cộng”

Đối tượng tác động của tội phạm này là trẻ em Theo Điều 1 Luật bảo

vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thì “trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương

và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” Như vậy, Bộ

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. BS. Nguyễn Trọng An (2007), Vấn đề lao động trẻ em- Thực trạng và giải pháp, Bộ LĐTB&XH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lao động trẻ em- Thực trạng và giải pháp
Tác giả: BS. Nguyễn Trọng An
Năm: 2007
2. Hồ Hoàng Anh (2007), Khóa luận tốt nghiệp: Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật lao động, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em trong pháp luật lao động
Tác giả: Hồ Hoàng Anh
Năm: 2007
3. Ts. Đỗ Ngân Bình (2009), Phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em - Pháp luật và thực tiễn, Tạp chí Luật học số 02/2009, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống bạo lực đối với trẻ em và lao động trẻ em - Pháp luật và thực tiễn
Tác giả: Ts. Đỗ Ngân Bình
Năm: 2009
4. Vũ Ngọc Bình (2002), Vấn đề lao động trẻ em, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề lao động trẻ em
Tác giả: Vũ Ngọc Bình
Nhà XB: nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2002
25. Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình luật Lao động, nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Lao động
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2007
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010”, Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ IX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010”
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
27. Đào Mộng Điệp (2004), “Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên
Tác giả: Đào Mộng Điệp
Năm: 2004
28. Lê Việt Hà (2006), Khóa luận tốt nghiệp: Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề pháp lý về lao động chưa thành niên theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam
Tác giả: Lê Việt Hà
Năm: 2006
29. Phan Văn Hùng (2002), Pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam, Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về lao động chưa thành niên ở Việt Nam
Tác giả: Phan Văn Hùng
Năm: 2002
44. Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam (2001), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định độ tuổi trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học: Cơ sở khoa học và thực tiễn để quy định độ tuổi trẻ em trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Tác giả: Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam
Năm: 2001
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế (1995), Thông tư liên bộ số 09/TTLB của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ngày 13/04/1995 quy định điều kiện lao động có hại và các công việc cấm sử dụng lao động chưa thành niên vào làm việc Khác
6. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (1999), Thông tư số 21/1999/TT-LĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 11/09/1999 quy định danh mục nghề, công việc và các điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc Khác
8. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2005), Thông tư số 12/2005/TT- BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ngày 28/01/2005 hướng dẫn một số điều của Nghị định số 113/2004/NĐ-CP ngày 16/04/2004 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động Khác
9. Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (2008), Tài liệu tập huấn về lao động trẻ em Khác
10. Bộ Tư pháp (2005), Quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội Khác
11. Chính Phủ (1994), Nghị định số 195/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Khác
12. Chính Phủ (1995), Nghị định số 06/CP của Chính Phủ ngày 20/01/1995 quy định chi tiết một số điều của Bộ luật lao động về an toàn lao động, vệ sinh lao động Khác
13. Chính Phủ (1995), Nghị định số 41/CP của Chính Phủ ngày 06/07/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất Khác
14. Chính Phủ (1995), Nghị định số 81/CP của Chính Phủ ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về lao động là người tàn tật Khác
15. Chính Phủ (1996), Nghị định số 23/CP của Chính Phủ ngày 18/04/1996 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về những quy định riêng đối với lao động nữ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w