với hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng còn có các quy định của các văn bản pháp luật thuộc ngành và lĩnh vực khác cùng điều chỉnh các quan hệ và hành vi liên quan đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HUYỀN
TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC
VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trương Quang Vinh
Hà nội – 2010
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Huyền
Trang 31.1 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy
định về khai thác và bảo vệ rừng trước khi có Bộ luật hình sự năm
1.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
20
1.2 Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 4THỰC TRẠNG TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI
THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG VIỆT NAM
51
2.1 Tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng trong nền kinh tế thị trường Việt Nam
51
2.1.1 Thực trạng của tình hình tội phạm 52
2.2 Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới
69
2.2.1 Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng ở Việt Nam
69
2.2.2 Phòng chống tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng ở một số nước trên thế giới
75
PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ
83
Trang 5BẢO VỆ RỪNG
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
3.3 Hoàn thiện quy dịnh pháp luật có liên quan đến tội vi phạm
các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
VPCQDVKTVBVR Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 1.1 So sánh tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ
rừng với tội buôn lậu, tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ
qua biên giới, tội huỷ hoại rừng, tội vi phạm các quy định về bảo
vệ động vật hoang dã, quý hiếm
44
Bảng 2.1 Số vụ và số bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội vi phạm các
quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong năm năm, từ năm 2005
đến năm 2009
52
Bảng 2.2 Số vụ, số bị cáo phạm tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng so sánh với tội phạm nói chung của từng năm,
từ năm 2005 đến năm 2009
53
Bảng 2.3 Số vụ vi phạm về khai thác, mua bán, vận chuyển và
chế biến lâm sản so sánh với số vụ vi phạm Luật bảo vệ và phát
triển rừng nói chung cũng như số vụ/ số bị can bị xử lý về hình sự
trong ba năm, từ năm 2007 đến năm 2009
56
Bảng 2.4 Mức độ gia tăng hàng năm của số vụ và số bị cáo phạm
tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 58 Bảng 2.5 Đặc điểm nhân thân của bị cáo đã xét xử sơ thẩm trong
Bảng 2.6 Đặc điểm nhân thân của 115 bị cáo thuộc 100 vụ án vi
phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng 66
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang Biểu đồ 2.1 Số lượng tội vi phạm các quy định về khai thác và
bảo vệ rừng và số lượng tội phạm nói chung, từ năm 2005 đến
năm 2009
53
Biểu đồ 2.2 Số lượng bị cáo của tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng và số bị cáo của các tội phạm nói chung, từ
năm 2005 đến năm 2009
55
Đồ thị 2.1 Diễn biến tình hình tội vi phạm các quy định về khai
thác và bảo vệ rừng trong năm năm, từ năm 2005 đến năm 2009 59
Đồ thị 2.2 Diễn biến tình hình số bị cáo là cán bộ công chức
phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong
năm năm, từ năm 2005 đến năm 2009
68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
` Việt Nam là nước có diện tích rừng và đất rừng khá lớn, chiếm khoảng 30% diện tích lãnh thổ Là nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế lớn nên rừng đã trở thành đối tượng, mục tiêu khai thác của nhiều cá nhân, tổ chức Do vậy, khai thác rừng một cách bền vững cũng như bảo vệ rừng ở Việt Nam trở thành một vấn đề cấp thiết hơn bao giờ hết
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) của Đảng, Nhà nước ta đã chủ trương từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được thì những mặt tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình cải cách cũng có xu hướng ngày càng phát triển.Tình hình tội phạm về kinh tế nói chung, đặc biệt là tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng có chiều hướng gia tăng Tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã gây ra cho xã hội những hậu quả nghiêm trọng đồng thời trở thành một nguy cơ, thách thức to lớn, cản trở việc thực hiện đường lối, chủ trương phát triển kinh
tế mà Đảng, Nhà nước đã đề ra và đe doạ nghiêm trọng đến sự cân bằng môi trường sinh thái
Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự năm 1985 Theo đó tội vi phạm quy định vể quản lý
và bảo vệ rừng quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985 được tách làm 02 tội đó là tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều
175 Bộ luật hình sự năm 1999) và tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176 Bộ luật hình sự năm 1999) Bên cạnh quy định của luật hình sự đối
Trang 10với hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng còn có các quy định của các văn bản pháp luật thuộc ngành và lĩnh vực khác cùng điều chỉnh các quan hệ và hành vi liên quan đến tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Việc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng một mặt góp phần nghiêm trị những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng; mặt khác cũng thấy được giới hạn cần trừng trị bằng pháp luật hình sự đối với hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra được mô hình lý luận của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong khoa học luật hình sự, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh chung của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với loại tội này
Chính vì lý do nêu trên, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình sự Việt Nam, làm luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Tình hình tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng không những về số lượng các vụ án, số lượng người thực hiện hành vi phạm tội trong mỗi vụ, mà tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm này cũng ngày càng trở nên nghiêm trọng Tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến tội phạm này không nhiều Có thể kể đến như luận văn thạc sỹ luật học của
tác giả Lê Văn Hà: Trách nhiệm hình sự đối với tội vi phạm các quy định về
khai thác và bảo vệ rừng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn tỉnh Gia Lai, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, 2002; bài viết của tác giả
Trang 11Đỗ Đức Hồng Hà: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng-
những tồn tại và vướng mắc cần tháo gỡ, tạp chí Toà án nhân dân số 14 năm
2005 Và gần đây nhất là luận án tiến sỹ luật học của tác giả Phạm Đình Xinh:
Hoạt động điều tra tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng của cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý và chức vụ
Các công trình này hoặc là chỉ nghiên cứu một phần về trách nhiệm hình sự của loại tội này cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm này trên một phạm vi hẹp; hoặc là nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động điều tra tội phạm vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng của cơ quan cảnh sát điều tra; hoặc là chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trong luật hình
sự Việt Nam
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm các mục đích sau:
- Nghiên cứu lịch sử các quy định về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999 Trên cơ sở đó đưa
ra khái niệm về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng;
- Nghiên cứu, phân tích các khía cạnh pháp lý của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
- Nghiên cứu thực trạng tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng và thực tiễn giải quyết các vụ án này tại Việt Nam
Trang 12- Làm rõ bản chất, mức độ nguy hiểm và những ảnh hưởng tiêu cực của những hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam cũng như đối với môi trường sinh thái
- Góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, đồng thời xây dựng mô hình lý luận một cách hiệu quả, có tính khả thi cao về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cũng như các vấn đề có liên quan đến tội này tại Việt Nam từ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999 đến nay
Về không gian: Nghiên cứu tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại Việt Nam, trong sự so sánh, liên hệ với loại tội này ở một số
nước trên thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và đấu tranh phòng, chống tội phạm
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể để giải quyết những nhiệm vụ mà đề tài đặt ra như phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử…
5 Điểm mới về mặt khoa học
Đề tài được thực hiện thành công và đạt các mục đích đề ra sẽ có đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
Trang 13- Làm rõ về mặt lý luận cấu thành tội phạm của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
- Góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đồng thời xây dựng mô hình lý luận về loại tội này trong giai đoạn hiện nay
6 Kết cấu của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn được trình bày theo kết cấu sau đây: Phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận
Ba chương của bản luận văn bao gồm:
Chương 1: Một số vấn chung về tội vi phạm các quy định về khai thác
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH
VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG
1.1 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội vi phạm các quy định
về khai thác và bảo vệ rừng trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999
1.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Cách mạng tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam Cùng với việc ra đời của Nhà nước, nhân dân ta vừa phải xây dựng, củng cố chính quyền vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược Đảng ta đã xác định ba nhiệm vụ lớn ngay khi giành được độc lập là diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm, trong đó giữ vững chính quyền là nhiệm vụ hàng đầu Với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội giai đoạn này không cho phép Nhà nước ban hành ngay các văn bản pháp luật Do vậy, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh
số 47/SL quy định tạm thời về việc sử dụng luật lệ cũ hiện hành ở Việt Nam, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật” và Bộ “Hình pháp tu chính” Theo nội dung của Sắc lệnh này, thì khi xét xử, Toà án xét xử theo luật hình cũ mà thực dân phong kiến đã đề ra nhưng với điều kiện không được trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hoà [26, tr.53] Ở giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954, việc xét xử các tội phạm nói chung và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng chủ yếu vẫn dựa vào luật lệ hình sự cũ Nhìn chung, thời kỳ này chúng ta chỉ có một số ít các văn bản pháp luật quy định về các hành vi vi phạm khai thác và bảo vệ rừng như: Sắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949 quy
Trang 15định việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 về các tội phá hoại công sản; Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 về các âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của Hợp tác xã và của nhân dân làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, nước ta chia thành hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, Miền Nam tiếp tục tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội ở miền Bắc đã có những biến đổi căn bản so với trước đó, do vậy toàn bộ hệ thống pháp luật của chế độ cũ không được phép
áp dụng nữa [26, tr.65] Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn bản pháp luật điều chỉnh các hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh quy định về quản lý Nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy (ngày 27/9/1961); Nghị định số 221-
CP ngày 29/12/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc phòng cháy và chữa cháy rừng; Nghị định số 39-CP ngày 05/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng; Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa (ngày 21/10/1970); Pháp lệnh ngày 06/9/1972 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định việc bảo vệ rừng; Nghị quyết số 155-CP ngày 03/10/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc thi hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng… Đặc biệt, trong thời kỳ này vấn đề bảo vệ rừng đã được đề cập trong đạo luật cao nhất của Nhà nước ta- Hiến
pháp năm 1980 Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Các cơ quan Nhà
nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” Quy định này đã
Trang 16đặt cơ sở pháp lý quan trọng và cơ bản nhất cho sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc khai thác và bảo vệ rừng
Trước hết cần phải kể đến Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970 Mặc dù Pháp lệnh này không quy định tội khai thác và bảo vệ rừng nhưng những quy định của pháp lệnh này cũng có thể áp dụng để trừng trị những hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ rừng; tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản; cố ý huỷ hoại tài nguyên rừng; cố ý làm trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về bảo vệ rừng, gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc cố ý làm cháy rừng Cụ thể là các tội: Tội cố ý huỷ hoại hoặc làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 6); Tội cố ý làm trái các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về kinh tế, tài chính, gây thiệt hại đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 12); Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 14); Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 18)
Ví dụ, Điều 14 quy định:
1 Kẻ nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản xã hội chủ nghĩa, vì tinh thần trách nhiệm mà không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ, để mất mát, hư hỏng, lãng phí, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt tù
từ sáu tháng đến bảy năm
2 Phạm tội trong trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm [23, tr.103]
Căn cứ vào quy định trên đây thì hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng đều bị xử lý theo Điều 14 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Hành vi này một mặt xâm hại trực tiếp đến tài sản xã hội chủ nghĩa, mặt khác cũng xâm
Trang 17hại đến chế độ bảo vệ rừng của Nhà nước ta Tuy nhiên, trong các trường hợp này khách thể trực tiếp được bảo vệ ở đây là tài sản xã hội chủ nghĩa
Ngày 06/9/1972, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng Theo đó tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều
bị nghiêm cấm Đó là: Cấm phá rừng Những rừng tự nhiên và rừng trồng đều phải được bảo vệ nghiêm ngặt (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng trái với các điều quy định của Nhà nước (Điều 4); Chính phủ quy định những khu rừng cấm nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc các lợi ích đặc biệt khác
Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp để dọn rừng và tu
bổ rừng, cấm săn, bắt chim, muông, thú rừng (Điều 5); Cấm phá rừng, đốt rừng để làm nương dẫy (Điều 6); Cấm đốt lửa ở trong rừng và ven rừng để dọn đường, hạ cây, lấy củi, săn bắt thú rừng; cấm đốt đồi, bãi thuộc đất rừng
để nuôi cỏ non (Điều 7); Cấm ngặt việc thả rông gia súc ở những khu rừng non, rừng mới trồng hoặc mới dặm cây non (Điều 8) v v…[26, tr.111]
Về đường lối xử lý đối với những hành vi vi phạm một trong những điều quy định tại chương II của Pháp lệnh hoặc hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản Quy định hai trường hợp:
Thứ nhất: Nếu vi phạm mà không gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng
thì bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền từ 01 đồng đến 200 đồng Cơ quan kiểm lâm nhân dân huyện có quyền cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 100 đồng Trong trường hợp số tiền phạt quá 100 đồng thì cơ quan kiểm lâm nhân dân tỉnh xét
và xử lý (Điều 21 Pháp lệnh)
Thứ hai: Nếu vi phạm mà gây thiệt hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã
bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước Toà án nhân dân và có thể bị phạt từ 03 tháng đến 02 năm và phạt tiền từ 200 đồng đến 2.000 đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó Nếu cố ý huỷ hoại tài nguyên rừng hoặc cố ý làm
Trang 18trái nguyên tắc, chính sách, chế độ, thể lệ về bảo vệ rừng gây thiệt hại đến tài nguyên rừng; thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vô ý làm cháy rừng hay là có những hành động khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài nguyên rừng thì bị
xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970
Nếu người vi phạm cố ý phá hoại tài nguyên rừng vì mục đích phản cách mạng thì bị xử phạt theo Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 (Điều 22)
Ngoài ra, Điều 24 của Pháp lệnh cũng quy định: Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn ra lệnh cho người thuộc quyền mình chặt, phá rừng hoặc làm những việc khác gây thiệt hại đến tài nguyên rừng thì cũng bị xử lý theo các Điều 21, 22, 23 của Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng
Có thể khẳng định, Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng năm 1972 đã quy định tương đối cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến rừng Không giống với Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, các chế tài áp dụng đối với các hành vi huỷ hoại rừng, làm cháy rừng, xâm phạm các động, thực vật trong rừng… được quy định trong Pháp lệnh bảo vệ rừng năm 1972 không những là chế tài nhằm bảo vệ trực tiếp tài sản xã hội chủ nghĩa mà còn là chế tài để bảo vệ và phát triển rừng cũng như các tài nguyên thiên nhiên khác có trong rừng
Trên cơ sở những kinh nghiệm đã đúc kết từ thực tiễn xét xử, trong báo
cáo tổng kết công tác năm 1972 của Toà án nhân dân tối cao có nêu: “Việc xét
xử những vụ đốt phá rừng, các địa phương cần thấy rõ: Điều cơ bản để đấu tranh phòng, chống những loại hành vi này là, đi đôi với việc củng cố các Hợp tác xã nông nghiệp, định canh, định cư và đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể, cần phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính sách, pháp luật trong đồng bào các dân tộc
Trang 19Việc xử lý về hình sự đối với loại tội phạm về bảo vệ rừng theo Điều 22 Pháp lệnh ngày 06/9/1972 hoặc các Điều 6, 14, 18 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa chỉ nên hạn chế trong một số trường hợp như: Đã bị xử lý về mặt hành chính mà còn vi phạm hoặc đã gây thiệt hại lớn… Khi xử lý, để đánh giá sự thiệt hại, nhất thiết cần có sự liên hệ chặt chẽ với các ngành hữu quan, nhất là đối với chính quyền và cơ quan lâm nghiệp địa phương”[26, tr.93]
Bên cạnh những văn bản kể trên, cùng thời gian này Chính phủ và các
Bộ, Ngành đã ban hành hàng loạt các văn bản có liên quan về quản lý và bảo
vệ rừng như: Quyết định số 41- TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc quy định các khu rừng cấm; Nghị định số 221/CP của Thủ tướng Chính phủ về phòng cháy và chữa cháy rừng; Thông tư số 24-TT/75 ngày 20/9/1975 của Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời về việc bảo vệ và khắc phục hồi rừng v v…
Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các văn bản pháp luật được coi là cơ sở pháp lý để xét xử tội phạm về bảo vệ rừng mặc dù chưa đầy đủ, nhưng ở mức độ nhất định các văn bản này đã có những quy định khá cụ thể và chặt chẽ trong việc bảo vệ rừng Tuy nhiên, do những hạn chế khách quan của điều kiện kinh tế, xã hội nên trong lĩnh vực lập pháp, các quy định về bảo vệ rừng nói chung và pháp luật hình sự trong việc bảo vệ rừng nói riêng chưa được nhận thức đầy đủ Việc xử lý tội phạm về bảo vệ rừng vẫn được thực hiện theo Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970; Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967; Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 06/9/1972 của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội Mặc dù vậy, những quy định nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật thời kỳ này đã bước đầu đặt cơ sở quan trọng cho pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Trang 201.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 và
có hiệu lực từ ngày 01/11/1986 là Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta
Sự ra đời của bộ luật này đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam Trong bộ luật này lần đầu tiên tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng đã được quy định tại một điều độc lập Trên cơ cở kế thừa những quy định trước đây tại các Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970, Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 06/9/1972 và báo cáo tổng kết công tác năm 1972 của Toà án nhân dân tối cao, tại Điều 181 chương VII- Các tội phạm về kinh tế-
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định:
1 Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắn trái phép chim, thú hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo
vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2 Pham tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm [21, tr.78]
Như vậy, khách thể của tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng được Bộ luật hình sự năm 1985 bảo vệ đó là chế độ về quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước Hành vi khách quan của tội này được thể hiện dưới những hành vi như khai thác trái phép cây rừng; săn, bắn trái phép chim thú hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý
và bảo vệ rừng Các hành vi nói trên gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: gây cháy rừng, làm suy giảm diện tích rừng, làm mất mát các giống thú, chim
và những thiệt hại khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái
Trang 21Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai, đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự Mặt chủ quan của tội phạm có thể được thực hiện với lỗi vô ý hoặc cố ý Hình phạt được quy định với nhiều mức khác nhau, có thể
là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến mười năm Ngoài ra, đối với loại tội này có thể áp dụng hình phạt bổ sung Tại khoản 1 Điều 185 quy định: Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 164, 177, 178 và từ
180 đến 184 thì có thể bị phạt tiền đến một triệu đồng
Trong một thời gian dài, các quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 về tội Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng hầu như không có sự sửa đổi, bổ sung Điều này được minh chứng qua 04 lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Chỉ duy nhất vào lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1989 tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng có sự sửa đổi về hình phạt bổ sung Theo đó người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có thể bị phạt tiền đến 50.000.000đ (nâng mức phạt tiền lên tối đa là 50.000.000đ)
Nhìn chung, quy định trong Bộ luật hình sự năm 1985 về tội Vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng đã góp phần đáng kể trong việc răn đe
và trừng trị tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, góp phần nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng cũng như đấu tranh phòng, chống tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Tuy nhiên, Điều 181
Bộ luật hình sự năm 1985 do những hạn chế về mặt lập pháp và do sự phát triển nhanh chóng của điều kiện kinh tế, xã hội cũng như những đòi hỏi, yêu cầu mới của việc bảo vệ rừng nên đã bộc lộ một số nhược điểm nhất định
Thứ nhất, tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng được quy định trong chương các tội phạm về kinh tế Hành vi vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng chủ yếu xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, do đó phải cân nhắc cả yếu tố hiệu quả về kinh tế lẫn yếu tố xã hội khi
Trang 22áp dụng hình phạt Bộ luật hình sự năm 1985 mặc dù đã trải qua bốn lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chỉ quy định hình phạt tiền đối với tội phạm này với tính chất là hình phạt bổ sung Việc quy định hình phạt tiền là hình phạt chính của tội này là hết sức cần thiết Điều này không những mang lại hiệu quả kinh
tế cao trong xử lý loại tội phạm về khai thác và bảo vệ rừng mà còn là biện pháp tác động tốt về tâm lý trong quá trình cải tạo, giáo dục người phạm tội, hạn chế những điều kiện cho việc thực hiện tội phạm, mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội, đồng thời giảm chi phí thi hành án phạt tù khi chưa cần thiết
Thứ hai, hành vi vi phạm các quy định về quản lý rừng và hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ rừng là hai hành vi thường không gắn liền với nhau và được thực hiện bởi những chủ thể riêng biệt Chủ thể thực hiện hành
vi vi phạm các quy định về bảo vệ rừng có thể là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định nhưng chủ thể thực hiện hành vi vi phạm các quy định về quản lý rừng là chủ thể đặc biệt, tức là người phải có chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý rừng Do vậy, đòi hỏi cần phải tách tội
vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng thành hai tội riêng biệt để đảm bảo việc xử lý hình sự đối với hai loại hành vi này được khách quan, công bằng và chính xác
Bộ luật hình sự năm 1985 qua 15 năm thi hành đã phát huy vai trò tích cực trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng nói riêng Tuy đã qua bốn lần sửa đổi,
bổ sung nhưng do được xây dựng trong bối cảnh của cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp nên nhiều quy định của bộ luật đã không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các quy định của chương các tội phạm về kinh tế cũng như các quy định của tội vi phạm các quy định
Trang 23về quản lý và bảo vệ rừng đã không phù hợp Do đó, đòi hỏi Bộ luật hình sự năm 1985 cần được sửa đổi, bổ sung một cách căn bản, toàn diện
1.2 Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
1.2.1 Khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 1999 Điều luật quy định như sau:
Điều 175 Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
1 Người nào có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù tù
ba tháng đến ba năm:
a) Khai thác trái phép cây rừng hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 của Bộ luật này;
b) Vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 của Bộ luật này
2 Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm
3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng [2, tr.125]
Điều luật trên quy định bốn loại hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đó là hành vi khai thác trái phép cây rừng, hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép và hành
vi khác vi phạm quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng Tuy
Trang 24nhiên, hành vi khai thác trái phép cây rừng hoặc hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng chỉ bị coi là tội phạm theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 1999 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 BLHS; hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép chỉ bị coi là tội phạm theo quy định tại Điều 175 BLHS nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 và Điều 154 BLHS Như vậy, Điều 175 BLHS chỉ liệt kê một loạt những hành vi và viện dẫn những điều luật tương ứng của BLHS để xác định hành vi nào được coi là hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng mà chưa đưa ra được khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Theo quan điểm của chúng tôi để đưa ra được khái niệm về một tội danh cụ thể nào đó được quy định trong Bộ luật hình sự chúng ta cần dựa trên
cơ sở quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự về khái niệm tội phạm Điều 8
BLHS năm 1999 định nghĩa khái niệm tội phạm như sau: "Tội phạm là hành
vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa" Tội
phạm theo luật hình sự Việt Nam phải là hành vi của con người Những gì mới chỉ trong tư tưởng chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì không thể
là tội phạm [25, tr.87] Khác với hành vi không phải là tội phạm hành vi bị coi
là tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình
sự và do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tội vi phạm các
Trang 25quy định về khai thác và bảo vệ rừng đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý như trên, căn cứ vào Điều 175 Bộ luật hình sự và trên cơ sở Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 có thể rút ra khái niệm vệ tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng như sau:
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm những quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng cũng như xâm phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung
1.2.2 Các dấu hiệu cơ bản của tội vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Trong BLHS năm 1985, hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng không được quy định thành một tội danh độc lập mà được quy định chung với tội vi phạm các quy định về quản lý rừng tại Điều 181 BLHS năm 1985: Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng BLHS năm
1999 đã tách các hành vi vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng thành một tội danh độc lập Điều 175: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng Việc tách tội danh này là cần thiết nhằm thực hiện triệt để hơn nguyên tắc cá thể hóa hành vi cũng như cá thể hóa hình phạt, đồng thời thể hiện quan điểm xử lý của Nhà nước đối với từng loại tội phạm Các dấu hiệu
cơ bản của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được thể hiện ở bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan
* Khách thể của tội phạm
Tội phạm là hiện tượng xã hội vừa mang tính giai cấp, vừa mang tính lịch sử [17, tr.27] Về mặt cấu trúc, tội phạm được hợp thành bởi bốn yếu tố (khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan) Bốn yếu tố này tồn tại không tách rời nhau với tư cách là một bộ phận cấu thành trong một thể thống
Trang 26nhất là tội phạm Mặc dù vậy, bốn yếu tố cấu thành tội phạm có thể phân chia được trong tư duy và do vậy, có thể cho phép nghiên cứu từng yếu tố một cách độc lập với nhau
Căn cứ vào mức độ khái quát các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại, khoa học luật hình sự đã chia khách thể của tội phạm thành ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp [25, tr.65] Chính qua sự gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho khách thể trực tiếp mà tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng xâm phạm tới khách thể loại và khách thể chung Theo Bộ luật hình sự năm 1999, khách thể loại của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là các quan
hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân và khách thể chung được quy định tại khoản 1 Điều 8 của Bộ luật này
Khác với các tội xâm phạm sở hữu có khách thể loại và khách thể trực tiếp giống nhau, khách thể loại và khách thể trực tiếp của các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế là không đồng nhất
Theo chúng tôi, khách thể trực tiếp của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trước tiên phải là quan hệ xã hội cụ thể do hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng bị coi là tội phạm xâm hại Quan hệ xã hội này phải thể hiện đúng bản chất xã hội của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng Với những phân tích như vậy, có thể hiểu khách thể trực tiếp của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng chính là các quan hệ xã hội thể hiện chế độ quản lý của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng Thông qua việc bảo vệ các quan hệ xã hội này Nhà nước bảo vệ được trật tự quản lý kinh tế (khách thể loại) Phạm vi các quan hệ
xã hội (khách thể) bị tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng xâm hại cũng có những thay đổi nhất định theo từng giai đoạn lịch sử
Trang 27Theo Pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng ngày 06/9/1972 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thì các quan hệ xã hội cần được bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là các quan hệ
sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa
Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tội vi phạm các quy định
về quản lý và bảo vệ rừng Theo đó “Người nào khai thác trái phép cây rừng,
săn bắn trái phép chim, thú hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã
bị xử lý hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” Các quan hệ xã hội được
bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại khỏi tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo
vệ rừng là trật tự quản lý kinh tế về khai thác và bảo vệ rừng và chế độ quản
lý rừng của Nhà nước Như vậy, phạm vi các quan hệ xã hội cần được bảo vệ theo quy định tại Điều 181 Bộ luật hình sự năm 1985 rộng hơn các quan hệ xã hội cần được bảo vệ theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999
Luật hình sự của một số nước trên thế giới quan niệm khách thể của tội
vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cũng có sự khác nhau nhất định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước BLHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ban hành năm 1979, được sửa đổi, bổ sung năm 1997 quy định các hành vi vi phạm quy định của Luật bảo vệ rừng; hành
vi chặt phá, hủy hoại trái phép những cây gỗ quý hoặc thu mua, vận chuyển, gia công, buôn bán các loại cây gỗ quý hoặc cây trồng khác và sản phẩm chế tác được bảo hộ trọng điểm quốc gia trong chương VI- Tội xâm phạm trật tự quản lý xã hội
Luật hình sự Liên bang Nga năm 1995 quy định hành vi chặt trái phép cây gỗ và cây bụi tại Điều 256 chương 26 "Các tội phạm về sinh thái" Theo
Trang 28luật hình sự Liên bang Nga thì khách thể của tội phạm này là các quan hệ xã hội được điều chỉnh trong lĩnh vực bảo vệ rừng và các loài thực vật khác
Về đối tượng tác động của tội phạm: Nhằm gây thiệt hại cho khách thể trên, hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được diễn ra trên cơ sở làm biến đổi tình trạng của đối tượng tác động- các bộ phận cấu thành khách thể Đối tượng tác động cụ thể của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là rừng và các sản phẩm của rừng như gỗ và các lâm thổ sản khác Theo quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm
2004 thì rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Khi nghiên cứu đối tượng tác động của loại tội này cũng cần phải chú ý đến một số vấn đề như:
Thứ nhất, cây rừng bị khai thác trái phép chỉ trở thành đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 175 nếu không thuộc Điều 189 BLHS năm
1999
Thứ hai, gỗ bị buôn bán, vận chuyển trái phép chỉ trở thành đối tượng tác động của tội phạm theo Điều 175 BLHS nếu không thuộc Điều 153 hoặc Điều 154 BLHS
Thứ ba, các loại động vật bị săn bắn, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép nếu không phải là hoang dã, quý hiếm thì sẽ trở thành đối tượng tác động của Điều 175 BLHS
* Mặt khách quan của tội phạm
Giống như bất cứ tội phạm nào khác, tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn
Trang 29tại bên ngoài thế giới khách quan mà con người có thể trực tiếp nhận biết được Những biểu hiện đó là:
- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội…)
Như vậy, mặt khách quan của tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là tập hợp tất cả những biểu hiện bên ngoài của tội này diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan, cho phép đánh giá tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đồng thời để phân biệt tội này với những tội phạm khác
Hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng theo Điều 175 Bộ luật hình sự năm 1999 bao gồm 04 loại hành vi:
Thứ nhất, hành vi khai thác trái phép cây rừng Hành vi khai thác trái phép cây rừng thường được biểu hiện cụ thể dưới các dạng như:
- Tổ chức, cá nhân khai thác trái phép cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác đó chỉ được thực hiện khi đã được cấp giấy phép và giấy phép còn trong thời hạn Dạng hành vi này bao gồm cả trường hợp khai thác cây rừng ngoài khu vực cho phép
Theo Điều 4 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004: Rừng phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống sói mòn, chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường Rừng phòng hộ được phân loại thành các loại rừng phòng hộ đầu nguồn; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; rừng phòng hộ bảo vệ môi trường
Trang 30Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng đặc dụng được phân thành các loại như vườn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên; khu bảo vệ cảnh quan; khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh gỗ, lâm sản ngoài gỗ và kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường Rừng sản xuất bao gồm rừng sản xuất là rừng tự nhiên; rừng sản xuất là rừng trồng; rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển, công nhận [19, tr.8]
Đây là dạng hành vi diễn ra phổ biến và chủ yếu nhất trong số các vụ khai thác trái phép cây rừng Qua nghiên cứu ngẫu nhiên 70 vụ án về khai thác trái phép cây rừng có tới 45 vụ án khai thác cây rừng mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép trong trường hợp pháp luật quy định việc khai thác rừng tại khu vực đó chỉ được thực hiện khi đã được cấp phép (chiếm 64,2%)
Ví dụ, tháng 6 năm 2008 các bị cáo Vi Văn Đức, Sạch Văn Thành, Dương Văn Đông, Hà Văn Cảnh, Bế Văn Hùng đã có hành vi khai thác trái phép 01 cây gỗ nghiến nhóm IIA tại lô 2, khoảnh 400 rừng đặc dụng Vằng Khiêu, Bản Lãm, xã Khau Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang có khối lượng gỗ quy tròn là 10,738m3
Tháng 8 năm 2008 các bị cáo Vi Văn Đức, Sạch Văn Thành, Hoàng Văn Cha, Hoàng Văn Cường, Dương Văn Tu lại có hành vi khai thác gỗ trái phép tại lô 1, khoảnh 400, rừng đặc dụng Vằng Khiêu, Bản Lãm, xã Khau Tinh, Na Hang, Tuyên Quang Sự tham gia và khối lượng gỗ của từng bị cáo là: Bị cáo Đức, Thành khai thác trái phép 02 cây gỗ trai lý nhóm IIA có khối
Trang 31lượng quy tròn là 12,780m3, bị cáo Cha 02 cây gỗ trai lý nhóm IIA có khối lượng quy tròn là 12,780m3 và 01 cây gỗ bo nhóm VIII có khối lượng là 0,306m3, bị cáo Cường 01 cây gỗ trai lý nhóm IIA có khối lượng là 10,819m3,
bị cáo Tu 01 cây gỗ trai lý nhóm IIA có khối lượng là 6,102m3 và 01 cây gỗ
Bo nhóm VIII có khối lượng là 0,306m3 (Theo bản án hình sự sơ thẩm số 04/2009/HSST ngày 05/5/2009 của Tòa án nhân dân huyện Na Hang, Tuyên Quang) Trong vụ án này, các bị cáo không có giấy phép khai thác gỗ, không được cấp có thẩm quyền cho phép khai thác nhưng đã tự tiện, lén lút khai thác
gỗ một cách trái phép Số lượng gỗ khai thác trái phép vượt quá mức quy định
xử lý hành chính quy định tại điểm c khoản 3 Điều 19 Nghị định số 159/2007/NĐ- CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ Nên hành vi của các bị cáo đã phạm tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo khoản 2 Điều 175 BLHS
- Tổ chức, cá nhân khai thác cây rừng ở rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng khi đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép
và giấy phép còn trong thời hạn nhưng đã thực hiện không đúng quy định ghi trong giấy phép Bao gồm cả trường hợp: Khai thác cây rừng không có dấu búa bài cây (bài chặt) trong các trường hợp theo quy định của pháp luật phải
có dấu búa bài cây (bài chặt); Khai thác cây rừng vượt quá khối lượng cho phép Trong trường hợp này thì hành vi khai thác phần vượt quá khối lượng cho phép mới bị coi là “khai thác trái phép” cây rừng
Thứ hai, hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác
và bảo vệ rừng
Theo quy định tại điểm 1.2 mục 1 phần IV của Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT- BNN&PTNN- BTP- BCA- VKSNDTC- TANDTC ngày 08 tháng 3 năm 2007 hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì hành
Trang 32vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng được hiểu là ngoài hành vi khai thác trái phép cây rừng còn có các hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng Hướng dẫn như vậy của Thông tư liên tịch số 19 là quá chung chung, nếu như không muốn nói là luẩn quẩn Bởi lẽ nếu hiểu theo hướng dẫn trên thì hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép cũng được coi là hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng Như vậy, điểm b khoản 1 Điều 175 trở nên thừa Mặt khác, hướng dẫn tại Thông tư
19 cũng không chỉ ra được “hành vi khác” ở đây cụ thể là những loại hành vi
gì Theo quan điểm của chúng tôi “hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng” được hiểu là những hành vi không được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự mà được quy định trong các văn bản pháp luật khác có liên quan Những hành vi này có thể là hành vi vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng (Điều 8), vi phạm quy định
về phá rừng để làm nương rãy (Điều 11), vi phạm các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng (Điều 12); vi phạm quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng (Điều 14); hành vi lấn chiếm rừng trái phép (Điều 15); hành vi phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng (Điều 16)… thuộc Nghị định 159/2007/NĐ-CP ngày 30/10/2007 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Và những hành vi mà nhà làm luật dự liệu sẽ xuất hiện trong tương lai (tất nhiên những hành vi này phải là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước
Trang 33trường hợp mà bị xử lý như sau: Nếu chủ rừng khai thác cây rừng trái phép thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 175 BLHS; Nếu người khai thác cây rừng trái phép mà không phải là chủ rừng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng quy định tại chương XIV
"Các tội xâm phạm sở hữu" của BLHS
Thứ ba, hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép: Là hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ không đúng với quy định của Nhà nước
Hành vi vận chuyển gỗ không đúng với quy định của Nhà nước bao gồm những loại hành vi như vận chuyển gỗ không có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; vận chuyển gỗ có giấy phép của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền nhưng không đúng với nội dung cấp phép (lợi dụng giấy phép
để vận chuyển nhiều lần, vận chuyển với khối lượng nhiều hơn khối lượng cho phép hoặc sai chủng loại gỗ ghi trong giấy phép, vận chuyển gỗ tròn không đóng dấu búa kiểm lâm hoặc trà trộn gỗ đã đóng dấu búa, gỗ không có dấu búa kiểm lâm, không rõ lai lịch gỗ để vận chuyển….)
Ví dụ, tháng 8 năm 2008, Đặng Văn Sỹ và Lý Văn Đại rủ nhau lên rừng đặc dụng thuộc lô số 4, khoảnh 20 thuộc địa bàn thôn Cao Đường, xã Yên Thuận, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để khai thác gỗ Sỹ và Đại phát hiện thấy có một cây gỗ bị người khác chặt từ trước, do biết được đó là gỗ Hoàng Đàn thuộc loại gỗ quý hiếm Nhà nước cấm khai thác nhưng thấy gỗ tốt nên Sỹ và Đại đã dùng rìu chặt cây gỗ ra thành từng đoạn rồi dùng xe mô tô chở về nhà Trên đường vận chuyển gỗ về nhà, cả hai đã bị tổ công tác hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Cham Chu lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2009/HSST ngày 04/8/2009 của TAND huyện
HY, tỉnh TQ) Theo nội dung vụ án thì hành vi của các bị cáo Sỹ và Đại là hành vi vận chuyển gỗ mà không có giấy phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 34Hành vi buôn bán gỗ trái phép bao gồm những loại hành vi như: Buôn bán gỗ không có giấy phép kinh doanh hoặc có giấy phép kinh doanh nhưng
đã hết hiệu lực hoặc buôn bán gỗ không đúng với nội dung ghi trong giấy phép kinh doanh v v…
Hành vi khai thác trái phép cây rừng và hành vi khác vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175
Bộ luật hình sự chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 175 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 189 (tội huỷ hoại rừng); hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
175 nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 153 (tội buôn lậu) hoặc Điều 154 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới)
Dấu hiệu thứ hai, người có hành vi vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính
về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Như vậy, hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng chỉ
bị coi là hành vi phạm tội khi kèm theo một trong các điều kiện nêu trên Các điều kiện này cần được hiểu như sau:
Đã bị xử phạt hành chính về hành vi vi phạm các quy định về khai thác
và bảo vệ rừng
Đây là trường hợp trước đó người có hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã bị xử phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền…) về một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 175 hoặc khoản 1 Điều 189 BLHS và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, nay lại thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 175 Nghĩa là chưa quá một năm,
kể từ ngày thi hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết hiệu lực thi
Trang 35hành quyết định xử phạt mà lại vi phạm Một vấn đề lưu ý là dạng hành vi “đã
bị xử phạt hành chính” và dạng hành vi “còn vi phạm” không đòi hỏi phải cùng dạng Ví dụ trước đây đã bị xử phạt hành chính về hành vi khai thác trái phép cây rừng, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nay lại vi phạm về hành vi đó hoặc hành vi vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép thì người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình
sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Đã bị kết án về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm
Nghĩa là tính từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án chưa quá các thời hạn sau đây:
a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo;
b) Ba năm trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;
c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười năm năm (Điều 64 Bộ luật hình sự năm 1999)
Hành vi “còn vi phạm này” không đòi hỏi phải cùng dạng với hành vi
đã bị Toà án kết tội bằng một bản án Tức là hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng xảy ra sau có thể là hành vi khai thác trái phép cây rừng, hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hành vi buôn bán gỗ trái phép…mà hoàn toàn không phụ thuộc vào dạng hành vi trước đây đã thực hiện và bị kết
án
Gây hậu quả nghiêm trọng
Mức độ gây hậu quả nghiêm trọng được quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 19/2007/TTLT- BNN&PTNT- BTP- BCA- VKSNDTC- TANDTC ngày 08 tháng 3 năm 2007 như sau:
Trang 36a) Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng) từ trên mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính cho mỗi hành vi vi phạm Ví dụ: Mức tối đa quy định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành đối với hành vi khai thác trái phép gỗ thông thường từ nhóm IV đến nhóm VIII ở rừng sản xuất là 20m2 Nếu khai thác trái phép từ trên 20m2 đến 40m2 là gây hậu quả nghiêm trọng
b) Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ 02 loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I – III với gỗ thông thường nhóm IV – VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm II A) mà khối lượng của mỗi loại gỗ chưa vượt quá mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến hai lần mức tối đa bị
xử phạt vi phạm hành chính quy định đối với gỗ thông thường thuộc nhóm IV đến nhóm VIII quy định cho từng hành vi tương ứng đó;
c) Khai thác gỗ quý, hiếm nhóm IA ở rừng sản xuất đến 2m2; ở rừng phòng hộ đến 1,5m2; ở rừng đặc dụng đến 1m3;
d) Khai thác thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA ở rừng sản xuất có giá trị đến 03 triệu đồng; ở rừng phòng hộ đến 02 triệu đồng; ở rừng đặc dụng đến một triệu đồng;
đ) Vận chuyển, buôn bán gỗ quý, hiếm nhóm IA đến 2m3
Nếu phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 175 BLHS thì hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép hoặc hành vi khác vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng phải đi kèm theo một trong các tình tiết sau: Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng)
từ trên hai lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đến bốn lần mức tối
đa bị xử phạt vi phạm hành chính quy định cho mỗi hành vi vi phạm; Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ hai loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I- III với gỗ thông thường nhóm IV- VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm IIA) mà tổng khối lượng gỗ trong vụ vi phạm từ trên hai lần đến
Trang 37bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với gỗ thông thường thuộc nhóm IV đến nhóm VIII quy định cho hành vi tương ứng đó; Khai thác
gỗ quý hiếm nhóm IA, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại các điểm c và d tiểu mục 1.4, mục 1 Thông tư liên tịch số 19 đến hai lần mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng tương ứng đó; Vận chuyển, buôn bán gỗ quý hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại điểm đ, tiểu mục 1.4 mục 4 này đến hai lần mức tối đa của hậu quả nghiêm trọng tương ứng đó; Gây hậu quả nghiêm trọng được hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 Thông tư liên tịch 19 và còn thực hiện một trong các hành vi: Chống người thi hành công vụ; gây thương tích cho người thi hành công vụ; đập phá nơi làm việc, trang thiết bị, phương tiện của cơ quan có trách nhiệm quản lý và bảo vệ rừng mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội độc lập
Nếu phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 175 BLHS thì hành vi khai thác, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép hoặc hành vi khác vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng phải đi kèm theo một trong các tình tiết sau:
Gây thiệt hại về lâm sản (trừ động vật rừng) trên bốn lần mức tối đa bị
xử phạt vi phạm hành chính quy định cho mỗi hành vi vi phạm;
Khai thác, vận chuyển, buôn bán trái phép từ hai loại gỗ trở lên (gỗ thông thường nhóm I- III với gỗ thông thường nhóm IV- VIII; gỗ thông thường với gỗ quý, hiếm nhóm IIA) mà tổng khối lượng gỗ trong vụ vi phạm
từ trên bốn lần đến bốn lần mức tối đa bị xử phạt vi phạm hành chính đối với
gỗ thông thường thuộc nhóm IV đến nhóm VIII quy định cho hành vi tương ứng đó;
Khai thác gỗ quý hiếm nhóm IA, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả rất nghiêm trọng;
Trang 38Vận chuyển, buôn bán gỗ quý hiếm nhóm IA trên mức tối đa của hậu quả rất nghiêm trọng;
Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hướng dẫn tại các điểm a,
b, c, d và còn thực hiện một trong các hành vi nêu tại điểm d tiểu mục 1.5 mục 1 của Thông tư liên tịch số 19
Hậu quả của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là những thiệt hại về mặt vật chất như số lượng gỗ bị khai thác trái phép, diện tích rừng bị phá huỷ, lấn chiếm… ngoài ra, loại tội phạm này còn gây ra những hậu quả khác như xâm phạm tới trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng; làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân bằng sinh thái, là nguyên nhân gây ra bão lụt, hạn hán, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống con người
Như vậy, xét đặc điểm cấu trúc các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cho thấy, tội phạm này
có cấu thành vật chất Theo đó hậu quả của tội phạm là dấu hiệu, là điều kiện bắt buộc để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội Giữa hành vi khách quan với hậu quả của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng luôn luôn có mối quan hệ nhân quả với nhau Hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là nguyên nhân gây nên những thiệt hại về mặt vật chất và ngược lại những thiệt hại về mặt vật chất là kết quả của những hành vi vi phạm Hành vi vi phạm phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm cho
xã hội về mặt thời gian (là nguyên nhân làm cho trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng bị xâm phạm)
* Chủ thể của tội phạm
Theo luật hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm là con người cụ thể,
có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và người
Trang 39đó đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng không quy định chủ thể đặc biệt Nghĩa là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Luật hình sự không trực tiếp quy định tuổi cho chủ thể của từng tội phạm Tuy nhiên, độ tuổi này sẽ được xác định thông qua khung hình phạt của mỗi tội cụ thể Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự thuộc tội phạm rất nghiêm trọng Nên người có hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng chỉ
có thể trở thành chủ thể của tội phạm tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự khi họ từ đủ 16 tuổi trở lên, nếu phạm tội ở khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự khi họ là người từ đủ 14 tuổi trở lên phạm tội với lỗi cố ý gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng dù đã đạt độ tuổi theo quy định của Bộ luật hình sự nhưng chỉ trở thành chủ thể của tội phạm này khi họ có năng lực trách nhiệm hình sự- Tức là có trạng thái bình thường để hoàn toàn có khả năng nhận thức được tính chất thực tế (tính nguy hiểm cho xã hội) và tính chất pháp lý (tính chất trái pháp luật hình sự) của hành vi do mình thực hiện hoặc điều khiển hành vi ấy [9, tr.358] Đạt độ tuổi luật định và có năng lực trách nhiệm hình sự là hai điều kiện cần và đủ để một người thực hiện hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trái pháp luật hình sự, có lỗi trở thành chủ thể của tội phạm Hai điều kiện này là những dấu hiệu pháp lý bắt buộc không chỉ đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng mà đối với chủ thể của mọi tội phạm
Trang 40Tóm lại, chủ thể của tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng là bất kỳ ai, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và trái pháp luật hình sự
Khi nghiên cứu về chủ thể của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng một vấn đề vần được quan tâm đó là nhân thân của người phạm tội Nhân thân người phạm tội được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự của họ [25, tr.97] Ở tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng thì nhân thân của người phạm tội có ý nghĩa đối với việc định tội Theo đó, cấu thành tội phạm cơ bản của tội này đòi hỏi người phạm tội phải có dấu hiệu phản ánh đặc điểm xấu về nhân thân là “đã bị xử phạt hành chính” hoặc là “đã bị kết án”
* Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm là thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan [17, tr.100] Nếu mặt khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo
vệ rừng là mặt bên ngoài thì mặt chủ quan là mặt bên trong, là thái độ tâm lý của tội phạm được thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý
Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi, mục đích và động cơ Trong
đó yếu tố lỗi được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm
Lỗi của người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng có thể là lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý Thông thường đối với những người thực hiện hành vi khai thác trái phép cây rừng, vận chuyển gỗ trái phép, buôn bán
gỗ trái phép thì lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý (có thể là cố ý trực tiếp hoặc
cố ý gián tiếp) Tức là người thực hiện hành vi khai thác trái phép cây rừng, vận chuyển, buôn bán gỗ trái phép nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó là xâm hại đến trật tự