1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

123 934 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự là vấn đề quyết định hình phạt QĐHP của Tòa án đối với các trường hợp phạm tội nói chung và đối với trường hợp QĐHP nhẹ hơn quy định củ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ XUÂN LỤC

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ XUÂN LỤC

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chuyên ngành : Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Lê Xuân Lục

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH

PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

8

1.1 Một số vấn đề chung về quyết định hình phạt 8 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt 8 1.1.2 Các nguyên tắc của quyết định hình phạt 19

1.3 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

43

1.3.1 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

trong trong Bộ luật Hình sự Liên bang Nga

43

1.3.2 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

trong Bộ luật Hình sự Trung Quốc

45

1.3.3 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự 47

Trang 5

trong Bộ luật Hình sự Nhật Bản

1.3.4 Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

trong Bộ luật Hình sự Thụy Điển

49

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA

BỘ LUẬT HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

52

2.1 Pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt nhẹ hơn

quy định của Bộ luật Hình sự từ năm 1945 đến trước năm 1999

52

2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 52 2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999 55 2.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về quyết định hình

phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

2.2.3 Quy định về giới hạn của việc quyết định hình phạt nhẹ hơn

quy định của Bộ luật Hình sự

78

2.3 Thực tiễn áp dụng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn

quy định của Bộ luật Hình sự

83

2.3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về quyết định hình phạt nhẹ

hơn quy định của Bộ luật Hình sự

83

2.3.2 Những bất cập trong quy định về quyết định hình phạt nhẹ

hơn quy định của Bộ luật Hình sự

87

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ MỘT SỐ GIẢI

PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

96

Trang 6

3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về quyết định

hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

96

3.1.1 Hoàn thiện các căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định

của Bộ luật Hình sự

96

3.1.2 Hoàn thiện quy định về giới hạn của việc quyết định hình phạt

nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

97

3.1.3 Hoàn thiện các vấn đề khác có liên quan đến quyết định hình

phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự

99

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật Hình sự QĐHP : Quyết định hình phạt TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

3.1 Tổng hợp các khung hình phạt theo loại tội trong Phần

các tội phạm của BLHS năm 1999

98

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong những năm gần đây cho thấy tình hình tội phạm diễn biến hết sức phức tạp, tinh vi, với nhiều thủ đoạn khác nhau Luật hình sự đi vào đời sống xã hội có vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Một trong những vấn đề quan trọng của luật hình sự là vấn đề quyết định hình phạt (QĐHP) của Tòa

án đối với các trường hợp phạm tội nói chung và đối với trường hợp QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) nói riêng QĐHP chính xác, công bằng và đúng pháp luật không chỉ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật mà còn có tác dụng cho người dân tin tưởng vào chính sách pháp luật của Nhà nước Nhìn chung, việc QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung Vì vậy, mọi trường hợp áp dụng hình phạt nặng hơn hoặc nhẹ hơn mức cần thiết đối với hành vi phạm tội đều không đảm bảo được mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội trở thành người

có ích cho xã hội

Việc QĐHP không phải là việc dập khuôn như nhau với mọi hành vi phạm tội cũng như mọi người phạm tội, mà phải dựa trên các căn cứ và các nguyên tắc QĐHP theo quy định của BLHS Trong trường hợp đặc biệt, Tòa

án có thể QĐHP nhẹ hơn quy định tại điều khoản cụ thể của BLHS nếu dựa trên các căn cứ, nguyên tắc về QĐHP mà BLHS quy định mà vẫn đảm bảo tính chính xác, công bằng cũng như đạt được việc giáo dục và phòng ngừa chung Trong thực tiễn xét xử, việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS còn nhiều khó khăn vướng mắc nhất định nên cần phải xem xét, nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn

Trang 10

Quy định về việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS là xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước để thực hiện phương châm trong đường lối xử lý tội phạm và người phạm tội của Nhà nước ta, đó là nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo

Vấn đề QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong BLHS năm 1985, được quy định chung cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) trong một điều của BLHS năm

1985 (Điều 38) Tương tự như vậy, đến lần pháp điển hóa lần thứ hai bằng việc thông qua BLHS năm 1999 các quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS cũng được tiếp tục ghi nhận đồng thời có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, mà cụ thể quy định này đã được tách ra và ghi nhận tại một điều luật riêng biệt trong Phần chung (Điều 47) Tuy nhiên, quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS tại BLHS năm 1999 vẫn chưa đáp ứng được các yêu cầu về mặt lập pháp với chế định này, cũng như thực tiễn áp dụng vẫn còn những vướng mắc nhất định Chẳng hạn, cả BLHS năm

1985 và BLHS năm 1999 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS, các tình tiết giảm nhẹ TNHS hay tăng nặng TNHS có ý nghĩa như thế nào đối với việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS? Hay vấn đề tại sao lại quy định chỉ được QĐHP trong khung hình phạt nhẹ hơn liền kề, trong khi đó các chế định khác như miễn hình phạt, miễn TNHS còn mang lại hậu quả pháp lý có lợi hơn nhiều cho người phạm tội? Mặt khác, trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với chế định này cho thấy còn nhiều bất cập, việc áp dụng chưa thống nhất giữa các đơn vị, địa phương, nhận thức của nhiều Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân còn nhiều thiếu sót dẫn đến việc áp dụng chế định này trên thực tế chưa đáp ứng được các yêu cầu về chính sách hình sự

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt lý luận các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về QĐHP

Trang 11

nhẹ hơn quy định của BLHS và vấn đề áp dụng trong thực tiễn xét xử chế định này để đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn quy định về vấn đề QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý hết sức quan trọng Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài

"Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự - Một số vấn

đề lý luận và thực tiễn" làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS là một trong những trường hợp QĐHP có tính đặc biệt Quy định này có một vai trò quan trọng trong chế định QĐHP vì vậy về mặt lý luận cho đến nay ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

- Về sách chuyên khảo:

+ ThS Đinh Văn Quế: Tìm hiểu về hình phạt và quyết định hình phạt

trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;

+ TS Lê Văn Đệ: Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật

hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010;

+ TS Dương Tuyết Miên: Định tội danh và quyết định hình phạt,

Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2007

- Về các bài viết:

+ TS Trần Thị Quang Vinh, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định

của pháp luật hình sự, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2/2000;

+ Dương Tuyết Miên, Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định

của Bộ luật Hình sự, Tạp chí Luật học, số 6/2000;

+ TS Phạm Mạnh Hùng, Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy

định của Bộ luật, Tạp chí Tòa án nhân dân (TAND), số 3/2001;

+ TS Lê Đăng Doanh, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ

luật Hình sự, Tạp chí TAND, số 12/2003;

Trang 12

+ ThS Phạm Văn Báu, Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của bộ

luật - những bất cập và phương hướng hoàn thiện, Tạp chí TAND, số

18/2008, v.v…

Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các công trình nghiên cứu trên đây đều đã đề cập đến một số khía cạnh nhất định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS, nhưng vẫn chỉ chủ yếu nghiên cứu dưới góc độ đây là một trường hợp nhỏ của chế định QĐHP nói chung Có thể nói, cho đến nay chưa có một công trình, hay tài liệu nào nghiên cứu một cách toàn diện về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS

Vì vậy, với nội dung này, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của vấn đề QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS Làm rõ hơn được vấn đề này sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử đáp ứng được các yêu cầu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

lý trong thực tiễn xét xử và đề xuất một số kiến giải lập pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS dưới góc độ thực tiễn của hoạt động xét xử và nhận thức khoa học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS, cụ thể là:

- Vấn đề khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS;

Trang 13

- Vấn đề các nguyên tắc, căn cứ QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS;

- Vấn đề thực tiễn áp dụng các quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS trong hoạt động xét xử của Tòa án;

- Nghiên cứu các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS dưới góc độ luật hình sự theo quy định của BLHS năm 1999

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Để tiếp cận vấn đề nghiên cứu đề tài tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự cũng như chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm Ngoài ra, còn sử dụng các thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật

tố tụng hình sự, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp tiếp cận làm sáng tỏ vấn đề như: phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê,… Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước

và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực tư pháp hình sự do TANDTC hoặc của các cơ quan bảo vệ pháp luật

ở trung ương ban hành có liên quan đến đề tài

Trang 14

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Luận văn hoàn thành sẽ là chuyên khảo nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS Trong luận văn này, tác giả giải quyết các vấn đề về mặt lý luận sau:

- Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận về chế định QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS như: Một số vấn đề chung về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS bao gồm: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS; quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

- Phân tích và luận giải một cách khoa học các nguyên tắc, căn cứ của việc QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS; đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS, đồng thời trình bày được mô hình lý luận và kiến giải lập pháp về chế định này trong BLHS

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận

Đây là đề tài nghiên cứu chuyên khảo đề cập một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS theo luật hình sự Việt Nam ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn góp phần vào việc làm rõ thực tiễn áp dụng quy định về QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS của cơ quan Tòa án, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định QĐHP nhẹ hơn quy định của BLHS trong lĩnh vực lập pháp, cũng như áp dụng chúng trong thực tiễn Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo trong lĩnh vực pháp luật, cũng như

Trang 15

phục vụ công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy

định của Bộ luật Hình sự

Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định

hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật hình sự và một số giải pháp nâng cao

hiệu quả áp dụng các quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của

Bộ luật Hình sự

Trang 16

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

NHẸ HƠN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyết định hình phạt

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là một công việc quan trọng trong hoạt động xét

xử vụ án hình sự của Tòa án Khi tìm hiểu về QĐHP, trước tiên cần bàn về khái niệm QĐHP Khái niệm QĐHP được coi là một trong các khái niệm cơ bản và quan trọng của luật hình sự Việt Nam Luật hình sự xác định hành vi nào là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới các khách thể được luật hình sự bảo vệ và quy định các biện pháp với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất để áp dụng đối với người phạm tội Ở nước ta, trước đây,

thuật ngữ QĐHP còn có tên gọi là lượng hình Sau khi BLHS được ban hành

năm 1985 và có hiệu lực, thuật ngữ lượng hình mới được thay bằng tên gọi là QĐHP như hiện nay Mặc dù là một khái niệm quan trọng nhưng cho tới nay, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa có một một quy định để xác định khái niệm QĐHP Khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học luật hình sự

Trong khoa học luật hình sự đã có nhiều nhà nghiên cứu về luật hình

sự đưa ra các khái niệm khác nhau về vấn đề này, chẳng hạn như, ThS Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa mang tính khái quát về QĐHP như sau "Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành Tòa án lựa chọn loại hình phạt nào, mức hình phạt bao nhiêu, phải tuân theo những quy định của Bộ luật Hình sự" [24] Trong khi đó, TS Lê Văn

Đệ thì cho rằng: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác

Trang 17

định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người

phạm tội cụ thể" [9, tr 161]

Dưới góc độ của luật tố tụng hình sự, TS Chu Thị Trang Vân cho rằng:

"Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử

của Bộ luật Hình sự, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt

cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội" [55]

Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Khoa Luật thuộc Đại học

Quốc gia Hà Nội thì "quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt

cụ thể (bao gồm hình phạt chính và có thể cả hình phạt bổ sung) với mức độ

cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội" [3, tr 317]

Còn trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật

Hà Nội thì định nghĩa: "Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và

xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [50, tr 201]

Nhìn chung, các khái niệm do các tác giả đưa ra trên đây suy cho cùng đều khẳng định QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội Việc lựa chọn loại hình phạt được hiểu là chỉ lựa chọn loại hình phạt chính hoặc cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung trong số các hình phạt thuộc hệ thống hình phạt quy định tại BLHS, với những mức độ cụ thể, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhằm đạt được các mục đích của hình phạt Có thể nói đây chính là nội dung cốt lõi của khái niệm QĐHP và được đa số các nhà khoa học đồng tình ủng hộ

Tuy nhiên, hiện nay, khái niệm về QĐHP còn được một số nhà luật học đưa ra nghiên cứu theo hai khía cạnh đó là: nghĩa hẹp của khái niệm QĐHP, nghĩa rộng của khái niệm QĐHP [50, tr 201-202] Theo đó, các tác giả này cho rằng các quan điểm về QĐHP mà đã trình bày trên đây chỉ là khái

Trang 18

niệm QĐHP theo nghĩa hẹp Còn theo nghĩa rộng của vấn đề thì QĐHP còn bao gồm cả các hoạt động: xác định người phạm tội có được miễn TNHS hay miễn hình phạt hay không, xác định khung hình phạt, xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc dưới khung đó [15, tr 65-66]

Như vậy, qua phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khoa học về QĐHP được hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp như sau:

Thứ nhất, nghĩa hẹp của QĐHP là việc Tòa án ra QĐHP với hình phạt

chính và hình phạt bổ sung

Thứ hai, nghĩa hẹp của QĐHP là bao gồm cả hình phạt chính và hình

phạt bổ sung, quyết định các biện pháp chấp hành hình phạt, miễn TNHS, miễn hình phạt hoặc quyết định áp dụng các biện pháp tư pháp khác nhằm mục đích thay thế hoặc bổ sung cho hình phạt Ví dụ, quyết định biện pháp bắt buộc chữa bệnh… Như vậy, với nội dung nêu trên thì QĐHP chỉ có thể đặt ra đối với những trường hợp người phạm tội phải chịu TNHS và bị áp dụng hình phạt

Đối với hình phạt chính, đa số hình phạt quy định cho các tội phạm là chế tài lựa chọn Do vậy, nếu trong khung hình phạt có nhiều loại hình phạt khác nhau thì QĐHP là việc lựa chọn một hình phạt cụ thể trong các hình phạt

đó và xác định một mức hình phạt cụ thể trong phạm vi cho phép để áp dụng đối với người phạm tội Trường hợp hình phạt mà Toàn án tuyên cho bị cáo là cảnh cáo, trục xuất, tù chung thân hoặc tử hình thì QĐHP thực chất chỉ là việc lựa chọn hình phạt mà không có bước xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội

Đối với hình phạt bổ sung, việc QĐHP tương tự như QĐHP chính, tức

là Tòa án lựa chọn loại và quyết định mức hình phạt chính trong phạm vi cho phép của khung hình phạt để áp dụng kèm theo hình phạt chính nhằm mục đích bổ sung cho hình phạt chính, mở rộng khả năng pháp lý cho Tòa án lựa chọn hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội

Trang 19

phạm và đặc điểm nhân thân của người phạm tội Tuy nhiên, về cơ bản nhất QĐHP chính vẫn là nội dung cốt lõi của QĐHP và quyết định bản chất của khái niệm này

Trong khoa học luật hình sự hiện nay, khi xác định nội dung của khái niệm QĐHP thì có tác giả còn cho rằng nên coi việc miễn hình phạt và miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP [22, tr 62] Theo TS Dương Tuyết Miên

trong sách "Định tội danh và quyết định hình phạt" thì nên coi miễn hình phạt

thuộc về giai đoạn QĐHP Điều 54 BLHS quy định: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn trách nhiệm hình sự" [29] Như vậy, về nội dung pháp lý thì miễn hình phạt là không buộc người phạm tội phải chịu hình phạt tức biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất về tội mà họ đã phạm Miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn QĐHP vì miễn hình phạt được thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh và là bước đầu của quá trình xác định hình phạt

Cũng theo TS Dương Tuyết Miên, đối với trường hợp miễn TNHS cũng nên coi thuộc về giai đoạn QĐHP, bởi những lý do sau: Miễn TNHS là không buộc người phạm tội phải chịu TNHS về tội họ đã thực hiện Miễn TNHS được thực hiện sau khi Tòa án đã xác định xong tội danh cho bị cáo nên không thể thuộc giai đoạn định tội danh Trên cơ sở định tội danh bị cáo

đã phạm, Tòa án sẽ xem xét, nếu thấy không cần thiết phải truy cứu TNHS đối với bị cáo mà vẫn đảm bảo được các yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm thì Tòa án sẽ tuyên bố miễn TNHS cho bị cáo [22, tr 62]

Tác giả đồng ý với quan điểm của TS Dương Tuyết Miên coi miễn hình phạt là biện pháp xử lý TNHS chỉ do Tòa án tiến hành trên cơ sở những căn cứ, quy định của BLHS Miễn hình phạt cũng chỉ được tiến hành sau khi Tòa án đã định tội danh xong đối với bị cáo Vì vậy, cần xác định miễn hình phạt phải thuộc về giai đoạn QĐHP

Trang 20

Còn đối với quan điểm cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP thì tác giả không đồng ý, bởi lẽ, miễn TNHS là một biện pháp xử lý hình sự do nhiều chủ thể có thẩm quyền khác nhau tiến hành, tùy từng giai đoạn tố tụng khác nhau, như: Cơ quan điều tra ở giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát ở giai đoạn truy tố, hay Tòa án ở giai đoạn xét xử Như vậy, người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có đủ các điều kiện được miễn TNHS thì vẫn được các

cơ quan có thẩm quyền áp dụng các quy định của BLHS để miễn TNHS cho người đó Hơn nữa, QĐHP là hoạt động của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật hình sự, do đó nếu cho rằng miễn TNHS thuộc về giai đoạn QĐHP là chưa chính xác ở cả khía cạnh nội dung lẫn khía cạnh chủ thể có thẩm quyền QĐHP

Một vấn đề nữa mà chúng ta cần làm rõ để hiểu chính xác nội hàm khái niệm QĐHP là việc xác định giai đoạn định khung hình phạt có thuộc về hoạt động QĐHP hay không? Tác giả cho rằng, cần coi giai đoạn định khung hình phạt là một trình tự của hoạt động QĐHP, thuộc về hoạt động QĐHP Bởi vì, định khung hình phạt là việc làm được thực hiện sau khi định tội danh xong và là hoạt động đầu tiên xác định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt theo khung hình phạt được phép áp dụng, trên cơ sở giới hạn luật định, hình phạt cụ thể sẽ được quyết định Mặt khác, việc định tội danh phải được thực hiện trên cơ sở cấu thành tội phạm cơ bản chứ không phải là các cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ Chỉ trên cơ sở định tội danh xong các cơ quan tố tụng mới xác định khung hình phạt, trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt thì Tòa án đương nhiên không phải xác định khung hình phạt Khi định khung hình phạt, Tòa án dựa vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng định khung Vì vậy, theo tác giả nên coi định khung hình phạt thuộc về hoạt động QĐHP

Từ những sự phân tích trên, tác giả cho rằng nên định nghĩa khái niệm

QĐHP như sau: QĐHP là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án do

Hội đồng xét xử thực hiện, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, và dựa trên những nguyên tắc nhất định, được thực hiện tùy thuộc vào từng trường

Trang 21

hợp để xác định loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể áp dụng cho người phạm tội cụ thể hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Từ định nghĩa trên đây chúng ta có thể rút ra các đặc trưng cơ bản của hoạt động QĐHP như sau:

- QĐHP là hoạt động thực tiễn của Tòa án mà cụ thể là của Hội đồng xét xử thực hiện Như trên đã phân tích, hoạt động QĐHP là một hoạt động tiếp theo của quá trình áp dụng pháp luật hình sự trong việc xử lý người phạm tội Hoạt động QĐHP chỉ được thực hiện sau khi, xác định người phạm tội đã phạm tội gì được quy định trong Phần các tội phạm của BLHS

- QĐHP do Tòa án thực hiện trên cơ sở các quy định của BLHS Như chúng ta đã biết, Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền kết tội và QĐHP đối với người phạm tội Thêm vào đó, việc QĐHP của Tòa án phải căn cứ và dựa trên cơ sở quy định của BLHS, đây chính là một phần của việc đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong hoạt động QĐHP

- Nội dung của QĐHP có thể là miễn hình phạt hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong BLHS để áp dụng cho bị cáo Đây chính

là những hậu quả pháp lý mà Tòa án xác định khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

- Quyết định hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân người có hành vi phạm tội Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là xác định TNHS của cá nhân Do đó, việc QĐHP cũng phải áp dụng đối với cá nhân người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm

1.1.1.2 Ý nghĩa của quyết định hình phạt

Quyết định hình phạt là một hoạt động, thể hiện ở việc Tòa án tuân thủ các quy định của BLHS và Bộ luật Tố tụng hình sự để tuyên một hình

Trang 22

phạt đảm bảo tính công minh, có căn cứ và đúng pháp luật với người phạm tội

bị kết án Qua đó, góp phần tích cực vào việc bảo vệ các quyền con người và công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm QĐHP có những ý nghĩa quan

trọng sau:

* QĐHP đúng là cơ sở pháp lý để đạt được mục đích của hình phạt

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, mục đích là "dự kiến trong ý thức con người về kết quả nhằm đạt được bằng hoạt động của mình… Với tính cách là động cơ trực tiếp, mục đích hướng dẫn và điều chỉnh mọi hành động" [58, tr 648] Như vậy, có thể hiểu mục đích của hình phạt là kết quả mà Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội bị kết án Mục đích của hình phạt tuy là yếu tố quyết định đối với hoạt động QĐHP nhưng mục đích của hình phạt có đạt được hay không lại phụ thuộc vào việc QĐHP được thực hiện như thế nào Mọi trường hợp QĐHP sai, QĐHP quá nặng hoặc quá nhẹ đều sẽ không đạt được mục đích của hình phạt trong thực tiễn và còn làm nảy sinh những phản ứng tiêu cực, tâm lý chống đối, không tin tưởng vào tính công minh của pháp luật, của các cơ quan bảo vệ pháp luật… từ phía người bị kết án và dư luận xã hội

Điều 27 BLHS năm 1999 quy định về mục đích của hình phạt như sau:

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa

họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [29] Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự có rất nhiều các quan điểm

khác nhau về các mục đích của hình phạt: Quan điểm truyền thống coi các

mục đích quan trọng hơn cả của hình phạt là ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa

chung; Quan điểm nghiêng về trấn áp hình sự coi mục đích của hình phạt chỉ

là trừng trị; Quan điểm nghiêng về đạo đức coi mục đích của hình phạt chỉ là

Trang 23

giáo dục và cải tạo; Quan điểm mềm dẻo coi các mục đích của hình phạt là cả

trừng trị, cải tạo và giáo dục [4]

Nhìn chung, tất cả các quan điểm này đều thừa nhận một trong hai hoặc cả hai mục đích chính của hình phạt là trừng trị và giáo dục người phạm tội Việc QĐHP phải đảm bảo cho hình phạt đã tuyên đạt được cả hai mục đích này Trừng trị và giáo dục là hai mặt có liên quan mật thiết đến nhau khi QĐHP, Tòa án không được đề cao hay coi nhẹ mặt nào Nếu coi nhẹ mục đích giáo dục sẽ dẫn đến QĐHP quá nặng, người phạm tội sẽ có tâm lý cho rằng hình phạt đã tuyên không thỏa đáng với họ Hình phạt trong trường hợp này sẽ chỉ làm cho người bị kết án thù ghét pháp luật và các cơ quan bảo vệ pháp luật, nảy sinh tâm lý chống đối, từ đó sẽ không cố gắng tích cực lao động, cải tạo để trở thành công dân có ích cho xã hội Ngược lại, nếu quá coi nhẹ mục đích trừng trị sẽ dẫn tới việc QĐHP một cách quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Hậu quả là bản thân người phạm tội sẽ coi thường pháp luật, còn quần chúng nhân dân sẽ thiếu tin tưởng vào pháp luật của Nhà nước

Vì vậy, quyết định một hình phạt công minh, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội là điều kiện bắt buộc để đạt được các mục đích trừng trị và giáo dục của hình phạt Theo quan điểm của tác giả, nếu đạt được cả hai mục đích trừng trị và giáo dục cải tạo người phạm tội thì đương nhiên hình phạt cũng phát huy được tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung và góp phần hình thành

ý thức tuân thủ pháp luật, tích cực, chủ động tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm của các thành viên khác trong xã hội

* Quyết định hình phạt đúng là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả của hình phạt

Ngoài mục đích thì hiệu quả của hình phạt cũng là một yếu tố quan trọng của QĐHP Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, hiệu quả

Trang 24

"là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi và hướng tới" [58, tr 440] Nếu như mục đích của hình phạt là dự kiến về kết quả của Nhà nước đặt ra và mong muốn đạt được khi áp dụng hình phạt với người phạm tội bị kết án thì hiệu quả của hình phạt chính là kết quả cần đạt được đó Tuy nhiên, do những mục đích của hình phạt trong thực tế luôn đạt được ở những chừng mực nhất định nên mức độ đạt được mục đích của hình phạt chính là kết quả phản ánh hiệu quả của hình phạt Mức độ đạt được mục đích của hình phạt càng cao thì hiệu quả của hình phạt đạt được càng cao và ngược lại, mục đích đạt được của hình phạt ở mức độ thấp thì hiệu quả hình phạt cũng chỉ đạt được ở mức độ thấp

Nói đến hiệu quả của hình phạt là nói đến tác dụng tích cực của hình phạt đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Khi hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội bị kết án và thi hành trong thực tiễn thì hiệu quả của hình phạt có được đảm bảo và nâng cao hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Hoạt động xây dựng pháp luật hình sự; hoạt động QĐHP; việc tổ chức thi hành án hình sự; công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho công dân Trong tất cả các yếu tố này thì QĐHP là yếu tố mang tính quyết định, quan trọng nhất trong việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả áp dụng của hình phạt Việc xây dựng hệ thống pháp luật hình sự hoàn thiện chỉ có ý nghĩa khi QĐHP trong thực tế được đúng Mặt khác, việc chấp hành hình phạt chỉ phát huy tác dụng tốt nhất nếu Tòa án QĐHP đúng Những yếu tố xã hội khác đảm bảo hiệu quả của hình phạt như vấn đề tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho công dân để công dân tự giác chấp hành hình phạt không thể phát huy tác dụng khi QĐHP không đúng Nếu hình phạt được tuyên không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội thì sẽ làm cho người bị kết án không thấy được tính đúng đắn của bản án và từ đó không tích cực lao động cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội; cũng như gây ra dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng tới niềm tin của quần chúng đối với pháp luật,

Trang 25

không động viên quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và như vậy hiệu quả của hình chắc chắn sẽ không đạt được

* Quyết định hình phạt đúng là điều kiện đảm bảo tính khả thi của

hệ thống hình phạt

Trong thực tiễn, các trường hợp phạm tội luôn có sự khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội Vì vậy, để đảm bảo mục đích trừng trị và giáo dục người phạm tội, bắt buộc Nhà nước phải xây dựng các loại hình phạt

cụ thể, có mức độ nghiêm khắc khác nhau, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng loại tội phạm được quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS năm 1999 Các hình phạt được sắp xếp theo một trình tự nhất định, tạo thành một chỉnh thể thống nhất gọi là hệ thống hình phạt nhưng vẫn đảm bảo căn cứ, điều kiện áp dụng của mỗi loại hình phạt trong các trường hợp cụ thể

Hệ thống hình phạt là tổng hợp các biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong pháp luật hình sự, căn cứ vào mức độ nghiêm khắc của mỗi loại được sắp xếp thành một danh mục cụ thể theo trình tự nhất định từ nhẹ đến nặng hay ngược lại và chỉ do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với bị cáo đã thực hiện tội phạm [4, tr 688] Mục đích và hiệu quả của hình phạt tuy phụ thuộc vào việc tổ chức chấp hành hình phạt trong thực tiễn, nhưng trước tiên phụ thuộc vào việc lựa chọn loại hình phạt trong hệ thống hình phạt với mức hình phạt cụ thể của Hội đồng xét xử

Trong hệ thống hình phạt, căn cứ vào khả năng, giá trị tác động của mỗi loại hình phạt đối với tội phạm, các hình phạt được chia thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt chính được xác định là loại hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và khi được áp dụng có khả năng đạt được mục đích của hình phạt Hình phạt bổ sung được xác định là loại hình phạt hỗ trợ cho hình phạt chính nhằm đạt được mục đích của hình phạt ở mức cao nhất [50, tr 180] Chính vì vậy mà

Trang 26

khoản 3 Điều 28 BLHS năm 1999 đã quy định: "Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc

một số hình phạt bổ sung" [29] Mỗi loại hình phạt trong hệ thống hình phạt

đều có điều kiện áp dụng và mức độ nghiêm khắc khác nhau đủ để trừng trị, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa chung Đồng thời, đa phần các điều luật về tội phạm trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 đều quy định một số loại hình phạt chính (từ hai loại hình phạt chính trở lên) và hình phạt

bổ sung tương ứng với mỗi tội phạm cụ thể để Tòa án lựa chọn áp dụng đối với người phạm tội Đây là những cơ sở pháp lý để Hội đồng xét xử tùy từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào nội dung, điều kiện áp dụng của mỗi loại hình phạt, vào giới hạn của chế tài mà điều luật quy định về tội phạm cho phép áp dụng để QĐHP đối với người phạm tội một cách đúng đắn

Mỗi loại hình phạt luôn chứa đựng trong nó sự gắn kết giữa trừng trị

và giáo dục Hình phạt chỉ có ý nghĩa và thể hiện được giá trị đích thực khi việc QĐHP lựa chọn đúng loại và mức hình phạt với người phạm tội Vì vậy, chỉ khi nào Hội đồng xét xử QĐHP, kết hợp được giữa trừng trị với giáo dục người phạm tội, phát huy được tác dụng của hình phạt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm thì mới bảo đảm được tính khả thi của hệ thống hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, làm cho mỗi hình phạt nói riêng và hệ thống hình phạt nói chung thực sự là công cụ hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

* Quyết định hình phạt đúng góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

Theo cách hiểu chung, pháp chế là sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, chính xác của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước; của các tổ chức, các thành viên; của công dân trong mọi hoạt động

Để pháp luật được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh trong mọi hoạt động của đời sống xã hội thì phía các chủ thể đòi hỏi phải có ý thức tôn trọng

Trang 27

pháp luật Trong hầu hết các trường hợp, nếu chủ thể có ý thức coi thường pháp luật thì cũng đều rất dễ dẫn đến việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có những hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm Khi pháp luật đã bị vi phạm ở bất kì mức độ nào thì cũng có nghĩa là pháp luật không được đảm bảo Chính vì vậy, luật hình sự có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện nghiêm minh pháp luật trên cả nước

Để thực hiện được vai trò đó thì QĐHP đúng là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng Việc QĐHP sai, không thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật sẽ làm cho pháp luật, các quy tắc của cuộc sống XHCN, các quyền và lợi ích hợp của con người bị xâm phạm Ngược lại, QĐHP đúng không những đảm bảo mục đích trừng trị của hình phạt mà còn giáo dục người phạm tội có ý thức tôn trọng, tự giác chấp hành pháp luật và các quy tắc của cuộc sống XHCN để từ bỏ hẳn con đường phạm tội Ngoài ra, QĐHP đúng sẽ làm các thành viên khác trong xã hội vững tin vào pháp luật, coi pháp luật là chỗ dựa vững chắc cho mọi hành động Đối với các thành viên khác còn thiếu niềm tin vào pháp luật thì thấy tính nghiêm minh của pháp luật mà

từ bỏ ý định phạm tội và tự giác chấp hành pháp luật một cách nghiêm minh Như vậy, QĐHP đúng sẽ có tác động đến ý thức mỗi cá nhân trong xã hội để

họ thấy sợ hình phạt mà không dám phạm tội và quan trọng hơn là nhận thức được tính nghiêm minh của pháp luật để tự giác chấp hành pháp luật Từ đó cũng tự xác định cho mình ý thức chủ động và trách nhiệm tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo đảm pháp chế trong Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

1.1.2 Các nguyên tắc của quyết định hình phạt

Thuật ngữ "nguyên tắc" có nguồn gốc từ tiếng Latin là "Principium"

có nghĩa là tư tưởng đầu tiên, tư tưởng chỉ đạo trong khoa học, hiện tượng hoặc quá trình Theo Từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc là "điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân thủ theo trong một loạt việc làm" [58, tr 694] Như vậy,

Trang 28

có thể hiểu các nguyên tắc của luật hình sự là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng luật hình sự Là một hoạt động quan trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, việc QĐHP không chỉ tuân thủ các nguyên tắc của luật hình sự nói chung mà còn phải tuân thủ các nguyên tắc đặc thù cho việc QĐHP Trong luật hình sự Việt Nam, các nguyên tắc QĐHP không được ghi nhận chính thức trong BLHS mà được thể hiện thông quá nội dung các quy phạm pháp luật hình sự khác Các nguyên tắc QĐHP thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta và có ý nghĩa rất lớn trong việc QĐHP đúng đắn với người phạm tội Nhận thức đúng đắn các nguyên tắc QĐHP sẽ tạo tiền đề để QĐHP được đúng

Để có cơ sở đưa ra các nguyên tắc QĐHP, cần phải dựa vào những

tiêu chuẩn nhất định Những tiêu chuẩn đó là: Thứ nhất, phải là những tư tưởng chỉ đạo đầu tiên; thứ hai, phải được thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp trong luật hình sự; thứ ba, phải là những tư tưởng chỉ đạo định hướng hoạt động của Tòa án trong lĩnh vực QĐHP; thứ tư, những tư tưởng đó phải phù hợp với

chính sách hình sự trong từng giai đoạn phát triển của Nhà nước Căn cứ vào những tiêu chuẩn trên, việc QĐHP cần dựa vào những nguyên tắc sau đây:

Trang 29

Trong luật hình sự, nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP được thể hiện tại các quy định của Phần chung cũng như quy định tại Phần các tội phạm Ở phần chung, nguyên tắc này được thể hiện trước hết tại Điều 26 BLHS Điều 26 BLHS quy định: "… hình phạt được quy định trong

Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [29] Quy định về các căn cứ QĐHP cũng thể hiện rõ nguyên tắc này Cụ thể Điều 45 quy định: "Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự" Các quy định khác có liên quan đến hình phạt và QĐHP cũng thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP như quy định về hệ thống hình phạt, phạm

vi và điều kiện áp dụng hình phạt cụ thể

Trong áp dụng luật hình sự, nội dung của nguyên tắc pháp chế XHCN trong QĐHP là Tòa án phải căn cứ vào các quy định của BLHS có liên quan đến hình phạt và QĐHP để QĐHP một cách đúng đắn với người phạm tội Điều này được thể hiện ở các nội dung như sau:

- Nội dung thứ nhất là, trước hết, được thể hiện ở chỗ khi QĐHP, Tòa án

phải tuân theo những trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ thể

và chỉ có thể tuyên những hình phạt, với mức phạt được quy định trong BLHS

Hình phạt với tính chất là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước có nội dung là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người bị kết

án Do vậy, việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội phải hết sức chặt chẽ Tòa án chỉ được phép áp dụng một hình phạt đối với người bị kết án khi hình phạt này được BLHS quy định cho chính tội phạm đó Trong phần chung của BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể hệ thống hình phạt chính và hình phạt bổ sung, điều kiện áp dụng hình phạt, QĐHP… Còn trong Phần các tội phạm của BLHS cũng đã quy định các cấu thành tội phạm cụ thể với các loại

và mức hình phạt tương ứng có thể áp dụng đối với người thực hiện tội phạm

Trang 30

Nội dung thứ hai là, trong khi QĐHP Tòa án phải tuân thủ các quy

định của BLHS về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng các loại hình phạt về tổng hợp hình phạt Theo đó, khi QĐHP, Tòa án viện dẫn đầy đủ các căn cứ pháp lý trong bản án, nghĩa là Tòa án phải chỉ rõ các điều luật được vận dụng trong phần quyết định của bản án Tòa án phải triệt để tuân thủ khi xác định

và lựa chọn loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể cần được áp dụng cho người phạm tội Ngoài ra, Tòa án cũng cần tuân thủ một cách nghiêm túc các quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, bởi vì đây là những quy định có tính chất là cơ sở pháp lý để Tòa án dựa vào đó QĐHP cho người phạm tội được chính xác

Nội dung thứ ba là, tính hợp lý của QĐHP Tính hợp lý thể hiện ở chỗ

trong số những phương án giải quyết khác nhau mà luật cho phép, Tòa án phải lựa chọn phương án tối ưu nhất, vừa phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi phạm tội, vừa phục vụ cho yêu cầu chính trị -

xã hội trong từng giai đoạn, ở từng địa phương cụ thể Do đó, Tòa án phải áp dụng đúng các quy định của BLHS về QĐHP Áp dụng đúng không có nghĩa chỉ là áp dụng đúng lời văn các quy định của pháp luật hình sự mà còn phải hiểu đúng tinh thần lời văn của pháp luật, tìm hiểu các quy phạm pháp luật hình sự theo quan điểm chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Bên cạnh

đó, do người thực hiện tội phạm thường gây ra sự phẫn nộ và lên án của quần chúng nhân dân, cho nên khi QĐHP đối với họ, Tòa án cần cân nhắc cả tình hình chính trị, xã hội, kinh tế ở địa phương để QĐHP cho hợp lý [9, tr 165]

1.1.2.2 Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong quyết định hình phạt

Tư tưởng nhân đạo luôn được thể hiện rõ nét trong đường lối chính sách của Đảng và các văn bản pháp luật Nhà nước ta Trong luật hình sự Việt Nam, tư tưởng nhân đạo được thể hiện xuyên suốt thông qua các quy phạm pháp luật hình sự, hình thành nên nguyên tắc nhân đạo XHCN Cùng với nguyên tắc pháp chế XHCN, nguyên tắc nhân đạo XHCN không chỉ là một

Trang 31

nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam mà còn là nguyên tắc đặc thù cho hoạt động QĐHP

Nội dung của nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP không chỉ thể hiện trong luật hình sự mà còn được thể hiện cả trong áp dụng luật hình sự

Trong luật hình sự, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP được thể hiện ở cả Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS Ở Phần chung, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP thể hiện trước hết ở Điều 3 - nguyên tắc xử lý tội phạm Cụ thể là: "… khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối

cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra" [29] Ngoài ra,

nguyên tắc này còn được thể hiện trong một số quy định về phạm vi, điều kiện áp dụng một số hình phạt cụ thể, quy định về QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội và một số quy định khác Ở Phần riêng, nguyên tắc nhân đạo XHCN trong QĐHP được thể hiện trong các khung hình phạt giảm nhẹ

và nhân đạo Tòa án phải có thái độ khoan hồng đối với người phạm tội khi họ

có tình tiết giảm nhẹ Điều đó có nghĩa là, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì hình phạt áp dụng cho họ càng nhẹ hơn so với trường hợp không có tình tiết giảm nhẹ hoặc có ít tình tiết giảm nhẹ (trong điều kiện các tình tiết khác là tương đương) [22, tr 76]

Nguyên tắc nhân đạo khi QĐHP còn thể hiện ở chỗ khi QĐHP Tòa án cần phải cân nhắc cả đến những đặc điểm tốt về nhân thân của người phạm tội

Trang 32

trong phạm vi luật định Các tình tiết về nhân thân của người phạm tội mà khi xem xét QĐHP có liên quan đến việc phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phản ảnh khả năng giáo dục cải tạo của người phạm tội cũng như hoàn cảnh đặc biệt của họ như: những người phạm tội lần đầu, những người thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại đã gây ra…

Đối với những người này, khi QĐHP, tùy theo các tình tiết của vụ án, mức phạt tù và nhân thân người phạm tội Tòa án có thể cho bị cáo hưởng án treo, khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ có thể QĐHP dưới mức thấp nhất hoặc chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn… Còn đối với người phạm tội đặc biệt nguy hiểm, những người tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức… luật hình sự nước ta có những quy định QĐHP rất nghiêm khắc Nhưng khi QĐHP đối với những người này, nguyên tắc nhân đạo đòi hỏi phải lựa chọn một biện pháp nghiêm khắc thích hợp, phải tuân theo một nguyên lý cơ bản là người bị kết án cũng là con người và có những quyền con người cơ bản nhất và họ là những người lầm đường lạc lối có thể được giáo dục, cải tạo trở thành người lao động có ích cho xã hội

Nguyên tắc nhân đạo còn thể hiện ở sự hạn chế sự trừng trị Tức là trong một vụ án, Tòa án có thể tuyên một trong mức cho phép đối với bị cáo: sự cần thiết tối thiểu, mức cao hơn cần thiết tối thiểu, mức tối đa, thì ở góc độ của việc hạn chế sự trừng trị, Tòa án nên tuyên mức hình phạt cần thiết tối thiểu

1.1.2.3 Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt

Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt là nguyên tắc chung của luật hình sự, đồng thời cũng là nguyên tắc của QĐHP Nội dung của nguyên tắc này là hình phạt phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS Trong luật hình sự Việt Nam, nội dung của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện trong luật hình sự cũng như trong áp

Trang 33

dụng luật hình sự Cá thể hóa hình phạt trong luật hình sự quy định cho mọi trường hợp phạm tội, còn cá thể hóa hình phạt trong áp dụng luật hình sự thì

áp dụng đối với từng trường hợp phạm tội cụ thể, từng vụ án cụ thể

Trong luật hình sự, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện trong các quy phạm Phần chung và các quy phạm Phần các tội phạm

Ở Phần chung của BLHS, trước hết nội dung của nguyên tắc này được thể hiện ở Điều 3 - nguyên tắc xử lý tội phạm Cụ thể là:

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội, người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng

Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra… [29]

Mặt khác, việc phân loại tội phạm trong luật hình sự Việt Nam cũng thể hiện rõ nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP Việc phân loại như trên thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta khi xử lý tội phạm là các hành vi

có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì mức hình phạt quy định cho các tội phạm này khác nhau Ngoài ra trong Phần chung của BLHS còn có một loạt các quy phạm khác thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP như: quy định về QĐHP trong chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, trường hợp đồng phạm cùng thể hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP (Điều 52, Điều 53) Nội dung của nguyên tắc này cũng được thể hiện trong các điều luật quy định về hệ thống hình phạt

Trong Phần các tội phạm, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP được thể hiện ở các chế tài quy định cho các tội phạm cụ thể Các chế tài này được quy định đa phần là các chế tài lựa chọn Sự đa dạng về loại hình phạt đã tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tùy từng trường hợp cụ thể lựa

Trang 34

chọn hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Trong hoạt động áp dụng luật hình sự, trước hết, nguyên tắc này thể hiện ở chỗ trong trường hợp cụ thể, hình phạt đã tuyên phải tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khi QĐHP, Tòa án phải cân nhắc các tình tiết có trong vụ án để đánh giá chính xác tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội để có thể quyết định một hình phạt tương xứng với người phạm tội Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, khi QĐHP Tòa án phải xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất mức độ tham gia của những người đồng phạm, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của từng người đồng phạm Trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn so với trường hợp tội phạm hoàn thành Do vậy, hình phạt tuyên cho người phạm tội thuộc trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt phải thấp hơn trường hợp tội phạm hoàn thành

Nội dung thứ hai của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP thể hiện ở chỗ khi QĐHP, Tòa án phải cân nhắc những đặc điểm thuộc về nhân thân người phạm tội như trình độ học vấn, lối sống, ý thức chính trị, ý thức pháp luật, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình… và chỉ rõ trong bản án những điểm tốt, điểm xấu trong nhân thân người phạm tội, đồng thời chỉ cân nhắc những tình tiết có ý nghĩa đối với QĐHP cho người phạm tội

Nội dung thứ ba của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong QĐHP thể hiện ở chỗ khi QĐHP, Tòa án phải cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS có trong vụ án bởi vì các tình tiết này có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, từ đó làm cơ sở cho Tòa án QĐHP được đúng với người phạm tội

1.1.2.4 Nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt

Theo Từ điển tiếng Việt thì "công bằng" được hiểu là "theo đúng lẽ phải, không thiên vị" Trong luật hình sự Việt Nam thì nguyên tắc công bằng

Trang 35

là một trong những nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc công bằng trong luật hình

sự được hiểu là "phạm trù pháp lý bao gồm những nguyên lý (đòi hỏi) chung đối với việc quy định giới hạn của sự tác động pháp lý hình sự; cơ sở của TNHS; các quy phạm về tội phạm và hình phạt; các quy định về việc QĐHP

và một số chế định khác" [61, tr 59]

Nguyên tắc công bằng trong QĐHP được hiểu là hình phạt phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, không phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xuất thân, tình trạng tài sản của người phạm tội… hình phạt càng phù hợp với hành vi phạm tội thì nguyên tắc công bằng càng được thực hiện triệt để Nguyên tắc công bằng còn đòi hỏi hình phạt được tuyên đối với bị cáo phải đảm bảo tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do

Công bằng không chỉ đặt ra đối với bản thân người có hành vi phạm tội mà còn phải đặt ra trong sự so sánh với những tội phạm khác và với những người phạm tội khác Việc nhà làm luật phân loại tội phạm thành bốn loại cũng như quy định rõ trường hợp hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng nguy hiểm không đáng kể thì không bị coi là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp khác cũng thể hiện rõ nguyên tắc công bằng trong QĐHP

Đối với hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, nguyên tắc công bằng đòi hỏi Tòa án thống nhất trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS nếu có Không có việc đánh giá khác nhau đối với vụ phạm tội có các tình tiết tương đương, do đó, QĐHP không giống nhau dù có các tình tiết là tương đương nhau

1.1.3 Các căn cứ quyết định hình phạt

Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng chung cho Tòa án QĐHP đối với người phạm tội được đúng đắn [22, tr 118] Để tạo điều kiện cho việc QĐHP được đúng thì nhà làm luật phải cụ thể hóa trong

Trang 36

luật hình sự các nguyên tắc QĐHP thành các căn cứ QĐHP cụ thể, trên cơ sở

đó hình phạt được quyết định

Theo đó, căn cứ QĐHP là những cơ sở pháp lý được quy định trong BLHS mà Tòa án buộc phải tuân thủ khi QĐHP cho người phạm tội nhằm đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích của hình phạt

Điều 45 BLHS năm 1999 quy định về các căn cứ QĐHP bao gồm: Các quy định của BLHS; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS

Để có thể áp dụng chính xác các căn cứ trên, khi QĐHP đòi hỏi phải nhận thức đúng nội dung, bản chất, ý nghĩa pháp lý của từng căn cứ, cũng như mối liên hệ giữa các căn cứ này với nhau Các căn cứ trên vừa có tính độc lập tương đối, lại vừa có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất, đó là cơ sở pháp lý mà Tòa án phải tuân thủ khi QĐHP

1.1.3.1 Các quy định của Bộ luật Hình sự

Đây là một căn cứ có tính chất bao trùm, căn cứ này đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế XHCN trong hoạt động áp dụng pháp luật hình

sự của các chủ thể nói chung và hoạt động xét xử của Tòa án nói riêng

Khi QĐHP thì các quy định của BLHS bao giờ cũng là tiêu chuẩn pháp lý cao nhất để đảm bảo cho Tòa án quyết định được một hình phạt đúng, tạo điều kiện lớn nhất để đảm bảo được mục đích của hình phạt

Căn cứ vào các quy định của BLHS, tức là căn cứ vào nội dung các quy định của Phần chung và Phần các tội phạm (trực tiếp là điều luật quy định tội phạm mà bị cáo đã thực hiện)

Theo đó, trong Phần chung của BLHS các quy định sau có liên quan đến QĐHP:

- Những quy định về từng loại hình phạt: Quy định về hệ thống hình phạt (Điều 28); những quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng hình phạt (từ Điều 29 đến Điều 40)

Trang 37

- Những quy định về QĐHP Đó là các quy định về nguyên tắc xử lý (Điều 3); mục đích của hình phạt (Điều 27); căn cứ QĐHP (Điều 45); các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS (Điều 46, Điều 48); QĐHP nhẹ hơn quy định của Bộ luật (Điều 47); tái phạm, tái phạm nguy hiểm (Điều 49); QĐHP trong trường hợp phạm nhiều tội (Điều 50); tổng hợp hình phạt của nhiều bản án (Điều 51); QĐHP trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 52); QĐHP trong trường hợp đồng phạm (Điều 53);…

Trong Phần các tội phạm thì các quy định về khung hình phạt chính và hình phạt bổ sung áp dụng cho từng loại tội Các quy định về khung hình phạt của loại tội cụ thể có vai trò quan trọng bởi đây là cơ sở pháp lý cụ thể để căn

cứ vào đó, Tòa án lựa chọn loại và xác định mức hình phạt cụ thể áp dụng đối với người phạm tội

Như vậy, với yêu cầu của căn cứ này, khi QĐHP Tòa án cần phải căn

cứ vào tất cả các quy định của BLHS ở dạng thống nhất, tổng thể của chúng

và phải chỉ rõ trong bản án những quy định của BLHS có liên quan trực tiếp đến việc QĐHP một cách cụ thể với bị cáo cụ thể Căn cứ thứ nhất cho phép xác định được khung hình phạt để áp dụng hoặc khẳng định có thể áp dụng các biện pháp tha miễn như miễn hình phạt có được hay không

1.1.3.2 Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội

Để có thể quyết định được loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật có phép, tòa án phải cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Việc xác định thế nào là tính chất, thế nào là mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay [22, tr 129] Dưới góc độ chung nhất có thể hiểu tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là khái niệm về chất để phân biệt giữa tội này với tội khác, trong cùng một chương hay ở các chương khác nhau trong BLHS cũng như để phân biệt trường hợp phạm tội đã được

Trang 38

thực hiện thuộc các khung khác nhau của cùng loại tội phạm Còn mức độ nguy hiểm cho xã hội là khái niệm chỉ về lượng để phân biệt các trường hợp phạm tội khác nhau trong cùng một khung hình phạt của cùng một loại tội Khi sự biến đổi về lượng trong một khung hình phạt đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến sự biến đổi về chất điều đó có nghĩa là khi hành vi nguy hiểm của người phạm tội biến đổi đến một mức độ nhất định nào đó thì sẽ cho phép nhà áp dụng pháp luật chuyển khung hình phạt (có thể là lên khung hình phạt nặng hơn, hoặc có thể là xuống khung hình phạt nhẹ hơn) [22, tr 130]

Khi QĐHP để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, Tòa án cần dựa vào những tình tiết sau:

- Tính chất và mức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra Theo

đó, tính chất và mức độ hậu quả đã gây ra hoặc đe dọa gây ra càng cao thì mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội càng lớn

- Mức độ lỗi người thực hiện hành vi phạm tội Lỗi là một khía cạnh

quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Điều này thể hiện ở các yếu tố như: Mức độ quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng hay không, có khắc phục những khó khăn để thực hiện tội phạm hay không trong trường hợp tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý; hoặc trường hợp người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi vô ý thì đánh giá mức

độ nhận thức của họ về hành vi đã thực hiện…

- Tính chất của động cơ phạm tội Tính chất của động cơ phạm tội có

ảnh hưởng tới mức độ lỗi và từ đó ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Có những động cơ phạm tội làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội lên như: động cơ đê hèn, động cơ vụ lợi… cũng có những động cơ làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội xuống như: động cơ bảo vệ các lợi ích hợp pháp trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

- Tính chất của hành vi phạm tội như phương pháp, thủ đoạn phạm tội, công cụ, phương tiện phạm tội… Đây cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới

Trang 39

mức độ nghiêm trọng của hành vi nguy hiểm cho xã hội cần được đánh giá khi QĐHP

1.1.3.3 Nhân thân người phạm tội

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, nhân thân người phạm tội được nghiên cứu dưới tính chất là một căn cứ khi QĐHP Căn cứ này đòi hỏi khi Tòa án QĐHP phải xác định loại và mức hình phạt tương xứng với tính chất

và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà còn phù hợp với những đặc điểm về nhân thân của người phạm tội để đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích trừng trị và giáo dục cải tạo người phạm tội Việc cân nhắc nhân thân người phạm tội để QĐHP là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt được thể hiện trong luật hình sự nước ta và đã được thực tiễn xét xử ghi nhận và áp dụng [56, tr 142-145] Nhân thân người phạm trong luật hình sự được hiểu là tổng hợp những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội có ý nghĩa đúng đắn với việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS của họ Những đặc điểm đó có thể là tuổi, nghề nghiệp, thái độ làm việc, thái độ trong mối quan hệ với những người khác, trình độ văn hóa, lối sống, hoàn cảnh gia đình và đời sống kinh tế, thái độ chính trị, ý thức pháp luật, tôn giáo, tiền án, tiền sự…[22, tr 138]

Việc cân nhắc nhân thân người phạm tội khi QĐHP không có nghĩa là chỉ cân nhắc nhân thân nói chung mà cân nhắc những đặc điểm nhất định liên quan đến mục đích hình phạt Cụ thể, để xác định những đặc điểm nào thuộc

về nhân thân người phạm tội, khi xem xét, cân nhắc để QĐHP, cần phải dựa

vào hai tiêu chí cơ bản sau: một là, những đặc điểm thuộc về nhân thân người

phạm tội có liên quan trực tiếp đến tội phạm, đến mức độ nguy hiểm cho xã

hội của hành vi phạm tội; hai là, những đặc điểm thuộc về nhân thân người

phạm tội có liên quan đến việc đạt được mục đích của hình phạt, đến khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội [9, tr 171-172]

Những tình tiết sau đây là những tình tiết thuộc về nhân thân của người phạm tội có liên quan đến việc QĐHP

Trang 40

- Nhóm những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội như: phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp…;

- Nhóm những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội như: thái độ ăn năn, hối cải, tự thú, lập công chuộc tội…;

- Nhóm những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội phản ánh hoàn cảnh khó khăn đặc biệt của họ như: trường hợp là người dân tộc ít người, người phạm tội là phụ nữ có thai, người già ;

Tuy nhiên, cần chú ý đó là có những tình tiết thuộc về nhân thân là những tình tiết mang tính pháp lý như tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, người phạm tội tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải… Cũng có những tình tiết thuộc về nhân thân là những tình tiết không được quy định trong BLHS nhưng cũng cần được xem xét một cách toàn diện khi QĐHP như: người phạm tội thuộc dân tộc ít người, thuộc gia đình liệt sĩ, người phạm tội là thương binh…

1.1.3.4 Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS không được quy định trong các cấu thành tội phạm cụ thể mà được quy định ở Phần chung của BLHS

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được cân nhắc khi QĐHP là những tình tiết khác nhau liên quan đến tội phạm đã được thực hiện, được quy định cụ thể trong luật hoặc chưa được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ TNHS và hình phạt đối với người phạm tội Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46 BLHS

Các tình tiết tăng nặng TNHS được cân nhắc khi QĐHP là những tình tiết khác nhau liên quan đến tội phạm đã thực hiện, được quy định cụ thể trong luật có ý nghĩa làm tăng nặng TNHS và hình phạt đối với người phạm

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Văn Báu (2008), "Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật những bất cập và phương hướng hoàn thiện", Tòa án nhân dân, (18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật những bất cập và phương hướng hoàn thiện
Tác giả: Phạm Văn Báu
Năm: 2008
2. Bộ Tư pháp (2000), Tài liệu hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ luật Hình sự 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị tập huấn chuyên sâu Bộ luật Hình sự 1999
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2000
3. Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Việt Nam, (Sách chuyên khảo sau đại học), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
5. Lê Đăng Doanh (2003), "Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự", Tòa án nhân dân, (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự
Tác giả: Lê Đăng Doanh
Năm: 2003
6. Nguyễn Hải Dũng (2007), "Những vướng mắc từ lý luận và thực tiễn khi quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định", Nghiên cứu lập pháp, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vướng mắc từ lý luận và thực tiễn khi quyết định hình phạt nhẹ hơn luật định
Tác giả: Nguyễn Hải Dũng
Năm: 2007
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01 về nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ngày 02/01 về nhiệm vụ trọng tâm của công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Lê Văn Đệ (2004), Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh và quyết định hình phạt trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2004
10. Trần Văn Độ (1989), "Một số ý kiến về áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật Hình sự", Tòa án nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về áp dụng khoản 3 Điều 38 Bộ luật Hình sự
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 1989
11. Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Đinh Bích Hà
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
12. Đỗ Đức Hồng Hà (2009), "Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự 1999 về quyết định hình phạt theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự", Tòa án nhân dân, (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự 1999 về quyết định hình phạt theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tác giả: Đỗ Đức Hồng Hà
Năm: 2009
13. Trương Thị Hằng (2009), "Bàn về việc áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật", Kiểm sát, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Tác giả: Trương Thị Hằng
Năm: 2009
14. Trần Thị Hiền (2011), Bộ luật Hình sự Nhật Bản, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự Nhật Bản
Tác giả: Trần Thị Hiền
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2011
15. Nguyễn Ngọc Hòa (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và hình phạt
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
16. Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1976), Sắc luật số 03/SL/76 ngày 15 tháng 3 năm 1976 về tội phạm và hình phạt, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc luật số 03/SL/76 ngày 15 tháng 3 năm 1976 về tội phạm và hình phạt
Tác giả: Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Năm: 1976
17. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật", Tòa án nhân dân, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2001
18. Phạm Mạnh Hùng (2001), "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về hệ thống hình phạt và quyết định hình phạt", Kiểm sát, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về hệ thống hình phạt và quyết định hình phạt
Tác giả: Phạm Mạnh Hùng
Năm: 2001
19. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự - Phần chung, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự - Phần chung
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
20. Trương Minh Mạnh (2002), "Việc xây dựng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự", Kiểm sát, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc xây dựng quy định về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự
Tác giả: Trương Minh Mạnh
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Tổng hợp các khung hình phạt theo loại tội   trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 - Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 3.1 Tổng hợp các khung hình phạt theo loại tội trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w