Việc thực hành quyền công tố nằm trong bối cảnh chung của ngành tư pháp mà theo nhận xét của Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị- Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÝ VĂN CHÍNH
Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và
việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: PGS.TSKH Lê Cảm
Hà nội - 2004
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ 7
QUYỀN CÔNG TỐ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG 7
1.1 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố .7
1.1.1.Khái niệm quyền công tố 7
1.1.2.Thực hành quyền công tố 15
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tố tụng hình sự tranh tụng 17
Chương 2 NỘI DUNG QUYỀN CÔNG TỐ 27
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG 27
2.1 Sự hình thành việc tổ chức và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng 27 2.2 Nội dung cơ bản của việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng 36 2.3 Tổng luận về những nét đặc trưng cơ bản của quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng 42
Chương 3 48
VẬN DỤNG MỘT SỐ YẾU TỐ HỢP LÝ CỦA VIỆC TỔ CHỨC VÀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG TRANH TỤNG VÀO ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 3.1 Tổng quan về lịch sử khuôn khổ pháp lý của quyền công tố trong tố tụng hình sự ở Việt Nam 48
3.2 Thực trạng quyền công tố trong tố tụng hình sự Việt Nam và những đề xuất vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng 3.2.1 Tổ chức quyền công tố 51
3.2.2 Thực hành quyền công tố 55
3.3 Những khó khăn và lộ trình vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng vào Việt Nam 75
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 91
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Là một bộ phận của cấu trúc quyền lực công trong một Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân nhân, quyền công tố ở Việt Nam được nhà nuớc
uỷ quyền cho Việt kiểm sát nhân dân thực hiện đã có những hiệu quả nhất định trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tài sản của nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân Tuy nhiên, việc thực hành quyền công tố ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng kịp thời đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm Việc thực hành quyền công tố nằm trong bối cảnh chung của ngành tư pháp mà theo nhận xét của Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị- Ban chấp hành Trung Ương Đảng cộng sản Việt Nam thì : “Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội; vi phạm các quyền tự
do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp.”
Cụ thể về công tố, Nghị quyết 08 đã có ý kiến chỉ đạo: “Viện Kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố
vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng với Luật sư, người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác ”
Chínhvì vậy việc nghiên cứu về mặt lý luận để đưa ra những giải pháp
Trang 4trong công cuộc cải cách tư pháp hướng tới nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay Xuất phát từ tinh thần Nghị quyết 08 đã đặt ra vấn đề tăng cường tranh tụng giữa bên công tố và bên gỡ tội Từ đó cho thấy về măt khoa học chúng ta cần phải nghiên cứu để đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Vấn đề tranh tụng mà Nghị quyết
08 đã đặt ra có thể là một bước đầu cho việc tiến tới áp dụng những hạt nhân hợp lý của tố tụng tranh tụng ở Việt Nam Như vậy về mặt khoa học, vấn đề này đòi hỏi phải nghiên cứu quyền công tố trong khung cảnh của tố tụng hình
sự tranh tụng và gợi mở một số định hướng cho việc hoàn thiện tổ chức và thực hành quyền công tố ở Việt Nam
Xuất phát từ sự phân tích trên đây học viên chọn đề tài :"Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam " làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khung cảnh cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về quyền công tố nói chung và việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam Cụ thể có thể kể đến như : Đề tài khoa
học cấp bộ “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và tổ chức thực hiện
quyền công tố ở Việt Nam hiện nay” do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chủ
trì năm 1999 ; Luận án tiến sĩ luận học của tác giả Lê Thị Tuyết Hoa với đề
tài „’Quyền công tố ở Việt Nam „‟ Ngoài ra trên các tạp chí khoa học pháp lý
chuyên ngành cũng đã đăng tải một số bài viết về khái niệm quyền công tố
của các nhà khoa học như T.S Lê Hữu Thể : Bàn về khái niệm quyền công tố, Tạp chí Kiểm Sát các số 8, 9 năm 2000 , TSKH Lê Cảm : "Những vấn đề lý
luận về chế định quyền công tố", Báo cáo tại Hội nghị khoa học: ”Tổ chức và
hoạt động của Viện Kiểm sát trong tình hình mới” do Uỷ ban pháp luật Quốc hội tổ chức ngày 02/04/2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 5Có thể tìm thấy ở những nghiên cứu nói trên những kiến giải khoa học
bổ ích cho tiến trình hoàn thiện việc tổ chức và thực hành quyền công tố ở nước ta Nhưng nhìn chung các nghiên cứu về quyền công tố ở nước ta hiện nay chưa đặt quyền công tố trong mối tương quan với loại hình tố tụng Đây
là luận văn đầu tiên tiếp cận quyền công tố dưới góc độ loại hình tố tụng Cụ thể là học viên muốn đặt quyền công tố trong loại hình tố tụng tranh tụng- một loại hình tố tụng hình sự được đánh giá là có tính dân chủ cao, và trên cơ
sở đó đưa ra một số định hướng cho việc hoàn thiện tổ chức và thực hành quyền công tố ở Việt Nam
3 Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm mục đích phân tích và lý giải để làm sáng tỏ về mặt lý luận những điểm tích cực của việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng và đưa ra một số định hướng cho việc hoàn thiện tổ chức và thực hành quyền công tố ở Việt Nam
4 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích nói trên, tác giả luận văn đặt ra cho mình nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố trong tố tụng hình sự
Nghiên cứu việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng
Tổng kết tình hình thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay chỉ ra những vấn đề bất hợp lý và đi sâu phân tích nguyên nhân của thực trạng đó
Trên cơ sở những luận điểm được nghiên cứu trên đây gợi mở việc vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực
Trang 65.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận :
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Những quan điểm, đường lối của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về tư pháp và cải cách tư pháp
Những thành tựu của khoa học tư pháp và khoa học luật tố tụng hình sự trong và ngoài nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phân tích, tổng hợp , thống kê, so sánh
6 Cái mới về mặt khoa học và ý nghĩa của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc
sĩ đề cập đến đề tài đã được lựa chọn
Bằng việc phân tích khoa học, trong luận văn này lần đầu tiên tác giả đã cố gắng giải quyết những vấn đề sau đây :
1) Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quyền công tố trong tố tụng hình sự
2) Nghiên cứu việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo
tố tụng hình sự tranh tụng 3) Tổng kết tình hình thực hành quyền công tố ở Việt Nam hiện nay chỉ ra những vấn đề bất hợp lý và đi sâu phân tích nguyên nhân của thực trạng đó
4) Trên cơ sở những luận điểm được nghiên cứu trên đây gợi
mở việc tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng hình sự tranh tụng ở Việt Nam
Trang 7Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu trong quá trình học tập và nghiên cứu khoa học, cũng như làm tài liệu tham khảo cho những nhà xây dựng pháp luật
7 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1 Nhận thức chung về quyền công tố và tố tụng hình sự tranh tụng
Chương 2 Nội dung quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng Chương 3 Vận dụng một số yếu tố hợp lý của việc tổ chức và thực hành quyền công tố trong tố tụng tranh tụng vào điều kiện Việt Nam
Trang 8Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CÔNG TỐ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG
1.1 Khái niệm quyền công tố, thực hành quyền công tố
1.1.1 Khái niệm quyền công tố
Trong tiếng Anh “ Prosecute” (công tố) được hiểu là việc tiến hành cáo buộc một người trước toà trong một quy trình tố tụng hình sự.[22, tr 1080] Trong tiếng Nga, khái niệm công tố cũng bao gồm hai từ hợp thành: “ợ ỏ õ ố
ở ồ ớ ố ồ “ ( tố ) và “ ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ“ ( công ) Trong đó “ợ ỏ õ
ố ở ồ ớ ố ồ “ ( tố ) được hiểu là “ nội dung buộc tội nêu trong quyết định khởi
tố bị can, kết luận điều tra, cáo trạng và bản án buộc tội.”[12, tr.82] Khi ghép
từ “ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ„ (tố) với từ “ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ“ (công), thì công tố (ó ợ ủ ú ọ à ð ủ ũ õ ồ ớ ớ ợ ồ ợ ỏ õ ố ở ồ ớ ố ồ ) được hiểu là sự buộc tội của nhà nước đối với người bị truy cứu trách nhiệm hình sự Thuật ngữ “ công tố “ là một thuật ngữ Hán- Việt, theo Đào Duy Anh, có nghĩa là “ thay mặt quốc gia để buộc tội trước toà.” [1, tr.122] Trong một cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học Việt Nam, công tố cũng được định nghĩa là “ sự truy tố của nhà nước đối với một kẻ có tội.” Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ tiếng Việt, công tố cũng được hiểu là việc nhân danh nhà nước để buộc tội một người bị tình nghi là phạm tội
Đa số các nước trên thế giới hiện nay hiểu công tố là việc cáo buộc một người bị tình nghi là tội phạm ra trước toà Đây là ý nghĩa cốt lõi nhất của công tố Với một khái niệm công tố được hiểu như vậy thì có thể hiểu quyền
Trang 9công tố là quyền nhân danh nhà nước để cáo buộc một người bị tình nghi là tội phạm ra trước toà Tuy nhiên, do đặc thù của việc tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam, khái niệm quyền công tố trong khung cảnh của nước ta
có những khó khăn trong việc giải thích Xung quanh khái niệm quyền công
tố ở Việt Nam đã có rất nhiều quan niệm khác nhau Chúng tôi dựa trên nền tảng của Hiến pháp đã được sửa đổi và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành để chỉ ra bản chất của quyền công tố ở Việt Nam Theo chúng tôi, quyền công tố ở Việt Nam có những dấu hiệu đặc trưng sau đây:
Thứ nhất, quyền công tố là quyền nhân danh quyền lực công và lợi ích
công Quyền cống tố được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của công quyền theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Với tính chất là một quyền nhân danh quyền lực công, quyền công tố đồng thời cũng là quyền nhân danh lợi ích công Nhưng không phải mọi hoạt động nhân danh lợi ích công đều là quyền công tố
Thứ hai, quyền công tố là một quyền hiến định được trao cho một cơ
quan độc lập trong hệ thống bộ máy nhà nước thực hiện Theo hiến pháp Việt Nam, hệ thống quyền lực được phân bố thành bốn hình thái cơ bản là: lập pháp, hành pháp, xét xử, và kiểm sát Quyền công tố ở Việt Nam không giống như ở các nước khác thuộc cấu trúc của ngành hành pháp mà thuộc một hệ thống cơ quan độc lập là Viện kiểm sát Có quan điểm cho rằng quyền công tố
là “quyền của một cơ quan nhà nước được nhà nước uỷ quyền.”[11, tr.52]
Chúng tôi không đồng ý với quan điểm nay Quyền công tố ở Việt Nam không phải là quyền được được nhà nước uỷ quyền mà cũng như quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền xét xử, quyền công tố được thiết lập từ quyền lập hiến mà chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân Do đó quyền công tố là
Trang 10Thứ ba, theo Hiến pháp và các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện
hành, quyền công tố là một loại quyền độc lập Do đặc thù của việc tổ chức quyền công tố ở Việt Nam, trước đây khái niệm công tố đã được đồng nhất với quyền kiểm sát chung của Viện kiểm sát Có thể thấy rõ là quan điểm này
đã xuất phát từ chức năng của Viện kiểm sát nhân dân để xem xét quyền Công tố Quan điểm này cho rằng, tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều làthực hành quyền Công tố Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi Viện kiểm sát kiến nghị yêu cầu các cơ quan Nhà nước sửa chữa những phạm vi pháp luật của mình trên lĩnh vực hành chính kinh tế, xã hội (một thời chúng ta gọi là kiểm sát chung) cũng là thực hành quyền Công tố Và bởi vậy,
có nhiều nước gọi Viện kiểm sát là Viện Công tố Theo quan điểm này, Công
tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát từ trước tới nay Đi sâu nghiên cứu những lập luận của những người theo quan điểm này cho thấy rõ là cơ sở cho những lập luận của họ chủ yếu là nội dung các điều luật được quy định trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và 1992, đặc biệt là Điều 3 (đúng ra thì phải tính cả các Điều 137
và 138 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 của Nhà nước ta và nhiều điều trong
Bộ luật tố tụng hình sự) Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
1992 quy định Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền Công tố bằng 6 công tác Đó là Công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; Công tác kiểm sát điều tra xét xử; Công tác kiểm sát giam giữ và cải tạo; Công tác kiểm sát thi hành án và Công tác điều tra tội phạm (Tuy nhiên, việc quy định quyền Công tố và phạm vi quyền công tố như pháp luật hiện hành của nước ta có phần chưa rõ ràng nên dẫn đến nhận thức không đầy đủ) Mặt
Trang 11khác, theo quan điểm này cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các nhà tố tụng hình sự học Liên Xô trước đây.[ 25, tr.25]
Việc Hiến pháp 1992 đã bỏ đi chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhưng chức năng công tố vẫn còn cho thấy rằng quan điểm đồng nhất quyền công tố với quyền kiểm sát chung là không có cơ sở Chức năng trọng yếu của Viện kiểm sát là công tố nên không thể quan niệm quyền công tố chỉ
là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Hiện nay Viện kiểm sát chỉ có hai chức năng
là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Việc Hiến pháp đặt quyền công tố trước kiểm sát hoạt động tư pháp, mặc dù về mặt văn phong pháp lý, cũng nói lên tính chất chủ yếu của quyền công tố, và công tố không thể là một bộ phận của kiểm sát hoạt động tư pháp Với khung cảnh hiến định
và pháp định hiện nay, công tố không phải là một bộ phận của kiểm sát việc tuân theo pháp luật, mà ngược lại hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật chỉ là một hoạt động bổ trợ của quyền công tố Xét về mặt thực chất, mọi hoạt động kiểm sát tư pháp đều có ý nghĩa phục vụ cho việc thực hành quyền công
tố
Thứ tư, quyền công tố chỉ phát sinh trong lĩnh vực tố tụng hình sự Có
quan điểm cho rằng công tố là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân,
tổ chức đã vi phạm pháp luật, vi phạm Luật dân sự, Luật kinh tế và Luật hình
sự Và, quyền công tố là quyền của Nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó Theo quan điểm này, quyền công tố chỉ thuộc Nhà nước Nhà nước không thể không thực hiện quyền công tố khi chính Nhà nước là người ban hành pháp luật, người có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và đồng thời Nhà nước là chủ thể tham gia vào nhiều loại quan hệ pháp luật khác nhau Với tính cách là một
Trang 12sự, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động, tố tụng hành chính Sự tồn tại quyền công tố trong các hoạt động tố tụng nêu trên là do nhu cầu khách quan bởi thứ nhất, Nhà nước không thể không thể hiện quyền lực của mình trong việc giải quyết các vi phạm pháp luật; và thứ hai, sự hiện diện công tố như một điều kiện bảo đảm tính hiệu quả của việc giải quyết các vi phạm pháp luật của cơ quan tài phán Theo quan điểm trên, quyền công tố được biểu hiện cụ thể ở các quyền của Viện kiểm sát như quyền khởi tố vụ án (dân sự, hành chính, hình sự, lao động), quyền tham gia tố tụng từ bất cứ giai đoạn tố tụng nào khi xét thấy cần thiết (dân sự, kinh tế ), quyền yêu cầu Toà án hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ trong vụ án Quyền công tố trong các hoạt động tố tụng khác nhau thì không giống nhau về nội dung cũng như hình thức thực hiện Trong tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố có nghĩa là Nhà nước thực hiện sự buộc tội đối với một người phạm tội cụ thể, còn trong các hoạt động tố tụng khác, thực hành quyền công tố được hiểu là việc Nhà nước trực tiếp hay gián tiếp (bằng văn bản) quy lỗi cho một người hay một pháp nhân nào đó trong việc thực hiện một hay nhiều hành vi vi phạm pháp luật tương ứng Như vậy, sự buộc tội chỉ là một trong những nội dung của công tố bởi công tố ngoài buộc tội (quy lỗi hình sự) còn là việc quy lỗi cho người khác.[ 25, tr.26]
Thực ra một số quan niệm trước đây coi quyền công tố mở rộng đến lĩnh vực này là khi Viện kiểm sát còn có chức năng kiểm sát chung Việc đồng nhất chức năng công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
đã dẫn đến việc mở rộng phạm vi của quyền công tố đến những vụ án không phải là vụ án hình sự Việc Hiến pháp hiện hành đã bỏ đi chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát cũng đồng nghĩa với việc trở lại bản chất của quyền công tố là nhân danh nhà nước để cáo buộc một người bị tình nghi là tội phạm trước toà mà không mở rộng đến việc khởi kiện ra toà trong các vụ án ngoài
Trang 13vụ án hình sự Với hai chức năng hiện hành là công tố và kiểm sát tư pháp thì việc khởi kiện ra toà các vụ án như dân sự, kinh tế không thể có một cơ sở hiến định Việc Viện kiểm sát có quyền tham gia với tư cách một bên khởi kiện trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động không phải là thuộc lĩnh vực của quyền công tố Trong việc tham gia vào các vụ án dân sự, kinh tế, lao
động Viện kiểm sát chỉ nhân danh lợi ích công chứ không phải nhân danh
quyền lực công Khi đó tư cách của Viện kiểm sát cũng chỉ như một bên
đương sự, chứ không phải là tư cách của một cơ quan công quyền
Tư cách của Việm kiểm sát trong phiên toà dân sự chỉ là tư cách của một cơ quan kiểm sát tư pháp Với tư cách kiểm sát tư pháp, Viện kiểm sát
được làm gì ? Khác với hoạt động công tố, hoạt động kiểm sát tư pháp không
phải là một hoạt động tố tụng Kiểm sát tư pháp về thực chất là sự tự kiểm tra của bản thân hệ thống quyền lực tư pháp Nếu như kiểm sát tư pháp không
phải là một hoạt động tố tụng thì Viện kiểm sát tham gia phiên toà dân sự không thể với tư cách một cơ quan tiến hành tố tụng Do đó nếu như Kiểm sát viên ngồi phiên toà trực tiếp phát biểu quan điểm, tham gia đánh giá chứng cư thì có nghĩa Kiểm sát viên là một người tiến hành tố tụng Như như vậy thì có nghĩa là Kiểm sát viên đã làm những việc mà mình không có tư cách pháp lý Hơn nữa, xét về mặt thực tiễn, nếu như Viện kiểm sát tham gia vào phiên toà dân sự, phát biểu quan điểm thì chắc chắn Hội đồng xét xử xẽ chịu ảnh hưởng
từ phía Viện kiểm sát mà không thể độc lập trong xét xử, tính công bằng khách quan trong việc giải quyết tranh chấp dân sự sẽ không được bảo đảm, nhất là khi các bên đương sự lại lợi dụng sự tham gia của Viện kiểm sát trong phiên toà để gây áp lực ngầm đối với Viện kiểm sát từ trước khi phiên toà diễn ra
Chỉ khi nào với tư cách đại diện của cơ quan công tố, Kiểm sát viên
Trang 14công tố trong vụ án dân sự thì Kiểm sát viên không thể tham gia phiên toà dân sự với tư cách là một người tiến hành tố tụng Đối với một vụ án dân sự, Viện kiểm sát chỉ có thể tham gia với tư cách một cơ quan kiểm sát Với tư cách một cơ quan kiểm sát, trong quy trình giải quyết một vụ án dân sự, Viện kiểm sát có quyền kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ, kiểm sát quá trình tham gia
tố tụng của những người tham gia tố tụng
Với tư cách là một cơ quan kiểm sát tư pháp, Viện kiểm sát chỉ tham gia vào việc giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn thụ lý, lập hồ sơ vụ án Còn
trong giai đoạn xét xử, Việm kiểm sát không được tham gia mà chỉ có thể
tham dự Viện kiểm sát có thể thực hiện được quyền kiểm sát tư pháp của
mình với tư cách một người tham dự trong phiên toà dân sự Thông qua việc ngồi tham dự phiên toà, ngồi đâu thì tùy, không nhất thiết phải bố trí một chỗ ngồi riêng, Kiểm sát viên có thể theo dõi được quá trình mở phiên toà, tranh luận của các bên đượng sự…có đúng thủ tục không, và nến có những vi phạm pháp luật thì kháng nghị
Căn cứ theo pháp luật hiện hành thì quyền công tố cũng chỉ phát sinh trong việc giải quyết các vụ án hình sự Theo Đ iề u 3 c uả Luậ t tổ c hứ c
Việ n k iể m s á t, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ
bằng những công tác sau đây: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra
và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp; Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự; Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động
và những việc khác theo quy định của pháp luật; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nhân dân; Kiểm sát
Trang 15việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù[14, tr.8] Quy phạm trên cho thấy quyền công tố chỉ áp dụng đối với việc giải quyết các vụ án hình sự Đối với các vụ án dân
sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động, chức năng của Viện kiểm sát không phải là công tố mà là kiểm sát hoạt động tư pháp
Thứ năm, quyền công tố là một quyền cáo buộc một người bị tình nghi
là tội phạm trước toà Sự cáo buộc ở đây được hiểu là tất cả những hoạt động
nhằm đưa một nghi phạm ra trước toà, chứ không đơn thuần chỉ là việc truy tố
và buộc tội trước toà Quyền công tố được thực thi bởi cả một quá trình Quá trình này bao gồm từ việc khởi tố đến việc buộc tội trước toà Việc truy tố là nội dung trọng tâm và mang ý nghĩa quyết định của việc thực hành quyền công tố chứ không phải là nội dung duy nhất của quyền công tố Công tố bao gồm cả các hoạt động tiền truy tố Để buộc tội một người trước toà, đòi hỏi phải có rất nhiều hoạt đông tố tụng từ khởi tố bị can đến việc tiến hành các hoạt động điều tra : khám xét, hỏi cung, trưng cầu giám định, thực nghiệm điều tra Tất cả các hoạt động này đều có ý nghĩa làm cơ sở cho việc buộc tội Do đó chúng thuộc phạm vi của quyền công tố
Thứ sáu, Viện kiểm sát là chủ thể duy nhất của quyền công tố Việc
khẳng định quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn có quyết định khởi tố bị can đồng thời lại khẳng định chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền công tố hoàn toàn không mâu thuẫn với nhau Có ý kiến băn khoăn : Trong suốt gian đoạn điều tra, phải chăng chỉ có Viện kiểm sát mới thực hiện chức năng buộc tội ? Cơ quan điều tra thực hiện chức năng gì ?[6, tr.12] Thực ra, các hoạt động khởi
tố, điều tra của cơ quan điều tra chỉ có mục đích là chứng minh tội phạm mà không phải là buộc tội Các hoạt động khởi tố, điều tra trong quá trình thực
Trang 16buộc tội: đề nghị Toà án ra phán quyết về tội danh, áp dụng hình phạt và các biện pháp tư pháp khác
Tóm lại, trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, quyền
công tố là một quyền độc lập do Viện kiểm sát nhân danh lợi ích công và quyền lực công cáo buộc một người bị tình nghi là phạm tội ra trước toà
1.1.2 Thực hành quyền công tố
Từ khái niệm quyền công tố nói trên có thể hiểu thực hành quyền công
tố là việc Viện kiểm sát nhân danh lợi ích công và quyền lực công thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để cáo buộc một người ra trước toà Như vậy nêu như quyền công tố là quyền
năng duy nhất chỉ có Viện kiểm sát mới có thì chức năng thực hành quyền công tố là chức năng duy nhất của Viện kiểm sát mà không thể có một cơ quan nào làm thay
Trước đây, về mặt lý luận cũng như thực tiễn chưa phân biệt được rành mạch hành vi tố tụng nào là thực hành quyền công tố và hành vi tố tụng nào là thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tuân theo pháp luật Tuy nhiên, Luật
tổ chức Viện kiểm sát hiện hành đã quy định cụ thể nội dung việc thực hành quyền công tố và nội dung kiểm sát hoạt động tư pháp
C ă n c ứ t heo Đ iề u 13 c ủa Luậ t tổ c hức V iệ n k iể m s á t hiệ n
hà nh t hì, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật;
Trang 17- Yêu cầu Thủ trưởng cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;
- Quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam
và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của cơ quan điều tra theo quy định của pháp luật;
- Huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của cơ quan điều tra;
- Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án [ 14, tr14]
T heo Đ iề u 17 c ủa Luậ t t ổ c hức V iệ n k iể m s á t, k hi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;
- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà
sơ thẩm, phúc thẩm;
- Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ
án tại phiên toà giám đốc thẩm, tái thẩm [ 14, tr.17 ]
Như vậy, Luật đã chỉ rõ nội dung cụ thể của thực hành quyền công tố Vấn
đề đặt ra ở đây là mối tương quan giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp là như thế nào ? Có quan điểm cho rằng chức năng công tố
và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật hoàn toàn độc lập với nhau và cùng song song tồn tại Có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng công tố
và có hoạt động chỉ nhằm thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp
Trang 18[26, tr.157] Chúng tôi cho rằng có những hoạt động thuần tuý là thực hành
quyền công tố và có những hoàt động kiểm sát tư pháp nhưng nhìn chung thì hai chức năng này có quan hệ đan xen với nhau Chức năng công tố là chức năng cơ bản của Viện kiểm sát còn đa số các hoạt động kiểm sát tư pháp đều nằm phục vụ cho việc thực hành quyền công tố Có thể lấy tiêu trí về mục đích của 2 hoạt động : thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát tư pháp
để phân biệt đó là : thực hành quyền công tố nhằm đi đến kết luận truy tố hay không truy tố Còn hoạt động kiểm sát tư pháp nhằm mục đích và đảm bảo cho các hoạt động: khởi tố, điều tra: khám xét, hỏi cung, trưng cầu giám định, thực nghiệm điều tra, lấy lời khai người làm chứng có đúng quy định của luật tố tụng hình sự không
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tố tụng hình sự tranh tụng
Về cơ bản trên thế giới có hai loại hình tố tụng hình sự điển hình là tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng Quyền công tố trong những loại hình này
có những đặc điểm khác nhau Dưới đây chúng tôi sẽ trình bầy về đặc điểm của loại hình tố tụng hình sự tranh tụng trong sự đối chiếu với tố tụng hình sự thẩm vấn để làm cơ sở cho việc khảo sát quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng ở chương tiếp theo
Tố tụng hình sự tranh tụng là loại hình tố tụng hình sự điển hình của các nước theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ Các nghiên cứu về tố tụng tranh tụng đã khái quát loại hình này với trình tự tố tụng như sau: Cảnh sát sau khi phát hiện có vi phạm pháp luật hình sự có thể trực tiếp truy tố bị cáo ra toà chỉ
có một thẩm phán, nếu là vi phạm nhỏ, tội ít nghiêm trọng Nếu là tội nghiêm trọng và bị cáo nhận tội, vụ án sẽ được chuyển cho cơ quan công tố để truy tố
ra toà xét xử theo thủ tục rút gọn, không có bồi thẩm đoàn tham dự Trường hợp bị cáo không nhận tội và đề nghị xét xử bằng thủ tục có bồi thẩm đoàn,
vụ án sẽ được cơ quan công tố truy tố ra toà với một thẩm phán và bồi thẩm
Trang 19đoàn Trong quá trình xét xử, các bên buộc tội và gỡ tội tự xét hỏi, đưa ra chứng cứ, người làm chứng, đối chất, phản bác nhau, và tự bảo vệ quan điểm của mình Thẩm phán có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động tố tụng, hướng dẫn cho bồi thẩm đoàn những quy tắc tố tụng, chúng cứ và luật nội dung Việc quyết định bị cáo có tội hay không có tội hoàn toàn thuộc quyền của bồi thẩm đoàn Nếu bị cáo bị tuyên là có tội lúc đó chỉ có thẩm phán tiếp tục vụ
án với vai trò là người quyết định hình phạt, lượng hình Nếu bị cáo được tuyên là vô tội, vụ án sẽ chấm dứt ngay và cơ quan công tố cũng không được quyền kháng nghị phúc thẩm vì nguyên tắc Hiến pháp không cho phép xét xử hai lần đối với một bị cáo về cùng một tội Việc phúc thẩm chỉ đặt ra đối với
cả hai bên khi bị cáo bị tuyên là có tội liên quan đến việc định tội hoặc lượng hình Các thủ tục tố tụng như hỏi cung, khám nghiệm, hay các thủ tục tố tụng tại phiên toà đều phải được ghi âm hoặc ghi hình Nếu có tranh chấp hay mâu thuẫn giữa các bên về tính đúng đắn và chính xác thì băng ghi âm, ghi hình sẽ được đưa ra để toà án và các bên cùng xem xét lại, cùng đối chứng[ 27, tr.5]
Trong khi đó, quy trình tố tụng thẩm vấn lại gồm những bước rất khác Cảnh sát là cơ quan đầu tiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc Khi phát hiện một hành vi phạm tội, tuỳ theo mức độ vi phạm, cảnh sát có nghĩa vụ thu thập các thông tin và chuyển hồ sơ cho Viện công tố Những vụ việc nhỏ như tội vi cảnh, tội phạm ít nghiêm trong sẽ do Toà tiểu hình hay toà Toà vi cảnh giải quyết Tại các phiên toà này, việc xét xử có thể do một thẩm phán hoặc cả hội thẩm tham gia, (ví dụ như ở Đức với các tội đại hình) Sau khi vụ án được khởi tố, Viện công tố là cơ quan có quyền chỉ đạo các hoạt động điều tra của cảnh sát Đối với những vụ án nghiêm trọng, khi việc điều tra sơ bộ đã kết thúc, công tố viên chuyển hồ sơ vụ án cho thẩm phán điều tra để xem xét các yếu tố chứng cứ đã đầy đủ chưa? Thông thường khi cơ quan công tố ra quyết
Trang 20bao gồm thẩm phán và hội thẩm Khi bắt đầu phiên toà, công tố viên đọc cáo trạng mô tả một cách vắt tắt hành vi phạm tội, tội danh của bị cáo Nếu bị cáo không thực hiện quyền giữ im lặng thì thẩm phán hỏi bị cáo về hành vi phạm tội và bị cáo phải trả lời Tiếp theo sau là thủ tục xét hỏi từng nhân chứng và xem xét các chứng cứ khác Công tố viên và luật sư được quyền hỏi bị cáo và các nhân chứng về bất kỳ vấn đề gì mà họ thấy cần thiết và có liên quan đến
vụ án trong việc buộc tội hay gỡ tội Bị cáo và luật sư biện hộ cũng được quyền hỏi lại hoặc đối chất với các nhân chứng và công tố viên Đối với những nước có cơ chế hội thẩm thì sau khi thẩm phán và các bên hỏi xong, hội thẩm có quyền hỏi Nếu xét xử có bồi thẩm đoàn thì bồi thẩm đoàn không
có quyền hỏi Quá trình xét hỏi kết thúc khi công tố viên và luật sư biện hộ đưa ra kết luận cùng những lập luận về các tình tiết của vụ án trong quá trình xét xử tại phiên toà trước khi bị cáo nói lời sau cùng và toà án nghị án để ra phán quyết
Philip.L.Reichel coi hệ thống tranh tụng thường được thay thế cho sự trả thù cá nhân Theo như suy luận của xã hội thì quyền được khởi tố trước tiên là thuộc về người bị hai, sau đó mở rộng ra đến họ hàng thân thích của người bị hại rồi đến các thành viên khác trong nhóm quen biết của người đó
và cuối cùng là đến chính phủ Trong quá trình đó, người buộc tội đã chuyển
từ cá nhân sang nhà nước.[21, tr120]. Tố tụng hình sự của Mỹ rất nhấn mạnh đến vai trò của công tố hay người khởi tố Người ta vẫn nói tới tư tố ở Anh quốc và coi đây là một đặc trưng lớn của tố tụng hình sự ở nước này Tuy nhiên, khi lực lượng cảnh sát lớn mạnh, họ đã gánh vác dần trách nhiệm khởi
Trang 21này của tố tụng tranh tụng đòi hỏi sự chủ động trong việc sử dụng tố quyền của công dân, và công dân phải coi toà án là nơi mình có thể tìm đến để bảo
vệ mình, do đó chủ động sử dụng toà án để giải quyết các tranh chấp Như vậy, trong loại hình tố tụng tranh tụng, vai trò của các bên tham gia tố tụng
là chủ động còn toà có vai trò thụ động và trung lập
Tố tụng tranh tụng đòi hỏi toà án phải kìm chế tham gia tìm hiểu về nội dung vụ án tận tới khi các bên đã trình bầy hết các chứng cứ Nếu toà án tham gia tích cực vào vụ án, nhất là vào việc xét hỏi tại toà, công chúng sẽ cho rằng Toà án là một bên tranh chấp và như vậy sẽ không đảm bảo công lý [ 27,tr 5]
Tố tụng trạnh tụng hướng đến việc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ
án bằng việc tranh luận tự do và cởi mở giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Philip.L.Reichel gọi tố tụng tranh tụng là một hệ thống tư pháp mang tính “thi đấu thể thao.”[ 21, tr123] Hai bên phải thi đấu đến cùng trong một trận chiến quyết liệt Bên thắng là bên được coi là có được sự thật ở phía mình Các bên đều được khuyến khích đưa ra những chứng cứ đối lập để bác bỏ ý kiến của đối phương Như vậy, tố tụng tranh tụng là một quá trình cọ sát giữa những ý kiến mâu thuẫn nhau Chấp nhận và tôn trọng những mâu thuẫn là đặc điểm của tố tụng tranh tụng
Tố tụng tranh tụng đòi hỏi các bên phải trình bầy chứng cứ Do vai trò thụ động và trung lập của Toà án, các bên phải tự tìm, thu thập và trình bầy chứng cứ một cách có hiệu quả nhất, thuyết phục nhất trước toà Vì sự phức tạp của các quy tắc tố tụng chứng cứ và luật nội dung, các bên thường không
tự mình tiến hành tố tụng mà phải có một đội ngũ luật gia chuyên nghiệp đại diện trong các hoạt động tố tụng, đặc biệt là trước Toà.[27, tr 5]
Khác với tố tụng tranh tụng, phiên toà trong tố tụng thẩm vấn không phải là sự cạnh tranh giữa hai bên đối địch nhau mà là sự tiếp tục điều tra Các
Trang 22chứ không phải là các luật sư của bên nguyên và bên bị, sẽ gọi hỏi và kiểm tra một cách tích cực các nhân chứng Theo cách này, hệ tố tụng thẩm vấn cho rằng sự thật có thể phải được tìm ra trong quá trình tiếp tục thẩm vấn, điều tra tại toà Vì rằng các bên có ý định che dấu sự thật nên nhà nước phải tham gia sớm và liên tục vào việc thẩm vấn, điều tra
Tố tụng tranh tụng được xem là cuộc tranh chấp giữa nhà nước và công dân Trong tố tụng hình sự thì đó là một cuộc đấu tranh giữa nhà nước và bị cáo Waldrom xác định hai bảo đảm cho hệ thống tranh tụng Thứ nhất, nó sử dụng việc kiểm tra chéo để thách thức hay huỷ lời khai của bị cáo Mỗi bên đều có dịp để hỏi về tính trung thực của nhân chứng, tìm sự thiên vị và chỉ ra được cái mà nhân chứng biết thực sự chứ không phải cái mà họ nghĩ rằng họ biết…Thứ hai là thay vì giữ độc quyền, công tố viên, luật sư, thẩm phán và bồi thẩm đoàn cùng chia sẻ quyền lực Công tố viên đại diện cho nhà nước cố gắng để chứng minh tội của bị cáo Luật sư bào chữa tranh luận về sự vô tội của thân chủ và để đảm bảo rằng bị cáo có tất cả sự bảo vệ có thể có về mặt pháp lý Thẩm phán đóng vai trò trọng tài trong cuộc chơi và đảm bảo rằng các cầu thủ phải tuân thủ các quy tắc của trò chơi [ 21, tr124.]
Qua đó cho thấy tố tụng tranh tụng thừa nhận một địa vị ngang bằng giữa nhà nước và công dân Bên nhà nước cũng như phía công dân đều được tạo những cơ hội như nhau để tìm ra sự thật của vụ án Điều này nói lên rằng
tố tụng tranh tụng gắn liền với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân- nơi công dân được thừa nhận địa vị bình đẳng với nhà nước
Một đặc điểm nội bật của hệ thống tố tụng tranh tụng mà ở hệ thống tố tụng thẩm vấn không có là yếu tố thú tội và mặc cả thú tội Do tính chất khắc nghiệt của việc tranh luận tại toà, cơ quan cảnh sát và công tố nhiều khi không thể tìm ra đủ chứng cứ để có thể “thắng” tại phiên toà khi họ muốn truy tố một bị cáo Do đó, các nhà lập pháp đã đặt ra nhiều quy định để khuyến khích
Trang 23bị cáo nhận tội hoặc cho phép thoả thuận để bị can, bị cáo nhận tội, khai báo cung cấp thông tin về bị cáo khác Đổi lại, bị can, bị cáo có thể được miễn truy tố về một hoặc một số tội hay được giảm hình phạt sau này Việc mặc cả thú tội được diễn ra giữa cơ quan cảnh sát, viện công tố, và bị can, bị cáo cùng luật sư của họ[27, tr 5]
Khác với loại hình tố tụng tranh tụng, loại hình tố tụng thẩm vấn không chấp nhận sự mặc cả thú tội Joutsen giải thích rằng việc mặc cả buộc tội với nghĩa là sự thoả thuận công khai giữa bị cáo và công tố về việc kết tội không được phép cả về mặt lý thuyết lẫn không được khuyến khích về mặt thực tế trong hệ thống luật lục địa Về lý thuyết, việc buộc tội do mặc cả xâm phạm nguyên tắc hợp pháp mà theo nguyên tắc này thì công tố phải kết tội đúng với những gì mà bị cáo bị nghi là phạm phải chứ không phải kết tội theo ý muốn của bị cáo Về thực tế, công việc thực tiễn hàng ngày của công tố không bao gồm các cơ hội để thương lượng giữa công tố viên với bị cáo hoặc luật sư của
họ [ 21, tr122-123]
Như vậy, có thể khái quát những điểm khác nhau giữa tố tụng tranh
tụng và tố tụng thẩm vấn như sau:
Thứ nhất, hệ thống thẩm vấn nhấn mạnh vào giai đoạn điều tra của quá
trình tố tụng nên việc điều tra cẩn thận sẽ đảm bảo xác định chính xác tội trạng thực tế Trong khi đó loại hình tố tụng tranh tụng lại chú trọng vào giai đoạn xét xử với các quy tắc nghiêm ngặt về chứng cứ để đảm bảo rằng bị cáo đươc xét xử một các công bằng
Thứ hai, loại hình tố tụng tranh tụng chặt chẽ hơn đối với sự tham gia
của tư pháp cả trong quá trình điều tra và xét xử Trong khi trong tố tụng thẩm vấn việc tham gia của thẩn phán là trực tiếp thì trong tố tụng tranh tụng thẩm phán chỉ ảnh hướng gián tiếp
Trang 24Thứ ba, đối với tố tụng tranh tụng, quy trình tố tụng chỉ chính thức bắt
đầu từ khi mở phiên toà xét xử còn các hoạt động điều tra trước đó được coi
là bí mật Trong khi đó, đối với tố tụng thẩm vấn quy trình tố tụng bắt đầu từ khi khởi tố vụ án
Thứ tư, vì loại hình tố tụng thẩm vấn cho rằng tất cả mọi người tham
gia vào vụ án đều cố gắng tìm ra sự thật nên bị cáo được mong đợi sự hợp tác Nội dung hợp tác có thể là: cung cấp thông tin cho điều tra viên; trả lời các câu hỏi tại phiên toà Loại hình tố tụng tranh tụng lại không mong đợi, cũng như không yêu cầu bị cáo giúp đỡ cho việc điều tra Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về công tố viên, còn bị cáo vẫn có thể tiếp tục im lặng
Thứ năm, trong loại hình tố tụng tranh tụng vai trò của thẩm phán là vai
trò của người trọng tài Các luật sư có thể khai thác và trình bầy các vụ việc của mình để sau đó bồi thẩm đoàn sẽ quyết định về vụ án Toà án trong loại hình tố tụng thẩm vấn là một thẩm tra viên nhưng được bổ sung thêm quyền quyết định vụ án Thẩm phán hỏi phần lớn các câu hỏi và phát triển sự kiện trong khi các luật sư chủ yếu chỉ tranh luận để giải thích những gì thẩm phán
sẽ tuyên liên quan đến các dữ kiện của vụ án
Tuy nhiên, không có một sự cách biệt hoàn toàn giữa hai loại hình tố tụng tranh tụng và thẩm vấn Tố tụng tranh tụng là mô tình đặc trưng của hệ thống luật Anh- Mỹ Tố tụng thẩm vấn là loại hình đặc trưng của hệ thống luật Châu
Âu lục địa Qua nghiên cứu thấy rằng hiện nay, hai hệ thống này đang dần dần chấp nhận những yếu tố hợp lý của nhau Trong quá trình đó, một số yếu
tố của tố tụng tranh tụng đã được du nhập vào loại hình tố tụng thẩm vấn và ngược lại Điển hình là hệ thống luật Anh- Mỹ cũng đã chấp nhận việc dùng công tố viên nhà nước để thực hiện việc truy tố hình sự thay cho bồi thẩm đoàn Các quy tắc về khai báo đã buộc có sự trao đổi về chứng cứ giữa hai bên đối tụng dẫn đến quá trình tìm kiếm sự thật gần gũi hơn với loại hình
Trang 25thẩm vấn Ngoài ra vai trò của thẩm phán trong tố tụng tranh tụng cũng được nâng lên trong một số lĩnh vực như hướng dẫn thương lượng buộc tội hay xác định bồi thẩm đoàn được phép xem xét những vật chứng, nhân chứng nào Kết quả của sự giao lưu về mặt tố tụng này là mỗi một loại hình tố tụng, lại có những yếu tố của loại hình tố tụng khác
Tố tụng tranh tụng là một loại hình tố tụng dân chủ Trong loại hình tố tụng, quyền và lợi ích của các bên được đảm bảo hơn Cách thức đối tụng trong phiên toà và việc san sẻ nghĩa vụ chứng minh đảm bảo cho quá trình tố tụng diễn ra một cách khách quan, công bằng Đối tụng cho phép việc kiểm tra chéo để xác định tính đúng đắn cuả các lời khai và chứng cứ, bởi các bên đều được tự do tranh luận và đưa ra ý kiến của mình về các vấn đề liên quan đến vụ án Bên cạnh đó, quyền của các bên tham gia tranh tụng, giữa nhà nước và cá nhân là ngang nhau nên có ý nghĩa bảo đảm bình đẳng trong quá trình tố tụng
Tuy nhiên, loại hình tố tụng tranh tụng cũng có những điểm hạn chế Do
sự mở rộng quyền tư tố nên sự kiểm soát tội phạm từ phía nhà nước sẽ gặp phải những khó khăn Hơn nữa, do nghĩa vụ chứng minh được chia đều giữa các bên, toà án chỉ là người trung gian nên tố tụng tranh tụng quan tâm đến việc con người được phán xét như thế nào hơn là việc anh ta đã làm gì trên thực tế
Tố tụng tranh tụng hình thành và phát triển trong những môi trường xã hội nhất định Mặc dù có những hạn chế, nhưng đây là một loại hình dân chủ, nên
có thể được ứng dụng ở những quốc gia khác nhau Hình thành ở các nước Anh, Mỹ nhưng loại hình tố tụng tranh tụng cũng được du nhập sang các nước Châu Á Tuy nhiên, việc áp dụng tố tụng tranh tụng không phải là một quá trình đơn giản mà cần phải có những điều kiện cần thiết
Trang 26Trước tiên, vì tố tụng tranh tụng đặt lợi ích của cá nhân, tổ chức, nhà nước
và xã hội ngang bằng nhau trong tố tụng nên việc kiểm soát tình hình tội phạm từ phía nhà nước và xã hội khá phức tạp Do đó, yêu cầu đầu tiên để đảm bảo hiệu quả tranh tụng trong tương quan giữa lợi ích của xã hội, nhà nước và lợi ích của cá nhân là: Nhà nước phải có khả năng kiểm soát tội phạm thực tế đủ để khắc phục tình trạng nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội không đươc giải quyết theo trình tự tố tụng hình sự Mặt khác, do quyền lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp thuộc về người bị hại nên phải có những đảm bảo thực tế để cá nhân có khả năng sử dụng được quyền này Những đảm bảo này gồm cả những yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Yếu tố khách quan
là các đảm bảo của nhà nước và xã hội để cá nhân có thể thực sự lựa chọn được cách thức giải quyết theo ý muốn của mình Yếu tố chủ quan là tất cả những gì thuộc về cá nhân đủ để họ có thể hiểu đúng làm thế nào có lợi cho
họ và có những ứng xử thích hợp Ngoài ra, phải có một hệ thống pháp luật, nhất là luật tố tụng và luật tổ chức tư pháp tương đối hoàn chỉnh Đồng thời phải có một đội ngũ luật sư đảm bảo cả về số lượng và chất lượng
Ngoài những yếu tố về mặt pháp luật, còn phải có cả những đảm bảo về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội cho việc thực thi tố tụng tranh tụng Văn hoá đề cao ý thức cá nhân, ý thức về sự bình đẳng giữa nhà nước và công dân, ý thức chấp nhận mâu thuân giữa các thành viên trong xã hội, ý thức chủ động sử dụng toà án, cách nhìn nhận của người dân về pháp luật, và toà án có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo hiệu quả trong thực hiện tố tụng tranh tụng
Trang 27Chương 2
NỘI DUNG QUYỀN CÔNG TỐ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG 2.1 Sự hình thành việc tổ chức và thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự tranh tụng
Trang 28Loại hình quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng là sản phẩm của các nước tư bản Các nhà nước tiền tư bản chưa có loại hình công tố theo kiểu tranh tụng
Theo cách tiếp cận của PGS.TS Phạm Hồng Hải, cách thức tổ chức
quyền lực của nhà nước bao giờ cũng ảnh hưởng tới cách thức tổ chức tố tụng hình sự bao gồm tổ chức các cơ quan tiến hành tố tụng, thủ tục và nội dung của các hoạt động và hành vi tố tụng, thủ tục và nội dung của các hoạt động
và hành vi tố tụng mà cách thức tổ chức tố tụng hình sự thực chất là kiểu tố tụng hình sự[13, tr.28]
Trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ, với chính thể quân chủ tuyệt đối, quyền lực nhà nước tập trung trong tay nhà vua Cách thức tổ chức và hoạt động tố tụng hình sự vào thời kỳ này chủ yếu bảo vệ lợi ích của giới cầm quyền Trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ, tố tụng hình sự chỉ xuất hiện khi
có người nào đó tố cáo các tội phạm với nhà nước Lời khai, lời tố cáo là căn
cứ làm xuất hiện quá trình vụ án hình sự Người La Mã có câu: không có người tố cáo thì không có quan toà Thủ tục tố tụng hình sự ở đây được giải quyết theo thủ tục do giới cầm quyền đặt ra và không được quy chuẩn thành văn Đây có thể coi là loại hình tố tụng hình sự tố cáo mà đặc trưng của nó là nghĩa vụ chứng minh tội phạm thuộc về người tố cáo và người bị tố cáo Nhà nước chỉ chủ động, tích cực trong các vụ án xâm phạm đến lơi ích của nhà nước
Trong chế độ phong kiến, thủ tục tố tụng hình sự có một số thay đổi
Tố tụng hình sự tố cáo dần dần được thay thế bằng tố tụng hình sự xét hỏi mặc dù lời tố cáo vẫn được coi là một trong những chứng cứ quan trọng nhất Trong loại hình tố tụng này, quan toà giữ vai trò trọng tâm của tố tụng hình sự
vì đó là người làm tất cả các nhiệm vụ điều tra, buộc tội, xét xử, và thi hành
án Những người buộc tội và những người tham gia tố tụng khác hoàn toàn
Trang 29thụ động và chỉ được trả lời những câu hỏi do quan tòa đặt ta PGS TS Phạm Hồng Hải đánh giá rằng so với tố tụng hình sự tố cáo thì tố tụng hình sự xét hỏi có phần tiến bộ hơn nhưng bản chất nó vẫn là phi dân chủ.[13, tr.28]
Qua đó có thể nhận thấy rằng tố tụng tranh tụng không xuất hiện trong các nhà nước tiền tư bản Việc tố cáo trong các xã hội tiền tư bản được khởi xuất từ phía người dân Nhà nước cũng đứng ra đảm nhận việc buộc tội trong các nhà nước phong kiến Nhưng đặc trưng của quyền công tố ở các nhà nước tiền tư bản là không có sự tách biệt giữa quyền công tố với các hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án, thậm chí cả với hoạt động hành chính Một quan chức của chính quyền có thể đảm nhận tất cả các hoạt động này Công tố chưa được thực thi bởi một tổ chức độc lập của chính quyền Chính vì chưa
có những sự tách biệt công tố với các hoạt động tố tụng khác, mặc dù các nhà nước phong kiến ít nhiều đã có sự tranh tụng giữa người buộc tội và người gỡ tội (trạng sư và quan toà ) nhưng loại hình tố tụng tranh tụng chưa xuất hiện
Loại hình tổ chức và thực hành quyền công tố theo tố tụng tranh tụng ra đời trong các nền dân chủ tư sản Tuy nhiên không phải tất cả các nhà nước tư sản đều chấp nhận loại hình này Do những yếu tố đặc thù của truyền thống luật án lệ ở Anh và Mỹ, nơi đây là quê hương hình thành loại hình tổ chức và thực hành quyền công tố theo kiểu tố tụng hình sự tranh tụng Ngày nay, nói đến tố tụng hình sự tranh tụng thì hệ thống tố tụng hình sự của Anh, và Mỹ có thể được xem là điển hình Anh, Mỹ có thể coi là những quê hương của tố tụng hình sự tranh tụng
Hệ thống tố tụng hình sự tranh tụng chính thức được thành lập ở Anh khoảng 15 năm nay Truớc năm 1984, cảnh sát đảm nhiệm việc truy tố tội phạm Tuy nhiên, cảnh sát không trực tiếp truy tố mà để bắt đầu hoạt động tố
Trang 30tụng đối với nghi can, cảnh sát phải thuê luật sư tư vấn và luật sư bào chữa- những người sẽ đại diện cho cảnh tại phiên toà Lực lượng cảnh sát cũng có các luật sư riêng của họ để giải quyết các vụ án đặc biệt nghiêm trọng Các luật sư này chỉ là những người làm thuê cho cảnh sát cho nên họ không có quyền quyết định về tình tiết và mức độ truy tố Trong trường hợp luật sư của cảnh sát có nhiều việc bận rộn thì cảnh sát phải thuê luật sư ngoài
Văn phòng giám đốc công tố được thành lập ở Anh vào năm 1979 Mặc
dù vậy, Văn phòng này vẫn phát triển rất chậm cho đến giữa những năm
1980 Trước năm 1985, vai trò của Văn phòng này chỉ giới hạn trong những
vụ án đặc biệt nghiêm trọng và phức tạp Tuy nhiên, sau khi Luật truy tố tội phạm được ban hành năm 1995, vai trò của Văn phòng này đã dần dần được thay đổi, để thực hiện nhiệm vụ mới thì cơ cấu hạn chế của Văn phòng này rất khó đảm nhiệm Chính vì vậy, Luật truy tố tội phạm đã thành lập lực lượng công tố Hoàng gia Chánh công tố Hoàng gia chịu trách nhiệm về các hoạt động trong lực lượng của mình Chi nhánh của lực lượng công tố Hoàng gia tại mỗi khu vực được quyền truy tố trước một nhóm các toà vi cảnh (tuy nhiên không được truy tố trước toà án Hoàng gia) Mỗi chi nhánh do các công
tố viên đảm trách đều để giám sát công việc của các công tố viên Hoàng gia
và các nhân viên khác trong chi nhánh Mặc dù lực lượng công tố Hoàng gia được thành lập, quyết định khởi tố vụ án vẫn thuộc về cảnh sát Thực tế cho thấy, các quyết định khởi tố do cảnh sát đề xuất và chức năng có tính nguyên tắc của lực lượng công tố Hoàng gia là kiểm tra lại các vụ án đã được cảnh sát chuyển tới để truy tố Nghĩa là, sau khi cảnh sát kết thúc điều tra, lực lượng công tố Hoàng gia mới tham gia vào vụ án Lực lượng công tố Hoàng gia không có quyền được thông tin về vụ án và không được sử dụng bất kỳ công
cụ nào của mình một khi cảnh sát chưa kết thúc điều tra Như vậy việc thành lập ra lực lượng công tố Hoàng gia là nhằm để cho nhân viên của tổ chức này
Trang 31xử lý phần lớn công việc truy tố ra toà vi cảnh Tuy nhiên do khối lượng công việc lớn và biên chế của lực lượng này còn hạn chế nên phấn lớn các vụ án vẫn do các luật sư tư vấn và luật sư bào chữa xứ lý [24, tr146] Có một sự khác biệt so với thời kỳ chưa có lực lượng công tố Hoàng gia là thay vì trước đây các luật sư này do cảnh sát thuê thì bây giờ do lực lượng công tố Hoàng gia thuê
Khi một người bị cảnh sát khởi tố, hồ sơ vụ án sẽ được chuyển tới chi nhánh địa phương của lực lượng công tố Hoàng gia Tại đây các bằng chứng
sẽ được kiểm tra lại Các luật sư của lực lượng công tố Hoàng gia sẽ xác định xem những chứng cứ như vậy đã đúng và đủ chưa và có thể quyết định đình chỉ vụ án nếu thấy việc truy tố không được bảo đảm, trong trường hợp cần truy tố về tội khác nữa, các luật sư có thể bổ sung hồ sơ khi đưa bị cáo ra toà Việc cho phép các luật sư của lực lượng công tố Hoàng gia có quyền đình chỉ
vụ án là điểm mới lớn nhất so với thời kỳ trước năm 1985 Khi cảnh sát có toàn quyền khởi tố và truy tố, các luật sư được thuê thực chất chỉ làm theo ý muốn của cảnh sát Ngày nay, tuy không có quyền khởi tố, lực lượng công tố Hoàng gia vẫn có quyền xác định có tiếp tục truy tố hay không và nếu tiếp tục thì truy tố về tội gì ?
Trong quá trình xét xử, công tố viên Hoàng gia không có quyền đề nghị mức án mà chỉ trình bầy toàn bộ các nội dung, tình tiết trước toà của vụ án, còn quyết định tội danh và mức án đối với bị cáo do Hội đồng xét xử quyết định Trong những trường hợp nhất định, công tố viên Hoàng gia có quyền kháng nghị bản án, quyết định của toà án Tuy nhiên, họ ít khi thực hiện quyền này Số liệu thống kê hàng năm cho thấy cơ quan công tố Hoàng gia mỗi năm truy tố khoảng 1,4 triệu vụ án trong toàn quốc nhưng chỉ kháng nghị khoảng 80 vụ [24, tr.147]
Trang 32Khác với Anh, hệ thống cơ quan công tố của Mỹ được hình thành và phát triển sớm hơn rất nhiều Không giống các đồng nghiệp của mình ở Anh, công tố viện của Mỹ có quyền quyết định tương đối lớn trong tất cả các giai đoạn tố tụng
Trước những năm 50 của thế kỷ XIX, tư tố đóng vai trò quan trọng hơn công tố trong hệ thống tư pháp hình sự của Mỹ Trong thời gian này, nếu người bị hại muốn khiếu kiện người khác thì phải chịu trách nhiệm tự khởi kiện đối với người đó Người bị hại thông báo với thẩm phán toà án về sự buộc tội Sau đó người bị hại sẽ phải tham gia phiên toà xét xử, bảo đảm sự tham gia của người làm chứng và thuê luật sư theo đuổi vụ kiện nếu họ không muốn tự mình làm việc này, tức là mỗi người phải tự theo đuổi vụ kiện Trong thời gian này, Uỷ viên hội đồng thành phố và thẩm phán toà án là những người có vai trò quan trọng trong tố tụng hình sự
Vào những năm 1880 khi mà chưa có lực lượng cảnh sát có tổ chức quy mô được thành lập nên việc thực thi pháp luật thời kỳ này trước hết là nhiệm vụ của các thành viên trong cộng đồng Phương thức mà công dân thời
kỳ này thường sử dụng để khởi tố một vụ án hình sự là khởi kiện tại Văn phòng của Uỷ viên Hội đồng thành phố gần nhất Tất cả các vụ kiện hình sự đều được bắt đầu theo cách này Tuy Uỷ viên Hội đồng thành phố không phải
là người ra quyết định cuối cùng trong vụ kiện, nhưng Văn phòng của Uỷ viên Hội đồng thành phố là nơi quyết định vụ án sẽ được xử lý đến đâu Khi Uỷ viên Hội đồng thành phố chấp nhận một vụ án, vụ án sẽ được chuyển đến đại bồi thẩm đoàn để phán xét Như vậy, vai trò của công tố viên trong thời kỳ này là rất nhỏ Hầu hết các vụ án hình sự được xét sử ở cấp công dân- Uỷ viên Hội đồng thành phố Mặc dù Uỷ viên Hội đồng thành phố là công chức, nhưng họ cũng phần nào lệ thuộc vào các công dân vì một phần thu nhập của
họ là lệ phí thu được trong việc khởi kiện Vì có vai trò tư pháp nên các Uỷ
Trang 33viên Hội đồng thành phố không thể tự mình khởi kiện vụ án hình sự Cho nên các công dân không khởi kiện thì Uỷ viên Hội đồng thành phố cũng không thể khởi tố vụ án thay cho công dân
Tuy nhiên, không phải là thời kỳ đó không tồn tại công tố viên Trước năm 1850, chức danh chính thức của những người này là “phó tổng trưởng lý.” Họ có nhiệm vụ khởi tố những vụ án nghiêm trọng hay những “ sai lầm lớn.” Tuy nhiên, do hầu hết các vụ án chỉ là những vụ hình sự nhỏ nên hoàn toàn do Uỷ viên Hội đồng thành phố giải quyết, rất ít khi công tố viên được huy động Như vậy, những vụ án mà Uỷ viên Hội đồng thành phố quyết định không cần chuyển tới đại bồi thẩm đoàn thì công tố viên hoàn toàn không có vai trò gì Trong những vụ án còn lại, chức năng của công tố viên gần giống như vai trò của thư ký toà án, nghĩa là bố trí lịch xét xử là trình bầy vụ án trước đại và tiểu bồi thẩm đoàn Công tố viên làm nhiệm vụ công tố trong rất nhiều nhưng không phải tất cả các vụ án hình sự nghiêm trọng.Trong hầu hết các vụ án, công tố viên có thể bị thay thế bởi các luật sư Nghĩa là công tố viện chỉ có vai trò rất hạn chế trong việc quyết định vụ án sẽ được xử lý như thế nào
Vai trò hạn chế của công tố viên thời kỳ đó là do vai trò của công dân được nhấn mạnh Trong thời kỳ này, tại bất kỳ thời điểm nào các bên cũng có thể kết thúc tố tụng chỉ bằng cách hoà giải vụ án của họ và không tiếp tục hiện diện trước toà
Sau đó, các công tố viên và công dân bắt đầu đổi vai trò cho nhau Vào năm 1950, hoạt động của cảnh sát được tăng cường để giải quyết các vấn đề công cộng đang ngày càng gia tăng trong thời kỳ này và đến năm 1954, các lực lượng cảnh sát đã được hợp nhất Cũng trong năm 1954, chức danh luật sư truy tố đã chính thức được chuyển thành công tố viên quận và các văn phòng
Trang 34văn bản truy tố và thực hiện quyền công tố tại phiên toà hình sự với tư cách là đại diện cuả Nhà nước Quyền quyết định của công tố viên quận được tăng cường thêm trong vòng 25 năm ( mặc dù tư tố đã bộc lộ một số bất cập như
sự thoả thuận riêng giữa Uỷ viên Hội đồng thành phố và các bên, và việc tư tố không chịu ra trước đại hay tiểu bồi thẩm đoàn về nội dung quá sơ sài của vụ
án ) Đến năm 1974 đại diện của nhà nước ( cảnh sát và công tố viên ) trở thành những người có vai trò quan trọng trong những vụ án hình sự Cảnh sát
và công tố viên không còn là nhân viên của toà án Họ trở thành cơ quan thi hành pháp luật độc lập với nhiệm vụ đưa một số vụ án ra trước toà và giải quyết những vụ án còn lại bằng những cách khác Tỉ lệ các vụ án hình sự nghiêm trọng được đưa ra toà xét xử tăng lên, tỉ lệ buộc tội cũng tăng lên khi
tỉ lệ những vụ bị bác bỏ giảm đáng kể Việc chuyển từ hệ thống tư pháp hình
sự đưa việc công dân khởi tố sang Nhà nước khởi tố đã làm cho văn phòng công tố có địa vị như ngày nay
Điều đáng lưu ý là tư tố đã không hoàn toàn bị bác bỏ ở Mỹ Tại một số toà án, người bị hại vẫn có thể thực hiện tư tố nhưng phải chịu mọi phí tổn
Tư tố viên phải hoạt động dưới sự giám sát của Văn phòng công tố địa phương, nhưng họ tạo cơ hội cho người bị hại trong những vụ án mà công tố
ít quan tâm ( ví dụ tội phạm hình sự nhỏ) Tuy vẫn có sự tồn tại của tư tố trong một số bang như vậy, công tố đã hoàn toàn có vai trò quan trọng đặc biệt trong hệ thống tư pháp hình sự của Mỹ
Hiện nay hệ thống cơ quan công tố của Mỹ có hệ thống cơ quan công
tố liên bang và hệ thống cơ quan công tố tiểu bang Ngoài hai hệ thống này, trong quân đội của Mỹ cũng như trong một số khu vực đặc biệt (dành riêng cho thổ dân) có những cơ quan công tố riêng
Quyền công tố ở Mỹ được thưc thi dưới sự chỉ đạo của quyền hành pháp Đứng đầu Viện công tố liên bang là Tổng công cố Tổng công tố liên
Trang 35bang do Tổng thống bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của Tổng thống Việc bổ nhiệm Tổng công tố cũng như việc bổ nhiệm các quan chức khác của ngành hành pháp, phải được sự phê chuẩn của Thượng nghị viện Tổng công tố liên bang đồng thời là Bộ trưởng Bộ tư pháp Cho nên Tổng công tố có quyền lãnh đạo
Bộ tư pháp và cả hệ thống toà án liên bang, trừ Toà án tối cao liên bang Với
tư cách là người đứng đầu Bộ tư pháp, Tổng công tố liên bang có quyền giám sát Toà án liên bang Trong cơ cấu của Bộ tư pháp có bộ phận điều tra liên bang Thông qua việc lãnh đạo hoạt động của Bộ phận này, Tổng công tố liên bang có toàn quyền điều tra và khởi tố vụ án hình sự Tổng công tố liên bang
có quyền chấm dứt hoạt động điều tra ở bất cứ gian đoạn nào
Dưới Viện công tố liên bang là các viện công tố khu vực của liên bang Tương ứng với mỗi khu vực hành chính có văn phòng công tố khu vực do trưởng công tố khu vực đứng đầu Trưởng công tố khu vực liên bang cũng do Tổng thống bổ nhiệm theo nhiệm kỳ của tổng thống Chức năng, nhiệm vụ của tổng công tố liên bang và tổ chức hệ thống cơ quan công tố Mỹ được quy định tại các chương XXXI và XXXII Bộ luật số 28 của Mỹ Ở mỗi viện công
tố đều có các bộ phận chuyên giải quyết các loại án khác nhau ( như án ma túy, án bạo lực, án kinh tế )
Công tố Viên của các Viện công tố khu vực liên bang thụ lý các vụ án thuộc khu vực mình và các vụ án phúc thẩm Ngoài lĩnh vực hình sự, công tố viên còn tham gia vào một số ít vụ án dân sự ( chủ yếu là các vụ kiện liên quan đến công quỹ của nhà nước.) Công tố viên của Liên bang hoạt động chuyên nghiệp Tiêu chuẩn để trở thành công tố viên là phải tốt nghiệp đại học luật, sau đó phải làm việc ở Văn phòng công tố và được tiếp tục đào tạo
để trở thành công tố viên
Đối với hệ thống cơ quan công tố của bang, ở mỗi bang của Mỹ đều có
Trang 36quan công tố từng bang do Hiến pháp và luật của bang đó quy định Đứng đầu
hệ thống cơ quan công tố của bang là Tổng công tố bang Tuỳ theo quy định của từng bang mà Tổng công tố của bang có thể được bổ nhiệm hoặc do dân bầu Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Tổng công tố bang do Thống đốc bang quy định Dưới viện công tố bang là Văn phòng công tố của các hạt do trưởng công tố hạt đứng đầu Ngoài ra, ở các thành phố lớn của bang thành lập các văn phòng công tố thành phố do trưởng công tố thành phố đứng đầu Điều đáng lưu ý là trong khi các công tố viên của liên bang đều hoạt động chuyên trách và thuộc biên chế chính thức thì công tố viên ở một số khu vực của bang (những nơi có số lượng dân cư ít) hoạt động bán chuyên trách và không thuộc biên chế chính thức Họ đồng thời có thể là công tố viên trong vụ án này và là luật sư trong vụ án khác
Trong hoạt động tố tụng hình sư, công tố viên của Mỹ có vị trí và vai trò rất quan trọng trọng việc bảo đảm chân lý, bảo vệ cộng đồng và bảo đảm công bằng trong giải quyết vụ án Công tố viên phải chịu trách nhiệm về toàn
bộ quá trình điều tra (bằng cách tự mình điều tra hoặc chỉ đạo hoạt động điều tra của cảnh sát) và quyết định việc truy tố hoặc không truy tố nghi phạm ra trước toà Theo quy định của pháp luật Mỹ thì công tố viên hoàn toàn có quyền lựa chọn việc khởi tố hoặc không khởi tố bất kỳ vụ án nào, điều mà các đồng nghiệp của họ ở những nước theo loại hình tố tụng thẩm vấn không có được [24, tr147]
Có thể nhận thấy rằng công tố viên ở Mỹ có vị trí quan trọng trong tụng hình sự và có quyền lực rất lớn Thống đốc James R Thomson bang Illinois,
nguyên là công tố viên, đã từng cho rằng: „‟Bản đảm nhận quyền lực của
công tố viên ; đấy có lẽ là một trong những quyền lực được kiềm chế và không thể kiềm chế được nhất của một quan chức Mỹ Tôi nhận ra rằng, trong sự nghiệp của mình tôi đã có quyền lực để tác động đến cuộc sống của
Trang 37con người mà không bị hạn chế hơn bao giờ hết,cho dù là so với khi làm một thống đốc hay một tổng thống” [ 19, tr.193.]
2.2 Nội dung cơ bản của việc thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng
Như đã trình bầy, Anh và Mỹ là quê hương của tố tụng hình sự tranh tụng Quyền công tố ở Anh, Mỹ cũng là đặc trưng của quyền công tố theo kiểu tố tụng hình sự tranh tụng Chính vì vậy, do phạm vi có hạn của luận văn, chúng tôi xin chỉ tập trung trình bầy về quyền công tố trong tố tụnh hình
sự tranh tụng ở Anh và Mỹ
Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng của Anh
Cảnh sát có nhiệm vụ chính trong hoạt động điều tra nhưng do kết quả hoạt động tố tụng phụ thuộc vào giá trị của chứng cứ có được chấp nhận tại toà hay không nên mọi hoạt động của cảnh sát phụ thuộc và gắn bó chặt chẽ với cơ quan công tố- cơ quan đảm nhận việc buộc tội trước toà Cảnh sát phải thực hiện theo yêu cầu của công tố viên về yêu cầu điều tra nhưng họ toàn quyền quyết định việc điều tra như thế nào Quyền công tố thuộc viện công tố nhưng khi truy tố và bảo vệ quan điểm trước toà, quyền đó có thể được cơ quan công tố uỷ nhiệm cho một luật sư thực hiện
Tuy có sự khác nhau về nhiệm vụ do tính chuyên môn hoá của các hoạt động tố tụng, có một sự khác nhau cơ bản giữa cảnh sát và Viện công tố là: Viện công tố là cơ quan duy nhất có thẩm quyền không truy tố một tội phạm
Do yếu tố lịch sử ở nước Anh, Hoàng gia Anh có quyền truy tố và có quyền không truy tố Ngày nay, lý luận đó được mở rộng thêm và trở thành tiêu chí
để thực hiện quyền công tố Viện công tố được truy tố một tội phạm với hai điều kiện: yêu cầu về chứng cứ và dựa trên lợi ích hay đòi hỏi của công chúng Yêu cầu về chứng cứ đòi hỏi phải truy tố một tội phạm Yêu cầu này
Trang 38xem xét lợi ích của công chúng Chỉ duy nhất cơ quan công tố có quyền xem xét và thực hiện Toà án không có thẩm quyền này khi vụ án đã được truy tố
ra toà để xét xử Trước khi xét xử, thủ tục tố tụng mang tính hành chính tư pháp cho phép toà án có thể đưa ra ý kiến về việc truy tố của Viện công tố, nhưng chỉ mang tính chất khuyến nghị khi xét thấy yếu tố chứng cứ chưa đủ
để đưa ra xét xử Còn nếu cơ quan công tố vẫn tiếp tục truy tố, toà án phải đưa vụ án ra xét xử
Bắt đầu phiên toà, thẩn phán chủ tọa hoặc một trợ lý thẩm phán sẽ đọc quyết định truy tố của Viện công tố truy tố bị cáo ra Toà Quyết định truy tố thường được gửi tới toà án trước đó để Toà án làm các thủ tục chuẩn bị xét xử như triệu tập và chọn bồi thẩm đoàn, triệu tập nhân chứng Nội dung của quyết định truy tố thường rất ngắn gọn, chỉ nêu bị cáo bị Viện công tố truy tố
ra toà về tội danh nào, còn nội dung cụ thể của việc buộc tội như thế nào thì đại diện của Viện công tố sẽ phải trình bầy sau đó Sau khi đọc quyết định truy tố, thẩm phán sẽ hỏi bị cáo có nhận tội không và nếu bị cáo tiếp tục không nhận tội, phiên toà sẽ bắt đầu
Giai đoạn đầu tiên là Viện công tố trình bầy việc buộc tội Giai đoạn này được bắt đầu bằng việc đại diện Viện công tố đưa ra từng vụ việc theo yếu tố cấu thành tội phạm Vì bồi thẩm đoàn là những người chưa biết gì về
vụ án, tất cả mọi biên bản, lời khai của nhân chứng, nạn nhân, của bị cáo hay tất cả các vật chứng đều được Viện công tố đưa ra, đọc công khai tại Toà để giúp bồi thẩm đoàn hình dung được việc gì đã xẩy ra trong thực tế, tức xác định sự thực khách quan của vụ việc Viện công tố có thể đề nghị áp dụng một tội nhất định, tuy nhiên thẩm phán có thể gợi ý cho bồi thẩm đoàn với hành vi đó có thể áp dụng những tội nào và thông thường bồi thẩm đoàn sẽ đề nghị thẩm phán giải thích một tội hình sự nào đó cần phải có những yếu tố cấu thành như thế nào để họ áp dụng vào hành vi phạm tội thực tế đã xẩy ra
Trang 39Từng nhân chứng của Viện công tố sẽ được chính Viện công tố hỏi để
kể lại việc gì đã xẩy ra hay họ đã biết gì về vụ án Các vật chứng sẽ phải được trình ra và đối với các vật chứng là tài liệu sẽ được đọc lên và đưa tới tận tay của bồi thẩm đoàn để xem lại nếu có yêu cầu
Sau đó, bắt đầu thủ tục đối chất bằng việc luật sư hay chính bị cáo sẽ hỏi về từng điểm, về từng vật chứng Nhân chứng hay người bị hại sẽ bị đối chất về tất cả những gì liên quan mà họ đã trình bầy hay bị đối chất về những
gì đáng tin cậy những gì họ đã trình bầy chẳng hạn, luật sư có thể nói rằng nhân chứng của Viện công tố không đáng tin cậy vì trước đây đã bị kết án về tội nói dối trước Toà hoặc nhân chứng mắt kém không thể nhìn rõ những gì
đã xảy ra trong khoảng cách nhất định
Sau khi kết thúc đối chất của bên gỡ tội, bên buộc tội (Viện công tố) sẽ tóm tắt lại những gì đã xảy ra, đưa ra những nhận định mới nếu có, và thậm chí có thể đề nghị bồi thẩm đoàn không nên nghe nhân chứng của họ nữa Sau
đó, bên bào chữa sẽ đưa ra ý kiến về sự buộc tội của Viện công tố Họ có thể nói rằng việc buộc tội là không có căn cứ và đề nghị Toà không nên tiếp tục xét xử Nếu thẩm phán chủ toạ đồng ý với luật sư, thẩm phán sẽ gặp riêng với đại diện Viện công tố để khuyến nghị Viện công tố rút truy tố Nếu Viện công
tố rút truy tố, việc xét xử coi như chấm dứt nhưng sau này Viện công tố vẫn
có thẩm quyền truy tố tiếp Nếu bên bị buộc tội không có đề nghị đó hay Viện công tố vẫn đề nghị xét xử, việc xét xử sẽ tiếp tục và bắt đầu giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn tiếp theo là một giai đoạn không bắt buộc tuỳ theo từng yêu cầu của bên bị buộc tội và thông thường trong vụ án không có luật sư thì không có giai đoạn này Mọi thục thủ ở giai đoạn này diễn biến giống giai đoạn trước nhưng đổi lại vị trí của các bên : bên bào chữa sẽ trình bầy trước
Trang 40quyền hạn của hai bên buộc tội và gỡ tội : trước khi xét xử Viện công tố phải cung cấp toàn bộ hồ sơ, chứng cứ, danh sách nhân chứng (tuy rằng bên buộc tội vẫn có quyền không tiết lộ những nhân chứng quan trọng nhưng ít nhất phải cung cấp những chứng cứ đủ để kết tội) cho bên gỡ tội, nhưng bên bị buộc tội chỉ phải cung cấp, thông báo cho bên buộc tội chứng cứ về tình tiết ngoại phạm (nếu có) và thẩm phán sẽ cảnh báo trước cho bị cáo và luật sư của
họ về điều đó
Khi giai đoạn trên kết thức, tiếp đến là giai đoạn cả hai bên đều trình bầy quan điểm của họ về vụ án qua quá trình xét xử và thẩm phán xẽ tóm tắt lại toàn bộ vụ án, lưu ý bồi thẩm đoàn về chứng cứ và những luận điểm của hai bên Đây là thủ tục rất quan trọng vì có tác động rất lớn tới quyết định của bồi thẩm đoàn và thông thường cả hai bên đều dựa vào những hướng dẫn của thẩm phán đối với bồi thẩm đoàn làm căn cứ kháng cáo, kháng nghị về sau Sau đó bị cáo nói lời sau cùng và bồi thẩm đoàn sẽ lui vào họp riêng để quyết định bị cáo có tội hay vô tội
Qua phiên toà tranh tụng, nếu toà án và bồi thẩm đoàn thấy việc truy tố của viện công tố không đủ chứng cứ buộc tội thì sẽ đưa ra lời khuyên đối với Viện công tố là nên rút lại việc truy tố Nếu viện công tố không chấp nhận lời khuyên đó mà vẫn kết luận về hành vi phạm tội của bị can mà dẫn đến bồi thẩm đoàn bỏ phiếu quyết định bị can không phạm tội thì vụ án được chấm dứt tại đây và viện công tố không được truy tố lại đối với hành vi đó của bị can và cũng không có quyền kháng nghị đối với quyết định đó của bồi thẩm đoàn
Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng của Mỹ
Thông thường các vụ án liên quan đến tội phạm nghiêm trọng do Công
tố viên trình bầy với thẩm phán, còn thẩm phán có quyền quyết định liệu có
đủ chứng cứ để tiến hành xét xử vụ án hay không Tuy nhiên, trong gần một