1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam

113 933 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó cũng chính là mong muốn, hành động của chúng tôi - Những nhà nghiên cứu luật học đang nghiên cứu luận văn thạc sỹ về đề tài: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HỒ NGỌC HẢI

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

CÓ ĐỐI TƯỢNG LÀ TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU,

SỬ DỤNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung

tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

CHươNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI LẠM

DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CỂ ĐĂNG KÍ QUYỀN SỞ HỮU

8

1.1 Các vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản có đăng ký quyền sở hữu trong luật hình sự Việt Nam

8

1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình

sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản

8

1.1.2 Khái niệm đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản

17

1.1.3 Khái niệm và những đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

20

1.2 Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới

về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kinh

nghiệm rút ra đối với pháp luật hình sự Việt Nam

33

Trang 3

1.2.4 Bộ luật hình sự Thụy Điển 38

1.2.5 Kinh nghiệm rút ra qua việc nghiên cứu pháp luật các nước

trên thế giới

39

Chương 2: TÌNH HÌNH TỘI PHẠM VÀ THỰC TIỄN

XÉT XỬ TỘI PHẠM LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

41

2.1 Tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

trong luật hình sự Việt Nam

41

2.2 Thực tiễn xét xử tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản

45

2.2.1 Các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản điển hình 46

2.2.2 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu với

giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm khác trong luật hình sự Việt Nam

60

2.2.3 Vấn đề "hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế" có liên

quan đến tài sản có đăng ký quyền sở hữu hiện nay ở nước

ta

71

2.2.4 Những nhận xét, đánh giá và các nguyên nhân cơ bản 77

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2009) VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN CÓ ĐĂNG KÝ QUYỀN SỞ HỮU

80

Trang 4

3.1 Hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

80

3.1.1 Những cơ sở khoa học - thực tiễn của việc hoàn thiện 80

3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ

sung năm 2009) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản có đăng ký quyền sở hữu

88

3.2.1 Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân 88

3.2.2 Nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ chấp

hành viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân

90

3.2.3 Tăng cường phát triển đội ngũ Luật sư, trợ giúp pháp lý 90

3.2.4 Tăng cường phòng, chống "hình sự hoá" các quan hệ dân

sự, kinh tế có liên quan đến tài sản có đăng ký quyền sở

Trang 5

2.2 Động thái số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 (lấy số vụ án

2.5 Số bị cáo bị chuyển hồ sơ vụ án, đình chỉ, trả hồ sơ lại

Viện kiểm sát, không có tội

60

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật là một hiện tượng xã hội khách quan không thể thiếu trong bất kỳ một thể chế chính trị nào Pháp luật có vai trò quan trọng trong đời sống

xã hội và đời sống chính trị của một quốc gia; cũng chính vì vậy mà pháp luật

vô cùng phức tạp và có nhiều quan niệm, nhận thức khác nhau về pháp luật Tuy vậy, có một điều có thể khẳng định rằng: Pháp luật luôn luôn có sau các quan hệ xã hội và không thể điều chỉnh hết được tất cả các quan hệ xã hội

Điều đó dẫn đến: "Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy cũng không thể phản ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống" [48]

Đây là một sự thật khách quan mà bất kỳ một thể chế chính trị, một quốc gia nào hoặc một nhà lập pháp xuất sắc nào đều phải thừa nhận Quan hệ

xã hội thì rất nhiều, được thể hiện ở muôn hình vạn trạng và luôn luôn nảy sinh quan hệ xã hội mới Vì vậy, pháp luật không bao giờ có thể hoàn mỹ khi

xã hội còn luôn vận động Do đó, nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, nhà làm luật, người dân, mọi thành phần trong xã hội là làm thế nào để pháp luật có thể phù hợp với xã hội, bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho nhân dân

Cũng chính vì thế mà không ngừng hoàn thiện pháp luật là mục tiêu, định hướng chiến lược của mỗi quốc gia, thể chế chính trị Các cơ quan lập pháp, người dân, cả xã hội đang từng ngày, từng giờ cố gắng "phản ánh" các quan hệ xã hội vào pháp luật bằng các quy định Những nhà nghiên cứu cũng đang miệt mài tìm hiểu, phân tích đánh giá, so sánh pháp luật để có thể góp những ý kiến "phản ánh" đến các quan hệ pháp luật để pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn Đó cũng chính là mong muốn, hành động của chúng tôi - Những nhà nghiên cứu luật học đang nghiên cứu luận văn thạc sỹ về đề tài:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng

ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam

Trang 7

Nghiên cứu pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu trong 10 năm (2000 - 2010) cho thấy: Tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu ngày càng gia tăng về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Đây là loại tội phạm mà người phạm tội có thể gây ra thiệt hại cho rất nhiều người, có những vụ mà chỉ có một bị cáo nhưng có đến gần 30 người bị hại, chưa kể những người liên quan khác Đối với tội phạm này, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị lớn và là những tài sản quan trọng của gia đình người bị hại, vì thế khi tài sản có đăng

ký quyền sở hữu bị chiếm đoạt/không thể trả lại được thì làm cho người bị hại

và gia đình họ không có đủ điều kiện sinh sống, bị kiệt quệ, nợ nần chồng chất Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của chính người bị hại

và cộng đồng, xã hội

Đây cũng là loại tội phạm có nhiều dấu hiệu có liên quan/ bị trùng với các dấu hiệu trong pháp luật dân sự; vì vậy mà tình hình "hình sự hóa" các quan hệ dân sự, kinh tế trong loại tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu là khá nhiều Có tình trạng như vậy là do các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo vệ quyền sở hữu tài sản có đăng ký quyền sở hữu chưa được rõ ràng, cụ thể và các cơ quan nhà nước chưa có sự hướng dẫn hợp lý đối với những tình tiết còn gây nhầm lẫn, chưa hiểu rõ Về mặt kỹ thuật lập pháp như vậy là chưa đáp ứng đủ yêu cầu của một quy phạm pháp luật là không gây nhầm lẫn, có tính thống nhất theo ngành luật và được

áp dụng chung cho tất cả chủ thể tham gia quan hệ pháp luật, không để tình trạng mỗi địa phương áp dụng một kiểu, mỗi đối tượng có cách áp dụng khác nhau Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu sâu và làm rõ vấn đề lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu để góp phần xác định những thiếu sót trong kỹ thuật lập pháp và đưa ra giải pháp bổ sung, hoàn thiện quy phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Trang 8

Mặt khác, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; Việt Nam là nước có nhiều quốc gia quan tâm, đầu tư vì thế cũng có nhiều biến động về đời sống kinh tế - xã hội trên thế giới ảnh hưởng trực tiếp/làm biến đổi đời sống kinh tế - xã hội trong nước Các quan hệ hợp đồng dân sự cũng vì thế mà có sự biến động, hợp đồng dân sự trong đời sống ngày càng nhiều, do thiếu hiểu biết của một bên chủ thể mà dẫn đến bị một bên khác lợi dụng để dẫn đến thiệt hại về tài sản Những quan hệ hợp đồng đó là những quan hệ kinh tế mới mà chưa có giải pháp pháp lý phù hợp, chưa có cơ quan nhà nước giải quyết tốt bằng một cơ chế pháp lý hoàn thiện Điều này là nguyên nhân làm cho người dân, cơ quan áp dụng pháp luật thường "gò ép" các dấu hiệu của quan hệ pháp luật dân sự sang các dấu hiệu của quan hệ pháp luật hình sự để giải quyết Đó là nguyên nhân dẫn đến việc hình sự hóa ngày càng gia tăng

Với nội dung nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi đã nhận thấy tình trạng "không rõ ràng" trong việc xác định các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu và nêu ra một số vấn đề cần phải sửa đổi cho phù hợp với quan hệ xã hội hiện nay trong việc giao kết hợp đồng Với mong muốn luận văn này có thể gợi ý, đóng góp và giải quyết phần nào những tồn tại, hạn chế trong việc áp dụng

pháp luật trong thực tiễn; Chúng tôi nghiên cứu đề tài: Tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu,

sử dụng theo luật hình sự Việt Nam để góp phần nâng cao hiệu quả công tác

phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay

Trang 9

tội xâm phạm sở hữu và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm (khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm) và hình phạt trên ba bình diện khoa học:

bình luận: 1) TS Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập thể

tác giả do GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003;

2) ThS Nguyễn Sỹ Đại, Chương XIV - Các tội xâm phạm sở hữu, Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm), Tập thể tác giả, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Phần các tội phạm, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002; 4) Chuyên đề phòng ngừa, phát hiện đấu tranh chống các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1999; 5) Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: Bộ luật hình

sự Việt Nam năm 1999, do Bộ môn Tư pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc

gia Hà Nội, 2000

sự Việt Nam trước đây và hiện nay chưa có khóa luận, luận văn hay luận án tiến sĩ luật học nào đề cập đến tội phạm này

Như vậy, qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy: Một

số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng và chung cả nhóm tội xâm phạm sở hữu, trong đó vấn đề về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả trong các giáo trình, sách bình luận nên chưa được phân tích sâu về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt là nghiên cứu độc lập và đánh giá thực tiễn xét xử của Tòa án ở nước ta Do đó, cho đến nay, vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu độc lập, có hệ thống và ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học dưới góc độ pháp lý hình sự

về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu Vì

Trang 10

vậy, việc tiếp tục nghiên cứu lý luận để hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phân tích thực tiễn xét xử tội phạm này từ năm 2000-2010, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của

Bộ luật hình sự về tội phạm này rõ ràng vẫn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội và thực tiễn - pháp lý quan trọng Từ những lý do trên, chúng tôi quyết

định lựa chọn đề tài: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối

tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam làm luận văn thạc sĩ luật học

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở kế thừa các công trình khoa học của các tác giả đi trước, đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh lý luận và thực tiễn của vấn đề và cập nhật số liệu thực tiễn vẫn có tính cấp thiết, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và giảm việc hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế liên quan đến tài sản có đăng ký quyền sở hữu trong tình hình hiện nay

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu trong đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; điều tra án điển hình để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này

Trang 11

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả đã tiếp thu

có chọn lọc kết quả của các công trình nghiên cứu đã công bố, các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề nghiên cứu trong luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

có đăng ký quyền sở hữu, phân biệt tội này và một số tội khác hay có sự nhầm lẫn trong thực tiễn; làm sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu; phân tích thông qua nghiên cứu thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn quốc từ năm 2000 - 2010 và nghiên cứu thông qua các bản án hình sự của Tòa án để đánh giá, đồng thời qua đó chỉ ra một số mâu thuẫn, bất cập của các quy định hiện hành; chỉ ra các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn (đó là giải pháp về mặt tội phạm học)

5.2 Về thực tiễn

Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến

Trang 12

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này ở nước ta hiện nay và sắp tới

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Chương 2: Tình hình tội phạm và thực tiễn xét xử tội phạm lạm dụng

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả

áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Trang 13

1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình

sự của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội Sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà điều cốt yếu là

đề cập đến quan hệ giữa người với người trong quá trình diễn ra sự chiếm hữu đó Người ta phân biệt hai loại sở hữu: sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở,

đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất

Quan hệ sở hữu là một trong những quan hệ cơ bản và quan trọng nhất của một thể chế Pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của các quốc gia trên thế giới luôn xác định sở hữu, quyền sở hữu là vấn đề trọng tâm của pháp luật Các quan hệ tài sản luôn xuất phát

từ quan hệ sở hữu, chính vì thế quan hệ sở hữu là tiền

đề, là xuất phát điểm cho tính hợp pháp của các quan

hệ khác Bảo vệ quyền sở hữu tài sản đóng vai trò quan trọng trong các văn bản pháp lý của Nhà nước, ở

đó tài sản là đối tượng vừa là khách thể của quan hệ sở hữu Yêu cầu cơ bản nhất đặt ra đối với bảo vệ quyền

sở hữu tài sản là tài sản đó phải giao dịch được và được phép đưa vào giao dịch, nó là đối tượng phổ biến

Trang 14

được điều chỉnh bởi các quy định của cả hệ thống

pháp luật

Do đó, quan hệ sở hữu trong xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến kết cấu giai cấp, bản chất chính trị của xã hội Sở hữu là một vấn đề kinh tế - chính trị, phải có quan điểm chính trị khi bàn về vấn đề sở hữu chứ không chỉ thuần túy các quan điểm kinh tế khi xem xét

vấn đề này

Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải trải qua một thời kỳ quá

độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ và trong thời

kỳ quá độ ấy có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế Trong đường lối kinh

tế, Đảng ta đề ra: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa Điều này cũng có nghĩa là các quan hệ sở hữu và hệ thống lý luận về sở hữu ở nước ta còn nhiều điều cần

bổ sung, hoàn thiện và điều chỉnh cho phù hợp với tình hình kinh tế - chính trị Cũng chính vì vậy mà các quan hệ sở hữu (sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân) còn chưa hoàn thiện về hình thức, còn nhiều tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu Bởi vậy, một hệ thống pháp luật bảo vệ quyền sở hữu là hết sức cần thiết và quan trọng Hiện nay, để bảo vệ quyền sở hữu

Trang 15

tài sản của công dân, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều

quan hệ pháp luật để điều chỉnh:

- Hiến pháp - Quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý; đồng thời ghi nhận các nguyên tắc, chính sách bảo vệ quyền sở hữu của công dân;

- Bộ luật dân sự - Bảo vệ các quyền sở hữu tài sản

trong quan hệ dân sự;

- Luật đầu tư - Bảo vệ quyền sở hữu tài sản trong đầu tư sản xuất kinh doanh;

- Luật hành chính - Đưa ra các biện pháp xử lý hành chính đối với việc xâm phạm quyền sở hữu tài

Trong Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có riêng một chương quy định về các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm 13 điều quy định rõ

Trang 16

các hành vi xâm phạm sở hữu được Nhà nước bảo vệ Nhóm tội phạm xâm phạm về sở hữu mang những đặc

điểm:

Về khách thể: Đó là quan hệ sở hữu, có nghĩa là

các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu

và gây thiệt hại này phải phản ánh đầy đủ tính nguy

hiểm cho xã hội của hành vi đó

Về khách quan: Đó là các hành vi như chiếm

đoạt, chiếm giữ trái phép, sử dụng trái phép, hủy hoại, làm hư hỏng tài sản,… Tuy hình thức thể hiện khác nhau nhưng những hành vi này đều xâm phạm đến quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt của chủ sở hữu

tài sản

Về chủ quan: Hầu hết các tội phạm được thực

hiện do lỗi cố ý, chỉ có hai tội phạm được thực hiện do

lỗi vô ý

Về chủ thể: Đó là những người có năng lực trách

nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định

Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu chỉ được giới

hạn trong luận văn là Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu, chúng tôi chỉ

nghiên cứu những vấn đề lý luận xoay quanh tội phạm được quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999

(sửa đổi, bổ sung năm 2009):

Điều 140 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm

đoạt tài sản

Trang 17

1 Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích

mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản [25]

Từ những phân tích trên, xét một cách chung nhất, dưới góc độ khoa học luật hình sự thì khái niệm

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi của một chủ thể có năng lực trách nhiệm hình

sự và đạt độ tuổi theo pháp luật hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thông qua hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để nhằm mục địch đích chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả lại tài

sản

Dựa vào lý luận về cấu thành tội phạm và quy

định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi,

Trang 18

bổ sung năm 2009) cho phép chỉ ra các dấu hiệu pháp

lý hình sự của tội phạm này như sau:

1) Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Quan hệ sở hữu tồn tại như một yếu tố

khách quan trong xã hội vì thế muốn điều chỉnh các quan hệ sở hữu phát triển theo hướng có lợi, giai cấp thống trị dùng pháp luật để ghi nhận, củng cố địa vị của mình trong việc chiếm hữu của cải vật chất trước các giai cấp khác Qua việc nghiên cứu cấu thành tội phạm này cho thấy khách thể trực tiếp bị tội phạm này xâm hại đó là quan hệ sở hữu tài sản "Sở hữu được hiểu là việc chiếm giữ những sản vật tự nhiên, những thành quả lao động Ngày nay có cả tư liệu sản xuất của loài người" [45, tr 169] Quan hệ sở hữu là sự phản ánh việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất, các vật phẩm giữa chủ thể này với các chủ thể khác Do đó, quan hệ sở hữu luôn được luật hình sự bảo vệ (sở hữu

là quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài

sản theo quy định của pháp luật)

a) Quyền chiếm hữu là quyền năng mà pháp luật

quy định cho chủ sở hữu tự mình nắm giữ, quản lý tài sản Hành vi chiếm hữu được quy định cụ thể tại Điều

182 Bộ luật dân sự năm 2005 được hiểu theo nghĩa rộng, có thể là hành vi của chủ sở hữu trong việc kiểm soát thực tế, hoặc kiểm soát về mặt pháp lý đối với vật, hoặc chủ sở hữu đồng thời thực hiện cả hai hành

vi này;

Trang 19

b) Quyền sử dụng là một quyền năng mà pháp

luật quy định cho chủ sở hữu được phép sử dụng các tài sản của mình nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, song việc sử dụng đó không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng tới lợi ích của

các chủ thể khác;

c) Quyền định đoạt là quyền năng mà pháp luật

quy định cho chủ sở hữu để quyết định số phận pháp

lý của tài sản

Cả ba quyền năng cụ thể trên tạo thành một hệ thống nhất trong nội dung của quyền sở hữu, chúng có mối liên kết mật thiết với nhau nhưng mỗi quyền năng

lại mang một ý nghĩa khác nhau

Về đối tượng tác động của tội phạm này chính là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, của tập thế, của

công dân,… Tài sản được thể hiện dưới các hình thức: Vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật dân

sự năm 2005: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có

giá và các quyền tài sản" [24]

2) Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Theo đó, mặt khách quan của tội

phạm này bao gồm những dấu hiệu sau:

a) Hành vi khách quan Đối với tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 thì hành vi khách quan được thể hiện ở chỗ: sau khi có được tài sản người phạm tội đã có hành vi chiếm đoạt tài sản

Trang 20

Hành vi chiếm đoạt của tội này bao giờ cũng thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản của người khác hay nhận được tài sản của người khác hay nhận được tài sản của người khác nhưng sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả lại tài sản đó Đây là hành vi sử dụng tài sản không đúng nghĩa vụ cam kết dẫn đến việc không thể trả lại tài sản cho chủ sở hữu Ví dụ như: mang tài sản đó đi bán, cầm cố, cho thuê lại Tội phạm được thực hiện thông qua các dấu hiệu cụ thể sau: Trước tiên người phạm tội đã nhận tài sản từ chủ tài sản để thực hiện một công việc nhất định nào đó Việc giao nhận này là hoàn toàn hợp pháp có sự thỏa thuận và cam kết giữa hai bên, có thể bằng miệng hoặc thông qua hợp đồng

theo quy định của pháp luật

Ý định chiếm đoạt chỉ này sinh sau khi người phạm tội đã được giao tài sản Điều này có nghĩa là người phạm tội đã vi phạm những cam kết, nghĩa vụ theo sự thoả thuận trước đây, đã bội tín nhằm chiếm đoạt tài sản Sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội

đã biến tài sản đó thành tài sản của mình, tức là đã tạo

ra cho mình khả năng chiếm giữ, sử dụng, định đoạt tài sản đó; nhưng hành vi chiếm đoạt này thực chất không làm mất đi quyền sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu hợp pháp Ở đây, hành vi chiếm đoạt đã gây ra thiệt hại vật chất cho chủ tài sản dù bằng bất kỳ hình thức nào Thiệt hại ở đây là biểu hiện thực tế như làm hao hụt giảm bớt không thể trả lại trạng thái ban đầu Vì gây thiệt hại là dấu hiệu đặc trưng của hành vi chiếm

Trang 21

đoạt, do đó hành vi chiếm đoạt chỉ được coi là hoàn thành khi đã gây ra thiệt hại vật chất cho chủ tài sản

Trên thực tế, người phạm tội đã vi phạm nghĩa

vụ cam kết nhằm chiếm đoạt một phần hay toàn bộ tài sản đã nhận từ chủ tài sản Biểu hiện của hành vi vi phạm nghĩa vụ cam kết có các dạng: Lật lọng, gian dối; chây ỳ dây dưa cố ý không trả lại tài sản cho chủ

tài sản

Thời điểm hoàn thành của tội phạm được xác định khi người phạm tội hoàn thành việc chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu Yếu tố này chúng tôi xin phân

tích kỹ tại phần sau luận văn này

b) Hậu quả của tội phạm Hậu quả của tội lạm

dụng tín nhiệm gây ra về tính chất và hậu quả được xác định thông qua đặc điểm về chất và lượng của chính đối tượng tác động đã bị hành vi nguy hiểm cho

xã hội làm biến đổi tình trạng Tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy

định rất rõ "người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng… "

[25] Như vậy, điều luật đã quy định rất rõ ràng là chỉ

có người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ

4 triệu đồng trở lên mới bị xử phạt theo điều luật này Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu giá trị của tài sản bị chiếm đoạt từ 4 triệu đồng trở lên Trong trường hợp giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 4 triệu đồng thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau: (i) Gây hậu

Trang 22

quả nghiêm trọng; (ii) đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội trước đó

đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản

c) Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Như vậy, thì chủ thể của tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự: Người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đạt độ tuổi do pháp luật hình sự quy định: Người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự, từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi (Điều 12

Bộ luật hình sự năm 1999) chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu bị truy tố về tội rất nghiêm trọng {theo khoản 3 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi,

bổ sung năm 2009)} với lỗi cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng {khoản 4 Điều 140 Bộ luật hình sự năm

1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)}, từ đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự nếu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự năm

1999 và 4 triệu đồng theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Ngoài ra, cần lưu ý chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn phải tham gia vào hợp đồng hoặc thỏa thuận vay, mượn, thuê tài sản dân sự

Trang 23

và rồi sau đó không thực hiện đúng như cam kết hợp đồng ban đầu để nhằm chiếm đoạt tài sản đó Việc giao kết được thực hiện một cách hợp pháp và đúng

theo trình tự của pháp luật

Do đó, chủ thể chịu trách nhiệm hình sự với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trước hết phải đủ điều kiện là chủ thể giao kết hợp đồng dân sự (vay, mượn, thuê, …) Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự 2005: "… người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà không cần phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật…" [24], thì chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải từ đủ 15 tuổi trở lên Chính vì vậy, chỉ những người từ đủ 15 tuổi trở lên mới là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự với tội phạm

lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Đối với những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi nếu có đủ yếu tố cấu thành tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì cũng không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bởi vì hợp đồng dân sự giữa hai bên

là vô hiệu về chủ thể dẫn đến việc chuyển giao tài sản

chưa từng xảy ra

Vì vậy, những người dưới 15 tuổi - Những người không phải là chủ thể của hợp đồng dân sự nên không thể là chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản

Trang 24

Nếu người từ đủ 14 tuổi đến dưới 15 tuổi giao kết hợp đồng dân sự rồi chiếm đoạt tài sản là đối tượng của hợp đồng thì có thể xảy ra các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Nếu có yếu tố lừa dối như

khai gian dối tuổi, gian dối mục đích giao kết, thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phù hợp với các quy định của pháp

luật;

Trường hợp thứ hai: Nếu phát hiện sự giao kết

này do hai bên tự nguyện, thì không xử lý về mặt hình

sự mà xem đây là một giao dịch dân sự vô hiệu và giải quyết hậu quả theo quy định tại Điều 137 và Điều 138

Bộ luật dân sự năm 2005 và các quy định của pháp

luật dân sự liên quan

Điều 137 Hậu quả pháp lý của giao dịch

dân sự vô hiệu

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường

[24]

Trang 25

Điều 138 Bảo vệ quyền lợi của người thứ

ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1 Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257

của Bộ luật này

2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị

đã nảy sinh ra ý định chiếm đoạt và thực hiện ngay ý định đó dù biết tài sản không phải của mình hoặc sau khi nhận được tài sản, trong quá trình thực hiện hợp

Trang 26

đồng đã chiếm đoạt tài sản Tại thời điểm phạm tội người phạm tội biết hậu quả của mình gây ra nhưng vẫn thực hiện tội phạm; và động cơ vụ lợi: Người phạm tội chiếm đoạt tài sản nhằm phục vụ cho nhu cầu của cá nhân, tổ chức liên quan đến mình; dùng tài

sản đã chiếm đoạt để làm lợi cho bản thân

1.1.2 Khái niệm đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trong những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, có những quan hệ xã hội bị tội phạm gây thiệt hại qua việc làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vật chất, như quan hệ sở hữu Tất cả những hành vi làm biến đổi tình trạng bình thường của tài sản của một chủ thể bất kỳ một cách trái pháp luật đều là những hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu của bất cứ chủ thể nào Sự làm biến đổi này có thể là

do các hành vi khác nhau gây ra, như hành vi chiếm đoạt, chiếm giữ, hành vi sử dụng, làm hư hỏng, biến dạng Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc tài sản bị xâm hại, hay nói cách khác tài sản là

đối tượng tác động của tội này

Từ phân tích về cấu thành tội phạm và đặc điểm chung của đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì có thể hiểu được

khái niệm đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

là tài sản thuộc các hình thức sở hữu toàn dân; sở hữu của các tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - sở hữu tập thể; sở hữu tư nhân; sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; sở hữu hỗn hợp; sở hữu chung

Như vậy, từ khái niệm trên có thể hiểu đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tài sản Điều 163 Bộ luật dân sự năm

Trang 27

2005 có quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" [24], những tài sản là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

tài sản có những đặc điểm riêng so với tài sản là đối tượng tác động của tội phạm khác, những đặc điểm này thể hiện ở chỗ:

Thứ nhất, tài sản là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản phải được thể hiện ở dưới dạng vật chất, có giá trị và giá trị

sử dụng, tài sản là thước đo giá trị lao động của con người được kết tinh, đồng thời phải thỏa mãn được các nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần của con người Tài sản không có giá trị và giá trị sử dụng sẽ không phải là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Ví dụ: Nguồn nước, không khí trong tự nhiên, sinh vật sống tự nhiên dưới biển, trên sông, thú sống trong tự nhiên,… Những tài sản này đều có sẵn trong tự nhiên, nó không chứa đựng sức lao động của con người, không có thuộc tính giá trị nên không phải

là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Nếu có hành vi đánh bắt hoặc xâm hại đến tài sản thuộc loại đó thì tùy từng trường hợp cụ thể có thể bị truy cứu trạch nhiệm hình sự về tội vi phạm các quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên trên rừng biển và thềm lục địa (theo Điều 172

Bộ luật hình sự năm 1999)… Mặt khác, tài sản phải có giá trị sử dụng mới là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Nếu tài sản không có giá trị sử dụng như: Thuốc tân dược hết thời hạn sử dụng mang chôn, tiêu hủy thì không phải là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ hai, tài sản là đối tượng tác động của tội lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trước hết thuộc về chủ sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp

lý bằng quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản,

ba quyền này đã được nói ở phần trên Hơn nữa, nó còn có khả năng chuyển hóa được giữa các chủ sở hữu

với nhau, có thể trao đổi mua bán hợp pháp

Trang 28

Thứ ba, tài sản là đối tượng của tác động tội lạm dụng tín nhiệm

chiếm đoạt tài sản phải có chủ thể sở hữu cụ thể với các quy định có tính chất pháp lí thể hiện quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản Hành vi phạm tội khi xâm hại tới quyền sở hữu phải tác động tới những tài sản đã được xác lập quyền sở hữu bằng những quy định pháp lí đối với chủ sở hữu nhất định (có thể là tổ chức, pháp nhân hoặc cá nhân) nên chỉ tài sản nào

có chủ sở hữu cụ thể mới là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, còn tài sản vô chủ, tài sản bị bỏ quên, đánh rơi không phải

là đối tượng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tài sản còn được hiểu là vật, tiền, quyền về tài sản Vật có thực chính

là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí) Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là một bộ phận của thế giới vật chất, có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó của con người Tuy nhiên, không phải bất cứ một bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật

Thứ tư, đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ngoài

vật, tiền thì còn các giấy tờ có giá mà thông qua đó người phạm tội có thể nhận được một số tiền hoặc tài sản nhất định (ví dụ: trái phiếu, tín phiếu, cổ phần,…)

Những loại giấy tờ có giá được xem là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải mang lại giá trị tài sản cho người chiếm đoạt

mà không phải qua cá nhân, tổ chức xác nhận; những giấy tờ có giá mà giá trị của nó phải qua cá nhân, tổ chức xác nhận mới thể hiện được giá trị thì không được xem là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (ví dụ: trái phiếu ghi danh không thể là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Thứ năm, tài sản có tính chất đặc biệt sẽ là đối tượng của các tội phạm

khác quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 Ví dụ: những tài sản có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh, quốc phòng như: Vũ khí, phương tiện kĩ thuật quân sự, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ… là đối tượng của

Trang 29

các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác được quy định trong Bộ luật hình sự 1999

Thứ sáu, tài sản là đối tượng của tội lạm dụng tín

nhiệm chiếm đoạt tài sản còn gồm các loại giấy tờ, tín phiếu mà người phạm tội khi có nó; có thể nhận được một số tiền hay tài sản nhất định Tài sản phải là những vật chất hữu hình, những loại tài sản mà chỉ có thể nhận thức được mà không thể nhìn thấy, sờ thấy hay không trao đổi, mua bán hợp pháp được thì không

thuộc phạm trù trong luật hình sự

Những tài sản bị cấm giao dịch, hạn chế giao dịch cũng không phải là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Ví dụ: Ma túy, đồ chơi bị cấm, phế liệu gây hại môi trường,…

Tóm lại, tài sản là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phải thỏa mãn nhiều yếu tố khác nhau phản ánh không chỉ đặc điểm vốn có của tài sản, mà còn chịu sự tác động của hành vi tới tài sản

đó cũng như ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi phạm tội

1.1.3 Khái niệm và những đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

a) Khái niệm tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Theo ngôn ngữ thông dụng, chúng ta có thể hiểu tài sản là của cải vật chất được con người tạo ra hoặc

sử dụng trong quá trình sống lao động, tồn tại cùng thiên nhiên Theo ngôn ngữ pháp lý, tài sản với tư cách là đối tượng của sở hữu được đề cập đầu tiên trong các quy định về tài sản và quyền sở hữu tài sản

luật dân sự hiện hành và pháp luật có liên quan thì

Trang 30

khái niệm tài sản có đăng ký quyền sở hữu được hiểu

là tài sản (như đất đai, ô tô, xe máy, tàu biển…) được chính thức ghi vào văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về những thông tin cần thiết liên quan đến tài sản đó để làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lí của chủ sở hữu tài sản đối với một tài sản nhất định Những tài sản phải đăng ký quyền

sở hữu gồm có:

Thứ nhất, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất

đai năm 2003 và Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003 Đăng ký quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại phần XI về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ theo

Bộ luật dân sự năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành

Thứ hai, đăng ký nhà ở tại đô thị theo Nghị định số 71/CP ngày

23/6/2010 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành luật nhà ở năm 2005 Đăng

ký trụ sở làm việc, các công trình xây dựng khác gắn liền với đất đai thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp Nghị định số 14/1998/NĐ-CP ngày 06/3/1998 của Chính phủ về quản lý tài sản nhà nước Quy chế quản lý và sử dụng trụ sở làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp (ban hành kèm theo Quyết định số 20/1999/QĐ-BTC ngày 25/02/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) và Thông tư số 122/1999/TT-BTC ngày 13/10/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế quản lý và sử dụng trụ sở làm việc tại cơ quan

hành chính sự nghiệp

Thứ ba, đăng ký các phương tiện giao thông theo quy định của Luật

hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, Bộ luật hàng hải năm 2005, Luật giao thông đường bộ năm 2008, Luật giao thông đường thủy nội địa năm

2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành

Trang 31

Thứ tư, đăng ký di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định tại Luật

di sản văn hóa, Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa Đăng ký tài sản là vũ khí, vật liệu và công cụ hỗ trợ theo quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996của Chính phủ)

b) Đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Đặc điểm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu là những đặc trưng, dấu hiệu pháp lý hình sự của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản có đăng ký quyền sở hữu Chính vì vậy mà tội phạm này có những đặc điểm riêng biệt như sau:

Về khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký

quyền sở hữu là không có sự khác biệt với khách thể của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đã phân tích tại mục 1.1.1 luận văn này Điểm riêng biệt của tội phạm này được thể hiện ở đối tượng mà tội phạm hướng đến/xâm phạm là tài sản có đăng ký quyền sở hữu Có thể chia tài sản đăng ký quyền sở hữu thành hai loại: Bất động sản có đăng ký quyền sở hữu

và động sản có đăng ký quyền sở hữu Mỗi loại tài sản đều mang đặc trưng riêng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền năng của chủ sở hữu

Đối với bất động sản có đăng ký quyền sở hữu: nhà ở, quyền sử dụng đất, công trình gắn liền với đất,… là những tài sản gắn liền với đất, không thể

di chuyển, thay đổi vị trí Người sở hữu muốn thực hiện quyền năng của chủ

sở hữu (Chiếm hữu, sử dụng) thì phải sinh sống trại nơi có tài sản để thông

qua hành vi của mình mà chiếm hữu, sử dụng Đối với quyền năng định đoạt

thì chủ sở hữu phải tự mình và/hoặc ủy quyền hợp pháp cho người khác thực

hiện quyền định đoạt trước sự chứng kiến của Công chứng viên; đồng thời để việc định đoạt được Nhà nước công nhận thì phải được cơ quan hành chính có thẩm quyền ra văn bản công nhận và ghi vào sổ đăng ký Vì vậy, việc chuyển

Trang 32

giao tài sản, thay đổi chủ sở hữu bằng việc "lạm dụng tín nhiệm" là không thể thực hiện được

Đối với động sản có đăng ký quyền sở hữu: Ô tô, mô tô, xe máy, là những tài sản có thể dịch chuyển được Người nhận được tài sản thông quan vay, mượn, thuê,… có thể thực hiện ba quyền: sử dụng, chiếm hữu, định đoạt sau khi nhận được tài sản Tuy những tài sản này cũng có đăng ký nhưng việc đăng ký này chỉ nhằm quản lý phương tiện là chủ yếu (hiện nay việc đăng ký chỉ xác định được chủ phương tiện mua lần đầu tiên) Chính vì vậy, đây là đối tượng chủ yếu của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu

Đối với một số loại động sản đặc biệt: Máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, là những động sản có đăng ký quyền sở hữu, hoạt động và sử dụng có điều kiện đặc biệt (Bến cảng, người điều khiển có trình độ cao, khó chiếm đoạt, không

có nhu cầu vay, mượn,…), đồng thời được quản lý chặt chẽ Do đó, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là động sản có đăng ký quyền sở hữu như trên cho đến hiện nay không xảy ra

Về khách quan: Đó là những hành vi hành vi "gian dối" để chiếm đoạt

tài sản Người phạm tội thường sử dụng những hành vi "gian dối" sau: Giả tạo

bị mất, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản,… Việc gian dối này chỉ thực hiện được nếu tài sản đáp ứng những điều kiện: Di chuyển được, nhỏ gọn, có nhiều chi tiết, bộ phận ghép thành Chính vì vậy, thủ đoạn gian dối này chỉ áp dụng với động sản có đăng ký quyền sở hữu (ô tô, xe máy) Ví dụ: Rút một bộ phận động cơ ô tô, xe máy rồi bảo rơi ở nơi nào đó; thay đổi động cơ xe;

Hoặc có hành vi "bỏ trốn" để chiếm đoạt tài sản Hiện nay chưa có hướng dẫn nào xác định rõ hành vi thế nào là bỏ trốn; tuy vậy, thực tiễn các

vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã diễn ra ở các địa phương đã xác định hành vi bỏ trốn: Cơ quan điều tra cần xác minh tại chính quyền địa phương nhiều lần (ít nhất là 02 lần trở lên), ghi lời khai người thân của đối tượng (ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em ruột, người hàng xóm, người

Trang 33

bị hại) về việc họ có liên lạc với đối tượng không? có biết đối tượng ở đâu không? thông báo tìm đối tượng trên phương tiện thông tin đại chúng Nếu qua thông báo tìm đối tượng, xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận đối tượng đã bỏ đi khỏi địa phương không khai báo, những người thân, hàng xóm, người bị hại xác nhận không biết đối tượng ở đâu, thì phải xem đó là hành vi bỏ trốn Hành vi bỏ trốn của người phạm tội để chiếm đoạt tài sản là việc người phạm tội mang tài sản (nhận được sau khi mượn, vay, thuê,…) đi khỏi nơi cư trú mà không ai biết Điều này có nghĩa là hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản chỉ có thể thực hiện được khi tài sản có thể di chuyển được, nhỏ gọn Chính vì vậy, với hành vi bỏ trốn thì người phạm tội chỉ có khả năng chiếm đoạt được động sản có đăng ký quyền sở hữu mà thôi Ví dụ: Mượn, thuê xe ô tô rồi sử dụng chính ô tô, xe máy đó để trốn sang tỉnh khác, nước khác nhằm chiếm đoạt.

Hoặc có hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được tài sản cho chủ sở hữu Tuy vậy, xác định "mục đích bất hợp pháp" cũng còn nhiều tranh luận/quan điểm trái chiều của các nhà nghiên cứu pháp luật và cơ quan áp dụng pháp luật Có nhiều quan điểm xác định việc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp bao gồm việc người nhận được tài sản sử dụng "sai" mục đích đã cam kết trong hợp đồng (ví dụ: Mượn xe máy để sử dụng nhưng sau đó lại cho người khác thuê dẫn đến làm mất xe); nhưng nhiều quan điểm khác lại cho rằng sử dụng vào mục đích bất hợp pháp nghĩa là người nhận được tài sản sử dụng tài sản đã nhận được để thực hiện tội phạm xâm phạm quan hệ pháp luật khác được pháp luật hình sự bảo vệ dẫn đến không thể trả lại tài sản (ví dụ: Dùng xe máy mượn để đi buôn lậu, đánh bạc dẫn đến làm mất tài sản) Ở đây, nhà làm luật chưa giải thích rõ thời điểm phạm tội và cách xác định hậu quả do hành vi phạm tội; ví dụ: Khi một người thuê xe ô tô sau đó đem xe đi đánh bạc, nếu thua bạc dẫn đến mất xe thì xử lý hình sự là đúng, nhưng nếu thắng bạc thì việc có hay không xử lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm là chưa xác định

Trang 34

Nếu cũng người đó thuê xe ô tô nhưng sau đó lại đem xe ô tô đi cầm

cố để lấy tiền tiêu xài thì thời điểm đem xe đi cầm cố là phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay thời điểm hết thời hạn mượn mà không thể chuộc lại được xe ô tô để trả là vấn đề chưa có hướng dẫn cụ thể

Từ những ví dụ trên cho thấy, quy định "sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được" vẫn còn nhiều bất cập trong việc hiểu và giải thích Các cơ quan soạn thảo pháp luật, thi hành pháp luật cần có những biện pháp sửa đổi, bổ sung hoặc ra văn bản hướng dẫn cụ thể về quy định trên

Hành vi sử dụng bất động sản có đăng ký quyền sở hữu vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được là không thể xảy ra, bởi vì: Dù người nhận được tài sản qua hình thức hợp đồng rồi sử dụng vào mục đích bất hợp pháp thì quyền sở hữu của chủ sở hữu vẫn không bị thay đổi (nếu chủ sở hữu không liên quan đến việc sử dụng trái pháp luật) do đó việc không trả được tài sản là không thể xảy ra Nếu bất động sản bị người được nhận tài sản sử dụng trái pháp luật thì tài sản đó là tang vật, vật chứng trong vụ án; quá trình điều tra sẽ được cơ quan điều tra thu hồi để trả lại cho chủ sở hữu (mở niêm phong, trả giấy tờ) Ví dụ: Thuê nhà rồi sử dụng nhà để làm nơi tụ tập lên kế hoạch cướp tài sản thì căn nhà mà các đối tượng sử dụng là vật chứng liên quan đến vụ án cướp, sau quá trình điều tra, thu thập chứng cứ liên quan trong căn nhà thì cơ quan cảnh sát điều tra sẽ phải trả lại nhà cho chủ sở hữu

Hành vi sử dụng động sản có đăng ký quyền sở hữu vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không trả được Đó là những hành vi mượn, thuê xe ô tô, xe máy,… rồi dùng tài sản đó để thực hiện việc cầm cố, đánh bạc,… Các đối tượng sau khi nhận được tài sản hợp pháp đã làm trái cam kết: không sử dụng công năng của tài sản mà đem tài sản thực hiện mục đích trái pháp luật nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân Ngoài ra, các cơ quan điều tra đều cho rằng việc nhận tài sản hợp pháp thông qua các hình thức hợp đồng rồi sau đó đem tài sản đi bán cho người khác cũng bị xem thuộc loại hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp và đề nghị Viện kiểm sát truy tố

Trang 35

Tóm lại, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền

sở hữu chỉ xảy ra đối với các trường hợp: Mượn xe ô tô, xe máy,… sau đó báo với chủ sở hữu là bị trộm mất hoặc tháo một số bộ phận có giá trị trên xe; bỏ trốn mang theo ô tô, xe máy,…; mượn ô tô, xe máy rồi đi cầm cố, đi đánh bạc đẫn đến không thể trả lại được tài sản;…

Hậu quả của tội phạm Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm tài sản gây

ra về tính chất và hậu quả được xác định thông qua đặc điểm về chất lượng của chính đối tượng tác động đã bị hành vi nguy hiểm cho xã hội làm biến đổi tình trạng Mặt khác, tài sản có đăng ký quyền sở hữu là những tài sản có giá trị không cố định tại một thời điểm Giá trị của tài sản có đăng ký quyền sở hữu bị ảnh hưởng bởi thời điểm định giá, giá trị sử dụng, hao phí sử dụng, là vật quý hiếm hay vật bình thường, chính vì vậy để xác định giá trị của tài sản đăng ký quyền sở hữu xem đã đủ mức truy cứu Trách nhiệm hình sự hay chưa thì phải có cơ quan định giá tài sản Đối với các vụ án hình sự thì cơ quan định giá là hội đồng định giá của huyện, tỉnh, trung ương (theo Điều 5 Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 nghị định của Chính phủ về hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự) Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu những vấn đề pháp lý hình sự mà không đi sâu

về tố tụng hình sự, do vậy việc phân tích những vấn đề liên quan đến định giá tài sản chúng tôi sẽ không đề cập sâu thêm nữa

Cơ quan cảnh sát điều tra căn cứ vào kết luận định giá tài sản của hội đồng định giá các cấp mà xác định giá trị tài sản đã bị người phạm tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt Từ đó để ra quyết định: Khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, đồng thời xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm để khởi tố, truy tố, xét xử Tuy nhiên, việc căn cứ này để xác định hậu quả do hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu là vẫn chưa hợp lý, bởi vì:

Đối với tài sản có đăng ký quyết sở hữu, việc biến đổi tình trạng pháp

lý của tài sản là thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ theo quy định của nhà

Trang 36

nước, do đó việc chuyển giao tài sản, chuyển quyền sở hữu trái pháp luật là không thể xảy ra Người phạm tội hoặc người nhà của người phạm tội có khả năng trả lại tài sản và bù đắp thiệt hại cho chủ sở hữu: Có thể bằng việc chuộc lại, tìm lại tài sản hoặc thỏa thuận với người bị hại để bồi thường một phần hoặc toàn bộ thiệt hại Vậy xác định thiệt hại thực tế cho chủ sở hữu để tính hậu quả hay tính hậu quả của hành vi phạm tội theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt là một vấn đề theo chúng tôi cần phải xác định chính xác

Hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng nước ta xác định hậu quả của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo giá trị tài sản bị chiếm đoạt Theo đó người phạm tội người nhà người phạm tội có trả lại tài sản hoặc đền bù thiệt hại thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm về việc xâm phạm quyền sở hữu tài sản Điều này là chưa hợp lý, bởi vì quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu chưa bị ảnh hưởng khi họ trả lại tài sản (lấy lại quyền sở hữu hợp pháp) Như vậy, chưa có căn cứ pháp lý xác định "Quyền sở hữu" của chủ sở hữu bị chiếm đoạt và việc người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm "nặng" về hành vi xâm phạm "quyền sở hữu" như trên là chưa hợp lý Chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc xác định và xử lý tội phạm là khoan hồng với người phạm tội đã tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,

tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại Do đó, nếu chưa có chứng cứ hoặc chứng cứ còn yếu, còn có thể không áp dụng pháp luật hình sự thì các cơ quan tố tụng hình sự sẽ không áp dụng các chế tài hình sự đối với công dân; với những sự việc mà hậu quả của hành vi phạm tội không lớn thì sẽ không áp dụng biện pháp hình sự Trong trường hợp, cá nhân có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đăng ký quyền sở hữu nhưng tài sản của người bị hại đã được thu hồi và trả lại đầy đủ cho chủ sở hữu thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự "nặng" đối với người phạm tội là không phù hợp Cần "giơ cao đánh khẽ" đối với người phạm tội để họ có cơ hội làm lại cuộc đời

Về hình phạt: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm

khắc nhất của Nhà nước, bên cạnh các mục đích nhằm đạt được ở một chừng

Trang 37

mực nhất định, việc áp dụng hình phạt nào đó đối với người bị kết án đều có thể đưa đến hậu quả tiêu cực Do vậy, nếu như hậu quả tiêu cực do việc áp dụng hình phạt đưa đến càng lớn thì hiệu quả của hình phạt càng thấp và ngược lại, nếu như hậu quả tiêu cực do việc áp dụng hình phạt đưa đến càng nhỏ thì hiệu quả của hình phạt càng cao Chính vì vậy, hiệu quả của hình phạt cần được xem xét và nghiên cứu với tư cách là một phạm trù xã hội gắn liền với các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến các cơ chế điều chỉnh về mặt pháp lý hình sự, chứ không thể chỉ đơn thuần coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất

Đồng quan điểm với GS.TSKH Lê Cảm trong vấn đề "Các yếu tố đảm bảo hiệu quả của hình phạt" [5], tôi chỉ ra hai trong số những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng hình phạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

có đăng ký quyền sở hữu:

Đảm bảo quá trình tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội, cũng như quá trình hình sự hóa nói chung phù hợp với các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội trong giai đoạn nhất định tương ứng (về kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử, truyền thống, )

- Đảm bảo việc xác định đúng tiêu chí đánh giá hiệu quả của hình phạt - mức độ tái phạm, mức độ thiệt hại của người bị hại,

Hình phạt quy định đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Khoản 1: Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm

hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm nếu không có một trong các tình tiết:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản

Trang 38

Khoản 2: Người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm nếu có

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng

Khoản 3: Người phạm tội bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm

nếu có một trong các tình tiết:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

Khoản 4: Người phạm tội bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi

năm hoặc tù chung thân nếu có một trong các tình tiết:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng

Khoản 5: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng

đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này

Hình phạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được chia thành bốn loại sau: Phạt tù, phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, tịch thu tài sản, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Trong đó, hình phạt tù là hình phạt được áp dụng chính; các hình phạt khác được áp dụng là hình phạt bổ sung Điều này có nghĩa là chính sách của nhà nước ta đối với các tội phạm lạm

Trang 39

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản rất nghiêm khắc, áp dụng hình phạt cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng khi họ xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người phạm tội dù không cố tình phạm tội - họ không biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự,

là chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng họ vấn bị trừng phạt nghiêm khắc

Ví dụ 1: Do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ông C đã vay của ông D số tiền là 1 tỷ đồng, hai bên có làm hợp đồng vay tài sản và ghi rõ thời gian vay, mục đích vay là để sản xuất, kinh doanh Sau khi đến hạn trả nợ, C đã không

có khả năng trả lại số tiền đã vay D và D cũng phát hiện là C đã không sử dụng tài sản để kinh doanh mà để mua sắm, tiêu dùng hàng ngày D đã tố cáo hành

vi của C lên cơ quan cảnh sát điều tra Đối với hành vi của C, cơ quan cảnh sát điều tra xác định có dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: C đã

có hành vi chiếm đoạt tài sản của D (thông qua hợp đồng vay tiền) và C đã sử dụng tiền của D vào mục đích bất hợp pháp (không đúng như cam kết tại hợp đồng); tuy nhiên cơ quan cảnh sát điều tra lại không xác định được số tiền mà

C đã vay D được dùng vào việc gì, do đó cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của C do các dấu hiệu chưa rõ ràng Trong trường hợp này, D đã bị C xâm phạm quyền sở hữu, chiếm đoạt tiền

Ví dụ 2: Do có nhu cầu sản xuất, kinh doanh, ông A đã mượn nhà của anh B, hai bên, hai bên có làm hợp đồng mượn tài sản và ghi rõ thời gian mượn, mục đích mượn là để sản xuất, kinh doanh Sau khi đến hạn trả tài sản,

A đã không có khả năng trả lại nhà và B cũng phát hiện là A đã không sử dụng tài sản để kinh doanh như đã cam kết tại hợp đồng mà đã dùng nhà của

B để gán nợ cho người khác B đã tố cáo hành vi của A lên cơ quan cảnh sát điều tra Đối với những hành vi của A, cơ quan cảnh sát điều tra đã kết luận:

A phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì: A có hành vi chiếm đoạt tài sản của B (thông qua hợp đồng mượn tài sản) và A đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp (sử dụng không đúng mục đích cam kết trong hợp đồng mượn tài sản) Do đó, A bị khởi tố về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

Trang 40

tài sản và B được trả lại căn nhà do A đã chiếm đoạt vì thực chất giao dịch A đem gán nợ căn nhà của B cho chủ nợ là vô hiệu Thực tế B chưa bị chiếm đoạt quyền sở hữu

Áp dụng hình phạt nặng đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn mang ý nghĩa bảo vệ quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu, kịp thời thu hồi tài sản hoặc buộc người phạm tội hoặc người nhà của họ bồi thường những tổn hại về tài sản cho chủ sở hữu

Ví dụ 3: Quay lại hai ví dụ ở trên, A tuy đã vi phạm quy định của Bộ luật hình sự về xâm phạm quyền sở hữu nhưng thực tế thì B chưa từng bị xâm phạm quyền sở hữu vì căn nhà của B vẫn do B đứng tên là chủ sở hữu, thiệt hại thự tế của B là khoản tiền thù lao cho mượn và thiệt hại liên quan đến việc

A hoặc người khác sử dụng căn nhà trong thời gian cho A mượn Mặt khác, việc cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố đối với A về hành vi phạm tội và để dẫn tới Tòa án áp dụng hình phạt nghiêm khắc - Phạt tù đối với A có thể bảo vệ quyền được bồi thường do xâm phạm tài sản của A hay không Liệu B đến khi A chấp hành đủ hình phạt tù mới nhận được tiền bồi thường thì số tiền đó còn ý nghĩa nữa hay không

Đối với vụ việc giữa C và D, Nếu cơ quan điều tra tiến hành khởi tố đối với C thì chắc chắn rằng C sẽ không trả lại cho D số tiền đã chiếm đoạt vì thời điểm C chiếm đoạt tiền của D là trước thời điểm khởi tố, do đó C có trả lại cho D tiền vào sau thời điểm khởi tố thì khung hình phạt vẫn giữ nguyên

Vì vậy, việc cơ quan cảnh sát điều tra không khởi tố vụ án hình sự đối với C

đã giúp D có cơ hội đòi lại khoản tiền C đã nợ từ: Người nhà của C, từ việc C sản xuất, kinh doanh trả nợ,

Ngoài ra, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc áp dụng quan hệ hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự mà trong xã hội dân sự hiện nay thì những tranh chấp về quyền sở hữu tài sản có đăng ký quyền sở hữu rất nhiều, mang tính phổ biến Nếu như việc xử lý hình sự không rõ ràng và không thể bảo đảm được lợi ích của chủ sở hữu thì có thể quy định về tội lạm

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thế Anh (2002), "Về trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc khắc phục tình trạng làm oan cho người không phạm tội", Kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc khắc phục tình trạng làm oan cho người không phạm tội
Tác giả: Hoàng Thế Anh
Năm: 2002
2. Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu tập huấn Bộ luật hình sự năm 1999, (Tài liệu dành cho Báo cáo viên), Nhà in Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự
Năm: 2000
3. Lê Cảm (1999), Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1999
4. Lê Cảm (Chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
5. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
6. Nguyễn Ngọc Chí (2003), "Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu", Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Tập thể tác giả do Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị "v"ề chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2005), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập II, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005
12. Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2000), Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, do Bộ môn Tư pháp hình sự tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Tác giả: Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
13. "Luật hình sự một số nước trên thế giới" (1998), Dân chủ và pháp luật, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự một số nước trên thế giới
Tác giả: Luật hình sự một số nước trên thế giới
Năm: 1998
14. Uông Chu Lưu (Chủ biên) (2004), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 (Phần các tội phạm)
Tác giả: Uông Chu Lưu (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
15. Đinh Mai Phương, Nguyễn Văn Cương (2001), "Khái niệm hình sự hóa giao dịch dân sự, kinh tế", Luật học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm hình sự hóa giao dịch dân sự, kinh tế
Tác giả: Đinh Mai Phương, Nguyễn Văn Cương
Năm: 2001
16. Đỗ Ngọc Quang (2003), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tội phạm học
Tác giả: Đỗ Ngọc Quang
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
17. Đinh Văn Quế (1998), Bình luận án, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận án
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
18. Đinh Văn Quế (2003), Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, Tập II - Các tội xâm phạm sở hữu
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
22. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2001
23. Quốc hội (2003), Bộ luật tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.3: Số vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam
Bảng 2.3 Số vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài (Trang 52)
Hình sự Việt Nam - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có đối tượng là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng theo luật hình sự Việt Nam
Hình s ự Việt Nam (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm