Về mặt lập pháp: Chế định thời hiệu chính là sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo vì sự tồn tại của chế định này đã khuyến cáo cho những người thực hiện tội phạm và những người bị kết án về
Trang 1đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam
Luận văn thạc sỹ
Hà nội – 2009
Trang 2Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Nguyễn thị thanh hoa
Trang 41.2 Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định
thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam
14
1.3 Bản chất pháp lý của hai phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”
17
Chương 2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành
bản án kết tội trong luật hình sự Việt Nam
27
2.1.Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam 27 2.2.Thời hiệu thi hành bản án kết tội trong luật hình sự Việt Nam 64 2.3 Phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi
hành bản án kết tội trong luật hình sự Việt Nam
Trang 51985
3.2 Một số tồn tại trong các quy định về chế định thời hiệu trong Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999
102
3.3 Giải pháp nâng cao tính hiệu quả và mô hình lý luận về chế định
thời hiệu trong pháp luật hình sự Việt Nam
107
Trang 6Mở đầu
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam là rất cần thiết và quan trọng trên
ba phương diện chủ yếu dưới đây:
Về mặt lý luận: Chế định thời hiệu là một chế định quan trọng trong
luật hình sự Việt Nam Việc nghiên cứu và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định thời hiệu là rất quan trọng và cần thiết Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam có không nhiều bài viết đề cập, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản cũng như thực tiễn áp dụng các quy phạm của chế định thời hiệu được quy định tại bốn điều luật là Điều 23, Điều 24, Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 1999, để rồi rút ra những mặt cần phải phát huy, cũng như những mặt cần phải khắc phục Thực chất, đây là một công việc rất có ích về mặt lâu dài vì nó đóng vai trò cơ bản giúp cho các nhà lập pháp mỗi khi xây dựng hay sửa đổi nhằm hoàn thiện luật, sẽ đưa ra những quyết định thực sự phù hợp và thiết thực đến quyền lợi của Nhà nước và của nhân dân, đấy cũng chính là sự đóng góp không thể thiếu của chúng ta vào tiến trình đi đến một Nhà nước Pháp quyền hoàn chỉnh và phát triển
Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đây là một đối tượng nghiên cứu
mang bản chất khó và phức tạp vì những lý do sau: Lý do thứ nhất, bản thân
chế định thời hiệu quy định trong pháp luật hình sự thực định của nước ta còn thiếu rõ ràng và cụ thể, các phạm trù như: khái niệm thời hiệu là gì (?), bản chất pháp lý của nội dung “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội” là như thế nào, căn cứ vào đâu để xác định điều đó (?), thời điểm bắt đầu và kết thúc của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội đối với từng loại tội phạm (đơn tội
Trang 7phạm và đa tội phạm) ra sao (?), v.v…Lý do thứ hai, đây là phạm trù liên
quan đồng thời đến cả hai ngành luật: luật hình sự và luật tố tụng hình sự, do
đó việc làm rõ phạm trù này cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ của các phạm trù có liên quan như: Phạm trù về phân định tội phạm, khái niệm, bản chất của các dạng, loại tội phạm, phạm trù về quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự, phạm trù về quá trình thi hành án hình sự, v.v…Tuy nhiên, trở ngại đặt ra là các phạm trù này lại chưa có sự thống nhất về mặt quan điểm cũng như sự nghiên cứu rõ ràng của các nhà lý luận Vì vậy, chúng ta phải khẳng định rằng nghiên cứu chế định thời hiệu là rất cần thiết, nhưng cũng không thể
có sự hoàn thiện ngay bởi điều đó cần đến sự giúp đỡ đồng bộ và toàn diện của các phạm trù có liên quan nữa
Về mặt lập pháp: Chế định thời hiệu chính là sự thể hiện nguyên tắc
nhân đạo vì sự tồn tại của chế định này đã khuyến cáo cho những người thực hiện tội phạm và những người bị kết án về những quyền lợi mà họ có thể có được (ví dụ: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, hay không phải chấp hành bản án kết tội đã tuyên) nếu như hội đủ căn
cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc và các điều kiện cần và đủ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
Đồng thời, chế định thời hiệu trong luật hình sự góp phần đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự, mà nội dung
cơ bản của nguyên tắc này là: những người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy định của luật hình sự, mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng và công minh theo đúng pháp luật với
phương châm: “không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội”
Trang 8Trong lần pháp điển hoá lần thứ hai luật hình sự Việt Nam, lần đầu tiên, nhà làm luật nước ta đã chính thức ghi nhận chế định thời hiệu bằng việc quy định bốn điều luật (Điều 23, Điều 24, Điều 55 và Điều 56) nêu lên nội dung của hai yếu tố cấu thành chế định thời hiệu: đó là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự Vì vậy, việc làm sáng tỏ để áp dụng một cách chính xác các quy phạm này là rất cần thiết và cấp bách, thêm vào đó sẽ góp phần hoàn chỉnh thêm các vấn đề liên quan đến chế định thời hiệu
Về mặt thực tiễn: Trong các báo cáo tổng kết công tác năm của ngành
Toà án nhân dân mấy năm gần đây, khi đề cập đến các vụ án hình sự liên quan đến vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hết thời hạn thi hành bản án kết tội, đặc điểm được nhìn nhận chung là tỷ lệ các bản án, quyết định của Toà án bị huỷ (trong đó có trường hợp huỷ do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) ngày một giảm, và trong tổng số 337 bị cáo mà Toà án chưa ra quyết định thi hành án năm 2005 chỉ còn 72 trường hợp đã quá thời hạn (tức là hết thời hiệu thi hành bản án kết tội) theo quy định của pháp luật, giảm hơn rất nhiều so với năm 2004 (năm 2004 là hơn 1000 trường hợp đã quá thời hạn theo quy định của pháp luật) Như vậy, các Toà án đã khắc phục được phần nào vấn đề này Trong quá trình thực hiện công việc của mình, cơ quan thi hành án hình sự đã đề ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả, rút ra những bài học kinh nghiệm và phát huy những mặt ưu điểm nhằm hoàn thành tốt công tác thi hành án hình sự
Thêm vào đó, nội dung của nhiệm vụ thứ hai trong những nhiệm vụ trọng tâm công tác của ngành Toà án nhân dân trong năm 2006 có đoạn viết:
“Khắc phục triệt để việc để một số vụ án quá thời hạn xét xử theo quy định của pháp luật…Khắc phục triệt để việc chậm phát hành bản án để kịp thời ra
Trang 9ngành Toà án rất coi trọng và quan tâm đến vấn đề: áp dụng hiệu quả chế định thời hiệu được ghi nhận tại bốn điều luật trong Bộ luật hình sự năm 1999 Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra cho chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiêm túc và sâu sắc chế định thời hiệu (bao gồm hai chế định nhỏ thuộc nó
là chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án kết tội)
Việc áp dụng đúng đắn và hiệu quả các quy phạm của chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 vào thực tiễn sẽ mang lại những lợi ích thiết thân cho Nhà nước, cho mỗi công dân và cho toàn xã hội Đối với Nhà nước, mà trực tiếp là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền sẽ nâng cao
uy tín của mình trước nhân dân, làm cho nhân dân tin vào tính công minh và sức mạnh của pháp luật, qua đó khuyến khích người dân tham gia tích cực vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Đối với mỗi công dân, mỗi khi gặp chuyện “bất bình” sẽ an tâm về hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà toàn tâm toàn ý hỗ trợ, cùng với các cơ quan
tư pháp này giải quyết thấu đáo, triệt để vấn đề Còn đối với toàn xã hội sẽ có được một pháp chế vững mạnh và chắc chắn - đó chính là nền tảng cơ bản để chúng ta xây dựng thành công một Nhà nước Pháp quyền
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chế định thời hiệu ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm, nghiên cứu và được đề cập trong các công trình, trong các tạp chí, trong một số sách chuyên khảo và giáo trình
Trong các công trình, tạp chí, sách chuyên khảo và giáo trình này bước đầu phân tích và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, đồng thời đưa ra mô hình lý luận của kiến
Trang 10giải lập pháp về các quy phạm của chế định này trong luật hình sự Việt Nam.
Chúng ta có thể kể đến như: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Khoa trực thuộc (Trường thành viên) năm 2001 của tập thể tác giả Bộ môn Tư pháp hình sự của Khoa luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội do TSKH Lê Cảm chủ trì Hà Nội, năm 2002; Những vấn đề cơ bản về pháp luật hình sự của một
số nước trên thế giới TSKH Lê Cảm chủ biên Thông tin Khoa học pháp lý, năm 2002; Chương IV – Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự (Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999, tập I – Phần chung) của TSKH Lê Cảm NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2001; hay chúng ta có thể kể đến các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự (Tập IV) của TSKH Lê Cảm NXB Công an nhân dân Hà Nội, năm 2002; Về áp dụng pháp luật trong các trường hợp không xử lý hình
sự của ThS Chu Thị Trang Vân Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2005;
Về thời hiệu thi hành bản án quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật hình
sự Việt Nam năm 1999 của Trịnh Tiến Việt (Trong sách Pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng của chính tác giả Trịnh Tiến Việt) NXB Giao thông vận tải, 2003; Chế định nhiều tội phạm – những vấn đề lý luận và thực tiễn của TS
Lê Văn Đệ NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2003; Một số vấn đề lý luận về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam của TS Trần Quang Tiệp Tạp chí Toà án nhân dân, tháng 2/2006 (Số 4); Một số vấn đề về thi hành án hình
sự của TS Trần Quang Tiệp NXB Công an nhân dân Hà Nội, 2002, v.v…
Tuy nhiên, khái quát tất cả những nghiên cứu trên đây của các tác giả cho thấy các công trình này mới chỉ dừng lại ở các bài viết đăng trên tạp chí khoa học pháp lý chuyên ngành, với việc giải quyết một nội dung tương ứng
Trang 11mục trong các giáo trình giảng dậy, một chương của sách chuyên khảo hoặc dưới góc độ mới chỉ xem xét vấn đề ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp (của bản thân tác giả), mà chưa có công trình nào đề cập đến việc nghiên cứu với đúng tên gọi “những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam” một cách có hệ thống, toàn diện, đồng bộ và chuyên khảo ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học Về nội dung, các công trình đã nêu mới đề cập khái quát căn cứ pháp lý và những điều kiện áp dụng, đánh giá ở mức độ riêng rẽ từng trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội cụ thể hoặc mới đưa ra một số kiến nghị độc lập về hoàn thiện các trường hợp tương ứng này trong luật hình sự Việt Nam Trong khi đó, chưa có công trình nghiên cứu nào hệ thống hoá các vấn đề lý luận về chế định thời hiệu; tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng cũng như chỉ ra các tồn tại, vướng mắc trong thực tế để đề xuất các kiến giải lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chúng Mặt khác, nhiều nội dung xung quanh chế định thời hiệu cũng đòi hỏi các nhà hình sự học cần tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa, nên việc nghiên cứu chế định thời hiệu vẫn rất cần thiết và quan trọng
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách tương đối có hệ thống
về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định thời hiệu theo luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng chế định này trong thực tiễn, từ đó xác định những bất cập để đề xuất kiến giải lập pháp bằng việc đưa ra mô hình lý luận của các quy phạm về chế định thời hiệu trong luật hình sự nước ta, cũng như đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này trong thực tiễn
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn đặt cho mình những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu sau:
Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu lược khảo chế định thời hiệu
trong luật hình sự Việt Nam, phân tích khái niệm, các đặc điểm cơ bản của chế định thời hiệu, những trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và nội dung cơ bản của chế định thời hiệu theo luật hình sự Viêt Nam
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, đánh giá việc áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự về chế định thời hiệu trong thưc tiễn áp dụng pháp luật hình
sự nước ta, đồng thời phân tích những tồn tại trong các quy định của chế định thời hiệu và thực tiễn áp dụng chúng nhằm đề xuất và luận chứng sự cần thiết phải hoàn thiện và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy phạm về chế định này trong pháp luật hình sự Việt Nam
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn này tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của chế định thời hiệu nói chung (mà bao gồm hai chế định nhỏ thuộc nó là chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án kết tội) như:
1 Khái niệm và đặc điểm của chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam;
2 Bản chất pháp lý của phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và phạm trù “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”;
Trang 133 Khái niệm, đặc điểm, cách tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự, đồng thời so sánh chế định này với phạm trù có mối liên quan rất mật thiết với nó – phạm trù “truy cứu trách nhiệm hình sự”;
4 Khái niệm, đặc điểm, cách tính thời hiệu thi hành bản án kết tội, đồng thời so sánh chế định này với phạm trù có mối liên quan rất mật thiết với nó – phạm trù “thi hành bản án kết tội”;
5 Hoàn thiện chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm
1999
Tuy nhiên, do đây là một chế định khó và phức tạp, thêm vào đó thời gian nghiên cứu có hạn cũng như năng lực nghiên cứu, kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề của tác giả còn hạn chế, nên trong luận văn này, tác giả chỉ
có thể làm sáng tỏ những khía cạnh mà theo quan điểm tác giả là quan trọng
và chủ yếu hơn cả
3.4 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của luật hình sự, đồng thời, luận văn cũng đề cập đến một số quy phạm của luật tố tụng hình sự nhằm hỗ trợ cho việc giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu
Về thời gian, luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về chế định thời hiệu trong giai đoạn từ năm 1999 -
2008
4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Cở sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng
và chống tội phạm, về tính nhân đạo của pháp luật Đồng thời, cơ sở lý luận
Trang 14của luận văn cũng dựa trên thành tựu của các chuyên ngành khoa học pháp lý như: lịch sử pháp luật, lý luận về Nhà nước và pháp luật, xã hội học pháp luật, luật hình sự, tội phạm học, luật tố tụng hình sự và triết học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của một số nhà khoa học luật hình sự Việt Nam và nước ngoài
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn này dựa trên việc sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử: nhìn nhận đối tượng nghiên cứu trong một hệ thống các sự vật, hiện tượng có tác động qua lại và liên quan đến đối tượng cần nghiên cứu của luận văn này, đồng thời không quên đặt nó trong một tiến trình lịch sử và phát triển
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, v.v…trong sự nhìn nhận tổng thể và khách quan, không phiếm diện một chiều
Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo của thực tiễn xét xử thuộc lĩnh vực pháp luật hình sự do Toà án nhân dân tối cao hoặc (và) của các cơ quan bảo vệ pháp luật ở Trung ương ban hành có liên quan đến chế định thời hiệu; dựa vào những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn
đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cách có hệ thống và đồng bộ những vấn đề lý luận
Trang 15và thực tiễn về chế định thời hiệu ở cấp độ một luận văn Trong luận văn này, tác giả đã giải quyết về mặt lý luận những vấn đề sau:
1 Phân tích một cách tương đối có hệ thống và tương đối toàn diện những vấn đề lý luận về chế định thời hiệu như: Khái niệm, bản chất pháp lý
và các đặc điểm cơ bản của chế định thời hiệu; Bản chất pháp lý của hai phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản
án kết tội”; khái niệm và các đặc điểm cơ bản của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội, phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội trong luật hình sự Việt Nam, v.v…
2 Hệ thống hoá lịch sử phát triển các quy phạm về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam, để rút ra những nhận xét, đánh giá
3 Phân tích từng trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 hiện hành, đồng thời có nghiên cứu so sánh với pháp luật hình
sự một số nước trên thế giới để đưa ra những kết luận khoa học về nội dung
và điều kiện áp dụng và đánh giá tổng thể những tồn tại xung quanh việc quy định nội dung chế định thời hiệu trên phương diện lý luận và lập pháp hình
sự
4 Lần đầu tiên phân tích kết quả việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về chế định thời hiệu (đặc biệt là chế định thời hiệu thi hành bản án) trong thực tiễn các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
từ năm 1999 đến năm 2008, qua đó đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến giải quyết vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành bản án kết tội của người phạm tội ở nước ta trong thời gian qua Đặc biệt
Trang 16luận văn còn chỉ ra một số các tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng và những nguyên nhân của thực trạng này để tìm ra giải pháp khắc phục
5 Đề xuất các mô hình lý luận của các quy phạm về chế định thời hiệu với những sửa đổi, bổ sung phù hợp với chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta
6 Lần đầu tiên trên cơ sở phân tích những nguyên nhân trong thực tiễn
áp dụng, luận văn đã đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về chế định thời hiệu trong pháp luật hình sự Việt Nam để phục vụ yêu cầu của thực tiễn công tác phòng và chống tội phạm cũng như việc giáo dục, cải tạo người phạm tội
6 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: Đây là công trình nghiên cứu chuyên khảo đồng bộ đầu
tiên đề cập một cách có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn
những điều kiện cụ thể của từng trường hợp áp dụng chế định thời hiệu trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng, cũng như đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các quy phạm của chế định thời hiệu ở khía cạnh lập pháp, để giúp việc áp dụng chúng trong thực tiễn ngày một hoàn thiện hơn
Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học, luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người
Trang 177 Bố cục của luận văn
Theo quan điểm của tác giả, luận văn là hợp lý và lôgic khi được sắp xếp theo trình tự sau đây:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
Trang 18Chương 1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu
trong luật hình sự Việt Nam 1.1 Lược khảo về chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam
Nghiên cứu lịch sử tồn tại và phát triển pháp luật hình sự Việt Nam, mà
cụ thể là chế định thời hiệu cho thấy chế định này đã xuất hiện từ rất sớm Ngay trong thời kỳ Pháp thuộc, các nhà làm luật Trung Kỳ đã sớm ghi nhận nguyên tắc không truy cứu trách nhiệm hình sự và không thi hành bản án kết
tội sau một khoảng thời gian nhất định: “thể lệ đặt ra cấm không được truy cứu hay thi hành một tội danh đã không xử đoán sau một thời gian đã định trong luật”[11], và đây được coi là tiền thân của chế định thời hiệu trong
pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay
Sau khi đất nước ta dành được độc lập, tự do, xuất phát từ nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng mới – giai đoạn cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Đây là một
sự kiện chính trị – pháp lý quan trọng, là một yếu tố đưa đến sự hoàn thiện tổng thể hệ thống pháp luật nước ta lúc này và góp phần thực hiện hai nhiệm
vụ chiến lược mà Đảng và Nhà nước ta đề ra là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đồng thời tăng cường pháp chế, giữ gìn trật
tự an toàn xã hội Sau đó, xuất phát từ yêu cầu thực tế của xã hội, Bộ luật hình
sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989 (liên quan đến 27 điều), năm 1991 (liên quan đến 26 điều), năm 1992 (liên quan đến 17 điều), năm 1997 (bổ sung thêm 31 điều hoàn toàn mới) – gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung Trong Bộ luật này, nhà làm luật nước ta
đã chính thức ghi nhận chế định thời hiệu tại ba điều luật: Điều 45 – Thời
Trang 19hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, Điều 46 – Thời hiệu thi hành bản án, Điều
47 – Không áp dụng thời hiệu
Tuy nhiên, nhược điểm ở đây là khái niệm thế nào là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thế nào là thời hiệu thi hành bản án vẫn chưa được đưa
ra, tại Điều 45 và Điều 46 chỉ đề cập đến vấn đề không truy cứu trách nhiệm hình sự khi nào và không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án khi nào:
“Không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu tính từ ngày tội phạm được thực hiện đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt từ 2 năm tù trở xuống hoặc hình phạt khác nhẹ hơn; b) 10 năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt tù trên 2 năm; c) 15 năm đối với các tội phạm nghiêm trọng…” (Điều 45 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự); “Không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án, nếu tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đã qua những thời hạn sau đây: a) 5 năm đối với các trường hợp xử phạt từ 5 năm tù trở xuống; b) 10 năm đối với các trường hợp xử phạt tù trên
5 năm đến 15 năm; c) 15 năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên 15 năm đến 20 năm…” (Điều 46 Thời hiệu thi hành bản án)
Do vậy, so với Bộ luật hình sự năm 1985, chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện nay của chúng ta đã được xây dựng theo hướng hợp lý hơn, hoàn chỉnh hơn: Lần đầu tiên định nghĩa pháp lý của khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và của khái niệm thời hiệu thi hành bản án hình sự đã được đề cập tại Bộ luật hình sự năm 1999, ngoài ra các mức thời hạn khác nhau tương ứng với các loại tội phạm trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, và tương ứng với các loại hình phạt và mức hình phạt trong thời hiệu thi hành bản án kết tội cũng được quy định rõ ràng và tỉ mỉ hơn,.v.v…
Trang 20Ngày nay, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, trên các trang web luật học thường xuất hiện những câu hỏi của người dân và những câu trả lời
tư vấn của các nhà luật học về những quyền lợi và nghĩa vụ mà người dân được hưởng và phải thực hiện, một trong số đó là việc hưởng chế định nhân đạo khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản
án hình sự [15, 16] Điều đó đã giúp chúng ta phần nào hiểu rằng: Cuộc sống luôn vận động không ngừng đòi hỏi chúng ta phải luôn luôn suy nghĩ, tìm ra các giải pháp ngày càng hợp lý và hoàn thiện hơn cho chế định thời hiệu nói riêng và pháp luật hình sự nói chung để bắt kịp (nếu có thể: dự đoán trước) những nhu cầu mà xã hội đặt ra và hướng tới
1.2 Khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam
Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm là một trong những nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hình sự nước ta Khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử
lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”; Điều 1 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 quy định: “Xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội”, …Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu đồng nhất nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm với việc phải
áp dụng hình phạt hoặc các biện pháp pháp lý hình sự khác đối với bất cứ tội phạm nào Vì mục đích của hình phạt hay các biện pháp pháp lý hình sự khác không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội, mà cốt lõi là nhằm giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, biết tuân theo pháp luật, ngăn ngừa họ phạm tội mới Như vậy nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm không loại trừ những quy định về chế định thời hiệu, mà trái lại, sự tồn tại của chế định thời hiệu càng khẳng định rõ tính nhân đạo trong nguyên tắc này
Trang 21Trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, các nhà làm luật không đưa
ra định nghĩa pháp lý thế nào là thời hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa cho hai yếu tố cấu thành nên chế định này, đó là thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự tương ứng tại khoản 1 Điều 23 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Tuy nhiên, chính căn cứ vào các khái niệm nhỏ này, đồng thời tổng hợp quan điểm của các nhà khoa học, tập thể tác giả Bộ môn Tư pháp hình sự của Khoa luật trực thuộc Đại học quốc gia Hà Nội do TSKH Lê Cảm chủ trì đã đưa ra định nghĩa khoa học cho chế định này mà
theo quan điểm của chúng tôi là hoàn toàn hợp lý, như sau: “Thời hiệu trong luật hình sự là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự
và được thể hiện bằng việc quy định trong pháp luật hình sự một thời hạn nhất định mà khi hết thời hạn đó, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên”[11]
Từ định nghĩa khoa học này, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm của chế định thời hiệu như sau:
Thứ nhất, đây là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, kết luận này đúng vì bản thân sự tồn tại chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam đã đưa đến cho người thực hiện tội phạm hy vọng có thể được miễn việc truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên nếu như người phạm tội đó đáp ứng được đầy đủ căn cứ pháp lí chung và những điều kiện cụ thể do pháp luật hình sự quy định (mà sẽ được phân tích chi tiết tại chương 2 dưới đây)
Thứ hai, thời hiệu trong pháp luật hình sự chính là một khoảng thời gian nhất định Trong khoảng thời gian đó, các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước bao gồm: cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Toà án
Trang 22và cơ quan thi hành án hình sự được Nhà nước trao cho quyền truy cứu trách nhiệm hình sự và thi hành bản án kết tội đối với người thực hiện tội phạm theo quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 Còn nếu nằm ngoài khoảng thời gian đó thì các cơ quan tư pháp hình sự
có thẩm quyền của Nhà nước không còn những quyền này nữa, đồng thời người phạm tội hoặc người bị kết án thoả mãn đầy đủ các điều kiện luật định (được định cụ thể tại khoản 3 Điều 23 và khoản 3 Điều 55) thì điều đó đồng nghĩa với việc người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa
và người bị kết án cũng không phải chấp hành bản án đã tuyên Ví dụ: trên một trang web của Sài Gòn, có một bạn hỏi rằng: vào năm 1977, Toà án Việt Nam đã kết án bạn 25 năm tù , nhưng trong lúc toà xử thì bạn đó đã sang Mĩ Vậy cho đến nay, bạn có còn phải chấp hành bản án đó nữa không (?) Luật sư Trịnh Đình Ban đã trả lời câu hỏi với nội dung như sau: khoảng thời gian từ năm 1977 đến nay đã hết thời hiệu thi hành bản án kết tội, do đó bạn sẽ không phải thi hành án với điều kiện trong khoảng thời gian 15 năm tính từ năm
1977 bạn không phạm tội mới, hay không cố tình trốn tránh và không có lệnh truy nã [15]
Thứ ba, chỉ một trong các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước (cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát, Toà án hoặc cơ quan thi hành án hình sự) căn cứ vào các giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể (điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án) được quyền thi hành việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 23 Bộ luật hình
sự năm 1999 hoặc việc không thi hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên đối với người bị kết án do đã hết thời hiệu thi hành bản án kết tội theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999
Trang 23Trong một Nhà nước pháp quyền, các quy định của pháp luật hình sự
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và tự do của con người, của công dân, bởi những quyền và tự do đó là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại Việc bảo vệ nhằm tránh khỏi sự xâm hại của những hành vi phạm tội mà người phạm tội gây ra, đồng thời tránh khỏi sự vi phạm pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của pháp luật hình sự của một số quan chức trong bộ máy công quyền vì các động cơ vụ lợi, cá nhân…Việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn Nhà nước pháp quyền là sự kết hơp việc bảo vệ các quyền con người trên cả ba phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp Đúng như theo quan điểm của PGS TSKH Lê Cảm: “bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn Nhà nước pháp quyền là sự ghi nhận (điều chỉnh) đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật hình sự, được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật và Toà án trong thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy công quyền, tính nhân đạo và dân chủ của xã hội dân sự và Nhà nước pháp quyền nói chung” [1] Tư tưởng bảo vệ các quyền con người được phản ánh thông qua từng điều luật trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Các quy định về chế định thời hiệu cũng không là ngoại lệ, tư tưởng bảo vệ các quyền con người được phản ánh qua khái niệm của nó, bản chất pháp lý của nó và các đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản của nó
1.3 Bản chất pháp lý của hai phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”
Trang 24Khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản
án kết tội – sau đây gọi chung là hết thời hiệu – theo quy định tại khoản 1 Điêu 23 và khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999, người thực hiện tội phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên Vậy thì tại sao nhà làm luật nước ta lại quy định như vậy và thực chất của phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và phạm trù “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội” là gì (?) Chúng ta sẽ lần lượt giải đáp từng câu hỏi này
Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này: Quan điểm thứ nhất của GS.TS người Nga
I.U.M.Tkatrepxki cho rằng: “Việc người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án đã tuyên khi hết thời hạn được pháp luật hình sự quy định là do hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc mức độ nguy hiểm cho xã hội còn không đáng kể” [47]; Quan điểm thứ hai của một số nhà luật học Liên Xô cũ cho rằng: “Sở dĩ khi hết thời hạn do pháp luật hình sự quy định, người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự là do với thời gian vật chứng bị mất đi và trí nhớ của những người làm chứng về những chi tiết của vụ án cũng bị mai một” [22]; Quan điểm thứ ba của GS Msvenhirađze P.Ia cho rằng: “Cơ sở của thời hiệu theo pháp luật hình sự là tính bất hợp lý của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, nếu như từ ngày phạm tội đã qua một khoảng thời gian nhất định nhiều hoặc ít, vì áp dụng hình phạt trong trường hợp như vậy sẽ không đạt được các mục đích của việc ngăn ngừa riêng, cũng như các mục đích của việc ngăn ngừa chung, việc miễn trách nhiệm hình sự và miễn chấp hành bản
án kết tội do hết thời hiệu làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của các hành vi” [24]; v.v…Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tác giả Trần Quang
Tiệp đã thể hiện quan điểm của mình về vấn đề này: “Chúng tôi cho rằng,
Trang 25việc người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án đã tuyên khi hết thời hạn và khi đáp ứng đầy đủ những điều kiện được quy định trong pháp luật hình sự, là do người phạm tội được coi là không còn nguy hiểm cho xã hội nữa” [38]; v.v… Nói chung, những quan điểm trên đều phải được chúng ta quan tâm và học hỏi ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, cái chính ở đây mà chúng ta cần quan tâm là tại sao họ lại đưa ra những quan điểm như vậy, họ dựa vào cơ sở và nguyên tắc nào khi đưa ra quyết định như vậy (?), bởi nếu chúng ta tiếp cận được con đường đi của họ thì chúng ta không những sẽ trả lời được những câu hỏi trên mà còn giúp chúng ta hiểu sâu sắc bản chất pháp lý của hai phạm trù này
Theo quy định tại Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 khi hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa, điều đó đồng nghĩa với việc người phạm tội được miễn việc truy cứu trách nhiệm hình sự Như vậy, bản chất pháp lý của việc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chính là người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự và theo quan điểm của chúng tôi, các nhà làm luật nước ta cần khẳng định rõ vấn đề này trong Bộ luật hình sự năm 1999, để làm căn cứ pháp
lý thống nhất khi áp dụng các quy định này vào trong thực tiễn Đây cũng chính là quan điểm của tác giả Trịnh Tiến Việt được thể hiện trong bài viết
“Về một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam” Tác giả Trịnh Tiến Việt đã đưa ra mô hình lý luận của các quy phạm về chế định miễn trách nhiệm hình
sự trong Bộ luật hình sự, trong đó tác giả có đưa ra một điều luật quy định việc miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự:
“Điều… Miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự (mới): Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự nếu tính từ
Trang 26ngày tội phạm được thực hiện đã qua một thời hạn nhất định tương ứng với từng loại tội phạm quy định tại Điều 23 Bộ luật này” [44]
Hiện nay trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới cũng ghi nhận vấn đề hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là một dạng của miễn trách nhiệm hình sự, cụ thể: Do ở Vương quốc Anh không có Bộ luật hình sự nên để tạo thuận lợi cho việc áp dụng, ở đây án lệ đã được tập hợp thành các tuyển tập và cho xuất bản báo cáo tháng về thực tiễn xét xử với tên gọi “Các báo cáo pháp luật”, theo đó pháp luật hình sự Vương quốc Anh cũng có trường hợp “Miễn trách nhiệm hình sự do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” Trong Bộ luật hình sự Liên bang Nga năm 1996, chế định miễn trách nhiệm hình sự được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong
Bộ luật này tại một chương riêng biệt (Chương 11) bao gồm bốn điều luật tương ứng là bốn trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, trong đó Điều 78 quy định trường hợp “Miễn trách nhiệm hình sự do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” [45] Tại Điều 79 Bộ luật Hình sự của Liên bang Nga quy định: “1 Không truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu kể từ ngày phạm tội đã qua các thời hạn sau đây: a) Hai năm sau khi phạm tội ít nghiêm trọng; b) Sáu năm sau khi phạm tội nghiêm trọng; c) Mười năm sau khi phạm tội rất nghiêm trọng; d) Mười lăm năm sau khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng 2 Thời hiệu được tính từ ngày thực hiện tội phạm đến thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp thực hiện tội phạm mới thì các thời hiệu đối với từng tội phạm được tính riêng 3 Thời hiệu tạm dừng nếu người phạm tội trốn tránh điều tra hoặc xét xử Trong trường hợp này thời hiệu được tính lại
từ thời điểm người phạm tội bị bắt giữ hoặc ra đầu thú 4 Vấn đề có áp dụng thời hiệu hay không đối với người phạm tội có hình phạt tử hình hoặc tù chung thân do Toà án quyết định Nếu Toà án thấy rằng không thể miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội vì hết thời hiệu, thì cũng không áp dụng
Trang 27hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với họ 5 Đối với những người phạm tội chống hoà bình và nhân loại được quy định tại các điều 345, 348,
349 và 350 Bộ luật này, thì không áp dụng thời hiệu” [39]
Còn theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999 khi hết thời hiệu thi hành bản án kết tội thì người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội đã tuyên, điều đó đồng nghĩa với việc người bị kết án được miễn chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên PGS TSKH Lê Văn Cảm đã chỉ ra rằng có ba dạng bản án kết tội: Dạng thứ nhất là người bị xét
xử được coi là có tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, dạng thứ hai là người bị xét xử bị coi là có tội nhưng được miễn hình phạt và (hoặc kèm theo việc áp dụng) biện pháp cưỡng chế về hình sự khác, dạng thứ ba là người bị xét xử bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt và (không kèm theo việc áp dụng) biện pháp cưỡng chế về hình sự khác [2] Do đó, khi hết thời hiệu thi hành bản án kết tội, người phạm tội không phải chấp hành bản án kết tội đã tuyên, suy cho cùng chính là họ không phải chấp hành hình phạt, hay nói cách khác họ được miễn chấp hành hình phạt Tham khảo Bộ luật hình sự Liên bang Nga, tại Điều 84 quy định: “1 Người bị kết án được miễn chấp hành hình phạt, nếu bản án kết tội không được thi hành đã qua những thời hạn sau đây kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật: a) Hai năm đối với trường hợp kết án về tội ít nghiêm trọng; b) Sáu năm đối với trường hợp kết án về tội nghiêm trọng; c) Mười năm đối với trường hợp kết án về tội rất nghiêm trọng; d) Mười lăm năm đối với trường hợp kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng 2 Thời hiệu tạm dừng nếu người bị kết án trốn tránh chấp hành hình phạt Trong trường hợp này thời hiệu được tính lại từ thời điểm người bị kết án bị bắt giữ hoặc ra đầu thú Thời gian trước khi người bị kết án trốn tránh chấp hành hình phạt vẫn được tính vào thời hiệu 3 Vấn đề có áp dụng thời hiệu đối với người bị kết án tử hình hoặc tù chung thân hay không do Toà án quyết định
Trang 28Nếu Toà án thấy không thể áp dụng thời hiệu, thì các loại hình phạt trên được thay bằng phạt tù 4 Không áp dụng thời hiệu đối với người bị kết án về tội chống hoà bình và chống nhân loại quy định tại các điều 348, 349 và 350 Bộ luật này” [39]
Theo quan điểm của chúng tôi, căn cứ để đưa ra những chế định nhân đạo trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 nói chung (chế định thời hiệu
nói riêng) chỉ có thể là một trong hai căn cứ sau: một là do thiếu đi một trong các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, hai là do mục đích của luật hình sự đã
đạt được Chúng ta sẽ đi nghiên cứu cụ thể từng căn cứ một để rồi đi đến kết luận về bản chất pháp lý của hai phạm trù “hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” và “hết thời hiệu thi hành bản án kết tội”
Căn cứ thứ nhất: do thiếu đi một trong các dấu hiệu của cấu thành tội
phạm Như chúng ta đã biết, một hành vi được coi là tội phạm khi nó thoả mãn những dấu hiệu tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, tổng hợp các dấu hiệu pháp lý đó sẽ tạo nên một cấu thành tội phạm Về mặt khoa
học, cấu thành tội phạm bao gồm bốn yếu tố: Thứ nhất là khách thể của tội
phạm - đó là những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ quy định trong Bộ luật hình sự hiện hành của Việt Nam, nhưng bị những hành vi phạm tội xâm hại đến, trong đó dấu hiệu bắt buộc là khách thể, còn dấu hiệu tuỳ
nghi là đối tượng và người bị hại của tội phạm; Thứ hai là mặt khách quan
của tội phạm – là mặt bên ngoài của tội phạm, tức là những biểu hiện về hành
vi thực hiện và hậu quả xảy ra, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả phạm tội, thời gian, địa điểm xảy ra, công cụ, phương tiện, v.v…, trong đó
dấu hiệu bắt buộc là hành vi nguy hiểm cho xã hội; Thứ ba là chủ thể của tội
phạm – tức là con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
Trang 29riêng biệt khác mà cấu thành nên chủ thể đặc biệt hay không, và trong đó dấu hiệu bắt buộc là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự; Thứ tư là mặt chủ quan của tội phạm – tức là mặt bên trong
của tội phạm, là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện chủ yếu dưới hình thức lỗi (cố ý hoặc vô ý) khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm cũng như với hậu quả do hành vi ấy gây nên, trong đó dấu hiệu bắt buộc là lỗi, còn dấu hiệu tuỳ nghi là động cơ và mục đích phạm tội
Đối với mọi tội phạm, dù là tội phạm hoàn thành hay tội phạm chưa hoàn thành (tức là trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt) thì đều cần có cả bốn yếu tố này (đặc biệt là phải tồn tại các dấu hiệu bắt buộc trong từng yếu tố) dù chúng được thể hiện ít hay nhiều vì đây là căn cứ cho việc định tội danh, nếu thiếu ít nhất một trong bốn yếu tố này thì sẽ không cấu thành tội phạm và người thực hiện những hành vi mang tính chất nào đó của tội phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình
Như vậy, đây thực chất không phải là căn cứ để đưa ra các biện pháp tha miễn, mà đây chính là căn cứ của những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi – một khi nhà làm luật tìm thấy sự thiếu đi một yếu tố nào
đó trong bốn yếu tố cấu thành tội phạm (cụ thể là thiếu đi dấu hiệu bắt buộc trong yếu tố đó), thì lúc đó người thực hiện những hành vi mang tính chất nào
đó của tội phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự Do đó, nếu coi chế định nhân đạo xuất phát từ việc hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội là một trong những dạng các biện pháp tha miễn trong luật hình sự Việt Nam, thì quan điểm của nhà khoa học GS.TS
người Nga I.U.M Tkatrepxki cho rằng: “Việc người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không phải chấp hành bản án đã tuyên khi hết thời hạn được pháp luật hình sự quy định là do hành vi phạm tội không còn
Trang 30kể” [47] là không phù hợp Có nghĩa là: khi miễn việc truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội cũng như không buộc người bị kết án phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hết thời hiệu thi hành bản án kết tội không phải do mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi hay tính nguy hiểm đó còn không đáng kể, lý do ở đây chính là dựa vào căn cứ thứ hai: Do mục đích của luật hình sự đã đạt được, mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây
Căn cứ thứ hai, khi làm một công việc nào đó việc đặt nó trong một
giới hạn nhất định chắc chắn sẽ có hiệu quả hơn so với việc làm một cách tự
do, không ràng buộc và nếu như công việc đó không được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định đã định ra, mà sau đó mới làm thì hiệu quả của công việc hay lợi ích có được từ công việc đó thường là thấp, mục đích
mà chúng ta mong muốn đạt được sẽ không còn giá trị cao, có khi còn mang cho chúng ta những phiền toái nào đó Công việc của các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền cũng không nằm ngoài nguyên tắc này, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội chính là những khoảng thời gian đã được lên lịch trước dành cho các cơ quan tư pháp hình sự
có thẩm quyền; nếu như học không thể hoàn thành công việc của mình trong khoảng thời gian luật định (cùng với sự xuất hiện của các điều kiện cần và đủ khác nữa theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999) thì kết quả là người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án sẽ không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được tuyên
Quan điểm của các nhà làm luật khi xây dựng chế định nhân đạo này,
đó là họ nhận thức được rằng mục đích mà họ cần đã có, đã đạt được Mục đích của thời hiệu (bao gồm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội) không nằm ngoài mục đích chung đặt ra đối với
Trang 31người phạm tội, đưa họ từ một người phạm tội trở thành người lương thiện, tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật mà Nhà nước đặt ra và đồng thời biết nhận thức và xử sự theo các quy tắc đạo đức chung của xã hội, không phạm tội mới Còn mục đích trừng trị người phạm tội không phải là mục đích chủ yếu
mà nó là công cụ giúp chúng ta nhanh chóng đạt được mục đích chủ yếu đó Như vậy, nếu trong trường hợp mục đích chủ yếu đã đạt được thì vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm lúc đó sẽ không nên và không cần thiết đặt ra
Cụ thể là, trong chế định thời hiệu: các khoảng thời gian mà các nhà làm luật định ra trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội không phải là ngắn, nó được phân chia một cách khoa học
và phù hợp Trong khoảng thời gian đó đặt ra cho cả phía Nhà nước (đại diện
là các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền) và phía người phạm tội, người
bị kết án những trách nhiệm và nghĩa vụ nhất định: Bên phía cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền phải nhanh chóng truy cứu và xác định rõ vấn đề trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đưa ra những hình phạt thích hợp đối với người bị kết án và thi hành có hiệu quả những hình phạt này nhằm đạt được những mục đích mà luật hình sự đề ra Trong khi đó, bên phía người phạm tội và người bị kết án phải thoả mãn các điều kiện: không phạm tội mới, hoặc không cố tình trốn tránh đồng thời không có lệnh truy nã từ phía các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền trong thời hạn của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội
Khi hết thời hạn này, nếu các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền chưa hoàn thành công việc của mình, mà người phạm tội và người bị kết án
đã thực hiện đúng trách nhiệm và nghĩa vụ của mình thì đó là dấu hiệu cảnh báo đối với các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền về nguy cơ làm việc
Trang 32án đã tỏ ra “ăn năn, hối cải” vì họ không hề phạm tội mới hay cố tình trốn tránh khi các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền không có lệnh truy nã đối với họ, vì thế mục đích chủ yếu của luật hình sự (mà chúng ta đề cập ở trên) được các nhà làm luật cho rằng đã đạt được, nên đó chính là sự giải thích cho câu hỏi tại sao khi hết một thời hạn nhất định của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội được quy định cụ thể tại Điều 23 và Điều 55 Bộ luật hình sự năm 1999, thì người thực hiện tội phạm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và người bị kết án không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu lực pháp luật đã được Toà án tuyên
Tóm lại, bất kỳ một trường hợp phạm tội nào được hưởng chế định nhân đạo đều xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu, đó là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Trường hợp được miễn do hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án kết tội cũng không ngoại lệ, và căn cứ mà các cơ quan bảo vệ pháp luật đưa ra đối với chế định nhân đạo này chính là sự nhận định rằng: hiệu quả của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội cũng như hiệu quả của việc buộc phải chấp hành hình phạt đối với người bị kết án đã không còn nữa, bởi mục đích chủ yếu của luật hình sự lúc này, theo nhận định của các nhà làm luật, đã đạt được
Trang 33Chương 2 Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và
thời hiệu thi hành bản án kết tội trong
luật hình sự Việt Nam 2.1.Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
2.1.1 Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
2.1.1.1 Khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Trong lần pháp điển hoá lần thứ hai luật hình sự Việt Nam vừa qua, nhà làm luật nước ta, lần đầu tiên, đã đưa ra khái niệm thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự như sau: “Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn
do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” (khoản 1 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999)
Từ khái niệm trên cho ta thấy: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chính là một khoảng thời gian (thời hạn) mà các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền được quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, khi thời hạn ấy đã hết thì cũng là lúc các cơ quan này phải chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đó Quy phạm này chính là một điểm mới của Bộ luật hình sự năm 1999 (trong Bộ luật hình sự năm 1985 trước đây không đưa ra khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) và
nó có ý nghĩa rất quan trọng góp phần vào sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung
Việc luật hình sự có quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không, hoặc quy định cụ thể như thế nào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến trách
Trang 34nhiệm hình sự của người phạm tội Vì vậy, các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được xây dung theo yêu cầu của nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự
2.1.1.2 Các đặc điểm cơ bản của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự
Xuất phát từ các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự thực định, kết hợp với việc phân tích khái niệm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự ở phần trên, chúng ta có thể đưa ra ba đặc điểm cơ bản của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, đó là:
Thứ nhất, các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền chỉ được quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong một khoảng thời hạn xác định được quy định tại khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 Tuỳ theo từng loại tội khác nhau mà khoảng thời hạn ấy quy định tương ứng khác nhau, cụ thể là: Đối với các tội phạm ít nghiêm trọng thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 5 năm, đối với các tội phạm nghiêm trọng thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 10 năm, đối với các tội phạm rất nghiêm trọng thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 15 năm, đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 20 năm
TS Cao Thị Oanh cho rằng: “Cơ sở chủ yếu để xây dựng các quy định
về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là việc truy cứu trách nhiệm hình sự không còn cần thiết nữa Vì vậy, thời hạn cụ thể mà luật quy định để không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội nữa phải được xây dựng trên cơ
sở tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Nói cách khác, căn cứ để tiến hành phân hoá trách nhiệm hình sự trong các quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chính là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và yêu
Trang 35cầu đặt ra là tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm càng cao thì các thời hạn được quy định cụ thể phải càng dài và ngược lại Ví dụ: Bộ luật hình sự của Liên bang Nga năm 1996 lại quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự trên cơ sở loại tội phạm được thực hiện Cụ thể là tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật này quy định: “Không truy cứu trách nhiệm hình sự nếu kể từ ngày phạm tội đã qua các thời hạn sau đây:
a) 2 năm sau khi phạm tội ít nghiêm trọng;
b) 6 năm sau khi phạm tội nghiêm trọng;
c) 10 năm sau khi phạm tội rất nghiêm trọng;
d) 15 năm sau khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng” [26]
Việc xác định tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hay tội phạm ít nghiêm trọng nói chung chỉ căn
cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy Tuy nhiên, trên thực
tế, cũng có một số trường hợp ngay sau khi thực hiện hành vi phạm tội, chưa
có căn cứ để xác định tội đó là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng, nghiêm trọng hay tội phạm ít nghiêm trọng Ví dụ: Đối với những tội
cố ý gây thương tích mà người bị hại phải vào bệnh viện cấp cứu và điều trị, sau khi ra viện, cơ quan điều tra mới trưng cầu giám định thương tật cho người bị hại Căn cứ vào kết quả giám định thương tật của Hội đồng giám định y khoa, cơ quan điều tra mới xác định được tỷ lệ thương tật của người bị hại là bao nhiêu phần trăm, qua đó mà xác định người cố ý gây thương tích đó phạm tội theo khoản 1, khoản 2, khoản 3 hay khoản 4 Điều 104 của Bộ luật hình sự, v.v… Đối với những trường hợp như vậy thì việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội phải tiến hành một cách thận trọng và phải tuân thủ theo đúng những quy định của Bộ luật hình sự
Trang 36Qua thực tiễn xét xử, chúng ta còn thấy những trường hợp rất phức tạp khi xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội
Ví dụ như: Ngày 02-7-2000, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn
C có hành vi dùng gậy đuổi đánh một số thanh niên làng bên, trong đó có anh
Lê Văn A, anh A chạy vào một ngõ xóm thì bị một số người khác chặn đánh
vì họ nghi anh A là bọn cướp, làm cho anh A bị thương Do trời tối, nên anh
A không xác định được những ai là người đánh anh Anh A được đưa vào bệnh viện cấp cứu, Hội đồng giám định y khoa xác định anh A bị tổn hại 52% sức khoẻ tạm thời Ngày 03-7-2000 Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án hình sự
vì xác định thấy có đủ dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự và khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn H về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 của Bộ luật hình sự, còn Nguyễn Văn T bỏ trốn nên cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án với lý do bị can chính trong vụ án bỏ trốn, đồng thời ra lệnh truy nã đối với Nguyễn Văn T Ngày 04-7-2005 Nguyễn Văn T bị bắt theo lệnh truy nã và ngày 07-7-2005 cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra vụ án Trong quá trình điều tra, do không xác định được ai là người gây thương tích cho anh Lê Văn A, nên ngày 10-5-2006 Viện kiểm sát chỉ truy tố ba bị can C, H và T về tội gây rối trật tự công cộng theo khoản 1 Điều
245 của Bộ luật hình sự Như vậy, Viện kiểm sát truy tố Nguyễn Văn T thì không có vấn đề cần xem xét về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vì T
bỏ trốn và có lệnh truy nã, nhưng đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn C thì có vấn đề cần phải bàn đến, đó là: theo quan điểm truy tố H và C cho rằng, các bị can bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là 15 năm, nên sau khi bắt được T, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và C vẫn còn, việc cơ quan điều tra phải tạm đình chỉ điều tra nên thời gian tạm đình chỉ
Trang 37điều tra không được tính vào thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự của các bị can trong vụ án có đồng phạm phải căn cứ vào thời hạn đối với bị can bỏ trốn
Quan điểm không cho H và C được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như trên là không có cơ sở khoa học và trái với quy định của pháp luật, bởi lẽ: (1) Một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự nước ta là trách nhiệm cá nhân Trong một vụ án có đồng phạm thì trách nhiệm hình sự bao giờ cũng là trách nhiệm đối với cá nhân, việc Nguyễn Văn
T bỏ trốn không thể bắt H và C không được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Trong thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không trốn tránh và không có lệnh truy nã thì khi hết thời hiệu đó, các cơ quan tiến hành tố tụng không được truy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ nữa; (2) Không thể căn cứ vào tội danh do cơ quan điều tra khởi tố để làm căn cứ tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội mà phải căn cứ vào tội danh thật (tội danh thực tế họ đã phạm phải theo quy định của Bộ luật hình sự) để làm căn cứ tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Ngay cả trong trường hợp tội danh mà bản án có hiệu lực pháp luật đã kết án đối với người phạm tội mà bản án đó bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì tội danh làm căn cứ tính thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là tội danh mà Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm kết án người phạm tội
Như vậy, trong trường hợp trên, tội danh làm căn cứ xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H và C là tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 245 của Bộ luật hình sự Như vậy, tính đến ngày cơ quan điều tra phục hồi điều tra thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H
Trang 38và C đã hết, nên H và C không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này nữa
Theo quan điểm của tác giả Hoàng Ngọc Hoài nêu trong bài viết “Hoàn thiện chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam – lý luận và thực tiễn”, thì việc quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự tại Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 là chưa đảm bảo nguyên tắc công bằng của luật hình sự Sự lý giải mà tác giả đưa ra, đó là:
Theo quy định của Bộ luật hình sự nước ta hiện nay thì một hành vi phạm tội được chia ra làm 3 giai đoạn là chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
và tội phạm hoàn thành Trong đó, chuẩn bị phạm tội là trường hợp phạm tội
có tính chất và mức độ nguy hiểm thấp hơn phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành Nó mới là giai đoạn chuẩn bị các công cụ, phương tiện cho việc thực hiện một tội phạm theo dự định của kẻ phạm tội Về hành vi khách quan thì chưa thực hiện hành vi phạm tội mà người phạm tội định phạm, chưa gây
ra một hậu quả gì đối với tội mà người phạm tội định phạm; chính vì vậy mà tính chất nguy hiểm cho xã hội của chuẩn bị phạm tội được xem là thấp đối với một tội phạm cụ thể Song theo quy định tại Điều 23 của Bộ luật hình sự hiện hành thì việc quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không có
sự phân biệt giữa tội phạm chấm dứt ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, tội phạm chưa đạt hay tội phạm hoàn thành Tác giả kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo hướng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải tỷ lệ thuận với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ở từng giai đoạn cụ thể Như vậy, cần bổ sung tại khoản 2 Điều 23 của Bộ luật hình sự hiện hành một ý như sau: Đối với các tội phạm ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:
Trang 39a -10 năm đối với các tội rất nghiêm trọng
b -15 năm đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng [14]
Thứ hai, quyền truy cứu trách nhiệm hình sự mà Nhà nước trao cho các
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền không tồn tại khi đã qua một thời hạn xác định do pháp luật hình sự quy định Nghĩa là bất kỳ người nào mặc dù đã
có lỗi trong việc thực hiện tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 nhưng sẽ không bị các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền truy cứu trách
nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đó của mình Ví dụ (1), Tại quận Gò Vấp,
thành phố Hồ Chí Minh, do sự tắc trách của Kiểm sát viên Nguyễn Pha Lê mà
có tới gần 40 bị can của 23 vụ án hình sự phạm các tội về cố ý gây thương tích, cướp giật, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, v.v… đã thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật bởi vì tất cả các hành vi phạm tội của họ đến nay đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Đặc biệt 21 trong số 23 hồ
sơ vụ án đó đã bị Kiểm sát viên này “ngâm” hơn 10 năm [18] Đây cũng chính là tiếng chuông báo động cảnh tỉnh chúng ta về công tác thanh tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về hoạt động của các cán bộ tư
pháp Ví dụ (2), Ngô Xuân Thuân – người yêu của chị Nguyễn Thị Hiền đã
không bị cơ quan công an tỉnh Nghệ An khởi tố về vụ án có liên quan đến cái chết của chị Nguyễn Thị Hiền do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình
sự tính từ khi xảy ra vụ án (cuối năm 1990) đến khi cơ quan chức năng phát hiện ra (năm 2004), và cơ quan công an tỉnh Nghệ An chỉ buộc Ngô Xuân Thuân bồi thường dân sự cho gia đình nạn nhân [19]
Đồng thời việc hết thời hạn của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chính là một căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc cho việc người phạm tội sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự từ phía các cơ quan tư pháp hình
sự có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình
Trang 40Thứ ba, ngoài căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc, người phạm
tội còn phải thoả mãn ba điều kiện cần và đủ mà luật định là: điều kiện thứ nhất: các khoảng thời gian của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự phải
tương ứng với các loại tội phạm (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) đã được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 23
Bộ luật hình sự năm 1999; điều kiện thứ hai: trong khoảng thời gian đấy,
người bị kết án không được phạm tội mới mà Bộ luật hình sự năm 1999 quy
định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 1 năm tù; điều kiện thứ ba: trong khoảng thời gian đấy, người bị kết án không được cố tình
trốn tránh và đồng thời không có lệnh truy nã từ phía các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền của Nhà nước
2.1.2 Xác định thời điểm bắt đầu và chấm dứt của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Việc xác định rõ thời điểm bắt đầu và chấm dứt thời hiệu nói chung (bao gồm thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án hình sự) là rất quan trọng vì nó sẽ tạo ra những sự ràng buộc nhất định về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa một bên là Nhà nước mà đại diện là các cơ quan tư pháp hình sự và một bên là người thực hiện hành vi phạm tội,
để cùng hướng tới một mục đích là tìm ra sự thật và công bằng Ví dụ, nếu
như có sự tắc trách trong việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự dẫn đến một kết quả sai lầm trong việc xác định đó, thì kết cục là một người
có thể phải chịu án oan, sai; đồng thời cũng thể hiện rằng một bản án kết tội
đã không có sự tồn tại của công lý và khách quan Do vậy, trước tiên, chúng
ta sẽ xem xét thời điểm bắt đầu và chấm dứt của thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự