1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự

82 856 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với xét xử vụ án hình sự chúng tôi cho rằng là Hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước do Toà án thực hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TÔN THIỆN PHƯƠNG

“VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ”

CHUYÊN NGÀNH: TƯ PHÁP HÌNH SỰ

MÃ SỐ: 505.14

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Ngọc Chí

HÀ NỘI - 2002

Trang 2

TÓM TẮT

Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Viện Kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự Nguyên nhân những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng của Viện Kiểm sát Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò Viện Kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hoạt động tố tụng hình sự gồm nhiều giai đoạn và do những cơ quan khác nhau tiến hành, trong đó xét xử vụ án hình sự là một trong những giai đoạn quan trọng Khoa học luật Tố tụng hình sự xem giai đoạn xét xử là trung tâm của hoạt động tố tụng hình sự Vì vậy xác định được vai trò các chủ thể của hoạt động xét xử, trong đó có Viện kiểm sát mang ý nghĩa không những trong xét xử mà còn cho cả những giai đoạn khác của hoạt động tố tụng hình

sự

Với chức năng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp thì vai trò của VKS trong hoạt động TTHS nói chung, xét xử vụ án hình sự nói riêng là đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, đồng thời thực hành quyền công tố là cơ sở cho hoạt động xét xử của Toà án

Trong những năm qua với chức năng được giao hoạt động của VKS ngày càng có hiệu quả, khẳng định được vai trò bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình

sự Thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử án hình sự được nâng lên về mặt chất lượng, đã có tác động tích cực đến việc chấp hành pháp luật của Toà án, góp phần vào việc xét xử đúng pháp luật, kịp thời phát hiện và yêu cầu Toà án khắc phục nhiều vi phạm trong quá trình xét xử Kháng nghị nhiều bản án, quyết định có vi phạm pháp luật, hạn chế được tình trạng oan sai, không để lọt tội phạm

Tuy nhiên, thời gian qua việc xét xử của Toà án vẫn còn để lọt kẻ phạm tội, làm oan người vô tội, xử phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do người có hành vi phạm tội gây ra Những tồn tại này xuất phát từ chức năng được giao thì trách nhiệm trước tiên thuộc về

cơ quan VKS Chính vì lẽ đó ngày 02/ 01/ 2002 Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời

gian tới nêu " Chất lượng công tác tư pháp nói chung chưa ngang tầm với yêu

cầu và đòi hỏi của nhân dân; còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm các quyền tự do, dân chủ của công dân, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và các cơ quan tư pháp"

Trên bình diên lý luận, vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự xuất hiện một số vấn đề về mặt lý thuyết chưa được nhận thức thống nhất giữa các cán bộ nghiên cứu và hoạt động thực tiễn nên việc làm sáng tỏ vấn đề này không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà cả thực tiễn áp dụng pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu:

Ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về vai trò của VKS trong xét

xử vụ án hình sự Những nghiên cứu này đã đề cập đến các khía cạnh của chức năng VKS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và giai đoạn xét

xử nói riêng Tuy nhiên, những nghiên cứu này còn dừng ở mức độ sơ lược và

Trang 4

chưa có tính hệ thống về vai trò của VKS Có thể chỉ ra những nghiên cứu sau: Luận văn Thạc sĩ Luật: " Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công tố của VKSND trong tố tụng hình sự" của tác giả Nguyễn Xuân Thanh; "Nhiệm

vụ, quyền hạn của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự" của tác giả Nguyễn Văn Oanh hay Luận văn Thạc sĩ Luật : "Các chức năng tố tụng

cơ bản trong TTHS " của tác giả Lê Tiến Châu Nổi bật là đề tài khoa học cấp

bộ của VKSNDTC “ Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay”

Những Luận văn, đề tài trên nghiên cứu vai trò của VKS ở thủ tục xét

xử sơ thẩm vụ án hình sự hoặc là nghiên cứu thông qua một chức năng thực hành quyền công tố, chưa nghiên cứu vai trò của VKS trong cả xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm hình sự

Xuất phát từ những nội dung trên, việc lựa chọn của chúng tôi đề tài với

tên gọi: “ Vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự ” làm luận văn

thạc sỹ luật học là một hướng nghiên cứu cần thiết, góp phần giải quyết một số vấn đề pháp lý, nâng cao hiệu quả thực hiện chức năng của Viện kiểm sát

trong xét xử vụ án hình sự, bảo đảm pháp chế trong xét xử hình sự

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:

Mục đích của việc nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu chức năng để làm rõ vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự về cả phương diện lý luận và thực tiễn, từ đó mục đích là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chức năng thực hành quyền công

tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự, đồng thời xác định thực trạng thực hiện chức năng, tìm nguyên nhân, đề ra giải pháp nâng cao vai trò Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Từ mục đích nêu trên đặt ra nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:

Một số quan điểm hiện nay về vai trò của VKS, thông qua đó xây dựng quan điểm khoa học về vai trò VKS trong xét xử vụ án hình sự

Làm rõ các hình thức và biện pháp thực hiện chức năng của VKS trong xét xử vụ án hình sự

Thực trạng thực hiện chức năng của VKS trong xét xử vụ án hình sự Nguyên nhân thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự

4 Phương pháp nghiên cứu:

Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài như trên, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện đề tài là: Phương pháp duy vật biên chứng; Phương pháp luật học- lịch sử; Phương pháp luật học- so sánh; Phương pháp tổng hơp, phân tích và Phương pháp thống kê hình sự

Trang 5

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự, qua đó giúp cho việc nhận thức đúng đắn, thống nhất về vai trò của Viện kiểm sát trong xét xử vụ án hình sự, cụ thể:

- Góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả

- Các kiến nghị của tác giả liên quan đến các quy định của BLTTHS, trên

cơ sở đó làm tài liệu tham khảo trong quá trình hoàn thiện các quy định trên

- Thông qua việc nghiên cứu, tác giả chỉ ra những hạn chế vướng mắc trong quá trình thực hiện chức năng của VKS, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể để khắc phục những hạn chế, thực hiện đầy đủ chức năng, khẳng định tốt vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự

Ngoài ra với nội dung công trình nghiên cứu này chúng tôi hy vọng rằng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cho các Sinh viên khoa luật Đại học Quốc gia Hà nội và những ai quan tâm đến vai trò VKS trong xét xử vụ án hình sự

6 Cơ cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ

lục Nội dung của luận văn được trình bày trong hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về vai trò củaVKS

trong xét xử vụ án hình sự

Chương 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò

của VKS trong xét xử vụ án hình sự

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VKS TRONG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Xét xử vụ án hình sự:

1.1.1 Khái niệm:

Trong hệ thống tư pháp hình sự, dân sự, hành chính v.v của hệ thống pháp luật bất kỳ nước nào, thì tư pháp hình sự cũng đóng một vai trò to lớn Đối với tư pháp hình sự, hoạt động xét xử là giai đoạn trung tâm quyết định

Trang 6

Theo các nhà nghiên cứu, các giáo trình và sách chuyên khảo thì xét xử được hiểu:

"Xét xử là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước do Toà án thực

hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi pháp luật hay quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp và mâu thuẫn giữa các bên có lợi ích khác nhau" [ 42,57 ]

Yếu tố “nhân danh Nhà nước” có nghĩa rằng đây không phải là hoạt

động của cá nhân, công dân, cũng không phải là hoạt động xã hội hay nghiệp đoàn Và do đó, phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước được đảm bảo thi hành bởi sự cưỡng chế hợp pháp của nhà nước

Xem xét đánh giá và phán quyết là những yếu tố đặc trưng của hoạt động xét xử và do đó có thể goị hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử chứ không phải là sự phán quyết của một cấp quản lý này với cấp quản lý khác, cấp trên đối với cấp dưới

“ Các bên có lợi ích khác nhau” : Có nghĩa là trong tranh chấp hay xung

đột đang được xem xét và phán quyết phải có từ hai chủ thể trở lên có vị trí độc lập đối với nhau về lợi ích, chứ không thể là sự dàn xếp cho những người khác nhau về địa vị, nhưng không có gì tranh chấp với nhau Do đó, có thể gọi sự tranh chấp của các chủ thể khác nhau về lợi ích này là sự tranh tụng (còn được gọi là tố tụng)

Bất kỳ một hoạt động nào có hàm chứa những nội dung trên thì đều có thể được coi là hoạt động xét xử, dù nó thuộc lĩnh vực nào, hình sự, dân sự hoặc kinh tế Phân theo nội dung xét xử có: Xét xử tội phạm hình sự, xét xử tranh chấp dân sự, xét xử kiếu kiện hành chính và xét xử tranh chấp lao động, kinh tế

Đối với xét xử vụ án hình sự chúng tôi cho rằng là Hoạt động nhân

danh quyền lực nhà nước do Toà án thực hiện, nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đắn của hành vi tội phạm bị luật hình

sự cấm, không một ai có thể bị buộc tội mà không qua xét xử của các Toà án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án hoặc quyết định

Trong xét xử các vụ án hình sự, phân theo cấp độ xét xử có: Xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm

Vai trò của xét xử vụ án hình sự trong TTHS:

Quá trình giải quyết vụ án hình sự thường được bắt đầu từ khi cơ quan

có thẩm quyền nhận được tin báo về tội phạm đến khi bản án kết tội hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực được mang ra thi hành Quá trình này được chia thành các giai đoạn khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng và được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau, các giai đoạn đó gồm: Khởi tố vụ án hình sự; Điều tra vụ án hình sự ; Truy tố và Xét xử vụ án hình sự

Trang 7

Mỗi giai đoạn của hoạt động TTHS có nhiệm vụ và định hướng khác nhau nhưng hướng đến mục đích giải quyết vụ án khách quan, toàn diện đúng quy định pháp luật và do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện Giải quyết nhiệm vụ của các giai đoạn tố tụng thuộc trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, VKS, Toà án) và người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, HTND, Thư ký phiên toà) Người tham gia tố tụng,

cá nhân, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội là chủ thể góp phần vào giải quyết

vụ án hình sự

Trong hoạt động TTHS thì xét xử được coi là giai đoạn trung tâm, bởi lẽ:

Thứ nhất, các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra

nhằm mục đích chứng minh tội phạm và hành vi của người phạm tội phục vụ cho việc xét xử Thông qua hồ sơ vụ án của cơ quan điều tra, Toà án kiểm tra tính xác thực của chứng cứ mà cơ quan điều tra thu thập được, để từ đó đưa ra những phán quyết về tội phạm và người phạm tội Tại phiên toà, chứng cứ được đưa ra xem xét đánh giá một cách chính thức và chỉ những chứng cứ nào được đưa ra xem xét tại phiên toà mới được dùng làm căn cứ chứng minh tội phạm và là cơ sở để HĐXX đưa ra các quyết định của mình Vì vậy, hoạt động đánh giá chứng cứ, nhân danh Nhà nước ra bản án của HĐXX được xem là hoạt động điều tra chính thức tại phiên toà

Thứ hai, quyết định truy tố của VKS chỉ là cơ sở để Toà án quyết định

đưa vụ án ra xét xử, còn việc phán quyết về sự việc phạm tội, hành vi của Bị

cáo thuộc chức năng của Toà án “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình

phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 10

BLTTHS) Vì vậy, có thể nói hoạt động truy tố của VKS hướng tới việc tạo căn

cứ cho hoạt động xét xử

Thứ ba, bản án và các quyết định của Toà án là căn cứ pháp lý để tiến

hành hoạt động thi hành án, biến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng phát huy tác dụng trên thực

đó được thể hiện bằng bản án-Văn bản tố tụng quan trọng nhất có tính chất kết luận về vụ án: Đó là có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, lỗi, tính chất lỗi, mức độ thiệt hại, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp Các giai đoạn tố tụng trước đó của cơ quan điều tra, VKS bằng hoạt động của mình đã thu thập, đánh giá chứng cứ và các tình tiết của vụ

án là để phục vụ cho việc xét xử tại phiên toà được nhanh chóng và khách

Trang 8

quan, phiên toà với sự tham gia, theo dõi của đông đảo quần chúng vẫn được coi là một cuộc điều tra công khai nhằm kiểm tra và đánh giá lại toàn bộ tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản Cáo trạng Toàn bộ những yếu tố đó làm cho hoạt động xét xử của Toà án có một giá trị không có gì có thể thay thế được

Vì vậy, xét xử hình sự có vai trò rất quan trọng trong TTHS Xét xử thông qua Toà án vừa là công cụ bảo vệ pháp chế XHCN, vừa là công cụ bảo

vệ quyền con người

Để xác định phạm vi thực hiện vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình

sự chúng tôi đề cập đến thời điểm bắt đầu và kết thúc của hoạt động xét xử các

vụ án hình sự

Vấn đề này, cho đến nay đối với nước ta ít được quan tâm nghiên cứu để

đi đến thống nhất Còn đối với các nước trên thế giới thì có những quan niệm như sau:

Các nước theo truyền thống pháp luật án lệ (Anh, Mỹ) do quan niệm rằng TTHS bắt đầu từ thời điểm xét xử [ 33, 13 ] Vì vậy ở các nước này chức năng xét xử xuất hiện đồng thời với thời điểm bắt đầu của TTHS và kết thúc khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật

Đối với các nước theo hệ thống Luật lục địa, cho rằng chức năng xét xử của Toà án bắt đầu từ khi nhận hồ sơ và quyết định truy tố của VKS (Viện công tố) [ 35, 14 ] chuyển sang và kết thúc khi thi hành án xong Qua nghiên cứu pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật, chúng tôi cho rằng:

Hoạt động xét xử bắt đầu từ thời điểm Toà án có thẩm quyền nhận hồ sơ

và bản Cáo trạng do VKS chuyển đến, kết thúc khi bản án hoặc quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật Bởi lẽ, nếu cho rằng chức năng xét xử bắt đầu từ thời điểm Toà án mở phiên toà là quá hẹp, không có cơ sở và không giải thích được những hành vi tố tụng của Toà án (Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà) kể từ khi nhận được hồ sơ và quyết định truy tố từ VKS như: Các quyết định trong quá trình chuẩn bị xét xử; Nhận, giải quyết các đơn thư khiếu nại, triệu tập người đến phiên toà v.v Còn ở thời điểm kết thúc, quan điểm thứ hai cho rằng kết thúc khi thi hành án xong là quá rộng và như vậy vô hình dung cho rằng trong thi hành án chức năng xét xử vẫn tồn tại là không có cơ sở

Tuy nhiên, cũng cần phải nhận thức rằng mặc dù chức năng xét xử kết thúc khi bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhưng nếu bản án

và quyết định đó bị những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm thì chức năng xét xử lại xuất hiện và tồn tại cho đến khi toà án ra quyết định cuối cùng (quyết định huỷ án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án, không kể bản án và quyết định của Toà án đã thi hành xong hay chưa

1.1.2 Các thủ tục xét xử vụ án hình sự:

Trang 9

a Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:

Xuất phát từ những nguyên tắc của Hiến pháp về bảo vệ quyền lợi Nhà nước, xã hội, quyền chính đáng và lợi ích hợp pháp của công dân, luật tố tụng hình sự quy định các thủ tục xét xử vụ án hình sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều thủ tục khác nhau từ xét xử sơ thẩm (lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công khai trước phiên toà), đến xét xử phúc thẩm (xem xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật) khi có những điều kiện nhất định Trường hợp phát hiện có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ

án hoặc khi phát hiện những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật được đưa ra xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm xác định lại tính có căn cứ

và hợp pháp của bản án hình sự mà Toà án đã tuyên đối với người phạm tội

Đối với xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được hiểu là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự trong đó, Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai trước phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải

là người phạm tội để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của

vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố [ 20, 310 ]

Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án hình sự đều phải trải qua các thủ tục xét xử nói trên Thông thường, vụ án hình sự được đưa ra xét xử sơ thẩm là bắt buộc, còn xét xử phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm tuỳ thuộc vào những căn cứ của các kháng cáo, kháng nghị theo thẩm quyền và theo luật định

để xác định, cần thiết hay không cần thiết việc toà án cấp trên mở phiên toà xem xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án sơ thẩm chưa có hoặc đã có hiệu lực pháp luật

Khác với các hình thức xét xử khác, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là bắt buộc đối với bất kỳ vụ án hình sự nào Để đảm bảo cho việc mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, sau khi nhận được hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, toà án phải tiến hành ngay công tác chuẩn bị xét xử, xác định những điều kiện để có thể ra các quyết định có liên quan đến việc mở phiên toà Do lần đầu tiếp cận với vụ án hình sự thông qua

hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát chuyển sang, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà phải tiến hành nhiều công việc khác nhau từ xác định thẩm quyền xét xử, xem xét chứng cứ có trong hồ sơ vụ án v.v mà công tác chuẩn bị xét

xử phải trải qua một thời gian nhất định Khi thấy có đủ các điều kiện, phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được mở công khai nhằm xét vụ án hình sự theo đúng quy định của pháp luật

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Toà án các cấp :

Trang 10

Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là việc phân định thẩm quyền giữa các cấp Toà án căn cứ vào sự việc phạm tội, đối tượng phạm tội và nơi tội phạm được thực hiện

Về thẩm quyền xét xử theo sự việc được xác định theo khoản 1 Điều 145 BLTTHS Thẩm quyền xét xử theo đối tượng căn cứ Điều 3 Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự và thẩm quyền xét xử theo Lãnh thổ được xác định theo khoản 1 Điều 146 BLTTHS trong trường hợp bị cáo phạm tội ở nước ngoài, nếu được đưa về xét xử tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì xác định thẩm quyền theo Khoản 2 Điều 146 BLTTHS

Đối với những tội phạm xẩy ra trên máy bay, tàu biển của nước ta đang hoạt động ngoài không phận hoặc lãnh hải Việt nam thì xác định thẩm quyền theo Điều 147 - BLTTHS

Khác với Toà án nhân dân được bố trí theo cấp hành chính Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, Toà án quân sự được bố trí theo hoạt động của các đơn vị quân đội Cho nên thẩm quyền xét xử theo Lãnh thổ của Toà án quân sự được quy định như sau :

Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự cấp nào xẩy ra trên địa bàn Toà án quân sự cấp đó thì Toà án quân sự cấp đó xét xử

Trong trường hợp người phạm tội thuộc đơn vị của quân chủng và tổ chức tương đương có tổ chức Toà án quân sự , thì vụ án do Toà án quân sự của quân chủng và tổ chức tương đương xét xử, không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm

Trong trường hợp không xác định nơi thực hiện tội phạm hoặc trường hợp

có nhiều Toà án quân sự khác nhau có thẩm quyền xét xử do việc trong vụ án

có nhiều người phạm tội thuộc nhiều đơn vị quân đội khác nhau hoặc do việc người phạm tội thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nếu Viện kiểm sát quân sự truy

tố bị can ra trước Toà án quân sự nào thì Toà án quân sự đó xét xử

Quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm có: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm

và xét xử tại phiên toà Đối với chuẩn bị xét xử Toà án phải chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, trong thời hạn này phải ra một trong những quyết định: Đưa vụ

án ra xét xử; Trả hồ sơ điều tra bổ sung hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án Tại phiên toà HĐXX thay mặt Toà án phải đảm bảo những quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên toà như: Thành phần tham gia phiên toà, thủ tục bắt đầu

phiên toà, xét hỏi và tranh luận tại phiên toà

b Thủ tục xét xử phúc thẩm:

Luật tố tụng hình sự đã quy định những biện pháp để đảm bảo cho Toà án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó có cả nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan, nên trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự không loại trừ

Trang 11

những trường hợp bản án và quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không đáp ứng

được những yêu cầu của pháp luật, như sai lầm trong việc định tội danh, quyết định hình phạt, giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự

Để khắc phục và sửa chữa những sai lầm có thể có ở thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bảo đảm thực hiện tốt mục đích của tố tụng đặt ra như đã nêu trên Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định một trình tự xét xử nhằm xét lại bản án, quyết định của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có kháng cáo, kháng nghị Đó là xét xử Phúc thẩm vụ án hình sự :

" Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là việc toà án cấp trên trực tiếp của Toà

án đã xét xử sơ thẩm vụ án, mở phiên toà xem xét lại bản án hoặc quyết định của cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật nhưng đã bị kháng cáo hoặc kháng nghị ” [ 20, 365 ]

Theo Điều 204 BLTTHS tính chất của xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Sau khi Toà án sơ thẩm đã ra bản án và quyết định mà không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định thì bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật và được đưa ra thi hành Vì vậy , chế độ hai cấp xét xử đối với một

vụ án không phải là đương nhiên Việc xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp hoặc trên một cấp hoặc kháng cáo của những người có quyền được kháng cáo theo quy định của Điều 205 BLTTHS Khi vụ án có kháng cáo, kháng nghị thì việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm

là bắt buộc để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, đồng thời cũng xem xét lại vụ án về nội dung

Tính hợp pháp đó là bản án và quyết định đó phải phù hợp với quy định của BLHS về mặt nội dung trong việc định tội danh và quyết định hình phạt và

về mặt hình thức, phải phù hợp với những quy định của BLTTHS

Tính có căn cứ của bản án và quyết định là bản án và quyết định sơ thẩm phù hợp với những sự kiện thực tế, có căn cứ khi kết luận những chứng cứ, tình tiết của vụ án được xác định một cách chắc chắn tại phiên toà trên cơ sở chứng

cứ đã được thẩm tra, xem xét công khai

Như vậy, khi xét xử phúc thẩm, Toà án cấp trên trực tiếp vừa làm nhiệm

vụ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi chính đáng của công dân, vừa thông qua việc khẳng định hoặc phủ định tính đúng đắn của bản án hoặc quyết định

sơ thẩm để sửa chữa sai lầm nếu có, đồng thời hướng dẫn đường lối xét xử đối với Toà án cấp dưới

Khác với bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm sau khi tuyên án chưa có hiệu lực pháp luật; Bản án , quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án

Trang 12

Quyền kháng cáo, kháng nghị :

Kháng cáo, kháng nghị là quyền của những người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật được đề nghị Toà án cấp trên trực tiếp xét lại bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 205 và Điều 206 BLTTHS

Đối với Viện kiểm sát, nhằm mục đích bảo vệ, củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Điều 206 BLTTHS quy định Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát xuất phát từ chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

Việc kháng nghị của Viện kiểm sát khi phát hiện ra những sai sót của bản

án không những là quyền mà còn là nghĩa vụ Viện kiểm sát có thể kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án hoặc quyết định, đối với tất cả các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác hay chỉ với một số Viện kiểm sát có thể kháng nghị theo hướng tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình phạt, tăng nặng hay giảm nhẹ mức bồi thường , đề nghị xử bị cáo không có tội hoặc có tội

Để làm căn cứ cho việc xem xét các nội dung trong kháng nghị tại phiên toà phúc thẩm, trong kháng nghị của mình, Viện kiểm sát phải nêu rõ lý do,

bị kháng cáo, kháng nghị, Toà phúc thẩm TATC có thẩm quyền phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án quân sự Trung ương có thẩm quyền phúc thẩm đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án Quân sự cấp quân khu hoặc tương đương bị kháng cáo, kháng nghị

Việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm phải chấp hành các quy định của BLTTHS, đó là Điều 241 quy định phạm vi và Điều 215 quy định thời hạn xét

xử phúc thẩm

Những người tham gia phiên toà phúc thẩm :

Trang 13

Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những người tham gia phiên toà phúc thẩm như sau :

Kiểm sát viên : Tại phiên tòa phúc thẩm, sự có mặt của kiểm sát viên là bắt buộc Nếu kiểm sát viên vắng mặt thì hội đồng xét xử phải hoãn phiên toà Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị được triệu tập và tham gia phiên toà Nếu họ vắng mặt mà có lý do chính đáng thì Hội đồng xét xử vẫn có thể tiến hành xét xử, nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt Trong trường hợp khác thì phải hoãn phiên toà

Ngoài những tư cách nói trên, phiên toà phúc thẩm có thể còn có sự tham gia của những người khác (Thí dụ: Người làm chứng, giám định viên, người phiên dịch) Sự tham gia phiên toà phúc thẩm của những người này do Toà án cấp phúc thẩm quyết định nếu xét thấy sự có mặt của họ là cần thiết

Các quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm :

Khi xét xử phúc thẩm vụ án hình sự, theo Điều 220 BLTTHS Toà án cấp phúc thẩm có quyền ra một trong những quyết định sau đây :

Bác kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm

Sửa bản án sơ thẩm

Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án

c Thủ tục Giám đốc thẩm :

Theo Điều 241 BLTTHS thì : " Giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc

quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án ”

Với quy định này đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau về bản chất của giám đốc thẩm [ 27, 36-40 ] Về mặt lập pháp thì giám đốc thẩm chỉ là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và như vậy đương nhiên không đồng nghĩa với xử lại hay xét xử lại Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Giám đốc thẩm

là vừa để xét lại, vừa xử lại bởi lẽ: Theo quy định tại khoản 4 Điều 254 và Điều

257 BLTTHS thì Hội đồng giám đốc thẩm lại có quyền sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và tại Điều 256 BLTTHS cũng cho phép Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án hoặc quyết định phúc thẩm, và giữ nguyên bản

án hoặc quyết định sơ thẩm Việc quy định như vậy, rõ ràng làm cho tính chất Giám đốc thẩm không còn xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật như Điều 241 BLTTHS Vì vậy, theo chúng tôi cần sửa Điều 241 BLTTHS để phù hợp với bản chất của Giám đốc thẩm, cũng như các Điều luật khác của BLTTHS

Trang 14

Việc xét xử theo thủ tục Giám đốc thẩm một bản án hoặc quyết định của Toà án chỉ được tiến hành khi có đủ các điều kiện cần thiết sau đây:

Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Trong quá trình giải quyết vụ án có sự vi phạm pháp luật

Có kháng nghị của người có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục của Luật TTHS đối với bản án, quyết định đó

Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm :

Theo Điều 242 với tên gọi “ Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc

thẩm " đã cụ thể hoá nội dung về căn cứ kháng nghị nên trong Điều 241

BLTTHS rằng, căn cứ để kháng nghị giám đốc thẩm là những vi phạm pháp luật hình thức và pháp luật về nội dung ở tắt cả các giai đoạn của tố tụng Các căn cứ đó là :

1 Việc điều tra xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ

2 Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án

3 Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử

4 Có những sai lầm nghiêm trọng việc áp dụng BLHS

Những người có quyền kháng nghị và thẩm quyền của họ khi kháng nghị được quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng hình sự

Thành phần những người tham gia phiên toà Giám đốc thẩm :

Phiên toà giám đốc thẩm phải có sự tham gia của đại diện của Viện kiểm sát, đại diện Viện kiểm sát phải là Viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền Đối với những người như người bị kết án, người bào chữa trong trường hợp cần thiết Toà án phải triệu tập họ Những người khác có quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị cũng có thể được Toà án triêụ tập

Đối với tất cả các bản án hoặc quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm dù chúng thuộc thẩm quyền xét xử ở cấp nào thì cũng phải đưa bản án, quyết định

đó ra xét xử trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày nhận được kháng nghị

Việc xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính

có căn cứ của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị Vì vậy , nếu trong bản kháng nghị chỉ kháng nghị một phần bản án hoặc quyết định của Toà án thì trong mọi trường hợp, Toà án phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của phần bị kháng nghị Điều này áp dụng với cả trường hợp vụ án có nhiều người bị kết án mà chỉ kháng nghị với một hoặc một số người bị kết án, có nghĩa là Toà án cũng phải kiểm tra đối với tất cả những người không bị kháng nghị

Trang 15

Hội đồng giám đốc thẩm khi xét xử có quyền ra những quyết định sau :

1 Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã

có hiệu lực pháp luật

2 Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án

3 Huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại

4 Sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Các quyết định của Hội đồng giám đốc có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định

Tóm lại, với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, do có vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án Thủ tục Giám đốc thẩm có một ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn đó là: Thủ tục Giám đốc thẩm tạo ra cơ chế đảm bảo tính đúng đắn, tính hợp lý trong hoạt động xét

xử của Toà án, khắc phục được những sai lầm trong quá trình giải quyết vụ án

đã thể hiện trong bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật Mặt khác, thông qua Giám đốc thẩm Toà án cấp trên nắm bắt được những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp dưới Từ đó, kịp thời hướng dẫn các Toà án áp dụng đúng pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử và kịp thời kiến nghị đối với các cơ quan chức năng khắc phục những thiếu sót trong

áp dụng pháp luật và điều quan trọng nhất là góp phần hạn chế tình trạng oan sai trong xử lý tội phạm

d Thủ tục Tái thẩm vụ án hình sự:

Trong luật tố tụng hình sự Việt nam, để khắc phục những sai lầm có thể

có trong quá trình xét xử vụ án hình sự, cùng với các thủ tục khác như thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm còn có thủ tục tái thẩm Mỗi một thủ tục nêu trên có tính chất và mục đích khác nhau Nếu như xét xử phúc thẩm là việc Toà

án cấp trên trực tiếp xét lại bản án hoặc quyết định của Toà án cấp dưới chưa

có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng cáo, hoặc kháng nghị Xét xử giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật Nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có việc vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án thì thủ tục tái thẩm được hiểu:

" Tái thẩm là việc xét bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật

nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó " ( Điều 260 BLTTHS )

Xuất phát từ định nghĩa trên về Tái thẩm có thể hiểu những điều kiện cần

và đủ để xét xử tái thẩm một vụ án hình sự bao gồm :

1 Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật

Trang 16

2 Có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Toà án đã không biết khi ra bản án hoặc quyết định đó

3 Có kháng nghị của cấp có thẩm quyền theo các trình tự và thủ tục do bộ luật tố tụng hình sự quy định

Như vậy, chỉ Tái thẩm khi có những tình tiết mới và những tình tiết này khi Toà án ra bản án hoặc quyết định không biết, nếu những tình tiết đó là những tình tiết mà trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã biết, nhưng do đánh giá không đúng nên đã ra bản án sai thì không gọi là tái thẩm Những tình tiết mới thường là các tình tiết như : Người làm chứng, người bị hại đã khai báo gian dối, Người phiên dịch cố tình dịch sai, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xử sai… ( Điều 261 BLTTHS ) Và những tình tiết mới được phát hiện phải làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định của Toà án, thay đổi cơ bản nội dung là sự thay đổi về chất như : Về tội danh, về người phạm tôi, về việc áp dụng pháp luật

Về cơ bản những căn cứ kháng nghị theo trình tự tái thẩm nêu trên liên quan tới hoặc là sai lầm của người tiến hành tố tụng khi kết luận một vấn đề đó của vụ án hoặc là thiếu sót trong việc kiểm tra , đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như xét xử vụ án

Điều 263 Bộ luật tố tụng hình sự quy định chỉ những người sau mới có quyền kháng nghị tái thẩm:

Viện trưởng VKSND Tối cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND hoặc Toà án quân

sự các cấp

Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự TW có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân sự các cấp

Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân huyện Viện trưởng VKS quân sự cấp quân khu có quyền kháng nghị Tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án quân

sự khu vực

Lưu ý thẩm quyền kháng nghị chỉ do Viện trưởng quyết định, Viện trưởng Viện kiểm sát không uỷ quyền cho các Phó Viện trưởng của mình kháng nghị Tuy nhiên, việc quy định chủ thể của kháng nghị tái thẩm như trên nhưng theo Điều 262 BLTTHS quy định thì người bị kết án, hoặc cơ quan Nhà nước,

tổ chức xã hội và mọi công dân có quyền phát hiện những tình tiết mới và thông báo cho Viện kiểm sát và Toà án biết Nếu tình tiết mới được thông báo cho Toà án thì Toà án phải chuyển cho Viện kiểm sát Viện trưởng Viện kiểm

Trang 17

sát có thẩm quyền kháng nghị Tái thẩm phải xác minh những tình tiết đó trước

Hội đồng tái thẩm có quyền ra các quyết định như sau:

1 Bác kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu tình tiết mới được dùng làm căn cứ để kháng nghị không làm thay đổi nội dung vụ án

2 Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại hoặc xét xử lại tuỳ thuộc vào tình tiết mới được phát hiện trong giai đoạn điều tra hoặc xét xử Sau khi bản án hoặc quyết định bị huỷ, việc điều tra lại hoặc xét xử lại được tiến hành theo thủ tục chung

3 Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại điều 89 BLTTHS

Quyết định của Hội đồng tái thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định

Những căn cứ để ra một trong các quyết định nêu trên cũng được quy định giống như ở cấp giám đốc thẩm Tuy nhiên, khác với Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm không được sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, kể cả trường hợp sửa theo hướng có lợi cho người bị kết án Mọi trường hợp khi có căn cứ để sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật Hội đồng tái thẩm phải ra quyết định huỷ án hoặc quyết định để điều tra lại hoặc xét

xử lại từ cấp sơ thẩm Việc điều tra tra lại hoặc xét xử lại từ cấp sơ thẩm được tiến hành theo thủ tục chung

1.2 Vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự:

Viện kiểm sát là một trong bốn cơ quan quan trọng cấu tạo nên bộ máy nhà nước Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền lập hiến và lập pháp , Chính phủ là cơ quan chấp hành của quốc hội, Toà án là cơ quan xét xử, Quốc hội giao nhiệm vụ Thực hành quyền quyền công tố và Kiểm sát các hoạt động tư pháp đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được xử lý bằng pháp luật

và đúng pháp luật cho Viện kiểm sát

Điều 137 Hiến pháp 1992 (Sửa đổi) quy định chức năng của VKSND:

“Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”

Cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về chức năng của VKS, BLTTHS xác định vị trí của VKS là cơ quan tiến hành tố tụng Điều 23 Bộ

Trang 18

Luật TTHS quy định: “ VKS có nhiệm vụ Kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong TTHS , thực hành quyền công tố đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất ” Trong các hoạt động TTHS , VKS có trách

nhiệm áp dụng những biện pháp do bộ Luật Tố tụng hình sự và bộ Luật hình sự

để loại trừ vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào

Như vậy, theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và Bộ luật tố tụng hình sự, thì xét

xử vụ án hình sự VKS có hai chức năng là: Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp Để thấy được vai trò của VKS cần phải nghiên cứu, xem xét dưới góc độ gắn liền với chức năng và quá trình thực hiện chức năng Vì vậy nghiên cứu vai trò của VKS trong xét xử vụ án hình sự chúng tôi nghiên cứu chức năng Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp trong

xét xử vụ án hình sự của VKS

1.2.1 Chức năng thực hành quyền công tố

a Khái niệm quyền công tố:

Nghiên cứu về quyền Công tố của Viện kiểm sát, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn tư pháp hình sự, cho đến nay xung quanh cách hiểu như thế nào là quyền công tố, bản chất của nó gì, phạm vi của nó ra sao ? và nội dung của nó

do các yếu tố nào hợp thành,v.v cũng chưa có một quan điểm thống nhất được thừa nhận chung

Trong lịch sử lập hiến và lập pháp của nước ta, khi quy định chức năng nhiệm vụ của VKSND thì xuất hiện khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố Đó là Điều 138, Hiến pháp năm 1980 và Điều 1, Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981 Từ đó đến nay trong nghiên cứu Lý luận cũng như hoạt động thực tiễn có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm này Và như thế,

mặc nhiên nhận thức khái niệm “ Quyền công tố ” và “ Thực hành quyền công

tố ” ngày càng đi theo nhiều hướng khác nhau

Trong khoa học Luật TTHS, việc xác định khái niệm quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết tốt vấn đề đó giúp cho việc xác định chính xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống các cơ quan Nhà nước nói chung và trong các

cơ quan tư pháp nói riêng

Hiện nay trong sách báo pháp lý nước ta, còn có một số quan điểm, tựu chung lại có quan điểm như sau:

Thứ nhất, đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát, dẫn đến tình trạng mở rộng phạm vi quyền công tố vượt khỏi lĩnh vực tố tụng hình sự sang các lĩnh vực tư pháp khác như dân sự, kinh tế, lao động, hành chính (đây là quan điểm đưa vào chương trình giảng dạy của trường Cao đẳng kiểm sát cho đến trước khi có Luật Tổ chức VKS năm 2002)

Trang 19

Thứ hai, xem quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố như là một hoạt động độc lập của Viện kiểm sát nhân danh quyền lực công {22;31}

Thứ ba, quá thu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Toà và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm {31;24}

Xuất phát từ các căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp, cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm trên đã bộc lộ một số hạn chế: Có thể nói rằng điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ được khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Đa số tác giả đều cho rằng hai chức năng của Viện kiểm sát : Chức năng công tố và kiểm sát tư pháp vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau; Giữa chúng có những nội dung xâm nhập, đan xen vào nhau không thể tách rời Tạo nên sự thống nhất trong chức năng của Viện kiểm sát

Có nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm quyền công tố, cho đến nay

quan điểm có giá trị nhất được thể hiện trong đề tài: “ Những vấn đề lý luận về

quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay” Theo đó khái niệm Quyền công tố như sau:

“ Quyền công tố là quyền của Nhà nước, truy cứu TNHS đối với người phạm tội, quyền này được giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan VKS ) Để làm được điều này cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó truy tố Bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội trước phiên Toà [31,19]

Từ khái niệm trên, có thể xác định đối tượng, phạm vi, nội dung quyền công tố như sau :

Đối tượng của quyền công tố là người phạm tội

Quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực hình sự

Nội dung của quyền công tố là sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội

Quyền công tố xuất hiện khi tội phạm thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật

b Thực hành quyền công tố

Trong Khoa học luật TTHS , việc xác định quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng Giải quyết được rõ ràng, rành mạch những vấn đề trên giúp cho việc xác định chính

Trang 20

xác vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong hệ thống cơ quan Nhà nước nói chung và trong mối quan hệ với các cơ quan tư pháp nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, đặc biệt là trong tố tụng hình sự Từ đó mới

có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, hợp lý về mô hình tổ chức Viện kiểm sát Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng

ta đang tích cực triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 và lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về cải cách bộ máy nhà nước, cải cách cơ quan tư pháp

Trong các tài liệu pháp lý ở nước ta, chủ yếu người ta chỉ đề cập đến vấn

đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Khái niệm thực hành quyền công tố cũng như nội dung, phạm vi của nó, mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp còn ít được đề cập và chưa rõ ràng Một số chuyên đề gần đây ở Viện kiểm sát nhân dân Tối cao và một số Viện kiểm sát nhân dân địa phương khi đề cập đến hoạt động thực hành quyền công tố cũng chỉ mới đưa ra được một số biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như : Kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát thi hành án v.v Trong những tài liệu này, tác giả cũng chỉ nhấn mạnh đến chủ thể thực hành quyền công tố ,

đó là Viện kiểm sát Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là những nguyên lý của V.I

Lê Nin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của Viện kiểm sát nhân dân, về vai trò và bổn phận của Uỷ viên công tố; Cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến nay Vì lẽ đó, trong nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong và ngoài ngành kiểm sát đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố trên các phương diện như : Đối tượng, nội dung, phạm vi Đồng thời, họ luôn gắn quyền công tố chỉ với Viện kiểm sát, coi đó

là quyền của Viện kiểm sát Vì vậy đã không lý giải được vấn đề là khi một số

cơ quan khác ( Cơ quan điều tra, Toà án) sử dụng một số biện pháp như : Khởi

tố vụ án, khởi tố bị can thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền công tố hay không ?

Một bộ phận khác trong giới luật học khi đề cập đến thực hành quyền công tố lại có hai khuynh hướng Một là họ gắn việc thực hành quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của công tố viên trong tố tụng hình sự

Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố

ở nước ngoài, cơ sở pháp lý mà họ đưa ra là các quy định pháp luật hiện hành ở nước ta, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi truy tố hoặc buộc tội của Viện kiểm sát trước Toà án (vốn là những nét hoạt động công tố tương đồng ở Việt nam

và một số nước trên thế giới) Một số khác thì lại mở rộng phạm vi quyền công

tố được thực hiện trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự bao gồm cả điều tra, truy

tố, xét xử và thi hành án Hai là họ chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như : Lập cáo trạng và luận tội trước phiên toà sơ thẩm hình sự coi đó là thực hành quyền công tố, thậm chí có người còn cho rằng thực hành Quyền công tố chỉ là

sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, chúng tôi quan niệm quyền công tố là quyền của Nhà nước, gắn liền với bản chất từng kiểu Nhà nước và chỉ có trong

Trang 21

lĩnh vực hình sự Phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xẩy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Đối tượng tác động của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Để bảo đảm thực hành quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc

nội dung quyền công tố Các quyền năng đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà

nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội , thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố

Ở Việt nam căn cứ vào các quy định của Nhà nước ta từ năm 1960 đến nay thì Viện kiểm sát nhân dân chính thức là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền công tố và không có cơ quan nhà nước nào có thể thay thế ngành kiểm sát để sử dụng quyền công tố: bắt, giam, tha, điều tra, truy tố, xét xử có đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hay không, đó chính là việc Viện kiểm sát phải trông nom, bảo đảm cho tốt

Thực tiễn hoạt động công tố mấy chục năm qua của Viện kiểm sát các cấp cho thấy rằng 100% các vụ án hình sự đều do Viện kiểm sát truy tố và thực hiện sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên toà theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Cùng với những hoạt động đó, Viện kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật; có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của cơ quan điều tra và

Toà án: Viện kiểm sát được áp dụng “ Các biện pháp do Bộ luật tố tụng hình

sự quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội ”( Điều 13 BLTTHS

)

Thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử trước Toà án và bảo vệ buộc tội đó Nhưng để làm rõ hơn khái niệm thực hành quyền công tố cần xuất phát từ những quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Theo đó, Việc sử dụng những quyền năng này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với kẻ phạm tội chính là thực hành quyền công tố

Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi thống nhất với quan điểm được nêu trong đề tài: “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực tiễn hoạt động công tố ở Việt nam từ năm 1945 đến nay” của VKSND tối cao,

đó là “ Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng

pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử ”.[31,28]

Phạm vi thực hành quyền công tố :

Về mặt nguyên tắc, cứ có tội phạm xẩy ra là đòi hỏi quyền công tố phải được phát động Song, để có cơ sở phát động công tố quyền phải có một giai đoạn chuẩn bị để thu thập tài liệu, tin tức về tội phạm xẩy ra như : Tiếp nhận,

Trang 22

xác minh tin báo, tố giác về tội phạm, tiến hành một số hoạt động điều tra trước khi khởi tố vụ án như khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai người biết việc, lấy lời khai người bị tạm giữ v.v

Một vấn đề cũng hết sức lưu ý là không phải trong mọi trường hợp quyền công tố kéo dài đến tận khi bản án có hiệu lực pháp luật mà có có thể bị triệt tiêu ở giai đoạn tố tụng sớm hơn theo quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự Điều đó có nghĩa là không phải mọi vụ án đều được ra xét xử trước toà án Bởi vậy, khi quyền công tố bị triệt tiêu thì cũng có nghĩa là không còn việc thực hành quyền công tố

Như vậy, quan niệm quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội đã cho phép cắt nghĩa được một cách xâu chuỗi các vấn

đề cơ bản của Luật hình sự và Luật tố tụng hình sự Đồng thời đem lại ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc xem xét thực hành quyền công tố ở nhiều góc

độ khác nhau Chẳng hạn không phải cứ khởi tố là thực hành quyền công tố, và chỉ có truy tố và buộc tội mới là thực hành quyền công tố.v.v mà nội dung của thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Từ những suy nghĩ trên, chúng tôi cho rằng, phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án của toà án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của Luật TTHS

Nội dung thực hành quyền công tố :

Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người

vô tội Theo đó nội dung thực hành quyền công tố bao gồm:

Trong giai đoạn điều tra vụ án Viện kiểm sát thực hành quyền công tố bằng các hình thức sau đây:

Phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như : Bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam

Trực tiếp ra lệnh tạm giam bị can ( các Điều 63, 69, 70 Bộ luật TTHS ) Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định ( Điều 77 Bộ luật TTHS )

Bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ buộc tội bị can, làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự ( Điều 47 Bộ luật tố tụng hình sự )

Trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự VKS thực hành quyền công tố bằng các hình thức sau đây:

Công bố quyết định truy tố bị can ra Toà án bằng bản Cáo trạng

Trang 23

Quyết định của VKS liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà Thẩm vấn: Kiểm sát viên tham gia thẩm vấn để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội trạng của bị cáo mà Hội đồng xét xử chưa làm rõ hoặc bị cáo quanh co chối tội

Luận tội: Kiểm sát viên, trên cơ sở các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án đã được thẩm tra tại phiên toà và những chứng cứ qua xét hỏi của Hội đồng xét xử, đưa ra lời buộc tội của mình đối với bị cáo (bị cáo đã phạm tội, tội danh

và mức án cụ thể ); đưa ra lời phê phán hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra tác hại về mặt Chính trị- xã hội Đây là sự lên án của Nhà nước đối với người

việc bảo đảm tuân thủ pháp chế trong tố tụng hình sự

Kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu tiến hành khi các cơ quan tư pháp thực hiện chức năng theo pháp luật tố tụng hình sự đã quy định để bảo đảm các hành vi tố tụng của chủ thể hoạt động tố tụng hình sự tuân theo pháp luật Và chấm dứt khi kết thúc hoạt động tố tụng hình sự Mục đích là nhằm bảo đảm pháp chế XHCN trong TTHS

Đối với một số nước trên thế giới như ở Cộng hoà Liên bang Nga, Trung quốc, Viện kiểm sát cũng thực hiện quyền giám sát trong tố tụng hình

sự Ở Cộng hoà pháp, Viện công tố cũng có chức năng: “ Đại diện cho quyền

lợi của xã hội, của Nhà nước trước Toà án, bảo đảm cho Pháp luật được tuân thủ, những hành vi phạm tội được xét xử nghiêm minh, việc xét xử được đúng đắn ” [8,27]

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì ở nước ta kiểm sát hoạt động

tư pháp chỉ do một chủ thể tiến hành, đó là cơ quan Viện kiểm sát Hoạt động này do Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng thực hiện trên cở sở nguyên tắc

tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát được ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

Đối tượng kiểm sát hoạt động tư pháp tập trung chủ yếu vào hoạt động

áp dụng pháp luật của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động tố tụng hình sự, trước hết là cơ quan điều tra và Toà án Theo quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 các hoạt động kiểm sát tư pháp được chia thành những lĩnh vực khác nhau, gắn liền với từng giai đoạn tố tụng và tên gọi là: Công tác kiểm sát điều tra; kiểm sát xét xử; kiểm sát giam giữ cải tạo và công tác kiểm sát thi

Trang 24

hành án Mỗi công tác kiểm sát trên đây có đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ, quyền hạn riêng, nhưng đều có quan hệ mật thiết với nhau, cùng thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS Ví như công tác kiểm sát điều tra trong hoạt động tố tụng điều tra của cơ quan điều tra và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như hoạt dộng của những cơ quan, tổ chức và người tham gia tố tụng điều tra

Từ đó theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa kiểm sát hoạt động tư

pháp như sau: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực

Nhà nước do Quốc hội giao cho Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo đảm pháp chế trong tố tụng hình sự ”

Phạm vi của kiểm sát hoạt động tư pháp bắt đầu từ khi vụ án được khởi

tố, kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án

b Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự:

Trong xét xử vụ án hình sự Viện kiểm sát kiểm sát tuân theo pháp luật TTHS trong hoạt động xét xử của Toà án và của những người khác tham gia tố tụng xét xử Phạm vi của công tác này bắt đầu từ khi Toà án thụ lý hồ sơ vụ án, kết thúc khi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự được thực hiện thông qua các hình thức và biện pháp:

Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ

án cần thiết; Kiểm sát chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử (Điều 151 Khoản 2 – BLTTHS ) để giúp Toà án giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật

Kiểm sát việc ra các quyết định và giao các quyết định đó có đúng quy định của pháp luật không : Đặc biệt chú ý đến tính có căn cứ và hợp pháp đối với các quyết định tạm đình chỉ , đình chỉ vụ án; áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm các bản

xử vụ án hình sự nói riêng

Cả hai chức năng này đều thống nhất với nhau ở mục đích hoạt động, nên chúng thường xuyên tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, nhằm đáp ứng được

Trang 25

yêu cầu của tố tụng hình sự là: Chống lọt người, lọt tội, oan sai và vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Và nó đều do một chủ thể tiến hành là Viện kiểm sát thông qua Kiểm sát viên các cấp dưới sự Lãnh đạo tập trung thống nhất của Viện trưởng

Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố đều được bắt đầu từ khi khởi tố vụ án Song thời điểm kết thúc của từng chức năng

có khác nhau; kiểm sát hoạt động tư pháp kéo dài đến khi bản án hình sự được thi hành xong; Thực hành quyền công tố chấm dứt khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật

Hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt đông tư pháp trong xét xử có mối quan hệ mật thiết Kiểm sát hoạt động tư pháp tạo điều kiện cho hoạt động thực hành quyền công tố được thuận lợi hơn Hoạt động thực hành quyền công tố tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp

Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ

án hình sự không đối lập nhau mà bổ sung cho nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung: Bảo đảm cho việc xét xử tại phiên toà đúng pháp luật và người phạm tội phải bị xét xử Giữa hai chức năng trong quá trình tổ chức thực hiện có một số nội dung xâm nhập, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, vừa thuộc chức năng này, vừa thuộc chức năng kia và ngược lại Chức năng này là tiền đề cho chức năng kia và ngược lại

Các hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong xét xử

vụ án hình sự gồm có: Truy tố bị can ra trước Toà án; Công bố bản Cáo trạng

và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà thông qua Thẩm vấn, luận tội , tranh luận ; Kết luận ở phiên Toà Phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm Khi KSV có mặt tại phiên toà sơ thẩm; Phúc thẩm , Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm cùng đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử đó là giám sát tuân theo pháp luật TTHS của HĐXX cũng như của những người khác tham gia tố tụng, như kiểm sát việc chấp hành thủ tục, thời hạn xét xử

Kết thúc hoạt động xét xử của HĐXX, nếu xét thấy bản án hay quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật thì VKS thực hiện quyền kháng nghị, đó

là hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp Trên cơ sở kháng nghị của VKS lại phát sinh một trình tự xét xử mới theo các thủ tục Phúc thẩm, Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm và tại các phiên toà này KSV đọc kết luận - Đó là thực hành

quyền công tố

Thực hành quyền công tố và Kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử hình sự là hai chức năng của Viện kiểm sát nhưng chúng có quan hệ gắn bó với nhau, hỗ trợ cho nhau và cùng mục đích là bảo đảm việc xét xử đúng

Trang 26

người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm Cùng với hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử của Toà án từ quá trình chuẩn bị xét xử và ở tại phiên toà, trong quá trình chuẩn bị xét xử của Toà án, kiểm sát viên trực tiếp kiểm tra các quyết định của Toà án, nếu có vi phạm thì đề xuất Viện trưởng kiến nghị hoặc kháng

nghị đối với quyết định đó Vì vậy có thể khẳng định “ Kiểm sát tuân theo

pháp luật có hiệu quả là điều kiện đảm bảo Thực hành quyền công tố đúng đắn

và ngược lại ”

Với tinh thần đó, khi xem xét mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố

và kiểm sát hoạt động tư pháp trong quá trình thực hiện chức năng của Viện kiểm sát cần phải khắc phục những quan điểm không đúng là: Đồng nhất hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố hoặc tách rời hoạt động thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động tư pháp, không thấy được mối quan hệ, sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng trong quá trình thực hiện chức năng của Viện kiểm sát

1.2.4 Các hình thức thực hiện chức năng của VKS trong xét xử vụ án hình sự:

a Truy tố bị can trước Toà án :

Truy tố Bị can trước Toà án là một trong những hình thức thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong xét xử vụ án hình sự Theo quy định của Điều 180, Điều 191 BLTTHS và các Điều 13; 17 luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thì Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có quyền truy tố bị can

ra trước Toà án để xét xử

Để thực hiện việc truy tố, thông qua nghiên cứu hồ sơ nếu xác định có đầy

đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bị can, Kiểm sát viên phải làm quyết định truy tố bằng Bản cáo trạng Căn cứ Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự thì Cáo trạng trước hết là một văn bản áp dụng pháp luật do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện và các Kiểm sát viên giữ quyền công tố công bố tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Như vậy, Kể từ khi VKS ra quyết định truy tố và chuyển hồ sơ vụ án cùng quyết định truy tố đến Toà án thì quyền và nghĩa vụ Toà án được xác lập

Trước hết chúng tôi khẳng định rằng quyết định truy tố là hình thức thực hiện chức năng cơ bản nhất của thực hành quyền công tố là cơ sở để Kiểm sát viên giữ quyền công tố tham gia phiên toà và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà

sơ thẩm

Bản cáo trạng là văn bản pháp lý để Viện kiểm sát thực hiện quyền truy tố

bị can ra trước Toà án, đồng thời là cơ sở pháp lý để Toà án quyết định đưa vụ

án ra xét xử, bản Cáo trạng còn là cơ sở pháp lý để bị cáo, người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bản Cáo trạng phải được lập theo đúng nội dung quy định taị Điều 143 BLTTHS

Trang 27

Nội dung bản Cáo trạng phân tích và tổng hợp những tình tiết, những tài liệu chứng cứ nói lên bản chất của vụ án, nêu thời gian và địa điểm xẩy ra tội phạm, thủ đoạn, mục đích, hậu quả của tội phạm và những tình tiết liên quan khác, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, nhân thân của các bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng

Từ việc xem xét Cáo trạng ở các góc độ trên đây, có thể nêu khái niệm về bản Cáo trạng như sau :

" Cáo trạng là văn bản áp dụng pháp luật do Viện kiểm sát thực hiện

nhằm nêu ra những chứng cứ thực tế, phân tích và tổng hợp những nội dung có bản nói lên bản chất của vụ án, làm cơ sở cho việc nghiên cứu trách nhiệm hình sự, quyết định truy tố kẻ phạm tội ra trước Toà án nhân dân để xét xử theo tội danh và điều khoản được quy định trong Bộ luật hình sự ” [14, 12 ]

Từ khái niệm cho thấy bản Cáo trạng (Quyết định truy tố) là một văn bản

áp dụng pháp luật, Cáo trạng có nội dung tổng hợp những vấn đề, những chứng

cứ, những tình tiết tạo nên bản chất của bản cáo trạng, thể hiện những nét cơ bản của nội dung vụ án làm cơ sở cho việc truy tố bị can ra trước Toà án nhân dân để xét xử theo pháp luật

Bản Cáo trạng gồm các nội dung sau : [7, 307]

Thời gian, địa điểm phạm tội của bị can: Đây là những tình tiết bắt buộc phải được chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Việc xác định

rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm thực hiện tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng, nó đảm bảo cho việc phản ánh diễn biến thực tế của vụ án có căn cứ và khách quan

Các tình tiết, diễn biến của hành vi phạm tội tập trung làm rõ những hành

vi cụ thể của bị can, phương pháp, thủ đoạn và hậu quả của tội phạm; Xác định lỗi, động cơ, mục đích phạm tội Hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; Các chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với bị can; Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can

Phần kết luận của bản Cáo trạng phải xác định: Bị can hoặc những bị can

đã phạm tội gì, ở đâu vào thời điểm nào; Lý lịch tư pháp của bị can; Hành vi phạm tội của bị can và đồng bọn (nếu có) đã phạm vào điều khoản nào của Bộ luật hình sự và quyết định truy tố phải ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng

Vai trò của Quyết định truy tố trong thực hiện chức năng của Viện kiểm sát

Theo Điều 138 và Điều 142 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, nếu xét thấy có đủ cơ sở, Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định truy tố bị can bằng bản cáo trạng Như vậy, Cáo trạng là một trong những quyết định bắt buộc, có vị trí, vai trò rất quan trọng

Trang 28

đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự Hay nói cách khác là xác định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (Cơ quan lập Cáo trạng) trong xét xử vụ án hình

sự Tính chất quan trọng thể hiện trên các phương diện sau đây:

Sau khi kết thúc điều tra thì bản Cáo trạng là văn bản tổng hợp đầy đủ về những diễn biến của hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra và

về các tình tiết, chứng cứ nói lên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa xác định sự thật của vụ án

Về vai trò của bản Cáo trạng chúng tôi đồng ý với quan điểm của tiến sỹ

luật học Nguyễn Thái Phúc cho rằng: “ Cáo trạng do VKS truy tố bị can trước

Toà án không chỉ là lý do hình thức của xét xử sơ thẩm, mà còn là đối tượng trung tâm chi phối hoạt động diễn ra trong giai đoạn này ” [ 29, 28 ]

Cáo trạng xác định giới hạn của việc xét xử

Điều 170 BLTTHS quy định :" Toà án chỉ xét xử những Bị cáo và những

hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Toà án đã quyết định đưa ra xét xử "

Như vậy, các Toà án không có quyền xét xử những người và hành vi chưa được VKS truy tố Trước khi mở phiên toà, nếu xét thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét xử Bị cáo theo tội danh khác nặng hơn, thì Toá án trả hồ sơ để VKS điều tra bổ sung và thay đổi bản Cáo trạng Trong thường hợp qua xét xử tại phiên toà mới phát hiện được tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Toà án ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho VKS điều tra

bổ sung Trường hợp Toà án đề nghị VKS thay đổi tội danh nặng hơn và đã trao đổi mà VKS không nhất trí thì cả hai bên phải báo cáo ngay với cấp trên của mình Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cần trao đổi ngay để nếu thống nhất

ý kiến thì hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Toà án cấp dưới phải xét xử theo tội danh mà VKS đã truy tố, không được tuyên là Bị cáo không phạm tội mà VKS đã truy tố, nếu xét thấy cần xét xử Bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS đã truy tố hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà VKS đã đề nghị, thì Toà án

không phải báo trước cho VKS và những người tham gia tố tụng

Bên cạnh đó Cáo trạng còn là cơ sở để bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên toà thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ.Và cuối cùng việc trình bày bản cáo trạng tại phiên toà sơ thẩm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc mở đầu chức năng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự

Với vai trò như trên, nếu khi xây dựng cáo trạng, một vấn đề mang tính nguyên tắc là phải xác định những căn cứ làm phát sinh cáo trạng Cáo trạng đưa ra dựa trên những quy định của các văn bản pháp luật nào? Căn cứ vào các quyết định tố tụng nào? Đó là các quyết định tố tụng liên quan đối với vụ án hình sự như: Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, phục hồi điều tra, kết luận điều tra v.v

Trang 29

Bên cạnh hình thức thực hiện chức năng truy tố Bị can ra trước Toà án

để xét xử Bộ luật TTHS quy định thẩm quyền rút quyết định truy tố cho VKS

Điều 156 Bộ luật TTHS quy định: “ Nếu xét thấy có những căn cứ quy

định tại Điều 98 Bộ luật này hoặc khi có căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, VKS rút quyết định truy tố trước lhi mở phiên Toà và đề nghị Toà đình chỉ vụ án”

Theo chúng tôi hiểu tinh thần của Điều luật này là ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát chỉ có quyền rút toàn bộ quyết định truy tố mà không có quyền rút một phần quyết định truy tố Bởi lẽ việc rút quyết định truy tố trong điều luật này dẫn đến Toà đình chỉ vụ án

Tuy nhiên, Thông tư Liên ngành số 01/LN ngày 08/12/1998 của Toà án Nhân dân Tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao tại điểm 1 mục 3 thì đã phản ánh rõ hơn: “ Trước khi mở phiên toà, nếu Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án, nếu rút một phần thì HĐXX chỉ xét xử phần không bị rút truy tố ”

Như vậy theo tinh thần của Thông tư Liên ngành nêu trên các trường hợp rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát ở giai đoạn chuẩn bị xét xử giống như tại phiên toà sơ thẩm đó là:

Rút một phần quyết định truy tố

Rút toàn bộ quyết định truy tố

Khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì HĐXX đình chỉ vụ

án Còn khi rút một phần quyết định truy tố thì HĐXX chỉ xét xử phần không

bị rút quyết định truy tố

Hiện nay còn vấn đề có nhiều nhận thức khác nhau đó là: Thế nào là rút một phần Quyết định truy tố? vấn đề này có thể dựa trên công văn 328/NCPL ngày22/6/1993 của Toà án Nhân dân Tối cao về việc rút quyết định truy tố Công văn này dựa trên sự thống nhất của Viện kiểm sát Tối cao tại công văn số 869/VKH ngày 14/6/1993 của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao thì rút một phần

quyết định truy tố tại phiên toà là: “ Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối

với một tội hoặc một số tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với một tội khác hay Kiểm sát viên chỉ rút quyết định truy tố đối với một hoặc một số bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo hoặc các bị cáo còn lại”

Trang 30

Việc giải thích như vậy theo chúng tôi là chưa đầy đủ, chưa bao hàm hết bởi lẽ trong trường hợp rút một số hành vi của một tội mà Viện kiểm sát đã truy

tố

Chúng tôi thấy quy định của Điều 156 BLTTHS và thông tư liên ngành

số 01, hướng dẫn số 328/NCPL nêu trên là chưa cụ thể rõ ràng Vì vậy chúng tôi đề nghị sửa đổi các quy định của Bộ luật TTHS về quyền hạn rút quyết định truy tố của Viện kiểm sát ở quá trình chuẩn bị xét xử cho thật cụ thể rõ ràng hơn với tinh thần là ở quá trình này Viện kiểm sát có quyền quyết định rút toàn

bộ, một phần quyết định truy tố Khi Viện kiểm sát thực hiện rút quyết định truy tố hoặc thay đổi quyết định truy tố thì vấn đề giải quyết đối với từng trường hợp đó cần được quy định cụ thể Ví dụ như đã quy định khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố thì HĐXX đình chỉ vụ án Mặt khác cũng cần quy định đầy đủ hơn nữa trường hợp rút một phần quyết định truy tố

Các Toà án không có quyền xét xử những người và hành vi chưa được Viện kiểm sát truy tố Trước khi mở phiên toà, nếu thấy cần phải truy tố thêm người, thêm tội hoặc cần xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn, thì Toà án trả hồ sơ để Viện kiểm sát điều tra bổ sung và thay đổi cáo trạng Trường hợp qua xét xử tại phiên toà mới phát hiện được tội phạm mới hoặc người phạm tội mới thì Toà án ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát

để điều tra bổ sung Trường hợp Toà án đề nghị Viện kiểm sát đổi tội danh nặng hơn và đã trao đổi mà Viện kiểm sát không nhất trí thì cả hai bên đều phải báo cáo ngay với cấp trên của mình Thủ trưởng hai cơ quan cấp trên cần trao đổi ngay để nếu thống nhất ý kiến thì hướng dẫn cấp dưới thi hành, nếu vẫn không thống nhất ý kiến thì Toà án cấp dưới phải xét xử theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, không được tuyên là “bị cáo không phạm tội mà Viện kiểm sát đã truy tố” Nếu xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, hoặc áp dụng khung hình phạt nhẹ hơn khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị, thì toà án không phải báo trước cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng

b Tham gia phiên toà và bảo vệ sự buộc tội trước phiên toà sơ thẩm :

Tại phiên toà sơ thẩm hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát trước tiên là công bố bản Cáo trạng, nội dung tiếp theo chứng minh tội phạm một cách công khai trước phiên toà và tranh luận trước phiên toà mục đích là bảo vệ sự buộc tội, chính là bảo vệ quyết định truy

tố - Bản cáo trạng

Sự buộc tội tại phiên toà do Kiểm sát viên và người bị hại thực hiện Nội dung của việc buộc tội này chủ yêú là bảo vệ Cáo trạng đã truy tố và chứng minh lỗi của bị cáo, điều này được thể hiện qua ba nội dung:

Buộc bị cáo về một tội danh cụ thể

Đưa ra những chứng cứ chứng minh tội phạm

Thuyết phục HĐXX , bác bỏ lời bào chữa không có căn cứ

Trang 31

Trong các hình thức buộc tội: Buộc tội do kiểm sát viên thực hiện và buộc tội do người bị hại thực hiện có vai trò khác nhau, trong đó hình thức buộc tội

do KSV thực hiện chiếm vị trí chủ đạo, vai trò quan trọng nhất Do Kiểm sát viên đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, khi phát hiện hành vi phạm tội phải có trách nhiệm đưa vi phạm đó ra trước cơ

quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét nên hình thức này gọi là “ Buộc tội

nhân danh Nhà nước” [15, 4] Để thực hiện sự buộc tội của mình tại phiên toà,

BLTTHS Việt Nam quy định Kiểm sát viên có các quyền và trách nhiệm như : Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) (Điều 180 - BLTTHS), trực tiếp tham gia vào quá trình xét hỏi (Thẩm vấn) (Điều 181- BLTTHS) Tham gia với tư cách là một bên của tranh tụng hình sự, tranh luận tại phiên toà để buộc tội (quy lỗi) bị cáo (Điều 191, 192 BLTTHS)

Lúc này vai trò của Viện kiểm sát thông qua Kiểm sát viên tham gia xét

xử thể hiện một cách rõ nét : Thực hiện chức năng buộc tội bảo vệ cáo trạng đã truy tố Để thực hiện đầy đủ chức năng, khẳng định vai trò trong xét xử vụ án hình sự tại phiên toà Kiểm sát viên thực hiện bằng các phương thức: Thẩm vấn, luận tội và tranh luận :

Thẩm vấn:

Kiểm sát viên giữ quyền Công tố Nhà nước tại phiên toà tham gia thẩm vấn nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chứng minh những nội dung được đề cập trong bản cáo trạng Từ đó tạo cơ sở cho việc kết tội bị cáo Mặt khác, gián tiếp cho Hội đồng xét xử và luật sư bào chữa cho bị cáo biết nội dung truy tố của mình là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Mở đầu phần xét hỏi KSV công bố bảo Cáo trạng sau đó tham gia xét hỏi

Thẩm vấn để tìm ra sự thật khách quan Mọi sự áp đặt bất cứ dưới hình thức nào đều không phải là phương tiện tố tụng để đi đến mục đích ấy, Mớm cung, bức cung, truy chụp đều đối lập với mục đích thẩm vấn Nó chỉ đem lại kết quả giả tạo và đánh lừa chúng ta Chỉ có bình tĩnh giáo dục, thuyết phục đưa những lời lẽ gợi mở bị cáo khai đúng sự thật khách quan mới đánh giá đúng tính chất vụ án, vai trò trách nhiệm từng tên và do đó đạt được kết quả mong muốn

Đặc trưng cơ bản của phiên toà là có hai bên tranh luận với nhau để xác định sự thật và căn cứ vào đó mà Toà án quyết định Như vậy, Kiểm sát viên thực hiện chức năng buộc tội Người bị hại, nguyên đơn dân sự và đại diện của họ cũng có hoạt động tố tụng theo cùng hướng với Kiểm sát viên Nên họ cùng đứng về phía buộc tội Bị cáo và người bào chữa có quyền bào chữa Tức

là bảo vệ quyền tố tụng và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Đối chiếu các nước theo hệ thống pháp luật Anh- Mỹ, Toà án không có nghĩa vụ chứng minh, chỉ trên cơ sở chứng minh của cơ quan công tố mà quyết định, chứ không trực tiếp thực hiện chức năng của cơ quan công tố Còn bị cáo thường che dấu tội phạm Lại không có nghĩa vụ chứng minh mình là vô tội

Trang 32

Thực tế, hiện nay xung quanh hoạt động thẩm vấn tại phiên Toà có nhiều

ý kiến khác nhau, tựu chung lại có 2 loại ý kiến lớn :

Ý kiến thứ nhất: Đồng ý như Bộ luật tố tụng hình sự nước ta, nghĩa là giai

đoạn thẩm vấn, Hội đồng xét xử thẩm vấn là chính còn Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố là phụ [ 25, 48 ]

Ý kiến thứ 2: Quyết định truy tố bằng bản cáo trạng để buộc tội bị cáo là

của Viện kiểm sát cho nên hoạt động thẩm vấn chính phải do Kiểm sát viên

đảm trách, nhằm "bảo vệ" sự buộc tội của mình đối với bị cáo trước phiên toà

và Hội đồng xét xử chỉ là trọng tài ngồi nghe và quyết định bằng bản án [ 37, 20-25 ]

Theo chúng tôi, nên giao việc xét hỏi tại phiên toà cho Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, vì như vậy HĐXX mới có điều kiện nghe khai báo, kiểm tra xem xét, đánh giá chứng cứ và cân nhắc quyết định bằng bản án được chính xác Mặt khác, đề cao vai trò của KSV thực hành quyền công tố với đúng nghĩa: Bảo vệ cáo trạng và chứng minh việc buộc tội của mình là có căn cứ và hợp pháp, trả lại cho Toà án thực hiện đúng chức năng xét xử vụ án

Để phát huy được vai trò của Kiểm sát viên thì trong thẩm vấn trước hết Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ Nếu Kiểm sát viên đọc không kỹ và phân tích thấu đáo những tài liệu có trong hồ sơ sẽ dẫn đến thẩm vấn chung chung, hỏi không sâu tình tiết hành vi phạm tội của bị cáo

Cần xây dựng kế hoạch thấm vấn trước, kế hoạch nêu tỷ mỉ và kế hoạch này phải có sự điều chỉnh, bổ sung theo sự thay đổi do diễn biến tại phiên toà Kiểm sát viên chủ động thẩm vấn một cách nghiêm túc, khoa học Muốn vậy cần có kế hoạch thẩm vấn chu đáo, linh hoạt

Thẩm vấn thông qua xét hỏi là một trong những hình thức góp phần làm sáng tỏ sự thật vụ án, làm tiền đề cho việc luận tội và tranh luận tại phiên toà

Luận tội:

Hiện nay chưa có khái niệm chính thống về khái niệm thế nào là luận tội

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng " Luận tội là lời buộc tội của KSV thực

hành quyền công tố tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo sau khi kết thúc phần thẩm vấn " [ 14, 36 ]

Đối với pháp luật chúng ta luận tội không chỉ là lời buộc tội đối với bị cáo một cách đơn thuần, mà còn có nhiệm vụ thông qua luận tội góp phần, đấu tranh phòng và chống tội phạm, tuyên truyền giáo dục pháp luật

Theo Điều 191 BLTTHS năm 1988 thì : " Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại

phiên toà, kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn

bộ hay một phần nội dung cáo trạng, hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn, nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội ”

Trang 33

Trong BLTTHS ; Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, cũng như các tài liệu hướng dẫn, giảng dạy không nêu khái niệm thế nào là luận tội, nhưng qua nghiên cứu các khía cạnh trên đây và thực tiễn công tác luận tội của KSV tại phiên toà xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự chúng tôi có đưa ra khái niệm về

luận tội của KSV như sau : " Luận tội là quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm

sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước phát biểu tại phiên toà xét xử sơ thẩm hình sự về việc đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, hậu quả nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra; Vai trò trách nhiệm và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS

Từ đó đề xuất đường lối xử lý "

Xuất phát từ khái niệm, nội dung bản luận tội phải đạt được:

- Khẳng định một lần nữa sự buộc tội , qua đó thuyết phục HĐXX chấp nhận sự buộc tội của mình, đề nghị mức án để HĐXX xem xét, quyết định;

- Kết luận về một tội danh khác hoặc khung hình phạt khác nhẹ hơn;

- Rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố

Ở thời điểm này, sự buộc tội của KSV được thể hiện một cách rõ nét sau khi kết thúc phần thẩm vấn – cuộc điều tra chính thức công khai tại phiên toà Vấn đề đặt ra cần phải làm sáng tỏ là khi KSV trình bày lời luận tội đề nghị chuyển sang khung hình phạt hoặc tội danh nhẹ hơn hoặc rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thì Kiểm sát viên đang thuực hiện chức năng buộc tội hay bào chữa? Hiện nay xung quanh vấn đề đang có quan điểm khác nhau

Có quan điểm cho rằng lúc này KSV không còn thực hiện chức năng buộc tội Theo chúng tôi, để trả lời chính xác cần xem xét vấn đề:

Cơ sở nào cho phép Kiểm sát viên tại phiên Toà có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố?

Chúng ta biết rằng quyết định truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng là khi Kiểm sát viên (Viện trưởng) đã có niềm tin về lỗi của bị can, là kết quả đánh giá toàn bộ chứng cứ thu thập được trước khi mở phiên toà, nói về sự kiện phạm tội xẩy ra và việc liên quan của bị can Tuy nhiên, nội tâm này là kết quả nhận thức tại thời điểm chưa qua xét xử tại phiên Toà Mặt khác niềm tin nội tâm này không phải là bất biến mà hoàn toàn có thể bị thay đổi, thậm chí thay đổi cơ bản dưới tác động của nhiều yếu tố trong quá trình xét xử, bên cạnh

đó phiên toà xét xử công khai có những điều kiện, hình thức xem xét, kiểm tra đánh giá chứng cứ khác hẳn với giai đoạn truy tố, chưa nói đến việc bên bào chữa và HĐXX có quyền đề xuất thêm những chứng cứ mới Tất cả những điều này buộc Kiểm sát viên phải xem xét lại nhận thức chủ quan của mình và được BLTTHS quy định cho Kiểm sát viên được rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố theo Điều 191 BLTTHS Do đó, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của Kiểm sát viên

Vì vậy, Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng trong trường hợp này

KSV tiếp tục thực hiện chức năng buộc tội nhân danh Nhà nước Bởi lẽ trong

Trang 34

toàn bộ diễn biến tại phiên toà, hoạt động của KSV phải phản ánh kịp thời mọi thay đổi xẩy ra, đảm bảo cho các kết luận nhận định của KSV đều dựa trên các

cơ sở khách quan vững chắc, chỉ có khác là KSV phải lập luận về sự đúng đắn,

có căn cứ cho quyết định rút toàn bộ hoặc một phần quyết định truy tố hoặc chuyển sang tội danh khác hay khung hình phạt nhẹ hơn

Vai trò luận tội trong việc thực hiện chức năng của Viện kiểm sát:

Luận tội là một biện pháp pháp lý có vị trí, vai trò rất quan trọng trong TTHS và trong hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát Đó là một trong những hoạt động cơ bản của quá trình thực hiện chức năng và khẳng định vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Cụ thể vai trò luận tội thể hiện trên các khía cạnh sau đây :

Luận tội do cơ quan duy nhất là Viện kiểm sát nhân dân được Nhà nước giao trách nhiệm thực hành quyền công tố thực hiện, là quan điểm của Viện kiểm sát phát biểu tại phiên toà sơ thẩm hình sự, nhằm khẳng định và tổng hợp những tài liệu chứng cứ đã được nêu trong cáo trạng, trong hồ sơ vụ án và những tài liệu chứng cứ khác đã được kiểm tra tại phiên toà

Luận tội thể hiện vai trò của KSV đại diện VKS giữ quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự một cách rõ nét Bởi luận tội nhằm khẳng định vai trò, cũng như có tiếp tục hay không tiếp tục công việc buộc tội của VKS đối với bị cáo Và từ đó sẽ thực hiện một công việc quan trọng: Tranh luận với bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo và các tư cách tố tụng tham gia xét xử có liên quan

Luận tội có vai trò quan trọng trong việc vạch trần âm mưu thủ đoạn phạm tội, tác hại và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, xác định những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm Bên cạnh đó có tác dụng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong quần chúng nhân dân, động viên nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

Trên cơ sở luận tội để bị cáo, người bào chữa bị cáo v.v trình bày ý kiến tranh luận để bảo vệ quyền lợi của các đương sự

Luận tội thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về mức hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo trong vụ án, từ đó giúp cho Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo được khách quan toàn diện và hợp pháp

Luận tội còn có vai trò quan trọng trong việc xác định những thiếu sót, sơ

hở trong công tác quản lý Nhà nước, đồng thời nêu các biện pháp và những yêu cầu cần thiết để khắc phục những sơ hở thiếu sót đó

Phần tranh luận:

Tranh luận được đánh giá là hoạt động trung tâm của quá trình xét xử tại phiên toà Tranh luận tại phiên toà thể hiện ở việc những người tham gia tố tụng với chức năng bào chữa được phát biểu ý kiến, góp phần vào việc phân tích, đánh giá hành vi phạm tội một cách toàn diện và trên cơ sở đó đề nghị

Trang 35

những biện pháp xử lý phù hợp với luật hình sự Phần tranh luận diễn ra sau KSV trình bày lời luận tội

Việc tranh luận diễn ra giữa kiểm sát viên thực hành quyền công tố với bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo, người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho bị cáo

Để phát huy được phần tranh luận có hiệu quả thì trước hết trong luận tội kiểm sát viên phải kết luận theo đúng quy định của Bộ Luật hình sự và Bộ Luật tố tụng hình sự

Bảo đảm quyền bào chữa và quyền tham gia tố tụng cho bị cáo, người bào chữa là một trong những yêu cầu lớn của hoạt động tố tụng hình sự Nó có ý nghĩa quan trọng là góp phần đảm bảo cho việc xét xử được chính xác Từ đó

để cho bị can thực hiện quyền bào chữa của mình một cách tốt nhất thì các quyền của họ phải đươc đảm bảo triệt để chấp hành như các quyền: Nhận cáo trạng; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành

tố tụng; Bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ …( Điều 20, 34 và khoản 2 Điều

36 BLTTHS )

Tranh luận diễn ra một bên, Kiểm sát viên là người buộc tội, một bên là

người gỡ tội Còn HĐXX là “ Trọng tài ” xem xét giải quyết vụ án và ra bản

án Nói một cách khác Kiểm sát viên và bị cáo là hai bên tranh luận, mỗi bên đều được đưa ra chững cứ và quan điểm của mình về vụ án Trong quá trình tranh luận bị cáo có quyền đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận phản bác ý kiến quan điểm của Kiểm sát viên thể hiện trong bản luân tội Họ có quyền bình đẳng trước Toà án Mọi vấn đề của bị cáo đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu, tranh luận thì Kiểm sát viên phải đáp ứng đầy đủ

Như vậy, BLTTHS quy định khi tham gia phiên Toà, Kiểm sát viên và bên bào chữa (bị cáo, người bào chữa cho bị cáo) bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án

Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này

Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định của BLTTHS , Kiểm sát viên

và bên bào chữa ( bị cáo, người bào chữa cho bị cáo ) có địa vị pháp lý khác nhau và không bình đẳng Khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng, còn Bị cáo, người bào chữa cho Bị cáo là người tham gia tố tụng, giữa hai chủ thể đó chỉ có sự bình đẳng đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án

Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền bình đẳng giữa các bên trước Toà án cần được hiểu là quyền bình đẳng về mặt tố tụng chứ không phải bình đẳng về quyền và nghĩa vụ bên buộc tội và bên bào chữa vì đều là người tham gia phiên Toà

Chúng tôi đồng ý với ý kiến thứ nhất rằng theo quy định của BLTTHS hiện nay, địa vị pháp lý không có sự bình đẳng, mà chỉ bình đẳng trong việc hai bên có quyền đưa ra chứng cứ và yêu cầu trong tranh luận bởi lẽ, Tại phiên Toà xét xử các vụ án hình sự với tư cách là người tiến hành tố tụng, nhiệm vụ

Trang 36

chủ yếu của Kiểm sát viên là tiếp tục bảo vệ đường lối truy tố thông qua lời luận tội và đề nghị áp dụng hình phạt hoặc trên cơ sở kết luận về vụ án đánh giá lại các chứng cứ để quyết định thay đổi, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố Đây là quyền và nghĩa vụ của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên Toà, mà không chủ thể tham gia phiên toà nào có được, đồng thời đó cũng là cơ sở làm phát sinh thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng của các chủ thể khác, kể cả HĐXX

Tuy nhiên, nói như trên không có nghĩa là không có sự bình đẳng giữa Kiểm sát viên và bên bào chữa Hai bên trong tranh luận đều bình đẳng trong việc đối đáp, đưa ra chứng cứ yêu cầu, dẫn chứng và vạch ra những mâu thuẫn trong tranh luận của bên kia để chứng minh lời buộc tội hay bào chữa của mình

có căn cứ pháp lý Việc xác định quyền bình đẳng của Kiểm sát viên và bị cáo trước phiên toà không có nghĩa là đăt vị trí của Kiểm sát ngang hàng với bị cáo, dẫn đến tình trạng không tôn trọng Kiểm sát viên Cần nhận thức rằng đây là quyền bình đẳng trong việc sử dụng quyền tố tụng, nó không gắn với địa vị xã hội Bởi vì với tư cách là người giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án và thực hành quyền công tố, Kiểm sát viên có quyền và

vị trí tố tụng mà những người tham gia tố tụng khác không có được

Theo chúng tôi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố Nhà nước trước phiên toà thể hiện tính uy quyền – thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo là cần thiết Tuy nhiên, không nên lạm dụng hoặc hiểu sai vai trò và nhiệm vụ của mình tại phiên toà Thực tiễn xét xử cho thấy, kết quả thuyết phục HĐXX ; Những người tham dự phiên toà kể cả bị cáo và luật sư bào chữa cho bị cáo không phải

ở tính uy nghi doạ nạt, lạm quyền, mà ở tài thuyết phục, khả năng hướng dẫn, chỉ ra những sai phạm cho bị cáo biết và chấp nhận

Trong tranh luận, vai trò của Kiểm sát viên giữ quyền công tố được đề cao hơn tất cả các hoạt động trước đó và chiếm số một Bởi lẽ, hoạt động này Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đại diện cho Nhà nước chứng minh cho HĐXX biết việc truy tố bị cáo ra trước Toà án là có căn cứ và hợp pháp Mặt khác Kiểm sát viên phải bảo vệ cáo trạng mà VKS đã truy tố trước toà án để xét xử, tiếp tục khẳng định quan điểm của mình là đúng Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đại diện cho bên tranh luận – buộc tội, có nhiệm vụ bác bỏ những lời bào chữa của bị cáo, của người bào chữa cho bị cáo Thực tiễn cho thấy, nếu vụ án nào có tranh luận sôi nổi, trên tinh thần hiểu biết và tôn trong lẫn nhau, trên cơ sở pháp luật thì mới tìm ra nhiều vấn đề có giá trị để chứng minh cho sự thật khách quan, đảm bảo chân lý Ngược lại cách hiểu một chiều, lập luận một chiều, suy nghĩ một chiều sẽ dẫn đến nhận thức phiến diện, chủ quan và dẫn đến sai lầm Từ đó oan sai xẩy ra

Trong qúa trình tranh luận HĐXX phải là một “ Trọng tài ” Việc xác

định không chính xác chức năng của Toà án trong tranh luận sẽ làm mất đi vai trò của người trọng tài đứng giữa hai bên để phân xử, đồng thời biến thành Kiểm sát viên hoặc Luật sư bào chữa thứ hai trong tranh luận Điều đó làm mất

Trang 37

đi tính bình đẳng trong tranh luận Hậu quả cuối cùng là dẫn đến làm sai lệch

sự thật khách quan của vụ án

Như vậy, tranh luận là hoạt động trọng tâm của quá trình xét xử vụ án Trong đó, vai trò thực hành quyền công tố của KSV rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc bảo vệ thành công hay không quan điểm của VKS được KSV thực hành quyền công tố trình bày trong bản luận tội

Tham gia phiên toà của Kiểm sát viên, ngoài thực hiện chức năng thực hành quyền công tố thì còn thực hiện chức năng Kiểm sát hoạt động xét xử Đây là chức năng quan trọng, bởi lẽ nó có ý nghĩa trong việc bảo đảm tuân thủ pháp chế trong TTHS

Như chúng ta đã biết, Toà án nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử, hoạt động của Toà án cũng như bất cứ cơ quan nào đều phải tuân theo pháp luật và có sự giám sát việc tuân theo pháp luật Do đó, nhằm bảo đảm cho việc xét xử tuân theo pháp luật, chức năng giám sát được giao cho VKS thực hiện và phải giám sát việc chấp hành pháp luật trong xét xử là tất yếu

Với chức năng kiểm sát hoạt động xét xử, VKS kiểm sát việc chấp hành các quy định của pháp luật Tố tụng hình sự ngay từ quá trình chuẩn bị xét xử của Toà án và tại phiên toà

Ở quá trình chuẩn bị xét xử của Toà án VKS trước tiên kiểm sát việc chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, mục đích là giúp cho việc giải quyết vụ án được nhanh chóng, đúng pháp luật Đồng thời phải kiểm tra việc ra các quyết định sơ thẩm của Toà án và việc giao các quyết định đó theo đúng quy định của BLTTHS Đặc biệt chú ý đến tính có căn cứ và hợp pháp đối với các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử Đối với quyết định đình chỉ và tạm đình chỉ thì hoạt động kiểm sát tuân theo pháp luật

là kiểm sát các căn cứ mà Toà án ghi trong quyết định có đúng quy định của luật hay không; Kiểm sát việc chấp hành quy định về nội dung quyết định đưa

vụ án ra xét xử của Thẩm phán theo BLTTHS

Bên cạnh đó, VKS phải kiểm sát việc chấp hành thời hạn giao các quyết định trên Khi phát hiện có vi phạm thì tuỳ mức độ vi phạm VKS có thể kiến nghị Toà án khắc phục ngay hoặc kháng nghị đối với bản án, quyết định đó theo trình tự phúc thẩm

Tại phiên toà thực hiện chức năng kiểm sát xét xử của VKS được thông qua KSV tham gia phiên toà, trực tiếp giám sát việc xét xử của HĐXX như chấp hành thành phần tham gia xét xử; trình tự xét xử; giới hạn xét xử v.v Tóm lại, tham gia phiên toà và buộc tội tại phiên toà sơ thẩm là một trong những hình thức thực hiện chức năng của VKS Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia xét xử với nhiệm vụ chủ yếu là buộc tội đối với bị cáo, chứng minh việc truy tố của mình theo trình tự tố tụng tại phiên toà Tuy nhiên, thể hiện rõ nét nhất cho hoạt động chứng minh là quá trình tranh luận Đây là hoạt động trung tâm của của xét xử vụ án Giải quyết vấn đề bình đẳng trên cơ sở pháp

Trang 38

luật và nâng cao vai trò bào chữa của bị cáo cũng như luật sư bào chữa cho bị cáo là một vấn đề lớn cần được quan tâm Việc xác lập địa vị tố tụng của bên bào chữa hoàn thiện sẽ giúp KSV thực hành quyền công tố và HĐXX tìm ra sự

thật khách quan của vụ án thuận lợi hơn

c Kháng nghị bản án, quyết định của Toà án :

Kháng nghị bản án, quyết định của Toà án là hình thức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong xét xử vụ án hình sự

Theo từ điển tiếng Việt – Uỷ ban khoa học xã hội – 1985, thì: “ Kháng

nghị là bày tỏ bằng văn bản chính thức ý kiến phản đối ”

Theo từ điển luật học, nhà xuất bản từ điển Bách khoa, Hà nội 1999 thì:

“ Kháng nghị là việc người có thẩm quyền bằng văn bản của mình gửi đến

toà án có thẩm quyền, làm ngừng hiệu lực phán quyết của Toà án trong bản án hoặc quyết định để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đối thẩm hoặc Tái thẩm nhằm làm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan và đúng pháp luật ”

Kháng nghị gồm có kháng nghị phúc thẩm, giám đốc thẩm và kháng nghị tái thẩm Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được quy định tại các Điều

206, 207, 208, 210, 211, 212, 213 –Bộ luật TTHS Kháng nghị theo thủ tục giám đối thẩm được quy định tại các Điều 242, 244, 245, 246, 247 Bộ luật TTHS Kháng nghị theo thủ tục tái thẩm được quy định tại các Điều 261, 263,

264, và Điều 265 Bộ luật TTHS

Đối tượng kháng nghị là Bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật đối với kháng nghị phúc thẩm Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đối với giám đối thẩm, và tái thẩm

Căn cứ quy định BLTTHS về thẩm quyền kháng nghị, thì VKS là cơ quan có quyền kháng nghị ở tất cả các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái

thẩm Kháng nghị của VKS được hiểu: “ là văn bản pháp lý thể hiện ý kiến

phản đối của VKS về những vấn đề mà Toà án đã phán quyết trong Bản án hoặc trong các quyết định của Toà án, nhằm đảm bảo cho Bản án và quyết định của Toà án có căn cứ và đúng pháp luật ”

Kháng nghị của VKS không những là quyền mà còn là hình thức thực hiện chức năng Kiểm sát hoạt động Tư pháp vì đối tượng của các quyết định kháng nghị là các bản án và quyết định vi phạm pháp luật Kháng nghị thể hiện vai trò, trách nhiệm của VKS đối với việc bảo vệ pháp chế trong xét xử vụ án hình sự, kháng nghị nhằm yêu cầu Toà án trên một cấp xem xét lại bản án, quyết định mà theo VKS bản án, quyết định đó không có căn cứ hoặc trái pháp luật Kháng nghị của VKS là cơ sở pháp lý cho toà án có thẩm quyền xét xử theo các thủ tục: Phúc thẩm, Giám đốc thẩm và Tái thẩm Từ đó yêu cầu của kháng nghị phải đạt được là :

- Xác định chính xác những vi phạm pháp luật của bản án hoặc quyết định làm căn cứ để kháng nghị

Trang 39

- Đề xuất cụ thể, chính xác đường lối giải quyết vụ án theo đúng pháp luật và hình thức của kháng nghị phải theo mẫu hướng dẫn

Các thủ tục kháng nghị gồm có:

Kháng nghị của VKS theo thủ tục phúc thẩm

Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp kháng nghị những bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm cấp huyện chưa có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có vi phạm pháp luật

Các Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện kháng nghị đối với bản án

và ác quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của cấp tỉnh

sơ thẩm có vi phạm mang lại

Để phát huy được kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm VKS phải thực hiện tốt các công tác sau đây:

Kiểm tra các bản án, quyết định là kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm Tính có căn cứ là kết luận trong bản án phải phù hợp với sự thật khách quan của vụ án, tức là hành vi phạm tội củ bị cáo có xảy ra trong thực tế, có đủ các yếu tố cấu thành phạm tội, được chứng minh ró ràng bằng các chứng cứ khách quan Tính hợp pháp là bản án hoặc quyết định

đó phải phù hợp với những quy định của BLHS về mặt nội dung và những quy định của BLTTHS về mặt hình thức

Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ phải nắm vững các căn cứ Pháp luật hình sự và Tố tụng hình sự, các nguyên tắc đánh giá chứng cứ để đối chiếu vào từng hoạt động cụ thể của Toà án, từng nội dung của bản án để phát hiện những

Vi phạm pháp luật của Toà án, để làm căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm

Kháng nghị của VKS theo thủ tục giám đốc thẩm:

Kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là hành vi tố tụng quan trọng của VKS thể hiện công tác kiểm sát tính hợp pháp và căn cứ của các bản án và quyết định của Toà án đã có HLPL Đây là một trong các hình thức thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp Bởi vì, nếu bản án, quyết định đã có

Trang 40

hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm mà không được kháng nghị để cải sửa thành bản án, quyết định có căn cứ và hợp pháp thì sẽ không bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, không bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, và quyền lợi hợp pháp của đương sự

Kháng nghị theo thủ tục Giám đốc thẩm là thực hiện quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát để yêu cầu Toà án có thẩm quyền đưa vụ án ra xét xử giám đốc thẩm nhằm khắc phục những vi phạm pháp luật của các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật Điều đó có nghĩa kháng nghị giám đốc thẩm là văn bản tố tụng và là căn cứ pháp lý làm phát sinh thủ tục xét xử giám đốc thẩm

Đối với Viện kiểm sát thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm quy định tại Điều 224 BLTTHS Nội dung kháng nghị giám đốc thẩm đó là theo các nội dung quy định tại điều 242 BLTTHS Để kháng nghị có sức thuyết phục cao thì việc phân tích các tình tiết, chứng cứ của vụ án và căn cứ pháp luật để làm

rõ vi phạm của bản án hoặc quyết định đã có hiệu lục pháp luật và hậu quả của các vi phạm đó là rất cần thiết

Thực tiễn cho thấy việc xác định vi phạm pháp luật trong các bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật không đơn giản, nhất là các vụ án đã qua hai cấp xét xử (Sơ thẩm, phúc thẩm), hoặc đã được xét xử giám đốc thẩm Vì vậy việc kháng nghị giám đốc thẩm đòi hỏi phải có căn cứ chính xác, mặt khác

để bảo đảm tính ổn định của bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật

Phạm vi kháng nghị Giám đốc thẩm tuỳ theo vi phạm pháp luật đã phát hiện để kháng nghị đó là kháng nghị toàn bộ hoặc một phần bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật

Việc yêu cầu khắc phục những vi phạm của bản án hoặc quyết định bị kháng nghị: Căn cứ vào thẩm quyền quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng giám đốc thẩm quy định tại các Điều 254, 255, 256, 257 BLTTHS và tuỳ theo mức độ vi phạm của bản án, quyết định bị kháng nghị có thể ra một trong những yêu cầu sau :

- Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị và đình chỉ vụ án

- Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để điều tra lại

- Huỷ bản án hoặc quyết định bị kháng nghị để xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc phúc thẩm

- Sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo

Kháng nghị của VKS theo thủ tục tái thẩm :

Bản án hoặc quyết định của Toà án bị kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm khi có những tình tiết có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của Bản án mà Toà

án khi ra bản án hoặc quyết định không biết được Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục Tái thẩm được quy định tại Điều 261 BLTTHS

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm