cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có hau không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Đỗ Ngọc Quang
HÀ NỘI – 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 5
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Các đóng góp mới của luận văn 7
7 Ý nghĩa của luận văn 8
8 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 9
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 9
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự 9
1.1.2 Cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự 12
1.1.3 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự 16
1.1.4 Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự 19
1.2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 20
1.2.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung 20
1.2.2 Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 23
1.2.3 Trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật về khởi tố vụ án hình sự 27
1.2.4 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 30
Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 37
Trang 32.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ VAI
TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 37
2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 37
2.1.2 Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 41
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 53
2.2.1 Những kết quả đạt được 53
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế về hoạt động của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự .59
2.3 NGUYÊN NHÂN NHỮNG HẠN CHẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 63
2.3.1 Những bất cập trong các quy định của pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 63
2.3.2 Những vướng mắc trong tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự 67
2.3.3 Những khó khăn về công tác cán bộ và đảm bảo cơ sở vật chất của ngành Kiểm sát .68
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONGKHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 70
3.1 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ 71
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ 75
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 75
3.2.2 Giải pháp để thực hiện tốt các biện pháp nghiệp vụ 80
3.2.3 Giải pháp về tăng cường công tác tổ chức, quản lý và chỉ đạo điều hành 81
3.2.4 Giải pháp về công tác cán bộ của ngành Kiểm sát 82
3.2.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho ngành kiểm sát 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), phấn đấu vì
sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của Đảng và Nhà nước ta Để đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thì việc cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, trong đó có VKS là một đòi hỏi mang tính cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Là cơ quan thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, những quyết định áp dụng pháp luật khách quan, nghiêm minh, thống nhất của Viện kiểm sát (VKS) đã đóng góp tích cực và công cuộc đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo vệ pháp chế XHCN, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội Nghị quyết số
08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu:Viện kiểm sát các
cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố
vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ 1
Trong những năm qua, thực hiện chỉ đạo của VKS nhân dân tối cao, các VKS địa phương trong cả nước đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của ngành, nâng cao tỉ lệ phát hiện tội phạm, hạn chế bỏ lọt tội phạm Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn có những hạn chế như: Tình trạng hồ sơ vụ án phải trả
để điểu tra bổ sung nhiều, năm 2011 VKS đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra
1Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội
Trang 5(CQĐT) để điều tra bổ sung 1.257 vụ, Tòa án trả cho VKS là 1.398 vụ, năm
2012 VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung 1.216 vụ, Tòa án trả cho VKS 1.570 vụ Vẫn còn nhiều người bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai Theo số liệu thống kê của VKS nhân dân tối cao trong trong năm 2011 CQĐT và VKS
đã phải đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo Điều 25 BLHS 1.055 bị can, đình chỉ 94 bị can do không phạm tội; năm 2012 CQĐT và VKS đã phải đình chỉ 561 vụ và 1.286 bị can Trong số các bị cáo Tòa án đã xét xử năm 2011 có
13 bị cáo và năm 2012 có 16 bị cáo Toà án tuyên không phạm tội2 Những hạn chế đó đã gây ra những hậu quả về danh dự, nhân phẩm cũng như vật chất đối với những người bị bắt, khởi tố, điều tra oan, sai, làm ảnh hưởng không nhỏ đến
uy tín của ngành Kiểm sát nói riêng và các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung trước quần chúng nhân dân và dư luận xã hội
Trong tố tụng hình sự, khởi tố là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa rất quan trọng đối với toàn bộ quá trình giải quyết vụ án Giai đoạn này có nhiệm vụ xác định có sự việc xảy ra hay không, nếu xảy ra thì có hay không dấu hiệu của tội phạm để khởi tố hoặc không khởi tố vụ án, nhằm xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, góp phần bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ.Kết thúc giai đoạn này, khi đã khởi tố vụ án CQĐT được tiến hành các biện pháp điều tra, kể cả các biện pháp cưỡng chế tố tụng để nhanh chóng phát hiện tội phạm và người phạm tội Vì vậy, nếu các hoạt động tố tụng không thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định ở giai đoạn này, rất có thể tội phạm sẽ bị bỏ lọt hoặc lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm phạm, làm oan sai người vô tội
Trong các cơ quan tiến hành tố tụng, VKS là cơ quan tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Trong giai đoạn khởi tố, VKS thực hành quyền
2 Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Báo cáo tổng kết công tác năm 2011, Hà Nội
Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2012, Hà Nội
Trang 6công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố có căn cứ và hợp pháp đảm bảo sự nhanh chóng và chính xác.Với những lý do nêu trên cho thấy, giai đoạn khởi tố vụ án
có ý nghĩa vô cùng quan trọng, mang tính tiên quyết và trong giai đoạn này VKS
có vị trí, vai trò rất quan trọng Vì vậy tác giả quyết định chọn vấn đề: “Vai trò
của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ
luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong khởi tố vụ án hình sự đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến vấn đề này, qua nghiên cứu tìm hiểu cho thấy, các công trình khoa học tập trung nghiên cứu theo những khía cạnh sau:
Nghiên cứu chung về việc đổi mới tổ chức, hoạt động của VKS nhân
dân Điển hình như: tác giả Khuất Văn Nga với bài viết: Những chủ trương của
Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp và tổ chức hoạt động của VKS nhân dân trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2005, 2005; Tác giả Đỗ Văn
Đương với bài viết: Cơ quan thực hành quyền công tố trong cải cách tư pháp ở
nước ta hiện nay, Tạp chí Kiểm sát số 4/2006; Tác giả Nguyễn Minh Đức với
bài viết: “Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư
pháp”, Tạp chí Kiểm sát số 9/2006; Tác giả Lê Hữu Thể với bài viết: “Tổ chức
bộ máy và chức năng nhiệm vụ của VKS trong tiến trình cải cách tư pháp”, Tạp
chí Kiểm sát, số 6/2008
Nghiên cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố trên một số
lĩnh vực cụ thể, như các tác phẩm nhóm tác giả do TS Lê Hữu Thể (Chủ biên):
Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra (Sách tham khảo), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005; Tác giả Lê Thị Tuyết
Hoa với Luận án tiến sỹ: Quyền công tố ở Việt Nam, Khoa Luật - Đại học Quốc
Trang 7gia Hà Nội năm 2002; Tác giả Phạm Mạnh Hùng với bài viết: Hoàn thiện các
quy định của BLTTHS về quan hệ giữa VKS và CQĐT trong tố tụng hình sự,
Tạp chí Kiểm sát, số 2/2007
Những công trình khoa học, những bài viết trên đây đã tập trung nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của VKSND nói chung, có một số công trình, bài viết nghiên cứu về chức năng hoạt động của VKS trên một số lĩnh vực cụ thể
Về vấn đề “Vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự”, cũng đã có
một số công trình đề cập đến vấn đề này nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hoặc chưa nghiên cứu dưới góc độ coi khởi
tố vụ án là một giai đoạn tố tụng độc lập mà vẫn gắn liền với giai đoạn điều tra, đồng thời cũng chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu một cách sâu sắc về vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự
Mặc dù vậy, các công trình khoa học, các bài viết trên đây là những tài liệu tham khảo rất có giá trị để nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn pháp luật, thực trạng hoạt động của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự (từ năm 2008 tới 2013), mục đích của luận văn nhằm làm sáng tỏ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn, và nêu ra một số giải pháp, kiến nghị góp phần nâng hiệu quả hoạt động của VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của VKS trong khởi tố vụ
án hình sự những năm gần đây, rút ra được những ưu điểm, hạn chế và nguyên
Trang 8nhân của những hạn chế đó để từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong khởi tố vụ án hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật và thực tiễn hoạt động nhằm đánh giá về vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là về vấn đề vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 đến nay Đồng thời luận văn cũng nghiên cứu về thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự trong 6 năm (từ năm
2008 đến năm 2013)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật VKS biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật nói chung và tổ chức, hoạt động của VKS nhân dân nói riêng, đặc biệt là quan điểm của Đảng trong giai đoạn hiện nay về cải cách tư pháp
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thồng của khoa học xã hội như: Lý luận – thực tiễn, Phân tích – tổng hợp, Lịch sử - cụ thể; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác như: So sánh luật học, thống kê
6 Các đóng góp mới của luận văn
Luận văn là tài liệu chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống và toàn diện về vài trò VKS trong khởi tố vụ án hình sự, cụ thể là:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự, góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về vị trí và
Trang 9chức năng của VKS trong giai đoạn khởi tố Qua đó thấy được vai trò quan trọng của VKS trong công tác phòng, chống tội phạm
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động của VKS trong khởi tố vụ
án hình sự Trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất các giải pháp, kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKS trong khởi tố vụ án hình sự
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình sự Luận văn góp phần làm phong phú thêm tri thức về pháp luật tố tụng hình sự, đấu tranh chống tội phạm và phòng ngữa tội phạm trên thực tiễn, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ Kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình, bên cạnh đó luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và giảng dạy về vấn đề liên quan đến vai trò của VKS trong khởi tố vụ án hình
sự trong các trường đại học, cao đẳng, các trường bồi dưỡng nghiệp vụ tư pháp
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về khởi tố vụ án hình sự và vai trò của
Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động của Viện kiểm
sát trong khởi tố vụ án hình sự
Chương 3:Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát
trong khởi tố vụ án hình sự
Trang 10Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Do tính chất phức tạp của tội phạm, việc giải quyết vụ án hình sự không giống với trình tự giải quyết các vụ án dân sự, vụ án hành chính, kinh tế, lao động Quá trình tố tụng hình sự được chia thành các giai đoạn khác nhau, gắn liền với những hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhất định Ở nước
ta, quá trình giải quyết các vụ án hình sự được bắt đầu kể từ khi nhận được các thông tin về tội phạm cho đến khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đưa vào thi hành Mỗi giai đoạn tố tụng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể của quá trình tố tụng Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về phân chia các giai đoạn tố tụng hình sự, song hầu hết các quan điểm đều thừa nhận
“khởi tố vụ án là một giai đoạn tố tụng” có vị trí đặc biệt và có vai trò riêng trong quá trình tố tụng hình sự Nó được coi là một giai đoạn khởi động quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự
Theo Từ điển luật học thì khởi tố vụ án hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng xác định có sự việc phạm tội để tiến hành điều tra phát hiện tội phạm Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm.3
Theo tác giả Lê Cảm thì giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn
3 Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 429
Trang 11cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tiến hành việc xác định có (hau không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố vụ án (hoặc không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó.4 Do vậy, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của trình tự giải quyết vụ án, có nhiệm vụ xác định một sự việc xảy ra trong thực tế có hay không có dấu hiệu của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự là giai đoạn được tiến hành trước các giai đoạn tố tụng tiếp theo như: điều tra, truy tố, xét xử Do đó giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội, lập hồ sơ vụ án, đề nghị truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chí, khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền có nhiệm vụ
sử dụng các biện pháp của tố tụng hình sự để xác định có hay không có đấu hiệu tội phạm, trên cơ sở đó các cơ quan này sẽ ra một trong hai quyết định đó là: quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.5Tương tự như thế, trong giáo trình Luật tố tụng hình sự của Trường Đại học Luật Hà Nội có viết: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình
sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm
để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.6
Các quan điểm nêu trên tuy được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng đều thể hiện sự thống nhất đó là coi khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự, là giai đoạn khởi động quá trình tố tụng hình sự, có vai trò làm căn cứ pháp lý cho các giai đoạn tiếp theo
4 Lê Cảm (2004), Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự, Tạp chí Kiểm sát, (2) tr 26
5 Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001) Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, tr 64
6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội., tr 231
Trang 12Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong một khoảng thời gian cụ thể, có nhiệm vụ riêng, có chủ thể và các hoạt động tố tụng độc lập với các giai đoạn tố tụng khác Khởi tố vụ án hình sự được coi là một giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự Do đó, theo chúng tôi, khái niệm khởi tố vụ án hình sự
có thể được hiểu như sau: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn độc lập của quá
trình tố tụng hình sự, mở đầu cho quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó các cơ quan có thẩm quyền sử dụng các biện pháp mà pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự có các nhiệm vụ cơ bản như sau
Thứ nhất, phát hiện và tiếp nhận các thông tin về tội phạm kịp thời,
chính xác.Phát hiện và tiếp nhận các thông tin về tội phạm là trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức khác được pháp luật về tố tụng hình sự quy đinh Thông tin về tội phạm có thể được thu thập từ các nguồn khác nhau như tố giác của công dân; tin báo về tội phạm của các cơ quan, tổ chức; người phạm tội tự thú và được coi là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh nhằm xác định dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự Pháp luật tố tụng hình sự quy định trong phạm vi trách nhiệm của mình các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan, tổ chức khác phải kịp thời phát hiện và tiếp nhận mọi nguồn tin về tội phạm với các hình thức phù hợp, bảo đảm chính xác
Thứ hai, sử dụng mọi biện pháp luật định tiến hành các hoạt động kiểm
tra, xác minh nhằm nhanh chóng xác định các dấu hiệu của tội phạm Sau khi tiếp nhận thông tin về tội phạm, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh để xác định xem có sự việc phạm tội xảy ra hay không, nếu có thì sự việc đó có hay không có dấu hiệu tội phạm? Hoạt động kiểm tra, xác minh thông tin về tội phạm được tiến hành bằng nhiều biện pháp khác nhau trong một khoảng thời gian theo luật định, tùy thuộc vào tính chất đơn giản, hay
Trang 13phức tạp của vụ án để xác định dấu hiệu tội phạm một cách nhanh chóng và chính xác Dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ cần và đủ được pháp luật quy định
để cơ quan có thẩm quyền có thể dựa vào đó để ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự Đây là nhiệm vụ chính của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Thứ ba, ra quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án
hình sự có căn cứ và hợp pháp Cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự sau khi xác định được dấu hiệu tội phạm Quyết định khởi tố vụ án là văn bản pháp lý làm cơ sở để CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra Trong trường hợp, nếu xác định không có dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng và một số cơ quan khác được pháp luật quy định Quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải do người có thẩm quyền ra mới hợp pháp
Trong một số trường hợp, khi xác định hành vi tuy có dấu hiệu phạm tội nhưng tính chất nguy hiểm cho xác hội không đáng kể theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) thì không khởi tố vụ án hình sự mà có thể áp dụng các biện pháp xử lý khác để đảm bảo tính hài hòa
1.1.2 Cơ sở và căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Theo quy định tại điều 100 BLTTHS 2003 về căn cứ khởi tố vụ án thì
“chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định được dấu hiệu tội phạm” Từ đó,
có thể hiểu dấu hiệu tội phạm đã xác định chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình
sự Dấu hiệu tội phạm thường được phản ánh qua tài liệu ban đầu về sự kiện phạm tội, có thể chưa phải là tài liệu để chứng minh, xác định người phạm tội nào cụ thể Các dấu hiệu của tội phạm thường được thể hiện qua các tình tiết đã được xác định như: Có hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế xảy ra; hành vi đó
bị pháp luật cấm và được BLHS quy định là tội phạm, hành vi đó đã gây ra hậu
Trang 14quả nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết khách quan chứng tỏ người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có lỗi
Trước khi quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, CQĐT phải xác định được hành vi bị khởi tố không thuộc một trong những căn cứ không được khởi
tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 BLTTHS, đó là các căn cứ: Không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản
án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
Sau khi đã xác định dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS và hành vi thực hiện không thuộc một trong các trường hợp không được khởi tố vụ
án hình sự, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án cần xem xét đến khả năng hành
vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại theo quy định tại Điều 105 BLTTHS hay không? Nếu hành vi được phát hiện thuộc một trong các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người
bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì phải có yêu cầu khởi tố của người bị hại bằng đơn hoặc có biên bản được thiết lập trong trường hợp người bị hại không thể viết đơn vì các lý do khác nhau
Dấu hiệu tội phạm được xác định dựa trên kết quả, xác minh thông tin về tội phạm Những hành vi có dấu hiệu tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho
xã hội không đáng kể theo khoản 4 Điều 8 BLHS thì không phải là tội phạm nên không khởi tố vụ án hình sự mà có thể áp dụng các biện pháp khác
Cơ sở để xác định căn cứ khởi tố vụ án là những nguồn tin và những sự việc được phát hiện mà dựa vào đó cơ quan có thẩm quyền khởi tố xác định dấu
Trang 15hiệu tội phạm Điều 100 BLTTHS quy định các nguồn tin và sự việc được phát hiện làm cơ sở xác định có dấu hiệu tội phạm bao gồm:
- Tố giác của công dân Tố giác của công dân là việc công dân tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của một người nào đó mà họ cho rằng hành vi đó là tội phạm Chủ thể của hành vi tố giác tội phạm là công dân Tố giác của công dân là cơ sở khởi tố vụ án hình sự phổ biến nhất, bởi lẽ, công dân có quyền và nghĩa vụ tố giác những hành vi vi phạm pháp luật hình sự với cơ quan, tổ chức trong những trường hợp do pháp luật quy định và công dân cũng thường là đối tượng đầu tiên phát hiện ra hành vi có dấu hiệu tội phạm
- Tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức Tin báo của các cơ quan, tổ chức là những thông tin về tội phạm do các cơ quan, tổ chức trực tiếp phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân và báo cáo bằng văn bản với CQĐT Cũng giống như đối với tố giác của công dân, cơ quan, tổ chức là những đơn vị có quyền và nghĩa vụ báo tin cho CQĐT có thẩm quyền khi phát hiện ra các tin tức
về tội phạm nhằm nhanh chóng phát hiện tội phạm BLTTHS 2003 quy định chủ thể của tin báo về tội phạm có thể là bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Khái niệm này được hiểu rộng hơn so với quy định chủ thể của tin báo về tội phạm trong BLTTHS 1988 đó là “cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội” Khác với tố giác của công dân, sau khi phát hiện tội phạm hoặc tiếp nhận tố giác của công dân, các cơ quan, tổ chức phải báo tin đến CQĐT dưới hình thức văn bản
Tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức là một trong những hình thức tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm phát hiện, tố giác tội phạm của các cơ quan, tổ chức trong việc góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Ngày nay, phương tiện thông tin đại chúng hết sức đa dạng và phổ biến, đóng vai trò to lớn trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tin báo trên các phương tiện thông tin
Trang 16đại chúng như các sự việc được phản ánh qua báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình là một trong những cơ sở khởi tố vụ án hình sự được pháp luật quy định giúp cho các cơ quan có thẩm quyền xác định được dấu hiệu của tội phạm Vì vậy, khi có tin báo về tội phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tiến hành xem xét, xác minh tin báo đó, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm phải ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự để điều tra, xử lý tội phạm
- Cơ quan có thẩm quyền khởi tố trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án là những cơ quan có chức năng chính trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm Vì vậy, trong phạm vi quyền hạn, trách nhiệm của mình, các cơ quan này có nhiều điều kiện để có thể trực tiếp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật
Các cơ quan khác như Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân mặc dù chức năng chính là quản lý nhà nước trong những lĩnh vực nhất định nhưng do đặc thù công tác nên được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, vì bằng các hoạt động theo chức năng của mình các cơ quan này cũng có điều kiện phát hiện sự việc phạm tội Chính vì vậy, các cơ quan này khi thực hiện nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu phạm tội thì việc phát hiện đó được coi là cơ sở khởi tố vụ án hình sự
- Người phạm tội tự thú Tự thú là việc người đã thực hiện hành vi phạm tội tự nguyện trình diện và khai nhận đầy đủ về hành vi phạm tội của mình, mặc
dù tội phạm này chưa bị phát hiện Theo quy định tại Điều 102 BLTTHS 2003 thì: “Khi người phạm tội đến tự thú, cơ quan tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và những lời khai của người tự thú Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú có trách nhiệm báo ngay cho CQĐT, VKS” Các cơ quan này phải kiểm tra, xác minh nhân thân của người tự
Trang 17thú; giải thích cho người tự thú biết rằng tự thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hoặc tích cực giúp đỡ cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm là những tình tiết có thể được sử dụng làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 25 BLHS hoặc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 46 BLHS Lời khai của người tự thú phải được kiểm tra, đánh giá để phòng ngừa họ cố ý đưa ra lời khai giả mạo, ngụy tạo để che giấu tội phạm khác nghiêm trọng hơn hoặc vì mục đích che giấu đồng phạm hay mục đích khác
1.1.3 Thẩm quyền và trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự
Các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ ángồm có CQĐT, các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS và Tòa án CQĐT khởi tố vụ án là chủ yếu hầu hết các vụ án hình sự Các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ khởi tố đối với những hành vi trong lĩnh vực quản lý của mình VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT và trong trường hợp khi có yêu cầu của Hội đồng xét xử (Điều 104) Hội đồng xét xử chỉ khởi tố vụ
án nếu qua việc xét xử tại phiên tòa phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần được điều tra
Trình tự khởi tố vụ án hình sự căn cứ khởi tố vụ án hình sự là dấu hiệu của tội phạm được xác định, khi đã xác định được dấu hiệu của tội phạm cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khi đã khởi tố vụ án hình sự CQĐT được tiến hành các biện pháp điều tra, kể cả các biện pháp cưỡng chế tố tụng để nhanh chóng phát hiện tội phạm và người phạm tội Nhưng khi chưa xác định được rõ dấu hiệu của tội phạm, mọi hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm đều có thể dẫn đến oan sai, vi phạm quyền dân chủ của công dân được pháp luật bảo vệ Vì
Trang 18vậy trình tự thủ tục tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố vụ án hình
sự phải được tiến hành một cách thống nhất và tuân thủ theo đúng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trình tự thủ tục khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như sau:
- Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.Một trong những nguồn thông tin về tội phạm đó là tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố của các tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước và của mọi công dân Thông tin về tội phạm là yếu tố không thể thiếu cho việc phát hiện, xử lý tội phạm, vì vậy nguồn thông tin về tội phạm đóng góp một phần rất quan trọng trong công tác đấu tranh chống tội phạm Đấu tranh chống tội phạm là cuộc đấu tranh mang tính chất xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của toàn xã hội, công tác này đạt được kết quả cao hay không phụ thuộc vào ý thức, trách nhiệm tham gia cung cấp các thông tin về tội phạm cho các cơ quan tiến hành tố tụng Pháp luật tố tụng hình sự nước ta quy định trách nhiệm phát hiện và tố giác tội phạm là của mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức và công dân (Điều 25 BLTTHS 2003)
Nhiệm vụ giải quyết tin báo tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố được quy định cụ thể tại Điều 103 BLTTHS 2003: “CQĐT, VKS có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến VKS có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu liên quan đã tiếp nhận cho CQĐT có thẩm quyền.” CQĐT và VKS là những cơ quan chính có nhiệm vụ tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố do cá nhân, cơ quan, tổ chức chuyển đến
Viện kiểm sát khi tiếp nhận các tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố phải chuyển ngay hồ sơ kèm theo các tài liệu liên quan đến CQĐT có thẩm quyền để tiến hành xác minh CQĐT là đầu mối quản lý toàn bộ các tố giác, tin báo về tội phạm (nguồn để khởi tố).Sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố, CQĐT tiến hành kiểm tra, xác minh
Trang 19- Kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm.Thời hạn và nhiệm vụ xác minh thông tin về tội phạm được quy định tại Điều 103 BLTTHS 2003 Theo quy định của bộ luật thì chỉ có CQĐT mới được xác minh, xử lý tố giác, tin báo
về tội phạm Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng không quá hai tháng,CQĐT có nhiệm
vụ khẩn trương chủ động áp dụng các biện pháp do luật định để xác minh, kiểm tra nguồn tin, xem xét có hay không dấu hiệu của tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
Tất cả các thông tin về tội phạm đều phải được xem xét một cách kĩ càng
để xác định căn cứ khởi tố, tùy từng sự việc mà áp dụng những biện pháp thích hợp để kiểm tra xác minh, nhưng trong mọi trường hợp phải chấp hành triệt để những quy định của pháp luật
- Quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án hình sự là kết quả của quá trình tiếp nhận, kiểm tra xác minh các tin tức về tội phạm, là những văn bản pháp lý do cơ quan có thẩm quyền ban hành để xác định có hay không sự việc phạm tội Các quyết định này là cơ sở để bắt đầu một giai đoạn tố tụng mới hoặc kết thúc quá trình tố tụng
Quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở để CQĐT tiến hành những biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật Quyết định khởi tố vụ án hình sự được quy định cụ thể tại Điều 104 BLTTHS năm 2003
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định nguồn thông tin về tội phạm hoặc sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự quy định tại Điều 107 BLTTHS năm 2003 Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Không có sự việc phạm tội; Hành vi không cấu thành tội phạm; Người thực hiện
Trang 20hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
Như vậy, để tránh bỏ lọt tội phạm, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định rất cụ thể những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự Các cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ luật định
1.1.4 Ý nghĩa của khởi tố vụ án hình sự
Khởi tố vụ án hình sự đảm bảo cho việc phát hiện nhanh chóng mọi hành
vi phạm tội Nếu các hoạt động tố tụng trong giai đoạn khởi tố vụ án không được tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời đúng quy định của pháp luật sẽ không phát hiện được đầy đủ dấu vết của tội phạm dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc oan sai, hơn nữa việc thu thập thông tin ban đầu trong giai đoạn khởi
tố không đầy đủ sẽ gây ra khó khăn cho các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu, là một giai đoạn tố tụng độc lập, chưa khởi tố vụ án thì chưa được tiến hành các hoạt động điều tra Giai đoạn khởi tố nếu xác định không đúng tội danh, hành vi phạm tội, điều khoản BLHS quy định sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình tố tụng tiếp theo cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo
Khởi tố vụ án hình sự góp phần đảm bảo quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật bảo hộ Nếu không thực hiện đầy đủ các hoạt động tiếp nhận, kiểm tra xác minh các nguồn thông tin về tội phạm một cách đầy đủ đúng quy định của pháp luật mà tiến hành ngay các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng sẽ dẫn đến tình trạng quyền tự do dân chủ của công dân bị xâm phạm
Trang 211.2 NHẬN THỨC CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.2.1 Vai trò của Viện kiểm sát trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, mang thuộc tính xã hội pháp lý, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội,
đi ngược lại với lợi ích chung của cộng đồng, xâm phạm đến trật tự xã hội, quyền tự do và các lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là những hoạt động không thể thiếu nhằm duy trì một xã hội trật tự, ổn định.Nội dung của hoạt động phòng ngừa tội phạm rất đa dạng và phong phú với sự tham gia của rất nhiều các chủ thể khác nhau bao gồm:
+ Các cơ quan tư pháp hình sự thông qua các hoạt động điều tra, truy tố xét xử và áp dụng các chế tài hình sự đối với tội phạm và người phạm tội, qua
đó có tác dụng răn đe người phạm tội và cảnh tình những người không vững vàng khác trong xã hội nhằm ngăn ngừa tội phạm Các cơ quan tư pháp hình sự trong quá trình thực hiện chức nãng nhiệm vụ của mình phát hiện những bất cập, thiếu sót, những nguyên nhân phát sinh tội phạm, qua đó có những kiến nghị nhằm ngăn ngừa tội phạm và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
+ Các cơ quan lập pháp đưa ra những quy phạm pháp luật chặt chẽ, là hàng rào vững chắc để ngăn chặn cho người dân không có cơ hội phạm tội và người phạm tội không có cơ hội tái phạm
+ Các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, công dân thì phòng ngừa tội phạm không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm Một xã hội trật tự an toàn là một môi trường sống lành mạnh, tạo ra cho mỗi người dân một cuộc sống bình
Trang 22yên và hạnh phúc, vì vậy, mỗi người dân phải có ý thực tự bảo vệ mình thông qua các hoạt động phòng ngừa tội phạm
Như vậy, phòng ngừa tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân, thực hiện tổng thể các biện pháp tác động trực tiếp vào các nhóm nguyên nhân của tội phạm để kiểm soát, hạn chế tác dụng và loại trừ dần những nhóm nguyên nhân này nhằm không cho tội phạm xảy ra hoặc xảy ra ít đi.Phòng ngừa tội phạm là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động kiểm soát xã hội của Nhà nước Đó là phương tiện để Nhà nước kiểm soát tội phạm, ngăn chặn tội phạm góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội
Đấu tranh chống tội phạm là hoạt động trấn áp tội phạm cụ thể đã xảy ra
nhưng có tác động nhất định đến nguyên nhân của tội phạm7, vì vậy, hoạt động đấu tranh chống tội phạm cũng có giá trị phòng ngừa tội phạm.Chủ thể của hoạt động đấu tranh chống tội phạm là các cơ quan tư pháp hình sự Thông qua các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đối với tội phạm đã xảy ra trong thực tế truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, suy cho cùng là việc áp dụng chế tài hình sự, áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất đối với người phạm tội đó là hình phạt
Mục đích cuối cùng và cao nhất của cả hai hoạt động này là nhằm ngăn ngừa không cho tội phạm xảy ra Để đạt được mục đích này, trong hoạt động phòng ngừa tội phạm cần phải có những định hướng cụ thể như: Giáo dục con người và xây dựng một xã hội có tính giáo dục; Phát triển kinh tế xã hội và việc hạn chế, khắc phục mặt trái của quá trình phát triển đó; Chống tội phạm, xử lý vi phạm, tăng cường quản lý để ngăn hành vi phạm tội không xảy ra; Phòng ngừa tội phạm từ phía nạn nhân và công dân nói chung
Trong hoạt động đấu tranh chống tội phạm để đạt được mục đích trừng trị người phạm tội, qua đó giáo dục họ và răn đe những người khác trong xã hội
7 Nguyễn Ngọc Hòa (2008), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội tr 256
Trang 23nhằm ngăn ngừa tội phạm xảy ra thì việc xử lý các tội phạm và người phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chính xác kịp thời, đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội Thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và tính nghiêm khắc của chế tài hình sự
Trong các cơ quan tiến hành tố tụng, VKS có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ công lý và trật tự chung trong xã hội, được Đảng và Nhà nước giao cho chức năng thực hành quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp Với vị trí, vai trò độc lập đó, VKS là cơ quan có nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế XHCN Chức năng hiến định của VKS được quy định tại Điều 137, Hiến pháp 1992 và được thể chế tại Điều 1, Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2002
Với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng, VKS trực tiếp tham gia đấu tranh chống tội phạm Thông qua hoạt động của mình VKS có trách nhiệm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện, xử lý kịp thời, việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không để lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, đảm bảo mọi hoạt động tố tụng đều phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật.Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất được tham gia toàn bộ quá trình
tố tụng (từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử và thi hành án), vì vậy VKS có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác phòng, chống tội phạm
Hoạt động trực tiếp đấu tranh chống tội phạm của VKS xuyên suốt quá trình từ phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các tội phạm, thông qua việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra
và kiểm sát xét xử các hành vi phạm tội và người phạm tội; CQĐT của VKStrực tiếp khởi tố và điều tra các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể của tội phạm là cán bộ công chức của các cơ quan tư pháp
Hoạt động phòng ngừa tội phạm củaVKS được thể hiện thông qua các hoạt động kiểm sát cụ thể như: Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quảnlý giáo
Trang 24dục người chấp hành án phạt tù VKS ngoài việc kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm tội đảm bảo chính xác, đúng quy định của pháp luật còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam, các cán bộ công chức trong các cơ quan này
Hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm không chỉ được thể hiện thông qua việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của ngành kiểm sát mà còn được thông qua các hoạt động khác như: VKS thực hiên các chương trình quốc gia về phòng, chống tội phạm, tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, nghiên cứu khoa học, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tổ chức các hội nghị chuyên đề về phòng, chống các tội phạm cụ thể, nâng cao hiệu quả hoạt động nghiệp vụ, thống kê dự báo tình hình tội phạm, xây dựng, hoàn thiện pháp luật
Như vậy, VKS là cơ quan có vị trí rất quan trọng trong công tác phòng, chống tội phạm Không chỉ đóng vai trò là cơ quan trực tiếp tham gia đấu tranh chống tội phạm, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tư pháp và những người tham gia tố tụng là đảm bảo để hoạt động phòng ngừa tội phạm và đấu tranh chống tội phạm đạt hiệu quả cao, đúng pháp luật
1.2.2 Trách nhiệm của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
Viện kiểm sát tham gia vào tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Trong giai đoạn khởi tố, VKS thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án
có căn cứ và hợp pháp.Để làm rõ nội dung vấn đề thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án hình sự, trước hết chúng ta cần làm rõ vấn đề: Quyền công tố và thực hành quyền công tố
“Công tố” theo từ điển Tiếng Việt có nghĩa là “Điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án”8.Hiện nay xung quanh vấn đề “Quyền công tố” có nhiều quan điểm khác nhau.Có tác giả đưa ra khái niệm quyền công tố như
8Từ điển Tiếng Việt (1999), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trang 25sau:Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện các chức năng do
luật TTHS quy định để kiểm sát tính hợp pháp của việc điều tra tội phạm, truy tố
và buộc tội người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật hình sự cấm trước Tòa án nhằm góp phần ra được các bản án có căn cứ, công minh và đúng pháp luật, đồng thời bảo vệ các quyền tự do của công dân, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và Nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự9 Theo nội dung trên tác giả coi quyền công tố là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền công tố
Có tác giả khác đưa ra khái niệm quyền công tố như sau:Quyền công tố
là quyền nhân dân Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toàn án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa10 Khái niệm trên đã thể hiện được đầy đủ nội dụng của quyền công tố, quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, điều này được thể hiện rõ tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 và Điều 23 BLTTHS năm 2003 Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, VKS phát có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy
đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa
9 Lê Cảm (2001), “Những vấn đề lý luận về quyền công tố”, Tạp chí Khoa học pháp luật (4)
10 Lê Hữu Thể (Chủ biên), Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội tr 40
Trang 26Như vậy, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị.“Nội dung quyền công tố chính là sự buộc tội đối với người đã thực hiện tội phạm.”11
Về vấn đề thực hành quyền công tố, thuật ngữ thực hành quyền công tố đã được nhà làm luật nước ta ghi nhận và đề cập trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời hoạt động thực hành quyền công tố cũng đã gắn liền với hoạt động của VKS hơn 40 năm qua (từ năm 1960) Thế nhưng trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ trước đến nay (BLTTHS năm 1988, cũng như BLTTHS năm 2003) nhà làm luật chưa ghi nhận một định nghĩa pháp
lý về khái niệm “thực hành quyền công tố”
Khi đã làm rõ được thế nào là quyền công tố, thì một vấn đề cần có sự nhận thức thống nhất đó là quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm, hai phạm trù khoa học pháp lý khác nhau, không thể đồng nhất hai khái niệm này với nhau Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thì cơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố
Ở Việt Nam, căn cứ vào các quy định của Hiến pháp năm 1959 cho đến Hiến pháp 1992 (sửa đổi) thì chức năng thực hành quyền công tố được giao cho
cơ quan VKS Để thực hiện có hiệu quả chức năng đó VKS được áp dụng “các biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” (Điều 13 BLTTHS) Tuy nhiên, thực tiễn điều tra và xét xử ở nước ta cho thấy CQĐT và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số án do CQĐT
11 Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội tr 36
Trang 27khởi tố chiếm khoản 95% và theo như quy định mới của BLTTHS năm 2003 thì việc khởi tố vụ án hình sự được tập trung vào một đầu mối là CQĐT Như vậy,
số vụ án mà VKS khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng
số án mà CQĐT khởi tố, hơn nữa CQĐT có quyền bắt người, tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ Chính vấn đề thực tiễn nói trên là sự thể hiện nguyên tắc công tố trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta, tức là trách nhiệm và nghĩa vụ phát hiện, chứng minh tội phạm và người phạm tội thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm: Cơ quan điều tra, VKS và Tòa án Cho nên, có thể hiểu: thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp
lý thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
đã có hành vi bị coi là tội phạm trong các giai đoạn khởi tố - điều tra, truy tố và
xét xử Nội dung này được thể hiện khá cụ thể tại các Điều 13 và Điều 17 Luật tổ
chức VKS năm 2002
Từ nội dung khái niệm nói trên và trên cơ sở các quy định của BLTTHS
có thể nêu lên nội dung của thực hành quyền công tố bao gồm:những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố vụ án, khởi tố bị can.Trong giai đoạn điều tra, VKS tiếp tục thực hành quyền công tố với những nội dung: Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; đề ra yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; quyết định việc truy tố; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.Từ những phân tích trên
có thể đi đến khái niệm hoạt động thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án
hình sự như sau: Hoạt động thực hành quyền công tố trong khởi tố vụ án hình sự
là việc VKS sử dụng tất cả các quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm
Nội dung thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án bao gồm hoạt động phát động quyền công tố - khởi tố vụ án và một số hoạt động khác.Khởi tố vụ án là việc các cơ quan có chức năng chính
Trang 28thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai các hoạt động điều tra truy tố xét xử tội phạm đối với tội phạm đó và người đã thực hiện tội phạm
Viện kiểm sát tự mình khởi tố vụ án và chuyển đến CQĐT yêu cầu tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 36 BLTTHS năm 2003.Theo pháp luật nước ta chỉ có VKS là cơ quan phát động quyền công tố một cách độc lập, có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố vụ án của các cơ quan khác có thẩm quyền
Hoạt động thực hành quyền công tố tiếp tục thực hiện bởi VKS trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bằng các hoạt động cụ thể sau: Yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; và thực hiện một số hoạt động khác như: Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ, trái pháp luật của CQĐT và các cơ quan khác có thẩm quyền; Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ, khám xét
1.2.3 Trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật về khởi tố vụ án hình sự
Để làm rõ khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ
án hình sự trước hết ta phải làm rõ một số vấn đề về thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” và “kiểm sát các hoạt động tư pháp” trong tố tụng hình sự
Hiện nay trong một số văn bản pháp luật còn song song tồn tại hai thuật ngữ trên Tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định:
“VKS nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ”, Điều 1 Luật tổ chức VKS nhân dân năm 2002 quy định: “VKS nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ”, BLTTHS năm 2003 lại tiếp tục sử dụng cụm từ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật.”
Trang 29Trong tố tụng hình sự thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS được hiểu là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự Do vậy hai thuật ngữ này không có gì mâu thuẫn Để không gây khó hiểu thì nên có sự thống nhất về thuật ngữ trong các văn bản pháp luật
Kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, do Quốc hội giao cho VKS nhằm đảm bảo pháp chế trong hoạt động
tư pháp hình sự.Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động chỉ do các cơ quan tư pháp hình sự thực hiện, là những hoạt động trực tiếp nhằm giải quyết một vụ án hình sự cụ thể và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, hoạt động tư pháp hình sự được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng hình sự.Các cơ quan tư pháp hình sự ở Việt Nam là các cơ quan được thành lập, tổ chức theo những trình tự, thủ tục luật định, trực tiếp và chịu trách nhiệm tiến hành, thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, nhằm giải quyết các vụ án hình sự và thi hành các quyết định, bản án hình sự của Tòa án12
Các cơ quan tư pháp hình sự ở Việt Nam bao gồm: Tòa án, VKS, CQĐT
và Cơ quan thi hành án.Đối tượng của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hành vi xử sự của các cơ quan tư pháp hình sự.Mục đích của hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự là đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất.Phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án
Như vậy, từ các phân tích trên chúng ta có thể đưa ra khái niệm về kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án như sau: Kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự là hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp hình sự có đối tượng là hành vi xử sự của các cơ quan có thẩm quyền khởi
12Phạm Hồng Hải (2002), “Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp”, Tạp chí kiểm sát (8) tr 13
Trang 30tố vụ án hình sự được pháp luật quy định, nhằm đảm bảo cho việc khởi tố vụ án được nhanh chóng, kịp thời, có căn cứ, đúng pháp luật
Nội dung của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố
vụ án là những biện pháp mà VKS không trực tiếp ra quyết định, qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án thì kiến, kháng nghị, yêu cầu bổ sung, khắc phục
Các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS được tiến hành trước khi khởi tố vụ án như: Kiểm sát việc giải quyết của CQĐT đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, khám xét, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của CQĐT, nhằm đảm bảo mọi hoạt động này được thực thi đúng trình tự thủ tục luật định
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ
án của VKSlà hoạt động kiểm sát việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự; kiểm sát việc thay đổi hoặc bổ sung khởi tố vụ án hình sự của CQĐT.Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, VKS có các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án và quyền yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm của chủ thể tiến hành các hoạt động tư pháp hình sự trong giai đoạn khởi
tố vụ án
Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là hai hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau Thực tiễn hoạt động thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát cho thấy nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm luôn đi liền với đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp hình sự
Trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự, hai hoạt động này song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau Mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố vụ án
Trang 31là nhằm chứng minh tội phạm, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án có mục đích đảm bảo việc khởi tố vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật Kiểm sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả là điều kiện để đảm bảo thực hành quyền công tố đúng đắn khách quan và ngược lại Hoạt động thực hành quyền công tố có thể là kết quả của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật và có hoạt động thực hành quyền công tố là bắt đầu hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Tóm lại, cả hai hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc khởi tố vụ án hình sự đều có chung mục đích là đảm bảo xử lý kịp thời nghiêm minh các hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan sai người vô tội
1.2.4 Khái quát lịch sử các quy định pháp luật tố tụng hình sự liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đưa nước ta dành được độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Ngay từ ngày đầu xây dựng đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng các cơ quan chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án có nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, trừng trị và phòng ngừa các tội phạm hình sự nhằm mục tiêu là bảo vệ chế độ Nhà nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân
Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập theo sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ta đã ban hành các Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 20/7/1946
và sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947 quy định thành lập hệ thống Tòa án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và Tòa án
Trang 32đệ nhị cấp do một Viện trưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viện chỉ có chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử Cho nên trong giai đoạn lịch sử
từ năm 1945 đến 1950 tổ chức Công tố nằm trong hệ thống Tòa án
Đến năm 1958 thực hiện Nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố Từ thời điểm này Viện công tố tách khỏi hệ thống Toà án thốngvà trực thuộc Hội đồng Chính phủ Sau đó Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày 1/7/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố, trong đó có quy định: “Nhiệm vụ của Viện công tố là điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT ” Như vậy, ngoài chức năng truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra vụ án hình sự Từ giai đoạn này trở
đi, chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố vụ án hình sự của Viện công tố bắt đầu được hình thành và thực hiện Đến năm 1959, Quốc hội ban hành Hiến pháp 1959 trong đó đã quy định tổ chức cơ quan VKSND thành một hệ thống độc lập với Chính phủ và chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 để cụ thể hóa chức năng của VKS trong đó có chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự Với việc ban hành Luật tổ chức VKSND năm 1960 đã đánh dấu sự hình thành hệ thống cơ quan VKS từ trung ương đến địa phương, đồng thời khẳng định chức năng hiến định là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Cũng trong thời gian này VKSNDTC
và Bộ Công an đã ban hành nhiều thông tư liên bộ quy định trách nhiệm của hai ngành trong công tác phối hợp phòng chống và đấu tranh tội phạm, cụ thể
là Thông tư số 427-TTLN ngày 28/6/1963 đã quy định trách nhiệm của từng ngành đối với việc điều tra xử lý tội phạm, thông tư quy định: Cơ quan Công
Trang 33an điều tra đảm nhiệm việc điều tra tất cả các vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp Còn VKS chủ yếu là làm nhiệm vụ kiểm sát điều tra, đồng thời trong phạm vi điều kiện và khả năng của mình sẽ trực tiếp và điều tra một
số loại phạm pháp kinh tế và hành vi phạm pháp đã tương đối rõ
Đến giai đoạn những năm 80, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm
1980 trong đó quy định chức năng của VKS như sau: “VKS nhân dân tối cao nước Cộng hòaXHCN Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các bộ, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và các đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước
và công dân, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”.Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình" (Điều 138) Trên cơ sở đó Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể chức năng kiểm sát khởi tố tại Chương II Tuy nhiên, trong giai đoạn này chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ,
cụ thể về trình tự thủ tục hoạt động điều tra, cũng như hoạt động kiểm sát khởi tố
vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm
Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động lập pháp của Quốc hội BLTTHS đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục khởi tố - điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, bên cạnh đó có quy định về hoạt động của VKS trong khởi tố với mục đích là nhằm xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội Điều 23 BLTTHS quy định: “VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Trang 34Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ
cá nhân hoặc tổ chức nào” Với quy định đó VKS thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động của VKS trong khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt thời gian hơn 15 năm thực hiện BLTTHS, chức năng của VKS trong khởi tố vụ án hình sự đã góp phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm, đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật
tự an toàn xã hội để phát triển một nền kinh tế bền vững trong thời kỳ đổi mới của đất nước ta, đồng thời tăng cường pháp chế XHCN
Năm 2001, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (sau đây được gọi là Hiến pháp năm 1992 sửa đổi), lần sửa đổi này đã điều chỉnh chức năng của VKS với quy định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” (Điều 137) Như vậy, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) đã quy định rõ kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng chính của VKS, điều đó thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước tiếp tục khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp nói chung và trong khởi tố vụ án h́nh sự nói riêng là chức năng quan trọng và chỉ giao cho cơ quan VKS thực hiện Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi), Luật tổ chức VKSND năm 2002 được ban hành và tại các Điều 12, 14 chương II quy định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các CQĐT và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” Bên cạnh đó, để đáp ứng những yêu cầu trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong thời kỳ mới là nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, vừa bảo đảm chống để lọt tội phạm vừa bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân không bị vi phạm ,
Trang 35đồng thời trải qua hơn 10 năm thực hiện BLTTHS năm 1988 đã nảy sinh những bất cập trong thực tiễn áp dụng, đòi hỏi cần phải được sửa đổi, bổ sung Nên năm
2003, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XI đã tiến hành thảo luận và thông qua BLTTHS năm 2003 thể hiện những tư tưởng mới về cải cách tư pháp hình sự, trong đó tại Điều 2 Chương II - Những nguyên tắc cơ bản có quy định: “ VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này
VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử
lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội” Ngoài ra, còn có những quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi kiểm sát khởi tố - điều tra như Điều 113, v.v
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ quan VKS thì vai trò của VKS trong hoạt động khởi tố vụ án hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm minh và thống nhất các quy định pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm là những nhiệm vụ then chốt để phát triển xã hội, một xã hội ổn định là một xã hội ít tội phạm Phòng ngừa và
Trang 36đấu tranh chống tội phạm không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mọi công dân tổ chức trong xã hội
Trong công cuộc giữ gìn an ninh trật tự cho xã hội, vai trò của những đơn vị trực tiếp đấu tranh chống tội phạm là vô cùng quan trọng VKS là cơ quan trực tiếp đấu tranh chống tội phạm Với chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự mà Nhà nước giao phó, là đảm bảo cho mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện xử
lý, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội, đảm bảo mọi hoạt động tư pháp hình sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật Góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm
Trong khởi tố vụ án hình sự VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hành vi xử sự của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án
Chỉ có VKS là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, phát động quyền công tố một cách độc lập, có quyền tự mình khởi tố vụ án hình sự, yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi, huy rbor biện pháp bắt, tạm giữ, chấp nhận hoặc không chấp nhận quyết định khởi tố vụ án của các cơ quan khác có thẩm quyền Mọi quyết định khởi tố vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền khởi tố chỉ thực
sự có hiệu lực sau khi đã được VKS xem xét, quyết định
Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án hình sự chủ yếu tập trung vào hoạt động áp dụng pháp luật của cư quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Khi tiến hành hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự VKS được sử dụng tất cả những quyền năng pháp lý do luật định để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan và người có thẩm quyền
Trang 37tiến hành các hoạt động trong giai đoạn khởi tố vụ án, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Tóm lại những biện pháp pháp lý độc lập mà VKS thực hiện trong giai đoạn khởi tố vụ án là thực hành quyền công tố Những biện pháp mà VKS sử dụng để phát hiện vi phạm và yêu cầu khắc phục trong giai đoạn khởi tố vụ án là nội dung kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Tất cả những luận cứ trên là cơ sở để đánh giá thực trạng của VKS trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ở chương tiếp theo
Trang 38Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1988 đến nay, từ BLTTHS năm 1988 sửa đổi bổ sung lần thứ nhất năm 1990, lần thứ hai năm 1992, lần thứ
ba năm 2000 và đến BLTTHS năm 2003 thì chức năng của VKS trong tố tụng hình sự đều đƣợc thể hiện một cách rõ ràng, Điều 23 BLTTHS năm 1988 quy định: “VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh
và thống nhất ” Theo quy định của BLTTHS năm 2003 tại Điều 23:Viện kiểm
sát thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Tòa án.Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này Nhƣ vậy, BLTTHS năm 1988 và
năm 2003 đều quy định rõ hai chức năng của VKS trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Nhƣng nội dung của BLTTHS năm 2003 đã thể hiện đƣợc sự độc lập giữa chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đề cao đƣợc vai trò của chức
năng thực hành quyền công tố
2.1.1 Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Trang 39Chức năng thực hành quyền công tố của VKS trong khởi tố vụ án hình
sự được thể hiện qua các hoạt động pháp lý độc lập liên quan trực tiếp đến tội phạm, chức năng này được thể hiện qua các hoạt động cụ thể:Trực tiếp khởi tố
vụ án hình sự;Yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án;Một số hoạt động khác như:Hủy bỏ các quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án không có căn cứ, trái pháp luật của CQĐT và các cơ quan khác có thẩm quyền;Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt người trong trường hợp khẩn cấp, khám xét, tạm giữ
Về trực tiếp khởi tố vụ án hình sự, Điều 87 BLTTHS năm 1988 quy định khi có dấu hiệu của tội phạm thì VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự: “Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì CQĐT, VKS phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự ” Như vậy BLTTHS năm 1988 đã quy định cụ thể về chức năng trực tiếp khởi tố vụ án hình sự của VKS
Điều 36, 104 và 109 BLTTHS năm 2003 quy định, VKS chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án.Khoản 1, Điều 104 BLTTHS năm 2003: “VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của các cơ quan quy định tại khoản này và trong trường hợp Hội đồng xét xử yêu cầu khởi tố vụ án.”
Như vậy, về thẩm quyền trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án của VKS theo quy định của BLTTHS năm 1988 rộng hơn so với quy định của BLTTHS năm 2003 Theo quy định của BLTTHS năm 1988 VKS có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án trong mọi trường hợp còn theo BLTTHS năm 2003 thì VKS chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án trong hai trường hợp
Về yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 không quy định cụ thể về
Trang 40thẩm quyền yêu cầu khởi tố vụ án của VKS nhưng theo hướng dẫn tại Điểm 2 mục 2 Thông tư liên ngành số 03/TTLN ngày 19/5/1992 thì khi kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm của CQĐT, VKS có quyền yêu cầu khởi tố hoặc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, chuyển cho CQĐT để tiến hành điều tra Như vậy, VKS có thể trực tiếp khởi tố vụ án khi xác định có dấu hiệu của tội phạm, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để VKS thực hiện chức năng công tố
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định khi thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình
sự, VKS yêu cầu CQĐT khởi tố vụ án hình sự
Về vấn đề thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, BLTTHS năm 1988 không quy định về vấn đề này Trong khi đó Điều 106 BLTTHS năm
2003 quy định: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì CQĐT,VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.”
Sau khi khởi tố vụ án hình sự, CQĐT có điều kiện thu thập thêm nhiều chứng cứ, tài liệu giúp cho việc nhận thức, đánh giá về hành vi phạm tội đầy đủ
và chính xác hơn Vì vậy, những nhận thức đánh giá ban đầu về tội phạm khi khởi tố vụ án nhiều khi không còn đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra hoặc phát hiện thêm tội phạm mới và vì vậy quyết định khởi tố vụ án cần được thay đổi, bổ sung cho phù hợp Luật quy định chỉ có CQĐT và VKS mới có thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì VKS có văn bản yêu cầu để CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nếu CQĐT không nhất trí và rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này không có căn cứ thì VKS căn cứ Khoản 5, Điều 112 của BLTTHS ra quyết định hủy bỏ