1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra - những vấn đề lý luận và thực tiễn

111 1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, CQĐT, ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT có nhiệm vụ điều tra theo thẩm quyền để phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác m

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

Trang 2

MỤC LỤC Trang

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều

1.2 Mối quan hệ của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra 23

1.2.1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được

1.2.2.1.Mối quan hệ với các cơ quan khác thuộc Công an nhân

1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng

1.4 Người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra theo luật tố tụng

1.5 Người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra theo luật tố tụng

Trang 3

2.2.2 Chất lượng người tiến hành tố tụng trong CQĐT 61

2.2.4 Công tác bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan

2.3 Thực trạng về hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

CỦA NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN ĐIỀU TRA 80

3.1 Những định hướng đổi mới người tiến hành tố tụng trong Cơ quan

3.2.4 Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa Điều tra viên

với người tiến hành tố tụng khác trong quá trình giải quyết

3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra pháp luật, xử lý kỷ

3.2.6 Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền,

sự hỗ trợ phối hợp của các ngành liên quan trong hoạt động

3.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và chế độ chính sách đối

Trang 4

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

- BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự

- TTATXH Trật tự an toàn xã hội

Trang 5

mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, đ-ợc tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng và ng-ời tiến hành tố tụng khỏc nhau với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy

định Là một cơ quan trong hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, CQĐT, ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT có nhiệm vụ điều tra theo thẩm quyền để phát hiện nhanh chóng, kịp thời, chính xác mọi hành vi phạm tội; thực hiện các biện pháp

điều tra theo quy định của pháp luật TTHS nhằm làm rõ tội phạm, người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố; tìm ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm

Ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT có vị trí quan trọng trong quá trình

điều tra tội phạm, sự thành công hay thất bại trong hoạt động truy tố, xét xử tội phạm của Viện Kiểm sát và Tòa án các cấp đều bắt nguồn từ hiệu quả và chất l-ợng của hoạt động điều tra Hơn 60 năm tồn tại và phát triển, ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT ngày càng đ-ợc củng cố và hoàn thiện Kết quả hoạt động trong hơn nửa thế kỷ qua đã chứng minh sự đóng góp to lớn của những ng-ời tiến hành

tố tụng trong CQĐT trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn TTATXH, phát hiện, ngăn ngừa, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm nguy hiểm cho xã hội

Những năm gần đây, tình hình tội phạm ở n-ớc ta xẩy ta nghiêm trọng, diễn biến phức tạp Công tác điều tra tội phạm đã đạt đ-ợc nhiều kết quả, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo

vệ lợi ích của nhà n-ớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới

Trong thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực và trong n-ớc sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn những yếu tố gây mất ổn định an ninh quốc gia,

Trang 6

trong đó có khả năng xẩy ra các cuộc biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn là ch-a thể loại trừ Tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, có chiều h-ớng gia tăng, các thế lực thù địch vẫn ráo riết chống phá n-ớc ta, nhiều loại tội phạm mới nẩy sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa Việt Nam là thành viên của tổ chức th-ơng mại thế giới WTO Ph-ơng thức thủ đoạn hoạt động của tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt, vì vậy công tác điều tra, xử lý tội phạm ngày càng khó khăn, phức tạp hơn

Hoạt động điều tra của ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT tr-ớc bối cảnh đất n-ớc hội nhập quốc tế, mở rộng dân chủ, dân trí của ng-ời dân ngày một cao, yêu cầu của Đảng, Nhà n-ớc, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân đối với chất l-ợng công tác điều tra, xử lý tội phạm phù hợp với tình hình mới, vừa nâng cao đ-ợc tỷ lệ điều tra khám phá, điều tra tố tụng, vừa hạn chế đ-ợc oan sai, tiêu cực, bỏ lọt tội phạm và những vi phạm khác trong hoạt động điều tra

Pháp luật tố tụng hình sự của n-ớc ta đã có những quy định xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng,

điều đó đ-ợc thể hiện trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự n-ớc ta ngay từ những năm thành lập n-ớc đến nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 1989 thể hiện một b-ớc tiến lớn trong lập pháp tố tụng hình sự của Nhà n-ớc ta, nh-ng do

đ-ợc ban hành trong thời kỳ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp nên các quy định

về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT còn nhiều hạn chế Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã đánh dấu một b-ớc tiến quan trọng trong pháp luật tố tụng hình sự về việc xác định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiện của ng-ời tiến hành tố tụng trong CQĐT, khắc phục một b-ớc những khiếm khuyết của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1989 Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và chức năng bảo vệ của luật ở giai đoạn hiện nay, vẫn cho thấy còn tồn tại một số điểm hạn chế:

Trang 7

- Điều tra các vụ án theo đúng thẩm quyền có hiệu quả ch-a cao, ch-a

đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới Xu h-ớng tội phạm vẫn gia tăng về số l-ợng cũng nh- quy mô phạm tội, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng

- Thẩm quyền điều tra chồng chéo giữa các CQĐT với nhau Trong CQĐT vừa có chức năng điều tra theo tố tụng hình sự, vừa cú chức năng tiến hành các hoạt động trinh sát phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm

- Vấn đề t- pháp và hành chính lẫn lộn trong cùng một đơn vị, ng-ời

đứng đầu đơn vị vừa là Thủ tr-ởng hoặc Phó Thủ tr-ởng CQĐT lại vừa là Thủ tr-ởng về hành chính

- Yêu cầu về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 trong Nghị quyết

số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chớnh trị đề cập đến cải cách CQĐT

theo h-ớng “Xác định rõ nhiệm vụ của Cơ quan điều tra trong mối quan hệ với

các cơ quan khác đ-ợc giao một số hoạt động điều tra theo h-ớng Cơ quan

điều tra chuyên trách điều tra tất cả các vụ án hình sự, các cơ quan khác chỉ tiến hành một số biện pháp điều tra theo yêu cầu của Cơ quan điều tra chuyên trách Nghiên cứu và chuẩn bị mọi điều kiện để tiến tới tổ chức lại các cơ quan điều tra theo h-ớng thu gọn đầu mối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác trinh sát với hoạt động điều tra tố tụng hình sự“

Về mặt lý luận, đã có nhiều tác giả đề cập đến tổ chức bộ máy và thẩm quyền của CQĐT, những công trình nghiên cứu khoa học này đã có đóng góp

to lớn vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của CQĐT trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự Tuy nhiên, ch-a có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về người tiến hành tố tụng trong CQĐT từ khi thực hiện Luật Tố tụng hỡnh sự năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 Với nhận

thức nh- vậy, việc chọn đề tài “Người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều

tra - những vấn đề lý luận và thực tiễn“ làm đề tài luận văn thạc sỹ là rất cần

thiết trong tình hình hiện nay

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua, việc nghiờn cứu về người tiến hành tố tụng núi chung và người tiến hành tố tụng trong CQĐT núi riờng đó thu hỳt được sự quan tõm của nhiều nhà nghiờn cứu lý luận và cỏn bộ thực tiễn Đến nay đó cú nhiều cụng trỡnh nghiờn cứu được cụng bố như:

- Dương Mạnh Hùng “Thực tiễn điều tra v¯ yêu cầu ho¯n thiện Bộ luật

Tố tụng Hình sự về tổ chức Cơ quan điều tra” Một số khuyến nghị về xây dựng

Bộ luật Tố tụng Hình sự- Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hà Nội năm 2000

- Đỗ Ngọc Quang “Cơ quan điều tra, thủ trưởng cơ quan điều tra v¯ điều tra viên trong Công an nhân dân” Nh¯ xuất b°n Công an nhân dân năm 2000

- Đỗ Ngọc Quang “Cơ quan điều tra Công an nhân dân trong tố tụng hình sự” Nh¯ xuất b°n Công an nhân dân 2001

- Đ¯o Hữu Dân “Mối quan hệ giữa Cơ quan CSĐT với Viện kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự” Luận án tiến sỹ luật học năm 2006

Tỡnh hỡnh nghiờn cứu nờu trờn cho thấy, tuy đó cú một số cụng trỡnh nghiờn cứu về CQĐT, người tiến hành tố tụng trong CQĐT, nhưng những cụng trỡnh đú mới dừng lại ở một số lĩnh vực, chưa cú cụng trỡnh nào nghiờn cứu toàn diện tổng thể về người tiến hành tố tụng trong CQĐT Mặt khỏc, do được tiến hành nghiờn cứu đó lõu, nờn chưa thể hiện được quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong tiến trỡnh cải cỏch tư phỏp núi chung, cũng như chưa thể hiện được những nội dung cơ bản của Bộ luật tố tụng hỡnh sự năm 2003 và Phỏp lệnh tổ chức điều tra hỡnh sự năm 2004

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiờn cứu của luận văn

3.1 Mục đớch, nhiệm vụ:

- Về mặt lý luận:

Mục đớch nghiờn cứu chớnh của luận văn là làm sỏng tỏ một số vấn đề lý luận của người tiến hành tố tụng trong CQĐT; đỏnh giỏ đỳng thực trạng đội

Trang 9

ngũ cũng như hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu chính sau:

+ Luận giải về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong CQĐT được quy định trong Bộ luật tố tụng hình

sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự khác Mối quan hệ giữa những người tiến hành

tố tụng trong qu¸ tr×nh điều tra c¸c vô ¸n h×nh sù

+ Nghiên cứu những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động của người tiến hành tố tụng trong CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

+ Khái quát thực trạng về đội ngũ và hoạt động điều tra của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan Cảnh sát điều tra

+ Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS và pháp luật hình sự

+ Đề xuất một số giải pháp hoµn thiÖn ph¸p luËt tè tông h×nh sù n-íc ta trong bèi c¶nh c¶i c¸ch t- ph¸p theo tinh thÇn NghÞ quyÕt sè 48-NQ/TW ngµy 24/5/2005 vµ NghÞ quyÕt sè 49-NQ/TW ngµy 02/6/2005 cña Bé ChÝnh trÞ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng trong CQĐT nói chung, Cơ quan Cảnh sát điều tra nói riêng

+ Lµ lµi liÖu tham kh¶o cho häc tËp vµ nghiªn cøu

Trang 10

+ Nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân tác động tiêu cực đến hoạt động

đúng đắn của người tiến hành tố tụng trong cơ quan điều tra, từ đó có những giải pháp hữu hiệu xây dựng đội ngũ này thực sự lớn mạnh và hoạt động chỉ tuân thủ theo pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân vào pháp luật và công lý

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Cơ quan điều tra theo quy định hiện hành bao gồm: Cơ quan điều tra trong Cụng an nhõn dõn; Cơ quan điều tra trong Quõn đội nhõn dõn; Cơ quan điều tra Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao; Cơ quan điều tra Viện kiểm sỏt quõn

sự trung ương Cơ quan điều tra trong Cụng an nhõn dõn cú: Cơ quan Cảnh sỏt điều tra và Cơ quan An ninh điều tra Trong khuân khổ của luận văn này, tác giả giới hạn việc nghiờn cứu người tiến hành tố tụng trong Cơ quan Cảnh sỏt điều tra (là lực lượng cú đội ngũ người tiến hành tố tụng lớn nhất, cú thẩm quyền điều tra hầu hết cỏc tội được quy định trong Bộ luật hỡnh sự 1999) và tập trung các vấn đề sau:

- Một số vấn đề lý luận về người tiến hành tố tụng trong CQĐT theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004, Pháp lệnh sửa đổi điều 9 của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004

- Thực trạng về đội ngũ và hoạt động của người tiến hành tố tụng trong

cơ quan Cảnh sỏt điều tra giải quyết cỏc vụ án hình sự trờn phạm vi toàn quốc, tìm ra nguyên nhân khách quan cũng nh- chủ quan dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong hoạt động điều tra

- Đ-a ra một số giải pháp gúp phần nõng cao hiệu quả hoạt động của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Cảnh sỏt điều tra đỏp ứng yờu cầu đấu tranh phũng, chống tội phạm phự hợp với tình hình mới hiện nay

4 Cơ sở ph-ơng pháp luận và phương phỏp nghiên cứu

- Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở ph-ơng pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; t- t-ởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ

Trang 11

trương, đ-ờng lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà n-ớc ta về tổ chức

bộ máy nhà n-ớc đấu tranh phũng, chống tội phạm; về đổi mới, cải cỏch hệ

thống cơ quan tư phỏp núi chung và CQĐT núi riờng

- Trong quá trình nghiên cứu, cũn sử dụng các ph-ơng pháp, biện pháp nghiên cứu cụ thể nh-: ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp; ph-ơng pháp

so sánh đối chiếu; ph-ơng pháp thống kê; nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo tổng kết, báo cáo chuyên đề của Cơ quan Cảnh sỏt điều tra Bộ Công an Ngoà i ra, tỏc giả cũng tiếp thu cú chọn lọc kết quả của cỏc cụng trỡnh đó được cụng bố; cỏc đỏnh giỏ, tổng kết của cơ quan chuyờn mụn và cỏc chuyờn gia về những vấn đề cú liờn quan đến tổ chức và hoạt động của

người tiến hành tố tụng trong CQĐT

5 í nghĩa của luận văn

Ở bỡnh diện lý luận, kết quả nghiờn cứu của luận văn gúp phần hoàn thiện lý luận về người tiến hành tố tụng núi chung; tổ chức, hoạt động điều tra

vụ ỏn hỡnh sự của người tiến hành tố tụng trong CQĐT núi riờng

Về thực tiễn, luận văn sẽ là tài liệu cú giỏ trị, cú thể dựng làm tài liệu tham khảo, nghiờn cứu, học tập trong cỏc cơ sở đào tạo Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung cỏc quy định của phỏp luật tố tụng hỡnh sự về tổ chức, hoạt động của người tiến hành tố tụng trong CQĐT

6 Bố cục của luận văn

Luận văn được bố cục gồm: Phần mở đầu, Chương 1, Chương 2, Chương 3, Kết kuận và Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 12

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI TIẾN HÀNH

TỐ TỤNG TRONG CƠ QUAN ĐIỀU TRA

1.1 Khái niệm, đặc điểm người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra

Người tiến hành tố tụng là một trong các chủ thể của tố tụng hình sự, có vai trò quan trọng mang tính quyết định trong quá trình chứng minh, giải quyết

vụ án hình sự Người tiến hành tố tụng lµ mét trong ba nhóm chñ thÓ cña tè tông h×nh sù, vµ trên cơ sở phân loại theo các cơ quan tiến hành tố tụng th× cã: người tiến hành tố tụng trong CQĐT, người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát, người tiến hành tố tụng trong cơ quan Toà án

Người tiến hành tố tụng trong CQĐT gồm có: Điều tra viên, Thủ trưởng CQĐT và Phó Thủ trưởng CQĐT Luật TTHS hiện hành quy định quyền hạn, trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ đối với người tiến hành tố tụng nói chung

và người tiến hành tố tụng trong CQĐT nói riêng là cơ sở cho các hoạt động của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự

Các sách, tạp chí ở nước ta thời gian gần đây đã có nhiều bình luận, nghiên cứu về người tiến hành tố tụng nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập toàn diện đến người tiến hành tố tụng trong CQĐT như: khái niệm, đặc điểm,

ý nghĩa, vai trò của loại người này trong TTHS Mục này của luận văn sẽ làm

rõ những nội dung trên

1.1.1 Vị trí, vai trò của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra

a) Người tiến hành tố tụng trong CQĐT trực tiếp thực hiện chức năng của CQĐT trong tố tụng hình sự Quá trình giải quyết vụ án hình sự được bắt

đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thông tin ban đầu về tội phạm và kết thúc khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực thi hành Trong khoa học pháp lý, quá trình này được chia thành các giai đoạn tố tụng khác nhau phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến hành tố tụng và

Trang 13

được diễn ra liên tục, kế tiếp nhau Các giai đoạn đó bao gồm: giai đoạn khởi

tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử, giai đoạn thi hành án Các giai đoạn tố tụng là các “phần” độc lập, liên quan chặt chẽ với nhau, phân biệt với nhau bằng những người tham gia tố tụng tương ứng, có thủ tục, trình

Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn TTHS, trong đó CQĐT có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan làm

cơ sở cho việc xét xử của Tòa án [24, Tr11]

Như vậy, giai đoạn điều tra là giai đoạn tố tụng liền ngày sau giai đoạn khởi tố vụ án hình sự và là giai đoạn bắt buộc, có ý nghĩa tiền đề, cơ sở cho hoạt động xét xử - trung tâm của quá trình tố tụng Các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra được tiến hành bởi cơ quan CQĐT có thẩm quyền kể từ khi

có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi có kết luận điều tra, đề nghị

Trang 14

truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra vụ án Việc thực hiện các hoạt động tố tụng này chính là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của CQĐT trong TTHS Đó

là: Thứ nhất, xác định có tội phạm xảy ra hay không Nếu có tội phạm xảy ra

thì xác định người phạm tội và làm rõ tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm làm cơ sở cho việc ra quyết định truy tố, quyết định đưa vụ án ra xét xử,

hoặc quyết định đình chỉ vụ án; Thứ hai, xác định được tính chất, mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra, làm cơ sở cho phán quyết của Toà án; Thứ ba, phát

hiện nguyên nhân, điều kiện nẩy sinh tội phạm từ đó đưa ra các biện pháp

phòng ngừa tội phạm; Thứ tư, góp phần vào việc giáo dục công dân ý thức

chấp hành pháp luật và các quy tắc của đời sống xã hội chủ nghĩa

Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ này, CQĐT phải tiến hành thông qua những con người cụ thể, đó là người đứng đầu CQĐT và các Điều tra viên

Vì vậy, có thể khẳng định người tiến hành tố tụng trong CQĐT trực tiếp thực hiện chức năng, nhiệm vụ của CQĐT góp phần chứng minh, làm rõ và xử lý tội phạm cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa

b) Người có người tiến hành tố tụng trong CQĐT khi tiến hành tố tụng đảm bảo tính độc lập trong hoạt động tư pháp Tư pháp độc lập là một trong

những biểu hiện rõ nét nhất của nhà nước pháp quyền và của nền tư pháp dân chủ Sự độc lập, khách quan, vô tư của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là điều kiện quan trọng để đảm bảo công lý Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên, các cơ quan tiến hành tố tụng là những pháp nhân, nên chỉ có thể đánh giá tính độc lập, khách quan trong hoạt động của những cơ quan này thông qua thành viên của nó Do đó luật TTHS xác định rõ vai trò và trách nhiệm cá nhân của người tiến hành tố tụng với các chức danh cụ thể có địa vị pháp lý độc lập như: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên toà, Kiểm sát viên, Điều tra viên… Đồng thời, luật TTHS cũng có rất nhiều quy định để rằng buộc, bảo đảm tính độc lập, vô tư, khách quan của những người tiến hành

tố tụng [14, Tr 53]

Trang 15

Cũng giống như những cơ quan tiến hành tố tụng khác, sự độc lập, vô tư của CQĐT chỉ có thể đánh giá qua những người tiến hành tố tụng cụ thể trong CQĐT Pháp luật đã quy định người tiến hành tố tụng nói chung và người tiến hành tố tụng trong CQĐT phải chịu trách nhiệm cá nhân về những hành vi, quyết định của mình

Yêu cầu đó xuất phát từ đặc thù của hoạt động điều tra là hoạt động tương đối độc lập của Điều tra viên Điều tra viên là người trực tiếp tiến hành điều tra theo quyết định, mệnh lệnh, phân công của Thủ trưởng CQĐT Tuy nhiên, các quyết định, mệnh lệnh của Thủ trưởng CQĐT là nhằm tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động điều tra chứ không chi tiết hóa cách thức tiến hành các hoạt động điều tra cụ thể Trong quá trình điều tra, Điều tra viên phải lập cả kế hoạch chung và kế hoạch cụ thể nhằm chi tiết hoá các bước trong kế hoạch chung Sau khi kế hoạch điều tra đã được Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT phê duyệt thì Điều tra viên có trách nhiệm trực tiếp tổ chức thực hiện kế hoạch Ngoài ra, Điều tra viên còn có nhiệm vụ theo dõi các công việc, tổng hợp tình hình báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT để kịp thời thay đổi, bổ sung

kế hoạch điều tra Sau những khoảng thời gian nhất định, Điều tra viên chủ động tiến hành sơ kết việc thực hiện kế hoạch điều tra để đánh giá các kết quả

đã đạt được, đồng thời kiểm tra, đánh giá các chứng cứ đã thu thập được, so với các vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự để xây dựng kế hoạch điều tra tiếp theo Cứ như vậy cho đến khi đã thu thập được đầy đủ các chứng cứ ràm rõ các vấn đề cần chứng minh, lúc đó mới được kết thúc điều tra vụ án

Do đó, phẩm chất cá nhân, khả năng độc lập hành động của Điều tra viên vẫn

là thế mạnh và là điều kiện không thể thiếu được để có thể hoàn thành nhiệm

vụ Đối diện với sự đa dạng, phong phú, diễn biến không ngừng của các tình huống thực tiễn trong khi làm nhiệm vụ tiến hành tố tụng, Điều tra viên phải

có chuyên môn, có bản lĩnh, có óc sáng tạo và sự linh hoạt trong khuôn khổ

Trang 16

pháp luật Chính vì vậy, hoạt động điều tra của Điều tra viên được coi là tương đối độc lập Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT là những Điều tra viên nắm trọng trách đại diện, điều hành CQĐT nên càng phải đáp ứng yêu cầu về tính khách quan, độc lập trong hoạt động như những người tiến hành tố tụng khác Như vậy, chính yêu cầu về tính độc lập, khách quan, vô tư của quá trình giải quyết vụ án đã đặt ra đòi hỏi về sự hiện diện của người tiến hành tố tụng trong CQĐT với địa vị, trách nhiệm pháp lý rõ ràng và độc lập

c) Người tiến hành tố tụng trong CQĐT góp phần hướng tới mục tiêu phát hiện kịp thời, xử nhanh chóng, chính xác, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn

điều tra là phát hiện, thu thập, bảo toàn kịp thời, hợp pháp các chứng cứ của vụ

án [19, Tr 235] Sở dĩ như vậy là vì chứng cứ là những sự vật, hiện tượng tồn tại khách quan nên xuất hiện và thay đổi, biến dạng một cách tự nhiên chứ không tồn tại vĩnh viễn Nếu không được phát hiện và thu thập, bảo toàn kịp thời thì các chứng cứ sẽ tự mất đi, biến dạng và dẫn đến hạn chế khả năng làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Vì lẽ đó Nhà nước phải thành lập CQĐT chuyên trách, có lực lượng, có trang bị các phương tiện khoa học để thực hiện nhiệm vụ phát hiện, thu thập, bảo toàn chứng cứ nhanh chóng Nếu hoạt động phát hiện, thu thập, bảo toàn chứng cứ của CQĐT không được kịp thời, chính

xác thì sẽ dẫn đến bế tắc trong giải quyết vụ án

Toàn bộ những hoạt động nói trên được tiến hành bởi các Điều tra viên

là những chuyên gia trong lĩnh vực thu thập, đánh giá các chứng cứ Nhiệm vụ làm rõ hành vi phạm tội và người thực hiện tội phạm đó một cách nhanh chóng, khách quan, toàn diện, chính xác, kịp thời, triệt để, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và đúng pháp luật của CQĐT được thực hiện thông qua vai trò của Điều tra viên:

Trước tiên, Điều tra viên là người tiếp nhận và xử lý tin báo, tố giác về tội phạm

Trang 17

Thứ hai, Điều tra viên là người giữ vai trò chủ yếu đối với quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự và bị can Các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT về cơ bản dựa vào những tài liệu, chứng cứ Điều tra viên đã thu thập được

Sau đó chính Điều tra viên là người lập kế hoạch điều tra vụ án hình

sự, đồng thời là người tổ chức thực hiện kế hoạch điều tra đó, trực tiếp thực hiện các hoạt động, biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ chứng minh vụ án

Điều tra viên là người bảo quản, đánh giá chứng cứ của vụ án trên cơ

sở niềm tin nội tâm và ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa

Ngày nay, khi khoa học công nghệ đã có bước phát triển nhảy vọt, nhiều thành tựu khoa học được ứng dụng vào các hoạt động tư pháp trong đó

có công tác điều tra thì khả năng, trí tuệ và vai trò của Điều tra viên vẫn là điều không thể thay thế Nếu Điều tra viên là người có trâch nhiệm và trình độ pháp luật, nghiệp vụ vững vàng, có kinh nghiệm điều tra thì kết quả điều tra sẽ đạt ở mức cao Ngược lại, nếu Điều tra viên không đủ điều kiện và tiêu chuẩn đó thì

sẽ ảnh hưởng lớn đén kết quả điều tra Nếu Điều tra viên lồng ý thức chủ quan, phiến diện hoặc có động cơ tiêu cực, chủ động làm sai lệnh hồ sơ vụ án thì sự thật vụ án có thể bị đảo lộn dẫn đến bỏ lọt tộ phạm hoặc làm oan người vô tội

Chính vì vậy, Điều tra viên giữ vai trò quan trọng trong quyết định cuối cùng của tiến trình điều tra, đó là kết luận điều tra và đề nghị Viện kiểm sát truy tố hay không truy tố người phạm tội Vai trò đó của Điều tra viên là một thể hiện của sự cần thiết phải có người tiến hành tố tụng trong CQĐT

Tóm lại, để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra nhanh chóng, chính xác, hiệu quả, đúng trình tự, thủ tục theo luật định đòi hỏi phải có một lực lượng chuyên trách thực hiện, đó chính là người tiến hành tố tụng trong CQĐ gồm: Điều tra viên, Thủ trưởng CQĐT, Phó Thủ trưởng CQĐT

Trang 18

1.1.2 Đặc điểm của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra

a) Người tiến hành tố tụng trong CQĐT được bổ nhiệm theo điều kiện

và cách thức do luật quy định Điều kiện và cách thức bổ nhiệm người tiến

hành tố tụng trong CQĐT ở mỗi nước là khác nhau tuỳ theo quy định của pháp luật TTHS nước đó Tuy nhiên, thông thường đều quy định các điều kiện về: phẩm chất chính trị, trình độ pháp luật, học vấn, năng lực chuyên môn Ở Việt Nam, pháp luật TTHS quy định người tiến hành tố tụng trong CQĐT phải đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về năng lực và phẩm chất như: phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực; có trình

độ đại học an ninh, đại học cảnh sát hoặc đại học luật; có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra; có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có trình độ đại học các ngành khác có đủ các tiêu chuẩn nói trên và có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra thì cũng có thể được bổ nhiệm làm Điều tra viên Đối với các bậc Điều tra viên lại có thêm một số tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể: Điều tra viên sơ cấp: đáp ứng các tiêu chuẩn chung; có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên; là sỹ quan Công an, sỹ quan Quân đội tại ngũ, cán bộ Viện kiểm sát nhân dân; có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng

Điều tra viên trung cấp: đáp ứng các tiêu chuẩn chung; đã là Điều tra viên sơ cấp ít nhất là năm năm; có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng; có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp

Điều tra viên cao cấp: đáp ứng các tiêu chuẩn chung; đã là Điều tra viên trung cấp ít nhất là năm năm; có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm; có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội

Trang 19

phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp; có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp, Điều tra viên trung cấp Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT là những người tiến hành tố tụng có

vị trí đặc biệt trong CQĐT nên về tiêu chuẩn, điều kiện có yêu cầu cao hơn: phải là Điều tra viên cao cấp hoặc Điều tra viên trung cấp; có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra

Để đảm bảo địa vị pháp lý, sự độc lập của các chức danh người tiến hành tố tụng thì những người này cần phải được bổ nhiệm theo thủ tục chặt chẽ Pháp luật tố tụng hình sự quy định những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện phải được thông qua Hội đồng tuyển chọn theo đúng quy định trước khi trình cấp có thẩm quyền bổ nhiệm

Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên bao gồm các thành viên trong cùng ngành và do lãnh đạo ngành làm Chủ tịch Hội đồng Đây là điểm khác biệt với cách thức bổ nhiệm Kiểm sát viên và Thẩm phán Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán và Kiểm sát viên gồm các thành viên trong và ngoài ngành tham gia

Việc bổ nhiệm Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT được thể hiện bằng quyết định của thủ trưởng ngành và được cấp giấy chứng nhận điều tra viên Trong khi đó, chức danh Kiểm sát viên trong ngành kiểm sát lại do Chủ tịch nước bổ nhiệm đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

bổ nhiệm đối với Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, huyện và Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, khu vực chức danh Thẩm phán do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm đối với Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; do Chánh án Toà án nhân dân tối cao ký quyết định bổ nhiệm đối với Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, huyện và Thẩm phán Toà án quân sự cấp quân khu, khu vực

Trang 20

b) Pháp luật TTHS quy định trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự,

Điều tra viên chỉ có quyền tiến hành các biện pháp điều tra khi được phân công điều tra vụ án hình sự Vì vậy, quyền của Điều tra viên theo pháp luật tố

tụng hình sự nước ta chỉ phát sinh khi họ được phân công điều tra vụ án và trong khi tiến hành hoạt động điều tra Những hành vi tố tụng thông thường do Điều tra viên thực hiện trong giai đoạn điều tra bao gồm: hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại; đối chất; nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản; khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, tham dự giám định

Trong quá trình điều tra một vụ án hình sự cụ thể, tuỳ thuộc vào các tình tiết của vụ án và các giả thiết điều tra mà Điều tra viên được quyền lựa chọn tiến hành những biện pháp điều tra nhất định, không nhất thiết phải tiến hành tất cả các biện pháp điều tra thuộc thẩm quyền của mình (trừ một số biện pháp điều tra bắt buộc phải thực hiện như hỏi cung bị can, khám nghiệm hiện trường ) Khi tiến hành các biện pháp này sẽ làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm tố tụng buộc điều tra viên phải thực hiện theo những quy định của pháp luật về biện pháp điều tra đó

Để đảm bảo hoạt động điều tra được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cũng như việc ngăn chặn hành vi tội phạm có thể xẩy ra thì CQĐT được quyền áp dụng, thay đổi, huỷ

bỏ các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị nghi thực hiện tội phạm để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội cũng như không cho họ có những hành động cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn này được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

tố tụng hình sự

Trang 21

Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Điều tra viên trong phạm vi chức trách của mình, trên cơ sở nghiên cứu kỹ các tình tiết và diễn biến của vụ án, các tài liệu, chứng cứ thu thập được có quyền đề xuất ý kiến lên Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT áp dụng , thay đổi hay huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn như bắt người, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và cũng chính Điều tra viên có trách nhiệm thi hành các lệnh, quyết định đó

Về trách nhiệm, Điều tra viên có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình giống như những người tiến hành tố tụng khác Ngoài ra, Điều tra viên còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng CQĐT về các hành vi, quyết định của mình

Như vậy, khi thực hiện các biện điều tra, biện pháp ngăn chặn theo sự phân công, lệnh, quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và theo quy định của pháp luật TTHS thì đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của Điều tra viên Tuy nhiên, do vị trí đặc thù của lực lượng điều tra tố tụng hình sự ở nước ta (trực thuộc các cơ quan hành chính Nhà nước), nên khó

có thể quy định thẩm quyền (kể cả thẩm quyền tố tụng) cho một thành viên nhiều hơn quyền của người đứng đầu tổ chức quản lý thành viên đó Truyền thống đẳng cấp và quan hệ hành chính không cho phép tồn tại xung đột thẩm quyền giữa cấp trên và cấp dưới Ngay cả thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm Điều tra viên cũng do Thủ trưởng CQĐT đề xuất và quyết định cũng đã bao hàm tính phụ thuộc của Điều tra viên vào cơ quan quản lý họ

Thủ trưởng CQĐT là người đứng đầu CQĐT có những nhiệm vụ,

quyền hạn rất quan trọng:

Khi thực hiện chức năng quản lý hoạt động tố tụng của CQĐT, Thủ trưởng CQĐT trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra của CQĐT; Quyết

Trang 22

định phân công Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên trong việc điều tra vụ

án hình sự; Kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó thủ trưởng CQĐT và điều tra viên; Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng CQĐT, của Điều tra viên; Quyết định thay đổi Điều tra viên; Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của CQĐT

Khi thực hiện chức năng tiến hành tố tụng, Thủ trưởng CQĐT ra các quyết định tố tụng: Quyết định khởi tố vụ án; khởi tố bị can; quyết định không khởi tố

vụ án; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định truy nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, xử lý vật chứng; quyết định trưng cầu giám định, quyết định khai quật tử thi; kết luận điều tra vụ án; quyết định đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, quyết định phục hồi điều tra Thủ trưởng CQĐT còn trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra; cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa; ra các quyết định và tiến hành cá hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của CQĐT

Về trách nhiệm của Thủ trưởng CQĐT: Cũng như những người tiến hành tố tụng khác, Thủ trưởng CQĐT có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành vi, quyết định của mình

Phó Thủ trưởng CQĐT có quyền hạn, nghĩa vụ khác nhau khi là người

giúp việc, thay mặt Thủ trưởng và khi là một điều tra viên:

Khi Thủ trưởng CQĐT vắng mặt, Phó Thủ trưởng được Thủ trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý hoạt động điều tra của Thủ trưởng

Khi được phân công điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng CQĐT có những nhiệm vụ và quyền hạn giống như Thủ trưởng trong việc thực hiện chức năng tiến hành tố tụng

Trang 23

Về trách nhiệm, ngoài trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật khi tiến hành tố tụng và phải chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về các hành

vi, quyết định của mình, Phó Thủ trưởng CQĐT còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao

c) Người tiến hành tố tụng trong CQĐT phải chịu trách nhiệm về các

hành vi hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về hành chính, dân sự hoặc hình sự Điều tra viên là người tiến hành tố tụng khi được phân công điều

tra vụ án hình sự, mặt khác lại là nhân viên nhà nước chịu sự ràng buộc về quản lý hành chính, nhất là sự chỉ huy, chỉ đạo của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT Do vậy, Điều tra viên bị điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hành chính như: Luật Công an nhân dân, Pháp lệnh về công chức, các quy định của ngành Ngoài ra, trong quá trình điều tra vụ án, Điều tra viên vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự Nếu có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội và gây thiệt hại thì phải có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự và Nghị quyết số 388/2003 do Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành

Với những phân tích về vị trí, vai trò, chức năng, tiêu chuẩn, điều kiện, cách thức bổ nhiệm người tiến hành tố tụng trong CQĐT có thể đưa ra khái niệm đầy đủ nhất về người tiến hành tố tụng trong CQĐT như sau:

Người tiến hành tố tụng trong CQĐT là công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định, được Nhà nước giao quyền quản lý các hoạt động điều tra, tiến hành điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, thu thập chứng cứ làm

rõ tội phạm, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, nhằm bảo vệ chế

độ chính trị, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trang 24

1.2 Mối quan hệ của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra

Quá trình giải quyết vụ án hình sự được tiến hành bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra khác nhau Đây là các cơ quan nhà nước khác nhau, độc lập với nhau Mỗi cơ quan đều có chức năng, nhiệm vụ riêng của mình để thực thi quyền lực nhà nước Tuy nhiên, trong lĩnh vực hình sự, các cơ quan này đều có chung nhiệm vụ và mục đích là đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị và bảo đảm an toàn xã hội Các cơ quan này đều có trách nhiệm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm minh, kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, các quyền và lợi ích của công dân phải được tôn trọng [45, Tr 45] Chính

từ mục đích này, các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong hoạt động tố tụng hình sự

1.2.1 Mối quan hệ bên trong ngành điều tra

1.2.1.1 Mối quan hệ trong từng Cơ quan điều tra

Quan hệ giữa những người tiến hành tố tụng trong CQĐT (Thủ trưởng CQĐT với Phó thủ trưởng CQĐT và với Điều tra viên):

Khi tiến hành các hoạt động TTHS, Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên chịu sự phân công, chỉ đạo, kiểm tra của Thủ trưởng CQĐT Như đã đề cập ở trên, khi thực hiện chức năng quản lý hoạt động tố tụng của CQĐT, Thủ trưởng CQĐT trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra của CQĐT; Quyết định phân công Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên trong việc điều tra vụ

án hình sự; Kiểm tra các hoạt động điều tra của Phó thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên; Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng CQĐT, của Điều tra viên; Quyết định thay đổi Điều tra viên;

Trang 25

Theo đó, Thủ trưởng CQĐT quyết định Điều tra viên nào là người tiến hành tố tụng trong vụ án cụ thể; tổ chức và chỉ đạo Điều tra viên tiến hành hoạt động điều tra; kiểm tra và có các biện pháp nhằm đảm bảo sự chính xác, khách quan trong hoạt động điều tra của Điều tra viên Trong trường hợp vắng mặt Thủ trưởng CQĐT thì Phó Thủ trưởng CQĐT thay quyền này

Cũng trong mối quan hệ này, về phía Điều tra viên, khi tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng CQĐT Cũng như những người tiến hành tố tụng khác, Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi, quyết định tố tụng của mình Bên cạnh đó, Điều tra viên còn phải chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng cơ quan mình về những hành vi, quyết định tố tụng đó bởi Thủ trưởng CQĐT là cấp trên trực tiếp và là người chỉ đạo, quản lý các hoạt động điều tra

Xem xét mối quan hệ giữa Thủ trưởng, Phó Trưởng CQĐT và Điều tra viên có thể nhận thấy, đây là mối quan hệ vừa mang đặc tính quản lý hành chính nhà nước, vừa mang đặc tính tố tụng hình sự Đặc tính hành chính được thể hiện ở chỗ, Thủ trưởng CQĐT là người chịu trách nhiệm chính toàn bộ hoạt động điều tra của CQĐT trong đó có hoạt động của Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên Điều tra viên là người chịu sự giám sát về mặt hành chính của Thủ trưởng CQĐT [37, Tr 50]

Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, không có quy phạm nào quy định Điều tra viên tiến hành tố tụng độc lập, chỉ tuân theo pháp luật Họ chỉ tiến hành tố tụng theo sự phân công hoặc thực hiện các quyết định, lệnh của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT Như vậy, Điều tra viên một mặt chỉ hoạt động với tư cách là trợ lý giúp việc cho Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, mặt khác Điều tra viên lại phải chịu trách nhiệm về những hoạt động điều tra mà mình không có quyền ký vào văn bản tố tụng Điều này làm hạn chế tính độc lập và sự sáng tạo của Điều tra viên

Trang 26

Tóm lại, mối quan hệ giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT với Điều tra viên dựa trên nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự là mối quan hệ chỉ huy- mệnh lệnh- phục tùng Mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng trong CQĐT với cán bộ điều tra trinh sát:

Trong mỗi CQĐT, ngoài lực lượng người tiến hành tố tụng thực hiện các hoạt động điều tra theo tố tụng hình sự còn tồn tại một lực lượng khác rất quan trọng, đó là những cán bộ điều tra trinh sát Lực lượng điều tra trinh sát được

sử dụng các hoạt động nghiệp vụ trinh sát để phòng ngừa, phát hiện tội phạm bằng các biện pháp trinh sát và điều tra bí mật tội phạm Khi có yêu cầu phối hợp giữa lực lượng trong hoạt động điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp từng lực lượng có trách nhiệm thực hiện những yêu cầu phối hợp Yêu cầu phối hợp trong hoạt động điều tra là nghĩa

vụ bắt buộc đối với trinh sát và Điều tra viên

1.2.1.2 Mối quan hệ giữa các Cơ quan điều tra với nhau

CQĐT được tổ chức trong các ngành khác nhau, thành các cấp khác nhau

Ví dụ như cơ quan Cảnh sát Điều tra được tổ chức ở ba cấp: Bộ, Tỉnh, Huyện Hay cơ quan An ninh điều tra có hai cấp: Bộ và Tỉnh CQĐT trong quân đội chia thành ba cấp: Bộ, Quân khu, Khu vực… Bản thân mỗi cấp điều tra lại gồm có nhiều CQĐT khác nhau, chẳng hạn như: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an gồm có Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý…(Điều 9, 10 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự) Vì vậy nên trong hoạt động tố tụng phát sinh những mối quan hệ giữa các CQĐT trong cùng ngành cùng cấp; giữa CQĐT cấp dưới với CQĐT cấp trên hoặc quan hệ giữa các CQĐT thuộc các ngành khác nhau

Trang 27

Quan hệ giữa các CQĐT cùng cấp và quan hệ giữa các CQĐT thuộc cách ngành khác nhau:

Trong khi thực hiện nhiệm vụ tố tụng, giữa các cơ quan này có mối quan

hệ phân công, phối hợp với nhau Sự phân công giữa các cơ quan này thể hiện

ở thẩm quyền điều tra đã được phân định rõ Mối quan hệ phối hợp thể hiện qua những hoạt động cụ thể như: chuyển vụ án khi xác định rõ thẩm quyền không thuộc cơ quan mình hay ủy thác tiến hành một số hoạt động điều tra khi cần thiết

Quan hệ giữa CQĐT cấp trên và cấp dưới:

Theo nguyên tắc chung về hoạt động điều tra “Cơ quan điều tra cấp dưới chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ của Cơ quan điều tra cấp trên” Điều đó

có nghĩa là trong mối quan hệ này CQĐT cấp dưới phải chịu sự chỉ đạo của CQĐT cấp trên Tuy nhiên, đây là sự chỉ đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ chứ không phải sự can thiệp làm mất đi tính độc lập của hoạt động điều tra

1.2.1.3 Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

Trong TTHS, ngoài CQĐT còn có những cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra Những cơ quan đó báo gồm: Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; lực lượng Cảnh sát biển; các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân

Đây là những cơ quan thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong một số lĩnh vực mà nhà nước giao cho Nhưng trong những địa bàn, lĩnh vực đó thường xuất hiện những hành vi phạm tội mà cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi đó Cho nên pháp luật tố tụng hình sự mới giao cho các cơ quan này quyền tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 28

Mối quan hệ giữa CQĐT với cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra là quan hệ phân công, phối hợp với nhau Sự phân công và phối hợp đó được thể hiện rõ trong quy định của Bộ luật TTHS:

Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, thì cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án;

Đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ cho CQĐT có thẩm quyền trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án

Ngoài ra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thông báo cho CQĐT có thẩm quyền biết về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn; phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu bằng văn bản của CQĐT

có thẩm quyền

1.2.2 Mối quan hệ liên ngành

1.2.2.1.Mối quan hệ với các cơ quan khác thuộc Công an nhân dân

Giữa CQĐT với các cơ quan khác thuộc Công an nhân dân là quan hệ phối hợp công tác Đặc biệt là trong lĩnh vực giám định Lực lượng Công an nhân dân có các cơ quan giám định hình sự: Viện khoa học hình sự (ở Bộ Công an); Phòng giám định (ở Công an tỉnh, thành phố) Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, công tác giám định có vị trí quan trọng, kết luận giám định được coi là một trong các loại nguồn của chứng cứ Trong nhiều trường hợp, việc trưng cầu giám định để khởi tố vụ án, khởi tố bị can hoặc chứng minh những tình tiết của vụ án là bắt buộc Do vậy, sự phối hợp giữa CQĐT và các

cơ quan giám định này đặc biệt quan trọng

Trang 29

Ngoài ra, trong lực lượng Công an nhân dân còn có các cơ quan Công an được giao nhiệm vụ thực hiện các biện pháp nghiệp vụ của ngành phục vụ công tác đấu tranh tội phạm như: biện pháp kiểm tra điện thoại, điện tín, thư; biện pháp theo dõi đối tượng, ghi hình; biện pháp kiểm tra bí mật Do vậy, CQĐT cần có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có chức năng thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để sử dụng các tài liệu này để củng cố chứng cứ hoặc chuyển hoá thành chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội

1.2.2.2 Mối quan hệ với Viện kiểm sát

Trong tố tụng hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam người tiến hành tố tụng trong CQĐT và người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát có tác động lẫn nhau, hỗ trợ, thúc đẩy nhau trong quá trình tố tụng Đặc trưng của mối quan hệ này được thể hiện ở các nội dung sau:

Một là, Đó là mối quan hệ trực tiếp phát sinh từ khi tiếp nhận tin báo về

tội phạm, khởi tố vụ án đến khi kết thúc quá trình điều tra vụ án hình sự, hoàn thành bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố người phạm tội Tính chất trực tiếp là đặc điểm của mối quan hệ trong trong giai đoạn này, cả người tiến hành

tố tụng trong CQĐT và Viện kiểm sát tuy có chức năng và thẩm quyền khác nhau, hoạt động độc lập với nhau nhưng cùng phải giải quyết những nhiệm vụ chung trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Hai là, Mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng trong CQĐT và người

tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát do đặc trưng của tố tụng hình sự nên nó vừa thể hiện tính chất của sự phối hợp vừa mang tính chất của sự chế ước [23,

Tr 30] Quan hệ phối hợp được thể hiện cùng có nhiệm vụ, quyền hạn là: phát hiện, khởi tố và áp dụng các biện pháp tố tụng để việc điều tra các vụ án hình

sự được nhanh chóng có hiệu quả, đúng pháp luật Do đó, người tiến hành tố tụng trong hai cơ quan này phải có sự phối hợp với nhau để cùng đạt được nhiệm vụ chung Tuy nhiên, xuất phát từ chức năng hoạt động của mỗi loại

Trang 30

người trong tố tụng hình sự, nên sự phối hợp giữa người tiến hành tố tụng trong CQĐT và người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát không phải là sự tổng hợp lực cùng điều tra, làm thay nhau mà nó biểu hiện bởi một cách thức, mức độ nhất định theo chức năng, nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng trong từng cơ quan, trong từng chế định tố tụng hình sự cụ thể, thậm chí trong từng

vụ án hình sự cụ thể Quyền chế ước của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra của CQĐT theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự gồm tổng hợp các quyền năng pháp lý như: giám sát, yêu cầu, hủy bỏ Quyền giám sát của người tiến hành tố tụng trong cơ quan Viện kiểm sát được thực hiện thông qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc kiểm sát trực tiếp đối với toàn bộ hoạt động điều tra của người tiến hành tố tụng trong CQĐT từ khi có sự kiện phạm tội xẩy ra, vụ án được khởi tố điều tra và kết thúc điều tra, hoàn thành bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố người phạm tội Có thể nói, toàn bộ hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng trong CQĐT trong tiến trình giải quyết vụ án hình sự như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng các biện pháp ngăn chặn; các biện pháp thu thập chứng cứ; các quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đều đặt dưới sự giám sát chặt chẽ của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo việc điều tra được khách quan, toàn diện, đầy đủ; không để người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can là có căn cứ và hợp pháp Bộ luật TTHS đã quy định trách nhiệm của CQĐT trong tiến trình điều tra là phải gửi các quyết định

tố tụng của mình cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát kiểm sát điều tra Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát điều tra, người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát có quyền phê duyệt hoặc hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của người tiến hành tố tụng trong CQĐT như: các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giữ, khám xét, bắt người tạm giam, tạm đình chỉ điều tra,

Trang 31

đình chỉ điều tra đây là quyền năng rất lớn mà pháp luật tố tụng hình sự quy định, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và là phương tiện đảm bảo cho việc điều tra phải tuân theo pháp luật tố tụng hình sự một cách nghiêm chỉnh không thể tùy tiện

Tóm lại, mối quan hệ giữa CQĐT với Viện kiểm sát là mối quan hệ vừa

mang tính quyết định- Chấp hành, vừa mang tính phối hợp trong giai đoạn điều tra Nhưng trong đó, tính quyết định- chấp hành là chủ yếu, là cốt lõi

[45, Tr 49]

1.2.2.3 Mối quan hệ với Tòa án

Người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra và người tiến hành tố tụng trong Tòa án tuy thực hiện những nhiệm vụ cụ thể khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự, nhưng đều giải quyết những nhiệm vụ chung và trong trình tự liên tục, thống nhất của việc giải quyết vụ án hình sự Chất lượng hoạt động điều tra của người tiến hành tố tụng trong CQĐT trong việc chứng minh tội phạm là yếu tố quyết định đảm bảo cho việc xét xử của người tiến hành tố tụng trong Tòa án được đúng đắn, mặc dù người tiến hành

tố tụng trong Tòa án không chỉ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ của người tiến hành tố tụng trong CQĐT đã thu thập được mà còn căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, nhưng hoạt động xét xử của Tòa án là nhằm kiểm tra lại tính xác thực của những chứng cứ mà người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra đã điều tra trước đó làm căn cứ cho việc phán quyết có tính khẳng định của mình Mặt khác thông qua hoạt động xét xử của người tiến hành tố tụng trong Tòa án, người tiến hành tố tụng trong CQĐT có điều kiện kiểm tra lại những biện pháp điều tra mà mình đã áp dụng, tìm ra những mặt còn hạn chế, thiếu sót để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác điều tra, khắc phục những tồn tại trong hoạt động tố tụng hình sự Hình thức của mối quan hệ này vừa mang tính chất trực tiếp, vừa mang tính chất gián

Trang 32

tiếp, trong đó tính chất gián tiếp là chủ yếu, bởi vì hầu như các hoạt động có tính chất tác động qua lại giữa người tiến hành tố tụng trong CQĐT với người tiến hành tố tụng trong Tòa án đều thông qua người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát Người tiến hành tố tụng trong CQĐT hoàn chỉnh hồ sơ vụ án cùng Bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố phải được người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát nghiên cứu, kiểm tra, ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng Bản cáo trạng và gửi hồ sơ cùng Quyết định truy tố bị can đến Tòa án, Tòa án nhận hồ sơ cùng Quyết định truy tố của Viện kiểm sát thì tại thời điểm đó phát sinh mối quan hệ giữa người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra với người tiến hành tố tụng trong Tòa án Ngược lại, những yêu cầu của người tiến hành tố tụng trong Tòa án đối với người tiến hành tố tụng trong CQĐT cũng đều thông qua người tiến hành tố tụng trong Viện kiểm sát như: thực hiện yêu cầu điều tra bổ sung; tiến hành điều tra lại…

1.3 Các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra

Trong hệ thống các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự, các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự chiếm một vị trí quan trọng, thể hiện bản chất của tố tụng hình sự, là cơ sở cho mọi hoạt động tố tụng hình sự Nguyên tắc của luật

tố tụng hình sự là tư tưởng chủ đạo và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thông qua một hay nhiều quy phạm (chế định) của nó [13, Tr 13] Vì vậy, người tiến hành tố tụng trong CQĐT phải tuân thủ tất cả các nguyên tắc trong hoạt động tố tụng hình sự, trong đó trú trọng một số nguyên tắc sau:

Một là, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (Điều 3 BLTTHS): Đây là

nguyên tắc bao trùm tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự “Pháp chế chính

là sự đòi hỏi các cơ quan nhà nước, nhân viên nhà nước, tổ chức xã hội và mọi

Trang 33

công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động của mình” [26, Tr 334]

Với ý nghĩa đó, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi người tiến hành tố tụng trong CQĐT phải nghiêm chỉnh tuân thủ các quy định của BLTTHS; các biện pháp cưỡng chế và các biện pháp nghiệp vụ phải được áp dụng đúng quy định; các quyết định của CQĐT phải căn cứ vào quy định của BLTTHS và Luật hình sự

Đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong các hoạt động của cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội và công dân nói chung, trong hoạt động của cơ quan điều tra nói riêng là điều kiện tiên quyết, nền móng của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền – nhà nước mà pháp luật có vị trí tối thượng trong đời sống xã hội

Hai là, nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 5 BLTTHS): nguyên tắc này xác định mọi công dân đều bình đẳng trước pháp

luật, vị trí của mọi người là như nhau trong lĩnh vực hoạt động xã hội cũng như tham gia các hoạt động tố tụng hình sự, không phân biệt đối xử Sự bình đẳng của công dân được thể hiện: bất cứ người nào phạm tội đề bị xử lý theo một quy định chung; mọi người đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng hình sự; người tiến hành tố tụng trong CQĐT hoạt động theo một trình tự thống nhất đối với tất cả các vụ án

Ý nghĩa của nguyên tắc thể hiện ở chỗ: nó không chỉ cụ thể hóa nguyên tắc được quy định tại Điều 52 Hiến pháp năm 1992 “mọi công dân bình đẳng trước pháp luật” mà còn phù hợp với tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại về

sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn về nhân quyền (Điều 7, 8) và Công ước quốc tế về các quyền dân

sự, chính trị (Điều 10, 14) của Liên Hợp Quốc Nó như là thành quả ccủa cuộc đấu tranh hàng bao thế kỷ của các dân tộc trên trái đất chống lại tình trạng đặc quyền, đặc lợi và bất bình đẳng của “nền tư pháp hình sự” với bản chất đàn áp

Trang 34

và dã man dưới các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kién, phát xít và cực quyền…[13, Tr 16]

Ba là, nguyên tắc xác định sự thật vụ án (Điều 10 BLTTHS): Thủ trưởng,

Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên phải áp ụng mọi biện pháp hợp pháp

để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội, những chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can Trong quá trình tiến hành tố tụng, Điều tra viên không được thiên vị, tình cảm

cá nhân, cân nhắc mọi tình tiết có ảnh hưởng đến tính đúng đắn của vụ án Bị can không bị buộc phải chứng minh là mình vô tội, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về CQĐT Vì vậy để thực hiện tốt nguyên tắc này, Điều tra viên phải là người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững quy định của pháp luật, có tư duy pháp lý, có kinh nghiệm và phương pháp giải quyết các vấn đề pháp lý Chỉ có tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của BLTTHS mới

có thể đảm bảo cho sự thật khách quan không bị bóp méo, xuyên tạc vì động

cơ cá nhân hay vụ lợi của một bộ phận của các “quan tham” nào đó trong bộ máy công quyền [13, Tr 16]

Bốn là, nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4 BLTTHS): Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Do đó,

việc tôn trọng và đảm bảo các quyền cơ bản của công dân là một trong những nhiệm vụ của BLTTHS Các quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992 Đó là quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh

dự và nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín [8, Tr 18] Thực hiện nguyên tắc này nhằm hạn chế sự lạm quyền của người tiến hành tố tụng trong CQĐT Trách nhiệm của người tiến hành tố tụng tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân được thể hiện:

Trang 35

Phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng; chỉ áp dụng các biện pháp tố tụng trong những trường hợp cần thiết và đúng quy định của pháp luật; phải kiểm tra thường xuyên kiểm tra, đánh giá các biện pháp tố tụng đã áp dụng để điều chỉnh kịp thời

Năm là, nguyên tắc xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 12 BLTTHS): Để nâng cao trách nhiệm của

người tiến hành tố tụng trong CQĐT nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, BLTTHS đã quy định trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều tra viên phải nghiêm chỉnh tuân thủ thững quy định của pháp luật Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, người tiến hành tố tụng phải chịu trách nhiệm về hành vi và quyết định của mình Pháp luật cho phép

họ được quyền ra các quyết định tố tụng hạn chế một số quyền của công dân như: bắt người, tạm giữ, tạm giam, khám xét, khám nghiệm nhưng các quyết định này phải được thực hiện đúng trình tự theo quy định của pháp luật, tránh

sự tuỳ tiện khi ra các quyết định tố tụng dẫn đến oan sai Có thể nói, đây là một bảo đảm pháp lý hết sức quan trọng giúp cho hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành đúng pháp luật, đặc biệt là đối với người bị tạm giữ, tạm giam khi

mà các quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị vi phạm nếu hoạt động tố tụng không được tiến hành đúng pháp luật [8, Tr 30]

Sáu là, nguyên tắc bảo đảm quyền được bội thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29 BLTTHS): Trách nhiệm chứng

minh tội phạm là nghĩa vụ của CQĐT và người tiến hành tố tụng trong CQĐT Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, Điều tra viên phải xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác Trong quá trình điều tra, người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện những quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về những quyết định của mình, nếu làm oan, sai thì phải bồi thường thiệt hại Người bị oan trong giai đoạn điều tra được bồi

Trang 36

thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi; người bị oan là người bị tạm giữ, tạm giam, người bị khởi tố mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội, các quyền công dân cơ bản của họ bị vi phạm, họ có quyền được bồi thường thiệt hại và khôi phục danh dự; CQĐT phải chủ động giải quyết bồi thường cho người bị oan, thân nhân của người bị oan theo quy định của pháp luật, thiệt hại bao gồm thiệt hại

về vật chất và những tổn hại về tinh thần, việc bồi thường được tiến hành trên

cơ sở thương lượng hoặc Toà án giải quyết

1.4 Người tiến hành tố tụng trong Cơ quan điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay

a) Giai đoạn trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự:

Cùng với sự ra đời của hệ thống Tòa án cách mạng, ngày 21/02/1946 Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hòa ký Sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các Sở Liêm phóng và Sở Cảnh sát toàn quốc thành một cơ quan đặt tên là “Việt nam Công an vụ” với một trong những nhiệm vụ là điều tra về những hành động trái phép có thể làm với việc trị an và mất trật tự trong nước, truy tìm người can phạm để giúp toà án trong sự trừng trị [42, Tr 54] Tiếp đó, ngày 20/7/1946, Chủ tịch Chính phủ Việt nam Dân chủ Cộng hòa ra sắc lệnh

số 131/SL thành lập tổ chức Tư pháp Công an- tiền thân của cơ quan điều tra

tố tụng hình sự Theo sắc lệnh này thì “Tư pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự phạm pháp (đại hình, tiểu hình và vi cảnh); sưu tập các tang chứng, bắt giao người phạm pháp cho các tòa án xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”

Để thực hiện nhiệm vụ trên đây, luật pháp giao cho một số chức danh Công an với tư cách là Ủy viên Tư pháp Công an có toàn quyền điều tra các vụ phạm pháp Đó là các chức danh Trưởng ty, Trưởng phòng, Trưởng ban chính trị tư pháp hoặc các trưởng ban khác được Bộ Nội vụ chỉ định Việc chỉ đạo,

Trang 37

kiểm sát “tổ chức và hoạt động tư pháp Công an” thuộc thẩm quyền của các Chưởng lý, Biện lý (sau này là Công tố, Kiểm sát) thuộc ngành Tòa án Như vậy, trong hoạt động điều tra tố tụng, các Ủy viên Tư pháp Công an không được độc lập mà phải tuân thủ sự chỉ đạo của các viên chức có thẩm quyền ở ngành Tòa án

Không chỉ trong lực lượng Công an nhân dân, mà ở các ngành Kiểm lâm, Hỏa xa (đường sắt), Thương chính (Hải quan, Thương mại) cũng có các viên chức được thừa nhận là Ủy viên Tư pháp Công an và cũng được tiến hành điều tra các vụ phạm pháp trong lĩnh vực của mình

Trong nội bộ ngành Công an, các hoạt động điều tả bí mật (trinh sát) nếu

không chuyển qua trình tự “Tư pháp Công an” đều không có giá trị pháp lý để

ra tòa Thời kỳ này (từ năm 1945-1953) số cán bộ điều tra thực tế chỉ là người giúp việc cho ủy viên kiêm luôn vai trò chấp pháp, xét hỏi bị can

Đánh giá về bộ máy và cách tthức điều tra tố tụng hình sự giai đoạn 1945-1953 cho thấy: chưa có CQĐT như hiện nay, mà chỉ có Phụ trách tư pháp Công an và Uỷ viên tư pháp Công an với tư cách là những cá nhân được pháp luật ấn định cụ thể [42, Tr 55] Bộ máy điều tra tố tụng hình sự tuy với nội dung và bản chất mới, song về hình thức vẫn còn ảnh hưởng cơ cấu điều tra cũ, đó là: Tư pháp Công an chỉ là lực lượng phục vụ cho hoạt động tố tụng của Tòa án, bị chi phối bởi các chức danh có thẩm quyền (Chưởng lý, Biện lý) thuộc ngành Tòa án Nét đặc biệt ở đây là pháp luật đã giao thẩm quyền điều tra tố tụng cho từng chức danh như: Ủy viên Tư pháp Công an chứ không phải

là cơ quan chung chung Có thể nói mô hình này không khác xa bao nhiêu tổ chức điều tra của Cộng hòa Pháp ngày nay và tổ chức điều tra của Cộng hòa miền Nam Việt Nam trước đây

Ngày 16/02/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141/SL đổi Nha Công an Việt Nam thành Thứ Bộ Công an Sắc lệnh này quy định tổ chức

Trang 38

bộ máy của Thứ Bộ Công an gồm có: Văn phòng, Vụ Bảo vệ chính trị, Vụ trị

an hành chính, Vụ chấp pháp, Cục Cảnh vệ, Phòng Nhân sự, Trường Công an

Vụ Chấp pháp ở Thứ Bộ Công an có nhiệm vụ điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy tố các vụ phạm tội phản cách mạng và hình sự khác, quản lý các Trại giam Ở Ty Công an tỉnh có Ban Chấp pháp, ở Công an Liên khu có Phòng Chấp pháp

Việc thành lập cơ quan chấp pháp ở ngành Công an là một bước chuyển đổi cơ bản về tổ chức và hoạt động điều tra tố tụng hình sự ở nước ta Điều này được thể hiện:

Một là, trong lực lượng Công an nhân dân có một loại cơ quan chuyên trách điều tra tố tụng hình sự: cơ quan Chấp pháp Còn các lực lượng khác chỉ chuyên làm công tác phòng ngừa, phát hiện tội phạm bằng biện pháp trinh sát

và quản lý hành chính

Hai là, thay vào chỗ quy định các chức danh tư pháp làm nhiệm vụ điều tra, luật đã quy định các CQĐT (Vụ chấp pháp ở Thứ Bộ Công an, Phòng Chấp pháp ở Công an Liên khu, Ban Chấp pháp ở Ty Công an) Như vậy, trách nhiệm và quyền hạn điều tra tố tụng ở đây thực chất thuộc về người đại diện cho cơ quan điều tra như: Vụ trưởng, Vụ phó, Trưởng phòng, Phó phòng, Trưởng ban, Phó ban Chấp pháp

Ba là, người có thẩm quyền điều tra tố tụng ở mức rất giới hạn và do luật định Trước đây, ngoài Trưởng ty, Trưởng phòng, Trưởng ban Chính trị,

Tư pháp ra, Bộ trưởng Bộ Nội vụ còn có quyền chỉ định các Trưởng ban khác

là Ủy viên tư pháp Công an Cuối cùng, việc chuyên môn hóa điều tra tố tụng (chấp pháp) dẫn đến hình thành hệ CQĐT công khai và điều tra bí mật độc lập với nhau Chính việc tổ chức tách rời này đã làm nẩy sinh nhiều vấn đề cần phải khắc phục cho đến ngày nay

Trang 39

Nét thay đổi lớn lao về tổ chức Công an thời gian này không phải là tổ chức điều tra hình sự mà là thành lập “Ban Công an tiền phương” ở Trung ương và ở một số tỉnh thuộc Tây bắc Việt Nam để tực hiện nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là bảo vêh chiến dịch Điện Biên Phủ [11, Tr 320]

Cuối những năm 50 và đầu những năm 60 là thời kỳ có những thay đổi lớn trong hệ thống tư pháp nước ta Cùng với sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân và việc ban hành một số Luật, Sắc luật bảo đảm quyền tự do thân thể của công dân, hoạt động điều tra công khai, bí mật trong lực lượng Công an nhân dân được phân công lại Chẳng hạn, theo Thông tư liên ngành số 427 ngày 28/6/1963 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an thì các Ban trinh sát ở Ty công an, Cục trinh sát ở Bộ Công an đều có quyền khởi tố vụ án, bắt khẩn cấp Thực tế, bên cạnh các vụ án phản cách mạng do cơ quan chấp pháp thụ lý điều tra thì nhiều đơn vị trinh sát hình sự, trinh sát bảo vệ kinh tế đều khởi tố và tiến hành các biện pháp điều tra, hỏi cung bị can từ đầu đến khi kết thúc mới chuyển sang cơ quan chấp pháp làm cáo trạng đề nghị truy tố hoặc để chấp pháp tiếp tục điều tra nếu xét thấy còn thiếu chứng cứ quan trọng Đặc biệt, cùng với việc Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 32/CP sửa đổi tổ chức

bộ máy Công an, Bộ Nội vụ đã quyết định giao các loại án hình sự (về trị an xã hội) cho lực lượng Cảnh sát hình sự và án kinh tế đơn giản, ít nghiêm trọng cho lực lượng trinh sát kinh tế đảm nhiệm việc điều tra, hỏi cung, lập hồ sơ truy tố Cơ quan Chấp pháp chỉ thụ lý, điều tra theo thủ tục tố tụng hình sự các

vụ án phản cách mạng và tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, tội phạm kinh tế phức tạp, nghiêm trọng

Cơ chế điều tra trên đây tồn tại đến năm 1981, khi Hội đồng Chính phủ

ra Nghị định số 250/HĐCP ngày 12/6/1981 quy định lại nhiệm vụ, quyền hạn

và tổ chức của Bộ Nội vụ

Trang 40

Theo Nghị định này, Cục Chấp pháp ở Bộ đựợc chia làm hai: Cục An ninh điều tra xét hỏi: thụ lý điều tra xét hỏi các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia; Cục Cảnh sát điều tra xét hỏi: thụ lý điều tra xét hỏi các vụ án hình sự khác

Phòng Chấp pháp ở Công an các tỉnh, thành phố cũng được chia làm hai loại giống mô hình của Cục Chấp pháp: Phòng An ninh điều tra xét hỏi; Phòng Cảnh sát điều tra xét hỏi

Các đơn vị trinh sát hình sự, kinh tế giờ đây không làm công tác điều tra công khai, tố tụng (điều tra xét hỏi) nữa mà chỉ tập trung vào công tác trinh sát

bí mật phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm

Từ thực tiễn tổ chức và hoạt động của cơ quan điều tra tố tụng giai đoạn này (từ năm 1953 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự) có thể rút ra một số nhận xét sau:

Đây là thời kỳ hình thành và tồn tại CQĐT tố tụng công khai độc lập bên cạnh các cơ quan điều tra trinh sát Các CQĐT tố tụng công khai chủ yếu chỉ tiến hành những biện pháp điều tra công khai nhằm bổ sung và củng cố chứng cứ thu thập được từ hoạt động trinh sát, hợp pháp hóa kết quả điều tra trinh sát Ngay cả tên gọi CQĐT: Chấp pháp, xét hỏi phần nào cũng đã nói lên biện pháp điều tra chủ yếu của cơ quan này

Pháp luật chỉ thừa nhận thẩm quyền và nghĩa vụ điều tra tố tụng thuộc

về cơ quan điều tra với tư cách là một tổ chức Pháp luật không quan tâm đến

ai là người thực tế điều tra, mà chỉ quan tâm đến cơ quan nào chủ trì việc điều tra theo tố tụng Cơ chế này có phần không phù hợp với nguyên tắc hoạt động

tư pháp là phải xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của từng chức danh

tư pháp Đây cũng chính là lý do giải thích tại sao trong một giai đoạn dài, tư cách tiến hành tố tụng của người điều tra không được phân biệt và quy định rõ ràng Đặc biệt là khái niệm về nhân viên điều tra hay Điều tra viên hầu như

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh (2006), Sổ tay pháp luật của Điều tra viên, Nhà xuất bản tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay pháp luật của Điều tra viên
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản tƣ pháp
Năm: 2006
2. PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh (2007), “Cơ quan điều tra trong lộ trình cải cách tƣ pháp”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về cải cách tư pháp tháng 8/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ quan điều tra trong lộ trình cải cách tƣ pháp”
Tác giả: PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh
Năm: 2007
3. Ban tư tưởng văn hoá trung ương (2007), Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu các Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X
Tác giả: Ban tư tưởng văn hoá trung ương
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2007
4. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2004), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Tác giả: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2004)
Năm: 2004
5. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2000), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Tác giả: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (2000)
Năm: 2000
6. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Tác giả: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994)
Năm: 1994
7. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988
Tác giả: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994)
Năm: 1994
8. Bộ Tƣ pháp (2005), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Nhà xuất bản Tƣ pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Nhà XB: Nhà xuất bản Tƣ pháp
Năm: 2005
9. Bộ Công an (2004), Chỉ thị số 13/2004/CT-BCA(V11) của Bộ trưởng Bộ Công an ngày 22/9/2004 về tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 13/2004/CT-BCA(V11) của Bộ trưởng Bộ Công an ngày 22/9/2004 về tổ chức triển khai thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
11. Bộ Công an (1996), Lịch sử Công an nhân dân, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 1996
12. TSKH.PGS Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Phần chung (sách chuyên khảo sau đại học), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự Phần chung (sách chuyên khảo sau đại học)
Tác giả: TSKH.PGS Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
13. Lê Cảm (2004), “Những vấn đề lý luận có bản về chế định các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 5, tr 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận có bản về chế định các nguyên tắc của luật tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Tạp chí Kiểm sát
Năm: 2004
14. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (244), Tr.53-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, "Tạp chí Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2001 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2001 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
18. Học viện Cảnh sát nhân dân (2007), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam- tài liệu giảng dạy cao học luật, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam- tài liệu giảng dạy cao học luật
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2007
19. Học viện Cảnh sát nhân dân (2005), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2005
20. Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1998), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự
Tác giả: Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1998)
Năm: 1998
21. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam 1992, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994), Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam 1992
Tác giả: Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam 1992, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia (1994)
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w