Mặt khác, trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự, bên buộc tội Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và những người tiến hành tố tụng là chuyên gia buộc tội dày dạn kinh nghiệm thực t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HOÀI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THU HOÀI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60.38.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Đỗ Ngọc Quang
:
Hà Nội - 2009
Trang 3DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 41.1 Nhận thức chung về luật sư trong hoạt động tố tụng
hình sự và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về luật sư 10
1.1.1 Khái niệm luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự 10 1.1.2 Khái quát lĩnh vực hoạt động của luật sư trên thế giới
và sự phát triển pháp luật về luật sư ở Việt Nam .18
1.2 Quy định của pháp luật về luật sư và về hoạt động của
luật sư trong tố tụng hình sự 30
1.2.1 Quy định của pháp luật về luật sư 30 1.2.2 Quy định của pháp luật về hoạt động của luật sư
trong tố tụng hình sự ……… 39
Chương 2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ……… 56
2.1 Thực tiễn hoạt động của luật sư tham gia bào chữa
trong tố tụng hình sự………56
2.1.1 Những kết quả đạt được và những hạn chế của
đội ngũ luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự……….56
2.1.2 Những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại,
yếu kém của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự………… 65
2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của
Trang 5luật sư tham gia bào chữa trong tố tụng hình sự……….82
2.2.1 Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật và trách nhiệm
của các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan đến hoạt động
của luật sư trong tố tụng hình sự………82 2.2.2 Các giải pháp về đổi mới tổ chức và hoạt động của
luật sư và nâng cao nhận thức cho người dân về
hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự………87
Kết luận………92 Danh mục tài liệu tham khảo……… 94
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật sư và hoạt động của luật sư trong tố tụng hỡnh sự chiếm vị trớ đặc biệt quan trọng Tầm quan trọng của nú được thể hiện ở chỗ, trong tố tụng hỡnh sự, cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt là cơ quan buộc tội đối với bị can, bị cỏo Thực hiện nhiệm vụ gỡ tội cho bị can bị cỏo cú người bào chữa, theo quy định tại Điều 11 Bộ luật tố tụng hỡnh sự (BLTTHS) về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo cú quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khỏc bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sỏt, Toà ỏn cú nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này” Trong khi đú, Điều 56 BLTTHS quy định “Người bào chữa cú thể là: a) Luật sư; b) Người đại diện hợp phỏp của người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo; c) Bào chữa viờn nhõn dõn” Thực tế đó chỉ ra, người đại diện hợp phỏp của người bị tạm giữ, bị can,
bị cỏo và bào chữa viờn nhõn dõn chưa từng đứng ra làm nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cỏo, mà duy nhất chỉ cú luật sư của cỏc đoàn luật sư cỏc tỉnh, thành phố thực hiện nhiệm vụ này
Tỡnh hỡnh luật sư thực hiện nhiệm vụ bào chữa trong tố tụng hỡnh sự
đang cú nhiều vấn đề Trước tiờn, số lượng luật sư so với số lượng vụ ỏn hỡnh
sự xảy ra hàng năm chiếm tỷ lệ quỏ nhỏ bộ Trong khi mỗi năm cỏc cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết khoảng 60.000 vụ ỏn hỡnh sự, thỡ ở nước ta hiện nay chỉ cú khoảng 5.000 luật sư, tập trung tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chớ Minh Tại một số tỉnh như Kon Tum, Hà Giang mỗi tỉnh 3 luật sư; Cao Bằng, Bắc Cạn, mỗi tỉnh cú 4 luật sư; Hoà Bỡnh cú 7 luật sư; cỏc tỉnh Điện Biờn, Lai Chõu khụng cú luật sư nào để thành lập Đoàn luật sư Tại nhiều địa phương,
số lượng luật sư khụng đủ đỏp ứng nhu cầu về dịch vụ phỏp lý của nhõn dõn, ngay cả trong việc thực hiện bào chữa trong cỏc vụ ỏn hỡnh sự bắt buộc phải
Trang 7có sự tham gia của luật sư, làm cho việc giải quyết vụ án hình sự phải tạm
hoãn để mời luật sư ở tỉnh khác Thứ hai, trong thực tế, một số luật sư còn quá
coi trọng lợi ích vật chất dẫn đến vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thậm chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ
Tư pháp, đến 2005 có 30 luật sư bị cảnh cáo, khiển trách; 20 luật sư bị xoá tên khỏi danh sách luật sư; 6 luật sư bị truy cứu trách nhiệm hình sự Có một số trường hợp luật sư đã thoả thuận với một số cán bộ thoái hoá, biến chất trong
Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát, Toà án để chạy án, nhận thêm tiền của
khách hàng ngoài hợp đồng đã ký Cuối cùng, có nhiều trở ngại cho hoạt động
luật sư thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự xuất phát từ phía c¸c c¬ quan tiÕn hµnh tè tông, nhÊt lµ c¬ quan ®iÒu tra Để
có thể đáp ứng yêu cầu Nghị quyết 49 –NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp: „Đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn Hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, đồng thời xác định
rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý đểphát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình”, việc tác giả nghiên cứu đề tài luận
văn Cao học : „„Nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự’’ là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của luật sư trong tố tụng hình sự đã được đề cập trong một số sách báo pháp lý, nhưng chủ yếu trong các giáo trình của Trường Đại học luật Hà Nội, Khoa Luật Nghiên cứu một cách cụ thể về thực trạng tình hình hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự, nhất là khi Quốc hội ban hành Luật luật sư năm 2006, vẫn chưa được đề cập một
cách hệ thống Do vậy, tác giả cho rằng, đề tài nghiên cứu „„Nâng cao hiệu
Trang 8quả hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự ’’ không trùng với bất kỳ
công trình nào đã công bố trước đây
3 Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu là làm rõ được quy định của pháp luật
về luật sư, hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự và thực tiễn thực hiện pháp luật, những kết quả đạt được, cũng như những thiếu sót, tồn tại trong hoạt động tố tụng hình sự của luật sư hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra các đề xuất về giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của luật sư trong tố tụng hình
sự, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề quy định cụ thể pháp luật Việt Nam trong lịch sử và hiện tại về luật sư và hoạtđộng của luật sư trong tố tụng hình sự; những vấn đề bất cập của pháp luật thực định, của các mối quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực tế Trên cơ sở phân tích, đánh giá, lý giải có cơ sở lý luận và thực tiễn đưa ra được những đề xuất có giá trị bảo đảm hoạt động của luật sư trong
tố tụng hình sự đáp ứng được các yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn tập trung vào :
- Pháp luật về luật sư;
- Pháp luật tố tụng hình sự quy định về hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự;
- Thực tiễn hoạt động của luật sư trong bào chữa cho bị can, bị cáo và bảo vệ quyền lợi của đương sự
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung về hoạt động của luật sư trong
tố tụng hình sự từ năm 2003 đến 2007
Trang 95 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Những phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng là những phương pháp phân tích tổng hợp; đối chiếu so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê; các phương pháp nghiên cứu xã hội học khi phân tích tình hình thực tiễn hoạt động của luật sư hiện nay trong tố tụng hình sự
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn có hai chương cơ bản :
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ
Chương 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ LUẬT SƯ VÀ CÁC
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA LUẬT SƯ 1.1 Nhận thức chung về luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự
và sự phát triển của pháp luật Việt Nam về luật sư
1.1.1 Khái niệm luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi xã hội được phân chia thành giai cấp thì xuất hiện đấu tranh giai cấp nhằm bảo vệ quyền cơ bản của con người Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi viết bản tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn thấy trong
Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789) những giá trị bền vững: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc
Xuất phát từ nguyên lý, ở đâu có sự buộc tội thì ở đó có sự gỡ tội; khi
có bên bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo thì cũng phải có bên bảo vệ cho người bị hại nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án Mặt khác, trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự, bên buộc tội (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và những người tiến hành tố tụng) là chuyên gia buộc tội dày dạn kinh nghiệm thực tiễn với khả năng hùng biện, am hiểu tường tận pháp luật, là người đại diện cho quyền lực của nhà nước có đủ khả năng pháp lý Ngược lại, bị can, bị cáo, và những người tham gia tố tụng có quyền lợi pháp lý khác luôn ở địa vị bất lợi, là người có trình độ văn hoá thấp, vị trí xã hội thấp kém, không hiểu hoặc hiểu biết pháp luật hạn chế, kinh nghiệm tham gia tố tụng chưa có, tâm trạng bất ổn định, lo lắng, bị
Trang 11sức ép về mặt tâm lý, không quen nói trước đám đông v.v… Chính vì thế, cần thiết phải có một tổ chức, mà pháp luật quy định là Tổ chức Luật sư bảo vệ quyền lợi của bị can, bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự Bằng hoạt động của mình, tổ chức luật sư góp phần tích cực bảo vệ pháp chế
xã hội chủ nghĩa; bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và các tổ chức; góp phần vào việc giải quyết các vụ án được khách quan, đúng pháp luật; góp phần thực hiện quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa; giáo dục công dân tuân theo Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa Như vậy, luật sư và hoạt động của luật sư trong hoạt động tố tụng tư pháp nói chung và
tố tụng hình sự nói riêng là rất cần thiết
Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay , chưa có mô ̣t khái niê ̣m hoàn chỉnh về luâ ̣t sư trong các tác phẩm khoa ho ̣c pháp lý và các văn bản pháp luâ ̣t hiê ̣n hành Pháp luật thực định nước ta hiê ̣n đang tồn ta ̣i nhiều tên go ̣i khác nhau cho những ngườ i hoa ̣t đô ̣ng trong lĩnh vực di ̣ch vụ pháp lý và bào chữa trước Tòa
án Đó là "luâ ̣t gia", "luâ ̣t sư", "người bào ch ữa", "bào chữa viên nhân dân ",
"người bảo vệ quyền lợi của đương sự Ngay trong Từ điển tiếng Viê ̣t , cách giải nghĩa các từ "luâ ̣t gia " và "luâ ̣t sư " cũng rất khác nhau Các tác giả của Trung tâm ngôn ngữ và văn ho ̣c Viê ̣t Nam thuô ̣c Bô ̣ g iáo dục và đào tạo giả i nghĩa từ "luâ ̣t sư" là người có chức trách dùng pháp luật bào ch ữa cho bị can trước Tòa án, còn "luâ ̣t gia" là người chuyên nghiên cứu pháp luật Trong khi đó mô ̣t nhóm tác giả khác la ̣i giải nghĩa từ "luâ ̣t sư" là trạng sư, người bênh vực cho mô ̣t can pha ̣m trước Tòa án , còn từ "luâ ̣t gia " dùng để chỉ người nghiên cứu giỏi luâ ̣t pháp
Theo Điều lê ̣ của Hô ̣i Luâ ̣t gia Viê ̣t Nam , "luật gia " đươ ̣c hiểu là những người "đã hoă ̣c đang làm công tác pháp luâ ̣t trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân , các tổ chức kinh tế xã hội , trong lực lươ ̣ng vũ trang
Trang 12nhân dân tán thành điều lê ̣ Hô ̣i , tự nguyê ̣n và tích cực tham gia hoa ̣t đô ̣ng cho
hô ̣i" [9, tr 7] Họ có một tiêu chuẩn chung là đã hoă ̣c đang hoa ̣t đô ̣ng có liên quan đến pháp luâ ̣t nhưng không nhất thiết phải là người đã có bằng cử nhân luâ ̣t hoă ̣c chuyên nghiên cứu về pháp luâ ̣t Theo Từ điển Luật học nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội năm 1999, khái niệm Luật sư được hiểu theo hai nghĩa là: 1) Thành viên của một đoàn luật sư, làm nghề giúp đỡ về mặt pháp lý cho
cá nhân hoặc theo tổ chức theo hợp đồng hoặc theo chỉ định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong một số trường hợp Luật sư tham gia tố tụng để bào chữa cho bị can, để bênh vực cho bị cáo, các đương sự, thay mặt cho người bị hại trước các tòa án, và có thể làm một số dịch vụ pháp lý khác theo quy định của pháp luật Công dân Việt Nam có phẩm chất đạo đức và đủ các điều kiện
về kiến thức pháp l ý theo quy định của pháp luật, được đoàn luật sư kết nạp
có thể trở thành luật sư sau thời gian tập sự; 2) Danh hiệu chỉ người đã làm nghề luật sư nhưng đã nghỉ việc ‟ Với những cách hiểu và giải thích như trên chưa phản ánh chính xác luật sư và hoạt động của luật sư trong hoạt động
tố tụng tư pháp nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng
Hiến pháp Viê ̣t Nam năm 1980 đã bắt đầu dùng từ "luâ ̣t sư " để ch ỉ những người hoa ̣t đô ̣ng tư vấn pháp luâ ̣t và bào chữa trước Tòa án , nhưng hoạt động bào chữa trước Tòa án không chỉ có các luật sư Trong Bộ luật Tố tụng hình sự khái niệm "ngườ i bào chữa " đươ ̣c sử dụng để chỉ luâ ̣t sư , người
đa ̣i diê ̣n hơ ̣p phá p của người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can, bị cáo và bào chữa viên nhân dân Theo giải thích của các tác giả trong cuốn "Bình luận khoa học B ộ luật tố tụng hình sự", luật sư là người hoa ̣t đô ̣ng bào chữa chuyên nghiê ̣p hoa ̣t đô ̣ng trong đoàn luâ ̣t sư ; người đa ̣i diê ̣n hợp pháp của bi ̣ can , bị cáo là cha, mẹ, anh chị em ruột ; còn bào chữa viên nhân dân là người được tổ chức đoàn thể xã
hô ̣i cử ra để bào chữa cho bi ̣ cáo
Trang 13Không chỉ tồn ta ̣i sự thiếu thống nhất trong pháp luâ ̣t thực đi ̣nh , trong khoa ho ̣c pháp lý cũng có nhiều qu an điểm khác nhau về khái niê ̣m "người bào chữa trong t ố tụng hình sự" Mô ̣t số tác giả quan niê ̣m người bào chữa là người giúp đỡ tòa án trong viê ̣c xác đi ̣nh tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án Một số tác giả khác th ì quan niệm người bào chữa là "người tham gia tố tụng không có quyền và lợi ích liên quan đến vụ án mà chỉ nhằm bảo vê ̣ các quyền
và lợi ích hợp pháp của người b ị buô ̣c tô ̣i " Theo quan niê ̣m sau tính chất
"tham gia tố tụn g" của người bào chữa chỉ là "người góp phần hoa ̣t đô ̣ng của mình vào một hoạt động chung nào đó do những chủ thể khác chủ động và chính thức tiế n hành" Khắc phục nhận thức chưa nhất quán này, Tại khoản 1 Điều 1, Pháp lệ nh Luâ ̣t sư năm 2001 quy đi ̣nh : "Luâ ̣t sư là người có đủ điều kiê ̣n hành nghề theo quy đi ̣nh của pháp lê ̣nh này và tham gia hoa ̣t đô ̣ng tố
tụng, thực hiê ̣n tư vấn pháp luâ ̣t , các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân , tổ chức nhằm bảo vê ̣ quyền lợi ích hợp pháp của h ọ theo quy
đi ̣nh pháp luâ ̣t " và Điều 2 Luâ ̣t luâ ̣t sư 2006 cũng quy định: "Luâ ̣t sư là người
có đủ tiêu chuẩn , điều kiê ̣n hành nghề theo quy đi ̣nh của luâ ̣t này , thực hiê ̣n dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân , cơ quan, tổ chức" Dịch vụ pháp lý của luật sư gồm: tham gia tố tụng , tư vấn pháp luâ ̣t , đa ̣i diê ̣n ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác (Điều 4 Luâ ̣t luâ ̣t sư 2006)
Đi ̣nh nghĩa này tuy phản ánh đầy đủ phạm vi hành nghề chủ yếu của luâ ̣t sư nhưng chưa làm rõ được về mă ̣t lý luâ ̣n đi ̣a vi ̣ pháp lý của luâ ̣t sư trong
hê ̣ thống cơ quan tư pháp Điều này thể hiê ̣n ở chỗ , xét về mặt chủ thể trong hoạt động do quan niệm luật sư chỉ là người tham gia tố tụng và phạm vi hoạt
đô ̣ng của luâ ̣t sư thuô ̣c lĩnh vực "bổ trợ tư pháp " nên thực chất luâ ̣t sư chỉ đươ ̣c coi là người trợ giúp pháp lý mang tính bi ̣ đô ̣ng , không có cơ sở pháp luâ ̣t cho viê ̣c hành nghề mô ̣t cách bình đẳng và đô ̣c lâ ̣p
Trang 14Quan niê ̣m coi hoa ̣t đô ̣ng lu ật sư thuộc phạm vi ho ạt động bổ trơ ̣ tư pháp xuất phát từ thực tiễn là hành nghề luật sư thường gắn với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoa ̣t đô ̣ng xét xử của Tòa án Vì thế, tổ chức nghề nghiê ̣p luâ ̣t sư (Đoàn, Hô ̣i luâ ̣t sư ) thường được thành lâ ̣p trong pha ̣m vi thẩm quyền tài phán của một Tòa án địa phương theo công thức : Tòa án địa phương/ Đoàn luâ ̣t sư đi ̣a phương Trong khi đó xét về bản chất thì chức năng bào chữa tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng công tố như một yếu tố khách quan tự thân của tố tụng hình sự Viê ̣c coi hoa ̣t đô ̣ng luâ ̣t sư thuô ̣c khuôn khổ của h oạt
đô ̣ng bổ trơ ̣ tư pháp thực chất chỉ giới h ạn trong hoa ̣t đô ̣ng tranh tụng , vô hình chung đã giảm nhe ̣ ý nghĩa mà hoa ̣t đô ̣ng này mang la ̣i cho sự phát triển của hoạt động tư pháp Cho nên, cần phải hiểu một cách chính xác rằng, Luâ ̣t sư
là một chức danh tư pháp độc lập chỉ những người có đ ủ điều kiê ̣n hành nghề chuyên nghiê ̣p theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t nhằm thực hiê ̣n viê ̣c tư vấn pháp luâ ̣t, đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền , bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và Nhà nước trước Tòa án và thực hiê ̣n các di ̣ch vụ pháp lý khác
Tố tụng hình sự là một trong những hình thức tố tụng nói chung nhằm giải quyết vụ án hình sự Nếu như ở các hình thức tố tụng khác nhằm giải quyết tranh chấp giữa công dân với công dân, giữa công dân với cơ quan, tổ chức, thì tố tụng hình sự nhằm giải quyết tranh chấp giữa công dân với Nhà nước Nhà nước bảo vệ quyền lợi của nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức bằng việc điều tra, xử lý về hình sự đối với bất kỳ hành vi phạm tội của cá nhân nào gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do vậy, tố tụng hình sự được phát sinh khi có sự gây thiệt hại đến mức phải xử lý về hình sự đối với người
có hành vi xâm hại vào quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân Toà án với tư cách là một bộ phận của cơ quan quyền lực nhà nước đưa ra kết luận cuối cùng về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, loại và
Trang 15mức hình phạt cần được áp dụng với người thực hiện hành vi nguy hiểm đó
Những quyết định trong bản án của Toà án đều nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có tính cưỡng chế nhà nước
Hoạt động tố tụng hình sự là hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Chính pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng hình sự nói riêng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động tố tụng hình sự Hoạt động của các chủ thể tố tụng hình sự phải tuân theo những quy định của Hiến pháp, pháp luật Đây là yêu cầu chung đặt ra ở tất cả các quốc gia, không chỉ trong tố tụng hình sự mà trong hoạt động tố tụng nói chung Chỉ khi tuân theo pháp luật mới có thể giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Mọi hành vi can thiệp vào hoạt động tố tụng hình sự đều có thể dẫn đến sai lệch khi đưa ra các quyết định tố tụng hình sự, dẫn đến phá vỡ trật tự pháp luật, gây bất bình xã hội và có thể gây nên những hậu quả khôn lường, tác động đến sự tồn tại của chính chế độ xã hội đó Do vậy, không phải ngẫu nhiên từ xa xưa, con người đã nghĩ đến biểu tượng của quan toà trong hoạt động tố tụng như là: nữ thần bịt mắt bằng băng vải đen, một tay cầm kiếm, một tay cầm cán cân công lý, thể hiện sự kết hợp giữa sức mạnh và quyền lực của pháp luật, có ý nghĩa thật sâu sắc Trật tự pháp luật mà
nữ thần bảo vệ là bắt buộc, bình đẳng với tất cả mọi người Biểu tượng nữ thần xét xử, theo quan niệm của những người cổ đại không chỉ là biểu tượng
về Toà án công bằng mà còn là biểu tượng về một chế độ nhà nước công bằng nói chung Những ý tưởng về sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động tố tụng từ
xa xưa cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị để có thể vận dụng vào cuộc sống
xã hội hiện tại
Hoạt động tố tụng hình sự phải tuân thủ những quy tắc, trình tự rất chặt chẽ từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc và hoạt động tố tụng hình sự phải do các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được nhà nước giao thẩm quyền thực hiện Do vậy, có thể hiểu, tố tụng hình sự là hoạt động của
Trang 16cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết vụ án hình sự theo đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, đảm bảo lòng tin của nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, đảm bảo sự an toàn pháp lý cho cá nhân, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội
Trong tố tụng hình sự, Luật sư bào ch ữa có vai trò quan tro ̣ng trong công cuô ̣c xây dựng Nhà nước pháp quyền xã h ội chủ nghĩa bằng viê ̣c góp phần bảo vê ̣ công lý , công bằng xã hô ̣i và pháp chế xã h ội chủ nghĩa Khẳng
đi ̣nh vai trò của luâ ̣t sư bào ch ữa trong công cuô ̣c xây dựng nhà nước pháp quyền là khẳng đ ịnh nguyên tắc "thượng tôn pháp luâ ̣t " coi pháp luâ ̣t là thước
đo giá tri ̣ công bằng , chuẩn mực ứng xử của các chủ thể trong xã hô ̣i Là người có kiến thức pháp luâ ̣t , luâ ̣t sư bào chữa là cầu nối chuyển tải pháp luâ ̣t vào đờ i sống phục vụ hiê ̣u quả quản lý của Nhà nước Đội ngũ luật sư bào chữa chuyên nghiệp đươ ̣c hình thành sẽ là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n quan tro ̣ng góp phần tạo thế ổn định trong phát triển của xã hội , bô ̣ máy nhà nước có được sự trợ giúp pháp lý để vận hành và quyết sách đúng đắn , tố tụng tư pháp có được sự đối tro ̣ng cần thiết ta ̣o ra bản chất dân chủ trong hoa ̣t đô ̣ng , người dân có được chỗ dựa về mă ̣t pháp lý bảo vê ̣ quyền và lợi ích hợp pháp c ủa mình trước các biểu hiê ̣n xâm pha ̣m Vai trò quan tro ̣ng của luâ ̣t sư bào chữa được thể hiê ̣n trước hết trong quy đi ̣nh của B ộ luật tố tụng hình sự Trong số những người tham gia tố tụng đươ ̣c quy đi ̣nh trong B ộ luật tố tụng hình sự, về thứ tự, sau người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can, bị cáo là luật sư bào chữa và đây cũng là người tham gia tố tụng duy nhất đươ ̣c B ộ luật Tố tụng hình sự quy đi ̣nh cụ thể về các vấn
đề có liên quan trong ba điều luật (Điều 56, Điều 57, Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003) Trên thực tế , nhiều vụ án nhờ có luâ ̣t sư bào chữa nên đươ ̣c xét xử nghiêm minh , đúng người , đúng tô ̣i, hình phạt mà Hội đồng xét xử đã dành cho bi ̣ cáo là phù hợp với hành vi pha ̣ m tô ̣i, nhân thân của bi ̣ cáo tránh được những sai lầm đáng tiếc khi xét xử Những vụ án không có luâ ̣t sư
Trang 17bào chữa đôi khi nhận định đánh giá còn thiếu khách quan , thiếu thận tro ̣ng ,
bỏ lọt tội phạm , bỏ sót chứng cứ dẫn đ ến xử oan, sai, không khách quan Tại khoản 1 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy đi ̣nh : " Luâ ̣t sư bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bi ̣ can Trong trường hợp bắt người theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 81 (trường hợp khẩn cấp ) và Điều 82 (trường hợp pha ̣m tô ̣i quả tang ) thì người bào chữa tham gia từ khi có quyết định tạm giữ Trong trường hợp cần giữ bí mâ ̣t điều tra đối với tô ̣i xâm pha ̣m an ninh quốc gia thì Viê ̣n trưởng Viê ̣n kiểm sát nhân dân q uyết đi ̣nh để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra "
Trước đây , người bào chữa chỉ được tham gia tố tụng từ khi vụ án đươ ̣c chuyển sang Tòa án Đây là mô ̣t ha ̣n chế cho người bi ̣ buô ̣c tô ̣i dẫn đến
vụ án thiếu khách quan , dân chủ Nhưng theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t hiê ̣n hành đã giúp cho người b ị buô ̣c tô ̣i bảo vê ̣ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ tránh được hiện tượng xâm phạm đến quyền con người , bắt giam giữ trái pháp luâ ̣t, dùng nhục hình bức cung… Để bảo đảm cho hoạt động của luâ ̣t
sư thực hiê ̣n đươ ̣c chức năng của mình , tại khoản 2 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của họ Luật sư bào chữa có quyền có mă ̣t khi lấy lời khai của người bi ̣ ta ̣m giữ , khi hỏi cung bi ̣ can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can và có thể có mặt trong những hoa ̣t đô ̣ng điều tra khác , xem các biên bản về hoa ̣t đô ̣ng tố tụ ng
có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa Đây là mô ̣t quy đi ̣nh để ha ̣n chế sự vi pha ̣m của Cơ quan điều tra và Điều tra viên dẫn đến tiêu cực cho người bi ̣ ta ̣m giữ , bị can Mô ̣t trong những quyền quan tro ̣ng của luâ ̣t sư bào chữa là có quyền tham gia xét hỏi và tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa Trong những trường hợp mà theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t bắt buô ̣c phải có luâ ̣t sư bào chữa (khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng hình
sự 2003) mà luật sư bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên
Trang 18tòa theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 Luâ ̣t sư bào chữa còn
có quyền khiếu nại các quyết định của Tòa án nếu bị cáo là ngườ i chưa thành niên hoă ̣c người có nhược điểm về thể chất hoă ̣c tâm thần Ngoài các quyền nêu trên, pháp luật còn quy định cho luật sư bào chữa những nghĩa vụ nhất định Nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ , bị can, bị cáo vô tội ; những tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự ; giúp người bị tạm giữ , bị can , bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vê ̣ quyền và lợi ích của h ọ; không được từ chối bào chữa cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà mình đã nhận bào chữa nếu không có lý do chính đáng v.v…
Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu, luật sư trong hoạt động tố tụng hình
sự là người có đ ủ điều kiê ̣n th ực hiện nhiệm vụ bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và những đương sự trong vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự
1.1.2 Khái quát lĩnh vực hoạt động của luật sư trên thế giới và sự phát triển pháp luật về luật sư ở Việt Nam
Theo một số quan điểm của các nhà nghiên cứu lập pháp thì quyền bào chữa xuất hiện sớm nhất ở Châu Âu cùng với sự xuất hiện của Toà án và người biện hộ xuất hiện cùng Thẩm phán Trong Nhà nước Hy Lạp cổ, khi mà
tổ chức Toà án đã hình thành, nguyên cáo hoặc bị cáo có quyền được nhờ người thân thuộc của mình bào chữa trước Toà án Cụ thể, tại các nhà nước Phương Tây cổ đại (Hy Lạp cổ đại khoảng thế kỷ thứ VIII-III tr.CN; La Mã
cổ đại khoảng thế kỷ thứ X -III tr.CN, lần đầu tiên nhà nước La Mã cổ đại thành lập cơ quan xét xử (toà án) và tách khỏi cơ quan hành chính Việc xét
xử tuỳ thuộc vào tính chất các vụ án hình sự mà quy định số lượng thẩm phán Khi xét xử vụ án, để đưa ra quyết định các vấn đề trong vụ án, hội đồng
Trang 19thẩm phán thực hiện theo cách bỏ phiếu kín Điểm đặc biệt đáng chú ý trong
hình thức tố tụng của Luật La Mã thời kỳ này đã quy định có luật sư tham gia
vào quá trình xét xử của Toà án
Từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI, các toà án của nhà vua thực hành quyền
tư pháp nhà nước trên cơ sở áp dụng luật La Mã và các văn bản pháp luật tố tụng mới được xây dựng Chế độ phong kiến Tây Âu coi tội phản quốc, tội không trung thành với vua là những tội nặng nhất và rất tuỳ tiện trong khi tiến hành xét xử Tuy nhiên, tố tụng thời kỳ phong kiến Tây Âu có một số tiến bộ
rất đáng lưu ý, trong đó có quy định, khi tiến hành tố tụng hình sự tại Toà án
có các luật sư tham gia Tổ chức luật sư đã hình thành, phát triển nhanh chóng, có thế lực và ảnh hưởng rất lớn trong đời sống chính trị xã hội tại nhiều nước Tây Âu Tại Pháp, tổ chức luật sư được hình thành từ thời Vua Lui IX (đầu thế kỷ XIII) Tại Anh, tổ chức luật sư ra đời vào giữa thế kỷ thứ XIII
Trong thế kỷ XIX, luật tố tụng hình sự các nước tư sản hầu hết thống
nhất quan điểm, luật sư làm nhiệm vụ bào chữa để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội Ví dụ, tại Pháp, bồi thẩm đoàn xét xử gồm 9 bồi thẩm, bốc
thăm trong danh sách các bồi thẩm thực thụ để tham gia cùng với 3 thẩm phán chuyên môn xử tội đại hình Mô hình này được áp dụng tại Việt Nam trong
giai đoạn Pháp xâm lược Việt Nam Bị cáo có quyền được bảo vệ bằng cách
tự mình hoặc nhờ luật sư (với điều kiện bị cáo có đủ khả năng trang trải phí
tổn) Bị cáo có quyền kháng cáo, tham gia thẩm vấn với các nhân chứng, trình bày minh chứng v.v
Tuy nhiên, hoạt động của luật sư hiện nay tại các nước trên thế giới có khác nhau, nhưng nói một cách tổng quát, luật sư (lawyer) được gọi bằng thuật ngữ chung nhất là người hành nghề luật (legal practitioner) Xét theo tính chất nghề nghiệp, có thể phân loại luật sư thành luật sư tranh tụng và luật
Trang 20sư tư vấn Xét theo lĩnh vực hành nghề thì luật sư được chuyên môn hoá cao theo từng lĩnh vực của pháp luật Ví dụ, có luật sư hình sự, luật sư dân sự, luật sư thương mại, luật sư hôn nhân và gia đình, trẻ em v.v Ở Việt Nam sự phân định này là chưa rõ rệt, hầu như không có sự giới hạn loại hình cũng như lĩnh vực hoạt động chuyên môn của luật sư cũng như văn phòng luật sư (trừ các công ty luật hợp danh thì không được tham gia tranh tụng) Tuy nhiên ở các nước theo hệ thống Thông Luật (Common Law) và Dân Luật (Civil Law), nghề luật sư đã có cả một bề dày lịch sử và đội ngũ luật sư được phân hoá và phân cấp rất rõ ràng Có thể thấy rõ sự phân hoá này qua hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các nước này Ví dụ, tại Anh và Australia, Luật sư (Lawyer) được dùng các thuật ngữ chuyên biệt là Barrister và Solicitor Hai thuật ngữ này xuất hiện ở Anh khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII và tồn tại cho đến ngày nay khi nhu cầu về khiếu kiện dân sự bùng nổ (Wilfrid Prest, tr 20) Luật sư với từ Barrister (còn gọi là advocate ở Scotland và Ấn Độ) là những luật sư chuyên đảm nhiệm việc tranh tụng tại toà; còn Solicitor
là những luật sư chuyên tư vấn pháp lý, lo chuẩn bị hồ sơ và thực hiện các thủ tục giấy tờ pháp lý (Wilfrid Prest, tr 18) Đối chiếu sang tiếng Việt, Barrister chính là luật sư tranh tụng còn Solicitor chính là luật sư tư vấn Tuy nhiên, trên thực tế, một luật sư có thể kiêm hai chức năng tranh tụng và tư vấn Điều này cũng tương tự như ở Việt Nam
Ở Mỹ, người ta lại dùng các thuật ngữ Attorney để chỉ người luật sư Thuật ngữ Attorney có nghĩa là thay mặt, nhân danh ai đó (Morris, Cook, Greyke, Holloway, tr 22) Các Attorney ở Mỹ có hai loại là Agent và Pleader Tương tự như các Solicitor của Anh, các Agent đại diện cho các đương sự tiến hành các thủ tục pháp lý thông thường, đặc biệt là các thủ tục hành chính cần thiết cho việc khởi kiện hoặc theo kiện tại toà dân sự hoặc hình sự Còn các Pleader, còn gọi là Counsel at law hay Councellor hay Councel, tương tự như
Trang 21các Barrister ở Anh và Australia, là chuyên tham gia tranh tụng tại toà Cũng
có thể chia Attorney thành hai cấp độ là Attorney-in-fact và Attorney-at-law Attorney-in-fact là các đại diện pháp lý cho cá nhân hoặc pháp nhân trong các hoạt động pháp lý liên quan tới kinh doanh, tài sản hoặc các vấn đề cá nhân,
và thường hoạt động không cần phải có giấy phép của chính phủ Ngược lại, các Attorney-at-law là các luật sư đã được cấp chứng chỉ hành nghề, có quyền đại diện cho thân chủ tham gia vào các hoạt động pháp lý trong và ngoài toà
án cũng như cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý Do vậy có thể hiểu fact là các đại diện theo uỷ quyền, còn Attorney-at-law là các luật sư hành nghề tranh tụng trong các vụ án hình sự, dân sự tại toà Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng ở Mỹ thuật ngữ Attorney còn dùng để chỉ công tố viên ở các cấp trong các cụm thuật ngữ County Attorney (công tố viên của hạt), District Attorney (công tố viên của bang), và Attorney general (công tố viên liên bang)
Attorney-in-Xét trên khía cạnh đối tượng khách hàng thì tồn tại cả một khoảng cách lớn giữa hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các nước theo hệ thống Thông Luật và hệ thuật ngữ tương ứng của Việt Nam Ở các nước này, xét theo đối tượng khách hàng, từ lâu đã có luật sư riêng (in-house lawyer), trong đó bao gồm luật sư gia đình (family lawyer) và luật sư công ty (corporate lawyer) Các luật sư công ty là các luật sư đại diện cho một công ty tham gia vào các hoạt động pháp lý liên quan tới công ty đó (bao gồm cả tranh tụng và tư vấn) Tuy nhiên, ở Việt Nam có một thực tế là các gia đình và doanh nghiệp chưa
có thói quen và nhu cầu thuê luật sư riêng cho mình Vì thế cụm thuật ngữ
“luật sư riêng” vẫn chưa được phổ biến Mặc dù rằng rất nhiều doanh nghiệp nhà nước Việt Nam có hẳn một phòng pháp chế chuyên lo việc pháp lý của công ty, nhưng những người làm tại phòng pháp chế này phần nhiều không
Trang 22phải là luật sư nên họ không phải là những luật sư riêng Gần đây ở Việt Nam chúng ta thấy xuất hiện khái niệm luật sư kinh doanh
Cuối cùng, khi xem xét các thuật ngữ chỉ người luật sư từ khía cạnh lĩnh vực hoạt động, chúng ta lần nữa thấy được sự đi sau của nghề luật sư Việt Nam so với nghề luật sư các nước phát triển trong việc chuyên môn hoá xã hội luật sư Hiện nay, phần nhiều các luật sư Việt Nam sử dụng thuật ngữ chỉ
về công việc của mình một cách chung chung là “luật sư” mà chưa chỉ rõ tính chuyên môn trong hành nghề Trong khi đó ở các nước theo hệ thống Thông Luật (common law), khi nhìn vào hệ thuật ngữ chỉ luật sư, có thể thấy độ phân hoá luật sư theo lĩnh vực của họ rất sâu rộng Họ có từ luật sư hình sự (criminal lawyer), luật sư kinh tế (economic lawyer), luật sư thương mại (commercial lawyer), luật sư xây dựng (construction lawyer), luật sư lao động (labor lawyer), luật sư hợp đồng (contract lawyer) đến luật sư thuế (tax lawyer), luật sư môi trường (environmental lawyer), luật sư sở hữu trí tuệ (intellectual property lawyer hay patent lawyer), luật sư địa ốc (real estate and housing lawyer), luật sư chuyên về phá sản (bankcruptcy lawyer), luật sư chuyên về ly hôn (divorce lawyer), v.v…
Như vậy, có thể thấy rằng, sự phát triển của nghề luật ở các quốc gia cũng như cơ cấu của xã hội luật sư của họ đã được phản ánh rất rõ trong sự phát triển của ngôn ngữ, cụ thể là ở hệ thuật ngữ chỉ người luật sư của các quốc gia đó Do vậy, một luật gia La Mã cổ đại (Marcus Tullius Cicero) đã từng đánh giá luật sư và nghề luật sư thể hiện bằng: “sự cao thượng, tính hào hiệp, danh dự, công lý và lòng rộng lượng là những đặc tính phù hợp nhất với bản chất của nghề luật sư, chứ không phải là sự giàu có, niềm vui hoặc thậm chí chính bản thân cuộc sống” Luật sư là người luôn được ngưỡng mộ trong
xã hội, là người ngày càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi mà tính thiêng liêng vô điều kiện của pháp luật được tôn trọng
Trang 23So sánh với hệ thuật ngữ chỉ người luật sư trong tiếng Việt, hệ thuật ngữ của họ rõ ràng là phong phú và toàn diện hơn rất nhiều, phản ánh chính xác tương quan về lịch sử và mức độ phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam
so với thế giới Tuy nhiên, sự phát triển pháp luật về luật sư ở Việt Nam cũng
có những đặc điểm riêng Lịch sử Việt Nam còn lưu giữ Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) thời nhà Lê (1428 - 1788) với một ảnh hưởng sâu sắc trong sự phát triển của xã hội Việt Nam; cùng với nó là Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ như một cột mốc đầu tiên đánh dấu trong lịch sử lập pháp của Việt Nam có một bộ luật tố tụng riêng biệt Qua việc nghiên cứu chúng ta bước đầu thấy sự ghi nhận của nhà nước về nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, tuy rằng chưa được đề cập đến thuật ngữ luật sư, ví dụ như các điều
667, 668 và 669 Bộ Quốc triều hình luật có ghi : Khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra án phải xem xét kỹ, tìm ra sự thực, để cho kẻ phạm tội phải nhận tội; không được hỏi quá rộng cả đến người ngoài để tìm chứng cớ bậy… ; Tra khảo tù phạm không được quá ba lần…; Những án xét vào tội nhẹ, nhưng tình lý đáng ngờ, thì giao cho quan Viện Thẩm hình hội đồng bàn xét, hỏi tội nhân cho đến lúc nhận tội; nếu tội nhân không chịu nhận tội thì
cho phép được bào chữa rồi phải xét lại kỹ càng…
Ngoài ra tại nhiều điều luật còn ghi nhận các quy định về quyền bào chữa như: các điều 700, 706, 716, 720…Qua việc ghi nhận những điều luật trên, chúng ta thấy rằng đấy là những điểm mới, tiến bộ đi trước hàng thế kỷ bước đầu đã ghi dấu ấn cho hoạt động luật sư trong tố tụng hình sự so với việc ghi nhận bảo đảm quyền bào chữa của lịch sử thế giới và Việt Nam sau này
Cách mạng tháng 8 năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc điển hình do Đảng cộng sản lãnh đạo, lần đầu tiên giành thắng lợi ở một nước thuộc địa Để xây dựng và bảo vệ tổ quốc sau khi giành được độc lập, ngoài
Trang 24việc củng cố lực lượng vũ trang, thành lập bộ máy chính quyền cách mạng, chăm lo cuộc sống cho nhân dân và phát triển kinh tế…để phát triển đất nước, khắc phục và đẩy lùi những khó khăn và sự chống phá của kẻ thù Thì công tác lập pháp cũng là một nội dung quan trọng, một công cụ để nhà nước quản
lý xã hội Bên cạnh sự ghi nhận của pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì cũng từ đây nhà nước ta cũng bắt đầu ghi nhận nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa Cụ thể, ngày 13/09/1945 Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh
33c-SL về việc thiết lập các Toà án quân sự Tại Điều 5 quy định: “…Bị cáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 46/SL về tổ chức Đoàn luật sư Theo sắc lệnh này, các tổ chức các Đoàn luật sư trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được tạm thời giữ như Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của người Pháp, nhưng sắc lệnh này quy định một số vấn đề quan trọng cho phù hợp với chế độ mới như :Các luật sư được vào chữa trước tất cả các Tòa án cấp tỉnh trở lên và các tòa án quân sự ; điều kiện làm luật sư là: người Việt Nam không kể nam hay nữ; có bằng cử nhân luật; có hạnh kiểm tốt; đã tập sự 3 năm ở một văn phòng Luật sư; Đoàn luật sư Sài Gòn và Hà Nội bầu ra hội đồng luật sư nếu thuộc hạt có 10 văn phòng trở lên Nếu không đủ 10 văn phòng, các luật sư thực thụ lập ra Ban luật sư để điều hành công việc của Đoàn v.v… Do vậy, Sắc lệnh
số 46/SL được coi là sắc lệnh đầu tiên về luật sư của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, thể hiện sự quan tâm của Chính phủ cách mạng lâm thời và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với chế định luật sư của nước ta
Ngày 24/01/1946 Nhà nước đã ban hành Sắc lệnh số 13-SL về tổ chức Toà án và các ngạch Thẩm phán cũng quy định luật sư trong tố tụng hình sự
Ví dụ, Điều thứ 44 quy định: “Trong việc đại hình, nếu trước toà thượng thẩm một bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án sẽ cử một luật sư để bào chữa cho hắn” Ngày 29/03/1946 Nhà nước đã ban hành tiếp sắc lệnh số 40-SL
Trang 25cũng có những quy định để đảm bảo quyền bào chữa Tiếp đó, ngày 23/08/1946, Nhà nước ban hành Sắc lệnh số 163-SL về việc tổ chức Toà án binh lâm thời đặt tại Hà Nội Điều thứ 10 Sắc lệnh này quy định: “…Bị can
có thể tự bênh vực lấy hay nhờ một luật sư hoặc một người khác bào chữa
cho, hoặc Chánh án sẽ chỉ định một luật sư bào chữa cho hắn” Ngày
09/11/1946, tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (Hiến Pháp 1946) Hiến pháp
1946 đã ghi nhận nhiều nguyên tắc tiến bộ và có ý nghĩa quan trọng, trong đó
có sự ghi nhận hoạt động của luật sư Điều thứ 67 quy định “…Người bị cáo được quyền tự bào chữa lấy hoặc mượn luật sư” Như vậy, đây là lần đầu tiên
trong lịch sử Việt Nam, vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng hình sự được ghi nhận là một nguyên tắc Hiến định – đây là nền móng cho quá trình phát triển và hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa sau này
Để cụ thể hóa nguyên tắc Hiến định này, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để cụ thể hóa nó Ngày 18/06/1949, Nhà nước ban hành
sắc lệnh số 69-SL; tiếp đó ngày 22/12/1949 nhà nước ban hành tiếp sắc lệnh
số 144 – SL đã sửa đổi Điều 1 sắc lệnh số 69- SL ngày 18/06/1949 Việc nhà
nước ban hành 2 sắc lệnh 69 và 144 là một sự tiến bộ rất lớn trong việc ngày càng cụ thể hóa hơn hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sư được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Đồng thời sắc lệnh 69 và
144 cũng đã bắt đầu đặt nền móng cho việc xây dựng chế độ bào chữa viên nhân dân ở nước ta “…bị cáo và bị can có thể nhờ một công dân không phải
là luật sư bênh vực cho mình” Tiếp theo đó, ngày 12/01/1950, Bộ Tư pháp
đã ban hành Nghị định số 01/NĐ về việc ấn định điều kiện để làm bào chữa viên Theo Điều 1 của nghị định này, những công dân sau đây thì có thể được
cử ra hay được thừa nhận để bào chữa trước tòa: có quốc tịch Việt Nam,
Trang 26không phân biệt đàn ông hay đàn bà; ít nhất 21 tuổi; hạnh kiểm tốt và chưa can án
Hiến Pháp 1959 ra đời thay cho bản Hiến Pháp năm 1946, tiếp tục ghi nhận việc bảo đảm quyền bào chữa (Điều 101) Nếu như Hiến Pháp 1946 chỉ dừng lại ở việc quy định quyền bào chữa cho bị cáo thì Hiến pháp 1959 đã tiến
bộ hơn - khẳng định cả cơ chế bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo “Được bảo
đảm” Tại Điều 101 quy định: «Việc xét xử tại các Tòa án nhân đều công khai, trừ trường hợp đặc biệt do luật định Quyền bào chữa của bị cáo được đảm bảo »
Để cụ thể hóa quy định đó, ngày 15/07/1960 Quốc hội ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định cụ thể hơn nữa quyền bào chữa của bị cáo: Điều 7 quy định “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm;… Khi cần thiết, Tòa án nhân dân chỉ định người bào chữa cho bị cáo” Tiếp đó Tòa án nhân dân đã ban hành Thông tư 06/TC ngày 09/09/1967 hướng dẫn việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị cáo Thông tư còn có những quy định hướng dẫn việc thực hiện chế độ bào chữa chữa viên nhân dân Ngoài ra nó còn quy định về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo
Ngày 27/08/1974, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số TATC, bản hướng dẫn trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự ban hành kèm theo Thông tư này khẳng định: quyền bào chữa là quyền của bị cáo nên Toà án phải bảo đảm cho họ thực hiện đầy đủ quyền đó và phải nghiên cứu những lời bào chữa của bị cáo một cách khách quan… Thông tư cũng hướng dẫn cụ thể hơn những trường hợp Tòa án nhân dân phải chỉ định người bào chữa cho
16-bị cáo, đó là các trường hợp: 16-bị cáo có thể 16-bị phạt tù chung thân hoặc tử hình;
bị cáo là vị thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất (ví dụ: mù, câm, điếc) hoặc về tinh thần (ví dụ: có bệnh động kinh, hoặc trước khi phạm pháp
đã bị điên nhưng đã chữa khỏi…); vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp
Trang 27và có ảnh hưởng lớn đến dư luận của nhân dân Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Tư pháp của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã có Thông tư số 06 ngày 11/06/1976 về việc thực hiện chế
độ bào chữa khi tiến hành xét xử tại toà án ở miền Nam
Hiến pháp 1980 ra đời, tiếp tục khẳng định quyền bào chữa của bị cáo tại Điều 133: “…Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm, tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự về mặt pháp lý” Sau khi Việt Nam thống nhất về mặt nhà nước, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 691/QLTA ngày 31/10/1983 về công tác bào chữa trong toàn quốc, trong đó xác định đoàn bào chữa và bào chữa viên có trách nhiệm góp phần bảo vệ chân lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa thông qua hoạt động của mình Ngày 18/12/1987, Pháp lệnh tổ chức luật sư được ban hành và tiếp theo
đó là Quy chế Đoàn luật sư kèm theo Nghị định 15-HĐBT đã giải thích cụ thể quyền, nghĩa vụ, cơ chế hoạt động của luật sư và tổ chức luật sư
Ngày 28/6/1988 Bộ luật tố tụng hình sự được ban hành So với các quy định trước đây về các thủ tục tố tụng hình sự, hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự đã có nhiều quy định tiến bộ hơn Ví dụ tại Điều 12 quy định
“Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà
án có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ.” Điều 20 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định rõ hơn: ‘Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền bình đẳng đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước tòa án‟ Ngoài ra, tại các Điều 34, 36, 39, 40, 41, 42, 181… đều
quy định với nội dung như, bị can, bị cáo được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; được đề xuất chứng cứ, đề xuất yêu cầu; Luật sư có quyền
Trang 28kháng cáo nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm
về thể chất hoặc tâm thần; Luật sư được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, nhưng trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Việt trưởng Viện kiểm sát nhân dân quyết định để Luật sư tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra; Luật sư được đọc hồ sơ, được tham gia xét hỏi tại phiên tòa, được tranh luận… Với sự hiện diện của các quy định mới này, thì có thể thừa nhận rằng các hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự được quy định một cách cụ thể hơn, bảo đảm quyền được bào chữa cho người bị buộc tội Bộ luật tố tụng hình sự 1988 ghi nhận và mở rộng hơn phạm vi điều chỉnh, đánh dấu một sự thay đổi rất lớn trong việc bảo đảm quyền bào chữa, đó là Bộ luật quy định không chỉ có “Bị cáo” mà “Bị can” cũng có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa
Tiếp đó nhà nước ban hành Pháp lệnh Luật sư năm 2001 thay cho Pháp lệnh Luật sư 1987 góp phần tạo ra các cơ sở pháp lý cụ thể và hiểu quả cho việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo nói chung và hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự nói riêng được thực hiện tốt trên thực tế
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 ra đời tiếp tục ghi nhận nguyên tắc này và được quy định theo hướng mở rộng hoạt động của luật sư Ví dụ, Điều
11 quy định: “Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tòa án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của
họ theo quy định của bộ luật này.” Những vấn đề khác liên quan đến hoạt
động của luật sư cũng được quy định cụ thể hơn, như quy định về thẩm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa; người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi bị can; quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan
Trang 29đến việc bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… Mở rộng đối tượng của quyền khiếu nại đó là “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” v.v…
Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, nhất là khi nước ta muốn trở thành thành viên của tổ chức thương mại quốc tế (WTO), việc ban hành Luật luật sư là hết sức cần thiết Do vậy, năm 2006, Luật luật sư được Quốc hội khoá XI thông qua đã góp phần tạo ra những cơ sở pháp lý cho việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa nói chung trên thực
tế trong công tác xét xử của tòa án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ góp phần làm sáng tỏ mọi hành vi phạm tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, không để lọt tội phạm cũng như làm oan người vô tội Luật luật sư năm 2006 đã được xây dựng trên tinh thần thể chế hóa Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm phát triển đội ngũ luật sư đủ số lượng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, vững về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo thêm lực đẩy lớn, khẳng định vai trò của luật sư trong tố tụng hình sự để bảo vệ quyền con người
Quốc hội ban hành Luật luật sư thể hiện sự ghi nhận và phát triển ngày càng hoàn thiện của quyền bào chữa và nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
ở nước ta Qua các quy phạm pháp luật thực định nêu trên, có thể khẳng định hoạt động của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng hình sự đã có những bước phát triển về chất, xuất phát từ việc pháp luật tố tụng đang từng bước được hoàn thiện; các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm hơn đến việc tạo
Trang 30điều kiện thuận lợi cho luật sư bào chữa tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bị cáo
Như vậy, quá trình phát triển các quy định của pháp luật Nhà nước Việt Nam về hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự từ 1945 đến 2003 cho thấy, nhà nước ta mong muốn xây dựng được đội ngũ luật sư lớn mạnh và ngày càng chuyên nghiệp, chuyên môn hoá như các quốc gia phát triển khác trên thế giới Chúng ta thấy rằng việc ghi nhận nó bằng các quy định pháp luật luôn gắn liền với sự phát triển và dân chủ hóa mọi mặt của đời sống xã hội ở nước ta ở từng thời điểm khác nhau, từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước sao cho phù hợp với tình hình của đất nước Việc ghi nhận và phát triển hệ thống pháp luật về luật sư ở Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử của đất nước, mặc dù còn nhiều khó khăn và thử thách nhưng nó đã thể hiện sự
cố gắng của đất nước ta trong việc cụ thể hóa các quy định tương tự đã được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế Việc làm này thể hiện sự quan tâm của nhà nước ta cho việc đấu tranh các quyền tự do dân chủ trên thế giới và việc ghi nhận nó là một xu thế tất yếu của thời đại Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng không thể thiếu được của pháp luật tố tụng hình
sự Việt Nam, mặc dù nội dung của nó còn nhiều ý kiến khác nhau cần được xem xét và làm rõ từ góc độ lý luận và thực tiễn
1.2 Quy định của pháp luật về luật sư và về hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự
1.2.1 Quy định của pháp luật về luật sư
Luật Luật sư được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/6/2006 và được Chủ tịch nước công bố ngày 19/7/2006 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2007)
đã đáp ứng được sự mong mỏi chờ đợi của Luật sư nói riêng và của toàn xã hội nói chung trước những thách thức, nhu cầu trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm, tôn trọng quyền con người trong
Trang 31hoạt động tư pháp, phục vụ cho yêu cầu hội nhập quốc tế Luật luật sư đã giải quyết được một phần những vướng mắc trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của Luật sư theo Pháp lệnh Luật sư năm 2001 và các văn bản pháp luật có liên quan trong thời gian qua, mở rộng một không gian pháp lý cần thiết cho giới Luật sư hành nghề, trong đó đòi hỏi rất cao về tư cách, tiêu chuẩn đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp
Luật sư, theo quy định tại Điều 2, là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân,
cơ quan, tổ chức Chức năng xã hội của luật sư là nhằm góp phần bảo vệ công
lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Tiêu chuẩn của luật sư (Điều 10) phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến Pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập
sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư Tuy nhiên, người có đủ tiêu chuẩn nói trên muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư
Để có được chứng chỉ hành nghề luật sư, người có bằng cử nhân luật được đăng ký tham dự khóa đào tạo nghề luật sư tại cơ sở đào tạo nghề luật
sư (trừ những người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; hoặc là giáo
sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật; hoặc đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật; hoặc đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát; chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính trong lĩnh vực pháp luật thì được miễn đào tạo nghề luật sư); thời gian đào tạo nghề luật sư là sáu tháng; người hoàn thành chương trình đào tạo nghề luật sư được cơ sở đào tạo nghề luật sư cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư
Trang 32Người đã được đào tạo nghề luật sư phải tập sự hành nghề luật sư tại tổ chức hành nghề luật sư với thời gian 18 tháng (trừ những người được miễn đào tạo nghề luật sư là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên; hoặc là giáo
sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật) Đối với những người đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát; chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba (2/3) thời gian tập sự hành nghề luật sư; và đối với những người đã là chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành toà án, kiểm tra viên ngành kiểm sát từ 10 năm trở lên thì được giảm một nửa (1/2) thời gian tập sự hành nghề luật sư
Với quan niệm người tập sự hành nghề luật sư còn trong giai đoạn tập
sự chưa đủ khả năng về chuyên môn để tự thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng, Luật luật sư đã quy định không cho phép người đang tập sự hành nghề luật sư được hành nghề Người tập sự hành nghề luật sư sẽ tập sự hành nghề thông qua việc giúp luật sư hướng dẫn thực hiện các dịch vụ pháp lý cho kháng hàng Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp; không được nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng
Ở Việt Nam, tiêu chuẩn luật sư cũng có sự thay đổi theo yêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Theo quy định của Pháp lệnh Tổ chức Luật sư năm 1987, để trở thành luật sư cần phải hội tụ các yếu tố như: Là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Có phấm chất đạo đức, tư cách tốt; Tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương ; Phải qua một thời gian tập sự từ 6 đến 2 năm và một kỳ kiểm tra hết tập sự Luật sư tập sự được bào chữa và làm các việc giúp đỡ pháp lý khác, có các quyền và
Trang 33nghĩa vụ như luật sư, trừ quyền bầu và được bầu vào Ban Chủ nhiệm và Ban kiểm tra của Đoàn luật sư Đến Pháp lệnh Luật sư năm 2001, đòi hỏi luật sư phải là người có trình độ đại học luật mà không chấp nhận trình độ pháp lý tương đương như quy định ở Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 Luật Luật
sư năm 2006 đã bỏ quy định luật sư tập sự thay vào đó quy định, tập sự hành nghề luật sư Với quy định của khoản 3 Điều 14 của Luật luật sư năm 2006, nhà làm luật đã thể hiện quan điểm là những người chưa phải là luật sư thì không có quyền nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng, chỉ có tổ chức hành nghề luật sư mới có quyền nhận và thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng
Sau thời gian tập sự hành nghề luật sư, sẽ có đợt kiểm tra kết quả tập
sự Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với tổ chức luật sư toàn quốc tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư Việc kiểm tra kết quả này sẽ do Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư tiến hành và Hội đồng kiểm tra hoạt động theo Quy chế tập sự hành nghề luật sư Những người đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư được Hội đồng kiểm tra kết quả đề nghị
Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp Giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư
Theo quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001 thì những người cán bộ, công chức không được hành nghề luật sư và để kế thừa quy định đó thì Luật Luật sư năm 2006 (Điều 17) còn bổ sung quy định về điều kiện cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và điều kiện gia nhập Đoàn luật sư Theo đó, những người là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong
cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; không thường trú tại Việt Nam,
Trang 34không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư, nếu đã được cấp bị thu hồi và không được gia nhập Đoàn luật sư để hành nghề luật sư
Đối với những người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án
mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng
do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục hoặc quản chế hành chính; mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; những đối tượng quy định ở trên bị buộc thôi việc mà chưa hết hạn ba năm, kể từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực sẽ không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư
Tuy nhiên, Luật luật sư (Điều 19) cũng quy định : Người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư sau khi bị xử lý kỷ luật bằng hình thức xóa tên khỏi danh sách Đoàn luật sư hoặc bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư, sau thời hạn 3 năm, kể từ ngày ra quyết định thu hồi thì có thể được xem xét cấp lại Chứng chỉ; đối với những người bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư do
bị kết án về một tội phạm đã thực hiện với lỗi vô ý và bản án có hiệu lực pháp luật thì được xem xét sau khi được xóa án tích; với lỗi cố ý sẽ không được cấp lại chứng chỉ hành nghề luật sư
Để đảm bảo hiệu quả công tác quản lý về luật sư và hành nghề luật sư
từ phía Đoàn luật sư và các cơ quan quản lý nhà nước, Luật luật sư đã quy định luật sư chỉ được thành lập, tham gia thành lập Văn phòng luật sư, Công
ty luật tại địa phương nơi có Đoàn luật sư mà mình là thành viên và Đoàn luật
sư có trách nhiệm giám sát không chỉ đối với luật sư là thành viên mà còn cả đối với những luật sư hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương
Trang 35Địa vị pháp lý của luật sư thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ của luật sư được quy định tại Điều 21 của Luật luật sư, cụ thể, Luật
sư có các quyền: hành nghề luật sư, lựa chọn hình thức hành nghề luật sư và hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của Luật; hành nghề của luật sư trên lãnh thổ Việt Nam; hành nghề luật sư ở nước ngoài; các quyền khác theo quy định của Luật Luật sư có các nghĩa vụ tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật sư; sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; tham gia tố tụng trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu; thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí; các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật luật sư
Theo Luật luật sư (Điều 22), phạm vi hành nghề của luật sư cũng được quy định một cách cụ thể gồm: Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật về luật sư
Để bảo đảm tính khách quan và nâng cao hiệu quả, chất lượng làm việc của luật sư, khi hành nghề luật sư, luật sư phải: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; Tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; Chịu trách nhiệm trước pháp
Trang 36luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư Luật luật sư, một mặt (Điều 9) quy định, nghiêm cấm luật sư thực hiện các hành vi cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự,
vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc); Cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật; Tiết lộ thông tin
về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; Sách nhiễu, lừa dối khách hàng; Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc; Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự,
an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Mặt khác, Luật luật sư (Điều 24 và Điều 25) còn quy định, Luật sư phải tôn trọng sự lựa chọn luật sư của khách hàng; chỉ nhận vụ, việc theo khả năng của mình và thực hiện vụ, việc trong phạm vi yêu cầu của khách hàng Khi nhận vụ, việc, luật sư thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng Luật sư không chuyển giao vụ, việc mà mình đã nhận cho luật sư khác làm thay, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc trường hợp bất khả kháng Luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng
mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của
Trang 37Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
Trong tham gia tố tụng, luật sư phải tuân theo quy định của pháp luật
về tố tụng Điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng nói chung, trong đó có tố tụng hình sự, thì Luật sư phải được cơ quan tiến hành tố tụng cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong vụ án hình sự hoặc giấy chứng nhận người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính khi xuất trình đủ giấy tờ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sư của khách hàng và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư hoặc của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề đối với trường hợp luật sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư;
- Thẻ luật sư, giấy yêu cầu luật sư của khách hàng và giấy giới thiệu của Đoàn luật sư nơi luật sư đó là thành viên đối với trường hợp luật sư hành nghề với tư cách cá nhân; Thẻ luật sư và giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức nơi luật sư hành nghề với tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó;
- Thẻ luật sư và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư hoặc của chi nhánh tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề đối với luật
sư hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư hoặc Thẻ luật sư và văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân để tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
Cơ quan tiến hành tố tụng phải cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng cho luật sư trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ thuộc một trong các trường hợp nêu trên, trừ trường hợp pháp luật có quy
Trang 38định khác Giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư có giá trị trong các giai đoạn tố tụng, trừ trường hợp bị thu hồi, luật sư bị thay đổi hoặc không được tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật Khi cần liên hệ với cá nhân, cơ quan, tổ chức để thực hiện quyền, nghĩa vụ và các hoạt động có liên quan đến việc bào chữa, bảo vệ quyền lợi của khách hàng, luật sư xuất trình Thẻ luật sư và giấy chứng nhận tham gia tố tụng của luật sư
Để tạo điều kiện thuận lợi cho Luật sư thực hiện nhiệm vụ của mình, Luật luật sư cũng quy định (Điều 9), nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân
có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư Quy định như vậy tạo nên
sự bình đẳng trong quan hệ giữa Luật sư với các cơ quan, tổ chức của nhà nước, trong đó có các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cũng như tạo điều kiện cho luật sư thực hiện trách nhiệm bào chữa của mình
Do hoạt động của luật sư mang tính chất nghề nghiệp nên khi thực hiện nhiệm vụ của mình, luật sư được hưởng mức thù lao nhất định Các điều từ Điều 54 đến Điều 57 Luật luật sư quy định, khách hàng phải trả thù lao khi sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư Căn cứ và phương thức tính thù lao dựa vào: nội dung, tính chất của dịch vụ pháp lý; thời gian và công sức của luật sư
sử dụng để thực hiện dịch vụ pháp lý; kinh nghiệm và uy tín của luật sư; giờ làm việc của luật sư; vụ, việc với mức thù lao trọn gói; vụ, việc với mức thù lao tính theo tỷ lệ phần trăm của giá vụ kiện hoặc giá trị hợp đồng, giá trị dự án; hợp đồng dài hạn với mức thù lao cố định Nói chung, mức thù lao được thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý; đối với vụ án hình sự mà luật sư tham gia tố tụng thì mức thù lao không được vượt quá mức trần thù lao do Chính phủ quy định; tiền tàu xe, lưu trú và các chi phí hợp lý khác cho việc thực hiện dịch vụ pháp lý do các bên thoả thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp
lý Luật sư tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến
Trang 39hành tố tụng được nhận thù lao và được thanh toán chi phí theo quy định của Chính phủ
Phải thừa nhận, những quy định của Luật luật sư năm 2006 về luật sư là thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc từng bước hiện đại hoá đội ngũ luật sư để đáp ứng các yêu cầu chuẩn mực quốc tế về sự phát triển của xã hội dân sự trong nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa ở xu thế hội nhập khu vực và thế giới
1.2.2 Quy định của pháp luật về hoạt động của luật sư trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa là một trong những quyền quan trọng của những người tham gia tố tụng Ngay tại Điều 11, Điều 19 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định có tính nguyên tắc của hoạt động tố tụng trong việc bảo đảm quyền bào chữa: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Người bào chữa, cũng như Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác (bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo
vệ quyền lợi của đương sự) đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Tòa án
có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án Như vậy, quyền bào chữa được pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận bảo đảm tong suốt quá trình tố tụng
Thực hiện nhiệm vụ bào chữa trong vụ án hình sự, theo quy định tại Điều 56 và Điều 59 BLTTHS, không chỉ có luật sư, mà còn có những người
Trang 40khác như: người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc bào chữa viên nhân dân
Có một vấn đề trong pháp luật tố tụng hình sự cũng như khoa học pháp
lý tư pháp hình sự chưa được lý giải cặn kẽ liên quan đến người bào chữa Điều 56 BLTTHS quy định, người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
c) Bào chữa viên nhân dân;
Vậy Luật sư có thể làm việc với tư cách người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; hoặc tư cách Bào chữa viên nhân dân được hay không? Điều này liên quan đến thủ tục để các cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận cấp giấy chứng nhận bào chữa Chính khó khăn này mà trong thực
tế, thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho thấy chỉ có Luật sư mà không có những người khác, mặc dù luật tố tụng hình sự có quy định Chỉ có Luật sư tham gia
tố tụng với tư cách người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi của đương
sự
Như vậy, Luật sư bào chữa là người được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp Giấy chứng nhận người bào chữa, tham gia tố tụng để đưa ra những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho họ Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 năm 2003 BLTTHS và Điều 2 Luật Luật sư thì Luật sư trở thành người bào chữa khi có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật, tham gia tố tụng theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
Để bảo đảm quyền lợi cho những người tham gia tố tụng và đáp ứng yêu cầu khách quan trong giải quyết vụ án hình sự, Điều 56 BLTTHS quy