Điều 19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ MINH NGỌC
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH
HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2011
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ MINH NGỌC
KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH, MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS GVC Trịnh Quốc Toản
Hà Nội - 2011
Trang 3MỤC LỤC Trang
Mở đầu
Chương 1 Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò kháng nghị phúc thẩm hình
sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm hình sự
của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2 Vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát
nhân dân
1.2 Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về
kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.2.2 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.2.3 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự
1.2.4 Thủ tục bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm
hình sự
Chương 2 Thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
2.1 Tình hình giải quyết các vụ án hình sự có kháng nghị của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
2.2 Những kết quả đạt được trong công tác kháng nghị phúc
thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
2.3 Những tồn tại, hạn chế trong công tác kháng nghị phúc
thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và nguyên
nhân của những tồn tại, hạn chế
2.3.1 Những tồn tại, hạn chế trong công tác kháng nghị phúc
thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
2.3.2 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh
Trang 4sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
3.1 Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình sự nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
3.2 Những giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm về kháng nghị phúc thẩm
3.2.1 Quy định cụ thể các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình
sự trong Bộ luật tố tụng hình sự
3.2.2 Quy định cụ thể việc gửi bản sao bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên trong Bộ luật tố tụng hình sự
3.2.3 Quy định cụ thể việc bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị trong Bộ luật tố tụng hình sự
3.3 Những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
3.3.1 Tăng cường công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật
3.3.2 Tăng cường và đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra của Lãnh đạo Viện kiểm sát các cấp về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
3.3.3 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ngành kiểm sát
3.3.4 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong việc giải quyết kháng nghị phúc thẩm hình sự
3.3.5 Tăng cường công tác tổ chức cán bộ, nâng cao ý thức chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên
3.4 Một số kiến nghị cụ thể
Kết luận
Danh mục công trình khoa học của tác giả
Trang 5MỞ ĐẦU
I Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh phòng và chống tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng
và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội là vấn đề hết sức quan trọng trong xã hội, đồng thời cũng là mục đích của tố tụng hình sự
Viện kiểm sát được Đảng và Nhà nước giao giữ một vị trí quan trọng trong hoạt động tư pháp Từ khi được thành lập cho đến nay, ngành Kiểm sát nhân dân ngày càng lớn mạnh và có những tiến bộ rõ rệt trong hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời; việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và làm oan người vô tội Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát bảo đảm cho pháp luật nói chung và pháp luật hình
sự nói riêng được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất
Trong rất nhiều hoạt động của ngành kiểm sát, kháng nghị là một hoạt động quan trọng nhằm thực hiện chức năng của ngành Điều 19 Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành quyền công tố và
kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật ” [23, 18]
Đặc biệt, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng riêng biệt của Viện kiểm sát Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003
quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có
quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân” Đây là một quyền năng pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo cho bản án,
quyết định của Toà án có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
Trang 6Kháng nghị phúc thẩm hình sự chính là một biện pháp để kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Toà án Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Toà án cấp trên sửa chữa những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp sơ thẩm; hướng dẫn Toà án cấp sơ thẩm khắc phục những thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật
Trong những năm qua, thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm của ngành Kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh đã có những chuyển biến nhất định Chất lượng kháng nghị đã từng bước được nâng lên, nhìn chung đã đảm bảo về hình thức, nội dung có căn cứ pháp lý, tỷ lệ kháng nghị được Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ và Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận được tăng lên rõ rệt
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp ở tỉnh Hà tĩnh còn có những bất cập, hạn chế, chưa phát huy hết chức năng, vai trò của mình, nhiều
vụ án Viện kiểm sát cấp trên phải rút kháng nghị, tỷ lệ kháng nghị được Toà
án cấp phúc thẩm chấp nhận còn thấp, số lượng kháng nghị phúc thẩm có chiều hướng giảm trong khi số án sơ thẩm phải cải sửa, huỷ án thông qua kháng cáo chiếm tỷ lệ không nhỏ, một số đơn vị Viện kiểm sát nhiều năm liền không có kháng nghị phúc thẩm hình sự, v.v
Những tồn tại, thiếu sót nêu trên có nhiều nguyên nhân, từ nguyên nhân chủ quan đến nguyên nhân khách quan Một mặt năng lực và trách nhiệm của cán bộ, Kiểm sát viên còn hạn chế, lãnh đạo một số đơn vị chưa thật sự quan tâm tới công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, mối quan hệ phối hợp giữa Viện kiểm sát các cấp về công tác kháng nghị phúc thẩm chưa cao Mặt khác BLTTHS hiện hành chưa có quy định cụ thể về căn cứ kháng nghị phúc thẩm, thời hạn kháng nghị trên một cấp còn ngắn, việc sao gửi bản án sơ thẩm của Toà án cấp sơ thẩm cho Viện kiểm sát cấp trên chưa được quy định, trang thiết bị hỗ trợ cho công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử chưa
Trang 7đáp ứng yêu cầu, v.v Những nguyên nhân trên làm cho chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm bị ảnh hưởng không nhỏ Trong khi đó, chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này thông qua thực tiễn công tác kháng nghị phúc thẩm ở Viện kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh
Từ những lý do nêu trên tác giả chọn đề tài “Kháng nghị phúc thẩm các
vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” làm luận văn thạc sĩ luật học Thông qua việc nghiên cứu cơ sở
lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự và thực tiễn của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hà Tĩnh trong những năm gần đây, tìm ra nguyên nhân của hạn chế và tồn tại, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị để nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự
theo tinh thần Chỉ thị 03 ngày 19-6-2008 về “Tăng cường công tác kháng
nghị phúc thẩm hình sự” của Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao
(VKSNDTC), qua đó thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử của ngành Kiểm sát, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02-01-2002 và Nghị quyết số 49 ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
2 Tình hình nghiên cứu đến đề tài
Kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý quan trọng của Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát đảm bảo cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục được tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra với công tác đổi mới tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát theo quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp trên tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị thì việc nâng cao chất lượng
Trang 8kháng nghị phúc thẩm hình sự là một vấn đề cần thiết Vì vậy, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã được chú trọng hơn trong những năm gần đây thông qua việc tổ chức hội thảo, hội nghị, tổng kết rút kinh nghiệm, v.v Chính vì vậy, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được một số tác giả, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau:
- Bình luận khoa học BLTTHS, tác giả PGS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Công an nhân dân năm 2004
- Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa luật đại học Quốc gia
- Một số đề xuất nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự, tác giả Lê Doãn Tiết, Tạp chí Kiểm sát số 17 (tháng 9/2009)
- Nâng cao chất lượng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự, Chuyên
đề của Tạp chí Kiểm sát, số 16 (tháng 8/2010)
- Bàn thêm về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự, tác giả Đinh Văn Quế, Tạp chí kiểm sát số 15 (tháng 8/2007), số 17 (tháng 9/2007)
Trang 9- Kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, tác giả Chu Thị Thanh Tú, Luận văn Thạc sỹ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2007, v.v
Tuy nhiên các nghiên cứu, bài viết và chuyên đề nêu trên đề cập đến những khía cạnh nhất định hoặc những vấn đề chung nhất Mỗi bài viết, công trình nghiên cứu chỉ tập trung giải quyết một hoặc vài nội dung cụ thể liên quan đến chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự, chưa có bài viết hay công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết dưới góc độ lý luận, thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Hà Tĩnh, lý giải các yếu tố ảnh hưởng, đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm khắc phục và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát;
- Phân tích, đánh giá toàn diện về thực tiễn pháp luật và thực tiễn thực hiện công tác kháng nghị của VKSND tỉnh Hà Tĩnh từ khi có BLTTHS năm
2003, rút ra những hạn chế, tồn tại và những nguyên nhân của nó;
- Đề xuất những kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng của công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành Kiểm sát nói chung và Viện kiểm sát tỉnh Hà Tĩnh nói riêng trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: khái
niệm, đặc điểm, vai trò, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự
Trang 10Hai là, phân tích sâu sắc các quy định của BLTTHS năm 2003 về
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát
Ba là, đánh giá toàn diện thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm
hình sự ở Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian từ năm 2003 đến
2010, từ đó rút ra những mặt tích cực và hạn chế về công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử ở Hà Tĩnh hiện nay
Bốn là, đề xuất các giải pháp, kiến nghị khả thi nhằm nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
* Về đối tượng nghiên cứu: Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát các cấp
* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về lý
luận và thực tiễn trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát hai cấp ở tỉnh Hà Tĩnh
* Về thời gian nghiên cứu: Luận văn xác định nghiên cứu trong khoảng
thời gian từ 2003 đến 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống, lịch sử, thống kê, so sánh, v.v
6 Những đóng góp mới
- Luận văn hệ thống, làm rõ cơ sở lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Trang 11- Luận văn nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát hai cấp tỉnh Hà Tĩnh, những mặt được và chưa được, tìm ra những nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nói chung và Viện kiểm sát hai cấp
ở Hà Tĩnh nói riêng
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân
Chương 2: Thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng, hiệu
quả công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Hà Tĩnh
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Tố tụng hình sự là một trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như các cơ quan, tổ chức khác góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
Để đảm bảo cho việc phát hiện, xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nhà nước, tổ chức, đòi hỏi quá trình giải quyết một vụ án hình sự phải diễn ra qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án Mỗi một giai đoạn tố tụng hình sự gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tiến hành tố tụng, tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
Ngoài việc quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, BLTTHS còn quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành
tố tụng và người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS, bởi lẽ mọi hành vi vi phạm pháp luật hoặc việc áp
Trang 13dụng pháp luật không đầy đủ có thể dẫn đến việc xử lý oan, sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, gây tổn hại đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật và làm giảm lòng tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật VKSND là một trong những cơ quan tư pháp tiến hành các hoạt động tố tụng xuyên suốt ngay từ khi khởi tố vụ án đến khi bản
án, quyết định được thi hành Thông qua việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, VKSND bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng, người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất theo quy định của pháp luật
Nghiên cứu lịch sử các cơ quan tư pháp ở nước ta cho thấy, cùng với
Tòa án các cấp, cơ quan công tố cũng dần dần được hình thành trong bộ máy nhà nước để cùng với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác đấu tranh chống các hành vi tội phạm, nhằm bảo vệ những thành quả cách mạng, bảo vệ chính quyền nhân dân cũng như lợi ích của nhân dân Theo các Sắc lệnh số 13/SL ngày 24-01-1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17-4-1946 và Sắc lệnh
số 131/SL ngày 20-7-1946, hệ thống cơ quan công tố nằm trong
cơ cấu tổ chức của Toà án, do Bộ Tư pháp quản lý Hệ thống Toà
án được tổ chức ở cả ba cấp: Toà án sơ cấp (ở các quận, huyện), Toà án đệ nhị cấp (ở các tỉnh, thành phố) và Toà thượng thẩm (ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) Ở Toà án sơ cấp, Thẩm phán làm
cả việc xét xử và công tố Ở Toà án đệ nhị cấp, Thẩm phán được chia ra làm hai chức vị: Thẩm phán xử án và Thẩm phán buộc tội (Công tố Viện) Ở Toà thượng thẩm có Công tố viện do ông Chưởng lý đứng đầu, gồm các công chức làm công tác công tố chuyên trách Công tố viện hoạt động dưới sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nhưng Bộ trưởng Bộ Tư
Trang 14pháp không có quyền trực tiếp làm nhiệm vụ công tố Các công
tố viện có thẩm quyền tư pháp cảnh sát (điều tra hình sự), thực hành quyền công tố, điều khiển công việc và giám sát công tác điều tra của tư pháp cảnh sát [14, 15]
Về sau, trên cơ sở Nghị quyết ngày 29-4-1958 của Quốc hội khoá I (kỳ họp thứ 8) và các Nghị định số 256/TTg ngày 01-7-
1959, Nghị định số 321/TTg ngày 02-7-1959 của Chính phủ, Viện Công tố với tư cách là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập được thành lập tách khỏi Toà án [14, 16]
Đến năm 1960, trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, và Luật Tổ chức VKSND năm 1960, hệ thống VKSND được thành lập, đặt dưới
sự giám sát trực tiếp của cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước là Quốc hội, VKSND ngoài chức năng công tố còn thực hiện chức năng thứ hai là kiểm sát việc tuân theo pháp luật Kể
từ khi Viện công tố được thành lập tách khỏi Chính phủ và sau này VKSND được thành lập cho đến nay, trên thực tế hệ thống
cơ quan VKSND luôn luôn tồn tại như một bộ phận hợp thành của nhánh quyền lực tư pháp [14, 16]
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 tuy có sửa đổi một số quy định về tổ chức và hoạt động của VKSND nhưng chức năng công tố tiếp tục giao cho VKSND đảm nhiệm Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) và Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì VKSND có hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” khẳng định: “Trước mắt, VKSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” [2, 5] Trên cơ sở chỉ đạo của Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược
Trang 15cải cách tư pháp đến năm 2020, ngày 28-7-2010 Ban chấp hành Trung ương
đã ban hành Kết luận số 79-KL/TW về đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra Theo đó, Ban chấp hành
Trung ương đã khẳng định: “VKSND có chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay” [5, 3] Như vậy, chức năng và
nhiệm vụ của Viện kiểm sát không thay đổi và vẫn giữ nguyên như quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi, bổ sung và Điều 1 Luật Tổ chức
VKSND
Kết luận số 79-KL/TW cũng định hướng: Tổ chức hệ thống VKSND thành 4 cấp, phù hợp với hệ thống tổ chức của Toà án nhân dân Giữ cụm từ “nhân dân” trong tên gọi của Viện kiểm sát Cụ thể là: VKSND khu vực (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng và địa hạt tư pháp của Toà án nhân dân
sơ thẩm khu vực), được thành lập trên cơ sở một hoặc một số Viện kiểm sát cấp huyện trong phạm vi địa hạt tư pháp của Tòa
án sơ thẩm khu vực [5, 3]
Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát khu vực, trước mắt, cần xác định như Viện kiểm sát cấp huyện hiện nay Căn cứ vào tình hình cụ thể trong quá trình xây dựng, phát triển các cơ quan tư pháp cũng như tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, dần dần có thể tăng thẩm quyền cho Viện kiểm sát khu vực theo một lộ trình cụ thể, hợp lý
VKSND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tổ chức tương đương với Tòa án phúc thẩm (cấp tỉnh), thành lập chủ yếu trên cơ sở VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi địa hạt tư pháp của Tòa
án phúc thẩm Viện kiểm sát tỉnh có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong việc giải quyết các vụ án hình sự, vụ án
Trang 16hành chính, các vụ việc dân sự và các việc khác theo quy định của pháp luật
do Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Tòa án phúc thẩm thụ lý, giải quyết
VKSND cấp cao (số lượng và địa hạt tư pháp tương ứng với số lượng
và địa hạt tư pháp của Toà án nhân dân cấp cao), được tổ chức theo khu vực tương đương với các Tòa thượng thẩm Viện kiểm sát cấp cao chỉ có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
VKSNDTC được tổ chức tương đương với Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) Về cơ bản, VKSNDTC có chức năng, nhiệm vụ như hiện nay, trừ thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm
Các Nghị quyết của Đảng nhấn mạnh phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra Như vậy, hệ thống tổ chức của Viện kiểm sát không chỉ phải phù hợp với hệ thống tổ chức 4 cấp của Tòa án mà còn phải phù hợp với hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra Số lượng Viện kiểm sát khu vực không những phải tương đương với số lượng Tòa án sơ thẩm khu vực trên địa hạt tư pháp
mà còn phải cân nhắc cho phù hợp với hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra, bảo đảm khả năng tăng cường công tố trong hoạt động điều tra, gắn kết chặt chẽ, liên tục hoạt động công tố với hoạt động điều tra
Như vậy, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát chính
là việc Viện kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy
tố, xét xử Phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi có quyết định khởi
tố vụ án hình sự và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật Kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của Viện kiểm sát, thực hiện nhiệm
vụ giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự nhằm đảm bảo cho pháp luật tố tụng hình sự được
Trang 17thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất Phạm vi chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự cũng bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án Với chức năng trên, vai trò của VKSND trong suốt quá trình tố tụng rất quan trọng, sự xuất hiện của VKSND trong quá trình tố tụng nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời, đảm bảo cho việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội đồng thời không để lọt tội phạm và người phạm tội
Trong giai đoạn xét xử, VKSND thực hành quyền công tố, bảo vệ quan điểm truy tố theo cáo trạng, bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo phải phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Ngoài ra, VKSND còn thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án Nếu việc xét
xử của Tòa án vi phạm nghiêm trọng các quy định luật hình sự hoặc tố tụng hình sự, hoặc sau phiên tòa xét xử sơ thẩm mà phát hiện thấy quá trình tố tụng
từ khi khởi tố vụ án hình sự đến truy tố, xét xử vì lý do chủ quan hay khách quan có vi phạm pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp sử dụng quyền năng pháp lý đặc biệt để yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, đó chính là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Đây là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành Kiểm sát thực hiện Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện ở cả hai cấp là cùng cấp
và cấp trên trực tiếp Sở dĩ quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện ở cả hai cấp là để Viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử vụ án hình sự và bảo đảm cho mọi vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đều được
Trang 18phát hiện và giải quyết tại cấp xét xử thứ hai, đồng thời đây là một trong những cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” theo quy định tại Điều 20 BLTTHS
Hiện nay, BLTTHS hiện hành cũng như các văn bản pháp lý chưa có một khái niệm thống nhất về kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì "Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
hình sự là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật" [16, 235] Nếu hiểu
kháng nghị phúc thẩm hình sự như trên thì chưa phản ánh đúng bản chất của kháng nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý riêng biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành Kiểm sát, thứ hai việc cho rằng Viện kiểm sát ban hành văn bản kháng nghị phúc thẩm yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án Toà
án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật là một quan niệm rất chung chung, ở đây phải đánh giá là để khắc phục các vi phạm nghiêm trọng đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Theo tác giả Nguyễn Thị Thanh Tú thì "Kháng nghị phúc thẩm hình sự
là một quyền năng pháp lý đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân, do người có thẩm quyền thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; hoặc xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm, nhưng xét thấy không đúng pháp luật nhằm khắc phục các vi phạm hoặc sai lầm trong bản án và quyết định đó" [12, 13] Quan điểm trên khá rõ, tuy
nhiên tác giả cho rằng Viện kiểm sát yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại
vụ án; hoặc xét lại bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu hiệu lực pháp luật khì khá rườm rà, vì thực chất đây là việc xét xử lại vụ án ở cấp xét xử thứ hai, ngoài ra việc dùng từ xét lại bản án, quyết định gây hiểu nhầm như việc xét
Trang 19Do vậy, để có quan niệm thống nhất về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, cần phải làm sáng tỏ khái niệm “Kháng nghị” và “Phúc thẩm”
Theo Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “Kháng nghị” được hiểu là
sự bày tỏ bằng văn bản chính thức ý kiến chống đối [18, 474]; còn “Phúc thẩm” là việc Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án [18, 763]
“Kháng nghị” là quyền mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát
và những người có thẩm quyền ra văn bản kháng nghị, làm ngưng hiệu lực phán quyết của Toà án trong bản án hoặc quyết định đã tuyên để xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm nhằm cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [34, 404] “Phúc thẩm” là việc Toà
án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, sửa những sai lầm và vi phạm của Toà án sơ thẩm, bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật (Điều 204 BLTTHS) Bản án và quyết định của Toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên [34, 378]
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm được thực hiện ở Viện kiểm sát cùng cấp, cùng lãnh thổ với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp của Viện kiểm sát này Trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, ngay từ những văn bản pháp lý đầu tiên khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, quyền kháng nghị của VKSND được quy định tại Điều thứ 34 Sắc lệnh số 13 ngày 24 tháng giêng năm 1946 của Chủ tịch
nước “Tòa đại hình sơ thẩm, ông Biện lý có quyền chống án lên Tòa thượng
thẩm” [9] Tại điểm c Điều 1 mục II Thông tư số 141-HCTP ngày 5- 12-1957
Trang 20của Bộ Tư pháp quy định “Ông Công tố ủy viên, dưới sự lãnh đạo của Bộ tư
pháp có nhiệm vụ kháng nghị đối với bản án hoặc nghị quyết của Tòa án xét không đúng pháp luật” [6]
Kháng nghị phúc thẩm hình sự được ghi nhận một cách chính thức tại
Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1960 “VKSND tối cao và các VKSND địa
phương có quyền: kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND cùng cấp và dưới một cấp” Điều 13 luật Tổ chức VKSND năm 1981
quy định: “Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các VKSND có
quyền:…Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân (TAND) cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật” [22]
Qua từng giai đoạn lịch sử, các quy định về kháng nghị phúc thẩm hình
sự được thay đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn trong hoạt động thực hiện chức năng của ngành Kiểm sát Chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bổ sung nhiều lần cho phù hợp với tình hình thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam Khi chưa có BLTTHS năm
1988, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện theo “Bản
hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 19/TATC ngày 2- 10-1974 của TANDTC” Tiếp đến, chế định kháng nghị
phúc thẩm hình sự được quy định tại Phần thứ tư, chương XXII, tại các Điều
206, 207, 208, 210, 211, 212, 213 của BLTTHS năm 1988 Đến khi có BLTTHS năm 2003, chế định này được quy định tại Phần thứ tư, chương XXIII ở các Điều 230, 232, 233, 234, 236, 237 238, 239
Có thể khẳng định, kể từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho đến nay, pháp luật tố tụng hình sự quy định chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Đây là quyền năng pháp lý
mà Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát và chỉ có Viện kiểm sát mới có quyền này
Trang 21BLTTHS quy định về các giai đoạn tố tụng hình sự đó là điều tra, truy
tố, xét xử, trong đó xét xử tại phiên tòa là giai đoạn quan trọng nhất Việc Tòa
án ra một bản án khẳng định bị cáo có tội hoặc không có tội, nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự (BLHS), áp dụng hình phạt hay không và hình phạt gì, mặc khác phán quyết của Tòa án quyết định sinh mạng chính trị của một con người cụ thể nên nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Đồng thời, Tòa án quyết định các biện pháp tư pháp đối với bị cáo cũng như yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hoặc kiến nghị với cơ quan, tổ chức xã hội sửa chữa những thiếu sót trong quản lý kinh tế, quản lý con người nếu có căn cứ.v.v
BLTTHS năm 2003 quy định nguyên tắc đối với hoạt động xét xử của Tòa án, đó là nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử: cấp sơ thẩm và cấp
phúc thẩm Theo Điều 230 BLTTHS năm 2003 thì “xét xử phúc thẩm là việc
Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị” [8, 170] Xét xử phúc thẩm là việc xét xử ở cấp
thứ hai Tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án, có như vậy mới đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử
Xét xử phúc thẩm có hai nhiệm vụ: xét xử lại vụ án về mặt nội dung; kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật cả về nội dung và hình thức Theo quy định trên, ngoài kháng nghị phúc thẩm thì kháng cáo cũng là một căn cứ để mở ra trình tự xét
xử phúc thẩm hình sự Chỉ có thể kháng cáo hoặc kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật, không đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ Mặc dù giữa kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát và kháng cáo
có nhiều điểm giống nhau nhưng lại có sự khác nhau cơ bản là: kháng cáo chỉ
Trang 22là sự nhân danh cá nhân, tổ chức, cơ quan (tổ chức, cơ quan với tư cách là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự) để bảo vệ quyền và lợi ích của mình
Do vậy, khác với kháng nghị, những người có quyền kháng cáo có thể thực hiện quyền này khi không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, còn đối với kháng nghị thì chỉ có thể thực hiện khi bản án, quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, về nội dung và về áp dụng pháp luật thì VKSND mới được thực hiện quyền kháng nghị Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm nhằm bảo vệ các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, bị hại cũng như quyền lợi của các đương sự trong vụ án hình sự Viện kiểm sát thực hiện kháng nghị phúc thẩm bằng một văn bản pháp lý trong đó nêu rõ lý do của việc kháng nghị (khoản 2 Điều 233 BLTTHS năm 2003), đồng thời yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án hoặc xét lại các quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, nhằm sửa chữa khắc phục các sai lầm của Toà án cấp sơ thẩm khi ra các bản án hoặc quyết định đó Khi thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát phải tuân theo những quy định của pháp luật về chế định này, không được kháng nghị tùy tiện, tràn lan theo ý chí của Kiểm sát viên
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức VKSND năm
2002 thì VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp VKSND là cơ quan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội
ra trước Tòa án để xét xử Đồng thời VKSND cũng thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra, xét xử nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét
xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại
vụ án Viện kiểm sát vừa bảo vệ quan điểm truy tố của mình vừa bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm đúng người, đúng tội, đúng
Trang 23pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Như vậy kháng nghị phúc thẩm là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng, thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của VKSND Hiện nay, BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản pháp lý khác chưa có một khái niệm thống nhất về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính
trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời
gian tới” xác định: Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định [1, 3]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị về
“Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” đã xác định mục
tiêu: Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao [2, 2]
Như vậy, TAND là cơ qụan xét xử có tính độc lập, nhưng để cho hoạt động xét xử đạt hiệu quả cao, bảo đảm việc ra một bản án đúng người, đúng
Trang 24tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, thì hoạt động xét xử phải được đặt dưới sự giám sát của một cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền, đó chính là Viện kiểm sát Khi kiểm sát xét xử mà phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án
VKSND là cơ qụan duy nhất có quyền truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử Đồng thời Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử nhằm đảm bảo cho việc truy tố, điều tra, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Vì vậy, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng về tố tụng, về nội dung, về áp dụng pháp luật thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra một số đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự của VKSND, đó là:
* Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho ngành kiểm sát
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: đó là Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Tòa án đã tuyên bản án, quyết định sơ thẩm Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, VKSND có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án
và quyết định sơ thẩm của Toà án nhân dân chưa có hiệu lực pháp luật
Kháng nghị phúc thẩm là một hoạt động quan trọng của VKSND và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng nghị phúc thẩm, trong tất cả các văn bản pháp lý sơ khai nhất cho đến BLTTHS đều quy định: Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất chỉ có ở Viện kiểm sát Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động
tư pháp, thực hiện chức năng kiểm sát đối với việc áp dụng pháp luật của tất
Trang 25cả các chủ thể trong hoạt động tư pháp, trong đó có TAND TAND là cơ quan xét xử có tính độc lập, nhưng hoạt động xét xử của Tòa án chỉ có thể đạt hiệu quả cao và không có những vi phạm nghiêm trọng khi đặt dưới sự giám sát của VKSND Để đảm bảo cho việc quyết định truy tố của mình, cũng như đảm bảo cho việc xét xử đúng pháp luật, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng, Viện kiểm sát kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án
BLTTHS quy định nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử cùng với
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020” xác định mục tiêu hoạt động tư pháp mà trọng
tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao, công tác xét xử, kiểm sát hoạt động xét xử trong đó có công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự được đặc biệt quan tâm
* Kháng nghị phúc thẩm hình sự là công cụ đặc biệt và là một trong những biểu hiện rõ nhất về quyền năng của Viện kiểm sát trong việc thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà
án nhân dân
VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Trong quá trình thực hiện chức năng kiểm sát xét xử, nếu phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho Tòa án ra một bản án chính xác, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đây là một trong những quyền năng pháp lý mà thông qua đó Viện kiểm sát đồng thời thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của VKSND
Trang 26Kháng nghị phúc thẩm thể hiện rõ nhất quyền năng của Viện kiểm sát trong thực hiện các chức năng của mình Quyền công tố là quyền nhà nước giao cho ngành kiểm sát để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan công tố có trách nhiệm thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó để truy tố
bị can ra trước Tòa và bảo vệ việc buộc tội đó trước phiên tòa Theo quy định của pháp luật hiện hành thì quyền công tố gắn liền với hoạt động điều tra và hoạt động xét xử cho nên quyền công tố chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất đó là Viện kiểm sát Trong giai đoạn xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm thì Viện kiểm sát có quyền hạn và trách nhiệm kháng nghị để xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm ở Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm Thực hiện tốt việc kháng nghị phúc thẩm
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát và làm tốt chức năng thực hành quyền công tố nhà nước theo quy định của pháp luật Như vậy, kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát không chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực hành quyền công tố mà còn thông qua hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát trước, trong và sau phiên toà hình sự
*Hệ quả của của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự
Xét xử phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai, nhưng không có nghĩa mọi vụ án đều phải qua hai cấp xét xử, mà vụ án chỉ được tiến hành xét xử phúc thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị đối với bản
án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật Khi có kháng nghị phúc thẩm Tòa án cấp trên phải mở phiên tòa phúc thẩm [14, 26] Như vậy, đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự là bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật do phát hiện có vi phạm Còn mục đích của việc kháng nghị phúc thẩm là nhằm khắc phục những vi phạm của bản án, quyết định của Tòa án Thông qua kháng nghị phúc thẩm,
Trang 27Viện kiểm sỏt bảo đảm cho mọi hoạt động tư phỏp được tiến hành đỳng người, đỳng tội, đỳng phỏp luật, khắc phục tỡnh trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, khụng làm oan người vụ tội Viện kiểm sỏt chỉ thực hiện quyền khỏng nghị phỳc thẩm khi phỏt hiện bản ỏn, quyết định sơ thẩm chưa
cú hiệu lực phỏp luật cú vi phạm trong tố tụng, đỏnh giỏ chứng cứ hoặc ỏp dụng phỏp luật Khi khỏng nghị phỳc thẩm Viện kiểm sỏt bắt buộc phải chỉ ra được lý do của việc khỏng nghị và vi phạm của Tũa ỏn trong bản ỏn, quyết định sơ thẩm là gỡ Đú chớnh là bản chất của khỏng nghị phỳc thẩm
Theo quy định của BLTTHS thỡ Viện kiểm sỏt cựng cấp và Viện kiểm sỏt cấp trờn trực tiếp cú quyền khỏng nghị những bản ỏn hoặc quyết định sơ thẩm chưa cú hiệu lực phỏp luật khi cú vi phạm Khi Viện kiểm sỏt khỏng nghị phỳc thẩm thỡ buộc Tũa ỏn cấp trờn trực tiếp phải mở phiờn tũa xột xử lại
vụ ỏn theo thủ tục phỳc thẩm Hậu quả phỏp lý của việc khỏng nghị phỳc thẩm hỡnh sự là những phần của bản ỏn bị khỏng nghị thỡ chưa được đưa ra thi hành (trừ một số trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật tố tụng hỡnh sự: trường hợp bị cỏo đang bị tạm giam mà Toà ỏn cấp sơ thẩm quyết định đỡnh chỉ vụ ỏn, khụng kết tội, miễn trỏch nhiệm hỡnh sự, miễn hỡnh phạt cho bị cỏo, hỡnh phạt khụng phải là tự giam hoặc phạt tự nhưng cho hưởng ỏn treo hoặc khi thời hạn phạt tự bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đó tạm giam thỡ bản ỏn hoặc quyết định của Toà ỏn được thi hành ngay, mặc dự vẫn
cú thể bị khỏng cỏo, khỏng nghị) Thẩm quyền của Tũa ỏn cấp phỳc thẩm là khụng chấp nhận khỏng cỏo, khỏng nghị và giữ nguyờn bản ỏn sơ thẩm, sửa bản
ỏn sơ thẩm, hủy bản ỏn để điều tra, xột xử lại hoặc hủy ỏn và đỡnh chỉ vụ ỏn
Tóm lại, trên cơ sở tổng kết, tiếp thu những quan điểm của các nhà khoa học luật tố tụng hỡnh sự về khái niệm khỏng nghị phỳc thẩm vụ ỏn hỡnh
sự và phân tích nội dung, đặc điểm đặc tr-ng cũng nh- mục đích của khỏng nghị phỳc thẩm vụ ỏn hỡnh sự, có thể đ-a ra khái niệm khoa học về khỏng
Trang 28nghị phúc thẩm vụ án hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là
quyền năng pháp lý đặc biệt mà Nhà nước chỉ giao cho Viện kiểm sát các cấp thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Thông qua việc kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, đồng thời nhằm khắc phục các vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án chưa có hiệu lực pháp luật
1.1.2 Vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật Tổ chức VKSND năm
2002, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nội dung của hoạt động thực hành quyền công tố là việc Viện kiểm sát sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt người, lọt tội, không làm oan người vô tội Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp tức là giám sát mọi hoạt động của cơ quan Toà án, giám sát tính hợp pháp và tính có căn
cứ của các bản án, quyết định của Toà án nhằm đảm bảo cho việc xét xử được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật Khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử, nếu phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Tòa án xét xử lại vụ án Thông qua quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tư pháp được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời nhằm đảm bảo cho Tòa án ra một bản án chính xác, có căn cứ Bằng hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát thực hiện chức năng mà Nhà nước đã giao cho ngành kiểm sát là yêu
Trang 29cầu Toà án phải đưa vụ án ra xét xử theo trình tự phúc thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự, đảm bảo cho việc Toà án ra một bản
án dân chủ, khách quan, đúng pháp luật, đồng thời tăng cường hiệu quả giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật, cũng cố niềm tin vào công lý cho quần chúng nhân dân và chủ động tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm một cách có hiệu quả
Việc thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự không chỉ có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử mà kháng nghị phúc thẩm hình sự còn là công cụ hữu hiệu để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động xét xử của Toà án Vì pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị xã hội, trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, bảo đảm tính thống nhất Điều đó đòi hỏi việc tổ chức
và hoạt động của Bộ máy nhà nước phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, mọi công dân phải nghiêm chỉnh và triệt để tôn trọng pháp luật khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời mọi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh Tính thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Bộ máy nhà nước, cơ quan, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội
và mọi công dân phải thực hiện một cách thống nhất, vì vậy bảo đảm tính thống nhất của pháp chế là điều kiện không thể thiếu để thực hiện dân chủ đối với mọi công dân và thực hiện quyền lực nhà nước Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành, thực hiện quyền kháng nghị nói chung và quyền kháng nghị phúc thẩm nói riêng đều nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án cũng như hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp phải tuân thủ pháp luật một cách triệt để, đảm bảo cho mọi vi phạm đều bị phát hiện và xử lý kịp thời Thông qua thực hiện quyền kháng nghị, Viện
Trang 30kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố, nhằm đảm bảo cho mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh Đồng thời, đảm bảo cho hoạt động xét
xử của Tòa án được công bằng, việc áp dụng pháp luật thống nhất trên phạm
vi cả nước
Như vậy thực hiện tốt công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử
1.2 Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Thẩm quyền và thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
* Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự
Theo Điều 232 BLTTHS và kể cả trước và sau khi có BLTTHS năm
2003 đều quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [8, 171]
Việc quy định quyền kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nhằm khắc phục ngay những hạn chế của Viện kiểm sát cấp dưới như: không phát hiện được vi phạm trong bản án, quyết định hoặc phát hiện được nhưng lại hết thời hạn kháng nghị hoặc do Viện kiểm sát cấp dưới đồng tình với quan điểm xét xử của Toà án cùng cấp nên không kháng nghị
Theo Điều 36 BLTTHS năm 2003, người có thẩm quyền quyết định việc kháng nghị phúc thẩm là Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp Điều 32 Quy chế 960/2007/QĐ-VKSNDTC về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự quy định:
1 Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp huyện kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp huyện
2 Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh
Trang 31sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh và Toà án cấp huyện
3 Viện trưởng VKSNDTC ủy quyền cho Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp tỉnh [37, 13]
Tuy nhiên, hiện nay còn tồn tại 2 luồng quan điểm khác nhau về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự Quan điểm thứ nhất cho rằng: chỉ nên quy định Viện trưởng VKSND có quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự mà không giao cho Phó Viện trưởng nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát Quan điểm thứ hai cho rằng cần phải giao thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm cho cả Kiểm sát viên, bởi họ là người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ và phát hiện
vi phạm Thực tế cho thấy, cả hai quan điểm này chưa thực sự phù hợp Nếu chỉ giao thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm cho Viện trưởng thì Viện trưởng vừa thực hiện thẩm quyền tố tụng theo quy định pháp luật, vừa là người quản
lý hành chính về mặt nhà nước trong cơ quan Viện kiểm sát các cấp Vì phải quản lý nhiều mặt trong cơ quan VKSND các cấp nên sẽ dẫn đến việc không đảm bảo thời hạn kháng nghị phúc thẩm Nếu giao thẩm quyền kháng nghị cho cả Kiểm sát viên thì vụ án nếu chưa được nghiên cứu, bàn bạc kỹ lưỡng, dẫn đến tình trạng kháng nghị tràn lan theo ý chí chủ quan của Kiểm sát viên,
do vậy tỷ lệ Toà án bác kháng nghị của Viện kiểm sát sẽ tăng cao Do vậy việc quy định thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm như quy định tại Điều 36 BLTTHS năm 2003, Điều 32 Quy chế 960/2007/QĐ-VKSNDTC về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự hiện nay
là phù hợp
Trang 32* Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự:
BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự đối với bản án và quyết định sơ thẩm là khác nhau
Về thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm: tại khoản 1 Điều 234
BLTTHS năm 2003 quy định: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng
cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày
kể từ ngày tuyên án” [8, 172] So với quy định của BLTTHS năm 1988 thời
hạn này không có gì thay đổi, tuy nhiên đây là điểm khác biệt so với quy định tại Thông tư số 19-TATC ngày 2/10/1974 quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự trên một cấp là ba mươi ngày nhưng tính từ ngày nhận được bản sao bản án Mục đích của việc sửa đổi, rút ngắn thời hạn kháng nghị phúc thẩm này là để bảo đảm tính ổn định của bản án Tuy nhiên trên thực tế cho thấy việc sao gửi bản án của VKSND cấp dưới cho Viện kiểm sát cấp trên còn chậm trễ, thậm chí có đơn vị không gửi bản án ảnh hưởng tới hoạt động kiểm tra bản án của cấp trên, nhiều vi phạm không được phát hiện hoặc khi phát hiện vi phạm thì không còn thời hạn kháng nghị làm cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự không đạt được hiệu quả Như vậy, trong thời hạn mười lăm ngày hoặc ba mươi ngày sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên đã tham gia phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên ở VKSND cấp tỉnh được phân công kiểm tra bản án sơ thẩm của Toà án cấp huyện xem xét có cần phải kháng nghị bản án hay không Nếu có căn cứ kháng nghị thì Kiểm sát viên báo cáo đề xuất với Lãnh đạo Viện về việc kháng nghị phúc thẩm
Về cách tính thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn kháng nghị, BLTTHS năm 2003 chưa có quy định cụ thể Về vấn đề này, tại điểm a, tiểu mục 4.1, mục 4 Nghị quyết số 05 ngày 8-12-2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn như sau:
Trang 33Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định Ngày được xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp Viện kiểm sát, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà hoặc là ngày bản án, quyết định được giao hoặc được niêm yết trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà [30, 5]
Đối với thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó [30, 6] Nghị quyết trên hướng dẫn khá rõ ràng cách tính thời điểm kết thúc của thời hạn Tuy nhiên, cách tính thời điểm bắt đầu của thời hạn trong Nghị quyết chưa đề cập đến đối với trường hợp ngày tuyên án kết thúc vào ngày thứ sáu, thì ngày thứ bảy, chủ nhật tiếp theo có được tính là thời hạn để kháng nghị hay không Thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự cho thấy quy định về thời hạn kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát còn chưa phù hợp
với thực tế Tại Điều 229 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong thời hạn
mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp ” [8, 169], trong khi đó thời hạn kháng nghị của
Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày cũng kể từ ngày tuyên án Thực tế có nhiều tỉnh thành địa bàn rộng, nằm rải rác, đi lại khó khăn thì việc gửi bản án từ Viện kiểm sát cấp dưới lên Viện kiểm sát cấp trên rất mất thời gian Mặt khác, việc giao bản
án của Toà án thường không đúng thời hạn đã được quy định tại Điều 229 BLTTHS năm 2003, dẫn đến tình trạng là khi Viện kiểm sát nhận được bản
Trang 34án thì đã hết thời hạn kháng nghị Chính vì những lý do trên làm cho công tác kháng nghị của Viện kiểm sát gặp những khó khăn nhất định như khi Viện kiểm sát thấy có đủ căn cứ để kháng nghị nhưng thời hạn kháng nghị đã hết nên không kháng nghị Đây cũng là một vấn đề đặt ra hiện nay khi mà BLTTHS năm 2003 chỉ quy định việc xét kháng cáo quá hạn (Điều 235 BLTTHS) chứ không quy định việc xét kháng nghị quá hạn
Thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của TAND: Điều 239
BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn kháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm có một điểm mới so với Điều 231 BLTTHS năm 1988 Trước đây, BLTTHS năm 1988 quy định chung thời hạn kháng nghị các quyết định
là bảy ngày mà không phân biệt thời hạn của Viện kiểm sát cùng cấp và thời hạn của Viện kiểm sát trên một cấp Qua thực tiễn áp dụng, việc quy định như trên không còn phù hợp, vì vậy thời hạn để Viện kiểm sát kháng nghị các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm đã được sửa đổi tại Điều 239 BLTTHS
năm 2003 như sau: “Thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của Toà án
cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là bảy ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười lăm ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định” [8, 174]
Về thời điểm bắt đầu của thời hạn kháng nghị đối với các quyết định của Toà án cũng giống như quy định đối với bản án, việc quy định thời hạn bắt đầu kháng nghị kể từ ngày Toà án ra quyết định mà không phải là kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được quyết định Như vậy, trong trường hợp Toà án gửi các quyết định cho Viện kiểm sát mà thời hạn kháng nghị đã hết hoặc gửi sau thời hạn kháng nghị mà quyết định đó có vi phạm thì giải quyết vấn đề này như thế nào? Bởi lẽ, BLTTHS năm 2003 không quy định rõ thời hạn Toà
án phải gửi các quyết định cho Viện kiểm sát Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tác giả cho rằng những quyết định của Toà án đã quá hạn kháng nghị ngang cấp
mà còn thời hạn kháng nghị trên cấp thì Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo
Trang 35ngay cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để tiến hành kháng nghị Trong trường hợp thời hạn kháng nghị trên cấp cũng hết thì cần báo cáo Viện kiểm sát cấp trên kháng nghị giám đốc thẩm, đồng thời Viện kiểm sát cùng cấp phải có văn bản kiến nghị Chánh án Toà án khắc phục những vi phạm trong việc gửi các quyết định cho Viện kiểm sát Để khắc phục tình trạng này, các Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử vụ án phải tích cực, chủ động kiểm sát các quyết định của Toà án, kịp thời
có biện pháp tác động nhằm sửa chữa, khắc phục những vấn đề nêu trên
Tương tự như thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, thời điểm kết thúc thời hạn kháng nghị đối với quyết định của Toà án
sơ thẩm hiện nay chưa được giải thích một cách đầy đủ và Điều 239 BLTTHS năm 2003 cũng chưa quy định cụ thể cách tính thời điểm bắt đầu cũng như kết thúc của thời hạn kháng nghị Do vậy, cũng cần có hướng dẫn cụ thể, thống nhất để tránh những quan điểm khác nhau về vấn đề này
1.2.2 Căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự
BLTTHS năm 2003 quy định khá cụ thể những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm Nhưng về căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của tòa án sơ thẩm thì trong các BLTTHS đều không quy định cụ thể về những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm hình sự
Tuy nhiên, những căn cứ kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm lại được
quy định tại Quy chế về thực hành quyền công tố và kiểm sát xét
xử hình sự năm 1996, 2004, 2007
Tại Điều 32 Quy chế công tác kiểm sát xét xử năm 1996 quy định căn cứ kháng nghị phúc thẩm bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị phúc thẩm khi có một trong các căn cứ sau:
Trang 36- Có những tình tiết qua cuộc điều tra và xét hỏi tại phiên toà không đầy đủ, chưa rõ ràng;
- Kết luận của bản án hoặc quyết định sơ thẩm không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
- Có những vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng BLHS;
- Có những vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hình sự Quy chế trên chưa quy định cụ thể vi phạm nghiêm trọng là vi phạm như thế nào nên trong thực tế có nhiều bản án và quyết định có vi phạm nhưng nhiều Viện kiểm sát không xác định được thế nào là vi phạm nghiêm trọng nên không kháng nghị Do vậy, tại Điều 33 Quy chế tạm thời về kiểm sát xét xử năm 2004 đã xác định căn cứ kháng nghị phúc thẩm như sau:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên toà phiến diện hoặc không đầy đủ;
- Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
sự chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
- Việc điều tra, xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ;
- Kết luận của bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án;
Trang 37sơ thẩm có vi phạm Tuy nhiên, hiện nay những căn cứ để kháng nghị phúc thẩm hình sự không được quy định trong BLTTHS hoặc Thông tư liên ngành hay văn bản hướng dẫn thực hiện BLTTHS mà đó mới chỉ là quy định đơn phương của ngành kiểm sát nên trong thực tế xét xử có khá nhiều trường hợp chưa có cách hiểu thống nhất giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong việc nhận xét, đánh giá vi phạm của Tòa án sơ thẩm trong việc ra các bản án và quyết định sơ thẩm, dẫn đến nhiều trường hợp Viện kiểm sát thì xác định bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm và quyết định kháng nghị nhưng Tòa án lại cho rằng bản án không vi phạm hoặc vi phạm ở mức độ không lớn, chấp nhận được nên bác kháng nghị của Viện kiểm sát Vì vậy, để tạo cơ sở pháp lý cho công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát, BLTTHS năm
2003 cần quy định cụ thể các căn cứ kháng nghị phúc thẩm hình sự như đối
với thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
1.2.3 Hậu quả của việc kháng nghị phúc thẩm hình sự
Cũng giống như hậu quả của việc kháng cáo, theo quy định của BLTTHS thì hậu quả của việc kháng nghị là những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành; đối với bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị kháng nghị toàn bộ thì toàn bộ bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật và không được đưa ra thi hành, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 255 BLTTHS năm 2003 là:
Trang 38Bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng nghị [8, 185]
Về phạm vi xét xử phúc thẩm thì về nguyên tắc, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét theo nội dung kháng nghị Nếu kháng nghị đối với toàn bộ bản án thì Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án; nếu kháng nghị đối với một phần bản án thì Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bị kháng nghị Đối với các phần khác không bị kháng nghị, Toà án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại nếu thấy cần giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (họ không có kháng cáo, không bị kháng cáo hoặc kháng nghị)
Theo quy định tại khoản 2 Điều 248 BLTTHS năm 2003, khi xét xử
phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền ra các quyết định: “a Không
chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; b Sửa bản
án sơ thẩm; c Huỷ bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại; d Huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án” [8, 179]
* Trường hợp không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm: là khi Toà án cấp phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm đã phù
hợp với thực tế khách quan của vụ án, phù hợp tính chất, mức độ hành vi của tội phạm, hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là nghiêm minh, không vi phạm các quy định của BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật có liên quan
*Trường hợp sửa bản án sơ thẩm: bản án sơ thẩm có thể bị sửa theo
hướng giảm nhẹ có lợi cho bị cáo hoặc sửa theo hướng tăng nặng không có lợi cho bị cáo Điều 249 BLTTHS năm 2003 quy định Toà án cấp phúc thẩm
có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: “a Miễn trách nhiệm hình sự hoặc
Trang 39miễn hình phạt cho bị cáo; b Áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn; c Giảm hình phạt cho bị cáo; d Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng; đ Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo” [8, 179-180] Việc sửa theo
hướng giảm nhẹ cho bị cáo không chỉ thực hiện khi có kháng nghị theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo mà ngay cả khi có kháng nghị theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo nhưng Toà án cấp phúc thẩm xét thấy có căn
cứ để sửa bản án theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo
Ngoài ra, “nếu có căn cứ, Toà án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt
hoặc áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị” [8, 180]
Khi xét xử phúc thẩm, nếu chỉ có kháng nghị theo hướng có lợi cho bị cáo thì Toà án cấp phúc thẩm chỉ có thể y án hoặc sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo chứ không được tăng nặng hoặc huỷ án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại theo hướng làm xấu hơn tình trạng của bị cáo Nếu thấy bản án sơ thẩm xử quá nhẹ đối với bị cáo thì Toà án cấp phúc thẩm y án sơ thẩm và báo cáo, chuyển hồ sơ lên Toà án để xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm
Đối với việc sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng không có lợi
cho bị cáo thì tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong
trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại” [8, 180] Toà án cấp phúc thẩm chỉ
có thể sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng cho bị cáo khi có kháng nghị theo hướng này Nếu chỉ có kháng nghị theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo thì trong mọi trường hợp Toà án cấp phúc thẩm không được sửa bản án theo
hướng tăng nặng Tuy nhiên, “nếu có căn cứ, Toà án vẫn có thể giảm hình
Trang 40phạt, áp dụng điều khoản BLHS về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại” [8, 180]
Về việc sửa quyết định xử lý vật chứng: khi xét xử phúc thẩm, dù có hay không có kháng nghị về quyết định xử lý vật chứng, nếu thấy quyết định
xử lý vật chứng của Tòa án cấp sơ thẩm không phù hợp với thực tế khách quan của vụ án, thì Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định xử lý lại cho phù hợp như trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, tịch thu sung công quỹ nhà nước
*Trường hợp huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại: Điều
250 BLTTHS năm 2003 quy định: “Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ
thẩm để điều tra lại khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ
mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được” [8, 180-181] Nếu việc điều tra ở
cấp sơ thẩm không đầy đủ nhưng ở cấp phúc thẩm có thể bổ sung được thì Toà án cấp phúc thẩm không được huỷ bản án sơ thẩm mà yêu cầu Viện kiểm sát cùng cấp tiến hành điều tra bổ sung hoặc tự mình thu thập tài liệu cần thiết Toà án cấp phúc thẩm có quyền huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp
sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong những trường hợp sau
đây: “a Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng luật định hoặc có
vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng; b Người được Toà án cấp sơ thẩm tuyên bố không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội”
[8, 181] Khi huỷ án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Toà án cấp phúc
thẩm phải ghi rõ lý do của việc huỷ án sơ thẩm và việc giải quyết vụ án được tiến hành từ giai đoạn nào, giai đoạn điều tra hay xét xử sơ thẩm Việc điều tra lại hoặc xét xử lại được tiến hành theo thủ tục chung
Trong trường hợp huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy việc tiếp tục tạm giam bị