Để phân biệt những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ, bị tội phạm xâm hại; sự thể hiện những quan hệ xã hội ấy trong BLHS như thế nào và những nguyên nhân của việc áp dụng chư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THỊ LAM GIANG
KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VỚI TƯ CÁCH
LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
CHU THỊ LAM GIANG
KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM VỚI TƯ CÁCH
LÀ MỘT YẾU TỐ CẤU THÀNH TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Tiến Việt
HÀ NỘI - 2012
Trang 31.1.2 Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm 13
1.2 Các đặc điểm và ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm 19 1.2.1 Các đặc điểm của khách thể của tội phạm 19 1.2.2 Ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm 21 1.3 Khách thể của tội phạm theo pháp luật hình sự của một số
nước trên thế giới
23
1.3.1 Theo pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 23 1.3.2 Theo pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 25 1.3.3 Theo pháp luật hình sự Liên bang Nga 26 1.3.4 Theo pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển 28
Chương 2: YẾU TỐ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
30
2.1 Sự thể hiện yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình
sự Việt Nam
30
Trang 42.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985 30
2.2 Thực tiễn áp dụng yếu tố khách thể của tội phạm trong giải
quyết các vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay
46
2.2.1 Tình hình giải quyết các vụ án hình sự theo yếu tố khách thể
của tội phạm
46
2.2.2 Những hạn chế, vướng mắc liên quan đến việc vận dụng yếu
tố khách thể của tội phạm trong giải quyết vụ án hình sự
49
2.2.3 Nguyên nhân hạn chế, vướng mắc trong việc áp dụng yếu tố
khách thể của tội phạm
62
Chương 3: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ YẾU TỐ KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH NÀY
66
3.1 Hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
yếu tố khách thể của tội phạm
66
3.1.1 Sự cần thiết và yêu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật
hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
66
3.1.2 Giải pháp hoàn thi ện các quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
70
3.2 Các gi ải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
76
3.2.1 Hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy đ ịnh của pháp luật
hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể của tội phạm
76
3.2.2 Các gi ải pháp khác nh ằm nâng cao chất lượng áp dụng các
quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về yếu tố khách thể
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật hình sự CTTP : Cấu thành tội phạm
Trang 62.3 Bảng tổng hợp số liệu thống kê xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự từ năm 2000 đến 2011 của Tòa án nhân dân các cấp
47
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
biểu đồ
2.1 Tỷ lệ vụ án theo loại khách thể bị xâm hại từ năm 2000
đến năm 2011
47
2.2 Số vụ xâm hại tính mạng, sức khỏe, danh dự con người
đã xét xử sơ thẩm từ năm 2000 đến năm 2011 của Toà án
nhân dân các cấp
48
2.3 Số vụ án hình sự các tội phạm v ề ma túy đã xét xử sơ
thẩm năm 2000 đến năm 2011 của Toà án nhân dân các cấp
49
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, tạo ra môi trường xã hội ổn định phục vụ công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước, nâng cao đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân, giữ vững kỉ cương pháp luật, sự nghiêm minh của pháp chế xã hội chủ nghĩa… là nhiệm vụ và mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Những mục tiêu trên được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết 09/NQ-CP về Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và Chỉ thị số 37/2004/CT-TTg "Về việc tiếp tục thực
hiện Nghị quyết số 09/NQ-CP về Chương trình quốc gia phòng, chống tội
phạm của Chính phủ từ nay đến năm 2010" ngày 08/11/2004
Ngày 06/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1217/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015 Theo đó, mục tiêu nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý nhà nước với công tác phòng, chống tội phạm; giữ vững kỷ cương pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ, tôn trọng pháp luật của các cấp, các ngành và trong cộng đồng dân cư, trong các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp, nhà trường, gia đình và toàn xã hội; chủ động phòng ngừa, tích cực tấn công trấn áp, truy quét các loại tội phạm, tập trung ở các tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm, phức tạp; kiềm chế và làm giảm sự gia tăng của tội phạm, nhất là tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tội phạm mới, tạo môi trường lành mạnh, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1236/QĐ-TTg
ngày 10/9/2012 về việc "Phê duyệt Kế hoạch tổng kết thi hành Bộ luật hình
sự năm 1999" Theo đó, việc tổng kết này nhằm đánh giá một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật hình sự (BLHS)
Trang 8năm 1999, từ đó đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung BLHS, góp phần đáp ứng yêu cầu mới của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo đảm ổn định lâu dài, thúc đẩy phát triển của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, không chỉ gia tăng về số vụ, số người phạm tội mà tính chất và mức
độ của tội phạm cũng nhiều thay đổi, đặc biệt là nhiều tội phạm xâm phạm đến những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ trong nhiều trường hợp mang tính đa dạng, phức tạp và khó xác định dẫn đến việc định tội danh
và quyết định hình phạt còn gặp khó khăn, vướng mắc, chưa đúng pháp luật, dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan, sai người vô tội Để phân biệt những quan hệ xã hội được BLHS xác lập và bảo vệ, bị tội phạm xâm hại; sự thể hiện những quan hệ xã hội ấy trong BLHS như thế nào và những nguyên nhân của việc áp dụng chưa đúng trong thực tiễn định tội danh đối với yếu tố khách thể của tội phạm ra sao, cần những giải pháp góp phần hoàn thiện chúng… thì
việc nghiên cứu đề tài liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm có ý nghĩa
lý luận thực tiễn và quan trọng Bởi lẽ, khách thể của tội phạm là một trong bốn yếu tố cấu thành của tội phạm Khách thể của tội phạm bao giờ cũng là một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Nhà nước xác định bảo vệ bằng pháp luật hình sự Dựa vào khách thể của tội phạm, chúng ta xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội do con người thực hiện có phải là tội phạm hay không ? Khách thể của tội phạm cũng là một trong những cơ sở không thể thiếu để xác định tính nguy hiểm của tội phạm đó, góp phần vào quá trình cải cách tư pháp thắng lợi và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù còn tồn tại những thiếu sót về mặt lập pháp cũng như khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn vận dụng, nhưng về phương diện lý luận, có thể nói rằng yếu tố khách thể của tội phạm vẫn chưa được quan tâm, nghiên cứu một cách đúng mức, đầy đủ để tìm ra giải pháp khắc phục toàn diện
Trang 9những vấn đề đó Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện ở cấp độ một cuốn sách chuyên khảo, một luận văn thạc sĩ hay một luận án tiến sĩ về đề tài này
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam hiện nay, khách thể của tội phạm mới chỉ được nghiên cứu chung trong cấu thành tội phạm (CTTP) với
tư cách là một yếu tố của CTTP
* Dưới góc độ sách chuyên khảo, có thể kể đến các công trình khoa
học tiêu biểu sau: 1) "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần
chung)", của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2)
"Cấu thành tội phạm: Lý luận và thực tiễn", Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2004; và 3) "Tội phạm và cấu thành tội phạm", Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2006,
2008, của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa
* Dưới góc độ giáo trình, sách tham khảo, nội dung này được đề cập
như là một chương trong các giáo trình của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta hiện
nay như: 1) "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001, do GS TSKH Lê Cảm chủ biên; 2) "Giáo
trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", của Đại học Cần Thơ xuất bản
năm 2003, do TS Phạm Văn Beo chủ biên; 3) "Giáo trình Luật hình sự Việt
Nam (Tập I)", của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà
Nội, 2007, do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên; 4) "Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam (Phần chung)", của Khoa Luật, Đại học Huế, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2005, do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; v.v
Tuy nhiên, do không phải là nghiên cứu chuyên sâu về khách thể của tội phạm trong các giáo trình, sách tham khảo này thường chỉ khái quát một cách tóm lược lý luận về khách thể của tội phạm và chủ yếu tập trung phân tích nội dung yếu tố này qua các quy định của BLHS
* Dưới góc độ thực tiễn, khách thể của tội phạm cũng được nghiên cứu
với tư cách là một trong các căn cứ định tội danh, nội dung được phản ánh
Trang 10trong một số công trình như: 1) "Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và
500 bài thực hành", của GS.TSKH Lê Cảm và TS Trịnh Quốc Toản, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2010; hoặc: "Giáo trình Lý luận chung về định tội danh",
của GS.TS Võ Khánh Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2011 Tuy nhiên, các sách này chỉ đánh giá vai trò của khách thể của tội phạm trong hoạt động định tội danh và thông qua những bài tập tình huống cụ thể để học viên rèn luyện kỹ năng định tội danh
* Dưới góc độ các bài báo khoa học, khách thể của tội phạm còn được đề cập đến trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật như: 1) "Những vấn đề lý luận về bốn yếu tố cấu thành tội phạm (trên cơ
sở những nội dung của Bộ luật hình sự năm 1999)", của GS.TSKH Lê Cảm,
Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, 8/2005; 2) "Đối tượng tác động của các tội xâm
phạm sở hữu", của TS Nguyễn Ngọc Chí, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số
8/1997; 3) "Bàn về mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự" của TS Trịnh Tiến Việt, Tạp chí Khoa học, Đại
học Quốc gia Hà Nội, chuyên san Kinh tế - Luật, số 1/2005; v.v
* Dưới góc độ luận án, luận văn thạc sĩ luật học, cho đến nay, mới
có một số luận văn thạc sĩ đi sâu vào yếu tố mặt chủ quan của tội phạm (Nguyễn Thị Nhuần, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010), mặt khách quan của tội phạm (Nguyễn Mai Phương, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011) hoặc chủ thể của tội phạm (Lê Đăng Doanh, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2005) Các luận văn này chỉ dừng lại ở cấp độ một phần như là các bài viết về khách thể của tội phạm hoặc đề cập đến với tư cách là nội dung liên quan đến luận văn Có thể nói rằng cho đến nay chưa có luận văn thạc sĩ nào đề cập đến đúng tên gọi yếu tố này - khách thể của tội phạm
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: "Khách thể của tội phạm với tư cách là một yếu tố cấu thành tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" để làm luận văn
thạc sĩ của mình
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm, trên cơ sở đó tìm ra giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về khách thể của tội phạm và nâng cao hiệu quả áp dụng chúng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được cách mục đích trên, luận văn phải thực hiện những nhiệm
vụ sau đây:
1) Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khách thể của tội phạm như: xây dựng khái niệm khoa học về khách thể của tội phạm, xác định các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm, phân loại các khách thể của tội phạm, tìm ra các đặc điểm cơ bản của khách thể của tội phạm, phân tích ý nghĩa pháp lý hình sự của yếu tố này; nghiên cứu tham chiếu quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
2) Phân tích quá trình hình thành, phát triển và nội dung quy định về yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
3) Phân tích tình hình đánh giá yếu tố khách thể của tội phạm trong giải quyết vụ án hình sự ở Việt Nam theo BLHS năm 1999; đánh giá tình hình
và chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong đánh giá yếu tố khách thể và nguyên nhân của chúng
4) Từ kết quả nghiên cứu trên, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự nước ta, hướng dẫn áp dụng những quy định này trong thực tiễn cũng như kiến nghị một số giải pháp khác nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chúng
4 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào những vấn đề sau:
Trang 124.1 Về nội dung
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khách thể của phạm; phân tích quá trình phát triển và nội dung quy định liên quan đến khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng như đánh giá tình hình thực tiễn áp dụng yếu tố này trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự ở nước
ta, làm rõ những nguyên nhân của tình hình đó Trên cơ sở những nghiên cứu này, đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định về khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định này
4.2 Về thời gian và không gian
Đối với các quy định pháp luật Việt Nam về khách thể của tội phạm, luận văn giới hạn nghiên cứu trong khoảng từ năm 1945 đến nay Đối với thực tiễn áp dụng những quy định này, luận văn tổng hợp và đánh giá số liệu xét xử trên toàn quốc trong thời gian từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành (năm 2000) đến nay
5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu đề tài
5.1 Cơ sở lý luận
Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm và hình phạt; những thành tựu của các ngành khoa học như: Triết học, Luật hình sự, Tội phạm học
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp, đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật hình sự, tố tụng hình
Trang 13sự, tội phạm học, xã hội học pháp luật; v.v trong các công trình của các nhà khoa học-luật gia ở trong và ngoài nước Ngoài ra, luận văn còn sử dụng trung thực các số liệu thống kê của các cơ quan áp dụng pháp luật, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo và có thể sử dụng để nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn
áp dụng các quy định của BLHS Việt Nam liên quan đến yếu tố khách thể của tội phạm, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước và quyền , lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về khách thể của tội phạm
Chương 2: Yếu tố khách thể của tội phạm theo pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về yếu tố khách thể của tội phạm và những số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này
Trang 151.1.1 Khái niệm khách thể của tội phạm
Trong khoa học pháp lý ở nước ta, khách thể của tội phạm thường được đặt lên hàng đầu trong bốn yếu tố CTTP Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) định nghĩa khách thể của tội phạm và ý nghĩa
của nó trong mô tả về "Yếu tố cấu thành tội phạm" như sau:
Những yếu tố pháp lý đặc trưng của những tội phạm cụ thể được quy định trong Luật hình sự Tổng hợp các yếu tố ấy là cấu thành tội phạm Mặc dù mỗi tội phạm có thể khác nhau về tính chất
và mức độ thể hiện, nhưng trong tất cả các tội phạm có thể rút ra được bốn yếu tố cấu thành chung nhất mà bất kỳ một tội phạm nào cũng phải có, đó là: khách thể của tội phạm; mặt khách quan của
tội phạm; mặt chủ quan của tội phạm; chủ thể của tội phạm Khách
thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm Do đó, khi đề cập đến tội phạm thì trước tiên cần phải xác định quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ bị xâm hại [60, tr 581]
Tuy nhiên, quan điểm lý luận về các yếu tố CTTP và khách thể của tội phạm như trên thường chỉ xuất hiện ở các nước có nền pháp luật thuộc kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa Theo tác giả Nelu Dorinel Popa (Tiến sĩ luật, sĩ quan cảnh sát thuộc Bộ Hành chính và Nội vụ Rumani):
Trang 16Vào giữa thế kỷ XX, học thuyết xã hội chủ nghĩa và những
lý thuyết của chủ nghĩa duy vật được đề cao trong luật hình sự Xô viết đã ảnh hưởng đến khoa học hình sự Rumani Do xuất phát từ
quan điểm duy vật về tội phạm, yếu tố khách thể bị xâm hại đã
chiếm một vai trò quyết định
Do ảnh hưởng đó khoa học hình sự Rumani đã cấu trúc tội
phạm theo các yếu tố: một khách thể tương ứng với quan hệ xã
hội bị tác động bởi tội phạm, một mặt khách quan đề cập đến sự
kiện thực tế, một chủ thể được xác định là cá nhân thực hiện hành
vi và một mặt chủ quan đề cập đến việc thực hiện hành vi một cách
có lỗi [94, tr 121]
Như vậy, trong lý luận pháp luật xã hội chủ nghĩa, khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm Khách thể của tội phạm là một khái niệm trừu tượng vì nó được xác
định là những quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại Ở các nước theo hệ thống
Thông luật (Common law), yếu tố trừu tượng đó không được đề cập trong các thành tố của tội phạm (elements of crime)
Theo luật pháp của Hoa Kỳ, "một yếu tố tội phạm là một trong tập hợp
các yếu tố phải được chứng minh để kết tội một bị cáo về một tội phạm" [99]
Các yếu tố đó bao gồm: trạng thái tâm thần (Mens rea), xử sự (Actus reus), sự phù hợp (Concurrence), quan hệ nhân quả (Causation) Thuật ngữ Mens rea
đề cập đến những vấn đề như mục đích, ý định phạm tội, hình thức lỗi Actus reus là yếu tố hành vi ứng xử mà theo pháp luật Hoa Kỳ đó phải là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật Concurrence chỉ đến sự phù hợp giữa trạng thái tâm thần với hành vi xử sự, tức là người có hành vi phạm tội phải có ý định, mong muốn phạm tội ấy Causation là yêu cầu về quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại xảy ra [99]
Ở Anh, để cấu thành một tội phạm thậm chí chỉ yêu cầu hai yếu tố trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội - Mens rea và Actus reus
Trang 17Việc xác định một tội phạm cụ thể theo quy định của Thông luật (Common law) đặt ra yêu cầu về hai yếu tố: trạng thái tâm thần và hành vi phạm tội Công tố viên phải chứng minh cả hai yếu
tố trên để thẩm phán hoặc bồi thẩm đoàn thừa nhận sự tồn tại của chúng Nếu điều này không chứng minh được thì theo pháp luật Anh, người bị buộc tội sẽ được tha bổng vì mọi người được coi là
vô tội cho đến khi bị chứng minh có tội [90, tr 14]
Như vậy, ở các nước thuộc kiểu pháp luật Anh - Mỹ, yếu tố khách thể của tội phạm không được đề cập trong CTTP CTTP trong luật hình sự các nước này chỉ nhấn mạnh tới yếu tố hành vi khách quan và yếu tố lỗi trong mặt chủ quan Điều này khác biệt với kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa - nơi mà khách thể của tội phạm là một thành tố bắt buộc, có vai trò quyết định trong việc cấu tạo nên tội phạm
Lý luận về các yếu tố CTTP, trong đó có khách thể của tội phạm là những khái niệm của khoa học luật hình sự Việt Nam hiện đại Chúng mới được đưa tới Việt Nam khoảng những năm 60-70 của thế kỷ trước bởi các nhà khoa học Liên Xô [11, tr 341] Do tiếp thu nên quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam về khách thể của tội phạm về cơ bản là thống nhất về nội dung
và bản chất pháp lý
PGS.TS Kiều Đình Thụ viết: "Khách thể của tội phạm là những quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại" [47, tr 140]
Còn GS TSKH Lê Cảm cho rằng: "Khách thể của tội phạm là quan
hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại có tính chất tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây nên (hoặc có thể gây nên) thiệt hại đáng kể nhất định" [8, tr 24]
Đơn giản hơn, khi đề cập đến khách thể của tội phạm với tư cách một căn
cứ định tội danh, GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: "Khách thể là thành phần
Trang 18không thể thiếu trong bất kỳ một tội phạm nào Đó là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ tránh khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội" [85, tr 95]; v.v…
Như vậy, cơ bản các quan điểm nói trên đều thống nhất ở các điểm: 1) Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội; 2) Quan hệ xã hội đó được luật hình sự bảo vệ (nhằm tránh khỏi sự xâm hại của tội phạm) và 3) Quan
hệ xã hội đó bị tội phạm xâm hại( có thể gây thiệt hại hoặc có thể đe doạ gây thiệt hại )
Tác giả thống nhất với các điểm cơ bản trong quan niệm về khách thể của tội phạm nói trên vì những căn cứ sau:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm chắc chắn phải là các quan hệ xã hội Sở dĩ khẳng định như vậy là vì khách thể là "đối tượng chịu chi phối, tác
động của đối tượng gây ra hành động" [88, tr 786] Khách thể của tội phạm phải là đối tượng chịu chi phối, tác động của tội phạm Trong khi đó bản chất tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đối tượng mà tội phạm chi phối, tác động, gây nguy hiểm chính là các quan hệ xã hội
Thứ hai, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Các quan hệ xã hội là đối tượng bảo vệ của pháp luật nói
chung chứ không riêng luật hình sự Những hành vi xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ được gọi chung là vi phạm pháp luật: "Vi phạm
pháp luật là hành vi trái pháp luật xâm hại tới các quan hệ xã hội được
pháp luật bảo vệ do các chủ thể có năng lực hành vi thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý gây hậu quả thiệt hại cho xã hội" [80, tr 145];
Các loại vi phạm pháp luật được phân biệt với nhau chính bởi nhóm quan hệ xã hội mà chúng xâm hại Bởi vậy một hành vi nhất định phải xâm hại tới các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì mới trở thành vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm), nếu hành vi ấy xâm hại các quan hệ xã hội được các ngành luật khác bảo vệ thì nó sẽ là vi phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp luật tương ứng
Trang 19Thứ ba, khách thể của tội phạm phải là các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại Nếu quan hệ xã hội không bị xâm hại thì không có hành vi nguy
hiểm cho xã hội và tất yếu không có tội phạm
Tuy thống nhất với các quan điểm trên về khái niệm khách thể của tội phạm nhưng chúng tôi cho rằng khái niệm này còn cần phải thể hiện vai trò,
vị trí của khách thể trong mối quan hệ với CTTP vì nếu không có mối quan hệ này thì việc xác định khách thể của tội phạm là vô nghĩa
Tóm lại, từ các lý do trên , dưới góc độ khoa học tác giả xin đưa ra
khái niệm khách thể của tội phạm như sau: Khách thể của tội phạm - yếu tố cấu thành bắt buộc của mọi tội phạm là các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm nhưng bị tội phạm xâm hại đến và gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
1.1.2 Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm
Theo GS TSKH Lê Văn Cảm, "dấu hiệu của CTTP là đặc điểm chung
về mặt lập pháp cụ thể của các thuộc tính điển hình và chủ yếu hơn cả, đặc trưng cho tội phạm đó" [11, tr 345] Trong các dấu hiệu của CTTP, có dấu
hiệu bắt buộc là đặc trưng cho tất cả các CTTP, có dấu hiệu tùy nghi, có thể
có ở CTTP này mà không có ở CTTP khác Theo đó, yếu tố khách thể trong CTTP có ba dấu hiệu: khách thể - dấu hiệu bắt buộc; đối tượng của tội phạm
và người bị hại (nạn nhân) của tội phạm - các dấu hiệu tùy nghi
a Dấu hiệu khách thể trong khách thể của tội phạm: Như đã xác định
ở trên, khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo
vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm, bị tội phạm xâm hại
Khách thể của tội phạm có ba loại: khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp Nội dung này sẽ được xem xét cụ thể hơn ở phần sau
b Dấu hiệu đối tượng của tội phạm: Quan hệ xã hội là một phạm trù
trừu tượng, rộng lớn, không hiện hữu, cụ thể Người ta chỉ có thể nhìn nhận
Trang 20những quan hệ đó thông qua các bộ phận của nó như: Các chủ thể của quan hệ
xã hội; hoạt động của các chủ thể tham gia quan hệ xã hội hay trạng thái của các chủ thể trong quan hệ xã hội; các vật, hiện tượng thuộc thế giới khách quan có khả năng thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của chủ thể tham gia quan
hệ xã hội Con người không thể "nhìn" thấy sự tác động của tội phạm lên quan hệ xã hội mà chỉ có thể đánh giá sự tác động ấy trên các bộ phận của
quan hệ xã hội Theo đó, "đối tượng của tội phạm là những bộ phận của
khách thể của tội phạm mà khi tác động tới bộ phận này, tội phạm đã gây nên thiệt hại hoặc đe dọa gây nên thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ" [47, tr 145]
CTTP của các loại tội phạm cụ thể khác nhau Đối tượng tác động của tội phạm có vị trí, vai trò cụ thể không giống nhau:
- Đối tượng của tội phạm có thể căn cứ định tội danh đối với những
CTTP mà luật hình sự quy định đối tượng tác động của tội phạm là một dấu hiệu bắt buộc Ví dụ đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả: nếu hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh thì cấu thành tội được quy định ở Điều 157 của BLHS (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); nếu hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi thì cấu thành tội ở Điều 158 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo
vệ thực vật ); nếu hàng giả là hàng hóa thông thường khác thì hành vi cấu thành tội ở Điều 156 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả)
- Đối tượng tác động của tội phạm có thể là căn cứ để phân biệt hành
vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội phạm Ví dụ: Hành vi buôn
bán những mặt hàng nhà nước cấm kinh doanh mới cấu thành tội quy định tại Điều 166 BLHS năm 1999: Tội buôn bán hàng cấm Đối tượng tác động của tội phạm ở đây là "hàng cấm", là dấu hiệu bắt buộc của tội buôn bán hàng cấm
Trang 21- Đối tượng tác động của tội phạm là cơ sở để phân biệt các tội phạm
có nội dung cấu thành gần giống nhau Ví dụ: theo Điều 231 BLHS năm
1999 quy đinh về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh
quốc gia thì đối tượng tác động của tội phạm là công trình phương tiện giao
thông vận tải, thông tin liên lạc, hệ thống tải điện, chất đốt, công trình thủy lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh quốc phòng, kinh tế, khoa học
kỹ thuật, văn hóa xã hội do Chính phủ quy định Nếu tài sản bị hủy hoại
không phải là các đối tượng trên thì hành vi không cấu thành tội này mà cấu thành tội hủy hoại tài sản ở Điều 143 BLHS năm 1999
Mức độ gây thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra với đối tượng tác động của tội phạm được luật hình sự quy định sẽ là căn cứ để phân biệt hành
vi được coi là tội phạm với hành vi không được coi là tội phạm Ví dụ: Hành
vi phải gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản mới cấu thành tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản quy định tại Điều 145 BLHS năm 1999, còn nếu chưa gây thiệt hại nghiêm trọng thì không phải là tội phạm
c Dấu hiệu nạn nhân trong khách thể của tội phạm: Ở Việt Nam
trong những năm gần đây, vấn đề nạn nhân của tội phạm đã bắt đầu được nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học, còn trong khoa học luật hình sự thì đây vẫn là một vấn đề bị bỏ ngỏ Trong thực tế, khi có tội phạm xảy ra, "ai là người phạm tội" mới là tình tiết được quan tâm nhất
Theo TS Trần Hữu Tráng, "Nạn nhân của tội phạm là cá nhân hay tổ
chức phải chịu những thiệt hại trực tiếp về tính mạng, sức khỏe, tinh thần, tình cảm, tài sản hoặc các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hành vi phạm tội gây ra" [61, tr 58]
Thông qua việc gây tổn hại cho nạn nhân, tội phạm đã xâm hại quan hệ
xã hội được luật hình sự bảo vệ Ví dụ như làm nạn nhân bị thương, bị chết có nghĩa là tội phạm đã xâm hại đến sức khỏe, quyền sống của con người; làm nạn nhân bị mất tài sản có nghĩa là tội phạm đã xâm hại đến quan hệ sở hữu v.v
Trang 22Nạn nhân là dấu hiệu không bắt buộc trong yếu tố khách thể của tội phạm Có những tội phạm, dấu hiệu nạn nhân được thể hiện rõ ràng như các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, sở hữu Cũng có những tội phạm, dấu hiệu nạn nhân không được thể hiện rõ nhưng không phải
là tội phạm ấy không có nạn nhân Ví dụ hành vi gây rối trật tự công cộng làm ảnh hưởng tới môi trường sống yên bình, ổn định của dân cư, như vậy rõ ràng dân cư ở khu vực bị gây rối là những nạn nhân bị tổn hại
Là một dấu hiệu tùy nghi nên vai trò của dấu hiệu nạn nhân của tội phạm thể hiện trong các CTTP khác nhau:
- Nạn nhân của tội phạm có thể là dấu hiệu định tội danh khi nó là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Ví dụ đối với tội ngược đãi hoặc hành hạ ông
bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình thì nạn nhân nhất định phải là cá nhân có quan hệ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, hoặc người có công nuôi dưỡng với người phạm tội; đối với tội: Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ, nạn nhân nhất định phải là nữ giới; đối với tội giao cấu với trẻ em, chắc chắn nạn nhân phải là trẻ em; v.v…
- Nạn nhân của tội phạm cũng có thể là dấu hiệu phân biệt tội phạm có những biểu hiện gần giống nhau Ví dụ, giữa tội giết người và giết con mới đẻ
Ngoài ra, nạn nhân của tội phạm còn có thể là yếu tố (tình tiết) tăng
nặng hoặc yếu tố (tình tiết) giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Ví dụ: Phạm tội
đối với trẻ em, phụ nữ có thai… là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại (thái độ của nạn nhân) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam
1.1.3 Phân loại khách thể của tội phạm
Dựa trên mức độ khái quát của các quan hệ xã hội, khoa học luật hình
sự đã chia khách thể thành ba loại:
Trang 23a Khách thể chung của tội phạm "Khách thể chung của tội phạm là tổng hợp tất cả các quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại và được luật hình sự bảo vệ" [2, tr 105] Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây phương hại
đến khách thể chung bởi vì nếu không thì hành vi đó không trái pháp luật hình
sự, không bị coi là tội phạm Hơn nữa, mỗi một tội phạm khi xâm hại đến lĩnh vực quan hệ xã hội này hay quan hệ xã hội khác được luật hình sự bảo vệ cũng có nghĩa là xâm hại đến tổng thể, đến hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ
Việc xác định các quan hệ xã hội được coi là khách thể chung của tội phạm hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà lập pháp Tất nhiên, việc xác định đó phải dựa trên nền tảng là chính sách hình sự của nhà nước; phản ánh và phù hợp với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
b Khách thể loại của tội phạm "Khách thể loại của tội phạm là nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất được một nhóm các quy phạm pháp luật hình sự bảo vệ và bị một nhóm tội phạm xâm hại" [2, tr 106] Trong thực tiễn
đấu tranh phòng chống tội phạm, có những nhóm quan hệ xã hội có đặc trưng
và tính chất cùng loại, có mối liên hệ với nhau tạo thành một bộ phận nhất định trong hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm
Đúng với tên gọi, khách thể loại có vai trò quan trọng trong việc phân loại, phân nhóm tội phạm Nó là cơ sở để BLHS xây dựng các chương trong phần các tội phạm một cách hợp lý và khoa học
c Khách thể trực tiếp của tội phạm "Khách thể trực tiếp của tội phạm là quan hệ xã hội cụ thể được một quy phạm PLHS bảo vệ bị một loại tội phạm trực tiếp xâm hại" [47, tr 145] Các tội phạm được quy định trong cùng một
chương phần các tội phạm (có cùng khách thể loại) bao giờ cũng xâm hại đến khách thể loại của chúng Tuy nhiên, từng tội phạm trong một chương đó không phải luôn xâm hại cùng khách thể trực tiếp Điều đó có nghĩa là mỗi tội phạm có
Trang 24khách thể trực tiếp riêng của nó Thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đối với khách thể trực tiếp mà tội phạm đã gây phương hại đến khách thể chung và khách thể loại của tội phạm Ví dụ: Tội giết người xâm hại khách thể trực tiếp là "tính mạng con người", thông qua đó xâm hại khách thể loại là
"tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người", khách thể loại này là một trong các nhóm quan hệ xã hội thuộc hệ thống khách thể chung của tội phạm
Một tội phạm có thể xâm hại đến nhiều khách thể nhưng không phải lúc nào tất cả các khách thể đó đều được xem là khách thể trực tiếp Khách thể trực tiếp khi đó là quan hệ xã hội mà tội phạm gây thiệt hại thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Ví dụ: Hành vi trộm cắp dây điện thoại đang sử dụng vừa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu vừa gây thiệt hại cho an toàn thông tin liên lạc Nhưng rõ ràng, thiệt hại cho an toàn thông tin liên lạc mới thể hiện đầy đủ bản chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Do đó, hành vi phạm tội phải được xác định tại Điều 231 BLHS năm 1999 (tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia) chứ không phải Điều 138 BLHS (tội trộm cắp tài sản)
Cũng có trường hợp tội phạm xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, mà mỗi quan hệ xã hội đều chứa đựng đầu đủ bản chất nguy hiểm của hành vi nhưng sự tổng hợp các thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra cho tất cả các quan hệ xã hội mới thể hiện được đầy đủ bản chất của tội phạm đó Ví dụ: Hành vi cướp tài sản vừa xâm hại đến quan hệ nhân thân, vừa xâm hại đến quan hệ sở hữu Tổng hợp hai quan hệ này mới phản ánh đầy
đủ bản chất của hành vi cướp tài sản
Khách thể trực tiếp là cơ sở thể hiện rõ nhất bản chất của tội phạm cụ thể Việc xác định đúng khách thể trực tiếp là căn cứ để định tội danh chính xác và áp dụng đúng quy phạm pháp luật hình sự
Việc phân loại khách thể của tội phạm thành khách thể chung, khách thể loại và khách thể trực tiếp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cả hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật Tuy nhiên mối quan hệ giữa các loại
Trang 25khách thể ở đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, có sự thống nhất chặt chẽ chứ không tách biệt, độc lập Trong khách thể chung có khách thể loại, trong khách thể loại có khách thể trực tiếp và ngược lại , khách thể trực tiếp thuộc về khách thể loại, khách thể loại cũng thuộc về khách thể chung
1.2 CÁC ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA PHÁP LÝ HÌNH SỰ CỦA KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM
1.2.1 Các đặc điểm của khách thể của tội phạm
Với tư cách là một yếu tố CTTP, khách thể của tội phạm mang những đặc điểm chung của các yếu tố CTTP như sau:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm bắt buộc phải được quy định trong pháp luật hình sự thực định
Là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, do vậy khách thể của tội phạm bắt buộc phải được xác định bởi luật hình sự Chỉ có những quan
hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ thì mới là khách thể của tội phạm Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi BLHS quy định nó là tội phạm, vì vậy các yếu tố cấu thành của hành vi ấy không thể nằm ngoài quy định của BLHS
Thứ hai, chỉ khi nào xác định được hành vi thỏa mãn yếu tố khách thể của tội phạm thì mới có thể khẳng định hành vi ấy là tội phạm
Cùng với các yếu tố CTTP khác, hành vi phải thỏa mãn dấu hiệu khách thể của tội phạm thì mới bị coi là tội phạm Hành vi phải xâm hại đến một quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ thì nó mới có tính trái pháp luật hình sự và bị luật hình sự đe dọa áp dụng biện pháp trừng phạt
Thứ ba, khách thể của tội phạm là một khái niệm khoa học trừu tượng chứ không phải chế định hay quy định pháp luật cụ thể
Khách thể của tội phạm cũng như các yếu tố cấu thành khác của tội phạm đều được các nhà lý luận nghiên cứu trong khoa học luật hình sự Không
có pháp luật thực định của một quốc gia nào trên thế giới định nghĩa hay mô
Trang 26tả dấu hiệu của khách thể của tội phạm Pháp luật hình sự chỉ thiết lập các quy định bảo vệ những quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm
Thứ tư, khách thể của tội phạm được dự kiến trước sự kiện phạm tội thực tế
Các yếu tố CTTP mà mô hình dựng sẵn của tội phạm, khi nào hành vi xảy ra trong thực tế tương ứng với mô hình đó thì hành vi ấy bị coi là tội phạm
Vì vậy, khách thể của tội phạm luôn phải là quan hệ xã hội đã được thừa nhận
và bảo hộ pháp luật hình sự thực định Khi có những quan hệ xã hội mới phát sinh cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự (hoặc những quan hệ xã hội có
từ trước mà đến nay mới rơi vào tình trạng cần được bảo vệ bằng pháp luật hình sự) nhưng pháp luật hình sự vẫn chưa kịp xác lập sự bảo vệ đối với những quan hệ xã hội ấy thì cũng không thể coi hành vi xâm hại chúng là tội phạm
Bên cạnh các đặc điểm nói trên, khách thể của tội phạm cũng có những đặc điểm riêng làm cho nó khác biệt với các yếu tố CTTP khác, bao gồm:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm là yếu tố đặc trưng riêng của mỗi tội phạm
Khách thể chung của tội phạm là chung nhau đối với mọi tội phạm nhưng khách thể loại của các tội phạm là đặc trưng của nhóm tội phạm và khách thể trực tiếp là đặc trưng của tội phạm cụ thể Trong khi đó các yếu tố khác của CTTP có thể trùng nhau ở đa số tội phạm Ví dụ về yếu tố chủ thể của tội phạm, trừ một số tội phạm có chủ thể đặc biệt thì hầu hết chủ thể của các tội phạm chỉ cần thỏa mãn hai dấu hiệu chung về độ tuổi và trạng thái tâm thần Yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của tất cả các tội phạm đều phải thuộc về một trong hai dạng cố ý hoặc vô ý và trong lý luận thuộc một trong bốn dạng :
cố ý trực tiếp; cố ý gián tiếp; vô ý do cẩu thả; vô ý vì quá tự tin Nói chung căn cứ vào các yếu tố đó khó có thể thấy sự khác biệt giữa các tội phạm Ngược lại khách thể là đặc trưng của tội phạm, dễ dàng phân biệt tội phạm này với tội phạm khác bằng dấu hiệu khách thể
Trang 27Thứ hai, khách thể của tội phạm tồn tại khách quan, độc lập với sự kiện phạm tội
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bình thường trong đời sống, sự tồn tại của nó không liên quan đến tội phạm cho tới khi bị tội phạm xâm hại Trong khi đó, mặt khách quan của tội phạm chính là diễn biến của sự kiện phạm tội; chủ thể của tội phạm là người tiến hành, thúc đẩy sự kiện phạm tội; mặt chủ quan của tội phạm thể hiện diễn biến bên trong suy nghĩ của người phạm tội trong quá trình của sự kiện phạm tội
Thứ ba, khách thể của tội phạm không hiện hữu rõ ràng, cụ thể trong thế giới vật chất
Khách thể của tội phạm chỉ được nhận thức, xác định bằng tư duy trừu tượng của con người hoặc nhìn nhận thông qua dấu hiệu đối tượng vật chất, nạn nhân của tội phạm Các yếu tố cấu thành khác của tội phạm thì có
sự hiện hữu cụ thể và rõ rệt hơn Ví dụ như chủ thể của tội phạm có thể xác định rõ danh tính, nhân thân; mặt khách quan của tội phạm chủ yếu thể hiện qua hành vi phạm tội và hậu quả của hành vi ấy, có thể được chứng kiến trực quan, để lại dấu vết trong thế giới vật chất Chính vì vậy, mặc dù là đặc trưng nổi bật của tội phạm nhưng đôi khi yếu tố khách thể của tội phạm cũng khó xác định
1.2.2 Ý nghĩa pháp lý hình sự của khách thể của tội phạm
Với nội dung và những đặc điểm nêu trên, yếu tố khách thể của tội phạm có ý nghĩa hết sức to lớn trên phương diện pháp lý hình sự:
Thứ nhất, khách thể của tội phạm được xác định trong pháp luật thực định thể hiện nhiệm vụ của đạo luật hình sự, bản chất giai cấp của luật hình
sự và chính sách hình sự của nhà nước
Bất cứ nhà nước nào cũng sử dụng luật hình sự để bảo vệ những quan
hệ xã hội phù hợp với lợi ích và nền thống trị của giai cấp cầm quyền Những
Trang 28hành vi xâm hại đến các quan hệ ấy bị nhà nước tuyên bố là tội phạm Vì vậy, khách thể được xác định thể hiện bản chất giai cấp của pháp luật hình sự
Khách thể của tội phạm phản ánh quan niệm về việc coi hành vi là tội phạm hoặc không phải là tội phạm, thể hiện chính sách hình sự hóa hay phi hình sự hóa đối với các hành vi cụ thể Nghiên cứu khách thể của tội phạm được xác định trong một đạo luật hình sự còn giúp người ta nhận thức đầy đủ
và sâu sắc nhiệm vụ của đạo luật ấy là hướng tới bảo vệ giá trị nào
Thứ hai, khách thể là yếu tố đặc trưng của tội phạm nên là căn cứ hợp
lý và khoa học nhất để phân loại, sắp xếp các tội phạm
Như đã phân tích trên các yếu tố CTTP khác có tính phổ biến ở các tội phạm cụ thể, không đặc trưng và thể hiện bản chất của tội phạm nên nếu sử dụng chúng để phân loại, sắp xếp tội phạm thì sẽ dẫn đến tình trạng nhiều tội phạm có bản chất rất khác nhau lại nằm cùng một nhóm Điều này gây khó khăn cho việc đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm và xác định quy phạm pháp luật cần áp dụng trong thực tiễn
Thứ ba, khách thể của tội phạm thể hiện tính chất nguy hiểm của tội phạm
Khách thể mà tội phạm xâm hại là những quan hệ xã hội càng quan trọng thì tội phạm đó càng có tính nguy hiểm cao Mức độ quan trọng của loại khách thể được thể hiện qua biện pháp trừng phạt mà nhà làm luật dự kiến áp dụng đối với hành vi xâm khách thể ấy Trong BLHS Việt Nam, sự đánh giá này còn được thể hiện qua việc sắp xếp thứ tự của các tội phạm theo khách thể loại Các tội phạm xâm hại những khách thể quan trọng như: độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, tính mạng, sức khỏe con người được đặt ở những quy định trước tiên trong Phần các tội phạm của Bộ luật
Thứ tư, khách thể của tội phạm là căn cứ xác định tội phạm
Khách thể của tội phạm là một yếu tố bắt buộc của CTTP nên mọi tội phạm đều sẽ phải xâm hại khách thể nào đó thuộc khách thể chung của tội phạm
Sẽ không có tội phạm nếu không có khách thể nào của tội phạm bị xâm hại Ví
Trang 29dụ như trước đây nhằm bảo vệ sức kéo phục vụ sản xuất nông nghiệp nên BLHS năm 1985 coi lạm sát gia súc là một tội phạm Hiện nay, do trình độ sản xuất phát triển nên sức kéo cung cấp từ đại gia súc cũng không còn đặc biệt quan trọng đối với nông nghiệp, không cần thiết phải bảo vệ bằng pháp luật hình sự nữa vì vậy hành vi lạm sát gia súc không còn được quy định là tội phạm trong luật hình
sự Vậy nên, hành vi sát hại số lượng rất lớn gia súc hiện nay cũng không CTTP
Thứ năm, khách thể của tội phạm là căn cứ để xác định tội danh
Khách thể có vai trò rất to lớn trong quá trình xác định tội danh Việc xác định đúng khách thể chung, khách thể loại, khách thể trực tiếp của sự xâm hại là giai đoạn cần thiết đầu tiên trong xác định tội danh [85, tr 96] Việc xác định khách thể bị xâm hại của hành vi thuộc khách thể chung của tội phạm là
cơ sở chung cho tất cả các hoạt động xác định tội danh sau đó Bởi vì có khách thể chung bị xâm hại thì mới có tội phạm và mới cần xác định tội danh Xác định được khách thể loại của tội phạm cho ra định hướng tìm kiếm nhóm quy phạm cần thiết trong hệ thống pháp luật hình sự Xác định khách thể trực tiếp của tội phạm cho phép tìm được quy phạm cụ thể tương ứng với hành vi phạm tội
1.3 KHÁCH THỂ CỦA TỘI PHẠM THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Do quan niệm khác nhau nên quy định về khách thể của tội phạm và
sự thể hiện của yếu tố này trong luật hình sự của các nước trên thế giới không giống nhau Ngay cả ở những nước có quan điểm tương đồng thì nội dung cụ thể và sự biểu hiện của vấn đề này trong pháp luật thực định cũng có sự khác biệt do cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia
1.3.1 Theo pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Cũng giống như Việt Nam, BLHS Lào năm 1989, sửa đổi năm 2007 xác định hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ ngay tại Điều 1
về nhiệm vụ của BLHS:
Trang 30Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự là bảo vệ hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, bảo vệ tài sản của nhà nước, tập thể, cá nhân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, quyền và tự do của nhân dân, an ninh quốc gia và trật tự công cộng, chống lại mọi tội phạm và giáo dục công dân ý thức tôn trọng pháp luật [30, tr 5]
Các quan hệ xã hội nói trên được xác định là khách thể của tội phạm trong khái niệm tội phạm quy định tại Điều 6 của Bộ luật:
Tất cả những hành vi nguy hiểm cho hệ thống chính trị, kinh
tế và xã hội của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; cho tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân; nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe, quyền và tự do của nhân dân, an ninh quốc gia và trật tự xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự đều bị coi là tội phạm [30, tr 7]
Về kỹ thuật lập pháp vấn đề khách thể của tội phạm được BLHS Lào
mô tả liệt kê và cơ bản giống BLHS Việt Nam Tuy nhiên trong định nghĩa pháp lý về tội phạm, yếu tố khách thể của tội phạm được nhấn mạnh hàng đầu: tội phạm nhất định phải là hành vi xâm hại các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ (như: hệ thống chính trị, kinh tế và xã hội của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; tài sản của nhà nước, tổ chức và cá nhân; tính mạng, sức khỏe, quyền và tự do của nhân dân; an ninh quốc gia và trật tự xã hội) Thậm chí định nghĩa pháp lý này chỉ duy nhất dựa trên yếu tố khách thể bị xâm hại của tội phạm để định nghĩa tội phạm mà không đề cập đến các yếu tố khác (như: chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm )
Khách thể của tội phạm cũng là cơ sở phân loại tội phạm trong BLHS Lào Dựa vào dấu hiệu này, tội phạm trong phần riêng BLHS Lào được chia thành các Chương: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia và trật tự xã hội, Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự của cá nhân, Các tội xâm phạm quyền và tự do của công dân, Các tội xâm phạm tài sản, Các tội xâm phạm
Trang 31quan hệ hôn nhân gia đình và thuần phong mỹ tục, Các tội phạm kinh tế, Các tội phạm liên quan đến chức trách, nhiệm vụ của công chức, Các tội xâm phạm quy định hành chính, tư pháp
1.3.2 Theo pháp luật hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Giống như BLHS Lào, BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi, bổ sung năm 2005 xác định các quan hệ xã hội được bảo vệ trong quy định về nhiệm vụ của Bộ luật:
Nhiệm vụ của Luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là sử dụng những hình phạt hình sự để đấu tranh chống lại tất cả các hành vi tội phạm nhằm bảo vệ an ninh quốc gia; bảo
vệ quyền làm chủ của nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ tài sản của Nhà nước, tài sản tập thể của của nhân dân lao động, tài sản riêng của công dân; bảo vệ quyền con người, quyền dân chủ
và các quyền khác của công dân; duy trì trật tự công cộng, trật tự kinh tế; bảo vệ thành quả của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội [96]
Các quan hệ xã hội nói trên được nhắc lại trong định nghĩa tội phạm với tư cách là khách thể của tội phạm Điều 13 của BLHS xác định:
Tội phạm là hành vi đe dọa chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và
an ninh của nhà nước; chống phá nhà nước và lật đổ quyền thống trị của nhân dân, lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa; phá vỡ trật tự
xã hội và trật tự kinh tế; xâm phạm tài sản của nhà nước, tài sản thuộc sở hữu tập thể nhân dân lao động, tài sản của công dân; xâm phạm các quyền con người, quyền dân chủ và các quyền khác của công dân cũng như bất kỳ hành vi nào khác gây nguy hiểm cho xã hội và bị trừng phạt theo quy định của pháp luật [96]
Trong các khách thể của tội phạm được BLHS Trung Hoa bảo vệ thì
an ninh quốc gia và chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa được đặc biệt nhấn mạnh
Trang 32thể hiện một cách sâu sắc bản chất giai cấp của luật hình sự và định hướng chính trị của nhà nước Đối với các quyền cá nhân, Bộ luật của Trung Hoa xác định một phạm vi rộng hơn BLHS của Lào và Việt Nam Bộ luật không chỉ bảo vệ các quyền công dân được nhà nước Trung Hoa xác lập mà còn bảo
vệ các "quyền con người" - tức là các giá trị chung được nhân loại thừa nhận Đây là một điểm tiến bộ đáng ghi nhận trong nỗ lực chung của thế giới hiện nay nhằm bảo vệ các quyền con người
Ngoài các khách thể được liệt kê đích danh, BLHS Trung Hoa còn có một sự mô tả dự phòng về "bất kỳ hành vi nào khác gây nguy hiểm cho xã hội" (mà theo quy định của pháp luật phải bị trừng phạt) Đây cũng là một cách hay để không phải sửa đổi, bổ sung BLHS khi nảy sinh khách thể mới cần được bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm Điều này càng trở nên phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội đất nước Trung Hoa đang trên đà phát triển mạnh mẽ những năm gần đây
Khách thể của tội phạm cũng được BLHS Trung Hoa sử dụng làm tiêu chí phân loại tội phạm Theo đó, tội phạm được Bộ luật phân thành 10 nhóm trong 10 chương của phần 2 - những quy định cụ thể: Chương I - Tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia; Chương II - Các tội phạm an ninh công cộng; Chương III - Các tội phá hoại trật tự thị trường kinh tế xã hội chủ nghĩa; Chương IV - Các tội xâm phạm quyền của con người và quyền dân chủ của công dân; Chương V - Các tội xâm phạm quyền sở hữu; Chương VI - Các tội xâm phạm trật tự công cộng; Chương VII - Các tội xâm phạm lợi ích quốc phòng; Chương VIII - Tội phạm tham nhũng và hối lộ; Chương IX - Các tội
lơ là nhiệm vụ; Chương X - Các tội xâm phạm nghĩa vụ quân nhân
1.3.3 Theo pháp luật hình sự Liên bang Nga
Các khách thể được luật hình sự bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm không được đề cập đến trong định nghĩa pháp lý về tội phạm của BLHS Liên bang Nga năm 1996, sửa đổi, bổ sung năm 2011 mà chỉ được xác định trong
Trang 33nhiệm vụ của đạo luật này Khoản 1, Điều 2, chương I, phần chung của BLHS Nga xác định:
Nhiệm vụ của Bộ luật này là: bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân, tài sản, trật tự công cộng và an ninh công cộng, môi trường, hệ thống hiến pháp của Liên bang Nga chống lại
sự xâm hại của tội phạm, duy trì hòa bình và an ninh của nhân loại, đồng thời ngăn ngừa tội phạm [64, tr 28]
Để thực hiện nhiệm vụ nói trên, BLHS Nga thiết lập cơ sở và các nguyên tắc của trách nhiệm hình sự, xác định những hành vi nguy hiểm bị coi
là tội phạm, quy định hình phạt và các biện pháp chế tài khác đối với những tội phạm ấy (khoản 2, Điều 2, chương I) Theo đó, luật hình sự Nga quy định
tội phạm và hình phạt là nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người và
công dân, tài sản, trật tự công cộng và an ninh công cộng, môi trường, hệ thống hiến pháp của Liên bang Nga, hòa bình và an ninh của nhân loại - khỏi
sự xâm hại của tội phạm
Điển hình cho kiểu pháp luật xã hội chủ nghĩa, BLHS Liên bang Nga cũng lấy các khách thể trên làm tiêu chí duy nhất phân loại tội phạm để cấu trúc phần các tội phạm trong Bộ luật Giống như BLHS Việt Nam, Trung Hoa, Lào, Bộ luật này chia các tội phạm thành 6 loại trong 6 mục: Các tội chống lại con người (mục VII), Tội phạm trong lĩnh vực kinh tế (mục VIII), Các tội xâm phạm an ninh công cộng và trật tự công cộng (mục IX), Các tội chống nhà nước (mục X), Các tội xâm phạm nghĩa vụ quân nhân (mục XI), Các tội xâm phạm hòa bình và an ninh nhân loại (mục XII)
Nội dung các quan hệ xã hội được luật hình sự Nga bảo vệ có hai
điểm khác biệt và tiến bộ so với luật hình sự Việt Nam, Lào và Trung Hoa
Thứ nhất là về các quyền của cá nhân, BLHS Nga bảo vệ các quyền và tự do của con người và công dân trong khi luật của Lào và Trung Hoa chỉ để cập
đến các quyền này của công dân Tức là, về mặt lập pháp BLHS Lào, Trung
Trang 34Hoa chỉ bảo vệ các quyền, tự do của công dân nước mình trong khi BLHS Nga thể hiện sự bảo vệ đối với cả quyền, tự do của công dân Nga cũng như của những người khác (ý chỉ tới quyền của những người không phải công dân Nga nhưng bị tội phạm xâm hại ở Nga) Mặc dù ở các nước Lào, Trung Hoa, BLHS cũng được áp dụng để xét xử tội phạm xâm phạm các quyền, tự do của người nước ngoài như đối với tội phạm xâm phạm quyền của công dân nước
ấy Tuy nhiên, điều đó cần phải được khẳng định chính thức giống như trong BLHS Nga để tránh vi phạm nguyên tắc "vô luật bất hình", đồng thời thể hiện tính công bằng, văn minh của đạo luật
Thứ hai, BLHS Liên Bang Nga đề cập đến một loại khách thể mà
BLHS của Lào, Trung Hoa không đề cập đến là hòa bình và an ninh của nhân
loại Hòa bình và an ninh của nhân loại có ảnh hưởng đến tất cả mọi cá nhân,
tổ chức, đất nước trên thế giới Chung tay gìn giữ hòa bình, an ninh thế giới là nhiệm vụ của tất cả các quốc gia và cũng chỉ có thể được thực hiện tốt khi mọi quốc gia tham gia vào nhiệm vụ này Chính vì vậy, pháp luật của quốc gia cần thể hiện sự bảo vệ đối với loại quan hệ xã hội này giống như BLHS của Liên bang Nga
1.3.4 Theo pháp luật hình sự Vương quốc Thụy Điển
Không giống như luật hình sự các nước nói trên, BLHS Thụy Điển năm 2001 không đề cập đến khách thể của tội phạm với tư cách một yếu tố cấu thành của tội phạm Tội phạm được định nghĩa đơn giản là hành vi được xác định bởi BLHS hoặc luật khác mà theo đó phải chịu hình phạt quy định trong BLHS [97] Những khách thể được luật hình sự Thụy Điển bảo vệ thể hiện trực tiếp qua các quy định về các tội phạm cụ thể nhưng không được sử dụng làm căn cứ phân loại tội phạm duy nhất Trong Bộ luật này tội phạm chủ yếu vẫn được phân loại theo yếu tố khách thể bị xâm hại, ví dụ: Chương 3 - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe; Chương 4 - Các tội xâm phạm quyền
tự do và sự bình yên; Chương 6 - Tội phạm về tình dục; Chương 7 - Các tội
Trang 35xâm phạm gia đình; Chương 19 - Các tội xâm phạm an ninh của Vương quốc, Chương 22 về tội phản quốc Tuy nhiên, bên cạnh đó tội phạm cũng có thể được chia nhóm bởi yếu tố chủ thể của tội phạm, ví dụ: Chương 21 - Các tội thực hiện bởi quân nhân Hoặc theo yếu tố hành vi khách quan của tội phạm,
ví dụ: Chương 5 về tội phỉ báng, Chương 8 về tội trộm, cướp và các tội chiếm đoạt tài sản khác, Chương 9 về các tội gian lận và lừa đảo, Chương 14 về các tội giả mạo, Chương 15 về các tội khai man, truy cứu sai và các hành vi báo cáo không thành thật khác Thậm chí hậu quả của tội phạm cũng là yếu tố được sử dụng để phân loại tội phạm, chẳng hạn như Chương 12 quy định về các tội gây thiệt hại [97]
Phân tích tổng hợp các quy định của BLHS Thụy Điển cho thấy yếu tố khách thể của tội phạm không được thể hiện rõ nét trong Bộ luật này Người Thụy Điển chỉ cần biết rằng tội phạm là hành vi được luật thực định xác định
là tội phạm, bị quy định hình phạt mà không cần quan tâm đến khách thể của tội phạm - một khái niệm khoa học trừu tượng
Trang 36về sự thể hiện của yếu tố khách thể của tội phạm trong pháp luật hình sự nước ta hiện nay, luận văn sẽ xem xét hiện tượng này trong cả quá trình hình thành, phát triển từ năm 1945 đến nay
2.1.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985
Ngay sau khi giành được chính quyền cách mạng năm 1945, công tác lập pháp đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, chú trọng Trong lĩnh vực hình sự, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, trong đó phải kể đến:
- Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 trừng trị nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu cống, đường xe lửa, đường giao thông, đê đập, các nhà máy điện, nhà máy nước, dây điện thoại, điện tín
- Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/2/1946 truy tố các tội bắt cóc, tống tiền
và ám sát
- Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về trừng trị các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, phù lạm hoặc biển thủ công quỹ
- Sắc lệnh số 73-SL ngày 17/8/1947 và Sắc lệnh số 12-SL ngày 12/3/1949 trừng trị tội trộm cắp vặt, trộm cắp của nhà binh
Trang 37- Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/11/1953 trừng trị những tội phạm đến
an toàn nhà nước, đối nội và đối ngoại
- Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của hợp tác xã, của nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước
- Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/5/1981
- Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982; v.v
Phân tích tổng hợp tất cả các văn bản pháp luật nói trên cho thấy: từ
năm 1945 đến trước năm 1985 trong pháp luật hình sự nước ta không có một quy định nào xác định hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ chống lại sự xâm hại của tội phạm Điều đó có nghĩa là luật hình sự Việt Nam
giai đoạn này không thể hiện yêu cầu về yếu tố khách thể của tội phạm Sự thiếu vắng đó là do lý luận về CTTP nói chung cũng như khách thể của tội
Trang 38phạm nói riêng chưa được nghiên cứu trong khoa học luật hình sự nước ta vào thời điểm này Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận về khách thể của tội phạm hiện nay thì có thể thấy rằng nội dung của các văn bản pháp luật nói trên thể hiện quan điểm bảo vệ những quan hệ xã hội cơ bản là: 1) Cơ sở vật chất, tài sản của nhà nước; 2) An ninh chính trị; 3) Trật tự, an toàn xã hội; 4) Chính sách, pháp luật của nhà nước; 5) Hoạt động của cơ quan nhà nước; 6) Sức khỏe, tính mạng của nhân dân; 7) Tài sản của tập thể, của công dân
Đây là những quan hệ xã hội được ưu tiên bảo vệ hàng đầu trong công cuộc xây dựng chính quyền cách mạng non trẻ và bối cảnh của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Do chưa có một BLHS đầy đủ nên mỗi văn bản pháp luật hình sự của thời kỳ này hướng tới bảo vệ một (một nhóm) khách thể riêng Đáng lẽ dấu hiệu khách thể ấy phải là đặc trưng để gọi tên loại tội phạm được quy định
trong văn bản pháp luật Tuy nhiên, ở các văn bản pháp luật trong thời kỳ kháng
chiến chống Pháp, yếu tố khách thể của tội phạm chưa được sử dụng để phân loại (đặt tên chung) cho nhóm tội phạm được quy định trong các văn bản ấy
Các tội phạm thời kỳ này không được phân loại, sắp xếp mà chỉ được nêu tên
theo hành vi phạm tội Ví dụ đáng lẽ gọi là các tội xâm hại cơ sở vật chất,
kinh tế của đất nước nhưng vì chưa có nhận thức về khách thể của tội phạm
nên trong tên gọi của Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946 lại nêu cụ thể các
hành vi phạm tội phá hoại cầu cống, đường xe lửa, đường giao thông, đê đập,
các nhà máy điện, nhà máy nước, dây điện thoại, điện tín Hoặc thay vì gọi
chung là các tội phạm về chức vụ như hiện nay, Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 lại liệt kê các tội nhận hối lộ, đưa hối lộ, phù lạm hoặc biển thủ
công quỹ khiến cho tên văn bản khá dài mà không có tính khái quát
Hạn chế nêu trên đã được khắc phục ở thời kỳ sau đó Các văn bản
pháp luật hình sự từ năm 1953 đến trước năm 1985 đã sử dụng yếu tố khách thể của tội phạm để phân loại, gọi tên loại tội phạm Cụ thể là: các tội xâm
Trang 39phạm an toàn nhà nước, đối nội và đối ngoại trong Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/11/1953; các tội xâm phạm tài sản của hợp tác xã, của nhân dân, chính sách, kế hoạch nhà nước được quy định bởi Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956; các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân theo hai Pháp lệnh ngày 21/10/1970
Mặc dù trước năm 1985 không có một quy định pháp luật nào ở nước
ta xác định chung hệ thống các quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm
nhưng yếu tố khách thể đã được đề cập đến ở một số quy định, đối với một số
tội phạm cụ thể Ví dụ như mục tiêu của Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953
về việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật được xác định là nhằm giữ gìn tính mệnh, tài sản của nhân dân, giữ gìn trật tự cách mạng, củng cố khối đoàn kết kháng chiến của nhân dân Theo đó, các quan hệ xã hội được Sắc lệnh này bảo vệ khỏi sự xâm hại của tội phạm là pháp luật (cụ thể trong Sắc lệnh là các quy định liên quan đến chính sách ruộng đất), tính mệnh, tài sản của nhân dân, trật tự cách mạng, khối đoàn kết kháng chiến của nhân dân Đây là lần đầu tiên những quan hệ xã hội quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân được khẳng định là mục tiêu bảo vệ của luật hình sự Điều này có ý nghĩa cơ sở cho việc xây dựng quy định về các nhóm khách thể của tội phạm trong BLHS 1985 và năm 1999
Tiếp theo đó, Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 nhấn mạnh yếu tố khách thể của các tội phạm này trong khái niệm tội phản cách mạng:
Tội phản cách mạng là tội chống lại Tổ quốc, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, phá hoại công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, phá hoại quốc phòng, phá hoại sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà [68]
Theo khái niệm này, khách thể mà các tội phản cách mạng xâm hại là:
Tổ quốc, chính quyền dân chủ nhân dân, công cuộc cải tạo và xây dựng chủ
Trang 40nghĩa xã hội, nền quốc phòng, sự nghiệp chống Mỹ cứu nước Đây chính là
cơ sở để xây dựng quy định về khách thể của các tội xâm phạm an ninh quốc gia trong BLHS sau này
2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến nay
a Yếu tố khách thể của tội phạm trong BLHS năm 1985
Trong BLHS năm 1985, hệ thống các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ - khách thể của tội phạm - lần đầu tiên được xác định một cách chính thức ở quy định về nhiệm vụ của Bộ luật:
Điều 1 Nhiệm vụ của Bộ luật hình sự
Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm [39]
Theo quy định này, các quan hệ xã hội sau đây là đối tượng bảo vệ của BLHS Việt Nam: - Chế độ xã hội chủ nghĩa; quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân; quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc; quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân; trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Việc xâm hại một trong các khách thể nêu trên được BLHS năm 1985 coi là yếu tố bắt buộc để xác định hành vi tội phạm (yếu tố CTTP) theo khái
niệm tội phạm ở Điều 8:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ Nhà nước
xã hội chủ nghĩa, chế độ kinh tế và sở hữu xã hội chủ nghĩa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các