1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay

117 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại đây, Hội đồng xét xử HĐXX trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU TUẤN

HOÀN THIỆN THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP HIỆN

NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà nội - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN HỮU TUẤN

HOÀN THIỆN THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRONG QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TƢ PHÁP HIỆN NAY

Chuyên ngành : Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2009

Trang 3

1.1 Quy định chung về thủ tục tại phiên tòa hình sự 6

1.1.1 Khái niệm về thủ tục tại phiên tòa hình sự 6

1.1.2 Các nguyên tắc chung khi xét xử vụ án hình sự 9

1.2 Quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự 19

1.2.1 Vị trí, vai trò của thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự 19

1.2.2 Thủ tục bắt đầu phiên tòa 23

1.2.3 Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa 26

1.2.4 Thủ tục tranh luận tại phiên tòa 30

1.2.5 Thủ tục nghị án và tuyên án 39

1.2.6 Thủ tục giải quyết đối với người vi phạm trật tự phiên tòa 40

1.3 Thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm ở một số nước trên thế giới 41

1.3.1 Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự của Tòa án Hoa Kỳ 41

1.3.2 Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự của Tòa án Pháp 43

1.3.3 Thủ tục tố tụng tại Tòa án của Liên bang Nga 44

1.4 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt

Nam về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

46

Trang 4

TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ

2.1 Thực trạng áp dụng các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ

thẩm hình sự

51

2.1.1 Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân chưa được thực sự độc lập khi xét xử 53

2.1.2 Vẫn còn tình trạng oan sai trong xét xử sơ thẩm 55

2.1.3 Vi phạm các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên tòa 56

2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 72

2.2.1 Nguyên nhân khách quan 72

TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

76

3.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp

và việc hoàn thiện các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự

76

3.2 Những kiến nghị về việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về

thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự nhằm đáp ứng yêu cầu về cải cách

tư pháp hiện nay

78

3.2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên tòa

hình sự sơ thẩm

78

3.2.2 Hoàn thiện các quy định để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị

cáo, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

87

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp

luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm

92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật Hỡnh sự

BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hỡnh sự

HĐXX : Hội đồng xét xử TAND : Tũa ỏn nhõn dõn

TANDTC : Tũa ỏn nhõn dõn tối cao

VKS : Viện kiểm sỏt

VKSND : Viện kiểm sỏt nhõn dõn

VKSNDTC : Viện kiểm sỏt nhõn dõn tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xét xử các vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự Chỉ có Tòa án mới có quyền kết tội và quyết định hình phạt đối với một người nhưng hoạt động này phải tuân theo những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hình sự thông qua việc xét

xử tại phiên tòa Tại đây, Hội đồng xét xử (HĐXX) trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người giám định, xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự để đưa

ra phán quyết về việc bị cáo có phạm tội hay không, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác cũng như các vấn đề khác của vụ án…

Để việc xét xử được chính xác, xác định vụ án một cách toàn diện, khách quan, đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ của bị cáo thì việc tuân thủ chặt chẽ các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa đóng một vai trò rất quan trọng Ngoài ra, việc tuân thủ này còn góp phần giáo dục công dân trong việc tuân thủ pháp luật, góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung ở phiên tòa sơ thẩm, việc tuân thủ thủ tục phiên tòa càng có ý nghĩa quan trọng vì đây là giai đoạn xét xử đầu tiên, có ý nghĩa quyết định vì có thể vụ án sẽ không tiếp diễn ở giai đoạn phúc thẩm nữa hoặc nếu có thì cũng chỉ xem xét ở nội dung có kháng cáo, kháng nghị…

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, hiện tượng vi phạm các quy định về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn xảy ra phổ biến, gây thiệt hại đến các quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, làm tăng tỷ lệ án bị hủy, bị sửa không cần thiết Đặc biệt, trong bối cảnh

Trang 8

khi Tòa án nhân dân (TAND) cấp huyện được tăng thẩm quyền xét xử đến loại tội phạm "rất nghiêm trọng", Nghị quyết 08/ NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời có nội dung nhấn mạnh yếu tố tranh tụng trong quá trình xét xử vụ án hình sự Trong khi đó, trình độ của Hội thẩm nhân dân, Thẩm phán nhiều khi chưa đáp ứng được yêu cầu mới thì việc tuân thủ các thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là một yêu cầu cấp thiết hơn lúc nào hết

Ngoài ra, tuy BLTTHS năm 2003 đã khắc phục được nhiều hạn chế trong BLTTHS cũ, trong đó có các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng qua thực tế cũng còn xuất hiện nhiều điểm chưa hợp lý, chưa thống nhất hoặc không cụ thể dẫn đến việc áp dụng còn nhiều lúng túng, ảnh hưởng đến chất lượng xét xử của Tòa án

Trước yêu cầu của thực tế, đảm bảo sự tuân thủ đúng đắn thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm hình sự, đảm bảo sự dân chủ, bình đẳng trong hoạt động tố tụng hình sự, tránh bỏ lọt tội phạm làm oan người vô tội; đảm bảo mọi quyết định của HĐXX phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, tìm ra những điểm bất hợp lý

so với thực tế, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của BLTTHS và hoàn thiện các quy định về thủ tục phiên

tòa sơ thẩm, tác giả chọn đề tài: "Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ

thẩm vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay" làm luận

văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Nghiên cứu đề tài này, tác giả hướng tới mục đích làm rõ thêm cơ sở

lý luận và thực tiễn, bản chất, nội dung của thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong việc áp dụng quy định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ thẩm cũng như những bất hợp lý của các quy định hiện tại, thông qua đó đề xuất những giải pháp thiết thực, đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của

Trang 9

BLTTHS về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, hướng tới xây dựng một phiên tòa hình sự thực sự công bằng, dân chủ góp phần thực hiện quá trình cải cách tư pháp

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ của luận văn được đặt ra là:

1- Nghiên cứu cơ sở lý luận của thủ tục phiên tòa sơ thẩm vụ án hình

sự, trong đó có đề cập tới quy định về phiên tòa hình sự nói chung và phiên tòa sơ thẩm hình sự nói riêng

2- Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của BLTTHS ở Việt Nam những năm gần đây, qua đó rút ra những mặt tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế trong hoạt động này, lý giải những nguyên nhân dẫn đến tồn tại trên

3- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng các phiên tòa sơ thẩm hình sự hiện nay, luận văn nêu ra các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm, kiến nghị

để hoàn thiện các quy định trong BLTTHS trong hoạt động này trước yêu cầu cải cách tư pháp

3 Phạm vi nghiên cứu

Thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là vấn đề lớn trong hoạt động tố tụng, có nhiều nội dung thể hiện ở các giai đoạn cụ thể như: Bắt đầu phiên tòa, xét hỏi, tranh luận, nghị án và tuyên án nên trong phạm vi của một luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết một cách cụ thể hết mọi vấn đề mà chỉ tập trung nghiên cứu các quy định trong BLTTHS năm 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm và thực tiễn áp thi hành các quy định này, chỉ ra vướng mắc và đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hình sự Qua luận văn, tác giả cũng muốn góp phần hoàn thiện các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để hoàn thành luận văn, tác giả đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta

về pháp luật, về cải cách tư pháp

Đồng thời, luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp khảo sát thực tiễn tại những phiên sơ thẩm vụ án hình sự

5 Những điểm mới của luận văn

Là công trình đề cập tới thủ tục tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn có những điểm mới sau:

1- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự, góp phần nâng cao nhận thức về nội dung, bản chất của hoạt động của Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

2- Luận văn đánh giá thực trạng áp dụng các quy định trên, chỉ ra những hạn chế tồn tại trong việc áp dụng các quy định của BLTTHS về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự, làm rõ nguyên nhân của tồn tại đó

3- Các giải pháp về hoàn thiện pháp luật; hướng dẫn, giải thích pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của BLTTHS năm 2003 về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự mà luận văn đưa ra sẽ giúp ích cho Tòa án nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử của mình

4- Đề xuất một số kiến nghị để sửa đổi, bổ sung các quy định của luật

tố tụng hình sự năm 2003 về thủ tục phiên tòa sơ thẩm nhằm đổi mới phiên tòa hình sự sơ thẩm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước

ta hiện nay

Trang 11

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên

tòa sơ thẩm hình sự

Chương 3: Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện thủ tục tố tụng

và nâng cao chất lượng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự

Trang 12

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG

TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ

1.1 QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ

1.1.1 Khái niệm về thủ tục tại phiên tòa hình sự

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được ghi nhận trong Hiến pháp

Việt Nam năm 1992 bảo đảm "mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp

quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải tiến hành theo quy định của

toàn diện, đúng pháp luật bắt buộc phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và

do nhiều cơ quan khác nhau tiến hành nhưng tất cả các hoạt động tố tụng của các cơ quan này đều phải được quy định trong BLTTHS, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật đã quy định

Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử là đặc biệt quan trọng, biểu hiện tập trung cao nhất của cả quá trình giải quyết vụ án hình sự Qua hoạt động xét xử, Tòa án - với vai trò nhân danh Nhà nước - mới có thể ra được bản án phán quyết về một vụ án bất kể đó là vụ án lớn hay nhỏ, bị cáo đưa ra truy tố được phán quyết có tội hay không có tội…, nhất là trong khi Hiến

pháp năm 1992 (Điều 72) đã quy định rõ: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"

22 Điều này cũng có nghĩa, tội phạm phải bị trừng phạt, người phạm tội

phải chịu các biện pháp cưỡng chế phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra

Ngược lại, nếu không có hoạt động xét xử của tòa án thì cũng không thể kết tội bất kỳ một con người nào đó Hoạt động xét xử càng có tầm quan

Trang 13

trọng đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền do dân, vì dân Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, trong đó lấy Tòa án và hoạt động xét xử của tòa là trung tâm, được đặc biệt quan tâm

Chỉ có qua hoạt động xét xử công khai của tòa án, mọi hoạt động của

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án đều được thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ Tại đây, những người tham gia tố tụng được công khai tranh tụng, đưa ra lý lẽ để bảo vệ mình hoặc bác bỏ lý lẽ của người khác Hoạt động xét xử còn góp phần vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự trị an…

Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như quyền lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Thông thường, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối với mọi vụ án hình sự Trên cơ sở cáo trạng của VKS chuyển sang, Toà án cấp

sơ thẩm lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể được đưa ra xét xử phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Theo Từ điển tiếng Việt năm 2004 của Viện Ngôn ngữ học, thủ tục

được hiểu là "những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức"; tố tụng là việc "tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự"; phiên toà là

"lần họp để xét xử của Toà án"; sơ thẩm là "xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp nhất" 65

Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia đưa ra khái niệm:

Trang 14

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự trong đó, Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai trước phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội để từ đó đưa ra bản án, quyết định

Còn theo cách hiểu của PGS,TS Nguyễn Thái Phúc thì:

Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét

xử của Toà án dưới hình thức phiên toà xem xét và giải quyết thực chất vụ án hình sự Xét xử vụ án một cách thực chất có nghĩa là cơ quan Toà án trên cơ sở các chứng cứ được kiểm tra tại phiên toà đưa ra quyết định về các nội dung truy tố bị cáo có căn cứ, hợp pháp hay không, bị cáo có tội hay không, có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?" 34

Tuy có cách thể hiện khác nhau nhưng hai khái niệm trên đều cho thấy

sự khác biệt mấu chốt để phân biệt xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự chỉ được tiến hành sau khi Toà án nhận được bản cáo trạng và hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang Đối tượng của phiên toà sơ thẩm là cáo trạng của VKS truy tố bị cáo vì họ đã thực hiện những hành vi có dấu hiệu tội phạm Toà án sơ thẩm có trách nhiệm xem xét cáo buộc của VKS có căn cứ và hợp pháp hay không và thể hiện trong quyết định, bản án của mình Với phiên toà phúc thẩm, chỉ được tiến hành khi

có kháng nghị của VKS hoặc kháng cáo của các bên đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Bản án này chính là đối tượng xem xét của phiên toà phúc thẩm chứ không phải là cáo trạng như phiên toà sơ thẩm

Như những nội dung đã nêu trên, có thể khẳng định, xét xử sơ thẩm là trung tâm của tố tụng hình sự Vai trò, tầm quan trọng, tính thiêng liêng, tối thượng… của bản án nói chung và bản án sơ thẩm nói riêng sẽ chỉ được đảm

Trang 15

bảo khi hoạt động xét xử phải tuân thủ đúng những thủ tục cụ thể tại phiên tòa xét xử Tức là việc xét xử của tòa phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự… nhất định được quy định trong luật tố tụng hình sự Việc vi phạm bất kỳ một nguyên tắc hay trình tự quy định nào đều có thể kéo theo những hậu quả đáng tiếc (như phải xem xét lại bản án theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hay phải hủy bản án, sửa bản án…) và ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền

lợi của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của công dân

1.1.2 Các nguyên tắc chung khi xét xử vụ án hình sự

Như vậy, trước hết, phiên tòa hình sự phải tuân theo những nguyên tắc

mà BLTTHS quy định, trong đó có các "nguyên tắc cơ bản" liên quan đến quá trình xét xử tại Tòa án, được quy định tại chương II BLTTHS năm 2003 như: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; không ai

bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; xác định sự thật của vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng; thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân tham gia; thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử tập thể; xét

xử công khai; bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án; thực hiện chế độ hai cấp xét xử; bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án; thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự… Trong phạm vi này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số nguyên tắc cơ bản, có tính đặc trưng của phiên toà

sơ thẩm xét xử vụ án hình sự:

Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia (Điều 15 BLTTHS)

Trang 16

Theo nguyên tắc này, việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán

Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta Nội dung của nguyên tắc này là khi xét xử tại phiên toà, bên cạnh thẩm phán là người có trình độ pháp lý, được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm

vụ xét xử vụ án còn có hội thẩm nhân dân hoặc hội thẩm quân nhân Hội thẩm nhân dân, hội thẩm quân nhân là người được bầu hoặc cử tham gia xét xử và

có ngang quyền với thẩm phán

Nguyên tắc khi xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia không phải là nguyên tắc tố tụng nói chung mà chỉ là nguyên tắc đặc trưng của giai đoạn xét

xử và cũng không phải là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các giai đoạn xét

xử mà chỉ bắt buộc đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm

Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 BLTTHS)

Khi xét xử các vụ án hình sự, HĐXX căn cứ vào các tình tiết của vụ

án, các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào các quy định của pháp luật - cụ thể ở đây là bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình

sự để xác định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội Không một ai, một cơ quan nào có quyền can thiệp, yêu cầu HĐXX phải làm trái các quy định của pháp luật

Sự độc lập của HĐXX thể hiện ở việc độc lập giữa thẩm phán với hội thẩm trong việc xét xử và độc lập giữa HĐXX với các cơ quan khác Các thành viên của HĐXX độc lập với nhau trong việc nghiên cứu hồ sơ, xem xét, đánh giá chứng cứ và đưa ra các kết luận của mình không phụ thuộc vào ý kiến của các thành viên khác Tất cả các thành viên của HĐXX đều được tham gia vào toàn bộ các hoạt động tố tụng tại phiên toà được đặt câu hỏi với

bị cáo và người làm chứng để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến việc

Trang 17

giải quyết vụ án Mỗi thành viên của HĐXX có quyền độc lập khi quyết định các vấn đề trong vụ án Mặc dù vụ án được giải quyết trên cơ sở biểu quyết đa

số nhưng người có ý kiến khác có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án

Trong quan hệ giữa Toà án các cấp, thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập không chịu sự chỉ đạo của Toà án cấp trên Toà án cấp trên hướng dẫn Toà

án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật nhưng không được quyết định trước hay gợi ý cho Toà án cấp dưới chủ trương xét xử một vụ án cụ thể

Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17 BLTTHS)

Nguyên tắc Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số là một nguyên tắc dân chủ nhằm huy động được trí tuệ của tập thể, đảm bảo cho việc xét xử được khách quan, thận trọng, chính xác, tránh độc đoán

Theo nguyên tắc này, việc xét xử các vụ án ở các cấp Toà án không phải do một thẩm phán tiến hành mà đều thực hiện theo chế độ Hội đồng HĐXX sơ thẩm thường gồm một thẩm phán và hai hội thẩm, trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm HĐXX phúc thẩm gồm ba thẩm phán, trường hợp cần thiết có thể có thêm hai hội thẩm Bất kỳ một vụ án nào cũng phải đảm bảo về

số lượng thành phần HĐXX như đã đề cập ở trên Khi giải quyết các vấn đề của vụ án, các thành viên HĐXX phải biểu quyết theo đa số từng vấn đề một Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án,

Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18 BLTTHS)

Nguyên tắc này được hiểu, phiên toà phải được tiến hành công khai, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền được dự và theo dõi diễn biến của phiên toà Trước khi xét xử, Toà án phải niêm yết công khai nội dung,

Trang 18

nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Toà án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai

Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho nhân dân tham gia vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan xét xử, nâng cao trách nhiệm của Toà án trước nhân dân Xét xử công khai còn có tác dụng nâng cao trình độ của những người tiến hành tố tụng bởi lẽ các hoạt động của họ đều có sự giám sát của nhân dân

Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án (Điều 19 BLTTHS)

Tại phiên toà, kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ

án

Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa quan trọng để giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ Nguyên tắc này chỉ có thể thực hiện được khi chủ toạ phiên toà phải làm tốt nhiệm vụ là người điều khiển phiên toà, là trọng tài công minh, thành viên HĐXX phải có thái độ khách quan, tôn trọng các chứng cứ, tranh luận mà các bên đưa ra để xem xét và có các quyết định công minh

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo (Điều 11 BLTTHS)

Quyền bào chữa chỉ là một trong số rất nhiều quyền mà bị cáo được hưởng khi tham gia phiên toà Tại phiên toà, bị cáo được sử dụng tất cả các biện pháp mà pháp luật quy định nhằm đưa ra các chứng cứ để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bị cáo có thể nhờ người khác bào chữa cho mình Trong một số trường hợp nhất định, mặc dù bị cáo không tự bào chữa

Trang 19

và cũng không nhờ người khác bào chữa thì Toà án phải chỉ định người bào chữa cho bị cáo

Ở giai phiên toà sơ thẩm, nguyên tắc bảo đảm bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, được trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng hoặc đề nghị đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét, được tham gia tranh luận tại phiên toà, trình bày lời bào chữa và đáp lại ý kiến của người khác…

Ngoài những nguyên tắc cơ bản được quy định tại Chương II, BLTTHS, còn một số nguyên tắc hết sức quan trọng được quy định tại chương XVIII,

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 "Quy định chung về thủ tục tố tụng phiên tòa" Chính vậy, khi xét xử sơ thẩm cũng phải tuân thủ triệt để những nguyên tắc này, gồm:

Nguyên tắc xét xử trực tiếp (Điều 184 BLTTHS): Tòa án phải trực tiếp

xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi và nghe ý kiến của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định; xem xét vật chứng và nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự Tại phiên tòa, HĐXX phải kiểm tra các chứng cứ mà VKS nêu trong bản cáo trạng cũng như các chứng cứ do bị cáo, người bị hại, người bào chữa, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày HĐXX có trực tiếp kiểm tra lại các chứng cứ thì mới có thể xét xử được chính xác Nếu chứng cứ chưa được xem xét tại phiên tòa thì cho dù chứng cứ do do Cơ quan điều tra thu thập hoặc do bất kỳ ai cung cấp cũng không được dùng làm căn

cứ trong bản án Bản án chỉ được tuyên dựa trên những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa

Trang 20

Thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này sở cho việc HĐXX xác định

sự thật của vụ án, giải quyết vụ án một cách chính xác và góp phần đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập của Tòa án HĐXX dựa vào kết quả điều tra, xác minh, đánh giá, kiểm tra chứng cứ tại phiên tòa chứ không dựa hoàn toàn vào kết quả điều tra của Cơ quan điều tra, VKS Và như vậy thì HĐXX có quyền

ra phán quyết thể hiện quan điểm khác với quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa

Nguyên tắc xét xử bằng lời nói (Điều 184 BLTTHS): HĐXX hỏi những

người tham gia tố tụng về mọi tình tiết của vụ án Những người tham gia phiên tòa cũng có nghĩa vụ trả lời các câu hỏi của HĐXX Nếu trong số những người tham gia tố tụng không biết tiếng Việt, Tòa sẽ đảm bảo việc xét

xử bằng lời nói qua việc cử người phiên dịch để đảm bảo tiếng nói được dùng thống nhất trong phiên tòa Trong trường hợp một người cần xét hỏi tại phiên tòa nhưng lại vắng mặt thì HĐXX phải công bố lời khai của họ trong hồ sơ vụ

án Ngoài ra, các chứng cứ kết tội, gỡ tội cho bị cáo cũng phải công bố công khai tại phiên tòa

Có thể nói, việc xét xử bằng lời nói luôn gắn liền với việc xét xử trực tiếp vì việc xét xử trực tiếp đòi hỏi phải xét xử bằng lời và ngược lại

Nguyên tắc xét xử liên tục (Điều 184 BLTTHS): Khi đã xét xử một vụ

án, tòa án phải xét xử liên tục từ khi tiến hành thủ tục bắt đầu phiên tòa cho đến khi tuyên án, trừ thời gian nghỉ cần thiết như nghỉ giải lao, nghỉ trưa, nghỉ hết ngày làm việc Thời gian nghị án cũng được coi là thời gian HĐXX làm việc và thời gian này có thể kéo dài tùy thuộc vào sự phức tạp của từng vụ án

Việc xét xử trực tiếp, liên tục đòi hỏi sự có mặt của rất nhiều người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng như: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân Kiểm sát viên, người bào chữa, người giám định, người làm chứng, bị cáo…

Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (tại phiên tòa sơ thẩm) có vai trò rất quan trọng trong phiên tòa vì chính người này, với vai trò là thành viên của

Trang 21

HĐXX mới có quyền nghị án, biểu quyết để đưa ra bản án nhân danh Nhà nước phán quyết về tội danh và hình phạt đối với bị cáo đưa ra truy tố HĐXX

sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân Đối với vụ án mà bị cáo bị đưa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân Việc xét xử trực tiếp, liên tục đòi hỏi các thành viên HĐXX phải có mặt tại phiên tòa và phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu đến khi kết thúc Khi xét xử, vì một lý do nào đó mà các thành viên HĐXX không thể tiếp tục tham gia xét xử thì có thể được thay thế nếu có Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân dự khuyết Tuy nhiên, để được thay thế thì Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân dự khuyết phải có mặt từ đầu thì mới được tham gia xét xử Trong trường hợp HĐXX có hai Thẩm phấn mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên HĐXX làm chủ tọa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên HĐXX

Bên cạnh HĐXX thì Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố là người tham gia tố tụng bắt buộc phải có mặt tại phiên tòa Nếu Kiểm sát viên được VKS cùng cấp phân công tham gia phiên tòa nhưng họ vắng mặt hoặc tuy có mặt nhưng bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì HĐXX phải hoãn phiên tòa, đồng thời thông báo ngay cho VKS cùng cấp Thông thường, mỗi vụ án có một Kiểm sát viên tham gia Nếu vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì VKS có thể cử hai Kiểm sát viên cùng tham gia phiên tòa hoặc có thể có Kiểm sát viên dự khuyết

Đối với bị cáo, sự có mặt của họ tại phiên tòa vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ bởi khi có mặt, họ có thể thực hiện quyền bào chữa của mình một cách hiệu quả nhất Vì vậy, trong mọi trường hợp, tòa án phải triệu tập bị cáo đến phiên tòa Nếu bị cáo vắng mặt, cần làm rõ nguyên nhân Trường hợp bị

Trang 22

cáo tại ngoại nhưng không được triệu tập hoặc chưa được tống đạt hợp lệ mà vẫn tiến hành xét xử thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng

Khi tòa án đã triệu tập bị cáo một cách hợp lệ mà bị cáo vắng mặt có

lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa để tiến hành xét xử vào thời gian thích hợp và phải tiến hành triệu tập lại Nếu bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng thì phải bị áp giải theo thủ tục quy định của pháp luật Hiện nay, theo hướng dẫn của Bộ Công an thì lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư

pháp làm nhiệm vụ này theo quy trình "xác định đúng người đã có lệnh hoặc quyết định áp giải của Tòa án; đọc và giải thích lệnh hoặc quyết định áp giải; Kiểm tra tư trang và đồ vật bị cáo mang theo (nếu có); phổ biến cho bị cáo biết về quy định trên đường đi; lập biên bản về việc áp giải; tiến hành áp giải

bị cáo đến phiên tòa…" (Quyết định 810 của Bộ Công an)

Trường hợp bị cáo vắng mặt nhưng qua xác minh thấy rằng bị cáo bỏ trốn khỏi nơi cư trú thì HĐXX ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và đề nghị cơ quan công an tiến hành truy nã bị cáo HĐXX cũng tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp bị cáo bị bệnh hiểm nghèo mà không thể đến phiên tòa Việc tạm đình chỉ kết thúc khi các lý do tạm đình chỉ xét xử vụ án không còn (bắt được

bị cáo hay bị cáo đã khỏi bệnh)

Tuy nhiên, không phải tất cả các trường hợp xét xử đều đòi hỏi sự có mặt của bị cáo Để đảm bảo việc xử lý tội phạm được kịp thời, BLTTHS cho phép HĐXX xét xử vắng mặt bị cáo trong một số trường hợp như, bị cáo cố tình trốn tránh mà Cơ quan điều tra đã báo cáo là việc truy nã không có kết quả hay trường hợp bị cáo đang ở nước ngoài, không thể triệu tập đến phiên tòa được Những vụ án mà sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét

xử và bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt thì HĐXX cũng có thể xét xử vắng mặt bị cáo Kết quả xét xử được thể hiện qua bản án sẽ được tống đạt cho bị cáo sau khi phiên tòa kết thúc

Trang 23

Để đảm bảo sự có mặt của bị cáo trong quá trình xét xử liên tục của tòa, luật quy định những bị cáo không bị tạm giam phải có nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử của vụ án Trường hợp đang tiến hành xét xử đến một giai đoạn nào đó mà bị cáo bỏ về thì HĐXX sẽ quyết định áp giải bị cáo hoặc tiếp tục xét xử vắng mặt (giống như trường hợp bị cáo vắng mặt từ trước khi khai mạc phiên tòa)

Đối với bị cáo đang bị tạm giam thì sự có mặt của họ được đảm bảo bằng lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp (tiến hành trích xuất và dẫn

giải ra phiên tòa) Trong quá trình phiên tòa diễn ra, "cán bộ chiến sĩ trong khi làm nhiệm vụ phải giám sát chặt chẽ mọi hành vi của bị cáo… Trường hợp bị cáo đột xuất phát bệnh, cán bộ y tế khám cấp cứu tại chỗ Nếu thấy cần thiết thì phải báo cáo Chủ tọa phiên tòa đưa bị cáo đến bệnh viện hoặc trung tâm y

tế gần nhất" Trong một số trường hợp đặc biệt, khi tiến hành xét hỏi trong vụ

án có nhiều bị cáo, HĐXX có thể quyết định cách ly các bị cáo, đưa bị cáo ra khỏi phòng xử Tuy nhiên, sự vắng mặt của bị cáo này là tạm thời, không ảnh hưởng đến việc xét xử Khi không cần thiết phải bị cách ly, bị cáo được trở lại phòng xử và tiếp tục tham gia trực tiếp phiên tòa tại phòng xử án

Bảo vệ quyền lợi và bào chữa cho bị cáo trước tòa có người bào chữa Trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, Người bào chữa có một vị trí quan trọng trong thủ tục tố tục hình sự cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Để thực hiện nhiệm vụ bào chữa cho bị cáo, người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho tòa án Nếu người bào chữa vắng mặt thì Tòa vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung, trừ trường hợp bị cáo bị xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình hoặc bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất

Người làm chứng có nghĩa vụ tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, họ phải có mặt tại phiên tòa để làm sáng tỏ các tình tiết của

Trang 24

vụ án mặc dù đã có lời khai tại cơ quan điều tra Sự có mặt của người làm chứng không chỉ đảm bảo cho việc xác minh trực tiếp, công khai các chứng

cứ mà người làm chứng còn phải giải thích thêm về lời khai của mình Nếu người làm chứng vắng mặt và lời khai của họ không đóng vai trò mấu chốt, quyết định, HĐXX có thể công bố những lời khai của họ tại Cơ quan điều tra Nếu những lời khai này đã rõ và phù hợp với các chứng cứ khác thì tòa án có thể xét xử vắng mặt người làm chứng và lời khai này được dùng làm chứng

ý kiến thắc mắc về kết luận giám định thì cần hoãn phiên tòa để triệu tập lại

Pháp luật tố tụng hình sự còn quy định sự tham gia phiên tòa của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa

vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ cho những người này có điều kiện bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình…

Để đảm bảo HĐXX ra một bản án đúng luật, bảo đảm quyền của bị cáo, luật tố tụng hình sự còn có quy định về giới hạn của việc xét xử BLTTHS quy định: "Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử"

Trang 25

Như vậy, Tòa án sẽ không xét xử những người và những hành vi mà VKS không truy tố hoặc xét xử theo tội danh mà VKS truy tố Nếu qua xét xử, Tòa

án thấy cần thay đổi tội danh thì HĐXX chỉ có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố

Kết quả quan trọng của phiên tòa là việc ra bản án hoặc các quyết định khác của HĐXX Nội dung bản án bắt buộc phải thể hiện việc bị cáo phạm tội hay không phạm tội Nếu phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản và điều luật nào của Bộ luật hình sự; Hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp đối với bị cáo; án phí hình sự, án phí dân sự, quyền kháng cáo đối với bản án… Nếu bản án tuyên bị cáo không phạm tội thì phải ghi rõ những cán cứ xác định bị cáo không có tội, giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền lợi, nghĩa vụ của họ Bản án phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án Còn các quyết định về việc thay đổi thành viên HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, việc bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận và thông qua tại phòng nghị án

và phải được lập thành văn bản Việc quyết định về các vấn đề khác được HĐXX thảo luận và thông qua tại phòng xử án, không cần lập thành văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa

Không chỉ việc những hoạt động trên phải được ghi vào biên bản phiên tòa mà mọi diễn biến của phiên tòa đều phải được thư ký ghi rõ vào biên bản phiên tòa Cùng với việc ghi biên bản này, Tòa án có thể tổ chức việc ghi âm, ghi hình về diễn biến của phiên tòa Việc ghi biên bản phiên tòa đầy đủ, chính xác là rất quan trọng vì bản án chỉ có thể dựa trên các chứng cứ

đã được xem xét, kiểm tra tại phiên tòa Tòa án không thể viện dẫn những chứng thu thập trong hồ sơ vụ án nhưng chưa được kiểm tra tại phiên tòa, không được phản ánh trong biên bản phiên tòa làm cơ sở cho các quyết định

Trang 26

của mình Ngoài ra, biên bản phiên tòa còn là cơ sở để sau này có thể kiểm tra

về tính hợp pháp, tính có căn cứ của bản án Sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra lại biên bản phiên tòa và cùng với Thư ký Tòa án

ký vào biên bản Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bảo vệ quyền lợi của đương sự hoặc đại diện hợp pháp của những người đó được xem biên bản phiên tòa, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa và ký xác nhận Nếu họ có yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa thì Thư ký phải ghi những sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu đó (ghi vào phần tiếp theo của biên bản phiên tòa)

1.2 QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ

1.2.1 Vị trí, vai trò của thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự

Xét xử sơ thẩm là giai đoạn trung tâm, quyết định quá trình giải quyết

vụ án từ khi khởi tố, điều tra đến khi đưa bị cáo ra xét xử trước tòa Một người dù có hành vi vi vi phạm bị bắt quả tang hay bị tình nghi mà bị Cơ quan điều tra khởi tố, điều tra và bị VKS truy tố thì họ cũng chưa bị coi là có tội nếu chưa bị Tòa án kết tội bằng bản án có hiệu lực pháp luật Việc ra bản

án đòi hỏi phải trải qua quá trình xét xử, trước tiên là xét xử sơ thẩm Nếu xét

xử Giám đốc thẩm, Tái thẩm là việc xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị Tính chất của xét xử phúc thẩm

là việc xét lại bản án, quyết định của cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực nhưng bị kháng cáo kháng nghị thì tính chất củ xét xử sơ thẩm là việc Tòa án lần đầu tiên điều tra, xem xét một cách khách quan, toàn diện và công khai tại phiên tòa đối với tất cả chứng cứ tài liệu chứng cứ thu thập được trong giai đoạn điều tra, VKS dùng để truy tố bị cáo, những người tham gia tố tụng được tranh luận, đối đáp với nhau trước Tòa, được đưa ra quan điểm của mình cũng như bác bỏ quan điểm của những người tham gia tố tụng khác Trên cơ sở đó,

Trang 27

Tòa án đưa ra những quyết định giải quyết vụ án Phiên tòa sơ thẩm còn là nơi kiểm tra tính hợp pháp của các hoạt động thu thập chứng cứ, hoạt động điều tra trước đó của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác Các hoạt động này chỉ là quá trình chuẩn bị điều kiện,

là cơ sở cho xét xử sơ thẩm Và các giai đoạn sau xét xử sơ thẩm cũng chỉ là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm, khắc phục những thiếu sót, sai lầm của nó (nếu có) và đưa các quyết định, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực vào thi hành trên thực tiễn

Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có quan hệ mật thiết với giai đoạn chuẩn bị xét xử Giai đoạn chuẩn bị xét xử có vai trò là tiền đề cho phiên toà sơ thẩm, nó bắt đầu từ khi Toà án nhận hồ sơ cùng bản cáo trạng của VKS

và kết thúc khi toà án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt các quyết định, giấy triệu tập cho những người liên quan… Sau khi nhận hồ sơ vụ án, Chánh án TAND sẽ phân công một thẩm phán là chủ toạ phiên toà để thẩm phán này nghiên cứu hồ sơ, giải quyết khiếu nại và tiến hành những việc cần thiết để mở phiên toà Công việc đầu tiên của thẩm phán là phải xác định xem

vụ án có đúng thẩm quyền xét xử của Toà án cấp mình hay không Trong thời gian chuẩn bị xét xử, thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ để có các quyết định cần thiết và đúng pháp luật như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử (nếu thấy đủ căn cứ và điều kiện); quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (thấy hồ sơ vụ

án cần bổ sung một số nội dung mà không thể bổ sung được tại phiene toà); quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án (căn cứ vào Điều 180 BLTTHS); Quyết định về việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn

Trường hợp thẩm phán ra quyết định mở phiên toà, quyết định này phải có đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 178 BLTTHS Ngoài ra, thẩm phán phải dự kiến việc bảovệ, giữ trật tự phiên toà, dự kiến việc dẫn giải bị

Trang 28

cáo, gửi giấy triệu tập cho những người cần xét hỏi đến phiên toà, dự kiến kế hoạch thẩm vấn; dự kiến các tình huống xảy ra tại phiên toà…

Có thể nói, giai đoạn chuẩn bị phiên toà có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có diễn ra thành công, đúng quy định hay không Nếu công tác chuẩn bị tốt, phiên toà sẽ đạt được yêu cầu, mục đích đề ra và ngược lại Ví dụ, nếu thẩm phán không nhận định được việc bổ sung hồ sơ không thể thực hiện được tại phiên toà sơ thẩm

mà cứ quyết định mở phiên toà thì rút cuộc, khi mở phiên toà rồi, HĐXX vẫn phải quyết định trả hồ sơ vụ án cho VKS để điều tra bổ sung Hay như thẩm phán do nghiên cứu hồ sơ không kỹ mà không tiến hành triệu tập một nhân chứng quan trọng cũng sẽ dẫn đến phải hoãn phiên toà để tiến hành triện tập lại nhân chứng Còn nếu thẩm phán chủ toạ nghiên cứu kỹ hồ sơ để dự kiến

kế hoạch xét hỏi phù hợp, triệu tập đủ nhân chứng và những người liên quan, tạo điều kiện cho luật sư nghiên cứu vụ án… thì sẽ là những điều kiện rất thuận lợi để làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, đánh giá chứng cứ chính xác để

ra một bán án đúng người đúng tội và không làm oan người vô tội

Xét xử sơ thẩm là bước đầu tiên của quá trình xét xử hai cấp Nhưng trong thực tế thì không phải vụ án nào cũng trải qua hai cấp xét xử Việc xét

xử tiếp vụ án ở giai đoạn phúc thẩm chỉ được tiến hành khi bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị Nói vậy để có thể thấy rằng, thủ tục xét xử sơ thẩm là thủ tục bắt buộc đối với quá trình xử lý vụ án một cách trọn vẹn Nếu không có xét xử sơ thẩm thì cũng có nghĩa là vụ án cũng không được đưa ra xét xử và đương nhiên, sẽ không có chuyện xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Như vậy, nếu quá trình xét xử sơ thẩm là chính xác, khách quan, toàn diện, dân chủ, công bằng, tuân thủ những quy định của pháp luật thì tỷ lệ kháng cáo, kháng nghị sẽ giảm Nhiều bản án sơ thẩm sẽ không có kháng cáo, kháng nghị thì đương nhiên có hiệu lực thi hành Điều này sẽ giúp hạn chế lượng án mà Tòa cấp trên phải giải quyết, tiết kiệm thời gian, chi phí,

Trang 29

công sức cho việc giải quyết vụ án hình sự, hiệu quả hoạt động của Tòa án sẽ ngày càng được nâng cao Đồng thời, xét xử sơ thẩm còn đảm bảo xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, triệt để, giảm tình trạng kéo dài giải quyết vụ

án, lập lại trật tự công bằng xã hội

Ngoài những vai trò trên, xét xử sơ thẩm còn có vai trò trong việc giáo dục, tuyên truyền pháp luật, phòng ngừa tội phạm thông qua việc xét xử công khai hoặc xét xử lưu động, thông qua hoạt động tranh luận về các tình tiết vụ

Khi xét xử bất kỳ một vụ án nào, dù nhiều bị cáo hay có một bị cáo,

dù vụ án lớn, xử kéo dài hay chỉ là vụ án nhỏ, xử trong một buổi thì đều phải tuân theo một trình tự nhất định bao gồm các bước: Bắt đầu phiên tòa, xét hỏi tại phiên tòa, tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án Từng giai đoạn, pháp luật tố tụng hình sự quy định rất chặt chẽ nhằm đảm bảo việc xét xử của

Trang 30

Tòa án công minh, dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng

Việc xét xử tại phiên tòa đòi hỏi những người tiến hành tố tụng mà trước hết là Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không chỉ cần trình độ chuyên môn giỏi mà phải có kinh nghiệm xét xử, kinh nghiệm điều khiển phiên tòa, xử lý tốt các tình huống xảy ra tại phiên tòa… Điều khiển phiên tòa là thước đo đánh giá trình độ nghiệp vụ, năng lực công tác của người tiến hành tố tụng Thực tiễn, có nhiều phiên tòa được công chúng, dư luận đánh giá là công minh, nhưng cũng không ít phiên tòa, mặc dù bản án không trái luật nhưng tính thuyết phục không cao, không được nhân dân đồng tình vì họ thấy không có cảm tình với sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, với thái độ của những người tham gia tố tụng Chính vì vậy, nghiên cứu các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng tại phiên tòa để vận dụng trong thực tiễn xét xử là rất cần thiết, không chỉ đối với người tiến hành tố tụng mà còn có ý nghĩa đối với người tham gia tố tụng và mọi người dân để họ tuân thủ pháp luật cũng như giám sát hoạt động xét xử của Toà án

1.2.2 Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Đây là giai đoạn mở đầu cho quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự HĐXX sẽ tiến hành một số công việc mang tính chất thủ tục và giải quyết một

số vấn đề phát sinh cũng như phổ biến quyền, nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng Thủ tục bắt đầu phiên tòa rất quan trọng nó giúp cho HĐXX xác định điều kiện cần và đủ bảo đảm cho việc xét xử vụ án đạt kết quả tốt, bảo đảm sự có mặt của những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng, kiểm tra căn cước của bị cáo, giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và giải quyết yêu cầu của họ về thay đổi người tiến hành tố tụng hoặc các yêu cầu về xem xét chứng tại phiên tòa Có thực hiện đúng phần này thì các phần sau của của việc xét xử vụ án hình sự sẽ thuận lợi, tạo điều kiện cho việc chứng minh tội phạm, xét xử đúng người đúng tội cũng

Trang 31

như ra một bản án đúng pháp luật Ngược lại, nếu phần thủ tục bắt đầu phiên tòa không được coi trọng, không thực hiện đúng, rất dễ đến những vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng, dẫn đến việc tòa cấp trên phải hủy bản án sơ thẩm một cách không đáng có

Phiên tòa bắt đầu bằng việc thư ký phiên tòa phổ biến nội quy phiên tòa cũng như kiểm tra sự có mặt của những người liên quan Tuy nhiên, phiên tòa chỉ chính thức khai mạc khi thư ký phiên tòa đã làm xong công việc trên

và mời HĐXX vào phòng xử án, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án

ra xét xử Theo quy định tại Điều 201 BLTTHS thì "khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử" Thông qua nội dung

của quyết định đưa vụ án ra xét xử, đại diện VKS và những người tham gia tố tụng biết được phiên tòa có được triệu tập đúng thời hạn quy định hay không, biết được những người tham gia tố tụng mà tòa án triệu tập cũng như biết được các vật chứng được đưa ra để xem xét…để có thể có những yêu cầu cần thiết

Sau khi nghe Thư ký Tòa án báo cáo danh sách những người được triệu tập, nếu có người vắng mặt mà việc vắng mặt này ảnh hưởng đến việc xét xử thì tùy từng trường hợp, HĐXX có thể hoãn phiên tòa hoặc tiếp tục xét

xử Trước khi quyết định, HĐXX phải hỏi những người tham gia tố tụng xem

có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không Trong trường hợp bị cáo chưa được nhận bản cáo trạng và quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn theo quy định tại BLTTHS mà bị cáo có yêu cầu hoãn phiên tòa thì HĐXXphải chấp nhận

Nếu vụ án được tiếp tục xét xử thì Chủ tọa phiên tòa tiến hành kiểm tra căn cước của bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và những người khác mà tòa

đã triệu tập và có mặt tại phiên tòa… Cùng với việc kiểm tra căn cước của những người tham gia tố tụng trên (hoặc khi đã kiểm tra căn cước xong tất cả

Trang 32

mọi người), chủ tọa phiên tòa sẽ phổ biến, giải thích quyền và nghĩa vụ của

họ tại phiên tòa theo quy định của pháp luật Riêng đối với người làm chứng, chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu họ cam đoan khai đúng sự thật, không khai gian dối (trừ trường hợp người chưa thành niên thì không phải cam đoan) Nếu

có người giám định, Chủ tọa giới thiệu tên, nghề nghiệp hoặc chức vụ và giải thích quyền và nghĩa vụ của họ, đồng thời yêu cầu họ cam đoan làm tròn nhiệm vụ tại tòa

Cùng với việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia

tố tụng, chủ tọa phiên tòa cũng cần làm rõ thực tế những người đó đã được đảm bảo để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng như thế nào, đặc biệt là đối với bị cáo như: quyền và thời gian được nhận bản cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, việc chấp nhận hay từ chối người bào chữa…

Sau khi làm những thủ tục trên, chủ tọa phiên tòa giới thiệu thành phần HĐXX, đại diện VKS, Thư ký tòa án và những thành viên dự khuyết (nếu có) Tiếp đó, Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, người giám định, người phiên dịch hay không Nếu có yêu cầu về đề nghị thay đổi những người trên thì HĐXX xem xét và giải quyết theo quy định của BLTTHS

Phần thủ tục bắt đầu phiên tòa kết thúc khi chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng xem có đề nghị hoãn phiên tòa hay không (nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt); có cần triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa thêm tài liệu, vật chứng ra xem xét hay không Nếu có yêu cầu thì HĐXX xem xét giải quyết Sau khi đã thực hiện đầu đủ các nội dung trên, nếu không có ai có ý kiến gì về phần thủ tục phiên tòa thì Chủ tọa tuyên bố kết thúc phần thủ tục và chuyển sang phần xét hỏi

1.2.3 Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa

Trang 33

Phần xét hỏi (hay thẩm vấn) tại phiên tòa là một phần quan trọng, có vai trò trung tâm trong quá trình xét xử Tại đây, HĐXX và những tham gia tố tụng tiến hành nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá một cách công khai các chứng cứ

và các tình tiết của vụ án đã thể hiện trong cáo trạng Từ đó, HĐXX có cơ sở để xác định vụ án và ra phán quyết về việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì là tội gì? HĐXX trực tiếp xem xét các chứng cứ thông qua việc xét hỏi bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, nghe kết luận của người giám định, xem xét vật chứng, đọc biên bản, công bố lời khai, công bố tài liệu, xem xét tại chỗ…

Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS thì thủ tục xét hỏi bắt đầu bằng việc Kiểm sát viên đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có) Sau đó, chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo xem đã nghe rõ cáo trạng hay chưa Nếu

bị cáo chưa rõ thì chủ tọa phiên tòa đề nghị Kiểm sát viên tóm tắt lại hoặc giải thích nội dung mà bị cáo chưa rõ Kiểm sát viên phải đọc bản cáo trạng có nội dung trùng với bản cáo trạng đã tống đạt cho bị cáo Việc trình bày ý kiến bổ sung cũng không được truy tố thêm tội danh hoặc định tội danh nặng hơn đối với bị cáo

Sau khi đã xong phần công bố cáo trạng, việc xét hỏi bắt đầu được tiến hành HĐXX có thể cách ly người làm chứng, cách ly bị cáo và người làm chứng trong trường hợp lời khai của hai người này có ảnh hưởng lẫn nhau

Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS thì "Hội đồng xét xử phải xác định đầy

đủ các tình tiết về từng việc và về từng tội của vụ án theo thứ tự xét hỏi hợp lý" Quy định trên có tính chất định hướng và như vậy thì việc hỏi ai trước,

hỏi việc gì trước là do chủ tọa phiên tòa quyết định dựa trên kết quả điều tra cũng như nội dung của vụ án, thái độ của từng bị cáo…

Về phía người được hỏi, Điều 207 cũng quy định: "Khi xét hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm nhân dân, sau đó đến Kiểm sát

Trang 34

viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự" Quy định này

đã nêu rõ những người được hỏi và thứ tự hỏi Tuy những người tham gia phiên tòa khác không có quyền xét hỏi nhưng có quyền đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định

Khi tiến hành hỏi bị cáo, nếu vụ án có nhiều bị cáo thì HĐXX phải hỏi riêng từng bị cáo Trường hợp lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên tòa phải cách ly họ và bị cáo bị cách

ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi với bị cáo đó

Trước khi hỏi bị cáo, chủ tọa phiên tòa phải để bị cáo trình bày ý kiến

về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án, chủ yếu là những vấn đề cơ bản như: tội danh, điều luật bị truy tố, ý kiến về bản cáo trạng… Sau đó, HĐXX

sẽ hỏi thêm về nội dung chi tiết, những điểm bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn… Trong quá trình xét hỏi, HĐXXcó thể kết hợp hỏi những người tham gia tố tụng khác hoặc bị cáo để làm rõ hành vi của bị cáo đang được hỏi Sau đó, những người khác có thể hỏi thêm bị cáo Khoản 3 Điều 209 BLTTHS nêu rõ, Kiểm sát viên hỏi về những tình tiết của vụ án có liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội cho bị cáo Người bào chữa hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bào chữa Người bảo về quyền lợi cho đương sự hỏi về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự Những người tham gia phiên tòa có đề nghị với chủ tọa phiên tòa hỏi thêm những tình tiết liên quan đến họ

Việc xét hỏi bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được thực hiện theo quy định tại Điều 201 BLTTHS Những người này trình bày những tình tiết vụ án có liên quan đến họ Sau đó, HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi nghĩa vụ của đương sự hỏi thêm về những điểm họ trình bày chưa rõ hoặc còn mâu thuẫn

Trang 35

Khi hỏi người làm chứng, HĐXX phải hỏi riêng từng người và không

để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó Trong trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng đến nhau thì chủ tọa phiên tòa có thể quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng Trước khi hỏi về những tình tiết của vụ án, HĐXX phải hỏi rõ quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày về những tình tiết liên quan đến

vụ án mà họ biết Sau đó, hỏi thêm về những điểm họ khai chưa đầy đủ hoặc

có mâu thuẫn Khi hỏi, HĐXX, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự phải hỏi vì sao họ biết được tình tiết đó Nếu không trả lời được thì lời khai của người làm chứng đó không được dùng làm chứng

cứ Nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên tòa có thể yêu cầu cha, mẹ, người đỡ đầu hoặc thầy cô giáo giúp đỡ để hỏi (cần phân biệt với việc "khai thay" người làm chứng) Trong một số trường hợp cần thiết, HĐXX phải quyết định thực hiện một số biện pháp để bảo đảm an toàn cho người làm chứng và người thân thích của họ

Cũng như đối với việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, nếu người làm chứng không khai hoặc không trả lời tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa có thể công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra Tuy nhiên, chủ tọa phiên tòa cần phải giải thích cho người làm chứng về việc từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì phải chịu trách nhiệm về hành vi từ chối khai báo hoặc hành vi khai báo gian dối (có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 307, 308 Bộ luật Hình sự)

Sau khi đã trình bày xong những tình tiết của vụ án mà người làm chứng biết thì người làm chứng có thể ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm

Đối với người giám định, HĐXX đề nghị người giám định trình bày kết luận của mình và giải thích về vấn đề được giám định Kiểm sát viên, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa có thể nhận xét về

Trang 36

kết luận giám định Nếu xét thấy cần thiết, HĐXX có thể quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại - trường hợp này phải hoãn phiên tòa

Nếu có nhiều người giám định thì HĐXX để từng người giám định trình bày về kết luận giám định HĐXX và những người tham gia phiên tòa có thể hỏi thêm về kết luận giám định của từng người Trường hợp kết luận giám định của những người giám định khác nhau hoặc mâu thuẫn với nhau thì HĐXX không được để những người giám định với nhau tại phiân tòa về tính chính xác của kết luận giám định hoặc không được đánh giá kết luận giám định này là chính xác hơn kết luận giám định kia

Ngoài việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, HĐXX có thể kết hợp xem xét những vật chứng có liên quan đến vụ án, công

bố tài liệu có liên quan, lời khai tại Cơ quan điều tra Đây là biện pháp góp phần kiểm tra lời khai và các chứng cứ tại phiên tòa nhằm xác định rõ sự thật

vụ án, lầm cơ sở để HĐXX ra bản án Theo Điều 212 BLTTHS thì, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên tòa Nếu

là vật chứng cồng kềnh không thể đưa ra để xem xét tại phiên tòa thì HĐXX

có thể cùng Kiểm sát viên và những người tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ Trong quá trình xem xét vật chứng, Kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia phiên tòa có quyền trình bày những nhận xét của mình

về vật chứng Việc xem xét phải được lập bản và HĐXX có thể hỏi thêm về những vấn đề có liên quan đến vật chứng

Một hoạt động điều tra khác mà HĐXX có thể thực hiện trong phần xét hỏi là việc xem xét tại chỗ Nếu thấy cần thiết, HĐXX có thể cùng với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng đến nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ án Kiểm sát viên, người bào chữa và những người tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc những địa điểm khác có liên quan đến vụ

án HĐXX có thể hỏi thêm về những vấn đề có liên quan đến những địa điểm này

Trang 37

Phần xét hỏi tại phiên tòa chủ yếu thông qua hoạt động hỏi - đáp Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì HĐXX hoặc Kiểm sát viên không được nhắc hoặc công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra trước khi họ khai tại phiên tòa về những tình tiết của vụ án Nhưng trong một số trường hợp mà người được hỏi đã chết hoặc vắng mặt tại phiên tòa hoặc tuy có mặt nhưng việc khai báo có mâu thuẫn với lời khai tại Cơ quan điều tra hoặc người được hỏi không chịu khai thì HĐXX phải công bố lời khai của họ tại Cơ quan điều tra Việc quy định về công bố lời khai như trên nhằm đảm bảo việc xác định

sự thật vụ án một cách khác quan qua hoạt động xét xử tại tòa, đảm bảo nguyên tắc công khai, đảm bảo mọi chứng cứ tài liệu mà HĐXX căn cứ vào

đó để ra bản án đều đã được thẩm tra tại phiên tòa

Trong phần xét hỏi, những nhận xét, báo cáo của các cơ quan, tổ chức

về vụ án cũng được đưa ra thông qua sự trình bày của đại diện cơ quan, tổ chức đó Nếu họ không có mặt thì HĐXX sẽ công bố những tài liệu này Các tài liệu đã có trong hồ sưo vụ án hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công bố tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia phiên tòa có quyền có nhận xét về những tài liệu này và có thể hỏi thêm về những vấn đề có liên quan

Sau khi đã xem xét đầy đủ các tình tiết của vụ án, chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người khác tham gia phiên tòa xem có ai yêu cầu xét hỏi thêm vấn đề gì nữa không Nếu có người yêu cầu và chủ tọa phiên tòa xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì quyết định tiếp tục việc xét hỏi Nếu không ai yêu cầu hoặc có yêu cầu nhưng chủ tọa thấy yêu cầu đó là không cần thiết thì việc tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa và chuyển sang phần tranh luận

1.2.4 Thủ tục tranh luận tại phiên tòa

Tranh luận tại phiên tòa là giai đoạn tố tụng quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án Thông qua việc tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nghe

Trang 38

ý kiến của bị cáo, người bào chữa, đại diện VKS và những người tham gia tố tụng khác về việc đánh giá chứng cứ, nghe các lập luận buộc tội cũng như gỡ tội để giúp cho việc ra quyết định giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác Trong giai đoạn này, HĐXX không tham gia tranh luận mà chỉ điều khiển phiên tòa đảm bảo cho việc tranh luận được tiến hành khách quan, tích cực, để cho những người tham gia tố tụng trình bày đầy đủ ý kiến của mình về những nội dung liên quan đến vụ án

Mở đầu phần tranh luận là việc Kiểm sát viên trình bày bản luận tội Bản luận tội này phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác để đề nghị HĐXX quyết định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội Nếu bị cáo phạm tội thì đề nghị giải quyết về hình sự và giải quyết việc bồi thường (nếu có) như thế nào Tuy nhiên, việc đề nghị này chỉ hạn chế trong toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội danh nhẹ hơn chứ không có quyền kết luận về tội danh nặng hơn tội danh đã truy tố Nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội

Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định cụ thể về nội dung lời luận tội nên nội dung cụ thể như thế nào là phụ thuộc vào sự trình bày của Kiểm sát viên tại phiên tòa Trên thực tế, lời luận tội thường có những phần chủ yếu là: phân tích những chứng cứ buộc tội hoặc gỡ tội đối với bị cáo; nêu các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; đề nghị HĐXX áp dụng điều luật của Bộ luật Hình sự hoặc BLTTHS đối với bị cáo; đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt, mức hình phạt đối với bị cáo; đề nghị HĐXX buộc

bị cáo, bị đơn hoặc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án phải bồi thường, mức bồi thường cho người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án…

Trang 39

Theo quy định tại khoản 3 Điều 51 BLTTHS, lời luận tội cũng có thể được trình bày bởi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ nếu vụ

án được khởi tố theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, hiện nay thì chưa có cơ quan có thẩm quyền nào hướng dẫn cụ thể về việc người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày bản luận tội Thực tế thì Kiểm sát viên vẫn trình bày bản luận tội và người bị hại trình bày ý kiến bổ sung hoặc tranh luận sau

Nếu Kiểm sát viên tại phiên tòa rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về một tội danh nhẹ hơn thì HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án Nếu Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, HĐXX yêu cầu những người tham gia tố tụng tại phiên tòa trình bày ý kiến của mình về việc Kiểm sát viên rút quyết định truy tố mà không có việc tranh luận, đối đáp Sau đó, HĐXX tiến hành nghị án và tuyên án theo quy định chung

Lời luận tội của đại diện VKS (hoặc của người bị hại) là căn cứ pháp

lý để người bào chữa và những người tham gia phiên tòa tranh luận lại Ngay sau phần luận tội của Kiểm sát viên thì bị cáo được trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thì người này trình bày lời bào chữa trước và bị cáo trình bày ý kiến bổ sung Nếu có nhiều người cùng bào chữa cho một bị cáo thì chủ tọa phiên tòa yêu câu những người bào chữa thỏa thuận để cử một người trình bày lời bào chữa trước, sau đó, những người bào chữa khác bổ sung Chủ tọa phiên tòa có thể ngắt lời người bào chữa nếu nội dung bào chữa không liên quan đến vụ án, không có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo hoặc có nội dung buộc tội cho bị cáo mà mình bào chữa hoặc bị cáo khác hoặc đã trùng với ý kiến của người bào chữa trước đó đã trình bày cho cùng một bị cáo

Trường hợp bị cáo từ chối việc bào chữa thì chủ tọa phiên tòa không được buộc bị cáo phải trình bày lời bào chữa của mình

Sau khi người bào chữa, bị cáo đã trình bày lời bào chữa của mình tại

Trang 40

bày ý kiến bảo vệ quyền lợi cho đương sự mà mình nhận bảo vệ, sau đó đương sự trình bày ý kiến bổ sung Nếu đương sự không nhờ người bảo vệ quyền lợi cho mình thì họ tự trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình Đối với người bị hại, trừ trường hợp họ đã trình bày quan điểm luận tội đối với bị cáo thì họ có thể trình bày ý kiến của mình về việc buộc tội bị cáo, yêu cầu mức bồi thường

Sau khi kết thúc phần phát biểu tại phiên tòa, chủ tọa phiên tòa điều khiển việc đối đáp giữa những người tranh luận Theo quy định tại Điều 218 BLTTHS thì bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Kiểm sát viên và đưa ra đề nghị của mình Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận

So với quy định tại BLTTHS năm 1988 quy định về đối đáp (Điều 192) thì Điều 218 BLTTHS năm 2003 có nhiều sửa đổi nhằm đáp ứng yêu cầu về tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị

về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Đó là quy định chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến

đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận Nội dung sửa đổi này buộc Kiểm sát viên phải tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Việt Anh (2006), "Can thiệp vào xét xử, vụ Đồ Sơn không phải cá biệt", Báo điện tử VnExpress, ngày 3/11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can thiệp vào xét xử, vụ Đồ Sơn không phải cá biệt
Tác giả: Việt Anh
Năm: 2006
2. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp (2002), Một số gợi ý về việc tổ chức phiên tòa hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số gợi ý về việc tổ chức phiên tòa hình sự theo tinh thần Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
3. Dương Thanh Biểu (2007), "Bàn về việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm", Kiểm sát, (13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2007
4. Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Tác giả: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự 2003
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
5. Bộ Công an (2003), Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10/9 hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 15/2003/TT-BCA(V19) ngày 10/9 hướng dẫn hoạt động hỗ trợ tư pháp của lực lượng cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp thuộc công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2003
6. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Tác giả: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
7. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
8. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1988
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
9. Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003 (2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Tác giả: Bộ luật Tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2003
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
10. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề chung về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền", Trong sách: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Nguyễn Ngọc Chí (2004), "Tố tụng, tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền", Trong sách: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng, tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguyễn Ngọc Chí, "Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật", Nhà nước và pháp luật, (2), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
13. Chính phủ (2002), Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 10 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
14. Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, (TS. Nguyễn Ngọc Chí chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về vhiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về vhiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Phạm Hồng Hải (2001), "Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp", Nhà nước và pháp luật, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của Tòa án trong hệ thống các cơ quan tư pháp
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nhà nước và pháp luật
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (2003 - 2009) - Hoàn thiện thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay
Bảng 2.1 Kết quả xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (2003 - 2009) (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w