Điều 34 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về hình phạt tù chung thân như sau: "Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nh
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HẢI YẾN
HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2012
Trang 3trên thế giới
27
1.4.2 Quy định hiện hành về hình phạt tù chung thân trong luật hình
sự của một số nước trên thế giới
33
HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
38
trong luật hình sự Việt Nam
38
Trang 42.1.1 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù chung
thân thời kỳ trước năm 1945
38
2.1.2 Các quy định của luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù chung
thân thời kỳ từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước
khi có Bộ luật Hình sự năm 1985
2.2.1 Hình phạt tù chung thân theo các quy định thuộc phần chung
Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
53
2.2.2 Hình phạt tù chung thân theo các quy định thuộc Phần Các tội
phạm Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
64
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
Ở NƯỚC TA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT NÀY
Trang 5đổi bổ sung năm 2009 (tính theo cấu thành tội phạm)
65
năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tính theo điều luật)
67
năm 2009 quy định có áp dụng hình phạt tù chung thân
68
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, Nhà nước
ta đã sử dụng đồng thời nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… Trong các biện pháp đó, hình phạt giữ một vai trò rất quan trọng Nhà làm luật đã xây dựng một hệ thống hình phạt đa dạng với nội dung cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục nặng, nhẹ khác nhau, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung Hình phạt tù chung thân là một trong bảy hình phạt chính của hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành
Việc quy định hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt của Nhà nước ta tạo ra khả năng phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Hình phạt này giữ vị trí trung chuyển giữa hình phạt tù có thời hạn tối đa là 20 năm và tử hình, làm cho
hệ thống hình phạt giữ được tính thống nhất nội tại của nó Tuy vậy, thực tiễn áp dụng hình phạt tù chung thân đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được nghiên cứu để đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định liên quan đến hình phạt này nhằm nâng cao hiệu quả của nó trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trong bối cảnh hội nhập, mở rộng hợp tác giao lưu quốc tế, Đảng ta
có quan điểm, chủ trương mới về cải cách tư pháp:
Công tác tư pháp phải ngăn ngừa có hiệu quả và xử lý kịp thời, nghiêm minh các loại tội phạm hình sự, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm nhũng và các loại tội phạm có tổ chức; bảo vệ trật tự kỷ cương; bảo đảm và tôn trọng quyền dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân [10, tr 3];
Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
Trang 7thống pháp luật Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội …Quy định trách nhiệm hình
sự nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội [11, tr 42]
Để thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương của Đảng, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về hình phạt nói chung và hình phạt tù chung thân nói riêng phản ánh những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa Trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung cho phù hợp cũng như có những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả áp dụng chúng
Với những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: "Hình phạt tù chung thân
trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn tốt nghiệp
Song song với xu hướng xóa bỏ hình phạt tử hình trên thế giới trong những thập kỷ gần đây, hình phạt tù chung thân cũng được đưa ra nghiên cứu với tư cách là hình phạt lựa chọn thay thế cho hình phạt tử hình Trung tâm nghiên cứu về hình phạt tử hình, Trường Luật, Đại học Westminster (Vương quốc Anh) đang nghiên cứu về các hình phạt thay thế hình phạt tử hình trong
Trang 8các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu Âu đưa ra sự mâu thuẫn trong bản thân thuật ngữ "tù chung thân" giữa các quốc gia thành viên của Hội đồng Châu âu: sự mâu thuẫn thể hiện ở quy định về thời hạn áp dụng hình phạt tù chung thân Một số các quốc gia lựa chọn hình thức tù chung thân có thể được
ân giảm, còn có một số các quốc gia lại lựa chọn hình phạt tù chung thân suốt đời (không được ân giảm) là hình phạt thay thế cho hình phạt tử hình
Ở Anh cũng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề hình phạt tù
chung thân - chế tài thay thế hình phạt tử hình: Nigel Walker, "Tội phạm và hình phạt ở Anh", Nhà xuất bản Đại học Edinburgh, 1965; Giáo sư Dirk Van Zyl Smit, bài viết "Thi hành hình phạt tù chung thân nghiêm khắc trong pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế"; Hội đồng tư vấn về hệ thống hình sự, "Các hình phạt tù: xem xét các hình phạt tối đa", HMSO, London, 1978; "Báo cáo của Ủy ban đặc biệt thuộc Thượng viện về tội giết người và án phạt tù chung thân", (HL paper 78), HMSO, London, 1989; "Kết án chung thân: cải cách pháp luật và thủ tục đối với những người bị kết án tù chung thân", Tạp chí Tư pháp, 1996; Nicola Padfield, "Trên cả thuế quan - quyền con người và phóng thích tù nhân án chung thân", NXB Willan, Devon, 2002; "Những tù nhân án chung thân - Xem xét liên chủ đề bởi cơ quan điều tra nhà nước về nhà tù và trại giam", 1999, http://WWW.homeoffice.gov.uk/docs/lifers1.html; Nicola Padfield, Alison Liebling với Helen Arnold, "Khảo sát việc ra quyết định án chung thân theo quyền tự quyết của Hội đồng xét xử", Nghiên cứu của Văn phòng Bộ Nội vụ, 2000; Andrew Coyle (Giáo sư Đại học London), "Về quản
lý tù nhân tù chung thân và tù dài hạn trên thế giới trong bối cảnh quyền con người"; Roger Hood và Stephen Shute với Aidan Wilcox, "Hệ thống ân giảm thực tế: nghiên cứu việc ra quyết định dựa trên rủi ro", Nghiên cứu lý thuyết,
số 202, 2000; Nicola Padfield, Alison Liebling với Helen Arnold, "Tìm hiểu việc ra quyết định ở các Ban ân giảm đối với người bị kết án tù chung thân",
Nghiên cứu lý thuyết, số 213, 2000
Mỹ là một trong số ít các quốc gia áp dụng hình phạt tù chung thân
Trang 9không được ân giảm Mỹ đã phải bỏ ra một khoản khổng lồ trong ngân sách quốc gia để đáp ứng yêu cầu giam giữ những phạm nhân bị kết án tù chung thân đang ngày càng già đi và những chi phí để xét ân giảm Nhìn thấy thực trạng như vậy, các nhà bình luận ở Mỹ đã có một số các nghiên cứu có giá trị
để đánh giá về quá trình ra quyết định của các hội đồng xét ân giảm đối với người bị kết án tù chung thân như: James Marquart và Jonathan Sorensen,
"Nghiên cứu quốc gia về người phạm tội được áp dụng hình phạt thay thế", Nhà xuất bản Đại học Oxford, 1997
Như vậy, ở những quốc gia đã xóa bỏ hoàn toàn hình phạt tử hình, có rất nhiều nghiên cứu xoay quanh vấn đề áp dụng hình phạt tù chung thân như thế nào đối với những người phạm tội có khung hình phạt tử hình: Áp dụng hình phạt tù chung thân được ân giảm hay áp dụng hình phạt tù chung thân suốt đời, áp dụng loại nào vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa ngăn ngừa họ phạm tội mới, lại vừa mang tính nhân đạo sâu sắc; và có nên áp dụng các hình thức chế tài bổ sung khi áp dụng hình phạt tù chung thân thay cho hình phạt
tử hình hay không; điều kiện để tù nhân tù chung thân được xét ân giảm thời hạn chấp hành hình phạt như thế nào cho phù hợp Cũng có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề cách đối xử với người bị thi hành hình phạt tù chung thân và những quyền mà tù nhân tù chung thân nhất thiết phải được bảo đảm Về vấn
đề này, trong Báo cáo của Ngành tư pháp hình sự của Liên hợp quốc năm
1996 cũng đưa ra những khuyến nghị về hình phạt tù chung thân; Hội đồng Châu âu cũng có những hướng dẫn về việc quản lý những phạm nhân tù chung thân và dài hạn
Trang 10hình sự và tố tụng hình sự" của tập thể tác giả do Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc chủ biên; Luận án tiến sĩ Luật học "Các hình phạt chính trong Luật hình sự Việt Nam" của Tiến sĩ Nguyễn Sơn; Luận văn Thạc sĩ Luật học
"Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Văn Vĩnh;
"Hệ thống hình phạt trong Luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" của Đặng Đức Thạo Ngoài ra còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về vấn đề này như: "Hình phạt: một số vấn đề lý luận" của Nguyễn Mạnh Kháng, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10/2000; "Bàn về bản chất và chức năng của hình phạt" của Nguyễn Sơn, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2002; "Một số điểm mới của Bộ luật Hình sự 1999 về hình phạt và quyết định hình phạt" của Đinh Văn Quế, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 02/2001; "Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự về hệ thống hình phạt
và quyết định hình phạt" của Phạm Mạnh Hùng, Tạp chí Kiểm sát số 4/2001
Nhìn chung, các công trình đó đã nghiên cứu một cách tổng quát, khái quát về những vấn đề chung của hình phạt và hệ thống hình phạt hoặc về một loại hình phạt nào đó dưới góc độ của luật hình sự thực định Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử hình phạt tù chung thân cả trên phương diện luật thực định và thực tiễn áp dụng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những nội dung cơ bản về hình phạt tù chung thân (về lý luận, về lịch sử, về so sánh, về xã hội học), từ
đó đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù chung thân trong Luật hình sự Việt Nam
Xuất phát từ mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ cơ bản sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề chung về hình phạt tù chung thân trong Luật hình sự Việt Nam: Khái niệm, đặc điểm, lịch sử phát triển, phân biệt với các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt;
- Đưa ra quy định về hình phạt tù chung thân trong pháp luật một số
Trang 11nước trên thế giới;
- Phân tích những quy định về hình phạt tù chung thân trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng hình phạt này;
- Phân tích những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong áp dụng hình phạt tù chung thân và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hình phạt này
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài này là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về đấu tranh phòng, chống tội phạm
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là: Phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp logic, phương pháp tổng hợp
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hình phạt tù chung thân
Chương 2: Hình phạt tù chung thân trong pháp luật hình sự Việt Nam
hiện hành
Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tù chung thân ở nước ta và
một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù chung thân
Trang 12Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
1.1.1 Khái niệm hình phạt tù chung thân
Hình phạt tù chung thân là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt, nên khái niệm hình phạt nói chung bao trùm cả khái niệm hình phạt
tù chung thân Do vậy, muốn hiểu rõ được khái niệm hình phạt tù chung thân, trước hết chúng ta phải nghiên cứu thế nào là hình phạt
Hệ thống pháp luật là một chỉnh thể thống nhất cấu thành bởi các ngành luật khác nhau Gắn liền với các ngành luật đó là những biện pháp trách nhiệm pháp lý khác nhau và những chế tài cụ thể khác nhau Gắn liền với ngành luật hình sự là biện pháp trách nhiệm hình sự và chế tài cụ thể để thực hiện trách nhiệm hình sự là hình phạt Hình phạt là biện pháp cưỡng chế đặc thù của luật hình sự được áp dụng đối với người thực hiện tội phạm Lần đầu tiên trong lịch
sử lập pháp khái niệm về hình phạt được quy định rõ ràng, cụ thể trong Bộ luật Hình sự năm 1999 Trước khi khái niệm về hình phạt được quy định chính thức trong Bộ luật Hình sự, thì khái niệm về hình phạt chỉ được nghiên cứu như là một khái niệm có tính chất khoa học trên các tạp chí khoa học, tạp chí chuyên ngành hoặc trong các giáo trình của các trường đại học Việc Bộ luật Hình sự năm 1999 dành một điều quy định khái niệm về hình phạt là một bước tiến trong công tác lập pháp Khái niệm hình phạt quy định tại Điều 26
Bộ luật Hình sự đã nêu đầy đủ nội dung, bản chất của hình phạt: "Hình phạt
là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định" [33] Khái niệm này là sự tiếp thu
những kết quả nghiên cứu về hình phạt trong lý luận luật hình sự nước ta Hiện nay, giới luật học Việt Nam về cơ bản đều thống nhất với khái niệm này
Trang 13Điều 34 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về hình phạt tù chung thân như sau: "Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử
hình" [33]
Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích thiết thân của người bị kết án Người bị kết án sẽ bị giam giữ trong trại giam, nơi có chế độ giam giữ và cải tạo rất chặt chẽ và nghiêm khắc Có nghĩa là, tù chung thân là hình phạt tước đi quyền tự do của người bị kết án đến hết đời, cách ly họ vĩnh viễn khỏi môi trường sống bình thường, hay có thể gọi là tù suốt đời
Theo Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự hiện hành, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là trên 15 năm
tù, tù chung thân hoặc tử hình Tù chung thân được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có thể hiểu là những trường hợp tội phạm xâm hại đến những khách thể rất quan trọng của pháp luật hình
sự, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi người phạm tội rất lớn, việc thực hiện tội phạm gây ra hậu quả đặc biệt lớn về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sở hữu tài sản
Trên cơ sở Khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự, Điều 26 Bộ luật Hình sự, Điều 34 Bộ luật Hình sự, có thể đưa ra khái niệm hình phạt tù chung thân như
sau: Tù chung thân là hình phạt tù tước quyền tự do của người bị kết án đến hết đời, được áp dụng đối với người phạm tội có tính nguy hiểm đặc biệt lớn cho xã hội, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình
1.1.2 Đặc điểm của hình phạt tù chung thân
* Đặc điểm chung:
Với tư cách là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt, Hình phạt
tù chung thân có đầy đủ những đặc điểm chung của hình phạt như sau:
Trang 14Một là, hình phạt tù chung thân là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước
Cưỡng chế là thuộc tính của pháp luật nói chung V.I.Lênin đã từng nói: "Pháp luật không có gì hết, nếu thiếu bộ máy bảo đảm cưỡng chế sự tuân theo các quy định của pháp luật" [19] Trong đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời Tính cưỡng chế của hình phạt là dùng quyền lực nhà nước bắt phải tuân theo Tức là, hình phạt được bảo đảm bằng
nhà nước đều sử dụng hình phạt như là biện pháp cưỡng chế để điều chỉnh các quan hệ xã hội và áp dụng các biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc đối với những cá nhân có hành vi gây nguy hiểm cho sự tồn tại của xã hội
Tính nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân thể hiện ở chỗ, khi được áp dụng hình phạt có thể tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích thiết thân nhất của người bị kết án đến hết đời, như quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu…; gây nên những tổn hại về thể chất, vật chất và tinh thần không chỉ cho người bị kết án mà còn cho gia đình, những người thân thích của họ Với tư cách là hình phạt hình sự, bất kể nặng hay nhẹ đều dẫn tới hậu quả pháp lý chung là làm cho người bị kết án phải mang án tích trong một thời hạn nhất định Án tích là hậu quả tất yếu của hình phạt nói chung và của hình phạt tù chung thân nói riêng Đó là dấu hiệu pháp lý rất đặc trưng của hình phạt, án tích có thể làm cho người bị kết án chịu một số hạn chế nhất định Và "tình tiết có án tích sẽ là đặc điểm về nhân thân bất lợi cho người có đặc điểm đó trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành
vi phạm pháp hay phạm tội" [14, tr 27]
Hai là, Hình phạt tù chung thân gắn liền với tội phạm
Với tính chất là một dạng của trách nhiệm hình sự và một hình thức để thực hiện trách nhiệm hình sự, hình phạt chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc
Trang 15phạm tội Không có tội phạm thì không thể có hình phạt Hình phạt là hậu quả pháp lý của hành vi phạm tội, là thước đo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Như vậy, giữa tội phạm và hình phạt có mối quan hệ nhân - quả Quan niệm như thế nào về tội phạm thì sẽ có quan niệm tương ứng về hình phạt Tội phạm và hình phạt có mối quan hệ biện chứng với nhau, người nào thực hiện tội phạm mới phải chịu hình phạt và ngược lại hình phạt chỉ áp dụng với người thực hiện tội phạm Tội phạm càng nghiêm trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc Sự cân đối giữa hình phạt với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm tạo cơ sở để áp dụng luật hình sự một cách hợp lý, công bằng và có hiệu quả
Ba là, hình phạt tù chung thân được quy định trong Luật Hình sự
Trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, Luật hình sự của nước
ta chưa đầy đủ, nên nhiều hành vi có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đáng kể cần phải xử lý về hình sự nhưng chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự và cũng chưa có điều kiện bổ sung pháp luật hình
sự một cách kịp thời, Nhà nước đã cho phép Tòa án áp dụng pháp luật tương
tự để xét xử những người thực hiện hành vi ấy Ví dụ như: Pháp lệnh ngày 30/7/1967 về trừng trị các tội phản cách mạng quy định: "Đối với những tội phản cách mạng chưa nêu trong pháp lệnh này thì áp dụng những điều về tội phạm tương tự trong Pháp lệnh này mà xét xử" Hai pháp lệnh cùng ngày 21/10/1970 về trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa và về trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân cũng quy định như vậy Nhược điểm của nguyên tắc này là có khả năng dẫn đến sự tùy tiện trong công tác điều tra, truy tố, xét xử Trong các công tác này, sự tùy tiện có thể có hại trên cả hai mặt: hoặc không bảo vệ đúng đắn lợi ích của nhà nước, của tập thể; hoặc vi phạm các quyền tự do dân chủ của nhân dân Vì vậy, sau các lần pháp điển hóa, Pháp luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với những hành vi không được quy định trong Bộ luật Hình sự là tội phạm
Trang 16và nếu hình phạt ấy cũng không được quy định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của điều luật cụ thể Quy định này đã khẳng định không
áp dụng pháp luật tương tự trong luật hình sự Và đây là một yêu cầu nghiêm khắc của nguyên tắc pháp chế, bảo đảm cho pháp luật hình sự được áp dụng thống nhất
Chỉ có Bộ luật Hình sự mới được quy định hệ thống hình phạt hình sự; nội dung, phạm vi, điều kiện cho phép áp dụng từng loại hình phạt cũng như khung hình phạt của từng tội phạm cụ thể Hiện nay, văn bản luật duy nhất quy định các loại hình phạt là Bô luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Bộ luật Hình sự hiện hành)
Trong Bộ luật Hình sự, hình phạt tù chung thân được quy định ở cả phần chung và phần các tội phạm Ở phần chung, Điều 34 quy định hình phạt
tù chung thân với tư cách là hình phạt chính với nội dung: đưa ra khái niệm hình phạt tù chung thân, các trường hợp được áp dụng và không được áp dụng hình phạt tù chung thân Ở phần các tội phạm, hình phạt tù chung thân được quy định là chế tài lựa chọn kèm theo các tội phạm cụ thể; được quy định chủ yếu trong các chương về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; các tội đặc biệt nghiêm trọng trong các chương xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về ma túy; các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; các tội phạm về chức vụ và các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân Theo Bộ luật Hình sự hiện hành, hình phạt tù chung thân được quy định tại 58/272 điều luật quy định về tội phạm
Bốn là, Hình phạt tù chung thân do tòa án áp dụng đối với người bị kết án
Trong lĩnh vực hình sự, việc giải quyết vụ án phải thông qua các giai đoạn tố tụng hình sự được quy định rất chặt chẽ, nghiêm ngặt trong Bộ luật
Trang 17Tố tụng hình sự Việt Nam Toàn bộ quá trình tố tụng hình sự đều do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện: Ở giai đoạn điều tra, do cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra tội phạm dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát; ở giai đoạn truy tố, do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, thay mặt Nhà nước truy tố bị can và buộc tội bị cáo trước tòa; ở giai đoạn xét xử, Tòa
án là cơ quan xét xử của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 127, Hiến pháp năm 1992) Chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính (Điều 1, Luật Tổ chức Tòa án năm 2002) Chỉ có tòa án mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có tội hay không có tội, có phải chịu hình phạt hay không và nếu phải chịu thì loại và mức hình phạt cụ thể được
áp dụng như thế nào (Điều 26 Bộ luật Hình sự) Hình phạt do tòa án quyết định phải được tuyên bằng một bản án trong một phiên tòa xét xử công khai theo trình tự, thủ tục do Luật tố tụng hình sự quy định Tòa án có toàn quyền xét xử và quyết định hình phạt độc lập không lệ thuộc vào bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước thông qua việc xét xử
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tôn trọng, tự do tính mạng, tài sản, danh dự nhân phẩm của công dân… góp phần giáo dục công dân tôn trọng và chấp hành pháp luật trong cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm
Năm là, Hình phạt tù chung thân chỉ được áp dụng đối với cá nhân người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm
Khác với Luật hình sự một số nước trên thế giới (như Anh, Mỹ, Pháp,
Hà Lan, Bỉ, Nhật, Trung Quốc…) có quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, theo Luật Hình sự Việt Nam thì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm hình
sự cá nhân Vì vậy, hình phạt nói chung và hình phạt tù chung thân nói riêng chỉ
có thể áp dụng đối với chính người có hành vi phạm tội, chứ không được phép
áp dụng với các thành viên trong gia đình hoặc đối với những người thân thiết khác của người phạm tội, ngay cả trong những trường hợp người phạm tội lẩn
Trang 18tránh hình phạt Tòa án không được áp dụng hình phạt đối với pháp nhân hoặc
tổ chức, vì luật hình sự Việt Nam không thừa nhận pháp nhân hoặc tổ chức là chủ thể của tội phạm Dấu hiệu này nói lên tính chất cá nhân của hình phạt
* Đặc điểm riêng:
Là công cụ bảo đảm cho Luật Hình sự thực hiện được nhiệm vụ bảo
vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm, bên cạnh những đặc điểm chung, hình phạt tù chung thân có những đặc điểm riêng vốn có của nó Cụ thể là:
Một là, mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt chỉ đứng sau hình phạt tử hình:
Hình phạt tù chung thân là hình phạt có khả năng tước đoạt tự do đến hết đời, bị cách ly vĩnh viễn khỏi môi trường sống bình thường Có nghĩa là, người bị kết án có thể phải sống phần đời còn lại của mình trong trại giam, toàn bộ hoạt động của người bị thi hành án tù chung thân đều bị kiểm soát chặt chẽ và phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật: lao động, học tập, các sinh hoạt cá nhân, công việc hàng ngày, chế độ ăn, ngủ… Hình phạt này giữ vị trí trung chuyển giữa hình phạt tù có thời hạn tối đa là 20 năm và hình phạt tử hình, làm cho hệ thống hình phạt giữ được tính thống nhất nội tại của nó; tạo ra khả năng phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Tù chung thân chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình Theo thực tiễn xét xử, đó là những trường hợp phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sở hữu tài sản và có nhiều tình tiết tăng nặng đáng kể Thông thường hình phạt này được áp dụng đối với những trường hợp mà nếu áp dụng hình phạt tù có thời hạn đến hai mươi năm tù thì vẫn còn nhẹ nhưng nếu phạt tử hình thì chưa thật cần thiết
Mục đích của hình phạt tù chung thân cũng giống như mục đích của hình phạt nói chung, là mục đích cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt
Trang 19được khi áp dụng hình phạt Đó là mục đích: bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm (gồm phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng) Giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn chặn người phạm tội tái phạm, được gọi là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt Đối với người bị kết án, sau khi trải qua sự mong manh giữa sự sống và cái chết, họ sẽ cảm thấy quý trọng cuộc sống của mình hơn, yêu tự do, và sẽ quyết tâm cải tạo tốt
để trở thành người có ích cho xã hội Từ đó, Họ có ý thức tuân theo pháp luật
và các quy tắc của cuộc sống xã hội, không phạm tội mới Như vậy, mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt tù chung thân đã đạt được Mục đích phòng ngừa chung thể hiện rất rõ ràng, mạnh mẽ qua loại hình phạt này Hình phạt tù chung thân khi được áp dụng không chỉ tác động trực tiếp đến người bị kết án
mà còn tác động mạnh và gây ảnh hưởng rộng lớn đến các thành viên khác trong xã hội, giáo dục các thành viên khác trong xã hội nâng cao ý thức pháp luật, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Hai là, hình phạt tù chung thân là hình phạt duy nhất trong hệ thống hình phạt có thể thay thế hình phạt tử hình:
Trong pháp luật hình sự nước ta, ranh giới về điều kiện áp dụng giữa hình phạt tù chung thân hoặc tử hình là không rõ ràng, rành mạch, bởi vậy, tòa
án khi xét xử cần phải xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác
để đảm bảo khi áp dụng đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung "Khi cân nhắc giữa hình phạt tử hình và hình phạt tù chung thân mà cảm thấy băn khoăn không biết nên áp dụng hình phạt nào thì cương quyết không áp dụng hình phạt tử hình mà áp dụng hình phạt tù chung thân" [29, tr 192] Điều 35 Bộ luật Hình sự quy định: "Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân" Chế định ân giảm án tử hình theo Luật Hình sự Việt Nam thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với mọi công dân; thể hiện sự bao dung của Nhà nước và xã hội đối với người bị kết án
Trang 20Ba là, hình phạt tù chung thân không có tính linh hoạt trong áp dụng:
Hình phạt tù chung thân không có nhiều mức độ để Tòa án có thể lượng hóa khi áp dụng đối với từng tội phạm với mức nguy hiểm cho xã hội khác nhau Ví dụ như, đối với hình phạt tù có thời hạn, tòa án có thể lựa chọn mức từ 3 tháng đến 20 năm tù Hoặc đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, tùy theo tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, tòa án có thể lựa chọn mức từ 3 tháng đến 3 năm Hình phạt tù chung thân chỉ chứa đựng duy nhất một mức độ không thể tăng lên hay giảm xuống để áp dụng cho mọi trường hợp phạm tội đáng phải bị áp dụng loại hình phạt này
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN
Điều 27 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định:
Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa
họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [33] Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự, vấn đề mục đích của hình phạt vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau chưa thống nhất Nhìn chung, có thể thấy sự khác nhau căn bản của các quan điểm đó thể hiện cụ thể như sau: 1) Phần lớn các nhà luật học cho rằng mục đích của hình phạt là giáo dục, cải tạo người phạm tội để họ trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật Còn trừng trị chỉ là thuộc tính, là nội dung, là biện pháp để đạt mục đích giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm 2) Một số tác giả khác lại cho rằng mục đích của hình phạt bao gồm hai yếu tố: trừng trị và giáo dục, cải tạo 3) Có tác giả lại cho rằng, từ góc độ hình sự và tội phạm học
có thể phân chia mục đích của hình phạt thành các loại sau: một là, cải tạo, giáo dục phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung (mục đích trực tiếp); hai là,
Trang 21loại trừ nguyên nhân và điều kiện phạm tội (mục đích trung gian); ba là, loại
coi hình phạt là một công cụ của giai cấp thống trị dùng để đấu tranh với tội phạm Tính chất giai cấp của hình phạt thể hiện ở chỗ nó bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp thống trị Nội dung giai cấp và mức độ trừng trị của hình phạt
ở mỗi chế độ khác nhau được Nhà nước quy định không giống nhau Điều này phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý và truyền thống của mỗi nước, mỗi dân tộc
Trong các xã hội bóc lột, hình phạt được giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình Họ coi hình phạt là công
cụ trả thù người phạm tội Trừng trị là một trong những mục đích quan trọng của hình phạt Tính chất trừng trị của các hình phạt trong xã hội này rất hà khắc Thể hiện ở những quy định áp dụng các hình phạt rất tàn khốc như là chém đầu, tùng xẻo, phanh thây…, những hình phạt không những đánh vào thân thể, nhân phẩm, danh dự của người phạm tội mà còn đánh vào cả những người thân thích của họ
Ở nước ta, hình phạt được quy định và áp dụng để bảo vệ chế độ chính trị, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm (Điều 1 Bộ luật Hình sự) Hình phạt trong Luật Hình sự nước ta thể
Trang 22hiện bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, giá trị nhân văn và khả năng cải tạo, giáo dục con người của xã hội mới ngay cả khi họ đã lầm lạc - có hành vi phạm tội
Nếu coi trừng trị là mục đích của hình phạt thì sẽ thừa nhận hình phạt
là công cụ trả thù người phạm tội Hiểu như vậy đã hoàn toàn trái với nguyên tắc nhân đạo của Luật hình sự nước ta Hơn nữa, nếu quá tập trung đến việc buộc người phạm tội phải trả giá cho những gì mà người phạm tội đã làm thì hình phạt sẽ không có tác dụng định hướng cho hành vi của người phạm tội cũng như của cả cộng đồng trong tương lai Việc trừng phạt người phạm tội trong trường hợp này sẽ không mang lai lợi ích cho xã hội, cái giá mà người phạm tội phải trả cũng chuyển cho Nhà nước chứ không phải người bị hại, bởi
vì quyền trừng phạt thuộc về Nhà nước Do vậy, chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam không có mục đích trừng trị Trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện hình phạt Với nội dung là sự tước bỏ, hạn chế nhất định về quyền và lợi ích của người phạm tội theo quy định của pháp luật, hình phạt bản thân là sự trừng phạt của Nhà nước đối với người phạm tội
Như vậy, trừng trị cũng là nội dung không thể thiếu được của hình phạt tù chung thân Khi xác định hiệu quả của hình phạt tù chung thân hay một loại hình phạt nào đó, yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá được khả năng trừng trị của nó Nếu không có trừng trị thì không có hình phạt Nó là tiền đề quan trọng để đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm
Còn nếu coi giáo dục, cải tạo người phạm tội là mục đích duy nhất của hình phạt thì chúng ta sẽ không thể lý giải được vì sao trong hệ thống hình phạt lại có hình phạt tử hình- loại hình phạt triệt tiêu mọi khả năng cải tạo, giáo dục người phạm tội Và tại sao đối với các tội phạm do vô ý, vẫn bị áp dụng những hình phạt rất nghiêm khắc Hơn nữa, nếu đặt vấn đề như vậy thì căn cứ quan trọng nhất để quyết định hình phạt phải là nhân thân người phạm
Trang 23tội chứ không phải tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Theo logic hình thức, chúng ta cũng có thể thấy rằng, trong "cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội…" thì cải tạo, giáo dục là biện pháp tác động, còn mục đích là thành người có ích cho xã hội Như vậy, cải tạo, giáo dục người phạm tội cũng không phải là mục đích cuối cùng của hình phạt
Như vậy, cả trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội đều không phải là mục đích của hình phạt mà nó vừa là nội dung, vừa là thuộc tính, vừa
là phương thức thực hiện hình phạt Mục đích của hình phạt là mục đích cuối cùng mà Nhà nước mong muốn đạt được khi quy trách nhiệm hình sự đối với tội phạm và áp dụng hình phạt đối với cá nhân người phạm tội Để tìm hiểu mục đích cuối cùng của hình phạt, chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với vai trò xã hội của hình phạt
Do hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế Nhà nước, nên hình phạt giữ vai trò bảo đảm các điều kiện cần thiết mà trước hết là trật tự xã hội, có nghĩa là phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, lập lại trật tự
xã hội bị vi phạm, lập lại công bằng xã hội, để xã hội tồn tại và phát triển Trong trường hợp này, trật tự công bằng xã hội chỉ có thể được lập lại khi Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội một chế tài tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Chính vì vậy mà nội dung của các chế tài hình phạt bao giờ cũng là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội Vai trò này của hình phạt đã xác định mục đích mà nó nhằm đạt đến là bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm Đó chính
là mục đích cuối cùng của hình phạt nói chung cũng như hình phạt tù chung thân nói riêng Còn trừng trị và cải tạo với tính cách là phương thức thực hiện hình phạt tù chung thân, chính là biện pháp, phương thức để hình phạt tù chung thân đạt được mục đích của mình
Trang 24Công bằng xã hội chẳng những cho phép mà còn đòi hỏi hình phạt phải có tính trừng trị, và phải trừng trị đích đáng, xử phạt nghiêm minh những người vi phạm điều kiện tồn tại của xã hội
Công bằng đòi hỏi phải có sự kết hợp yếu tố trừng trị (cưỡng chế) và yếu tố giáo dục, cải tạo (thuyết phục) ở những mức
độ, liều lượng khác nhau khi quy định các hình phạt khác nhau đối với những tội phạm có những mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội Nhưng trong mọi trường hợp, để bảo đảm công bằng cần tăng cường nội dung trừng trị của hình phạt đối với những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng [54]
Công bằng xã hội đã lý giải vì sao trong hệ thống hình phạt tồn tại những loại hình phạt khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng Khi quyết định hình phạt, nếu áp dụng hình phạt quá nặng thì sẽ không phù hợp với nguyên tắc công bằng và nhân đạo, dẫn đến sự mất lòng tin của người dân vào tính công minh của pháp luật và triệt tiêu sự nỗ lực phấn đấu cải tạo, giáo dục của người phạm tội Còn nếu áp dụng hình phạt quá nhẹ, sẽ dẫn đến tình trạng coi thường
sự uy nghiêm của pháp luật, dẫn đến việc tái phạm, tái phạm nguy hiểm thường xuyên diễn ra Bàn về vấn đề này V.I.Lênin đã viết: "Tác dụng phòng ngừa của hình phạt hoàn toàn không phải ở chỗ là hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ là
đã phạm tội thì không thoát bị trừng phạt Điều quan trọng không phải ở chỗ
là tội phạm bị trừng phạt nặng, mà ở chỗ là không một tội phạm nào không
bị phát hiện ra" Ở đây Lênin đã nhấn mạnh hiệu quả cải tạo, giáo dục của hình phạt phụ thuộc vào khả năng bảo đảm công bằng xã hội của nó
Mục đích quan trọng nhất mà người áp dụng hình phạt muốn hướng tới là phòng ngừa tội phạm Phòng ngừa ở đây gồm cả phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung Giáo dục, cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn chặn người phạm tội tái phạm, được gọi là mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt Hình phạt khi được áp dụng không chỉ tác động trực tiếp đến người
Trang 25phạm tội mà nó còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong xã hội, giáo dục các thành viên khác trong xã hội nâng cao ý thức pháp luật, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, được gọi là phòng ngừa chung Khi đó, sẽ làm cho mọi người hiểu rằng, hình phạt chính là hậu quả
mà kẻ phạm tội phải gánh chịu khi thực hiện hành vi phạm tội
1.3 PHÂN BIỆT HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN VỚI CÁC HÌNH PHẠT CHÍNH KHÁC
Trong xã hội, tội phạm diễn ra rất đa dạng và phong phú với tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Vì vậy, xuất phát từ yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, đòi hỏi phải có sự đa dạng, phong phú và cân đối về các loại hình phạt với mức độ cưỡng chế nặng, nhẹ khác nhau Sự cân đối giữa hình phạt với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm là cơ sở
để áp dụng luật hình sự một cách hợp lý, công bằng và có hiệu quả
Hệ thống hình phạt của nước ta có nội dung rất rõ ràng, kết hợp hài hòa các yếu tố cưỡng chế và thuyết phục Bộ luật Hình sự hiện hành không quy định
cụ thể khái niệm hệ thống hình phạt Trong khoa học luật hình sự, phần lớn các nhà khoa học pháp lý đều cho rằng: hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt do Nhà nước quy định trong luật hình sự có sự liên kết chặt chẽ với nhau theo một trật tự nhất định do tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt quy định
Điều 28 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định hệ thống hình phạt gồm
có bảy hình phạt chính và bảy hình phạt bổ sung, trong đó có hai hình phạt: Hình phạt tiền, hình phạt trục xuất được quy định có thể áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung tuy theo điều luật cụ thể quy định
- Các hình phạt chính gồm có: Cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tử hình
- Các hình phạt bổ sung gồm có: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền và trục xuất
Trang 26Đối với mỗi tội phạm, hình phạt chính được áp dụng độc lập, hình phạt bổ sung được áp dụng kèm theo hình phạt chính có tác dụng bổ trợ cho hình phạt chính góp phần nâng cao hiệu quả của hình phạt
Từ điều 29 đến điều 40 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng nội dung, phạm vi áp dụng, đối tượng áp dụng, giới hạn áp dụng cho mỗi loại hình phạt có sự phân định giữa các hình phạt liền kề
Các hình phạt chính trong hệ thống hình phạt được sắp xếp theo trình
tự tăng dần về tính nghiêm khắc Sự sắp xếp này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn thể hiện hệ thống hình phạt là những thước đo, những biện pháp phản ứng thống nhất của Nhà nước đối với tội phạm theo mức độ nghiêm khắc của chúng Xét về khía cạnh pháp lý, trình tự này cho phép đánh giá đúng đắn tính chất nặng nhẹ của từng loại hình phạt, tạo điều kiện giúp tòa án
áp dụng đúng theo quy định của pháp luật
Hình phạt tù chung thân là một loại hình phạt chính trong hệ thống hình phạt.Với trình tự sắp xếp thứ tự các hình phạt chính từ nhẹ đến nặng, hình phạt này đứng vị trí thứ sáu trong bảy loại hình phạt chính Điều này cho thấy mức độ nghiêm khắc của hình phạt tù chung thân hơn hẳn năm loại hình phạt đứng trước nó và chỉ đứng sau hình phạt tử hình Như vậy, chúng ta dễ dàng có thể phân biệt hình phạt tù chung thân với các loại hình phạt khác trong hệ thống hình phạt
1.3.1 Phân biệt hình phạt tù chung thân và hình phạt tù có thời hạn
Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định Tù có thời hạn đối với người phạm tội
có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm (Điều 33 Bộ luật Hình sự)
Từ quy định tại Điều 33 Bộ luật Hình sự ta thấy, về thực chất tù có thời hạn là cách ly người bị kết án ra khỏi môi trường xã hội bình thường để
Trang 27giáo dục và cải tạo họ Điều 33 Bộ luật Hình sự quy định thời gian tù tối thiểu
là 3 tháng, thời hạn tù tối đa là 20 năm
Như vậy, thời hạn chấp hành hình phạt là một cơ sở quan trọng để phân biệt hình phạt này với hình phạt tù chung thân; là thước đo để so sánh về mức độ nghiêm khắc giữa hai loại hình phạt này Từ quy định về "thời hạn" của hình phạt tù có thời hạn và từ vị trí của hai loại hình phạt này trong hệ thống hình phạt, chúng ta có thể khẳng định hình phạt tù chung thân là một loại hình phạt nghiêm khắc hơn hình phạt tù có thời hạn Trong các hình phạt chính, hình phạt tù có thời hạn là hình phạt "đệm" để thay thế hình phạt tù chung thân trong trường hợp người bị kết án được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt khi có điều kiện nhất định
Thực tiễn xét xử cho thấy, sự thận trọng trong việc lựa chọn giữa 20 năm tù và hình phạt tù chung thân khi quyết định hình phạt của các thẩm phán
là rất cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hình phạt, đặc biệt là mức độ giáo dục, cải tạo người bị kết án Bởi lẽ, tù giam là cách ly và hạn chế
tự do đối với người bị kết án Nhưng việc hạn chế quá lâu các chức năng xã hội bình thường của một con người làm tê liệt, làm lãng quên các thói quen xã hội có ích ở họ như học tập, quan hệ gia đình (cha con, mẹ con, vợ chồng), quan hệ bạn bè, nghề nghiệp… Và về sau việc khôi phục các quan hệ đó là cả một sự khó khăn lớn
Nói đến hình phạt nói chung, cũng như hình phạt tù nói riêng, sự quy định hình phạt trong các chế tài của các điều luật cụ thể cũng nói lên cường
độ sử dụng của nó và đồng thời nói lên tính chất của chính sách hình sự của Nhà nước Ở khía cạnh này, chúng ta có thể đưa ra nhận xét để phân biệt giữa hai loại hình phạt tù là: Tù có thời hạn "có mặt" ở tất cả các chế tài và con số những chế tài lựa chọn là rất ít Còn hình phạt tù chung thân chỉ "có mặt" ở một số các chế tài và thường là những chế tài lựa chọn giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình Trong Luật Hình sự Việt Nam, Tù có thời
Trang 28hạn là hình phạt truyền thống và có lịch sử lâu đời, là hình phạt chính được quy định phổ biến trong các chế tài của Luật hình sự Trong thực tiễn xét xử,
tù có thời hạn là hình phạt được áp dụng phổ biến và được Nhà nước coi là loại hình phạt hữu hiệu nhất để đấu tranh với các loại tội phạm
Đối tượng áp dụng cũng là một cơ sở để phân biệt hai loại hình phạt này Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm tội thì Luật hình sự quy định không áp dụng hình phạt tù chung thân (Điều 34, Khoản 5 Điều 69 Bộ luật Hình sự) và áp dụng hạn chế hình phạt tù (Khoản 5 Điều 69 Bộ luật Hình sự) Quy định này biểu hiện nguyên tắc nhân đạo và là bước phát triển mới của pháp luật hình sự nước ta Trước đây, tại Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định thời hạn tối đa của hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội
là 12 năm (Khoản 2, Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 1985) Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi quy định này một cách rõ ràng, cụ thể hơn tại Điều 74
Bộ luật Hình sự năm 1999:
1) Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá
18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định 2) Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu
là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định [33]
1.3.2 Phân biệt hình phạt tù chung thân với hình phạt tử hình
Một điểm khác biệt rõ nét nhất giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình là mức độ nghiêm khắc của hình phạt Điều này được thể hiện ở thứ tự của hai hình phạt này trong hệ thống hình phạt Hình phạt tù chung
Trang 29thân dù rất nghiêm khắc nhưng cũng chỉ có thể có nội dung là tước đi quyền
tự do của người phạm tội, cách ly họ khỏi đời sống xã hội bình thường Còn,
tử hình là hình phạt tước đoạt tất cả mọi quyền và lợi ích, kể cả quyền được sống của người phạm tội Do vậy, tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong
hệ thống hình phạt nên chỉ dành cho những tội phạm có tính nguy hiểm cao nhất trong số các tội phạm được quy định
Khác với hình phạt tù chung thân, hình phạt tử hình chỉ có tác dụng trừng trị và phòng ngừa mà không có tác dụng giáo dục, cải tạo người phạm tội Bởi vì, hình phạt tử hình khi được thi hành, người phạm tội sẽ chấm dứt
sự sống, không tạo cơ hội cho người bị kết án ăn năn, hối cải, sửa chữa lỗi lầm đã gây ra
Xét dưới góc độ xã hội, hình phạt tù chung thân có thể mang lại một
số lợi ích nhất định cho xã hội từ sự đóng góp của người bị kết án trong quá trình chấp hành hình phạt, lao động, cải tạo (ví dụ như: các sản phẩm họ làm
ra trong quá trình lao động tại trại giam cũng là một nguồn khá lớn cung cấp hàng hóa cho xã hội) Hình phạt tử hình sẽ triệt tiêu hoàn toàn khả năng đó vì khi hình phạt này được áp dụng, người phạm tội đã hoàn toàn bị loại trừ khỏi
xã hội
Xét dưới góc độ tư pháp, một khi hình phạt tử hình được thi hành, các
cơ quan tiến hành tố tụng không còn có thể khắc phục những sai sót khách quan (nếu có) trong quá trình tố tụng Vì nếu sau khi thi hành án tử hình mà phát hiện sai sót thì những việc làm sau này chỉ mang tính chất bồi thường, có tác dụng đối với người thân của người bị tử hình chứ không phải đối với chính bản thân người đó Hình phạt tù chung thân thì hoàn toàn có khả năng sửa sai (nếu có) trong khi đang thi hành án
Đoạn 4 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Trong trường hợp người bị kết án tử hình được ân giảm, thì hình phạt tử hình chuyển thành hình phạt tù chung thân" [33] Như vậy, hình phạt tù chung thân là "hình phạt
Trang 30đệm" để thay thế hình phạt tử hình trong trường hợp được Chủ tịch nước ân giảm án Chế định ân giảm án tử hình theo luật hình sự Việt Nam trước tiên thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đối với mọi công dân,
dù đó là người phạm tội bị tuyên án tử hình Quy định này mang tính nhân đạo kế thừa tinh hoa của pháp luật hình sự cổ (tức là vua có quyền lực tối cao
có thể quyết định mọi vấn đề của đất nước, kể cả tha tội chết cho một người phạm tội tử hình)
Đoạn 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: "Không thi hành
án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân" [33] Quy định này có nghĩa là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (nếu phạm tội) có thể bị áp dụng hình phạt tù chung thân và không bao giờ bị áp dụng hình phạt tử hình Việc không áp dụng hình phạt tử hình đối với người mẹ trước hết và cơ bản là vì đứa trẻ Đối với bà mẹ đang mang thai, nếu chúng ta xử bà mẹ tội chết thì đứa trẻ đang nằm trong bụng - công dân tương lai của đất nước cũng chấm dứt sự sống Như vậy, quả là một việc làm không công bằng đối với đứa trẻ Trong trường hợp người phụ nữ đang nuôi con nhỏ, nếu xử bà mẹ tội chết, mặc dù không tước đi mạng sống của đứa trẻ nhưng sẽ tước đi nguồn nuôi sống cơ bản của nó Hơn nữa, ảnh hưởng của người mẹ đối với trẻ chẳng những về sự phát triển về thể chất mà còn cả về tinh thần, trí tuệ, tình cảm về sau này Do đó, chúng ta không thể nào tước đi mạng sống của người mẹ, chỗ dựa vững chắc cho tương lai một mầm sống của xã hội
Một điểm khác biệt nữa là, đối với người bị thi hành hình phạt tù chung thân vẫn còn cơ hội để họ được xét giảm án, sớm tái hòa nhập với cộng đồng nếu họ có quyết tâm cải tạo, sửa chữa lỗi lầm, có biểu hiện tiến bộ trong khi đang thi hành bản án Còn đối với hình phạt tử hình, một khi được áp dụng và thi hành thì không thể thay đổi hoặc giảm bớt mức án đã tuyên
Trang 31Ranh giới về điều kiện áp dụng giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình là không rõ ràng, rành mạch, bởi vậy Tòa án khi xét xử cần phải xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện, chính xác để đảm bảo khi áp dụng đạt được mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung, cũng như đảm bảo nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo được quy định trong Luật hình sự "Khi cân nhắc giữa hình phạt tù chung thân với hình phạt tử hình mà thấy còn băn khoăn thì cương quyết không áp dụng hình phạt tử hình
Hình phạt tù chung thân là hình phạt tù tước quyền tự do của người bị kết án đến hết đời Khác với loại hình phạt này, hình phạt cảnh cáo được áp dụng không nhằm trực tiếp hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích thiết thân của người bị kết án, mà nó là sự khiển trách công khai của Nhà nước do Tòa án tuyên phạt đối với người bị kết án Hình phạt cảnh cáo gây cho người
Trang 32sống thích hợp, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người bị kết án thường trú và gia đình họ
Sự khác biệt cơ bản giữa hình phạt trục xuất và hình phạt tù chung thân là đối tượng áp dụng Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định hình phạt trục xuất chỉ áp dụng đối với người nước ngoài bị kết án Còn hình phạt
tù chung thân không phân biệt đối tượng bị áp dụng là người nước ngoài hay người Việt Nam
Như vậy, Sự khác biệt cơ bản nhất giữa các hình phạt không phải tù
và hình phạt tù chung thân là: Nếu bị áp dụng các hình phạt không phải tù, người bị kết án được cải tạo, giáo dục không cần cách ly khỏi xã hội, được thi hành án trong môi trường bình thường, nơi người đó sống và công tác trước khi phạm tội Việc thi hành các hình phạt không phải tù không phải do một cơ quan chuyên trách, mà giao cho cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người bị kết án cư trú hoặc công tác đảm nhận theo dõi, giám sát
1.4 HÌNH PHẠT TÙ CHUNG THÂN TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.4.1 Tổng quan về hình phạt tù chung thân trên thế giới
Tù chung thân là hình phạt tù mà người bị kết án phải sống phần đời còn lại của mình trong nhà tù, được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Ví dụ như: Tội giết người, lạm dụng trẻ em gây hậu quả nghiêm trọng, cưỡng dâm, phản quốc, buôn người, cướp của dẫn đến chết người Trên thế giới, tồn tại hai hình thức tù chung thân là tù chung thân có thể được ân giảm và tù chung thân không thể được ân giảm (không thể được phóng thích hoặc tù suốt đời) Đối với những quốc gia áp dụng hình phạt tù chung thân có thể được ân giảm, người bị kết án có thể được phóng thích sớm nếu đáp ứng đủ điều kiện và thời gian chấp hành án mà pháp luật của mỗi nước quy định, ví dụ như: cải tạo tốt, có nhiều tiến bộ, lập công lớn….Điều 110
Trang 33Quy chế Rome của Tòa án Hình sự quốc tế quy định đối với những tội phạm nghiêm trọng (ví dụ: tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người và diệt chủng), người bị kết án tù chung thân phải đảm bảo thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là hai mươi lăm năm thì mới được xét giảm án
Hình phạt tù chung thân không tồn tại trong tất cả các quốc gia Bồ Đào Nha là quốc gia đầu tiên trên thế giới bỏ hình phạt tù chung thân bằng cải cách nhà tù của Sampaio E Melo vào năm 1884 Hiện nay cũng có rất nhiều quốc gia đã bãi bỏ hình phạt tù chung thân và điều này được quy định rõ trong Hiến pháp, ví dụ như Brazil, Khoản 19 Điều 84 Hiến pháp Brazil quy định thời gian tối đa của hình phạt tù là 30 năm Một số nước Châu Âu đã bãi bỏ hình phạt tù chung thân, đó là: Serbia, Croatia, Tây Ban Nha, Bosnia và Herzegovina,
Bồ Đào Nha Trong đó chỉ có Bồ Đào Nha quy định thời gian tối đa của hình phạt tù là 25 năm, các nước còn lại đều là 40 năm Ở Châu Á, Nepal là quốc gia duy nhất xóa bỏ hình phạt tù chung thân Ở Châu Phi, Công hòa Côngo cũng xóa bỏ hình phạt tù chung thân và quy định thời gian tối đa của hình phạt tù
là 30 năm Ở Nam và Trung Mỹ, Honduras, Nicaragua, El Salvador, Costa Rica, Venezuela, Colombia, Uruguay, Bolivia, Ecuador và Cộng hòa Dominica đã xóa
bỏ tù chung thân Hình phạt tù tối đa ở Honduras là 40 năm; 50 năm ở Costa Rica; 60 năm ở Colombia; 30 năm ở Nicaragua, El Salvador, Bolivia, Uruguay
và Venezuela; và 25 năm ở Ecuador Trang web http://en.wikipedia.org thống
kê khoảng 24 quốc gia đã xóa bỏ hình phạt tù chung thân
Phần lớn các quốc gia có hình phạt tù chung thân đều không áp dụng hình phạt này với người chưa thành niên phạm tội Tuy nhiên, Ở một số ít quốc gia trên thế giới, vẫn áp dụng hình phạt tù chung thân không thể được ân giảm đối với người chưa thành niên phạm tội (độ tuổi quy định là người chưa thành niên ở các quốc gia có sự khác nhau) Đó là các quốc gia: Antigua và Barbuda, Argentina, Australia, Belize, Brunei, Cuba, Saint Vincent và Grenadines, quần đảo Solomon, Sri Lanka và Hoa Kỳ Trong số các quốc gia này, chỉ có Hoa
Kỳ hiện có người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt này Năm 2009,
Trang 34Human Rights Watch đã thống kê có khoảng 2.589 người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt tù chung thân không thể được ân giảm ở Hoa Kỳ Ở Hoa
Kỳ, năm 2009, đã có một dự thảo Luật bãi bỏ hình phạt tù chung thân không thể
ân giảm đối với người chưa thành niên phạm tội Nhưng dự thảo này đã không được thông qua bởi sự phản đối của những người thực thi pháp luật Năm 2010, qua trường hợp phạm tội của Graham Florida, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã ra phán quyết chỉ áp dụng hình phạt tù chung thân không được ân giảm đối với người chưa thành niên phạm tội giết người cấp độ vi phạm nghiêm trọng
Tình hình áp dụng hình phạt tù chung thân ở một số quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây
Bảng 1.1: Hình phạt tù chung thân ở một số quốc gia
Các tội phạm áp dụng hình phạt tù chung thân
Áp dụng hình phạt
tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội
khủng bố, tội ác chiến tranh
Không (phạt tù tối đa
20 năm)
Diệt chủng, giết người, sản xuất hoặc phân phối các tác nhân chiến tranh hóa học để trong xung đột
vũ trang, bắt cóc, cướp, hiếp dâm gây hậu quả chết người
Không (phạt tù tối đa
20 năm
Giết sỹ quan cảnh sát, phản quốc, buôn bán ma túy, hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cướp máy bay
(chưa rõ)
Giết người, khủng bố, tội ác chiến tranh, diệt chủng, buôn bán ma túy, buôn bán người, cướp, hãm hiếp
Có
Trang 35Không (tối đa 12 năm
Phản quốc, giết người, tội ác chống lại loài người, buôn bán ma túy, ngộ sát, bắt cóc, bạo loạn, cướp, khủng bố, tội phạm chiến tranh
Không
Không
Phản quốc, giết người nghiêm trọng, khủng bố, buôn bán ma túy, tội ác chống lại nhân loại, tội
ác chiến tranh, hãm hiếp
Không
Trang 3633 Hungary có Giết người, diệt chủng, phản quốc Không (tối đa 15 năm)
hãm hiếp, tội phản quốc
Giết người, khủng bố, buôn bán
ma túy, buôn người, tội phản quốc
Không (tối đa 20 năm)
48 Mexico
Không (ngoại trừ Chihuahua)
Trang 3761 Ba Lan có Diệt chủng, tội ác chiến tranh,
và cướp
phạm tội giết người
Ám sát Đức giáo Hoàng, khủng bố, phản quốc, giết người, buôn bán ma túy, buôn người, buôn bán vũ khí
Có trong một số trường hợp
Nguồn: theo thống kê của trang web http://en.wikipedia.org ngày 6/4/2012)
Trang 381.4.2 Quy định hiện hành về hình phạt tù chung thân trong luật hình sự của một số nước trên thế giới
* Hình phạt tù chung thân trong pháp luật một số nước ASEAN
Theo Điều 29 Bộ luật Hình sự Lào: "Tù chung thân có thể không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi hoặc phụ nữ có thai vào thời điểm phạm tội" Nhà làm luật dùng từ "có thể" nghĩa là vẫn có khả năng áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi hoặc phụ nữ có thai vào thời điểm phạm tội
Theo luật hình sự Philippines, hình phạt tù chung thân được quy định như sau: "Người nào bị kết án về hình phạt tù chung thân sẽ được ân xá sau khi đã chấp hành hình phạt được 30 năm, trừ khi người này, vì lý do hành vi của mình hoặc các lý do nghiêm trọng khác mà người đứng đầu ngành Hành pháp cho rằng không đáng để ân xá" Điều 41 Bộ luật Hình sự Philippines quy định: Người bị tòa án tuyên phạt tù chung thân hoặc tù dài hạn sẽ bị áp dụng kèm hình phạt bổ sung tước năng lực pháp luật suốt đời Năm 2006, Philippines đã bãi bỏ án tử hình nên tù chung thân là loại hình phạt cao nhất trong hệ thống hình phạt hình sự ở quốc gia này Tù chung thân có thể áp dụng kèm theo hình phạt bổ sung là phạt tiền Ví dụ Điều 114 Bộ luật Hình sự Philippines quy định "người nào là công dân Philippines mà có hành vi tham gia quân đội kẻ thù hoặc hỗ trợ họ chống lại Nhà nước Philippines thì bị phạt
từ tù dài hạn đến tù chung thân và bị phạt tiền đến 20.000 pesos"
Theo luật hình sự Malaysia, tù chung thân được áp dụng đối với tội phạm nghiêm trọng và chủ yếu áp dụng đối với loại tội phạm như các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội giết người, hiếp dâm hoặc tội phạm ma túy Malaysia chia hình phạt tù chung thân thành hai loại: "tù 20 năm với khả năng giảm 1/3 thời hạn chấp hành hình phạt nếu có sự cải tạo tốt" và "tù trọn đời" (áp dụng cho tới khi phạm nhân chết mới thôi) Người chưa thành niên phạm một tội mà hình phạt áp dụng trong trường hợp người đã thành niên phạm tội
Trang 39này là tử hình thì người chưa thành niên phạm tội sẽ bị áp dụng hình phạt tù chung thân với thời hạn "theo ấn định của Nhà vua" (mà không có bất cứ giới hạn nào) (theo Luật trẻ em năm 2001 của Malaysia)
* Hình phạt tù chung thân trong pháp luật một số nước khác trên thế giới
Bộ luật Hình sự của Liên bang Nga được Đu - ma quốc gia thông qua ngày 24/11/1995, có hiệu lực kể từ ngày 1/3/1996 đã quy định bổ sung thêm nhiều loại hình phạt mới trong hệ thống hình phạt, trong đó có hình phạt tù chung thân Điều 58 Bộ luật Hình sự Nga hiện hành quy định: Tù chung thân chỉ được quy định là hình phạt lựa chọn với Tử hình đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm tính mạng và có thể áp dụng trong trường hợp Tòa án thấy không cần áp dụng tử hình; không áp dụng tù chung thân với phụ nữ, người chưa đủ 18 tuổi và nam giới trên 65 tuổi Tù chung thân hoặc
tù 25 năm là hình phạt thay thế hình phạt tử hình trong trường hợp đặc xá (Điều 60 Bộ luật Hình sự) Trong phần các tội phạm, Bộ luật Hình sự Nga hiện hành quy định 3 tội có thể áp dụng hình phạt tù chung thân, gồm: Tội giết người (Điều 106), Hành vi khủng bố (Điều 273) và Diệt chủng (Điều 349) Người bị kết án tù chung thân phải chấp hành hình phạt tại trại cải tạo chế độ đặc biệt (Điều 59 Bộ luật Hình sự) Người đang chấp hành hình phạt tù chung thân có thể được ra tù trước thời hạn, nếu tòa án thấy rằng họ có thể tự cải tạo, không cần tiếp tục chấp hành hình phạt và thực tế người này đã chấp hành được 25 năm tù (Điều 80 Bộ luật Hình sự)
Theo Pháp luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức, hình phạt tù là hình phạt cao nhất trong hệ thống hình phạt (Đức đã xóa bỏ hình phạt tử hình năm 1987) Hình phạt tù có thể là tù chung thân hoặc tù có thời hạn Nhưng trong Phần chung của Bộ luật Hình sự Đức, hình phạt tù được quy định chung mà không được tách ra cụ thể với lý do hình phạt tù chủ yếu được quy định là hình phạt tù có thời hạn; trường hợp được quy định là tù chung thân chỉ có tính cá biệt Bộ luật Hình sự Đức quy định: "Hình phạt tù là hình phạt tù có
Trang 40thời hạn nếu luật không quy định cụ thể là tù chung thân" (Khoản 1 Điều 38)
Tù chung thân được áp dụng đối với các tội: Tội phản quốc, giết người, diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại, tội ác chiến tranh Hình phạt tù chung thân
có thể được quy định là hình phạt cao nhất (ví dụ: Điều 211 Bộ luật Hình sự
về tội giết người) hoặc có thể quy định là hình phạt lựa chọn (ví dụ: Điều 80
Bộ luật Hình sự về tội chuẩn bị chiến tranh xâm lược) Hình phạt tù chung thân không áp dụng đối với người chưa thành niên
Ở Canada, tội phạm và hình phạt được quy định không chỉ ở Bộ luật Hình sự mà còn tồn tại ở rất nhiều đạo luật chuyên ngành Về hình phạt, trong các văn bản pháp luật chuyên ngành của Canada có quy định tội phạm và hình phạt, chỉ có 3 loại hình phạt chính có thể được áp dụng đối với người phạm tội, đó là phạt tiền, tù có thời hạn và tù chung thân Trong đó, phạt tiền và phạt tù có thời hạn chiếm tỉ lệ tuyệt đối (99%) và tương đương nhau, hình phạt tù chung thân chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ, khoảng 1% và chỉ được áp dụng đối với một số ít tội phạm đặc biệt nguy hiểm như: Tội buôn bán bất hợp pháp chất ma túy (Điều 4(1) Đạo luật về kiểm soát ma túy 1985); tội chiếm hữu chất ma túy với mục đích buôn bán (Điều 4(2) Đạo luật về kiểm soát ma túy 1985); tội phạm được thực hiện bởi người chỉ huy (Điều 73 Đạo luật về quốc phòng năm 1985) [26, tr 63]
Bộ luật Hình sự Trung Quốc năm 1979, được sửa đổi, bổ sung vào năm 2005 quy định người phạm tội bị kết án tù chung thân bị giam giữ trong trại tù, tất cả những người có khả năng lao động đều phải tham gia lao động, được giáo dục và cải tạo (Điều 46) Người bị kết án tù chung thân phải bị tước các quyền lợi chính trị suốt đời (Điều 57) Nếu trong thời gian chấp hành hình phạt, người phạm tội tuân thủ đúng quy định của trại giam, chịu sự cải tạo giáo dục, hối cải hoặc lập công sẽ được giảm nhẹ hình phạt Nhưng phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành hình phạt là không dưới 10 năm Đối với người được chuyển từ hình phạt tù chung thân thành hình phạt tù có thời hạn