Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Sơn- Hà Nội
Trang 1và thách thức mới Cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn hẳn
về phương diện vốn và công nghệ đòi hỏi các Ngân hàng trong nước phải có những chiến lược mang ý nghĩa sống còn Cũng như bất kỳ ngành kinh doanh nào khác, ngân hàng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn Hơn nữa, Ngân hàng
là một ngành kinh tế nhậy cảm, hoạt động ngân hàng với bản chất của nó, chịu ảnh hưởng của rất nhiều loại rủi ro Rủi ro là khó tránh khỏi nên làm thế nào để giảm thiểu rủi ro đến mức tối đa mà vẫn đảm bảo mức sinh lời cao cho các Ngân hàng luôn là một bài toán khiến cho các nhà quản trị Ngân hàng phải trăn trở
Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại thì hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính và cũng là hoạt động hàm chứa
nhiều rủi ro nhất Vì vậy, em chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại chi
nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sóc Sơn- Hà Nội”.
Trang 2Chương III: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng No&PTNT Sóc Sơn- Hà Nội
Trang 3CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
sử dụng vốn (thuê) để bán (cho thuê) lại quyền sử dụng vốn đố, nhưng nó hoàn toàn khác với các loại kinh doanh khác của các tổ chức kinh tế Trước hết, vốn
mà Ngân hàng mua quyền sử dụng của những chủ thể có vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế phải được trả lại cả vốn và lãi cho chủ sở hữu của nó theo những cam kết
đã giao ước Là người đi vay, NHTM phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn vốn huy động hoặc đáp ứng yêu cầu thanh toán của khách hàng với một món lợi tức hợp
lý kèm theo Là người cho vay, NHTM sử dụng vốn đi thuê để cho thuê lại, tức
Trang 4là tạm thời bán quyền sử dụng vốn cho người khác, NHTM vẫn luôn mong muốn khách hàng vủa mình sử dụng vốn vay có hiệu quả và hoàn trả đầy đủ vốn
và lãi đúng kỳ hạn theo những quy định đã cam kết
Thứ hai, đó là là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hóa dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hóa Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó Nó là kết quả của sự thỏa thuận các đối tác tham gia qúa trình chuyển nhượng để đảm bảo
sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị dó Sự thiếu phù hợp và thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng tới quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy cơ phá hủy quan
hệ tín dụng Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền
sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó
Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sư tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng Từ những phân tích ở đặc trưng thứ nhất ta thấy rằng: trong mối quan hệ tay ba giữa NHTM, người gửi tiền ký thác và người đi vay đều dựa vào lòng tin của nhau để giải quyết tình trạng thừa hoặc thiếu vốn của các chủ thể nêu trên Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người
đi vay cũng hi vọng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về, điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan
hệ tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay do giá trị của tài sản thế chấp hay do sự bảo lãnh của bên thứ ba
1.1.3 Vai trò của tín dụng
Thứ nhất, tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Nhờ
có tín dụng với một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng, vốn nhàn rỗi trong
xã hội được cung ứng cho các chủ thể kinh tế để đáp ứng nhu cầu đa dạng về sản xuất và tiêu dùng của họ Từ đó, vừa đẩy nhanh tốc độ sản xuất và tốc độ
Trang 5tiêu thụ sản phẩm; vừa giúp người cần vốn có thể tiếp cận một cách dễ dàng hơn các nguồn vốn tín dụng, tiết kiệm chi phí giao dịch và các chi phí nguồn vốn khác của họ Mặt khác, khi sử dụng các nguồn vốn tín dụng của các trung gian tài chính, khi các hình thức tín dụng không ngừng được mở rộng và nâng cao hiệu quả cùng với các điều kiện tín dụng chặt chẽ, các doanh nghiệp sẽ có được
sự chủ động khi thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, thực sự quan tâm đến hiệu quả của đồng vốn bỏ ra, tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới, nâng cao năng lực sản xuất xã hội, từ đó hạn chế được rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch
Thứ hai, tín dụng là kênh truyền tải tác động của Nhà nước tới các mục tiêu vĩ mô Ba mục tiêu vĩ mô quan trọng mà một chính sách tiền tệ phải giải quyết, đó là: ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ Muốn đạt được các mục tiêu vĩ mô đó, không thể thiếu được là sự tác động không nhỏ của khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng Nhà Nước có thể thay đổi quy mô cũng như chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng thông qua việc điều chỉnh và thay đổi các điều kiện tín dụng, từ đó mà ảnh hưởng đến quy mô và kết cấu của tổng cầu,
và tác động ngược lại với tổng cung và các điều kiện sản xuất khác Điểm cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu dưới sự tác động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết Nhưng trong từng thời kỳ, Nhà Nước phải chấp nhận sự đánh đổi khi lựa chọn mục tiêu kinh tế vĩ mô này mà không thể đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô khác Không phải là dễ nếu không muốn nói là quá khó để có thể đạt được cùng một lúc cả ba mục tiêu kinh tế vĩ
mô trong một khoảng thời gian nhất định
Thứ ba, tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội Trước đây, việc tài trợ cho các đối tượng chính sách chủ yếu là từ nguồn Ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn lại Nhưng xu thế ngày nay, phương thức tài trợ không hoàn lại dần được thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại thông qua con đường tín dụng đối với các đối tượng chính sách tỏ ra khá hiệu quả, mở
Trang 6rộng quy mô tín dụng chính sách Như việc cho vay người nghèo, sinh viên nghèo vượt khó… với lãi suất thấp cùng các ưu đãi khác để tạo điều kiện cho họ giải quyết khó khăn về mặt tài chính của Ngân Hàng Chính Sách và Ngân Hàng Phát Triển ở nước ta hiện nay khẳng định sự quan tâm của chính phủ đến mọi tầng lớp trong xã hội Rõ ràng, khi các đối tượng chính sách quan tâm đến hiệu quả sử dụng của đồng vốn vay để đảm bảo trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi, họ sẽ ý thức hơn về đồng vốn họ làm ra, tạo điều kiện cho họ nâng cao tay nghề đáp ứng tốt hơn nhu cầu phục vụ sản xuất, từng bước độc lập hơn với nguồn vốn tài trợ, cải thiện đời sống Và đó cũng chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHTM 1.2.1 Khái niêm rủi ro tín dụng
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến
Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một hoặc các bên tham gia hoạt động tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bện còn lại Đối với NHTM rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn Nếu các khoản cho vay của ngân hàng đều được thanh toán đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi thì ngân hàng không bị rủi ro tín dụng Ngược lại, nếu người vay tiền không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ thì rủi ro tín dụng nảy sinh
Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt đông cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của NHTM như: hoạt động bảo lãnh, tài trợ ngoại thương, cho thuê tài chính
Rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng
1.2.2 Các hình thức rủi ro tín dụng
Có 2 hình thức rủi ro tín dụng:
+ Rủi ro đọng vốn: là rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng
không hoàn trả đầy đủ khoản tín dụng đúng hạn
Trang 7+ Rủi ro mất vốn: là rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng
không hoàn trả một phần hay hay toàn bộ khoản tín dụng
1.2.3 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan
Ngân hàng là “cầu nối” cho tất cả các ngành nghề trong nền kinh tế nên nó chịu tác động của rất nhiều các yếu tố khách quan Vì vậy mà nguyên nhân gây
ra rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng cũng từ rất nhiều các yếu tố bên ngoài
• Nguyên nhân bất khả kháng:
Bão lũ, hạn hán, thiên tai, đình công không lường trước được cũng có thể gây ra nững tổn thất không nhỏ đến hoạt động của Ngân hàng vì nó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng trả
nợ tiền vay của khách hàng, gây ra rủi ro tín dụng
• Môi trường chính trị pháp luật:
Môi trường chính trị ổn định, pháp luật có đồng bộ mới có thể tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các chủ thể tham gia Như ta đã biết thì dù có một thay đổi nhỏ trong cơ chế quản lý hay những chính sách vĩ mô của nhà nước đều dẫn đến những thay đổi trong nền kinh tế (lãi suất, tỷ giá hối đoái, các điều kiện mở rộng hay thu hẹp tín dụng ) vì bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cũng đều chịu sự quản
lý của nhà nước Một đất nước có tình hình chính trị bất ổn, pháp luật không có hiệu lực thì không có doanh nghiệp nào muốn đầu tư kinh doanh cả Môi trường pháp lý còn ảnh hưởng không nhỏ tới mức độ rủi ro tín dụng trong kinh doanh Ngân hàng như:
+ Luật pháp thường xuyên thay đổi, luật cũ chưa thưc hiện được bao lâu thì luật mới đã ban hành gây khó khăn cho các chủ thể tham gia
+ Luật pháp không nhất quán, không rõ ràng, dẫn đến nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho khách hàng vay lách luật, khó kiểm soát dẫn đến tổn thất cho Ngân hàng Hơn nữa, sự không thống nhất giữa các văn bản luật gây ra sự khó
Trang 8khăn trong việc giải quyết các tranh chấp giữa Ngân hàng với khách hàng trong trường hợp cần thiết.
+ Việc Ngân hàng phai thực hiện cấp tín dụng cho các khoản vay theo chỉ thị của chính phủ ũng khiến các Ngân hàng gặp rủi ro với thiệt hại lớn mà ngay lập tức khó có nguồn bù đắp ví như những tổn thất của khoản cho vay đánh bắt
xa bờ theo chỉ định của Chính phủ mà NHNo&PTNT Việt Nam phải gánh chịu trong thời gian gần đây
• Môi trường kinh tế:
Rõ ràng rằng, kết quả kinh doanh của khách hàng phụ thuộc rất lớn vào những biến động của chu kỳ kinh doanh.Những thay đổi của môi trường kinh tế tạo ra những điều kiện thuận lợi hay khó khăn đối với người cần vốn Khi kinh
tế tăng trưởng, hoạt động kinh doanh của khách hàng thuận lợi, sức sản xuất cũng như tiêu thụ mạnh, doanh thu lợi nhuận tăng, khả năng chi trả cho các khoản vay lớn, việc vay nợ thuận lợi, Ngân hàng cũng giảm thiểu được rủi ro Nhưng ngược lại thì việc vay vốn cũng như việc thu hồi nợ cũng gặp khó khăn,
vì vậy mà rủi ro càng tăng mạnh Hơn nữa, sự phát triển đa dạng các ngành kinh
tế cũng giúp Ngân hàng phân tán được rủi ro trong hoạt động tín dụng, sự ra đời của nhiều ngành mới như Trung tâm thông tin, các công ty xếp hạng doanh nghiệp giúp Ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin khách hàng hơn từ đó mà đánh giá rủi ro chính xác hơn, đưa ra được những giải pháp hữu hiệu hơn để hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
• Môi trường văn hóa xã hội:
Vệc tìm hiểu thói quen, tập quán tiêu dùng trong dân cư là vô cùng quan trọng vì từ đó các doanh nghiệp có thể đưa ra các sản phẩm phù hợp với thị hiếu của khách hàng Trong môi trường cạnh tranh như ngày nay, nếu không theo kịp được thị hiếu của người dân thì doanh nghiệp đó sẽ bị đào thải gây ảnh hưởng tới Ngân hàng Hơn nữa, các Ngân hàng cũng phải nắm rõ các yếu tố xã hội từ
đó có thể tạo ra những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách
Trang 9hàng, từ đó giảm thiểu rủi ro.
• Nguyên nhân từ các bảo đảm tiền vay:
Việc bảo đảm tiền vay bao gồm bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật Do
đó, những nguyên nhân tác động đến các yếu tố đó cũng có thể làm cho người vay mất khả năng chi trả Cụ thể là: người bảo lãnh bị những nguyên nhân như trên thì họ không có khả năng bảo lãnh Còn tài sản thế chấp, cầm cố bị giảm giá, bị cháy, thiên tai (mà không có bảo hiểm) không tiêu thụ được, tài sản thế chấp cầm cố không đúng quy định của luật dân sự
1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía người vay
Đây là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho Ngân hàng Đối với từng đối tượng khách hàng khác nhau thì nguyên nhân dẫn đến khả năng khách hàng không trả được nợ vốn vay theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cũng khác nhau
• Khách hàng vay là cá nhân:
Khách hàng cá nhân đi vay chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, mua sắm nội thất, du lịch, du học trong điều kiện tích lũy hiện tại chưa đủ Nguồn trả nợ chính của họ chủ yếu là nguồn thu nhập mang tính chất
ổn định, đều đặn Do vậy, những nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng đối với đối tượng khách hàng này là do sự mất ổn định trong thu nhập, dẫn đến mất khả năng trả nợ Ngân hàng Có thể là do:
+ Khách hàng vay chết, mất tích, thất nghiệp
+ Người vay gặp sự cố bất thường trong cuộc sống
+ Người đi vay hoạch định ngân quỹ không chính xác, không dự tính hết được các khoản chi tiêu dẫn đến xác định sai nguồn thu nhập có thể sử dụng để trả nợ cho Ngân hàng
+ Rủi ro đạo đức thuộc về người đi vay, người đi vay cố tình lừa đảo, không trả nợ cho ngân hàng
• Khách hàng vay là doanh nghiệp:
Trang 10+ Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ xảy ra khi việc triển khai xây dựng các phương án, các dự án sản xuất kinh doanh không khoa học, việc dự toán chi phí và sản lượng sản xuất không phù hợp Trong trường hợp khác, mặc dù phương án kinh doanh của doanh nghiệp đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học, chính xác một cách tối đa thì bản thân hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vốn chưa đựng nhiều rủi ro do những thay đổi bất ngờ ngoài ý muốn của các điều kiện sản xuất kinh doanh như những biến động
về giá cả, nững thay đổi về thị hiếu ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của DN
+ Rủi ro đạo đức: Ngân hàng còn phải gánh chịu rủi ro tín dụng khi khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích, gian lận trong hồ sơ vay vốn, hoặc thậm chí doanh nghiệp cố tình không trả nợ
Ngoài ra, rủi ro tín dụng có thể phát sinh khi doanh nghiệp phá sản hoặc thay đổi bộ máy quản lý, tổ chức
1.2.3.3 Nguyên nhân do bản thân ngân hàng
Thứ nhất là do việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín dụng và điều kiện cho vay, quá nhấn mạnh vào lợi nhuận của Ngân hàng nên khi cho vay đã chú trọng về lợi tức, đặt mục tiêu lợi tức cao hơn mục tiêu các khoản cho vay lành mạnh
Thứ hai là do chính sách và quy trình cho vay còn lỏng lẻo, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ hoặc phương pháp xem xét phân tích còn hạn chế, chưa chính xác
Thứ ba là do kỹ thuật cấp tín dụng chưa hiện đại, chưa đa dạng như: Việc xác định hạn mức tín dụng cho khách hàng còn quá đơn giản, thời hạn chưa phù hợp, chủ yếu là tín dụng trực tiếp, sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn
Thứ tư là do thiếu thông tin về khách hàng hoặc thiếu thông tin tín dụng tin cậy, kịp thời, chính xác để xem xét, phân tích trước khi cấp tín dụng
Thứ năm là do trình độ của cán bộ tín dụng còn non kém dẫn đến sai lầm
Trang 11trong phân tích và đưa ra quyết định cho vay Cán bộ tín dụng vi phạm đạo đức kinh doanh dẫn đến quyết định cho vay đối với những phương án, dự án thiếu tính khả thi, hoặc thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn Ngân hàng.
1.3 ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Đo lường rủi ro tín dụng của một danh mục cho vay
Rủi ro tổn thất tài sản là điều khó tránh khỏi trên con đường tìm kiếm lợi nhuận Lợi nhuận và rủi ro là hai yếu tố song hành trong quá trình kinh doanh tiền tệ Lĩnh vực hoạt động nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao, ở đó rủi ro
có thể xảy ra cũng rất lớn Vì vậy, khi phân tích đánh giá hoạt động NHTM, các nhà phân tích phải kết hợp nghiên cứu rủi ro với lợi nhuận để có thể có những quyết định tốt nhất trong việc xây dựng chiến lược của NHTM
Rủi ro tín dụng = Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì hiện nay các Ngân hàng tiến hành phân loại nợ thành 5 nhóm:
Tỷ lệ nợ xấu = tổng nơ xấu/ tổng dư nợ
Từ ba công thức trên ta có thể thấy rằng, nợ quá hạn, nợ xấu của Ngân hàng càng cao thì rủi ro tín dụng xảy đến với Ngân hàng càng lớn Nợ quá hạn,
nợ xấu gia tăng có thể do khách hàng làm ăn thua lỗ, không có khả năng trả nợ
Trang 12theo đúng yêu cầu trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng kéo theo các chi phí khác của Ngân hàng cũng gia tăng như: Các khoản chi phí đôn đốc thu hồi nợ, giám sát khoản vay, chi phí cơ hội
Tỷ lệ mất vốn= Dư nợ mất vốn/ tổng dư nợ
Tỷ lệ mất vốn cao chứng tỏ Ngân hàng gặp nhiều thiệt hại trong hoạt động cho vay, đây là khoản nợ được đưa ra ngoài bảng cân đối và trên thực tế Ngân hàng phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp rủi ro Tuy nhiên, cán bộ tín dụng cần tiếp tục theo dõi giám sát cả những khoản nợ này để thu hồi được phần nào hay phần ấy
Tỷ lệ dự phòng rủi ro trích lập= Số tiền dự phòng rủi ro trích lập/ Tổng dư nợ
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ Ngân hàng phải trích lập càng nhiều để bù đắp rủi ro càng nhiều đối với những khoản vay không đảm bảo chất lượng, không có khả năng thu hồi, làm tăng chi phí, từ đó giảm lợi nhuận cho Ngân hàng
Bên cạnh các chỉ tiêu trên, nhà quản lý còn sử dụng một số chỉ tiêu khác
để đo lường rủi ro tín dụng như:
- Điểm của khách hàng
Dựa vào các thông tin tài chính và phi tài chính có sẵn của khách hàng Ngân hàng lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm Khách hàng loại A hoặc điểm cao thì rủi ro tín dụng thấp, khách hàng loại C hoặc điểm thấp thì rủi
ro tín dụng cao Chỉ tiêu này được xác định dựa trên các dấu hiệu rủi ro mà Ngân hàng xây dựng Điểm của khách hàng cho thấy rủi ro “tiềm ẩn”
- Danh mục cho vay không đa dạng:
Đa dạng hóa các hình thức tín dụng là một biện pháp để hạn chế rủi ro tín dụng Những thay đổi trong chu kỳ sản xuất kinh doanh của người vay là khó tránh khỏi Nếu Ngân hàng tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng, của một ngành, hoặc một vùng hẹp thì rủi ro sẽ cao hơn so với việc đa dạng hóa
- Các khoản cho vay có vấn đề:
Mặc dù chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trình thưo dõi, nhân viên Ngân hàng nhận thấy nhiều khoản tài trợ đang có dấu
Trang 13hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn Khoản cho vay có vấn đề được xác định trên quy định của Ngân hàng.
Ngoài ra, ta còn có thể đo lường rủi ro tín dụng nhờ các chỉ tiêu khác như: việc vốn ngắn hạn được sử dụng chủ yếu cho vay trung dài hạn (tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng càng cao) hay là việc tài sản đảm bảo không đủ chất lượng, dẫn đến việc Ngân hàng sẽ không thể thu hồi nợ bằng phát mại tài sản khi khách hàng không thể trả nợ
Khi rủi ro xảy ra thường tạo cho Ngân hàng những tổn thất về tài chính Nhưng những thiệt hại về uy tín của Ngân hàng, về mặt lòng tin của xã hội là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều lần
Vì vậy mà khi xem xét khoản vay cán bộ tín dụng cần phải đánh giá các tiêu chí:
Tư cách người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn tin rằng: Người xin
vay phải có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn.Thậm chí, cho dù mục đích xin vay là tốt, thì cán bộ tín dụng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, trả lời các câu hỏi một cách trung thực, có thiện chí và nỗ lực hết sức để hoàn trả nợ vay khi đến hạn Nếu phát hiện người vay giả dối trong kế hoạch sử dụng và trả
nợ như đã thỏa thuận, thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không, rủi ro tín dụng sẽ phát sinh trong ngân hàng
Năng lực của người vay: Cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin
Trang 14vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng Và cán bộ tín dụng cũng phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty
ký kết hợp đồng tín dụng phải là người được ủy quyền hợp pháp của công ty Trường hợp nếu công ty có đối tác kinh doanh, thì cán bộ phải biết được thỏa thuận đối tác kinh doanh để xác định xem ai là người có được ủy quyền ký kết hợp đônhg tín dụng cho công ty Một hợp đồng được ký kết bởi người không được ủy quyền có thể sẽ thu hồi được nợ, tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng
Thu nhập của người vay: Người vay có ba kha năng để tạo ra tiền, đó là (i)
luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, (ii) bán thanh lý tài sản, (iii) tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn Bất kỳ nguồn thu nào
từ ba khả năng này đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng Tuy nhiên, Ngân hàng ưu tiên hơn cả là khả năng thứ nhất và coi đây là nguồn thu đầu tiên
và căn bản để trả nợ vay Ngân hàng
Bảo đảm tiền vay: Khi đánh giá khía cạnh bảo đảm tiền vay, cán bộ tín
dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: Tuổi thọ, điều kiện, mức độ chuyên dụng của tài sản người vay
Các điều kiện: Cán bộ tín dụng và nhà phân tích tín dụng cần phải biết
được xu hướng hiện hành về công việc kinh doanh và ngành nghề của người vay, cũng như khi điều kiện kinh tế thay đổi sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến khoản tín dụng
Kiểm soát: Tập trung vào những vấn đề như: các thay đổi trong luật pháp
và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay? Yêu cầu tín dụng của người vay
có đáp ứng được tieu chuản của Ngân hàng và của nhà quản lý về chất lượng tín dụng
Tất cả các tiêu chí này phải được đánh giá tốt thì khoản vay mới được xem là khả thi
Cán bộ tín dụng phải có trách nhiệm và làm thỏa mãn yêu cầu đồng thời cua hai đối tượng là người vay và chủ nợ của Ngân hàng (bao gồm những người
Trang 15gửi tiền và những người chủ sở hữu) Điều đó đòi hỏi trước hết là nội dung hợp đồng tín dụng phải đáp ứng được nhu cầu vốn của người vay theo một kế hoạch trả nợ thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi để người vay có khả năng xử lý các nghĩa vụ trả nợ, bởi vì sự thành đạt của Ngân hàng phụ thuộc cơ bản vào sự thành công của khách hàng.
Một hợp đồng tín dụng hợp lệ phải bảo vệ được quyền lợi của Ngân hàng bằng cách quy định những điều khoản giới hạn hoạt động của người vay, nếu các hoạt động này đe dọa khả năng thu hồi vốn vay của Ngân hàng Quá trình cưỡng chế và thu hồi nợ vay (khi nào và ở đâu Ngân hàng sẽ hành động cưỡng chế thu hồi nợ vay) cũng phải được quy định cụ thể và rõ ràng trong hợp đồng tín dụng
Khi nhận bảo đảm tín dụng, Ngân hàng phải xác định rõ ràng và chính xác những tài sản nào là đối tượng có thể gán nợ và có thể bán được, đồng thời phải chứng minh được bằng văn bản cho các chủ nợ khác biết rằng mình là người hợp pháp có quyền chiếm đoạt tài sản nếu như người vay không trả được
nợ Khi đã nhận tài sản thế chấp, Ngân hàng sẽ có vị thế ưu tiên trong việc nhận gán nợ so với các chủ nợ khác và ngay cả với chủ sở hữu
1.3.2.2 Kiểm tra tín dụng
Ngày nay, các Ngân hàng sử dụng rất nhiều các quy trình khác nhau để kiểm tra tín dụng, nhưng những nguyên lý chung đang được áp dụng tại hầu hết các Ngân hàng vẫn là:
• Tiến hành kiểm tra tất cả các lại tín dụng theo định kỳ nhất định, ví
dụ định kỳ 30, 60 hay 90 ngày đối với các khoản tín dụng nhỏ và vừa; đối với những khoản tín dụng lớn thì phải thường xuyên hơn
• Xây dựng kế hoạch, chương trình, nôi dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản tín dụng phải được kiểm tra, bao gồm:
Trang 16+ Kế hoạch trả nợ của khách hàng, nhằm bảo đảm rằng khách hàng không chậm trễ trong việc thanh toán nợ theo kế hoạch.
+ Chất lượng và điều kiện của tài sản dùng làm bảo đảm tín dụng.+ Tính đầy đủ và hợp lệ của hợp đồng tín dụng, bảo đảm rằng Ngân hàng có đầy đủ thẩm quyền hợp pháp để sở hữu các tài sản bảo đảm tín dụng đối với người vay trước tòa án nếu cần thiết
+Đánh giá điều kiện tài chính và những dự báo về người vay xem
đã thay đổi, trên cơ sở đó xem xét lại nhu cầu tín dụng của người vay thay đổi như thế nào
+ Đánh giá xem khoản tín dụng có tuân thủ chính sách cho vay của Ngân hàng và các tiêu chuẩn do cơ quan quản lý đặt ra
• Kiểm tra thường xuyên các khoản tín dụng lớn, bởi vì nếu các “đại gia” bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến điều kiện tài chính của Ngân hàng
• Tăng cường kiểm tra tín dụng khi nền kinh tế có những biểu hiện đi xuống, hoặc những ngành nghề sử dụng nhiều tín dụng của Ngân hàng có biểu hiện những vấn đề nghiêm trọng trong phát triển (ví dụ như xuất hiện các đối thủ cạnh tranh mới, hay có sự áp dụng công nghệ mới đòi hỏi phải có sản phẩm mới và các phương pháp phân phối mới
Kiểm tra tín dụng không phải là công việc thừa, lãng phí, mà rất cần thiết
để hình thành chính sách cho vay của Ngân hàng một cách lành mạnh Nó không những giúp cho nhà quản lý nhận ra những vấn đề một cách nhanh chóng, mà còn có tác dụng kiểm tra thường xuyên xem cán bộ tín dụng có chấp hành đúng chính sách cho vay của Ngân hàng Với lý do này, đồng thời tăng cường tính khách quan của công tác kiểm tra tín dụng, hầu hết các Ngân hàng lớn đều thành lập phòng “kiểm tra tín dụng” độc lập với “phòng tín dụng” Kiểm tra tín dụng
Trang 17cũng giúp cho Hội đồng quản trị và ban Giám đốc điều hành trong việc đánh giá toàn bộ tiềm ẩn rủi ro đối với Ngân hàng, từ đó đề ra các biện pháp phòng chống cũng như định hướng chính sách “quỹ dự trữ bù đắp rủi ro” và chiến lươc tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng trong tương lai.
1.3.3 Các mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng
Ngày nay, một số Ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm tín dụng để lượng hóa rủi ro tín dụng người vay Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với phương pháp truyền thống ở chỗ là, nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng Ngân hàng
Các mô hình điểm tín dụng thường sử dụng các số liệu để phản ánh các đặc điểm của người vay để tính toán các xác suất của rủi ro tín dụng hoặc để phân loại khách hàng trên cơ sở mức độ rủi ro đã được xác định Bằng việc lựa chọn và kết hợp các đặc điểm tài chính, và kinh doanh của người vay, các Ngân hàng có thể:
Thứ nhất, xác định mức độ ảnh hưởng của nhân tố tới rủi ro tín dụng.
Thứ hai, tín toán được chín xác hơn mức độ rủi ro tín dụng của khách
hàng vay, các phương án , dự án vay vốn mới, làm cơ sở cho việc sàng lọc, lựa chọn các hồ sơ vay vốn
Thứ ba, có căn cứ trong việc xác định mức dự phòng rủi ro tín dụng
Thứ tư, có cơ sở tin cậy để thực hiện định giá tín dụng.
Để sử dụng các mô hình này, các nhà quản lý phải xác định được các tiêu chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng cụ thể:
Đối với tín dụng tiêu dùng, ngân hàng có thể lựa chọn các tiêu chí như thu nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, nơi ở
Đối với tín dụng công ty, các chỉ tiêu được chọn chủ yếu là các chỉ tiêu tài chính như Tổng dư nợ/ Tổng tài sản, Lợi nhuận sau thuế/ Chi phí lãi vay, Nợ/VCSH, LNST/Tổng TS
Trang 18Sau khi xác định được các chỉ tiêu, các nhà quản trị sẽ sử dụng các kỹ thuật thống kê để lượng hóa (cho điểm) xác suát rủi ro tín dụng hoặc để phân hạng rủi ro tín dụng.
Có nhiều loại mô hình điểm tín dụng như: mô hình điểm số Z (Z- CREDIT SCORING MODEL), mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng, mô hình cấu trúc kỳ hạn rủi ro tín dụng
1.4 NHẬN BIẾT RỦI RO TÍN DỤNG
Với mục đích cố gắng ngăn chặn những rủi ro trong hoạt động tín dụng, người điều hành Ngân hàng phải hiểu được rằng vì sao những rủi ro này có thể xảy ra? Và việc nhận diện rủi ro tín dụng là khâu rất quan trọng để có thể đưa ra những biện pháp tối ưu ngăn ngừa và xử lý các khoản tín dụng có rủi ro Cán bộ tín dụng luôn phải theo dõi các khoản tín dụng để phát hiện rủi ro nhờ những dấu hiệu sau đây:
1.4.1 Những dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng
1.4.1.1 Những dấu hiệu phát sinh trong mối quan hệ với Ngân hàng
- Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đến với Ngân hàng trong quá trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự minh bạch, thuyết phục
- Không có báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Sự giảm sút bất thường số dư tài khoản tiển gửi của khách hàng mở tại Ngân hàng; xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được nguyên nhân có sự thay đổi đó
- Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật trong quan hệ vói Ngân hàng
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn
- Thanh toán nợ gốc không đầy đủ, không đúng hạn
- Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu của ngân hàng mà không giải thích được một cách minh bạch và thyết phục
Trang 19- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh các kỳ hạn nợ nhiều lần không có lý do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc xin gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ.
- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc không muốn trả hoặc việc tiêu thụ hang hóa gặp khó khăn hoặc việc thu hồi công nợ chậm hơn dự tính
- Có nhiều dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ khoản thu nhập khác không phải từ hoạt động mà khách hàng đề xuất vay vốn để thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay
- Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu vay dự kiến
- Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt là từ đối thủ cạnh tranh của Ngân hàng
- Có dấu hiệu sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu
tư dài hạn
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị giảm sút so với định giá khi cho vay Có dấu hiệu tài sản đảm bảo đã cho người khác thuê, bán hoặc trao đổi hoặc biến mất, không còn tồn tại
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện…
1.4.1.2 Những dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh của Ngân hàng
- Có chênh lệch giữa doanh thu và dòng tiền thưch tế so với mức dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng
- Xuất hiện ngày càng nhiều những khoản chi phí cho quảng cáo, tiếp khách, tập trung quá mức chi phí không mấy cần thiết như thiết bị văn phong rất hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền…
- Xuất hiện những dấu hiệu như sẵn sàng từ bỏ hợp đồng có giá trị vừa và nhỏ nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao để tìm kiếm những hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có tên tuổi để đạt được các hợp
Trang 20đồng lớn theo đuổi chiến lược: “mượn thương hiệu”, “nước nổi thuyền nổi”…Hay những dấu hiệu mải mê theo đuổi một loại sản phẩm không thích hợp với thời điểm và năng lực hiện tại của mình.
- Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hoặc mức độ hoạt động của khách hàng
- Thay đổi thường xuyên tổ chức của ban điều hành
- Do áp lực nội bộ mà tung ra các sản phẩm không đúng thời điểm, có thể
là quá sớm khi chưa hội tụ đủ các điều kiện chín muồi…
- Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn đên việc đầu tư dự án không hiệu quả
- Khó khăn trong việc phát triển sản phẩm mới
- Đối với khách hàng là cá nhân thì có dấu hiệu bị bệnh kéo dài hoặc chết…Những dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý, tình hình tài chính của khách hang cũng có tác động trực tiếp đến chất lượng của khoản tín dụng nhưng với tốc độ chậm hơn và các dấu hiệu này khó phát hiện hơn, vì vậy nên vai trò kiểm tra, giám sát quản lý chặt chẽ của cán bộ tín dụng là rất quan trọng trong việc phát hiện và xử lý rủi ro tín dụng
1.4.2 Những dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng
Ngoài những dấu hiệu từ phía khách hàng thì phía ngân hàng cũng có những dấu hiệu để nhận biết rủi ro do chính Ngân hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng, đó là:
- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách hàng, ví dụ như: đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực tế, đánh giá khách hàng chỉ thông qua một phía như thông tin tĩnh mà khách hàng cung cấp mà thiếu những thong tin động từ nhiều nguồn khác…Bỏ qua các nghi ngờ được phản ánh qua cấu trúc và cơ cấu của số liệu khi phân tích các dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che dấu việc đảo nợ bằng việc thường xuyên cấp các khoản vay mới Hoặc che dấu nợ quá hạn thong qua
Trang 21việc điều chỉnh kỳ hạn nợ và gia hạn nợ tràn lan, thiếu căn cứ xác thực.
- Cấp tín dụng dựa trên những cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hoặc các lợi ích do khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp
- Soạn thảo các điều kiện trong hợp đồng tín dụng không được rõ rang, không xác định rõ lịch hoàn trả đối với từng khoản vay, cố ý thỏa hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết là tiềm ẩn rủi ro
- Chính sách tín dụng quá cứng nhắc hoặc quá lỏng lẻo để kẽ hở cho khách hàng lợi dụng
- Hồ sơ tín dụng không đầy đủ, thiếu sự tuân thủ các quy định hiện hành về phê duyệt tín dụng
- Tác động tăng trưởng tín dụng quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của Ngân hàng; Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra chẳng hạn như sat nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ chi nhánh lên công ty con hạch toán độc lập
- Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng mà không phụ thuộc vào phân đoạn thị trường tối ưu của ngân hàng
- Các khuynh hướng cạnh tranh thái quá, giảm thấp lãi suất cho vay, phí dịch vụ hoặc thực hiện chiến lược giữ chân khách hàng bằng khoản tín dụng mới để họ không quan hệ với các tổ chức tín dụng khác, mặc dù biết rõ các koản tín dụng định cấp có nguy cơ rủi ro cao
Các Ngân hàng luôn mong muốn duy trì mức dư nợ cho vay ở tình trạng tốt, có thể giảm bớt kể cả những rủi ro không thể kiểm soát được bằng cách không tập trung quá nhiều vốn vào một người vay, tức là áp dụng phương pháp phân tán rủi ro Vì vậy, vai trò của người cán bộ tín dụng ở chỗ cần phải thực hiện những công việc nhất định
Trang 22để tránh những rủi ro trong tương lai.
CHƯƠNG II
Trang 23THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT SÓC SƠN
2.1 VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT SÓC SƠN
Ngân hàng phát triển nông thôn Sóc Sơn được ra đời theo quyết định số 51/QĐ-NH ngày 27/06/1988 của Tổng giám đốc NHNN Việt Nam (Nay là Thống đốc Ngân Hàng Nhà nước Việt Nam) và là một trong 12 huyện trực thuộc Ngân hàng phát triển nông nghiệp Hà Nội Năm 1990, được đổi tên thành NHNo Sóc Sơn Cuối năm 1995, thực hiện mô hình hai cấp của NHNo Việt Nam, NHNo Sóc Sơn trở thành đơn vị thành viên trực thuộc của NHNo Việt Nam Năm 1996, lại một lần nữa được đổi tên thành NHNo&PTNT Sóc Sơn
Ngay từ khi mới thành lập, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã phải đối mặt với vô vàn khó khăn thử thách như: Số lượng lao động 107 cán bộ, trong đó chỉ có 7 đồng chí có trình độ Đại học, số còn lại có trình độ trung cấp và phần lớn chưa qua đào tạo kinh doanh tiền tệ trên địa bàn một huyện nghèo của Thủ đô Hà Nội, với tư tưởng bao cấp “xin cho” đã ăn sâu vào tiềm thức, mạng lưới hoạt động ít,
cơ sở vật chất vừa thiếu vừa lạc hậu, vì vậy kết quả hoạt động kinh doanh khi mới thành lập chủ yếu dựa vào hoạt động tín dụng, song nguồn vốn chỉ có khoảng 1.6 tỷ đồng Được tập trung cho vay hai thành phần kinh tế là: Doanh nghiệp Nhà Nước 38% và HTX 62%, Nợ quá hạn chiếm 5.3% trên tổng dư nợ
Cơ chế tín dụng bao cấp: cho vaytheo chỉ định, theo kế hoạch nhà nước, lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất huy động Vì vậy hoạt động của NHNo&PTNT Sóc Sơn nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng gặp muôn vàn khó khăn thử thách, không có định hướng, lúng túng về đối tượng và loại hình đầu tư
Đầu năm 1991, sau khi có văn bản 53/NHNg “về biện pháp cho vay ngắn hạn, trung hạn đối với hộ nông dân” của Tổng giám đốc NHNo Việt Nam, NHNo Sóc Sơn đã tiếp cận cho vay đối tượng hộ sản xuất Mặc dù hộ sản xuất
đã được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được giao quyền sử dụng đất lâu dài, song việc đầu tư cho vay kinh tế hộ ở NHNo&PTNT vẫn rất dè dặt Dư nợ cuối năm 1991 của cho vay kinh tế hộ là 113 triệu đồng bằng 4% trên tổng dư
Trang 24nợ Chỉ sau khi có chỉ thị 202/CT ngày 28/06/1991 và nghị định 14/CP ngày 02/03/1993 của Chính phủ Trên cơ sở quy định 499/NHNo ngày 23/07/1991 và tiếp đến là quyết định 499A/NHNo – TDNT ngày 02/09/1993 của Tổng giám đốc NHNo&PTNT thì việc cho vay hộ sản xuất ở NHNo&PTNT Sóc Sơn mới
có bước chuyển biến mới Từ chỗ cho vay gián tiếp qua các tổ chức đã chuyển sang cho vay trực tiếp hộ sản xuất Kết quả cho vay kinh tế hộ từ năm 1992 đến năm 1995 không ngừng tăng trưởng, bình quân hàng năm trong giai đoạn này cho vay kinh tế hộ tăng hơn 200% Đến năm 1995 dư nợ kinh tế hộ chiếm 41% tổng dư nợ của NHNo&PTNT Sóc Sơn Mặc dù không thuần túy là kinh doanh theo lợi nhuận, nhưng thực chất không còn là bao cấp trong hoạt động tín dụng, góp phần quan trọng đưa NHNo Sóc Sơn vào hoạt động thương mại
Cho đến năm 2001, sau 10 năm cho vay kinh tế hộ của NHNo&PTNT Việt Nam đạt kết quả to lớn về kinh tế và xã hội, thì đòi hỏi hệ thống NHNo&PTNT phải đa dạng hóa cơ cấu đầu tư, đối tượng khách hàng, trong đó đặc biệt chú trọng đến khách hàng là các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa hầu hết được thành lập theo luật doanh nghiệp với số lượng ngày càng tăng theo các năm Các doanh nghiệp này lại được Chính phủ hỗ trợ thông qua Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001
Có thể nói đây là một chủ trương đột phá về định hướng phát triển doanh nghiệp, một môi trường thuận lợi cho sự tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa Đồng thời cũng là một thị trường tiềm năng để Ngân hàng đầu tư tín dụng và dịch vụ Ngân hàng
Trong quá trình thực hiện đề án cơ cấu lại Ngân hàng giai đoạn
2001-2010 và đề án kinh doanh trên địa bàn đô thị loại I NHNo&PTNT đã xác định ngoài việc đẩy mạnh cho vay kinh tế hộ sản xuất, thì việc cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định là một hướng đầu tư mới, góp phần mở rộng đầu tư tín dụng và mở rộng thị phần trong các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng trên địa bàn huyện
Với nhận thức đó 6 năm qua chi nhánh NHNo&PTNT Sóc Sơn đã tích
Trang 25cực huy động vốn và đáp ứng kịp thời các nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hộ sản xuất kinh doanh Tính đến cuối năm 2007, kết quả cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa và các hộ sản xuất kinh doanh cũng đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận
Đến nay, sau hơn 19 năm hoạt động, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã trưởng thành và lớn mạnh không ngừng về nhiều mặt cả về mặt số lượng cũng như chất lượng Mặc dù hoạt động trên địa bàn huyện nghèo của Hà Nội, nhưng NHNo&PTNT Sóc Sơn lại được đánh giá là đơn vị khá trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Ngân hàng No&PTNT Sóc Sơn cũng tin tưởng rằng đồng vốn của Ngân hàng sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế trong công cuộc xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Sóc Sơn nói riêng và thủ đô Hà Nội nói chung
bộ kể cả cán bộ lãnh đạo quản lý được đặt ra Việc đào tạo cán bộ luôn được coi trọng đào tạo toàn diện như: Tín dụng, kế toán ngân hàng, tin học, ngoại ngữ, pháp luật, Marketing, quản lý, chính trị…
Đến nay, NHNo&PTNT Sóc Sơn có một mạng lưới gồm 1 trụ sở chính nằm trên địa bàn thị trấn Sóc Sơn, 2 chi nhánh cấp hai ở các khu vực Phù Lỗ, Nội Bài và 5 phòng giao dịch thuộc các khu vực Xuân Giang, khu công nghiệp Nội Bài, nhà ga T1 – Sân bay Nội Bài, Nỷ, Kim Anh, được phân bố đều trên địa bàn của Huyện để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế trên địa bàn
2.1.2 Về công tác tín dụng
Trang 26Với số vốn nhỏ bé của ngày mới thành lập là hơn 1 tỷ đồng kể cả tiền gửi
và cho vay, là một đơn vị luôn phải nhận điều vốn từ Ngân hàng cấp trên Đến nay, hoạt động tín dụng của chi nhánh đã đạt được những thành tựu nhất định
Trong huy động vốn: Với phương châm lấy nhu cầu cho vay làm mục tiêu huy động vốn, từ đó đã từng bước cân đối vốn cho vay trên toàn địa bàn Thực hiện đi vay để cho vay nên nguồn vốn của NHNo&PTNT Sóc Sơn không ngừng tăng trưởng Với các hình thức, phương thức huy động vốn phong phú, kể cả vốn nột tệ và ngoại tệ Vì vậy, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn các năm sau đều cao hơn năm trước
Tổng dư nợ cho vay các thành phần kinh tế tăng mạnh so với ngày đầu thành lập Diện cho vay ngày càng được mở rộng, đối tượng cho vay phong phú Năm 1991 khi bắt đầu cho vay kinh tế hộ thì đối tượng được vay chỉ là trồng trọt, chăn nuôi, đến nay đã mở rộng ra các đối tượng khác như kinh doanh, đời sống, xây dựng cơ sở hạ tầng và đi lao động ở nước ngoài Lúc đầu chỉ cho vay trực tiếp đến từng hộ, nay đã tiến hành cho vay qua tổ chức hội theo tinh thần nghị quyết 2308/NQLT và nghị quyết 02/NQLT giữa NHNo&PTNT Việt Nam với Hội nông dân Việt Nam, Hội phụ nữ Việt Nam Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua trên địa bàn huyện, vốn NHNo&PTNT Sóc Sơn đã chú trọng đầu tư vào các chương trình dự án đem lại hiệu quả kinh tế cao như: Dự án kinh doanh taxi cho Công ty dịch vụ cụm cảng hàng không sân bay miền Bắc, đầu tư cho vay mua ô tô cho HTX Vận Tải Nội Bài, sản phẩm thép, sản xuất chế biến kinh doanh chè các loại, thu mua nguyên liệu thuốc lá lá…Ngoài ra còn mạnh dạn cho vay chăn nuôi bò sữa, chăn nuôi
gà, vịt siêu trứng, lợn hướng lạc, phát triển kinh tế đồi rừng… Từ đó góp phần đắc lực vào việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trên địa bàn huyện
Việc mở rộng tín dụng đã dựa trên cơ sở an toàn, chất lượng và hiệu quả Thông qua việc xây dựng và mở rộng mạng lưới hoạt động, tạo điều kiện mở rộng tín dụng, tăng dư nợ, tạo yếu tố gắn kết, gần gũi với khách hàng cũng như
Trang 27với cấp ủy và chính quyền cơ sở, các hội đoàn thể ở nông thôn, từ đó có điều kiện đầu tư vốn có hiệu quả Đi đôi với việc nâng cao vai trò, nhiệm vụ của bộ phận kiểm tra kiểm toán nội bộ, hiệu quả và chất lượng tín dụng từng bước nâng lên rõ rệt, góp phần lành mạnh hóa chất lượng tín dụng toàn ngành
2.1.3 Công tác thanh toán và ngân quỹ
Hiện nay, doanh số thanh toán không dùng tiền mặt chiếm tỷ trọng hơn 80% trong tổng doanh số thanh toán Ngoài việc thực hiện thanh toán thông thường, thì nay đã áp dụng được nhiều phương thức thanh tóan nhanh và hiện đại như: Chuyển tiền điện tử liên ngân hàng, thanh toán liên hàng giá trị thấp, đại lý thanh toán thẻ cho ACB, sử dụng máy rút tiền tự động ATM toàn chi nhánh 07 chiếc
Năm 2007, doanh số thanh toán qua Ngân hàng là 35.287 tỷ đồng tăng 78.6% so với năm 2006.Tính đến 31/12/2007 có 17.672 khác hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm tăng 406 tài khoản, 12.300 thẻ ATM tăng 4.896 thẻ với tốc độ tăng 66% so với năm 2006, 16.230 khách hàng có dư
nợ tại Ngân hàng Doanh số thu chi tiền mặt là 5.354 tỷ, tăng 954 tỷ (= 122%)
so với năm 2006
Công tác ngân quỹ luôn đảm bảo an toàn, chính xác, mặc dù thu chi với
số lượng khách hàng lớn, các món thu chi nhỏ lẻ Song hầu hết cán bộ đều phát huy được những phẩm chất tốt đẹp của người cán bộ Ngân hàng Trong nhiều năm qua đã trả hàng ngàn món tiền thừa cho khách Từ đó đã tạo được niềm tin của khách hàng đối với hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT Sóc Sơn nói riêng
2.1.4 Công tác kinh doanh ngoại tệ
Phục vụ trên địa bàn thuần nông, nên khái niệm kinh doanh ngoại tệ chỉ được NHNo&PTNT Sóc Sơn biết đến vào cuối năm 1995, với hình thức ban đầu
là nhận tiền gửi bằng ngoại tệ của khách hàng tại khu vực Sân bay, kể cả doanh nghiệp và cá nhân Đến năm 2000, tham gia thanh toán quốc tế dưới hình thức
mở L/C, năm 2001 tham gia thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT, năm 2002
Trang 28tiến hành mua bán 2 loại ngoại tệ là USD và Euro, đầu năm 2003 mua thêm 5 loại ngoại tệ nữa là: Bảng Anh, Đô la Singapo, đô la Hông Kông, đô la Úc, Yên Nhật Năm 2006 thực hiện mua bán trên 10 loại ngoại tệ tại quầy thu đổi ngoại
tệ và tại các điểm giao dịch của chi nhánh Tính đến cuối năm 2007 doanh số mua bán ngoại tệ đạt 63,5 triệu USD tăng 43,8 triệu USD bằng 322% so với năm 2006 Trong năm đã chi tră 921 món kiều hối với số tiền 3,6 triệu USD tăng 1,6 triệu bằng 180% so với năm 2006 Kết quả chênh lệch thu chi của kinh doanh ngoại tệ đạt 1.715 triệu tăng 944 triệu bằng 222,4% so với 2006 Vì thế đến nay, họat động kinh doanh ngoại tệ của NHNo&PTNT Sóc Sơn đã đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần không nhỏ vào nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ giữa các tổ chức và cá nhân trên địa bàn Theo đúng quy định kinh doanh ngoại tệ của NHNo& PTNT Việt Nam và Ngân hàng Nhà Nước
2.2 KẾT QUẢ NỔI BẬT CỦA NHNo&PTNT SÓC SƠN TRONG NHỮNG NĂM QUA
2.2.1 Hoạt động huy động vốn
Các NHTM hoạt động trên cơ sở là “đi vay để cho vay” do vậy huy động vốn là hoạt động mang ý nghĩa sống còn đối với mỗi ngân hàng Hiểu rõ tầm quan trọng của việc huy động vốn, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã tích cực mở rộng các hình thức huy động để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn Trong từng giai đoạn NHNo&PTNT Sóc Sơn đã
áp dụng các biện phát năng động, mềm dẻo, áp dụng mức lãi suất phù hợp, tìm kiếm các nguồn vốn ổn định lãi suất thấp Đa dạng hoá các sản phẩm huy động vốn và mở rộng công tác thông tin tuyên truyền là 2 yếu tố tạo nên quy mô nguồn vốn của NHNo&PTNT Sóc Sơn
Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta có rất nhiều biến động, nó ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của hệ thống Ngân hàng Các Ngân hàng đua nhau hạ lãi suất cho vay, tăng lãi suất huy động để thu hút khách hàng, điều này gây không ít khó khăn cho ngân hàng Mặc dù kinh doanh trong điều kiện khó khăn như vậy nhưng nguồn vốn của Chi nhánh vẫn tăng trưởng không ngừng,
Trang 29chứng tỏ chi nhánh NHNo&PTNT Sóc Sơn đã tạo được niềm tin nơi người dân
và ngày một khẳng định uy tín của mình trong môi trường cạnh tranh gay gắt như hiện nay Có được điều đó phải kể đến chính sách huy động vốn luôn được chú trọng với các mức lãi suất linh hoạt, phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường cùng với các sản phẩm tiền gửi cung cấp cho khách hàng đa dạng, phong phú về kỳ hạn cũng như những ưu đãi nhất định như khuyến khích gửi với số lượng lớn, tiết kiệm dự thưởng vàng 3 chữ A của NHNo&PTNT Việt Nam…, đáp ứng nhu cầu ngày một gia tăng của khách hàng Ta có thể thấy rõ những gì mà các cán bộ NHNo&PTNT đạt được trong thời gian qua qua hai bảng tình hình huy động vốn sau đây:
Bảng 1: CƠ CẤU NGUỒN VỐN HUY ĐỘNG THEO KỲ HẠN
TẠI NHNO&PTNT SÓC SƠN
+, (%)Tổng vốn huy động 585.477 19% 822.663 40,5% 995.915 21,1%
-1 Nguồn vốn
-Tiền gửi không kỳ hạn 170.732 33% 202.196 18,4% 251.080 24,2%-Tiền gửi có kỳ hạn 354.820 14% 545.791 53,8% 648.812 19%+KH <12th 98.077 25% 240.199 145% 264.833 10,3%+12th<=KH<24th 210.834 11% 222.728 5,6% 240.375 8%
2 Nguồn vốn Ngoại tệ 59.925 16% 74.676 24,6% 96.023 28,6%-Tiền gửi không kỳ hạn 10.999 50% 10.786 2% 26.242 143,3%-Tiền gửi có kỳ hạn 48.926 10% 63.890 30,6% 69.781 9,2%
Trang 30Qua bảng số liệu trên, dễ dàng nhận thấy sự tăng trưởng rõ rệt của tổng nguồn vốn huy động Qua các năm, từ năm 2005, tổng nguồn vốn huy động của NHNo Sóc Sơn là 585477 triệu đồng với tốc độ tăng so với năm 2004 là 19%,
và cho đến năm 2006, tổng nguồn vốn huy động lên đến 822 663 triệu đồng với tốc độ tăng so với năm 2005 là 41%, chứng tỏ tổng nguồn vốn huy động tăng trưởng ổn định Tiêu biểu là năm 2006 là năm có tốc độ tăng trưởng cao nhất từ trước đến nay, trong đó nội tệ chiếm tỷ trọng lớn 90,92% tăng 42,3%, ngoại tệ chiếm tỷ trọng 9,08% tăng 24,6% Tổng nguồn vốn đến 31/12/2007 đạt xấp xỉ
996 tỷ đồng tăng 173,3 tỷ với tốc độtăng trưởng 21,1% so với năm 2006 và bằng 104% so với chỉ tiêu mà NHNo&PTNT Việt Nam giao (996 triệu/960 tỷ) tăng
36 tỷ đồng, bằng 105% so với đề án kinh doanh 2006- 2010 (996 triệu/745 tỷ) Nguồn vốn bình quân người là 10,7 tỷ tăng 1,4 tỷ so với năm 2006 Ngoài ra có thể thấy, mặc dù nguồn vốn ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn nhưng trong thời gian gần đây, nguồn vốn trung hạn có xu hướng tăng dần, chứng tỏ xu hướng chuyển dịch từ nguồn vốn ngắn hạn sang trung hạn được ngân hàng chú ý quan tâm, là kết quả của việc nỗ lực khai thác tối đa các nguồn lực của mọi thành phần kinh tế cũng như thể hiện công tác marketing của ngân hàng có hiệu quả Từ đó tạo tính ổn định hơn nữa trong nguồn vốn huy động của ngân hàng và đáp ứng nhu cầu vay trung và dài hạn của khách hàng
Vốn huy động phân theo thành phần kinh tế được thể hiện trong bảng số liệu và biểu đồ sau:
Trang 31Bảng 2: CƠ CẤU HUY ĐỘNG VỐN THEO THÀNH PHẦN KINH TẾ
CỦA NHNO&PTNT SÓC SƠN
-Tiền gửi của dân cư: 360.041 61,5 426.899 51,9 516.601 51,9
+Tiền gửi tiết kiệm
+Kỳ phiếu
330.57329.468
409.65817.241
58.1368.465-Tiền gửi của tổ chức kinh tế 225.436 38,5 395.764 48,1 479.314 48,1
(Nguồn: Phòng kinh doanh NHNo&PTNT Sóc Sơn)
Tiền gửi của dân cư và tiền gửi của các tổ chức kinh tế qua các năm đều tăng, tổng vốn huy động tăng mạnh Cụ thể, năm 2005 tiền gửi của dân cư từ 360.041 triệu đồng đến năm 2006 là 426 899 triệu đồng và con số này đã tăng lên 516.601 triệu đồng vào năm 2007 chiếm 51,9% tổng nguồn, tăng trưởng 21% so với năm 2006; tiền gửi của các tổ chức kinh tế năm 2005 là 225.436 triệu đồng, cho đến năm 2006 lên đến 395.764 triệu đồng, và là 479.341 triệu
Trang 32đồng vào năm 2007 chiếm tỷ trọng 48,1% tổng nguồn, tăng trưởng 21,1% so với năm 2006 Tỷ trọng tiền gửi của dân cư trong tổng nguồn giảm dần từ 61,5% năm 2005 xuống 51,9% năm 2006 và tỷ lệ giữ nguyên đến năm 2007, tuy nhiên,
nó vẫn là loại tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn, trong khi đó tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng dần từ năm 2005 là 38,5% lên 48,1% trong năm 2006
và tỷ trọng vẫn không đổi là 48,1% trong năm 2007 Tuy có sự chuyển dịch tỷ trọng trong các năm 2005 đến 2006 nhưng trong năm 2007 cơ cấu nguồn vốn tăng tương đối ổn định đảm bảo được khả năng thanh khoản và nhu cầu tín dụng trên địa bàn Ngoài ra, nhìn vào bảng số liệu cũng như biểu đồ ta thấy, tiền gửi của các TCTD bằng 0 trong cả 3 năm liên tiếp, điều này chứng tỏ, ngân hàng đã khắc phục được nguồn tiền gửi từ các TCTD, không còn phải sử dụng giải pháp tình thế là đi vay vốn từ các TCTD khác nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời trong ngắn hạn, nên đã chủ động hơn trong đầu tư vốn
Từ những số liệu phản ánh tình hình về hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT Sóc Sơn, có thể thấy, nguồn vốn huy động tại đây còn tiếp tục tăng mạnh trong tương lai, từ đó tạo điều kiện tìm ra nhiều hình thức đầu tư và cho vay hiệu quả hơn nữa, nhằm góp phần phân tán rủi ro
2.2.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn chủ yếu là cho vay hộ sản xuất, cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ trên phạm vi toàn huyện đã đạt được những thành tựu đáng
kể, đáp ứng nhu cầu vốn cho các chủ thể kinh doanh, cải thiện đời sống
Bảng 3: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN CỦA NHNO&PTNT SÓC SƠN
(Nguồn: Phòng kinh doanh NHNo&PTNT Sóc Sơn)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, dư nợ Tín dụng đến tháng 31/12/2007 đạt 609,2 tỷ đồng, tăng trưởng 160,2 tỷ đồng bằng 135,7% so với năm 2006, bằng
Trang 33103% kế hoạch 2007 (609,2 tỷ/590 tỷ) và bằng 112,7% so với đề án kinh doanh 2006- 2010 (609,2 tỷ/540 tỷ).
Doanh số cho vay và doanh số thu nợ tăng lên qua các năm, cụ thể doanh
số cho vay và doanh số thu nợ năm 2006 đều tăng 42,3%so với năm 2005, đặc biệt năm 2007 doanh số cho vay đạt 2.580.265 triệu đồng, tăng 111,9% so với năm 2006, doanh số thu nợ đạt 2.412.803 tăng 111,6% so với năm 2006 Nguyên nhân của sự tăng trưởng này là do kinh tế trên địa bàn Sóc Sơn được đánh giá là tăng trưởng cao nhất trong 20 năm qua, cơ cấu kinh tế được chuyển dịch cơ bản từ nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ sang công nghiệp – dịch vụ
- nông nghiệp Vì vậy doanh số cho vay cũng như doanh số thu nợ tăng vọt, nó cũng thể hiện cố gắng lớn của cán bộ công nhân viên chức, tất cả vì đồng vốn của ngân hàng bỏ ra được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, góp phần vào sự phát triển kinh tế toàn huyện, vì nguồn thu nhập chủ yếu của Ngân hàng
2.2.2 Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Sóc Sơn:
Kết quả kinh doanh chính là chỉ tiêu cuối cùng phản ánh tình hình họat động kinh doanh của ngân hàng Trong thời gian qua, Ngân hàng đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu do Trung ương đề ra:
Bảng 4: KẾT QUẢ KINH DOANH
CỦA NHNO&PTNT SÓC SƠN QUA CÁC NĂM
(Nguồn: Phòng kinh doanh NHNo&PTNT Sóc Sơn)
Mặc dù hoạt động trên địa bàn một huyện nghèo của Hà Nội, nhưng NHNo Sóc Sơn lại được đánh giá là đơn vị kinh doanh khá trong lĩnh vực ngân hàng Tổng thu nhập và tổng chi phí qua các năm đều tăng lên, đặc biệt là tổng