1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

127 5,5K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 8,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu chủ trương "gắn công tố với hoạt động điều tra" của Đảng sẽ góp phần thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong thực tiễn; nâng cao nhận thức của cán bộ, KSV ngành

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

bùi mạnh c-ờng

gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần nghị quyết đại hội đảng lần thứ x - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

luận văn thạc sĩ luật học

Hà nội - 2012

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

bùi mạnh c-ờng

gắn công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần nghị quyết đại hội đảng lần thứ x - một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Trang 3

1.2 Lược sử mối quan hệ giữa công tố và điều tra ở Việt Nam

trước khi có Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988

đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

24

1.3 Mối quan hệ giữa công tố và hoạt động điều tra theo quy

định của pháp luật một số nước trên thế giới

Trang 4

NAY (SỐ LIỆU 5 NĂM: TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010)

2.1 Mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra theo quy

định của luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành

40

2.2 Những kết quả đạt được trong việc giải quyết mối quan hệ

giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn điều tra vụ

án hình sự và nguyên nhân của những kết quả đạt được

mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra ở giai đoạn

điều tra vụ án hình sự và nguyên nhân của những hạn chế,

3.1 Quán triệt các quan điểm của đảng về tăng cường trách

nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với

hoạt động điều tra

77

3.2 Nâng cao nhận thức của cán bộ, Kiểm sát viên về chủ

trương gắn công tố với hoạt động điều tra, về trách nhiệm

công tố của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra

80

3.3 Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ, công tác quản lý, chỉ đạo, 83

Trang 5

điều hành tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Viện trưởng

Viện kiểm sát các cấp trong việc thực hiện chủ trương gắn

công tố với hoạt động điều tra

3.4 Nâng cao ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức; tăng cường

đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, Kiểm sát viên

90

3.5 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho

các đơn vị làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố; đổi mới

cơ chế tiền lương, chính sách đối với cán bộ, Kiểm sát viên

95

3.6 Tăng cường mối quan hệ phối hợp, chế ước giữa Viện kiểm

sát và cơ quan điều tra trong đấu tranh phòng, chống tội

phạm; tăng cường quan hệ phối hợp giữa các đơn vị thực

hành quyền công tố với các đơn vị thực hiện các khâu công

tác khác trong ngành

99

3.7 Nâng cao chất lượng hoạt động tương trợ tư pháp hình sự;

tăng cường quan hệ với với các nước có nền công tố mạnh

để trao đổi, nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm thực hành

3.9.1 Tăng thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt

động kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

ĐTV : Điều tra viên KSV : Kiểm sát viên VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian qua, hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của

Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát (VKS) đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, chất lượng điều tra, truy tố tội phạm đã có những chuyển biến rõ rệt và tích cực Tuy nhiên, vẫn còn để xảy ra hiện tượng oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm; vẫn còn những trường hợp khởi tố, bắt, giam giữ không đúng pháp luật làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; vẫn còn những hiện tượng vi phạm pháp luật tố tụng hình sự của CQĐT, VKS Một trong những nguyên nhân đó là tình trạng "cắt khúc" trong tố tụng hình sự,

cơ chế gắn trách nhiệm công tố với hoạt động điều tra còn chưa được xác định một cách rõ ràng; nhiều quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) chưa hợp lý gây ra khó khăn, vướng mắc, bất cập cho VKS trong quá trình thực hiện chức năng công tố ở giai đoạn điều tra, chưa đảm bảo "thực quyền" công tố, hiệu lực các quyết định công tố của VKS trên thực tế

Nhận thức của một số Kiểm sát viên (KSV) ngành Kiểm sát nhân dân

về chức năng công tố, về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của VKS khi thực hành quyền công tố, về mối quan hệ giữa hai chức năng công tố và kiểm sát điều tra của VKS, về mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều tra của CQĐT còn chưa rõ ràng, đầy đủ nên gặp nhiều khó khăn, lúng túng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự

Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo

vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đến việc cải cách tư pháp Công cuộc cải cách tư pháp ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh, đồng bộ với cải cách lập pháp và hành pháp Trong những văn kiện, nghị quyết quan trọng của Đảng về cải cách tư pháp có nhiều nội dung đề cập đến

Trang 8

cải cách tổ chức và hoạt động của CQĐT, VKS Một trong những ch trương được Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và sau đó là Nghị quyết

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề cập đến là "gắn công tố với hoạt động

điều tra"

Việc nghiên cứu chủ trương "gắn công tố với hoạt động điều tra" của Đảng sẽ góp phần thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng trong thực tiễn; nâng cao nhận thức của cán bộ, KSV ngành Kiểm sát nhân dân về vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình thực hành quyền công tố; làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc gắn công tố với hoạt động điều tra; đồng thời đưa ra một số kiến nghị sửa đổi luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo thực hiện chủ trương gắn công tố với hoạt động điều tra, đảm bảo hiệu lực, thực quyền của VKS trong giải quyết án hình sự

Xuất phát từ những lý do trên, học viên quyết định chọn đề tài: "G

công tố với hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự theo tinh thần

Đại hội Đảng lần thứ X - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm đề

tài luận văn cao học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề mối quan hệ giữa công tố và hoạt động điều tra đã được một

số sách, báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, đề cập như cuốn "Thực hành quyền

công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra" do TS Lê

Hữu Thể chủ biên; Chuyên đề "Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt

động điều tra" do Vụ Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án trật tự

xã hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thực hiện; GS.TSKH Lê Cảm có bài "Những vấn đề lý luận về chế định quyền công tố (nhìn nhận từ

góc độ Nhà nước pháp quyền)"; TS Trần Văn Độ có bài "Một số vấn đề về

quyền công tố"; TS Trần Đình Nhã đề cập đến "Chức năng công tố của Viện kiểm sát nhân dân, mối quan hệ giữa việc thực hiện quyền công tố với các hoạt động kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử" Ngoài ra, còn một số bài viết

Trang 9

khác của các tác giả đăng tải trên Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Luật học, cũng đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến mối quan hệ giữa công tố và điều tra

Tuy nhiên, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, nghiên cứu sâu về chủ trương gắn công tố với hoạt động điều tra để nâng cao chất lượng điều tra, truy tố theo tinh thần Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X Do vậy, việc đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này

có ý nghĩa quan trọng trong lý luận và thực tiễn

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa công và hoạt động điều tra; so sánh, đối chiếu với luật pháp một số quốc gia trên thế giới; nghiên cứu lịch sử mối quan hệ giữa công tố với điều tra từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn vướng mắc trong mối quan hệ giữa công tố và điều tra hiện nay và nguyên nhân của kết quả, hạn chế; tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường việc gắn công tố với hoạt động điều tra, kiến nghị sửa đổi một số quy định của BLTTHS năm

2003, góp phần đảm bảo hoạt động điều tra, truy tố được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu l là quyền công tố, thực hành quyền công tố, mối quan hệ giữa công tố và điều tra theo những chủ trương của Đảng và pháp luật của Việt Nam, có nghiên cứu một số nội dung theo pháp luật các quốc gia khác; thực trạng mối quan hệ giữa công tố và điều tra theo

số liệu thống kê trong 5 năm (từ năm 2006 đến 2010)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp

Trang 10

Quá trình nghiên cứu đề tài còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cụ thể như phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá, khảo sát thực tiễn… để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Là cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu một số nội dung về công tố và điều tra

Là cơ sở cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về mối quan hệ giữa công tố

và điều tra

Là cơ sở cho việc xây dựng và hoàn thiện một số quy định pháp luật liên quan đến chủ trương tăng cường gắn công tố với hoạt động điều tra để đảm bảo hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự

Là cơ sở để những người làm thực tiễn nghiên cứu, vận dụng vào quá trình tố tụng, tăng cường mối quan hệ giữa CQĐT và VKS trong trong việc giải quyết đúng đắn các vụ án hình sự

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về công tố và hoạt động điều tra Chương 2: Thực trạng về mối quan hệ giữa công tố với hoạt động điều

tra tại Việt Nam (số liệu 5 năm: từ năm 2006 đến năm 2010)

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực

hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra

Trang 11

Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng tồn tại các quan điểm khác

nhau về điều tra, theo Từ điển Luật học: "Điều tra là công tác trong tố tụng

hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ" [30]

Theo cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay, điều tra là hoạt động của CQĐT trong điều tra vụ án hình sự, là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra do CQĐT thực hiện

"Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy

tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án" [3]

hoặc: "Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình

sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội" [5]

Hoạt động điều tra là hoạt động tố tụng nhằm phát hiện, thu thập, củng

cố, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án nhằm sử dụng làm chứng cứ chứng minh các tình tiết của vụ án

Trang 12

VKS

Hoạt động điều tra chủ yếu là do CQĐT tiến hành, VKS chỉ tiến hành điều tra trong một số trường hợp nhất định CQĐT là một mắt xích quan trọng thực hiện nhiệm vụ chung của quá trình tố tụng hình sự Đó là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh kịp thời mọi hành vi phạm tội, không

để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội CQĐT là cơ quan tiến hành tố tụng, nằm trong hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng hình sự do BLTTHS quy định CQĐT thực hiện giai đoạn đầu của quá trình tố tụng hình sự là giai đoạn điều tra à giai đoạn đầu nên những sai lầm, thiếu sót của CQĐT trong quá trình điều tra thường gây khó khăn cho giai đoạn truy tố, xét xử Không hiếm trường hợp những sai lầm thiếu sót của giai đoạn truy tố, xét xử bắt nguồn từ giai đoạn điều tra Chính vì vậy, hoạt động điều tra tiến hành khách quan, toàn

Nhiệm vụ của hoạt động điều tra do CQĐT tiến hành là điều tra tất cả các tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội

phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Khi CQĐT trực tiếp phát hiện tội

phạm, cũng như sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác của nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội về tội phạm xảy ra thì CQĐT phải có nhiệm vụ khởi tố

vụ án và tiến hành điều tra trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nếu có đủ cơ sở và căn cứ Để điều tra khám phá tội phạm, CQĐT cần phải áp dụng mọi biện pháp của BLTTHS quy định Thực tiễn cho thấy, không có BLTTHS nào có thể liệt kê tất cả các biện pháp và những phương tiện có thể áp dụng trong quá trình điều tra để khám phá thủ phạm mà chỉ quy

Trang 13

định phạm vi chung nhất những biện pháp và phương tiện đó Do đó, quá trình điều tra, CQĐT ngoài áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật còn phải áp dụng các biện pháp khác phù hợp với pháp luật

Đặc biệt lưu ý, pháp luật yêu cầu CQĐT phải áp dụng mọi biện pháp

do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi tội phạm Điều này có nghĩa là, trong quá trình điều tra, nếu có cơ sở, CQĐT cần phải áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Thực tiễn cho thấy, không hiếm trường hợp VKS trả lại hồ sơ vụ án, yêu cầu điều tra bổ sung do CQĐT chưa áp dụng hết các biện pháp theo quy định của pháp luật để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Như vậy, thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ đảm bảo tính đầy đủ, tính toàn diện của hoạt động điều tra, giúp cho CQĐT tranh được những sai lầm, thiếu sót Đồng thời, trong quá trình điều tra, CQĐT cũng cần

áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa tội phạm

CQĐT không chỉ tiến hành điều tra tất cả những tội phạm xảy ra mà còn phải xác định được tội phạm người thực hiện hành vi phạm tội là nhiệm

vụ của giai đoạn điều tra Như vậy, xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội vừa là nhiệm vụ của CQĐT vừa là tiêu chí để đánh giá hiệu quả của hoạt động điều tra Bởi vì, chỉ sau khi xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội CQĐT mới lập hồ sơ để đề nghị truy tố người thực hiện hành vi phạm tội Xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng có nghĩa là đã khám phá tội phạm, chứng minh làm rõ

sự thật của vụ án đã xảy ra

Sau khi điều tra xác định được tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội đáng phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì CQĐT phải kịp thời lập hồ sơ đề nghị truy tố CQĐT cần xác định chính xác những vấn đề cần chứng minh và thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ chứng minh từng vấn đề đó, cần đưa hết tất cả những tài liệu, chứng cứ đã thu

Trang 14

thập được vào hồ sơ vụ án, nghiêm cấm những hành vi tẩy xóa, bớt xén, làm mất mát hư hỏng hay đánh tráo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án ảnh hưởng đến tính khách quan, toàn diện của hoạt động điều tra

Ngoài ra, CQĐT còn có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục

ngăn ngừa Đây chính là nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm của CQĐT Nhiệm

vụ này có thể xác định là hệ quả của việc thực hiện điều tra khám phá các tội phạm xảy ra Điều này có thể được giải thích là trong quá trình điều tra CQĐT phải chứng minh làm rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội và dựa trên

cơ sở đó với tư cách là một cơ quan tiến hành tố tụng tất yếu phải yêu cầu các

cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Như vậy, nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm mà CQĐT phải thực hiện chỉ ở trong phạm vi hẹp, chủ yếu là thông qua hoạt động điều tra làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội dựa trên cơ sở đó yêu cầu các cơ quan hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa Hay nói cách khác, nhiệm vụ phòng ngừa của CQĐT chính là phòng ngừa tội phạm dựa trên cơ sở tài liệu trong hồ sơ vụ án cụ thể

Thứ nhất, hoạt động điều tra được tiến hành công khai theo các trình

tự, tủ tục, thẩm quyền do pháp luật quy định Khi tiến hành các biện pháp điều tra phải có mặt của những người mà luật định và họ phải ký vào biên bản hoạt động điều tra (như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại…) Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện ở biện pháp và các thủ tục tố tụng được tiến hành, còn n i dung, kết quả điều tra thì phải bí mật Việc giữ bí mật điều tra là yêu cầu nghiệp vụ, một nguyên tắc được luật định có ý nghĩa quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc điều tra, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án

Tính công khai của hoạt động điều tra là tiêu chí cơ bản nhất để phân biệt với hoạt động trinh sát được tổ chức và tiến hành dưới hình thức bí mật

Trang 15

cả về nội dung, phương pháp để nắm bắt tin tức về hoạt động của các ổ nhóm tội phạm, theo dõi và truy bắt các đối tượng phạm tội lẩn trốn, nhằm phòng ngừa tội phạm

Thứ hai, tùy theo đặc điểm của vụ án hình sự mà CQĐT áp dụng các

biện pháp điều tra cho phù hợp, nhưng các vụ án điều phải trải qua những thủ tục chung như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lập hồ sơ vụ án hình sự, đề nghị truy tố người phạm tội hoặc đình chỉ điều tra theo quy định pháp luật

Thứ ba, phạm vi điều tra các tình tiết thực tế của vụ án rộng hơn phạm

vi những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự do luật định Để xác định được một tình tiết quy định tại Điều 63 của BLTTHS thì CQĐT phải làm

rõ được những tài liệu, chứng cứ liên quan Chẳng hạn, để xác định ai là người thực hiện hành vi phạm tội, trước tiên phải chứng minh người đó có mặt tại hiện trường vào thời điểm xảy ra vụ án (thông qua các dấu vết, vật chứng, lời khai người bị hại, lời khai người làm chứng…)

Thứ tư, hoạt động điều tra vụ án hình sự có thể phải áp dụng các biện

pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam và áp dụng ác biện pháp cưỡng chế như khám xét chỗ ở, khám xét nơi làm việc, khám xét thân thể; do đó thường tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân

Thứ năm, trong tố tụng hình sự nước ta, hoạt động điều tra của CQĐT

phải chịu sự chế ước và kiểm sát chặt chẽ của cơ quan VKS Điều này được thể hiện thông qua việc luật quy định các nhiệm vụ, quyền hạn cho VKS để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp (xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQĐT, yêu cầu điều tra; quyết định áp dụng, thay đổi các biện pháp ngăn chặn, hủy bỏ các quyết định không có căn

cứ và trái pháp luật của CQĐT…) Điều này khác với nhiều nước theo truyền thống tranh tụng, cơ quan công tố ít can thiệp vào quá trình điều tra, chủ yếu chỉ tư vấn pháp luật cho CQĐT về hướng điều tra, chứng cứ và tội danh, áp dụng pháp luật

Trang 16

Có thể nói, hoạt động điều tra có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động công tố của VKS Kết quả xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, tiến hành các hoạt động điều tra ban đầu là cơ sở để VKS thực hành quyền công tố, quyết định việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định hạn chế quyền công dân đối với người phạm tội, thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng Tác động của kết quả điều tra đến hoạt động công tố không chỉ giới hạn ở số lượng, chất lượng chứng cứ mà còn là nhận định, đánh giá tội phạm Những sai lầm, thiếu sót trong hoạt động điều tra tất yếu sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc giải quyết vụ án hình sự như truy tố, xét xử oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm

Nghiên cứu lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới cho thấy, về cơ bản khái niệm quyền công tố được biết đến ngay từ thời đại xa xưa của xã hội loài người, được phát triển và dần hoàn thiện cùng với sự phát triển và hoàn thiện

bộ máy và các chức năng của Nhà nước Quyền công tố xuất hiện do nhu cầu bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và nhu cầu duy trì an ninh chung của xã hội, chống lại những hành vi xâm phạm lợi ích chung, lợi ích công cộng

Trang 17

, ngay cả khi VKS kiến nghị các cơ quan nhà nước khắc phục vi phạm pháp luật trên lĩnh vực hành chính - kinh tế - xã hội cũng là thực hành quyền công tố , "

VKS

" [15]K

hi VKS

3

; công t

Hiến pháp và các luật Theo quy định của pháp luật nước ta trước khi Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi thì VKS

theo

Quan điểm thứ hai cho rằng, "quyền công tố là quyền của Nhà nước

giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại

Trang 18

phiên tòa (thực hiện quyền công tố)" [24]

VKS

Quan điểm này đã quá thu hẹp nội dung, phạm vi quyền công tố, không phản ánh được đầy đủ bản chất của quyền này Hoạt động truy tố và buộc tội của VKS tại phiên tòa chỉ là một số quyền hạn của VKS

VKS

VKS

Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố

tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt động tố tụng của Điều tra viên (ĐTV), KSV, th

khác được pháp luật quy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng như các căn cứ để kết tội và áp dụng các hình phạt đối với người phạm tội

ích chung của toàn xã hội, do đó kẻ phạm tội phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị trừng trị bằng các chế tài hình sự Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng chế tài hình sự đối với người phạm tội được thực hiện bởi các cơ quan

định, trong từng giai đoạn nh Theo quan điểm nêu trên thì không chỉ

Trang 19

CQĐT và Cơ quan công tố mà cả Cơ quan xét xử và Cơ quan thi hành án đều

là chủ thể thực hành quyền công tố

Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền công tố

Quyền công tố luôn gắn liền với hoạt động buộc tội nhân danh nhà nước, chỉ được thực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự Chủ thể tham gia vào hoạt động thực hành quyền công tố chỉ bao gồm CQĐT và Viện công tố Riêng quyền truy tố kẻ

các luật gia ở miền Nam nước ta trước năm 1975 Theo họ:

Hành vi đưa các phạm nhân ra trước Tòa để xét xử là sự truy tố Cái quyền truy tố ấy là công tố quyền, vì là quyền của cộng đồng xã hội trừng trị kẻ gian manh qua các đại diện của xã hội Và các Thẩm phán được giao phó nhiệm vụ xử hành công tố quyền là những Thẩm phán công tố [27]

Tố quyền này được gọi

là công tố quyền, có đối tượng là sự áp dụng các biện pháp hình sự (hình phạt

Trang 20

và các chế tài khác) Theo các luật gia miền Nam, về bản chất, quyền công tố thuộc về xã hội vì chỉ có xã hội mới có quyền quyền trừng phạt Do đó, phạm

vi quyền công tố chỉ giới hạn trong tố tụng hình sự và trước Tòa án

Trên đây là một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố Mỗi quan điểm đều có những cách lý giải khác nhau, có hạt nhân hợp lý riêng Tuy nhiên, xuất phát từ căn cứ khoa học, các quy định của pháp luật, thực tiễn hoạt động của các cơ quan tư pháp cũng như kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công tố ở các nước khác cho thấy các quan điểm trên đã bộc lộ một

số bất cập như hoặc là đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc

tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đ

, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố người phạm tội

coi quyền công tố là

một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo

pháp luật trong tố tụng hình sự, dẫn đến việc xem nhẹ bản chất của quyền

công tố là một hoạt động độc lập của VKS nhân danh quyền lực công

Có thể thấy rằng, điểm hạn chế chung nhất của hầu hết các công trình nghiên cứu về quyền công tố là không phân định rõ được khái niệm, bản chất, nội dung, phạm vi của quyền công tố, hoạt động thực hành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Đa số các tác giả đều cho rằng hai chức năng của VKS (chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật) như pháp luật trước đây quy định vừa có tính độc lập tương đối, vừa liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau, giữa chúng có những nội dung hòa nhập vào nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời, tạo nên sự thống nhất trong chức năng của VKS

Chúng tôi cho rằng, quyền công tố chỉ xuất hiện trong hoạt động tố tụng hình sự, nó gắn liền không thể tách rời với việc nhân danh Nhà nước,

Trang 21

nhân danh công quyền chống lại hình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm Trong hoạt động tố tụng hình sự, chúng ta thấy luôn luôn tồn

tại ba chức năng tố tụng cơ bản là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa

(gỡ tội), chức năng xét xử Buộc tội, với tư cách là một chức năng tố tụng luôn nhằm chống lại một cá nhân cụ thể và thực chất đó chính là hoạt động

truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Người buộc tội có trách

nhiệm và có quyền đưa ra lời cáo buộc cụ thể đối với những cá nhân cụ thể và

có nhiệm vụ phải đưa ra những bằng chứng cụ thể cho sự cáo buộc đó Trong chức năng buộc tội, hình thức buộc tội nhân danh nhà nước (nhân danh quyền lực công) giữ vai trò là động lực của hoạt động tố tụng Nó được coi là trục chính, thu hút hoạt động của tất cả những ai tham gia tố tụng

Một điểm lưu ý là trong tài liệu của

(Kiểm sát viên), các gọi họ là "người

buộc tội nhân danh nhà nước" Và thuật ngữ "buộc tội nhân danh nhà nước"

được dịch ngắn gọn sang tiếng Việt, theo đúng nghĩa của nó, là "Công tố"

Về thực tiễn, luật tố tụng hình sự chia hoạt động tố tụng ra thành các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Hoạt động điều tra đúng pháp luật là điều kiện tiên quyết và là tiền đề đảm bảo pháp chế để cơ quan công tố tiến hành tốt hai hoạt động công tố tiếp theo là truy tố bị can và buộc tội bị cáo tại phiên tòa xét xử của Tòa án Để đảm bảo việc truy tố và buộc tội đúng pháp luật, cơ quan Công tố phải đảm bảo cho hoạt động điều tra đúng pháp luật, ngoài việc kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra của CQĐT (kiểm sát hoạt động điều tra), cơ quan Công tố phải có những nhiệm vụ, quyền hạn

có tính chất quyết định đến việc giải quyết vụ án hình sự ngay từ khi phát hiện tội phạm, ngay từ giai đoạn điều tra Những nhiệm vụ, quyền hạn có tính chất quyết định này là quyền công tố trong giai đoạn điều tra Đây cũng là luận điểm được thừa nhận chủ yếu hiện nay và được thể hiện trong luật thực định của Việt Nam hiện hành

Trang 22

Từ những nội dung được trình bày trên, chúng tôi cho rằng: Quyền

công tố là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội do một cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện (ở nước ta là VKS)

để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; cơ quan công tố có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội, trên cơ sở đó truy tố người phạm tội trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên tòa

, có thể thấy :

VKS

công

VKSVKS

VKS

Trang 23

Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra, theo quy định tại Điều 113 BLTTHS năm 2003, VKS có nhiệm vụ và quyền hạn kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và lập hồ sơ

vụ án của CQĐT; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng, áp dụng các biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của các cơ quan hoặc cá nhân này VKS có quyền yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của ĐTV, yêu cầu Thủ trưởng CQĐT

xử lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra

Về chủ trương "Gắn công tố với hoạt động điều tra": Nội dung gắn công tố với hoạt động điều tra có thể được hiểu theo nghĩa gắn Cơ quan thực hiện chức năng công tố với CQĐT và gắn việc thực hiện chức năng công tố với các hoạt động điều tra Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và phù hợp với thực tiễn tổ chức bộ máy VKS và CQĐT hiện nay cũng như xu hướng trong thời gian tới thì không khả thi nếu tổ chức CQĐT thuộc VKS, nằm trong hệ thống cơ quan VKS để VKS trực tiếp chỉ đạo hoạt động điều tra Do đó, gắn công tố với hoạt động điều tra theo chủ trương của Đảng được hiểu là gắn việc thực hiện quyền công tố của VKS với các hoạt động điều tra của CQĐT

1.2 LƯỢC SỬ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TỐ VÀ ĐIỀU TRA Ở VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003

1.2.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 1945 đến trước năm 1960

Trước diễn biến phức tạp của tình hình cách mạng và đất nước sau Cách mạng tháng , cơ quan thực hiện quyền công tố nhà nước được tổ

Trang 24

chức rất đa dạng, linh hoạt phục vụ nhiệm vụ cách mạng Tại các phiên tòa xét xử của Tòa án Quân sự, Tòa án binh hay Tòa án đặc biệt đều có chủ thể thực hiện quyền công tố Tuy nhiên, chỉ có trong Tòa án tư pháp mới có Viện Công tố với nghĩa là một cơ quan có hệ thống, được tổ chức chặt chẽ tương ứng với từng cấp Tòa án (trừ Tòa sơ cấp) Sự phát triển của ngành Công tố từ năm 1945 đến trước năm 1958 (trước khi thành lập Viện Công tố độc lập) chủ yếu gắn liền với quá trình xây dựng và phát triển của ngành Tòa án Các Thẩm phán của Công tố Viện (Thẩm phán buộc tội) do Chưởng lý đứng đầu Các Thẩm phán buộc tội hợp thành một đoàn thể độc lập đối với các Thẩm phán xử án và duy nhất đặt dưới quyền quản lý của Chưởng lý Chưởng lý giữ toàn quyền công tố tức là các thẩm phán buộc tội thực hiện sự ủy quyền của Chưởng lý Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền ra lệnh cho Chưởng lý nhưng không được phép hành động thay Chưởng lý (các điều 49,51 Sắc lệnh 13)

Các Thẩm phán buộc tội tại Tòa án đệ nhị cấp được gọi là Biện lý, Biện lý có các quyền: Nhận đơn khởi tố của tư nhân, biên bản về những việc

vi phạm do Ban tư pháp cảnh sát lập; điều khiển hoạt động và giám sát hoạt động của Ban tư pháp cảnh sát trong quản hạt của mình, đình cứu, tạm đình cứu hoặc miễn tố theo thẩm quyền; đưa vụ việc ra phiên tòa để xét xử hoặc đưa vụ việc sang phòng dự thẩm để thẩm cứu (điều tra) (Điều 21 Sắc lệnh 51/SL); thực hành quyền công tố, truy tố bị can ra trước Tòa và buộc tội bị can tại phiên tòa (đưa ra tất cả các bằng chứng, triệu tập nhân chứng và đương

sự đôi bên ra Tòa - Điều 23 Sắc lệnh 51/SL); Kháng cáo mệnh lệnh của Dự thẩm (Điều 24 Sắc lệnh 51/SL); Tổ chức thi hành cấp tốc những mệnh lệnh của Chánh án tại phiên tòa Thi hành những bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (Điều 29 Sắc lệnh 51/SL)

Như vậy, trong thời kỳ này mặc dù cơ quan Công tố được tổ chức trong hệ thống Tòa án, nhưng hoạt động của cơ quan Công tố hoàn toàn độc lập với hoạt động xử án của Tòa án Việc giải quyết truy tố hay không truy tố cũng như việc quản lý các Thẩm phán buộc tội hoàn toàn thuộc thẩm quyền

Trang 25

của người đứng đầu Công tố viện (Chưởng lý) Mối quan hệ độc lập này càng được khẳng định rõ tại Điều 17 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946:

"Ông Chánh án có quyền điều khiển và kiểm soát tất cả nhân viên khác trong

Tòa án, trừ các Thẩm phán buộc tội"

Ngày 01/7/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256-TTg quy định về tổ chức và nhiệm vụ của Viện Công tố Theo đó, Viện Công tố được tổ chức thành một hệ thống cơ quan độc lập, tách khỏi tổ chức của Tòa

án và sự quản lý của Bộ Tư pháp, đặt Viện Công tố Trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm, quyền hạn ngang một Bộ Viện Công tố được tổ chức gồm Viện Công tố Trung ương, Viện Công tố địa phương, Viện Công tố quân sự các cấp

Viện Công tố có nhiệm vụ: Giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của Nhà nước, truy tố theo pháp luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo

vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, bảo đảm công cuộc kiến thiết và cải tạo

xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi Để thực hiện nhiệm vụ chung này, Viện Công tố có những nhiệm vụ cụ thể sau: Điều tra và truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các Tòa án; giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án và trong hoạt động của cơ quan giam giữ và cải tạo Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, Viện Công tố có trách nhiệm áp dụng các biện pháp thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật, mọi phần tử phạm pháp Như vậy, ngoài nhiệm vụ điều tra, truy tố trước Tòa án, Viện Công tố còn được giao một nhiệm vụ quan trong là giám sát việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực tư pháp (giám sát hoạt động xét xử của Tòa án; hoạt động thi hành các bản án của Tòa án; hoạt động giam, giữ, cải tạo của các cơ quan giam, giữ, cải tạo)

Theo Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/7/1946 về việc tổ chức Tư pháp Công an do Chủ tịch Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành và các

Trang 26

sắc lệnh sửa đổi, bổ sung Sắc lệnh số 131/SL sau đó (Sắc lệnh số 31/SL ngày 19/3/1947, Sắc lệnh số 230-SL ngày 20/8/1948) thì việc điều tra vụ án hình sự

do lực lượng Công an Tư pháp đảm nhiệm với thẩm quyền điều tra tất cả các

vụ phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), thu thập bằng chứng, bắt giao người phạm pháp cho Tòa án xét xử (Điều 2 Sắc lệnh 131) Tư pháp Công an gồm các thành viên của Tòa án (thuộc Bộ Tư pháp) và các thành viên là Công an (thuộc Bộ Nội vụ) Về tổ chức và hoạt động, Công an Tư pháp nằm dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của Viện Công tố Lực lượng Công an

Tư pháp do Chưởng lý Tòa Thượng thẩm thống nhất quản lý, Biện lý trực tiếp kiểm soát nhân sự và công việc của ủy viên Tư pháp Công an trong quản hạt một tỉnh Việc bổ nhiệm, thăng thưởng và trừng phạt hành chính những ủy viên Tư pháp Công an không phải là Thẩm phán viên phải có ý kiến của Biện

lý và Chưởng lý mới được thực hiện Tư pháp Công an chỉ được điều tra trong phạm vi quản hạt của mình, việc điều tra lưu động phải được thông báo cho Biện lý nơi thực hiện việc điều tra Trước khi nhận việc, ủy viên Tư pháp công an phải tuyên thệ trước Tòa án (các điều 3, 5, 6, 11, 13 Sắc lệnh 131/SL)

Trong địa hạt làng thì Ban Tư pháp xã được quyền thực hiện một số biện pháp điều tra theo mệnh lệnh của thẩm phán và khám xét nhà tư nhân theo Điều 3 Khoản 3, Điều 6 Sắc lệnh 13/SL ngày 24/01/1946; Điều 4 Sắc lệnh 131/SL

Vào những năm cuối của thập kỷ năm mươi, việc điều tra về hình sự được quy định cho Cơ quan Công an thuộc Bộ Công an và Viện Công tố thực hiện

Thời kỳ này về tổ chức và thẩm quyền tố tụng chưa có sự tách bạch giữa các chức năng tố tụng cơ bản là điều tra, truy tố và xét xử Trong những năm đầu, việc điều tra do Tư pháp Công an gồm các thành viên của Tòa án (thuộc Bộ Tư pháp) và các thành viên là Công an (thuộc Bộ Nội vụ) tiến hành Thẩm quyền truy tố và xét xử tính đến ngày 29/4/1958 (ngày Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Nghị quyết thành lập Viện Công tố và hệ

Trang 27

thống công tố tách khỏi Bộ Tư pháp, đặt Viện Công tố trung ương trực thuộc Hội đồng Chính phủ cũng như quy định cụ thể về chức năng nhiệm vụ quyền hạn cho cơ quan này) đều do Tòa án thực hiện (các điều 49, 50, 51 Sắc lệnh 13/SL; Sắc lệnh 190/SL ngày 01/10/1946 về thẩm quyền truy tố của Tòa án; Thông tư số 141-HCTB ngày 5/12/1957 về tổ chức và phân công nội bộ của Tòa án do Bộ Tư pháp ban hành) Đến những năm cuối của thập kỷ 50, chức năng truy tố, xét xử bắt đầu có sự tách bạch tương đối rõ ràng với việc cơ quan Công tố được tách thành một hệ thống độc lập và thực hiện chức năng truy tố tội phạm, Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử Chức năng điều tra

vụ án hình sự do cơ quan công tố và CQĐT của Bộ Công an thực hiện với thẩm quyền cụ thể như sau: Cơ quan công tố trực tiếp điều tra "Đối với những

vụ án không phức tạp, hành động phạm pháp và người phạm pháp đã công khai bộc lộ", CQĐT đảm nhiệm việc điều tra "các vụ án phức tạp, phải điều tra bằng phương pháp và phương tiện chuyên môn riêng"

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988

Đây là thời kỳ ghi nhận sự phát triển mạnh của hoạt động lập pháp và hành pháp, với sự ra đời của nhiều đạo luật và các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng hình sự, cũng như tạo ra nhiều sự thay đổi của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam theo yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, trong đó quan trọng nhất là các văn bản như: Hiến pháp năm 1959, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức VKSND năm 1960, Hiến pháp năm 1980, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và Luật Tổ chức VKSND năm 1981 Hiến pháp năm

1959 ra đời đã xác định lại vị trí của Tòa án nhân dân và VKSND trong bộ máy nhà nước Hai cơ quan này từ đây không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà trở thành hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, thực hiện quyền lực của nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, chịu trách nhiệm trực tiếp và báo cáo công tác trước Quốc hội (Điều 104, 108 Hiến pháp năm 1959)

Trang 28

Chức năng, nhiệm vụ cũng như mục đích hoạt động của VKS trong thời kỳ này được quy định rõ ràng cụ thể trong Luật Tổ chức VKSND năm 1960; Luật Tổ chức VKSND năm 1981 Trong những năm đầu của thời kỳ này do đặc điểm tình hình Nhà nước chưa thống nhất, chức năng, nhiệm vụ cũng như mục đích hoạt động của VKS có một số đặc điểm khác với thời kỳ sau VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên cơ quan nhà nước và công dân VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế dân chủ nhân dân được giữ vững Mục đích của việc kiểm sát là bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, trật tự xã hội, tài sản công cộng và những quyền lợi hợp pháp của công dân, góp phần bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

và sự nghiệp đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà được tiến hành thắng lợi Luật Tổ chức VKSND năm 1960 chỉ quy định cho VKS một chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, việc truy tố trước Tòa án nhân dân những kẻ phạm pháp hình sự chỉ là cách thực hiện chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật Điều đó cho thấy, ở thời điểm này, trên phương diện lập pháp chưa có sự phân biệt rạch ròi các chức năng công tố và kiểm sát tuân theo pháp luật

Tuy nhiên, khi Luật tổ chức VKSND năm 1981 ra đời, hạn chế này đã được khắc phục Cụ thể, Luật này quy định: VKSNDTC nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương,

tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các VKSND địa phương, các VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình Trong phạm vi chức năng của mình các VKSND có nhiệm vụ bảo

vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm

Trang 29

chủ tập thể của nhân dân lao động, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm

sự tôn trọng tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân

Luật Tổ chức VKSND năm 1960, năm 1981 quy định VKSND là cơ quan có thẩm quyền điều tra và truy tố những người phạm pháp hình sự Cơ quan Công an thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ điều tra hầu hết các tội phạm Tuy nhiên, do đặc điểm tình hình đất nước và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời kỳ này cũng như để đảm bảo việc điều tra kịp thời chính xác đã có sự phân công trách nhiệm và quyền hạn điều tra giữa cơ quan Công

an và VKS, cơ quan Công an có nhiệm vụ, quyền hạn điều tra tất cả các vụ án phản cách mạng và những tội phạm phức tạp khác còn Viện kiểm sát chỉ điều tra một số loại phạm pháp kinh tế và trị an xã hội mà kẻ phạm pháp và hành

vi phạm pháp đã tương đối rõ (Thông tư số 427 ngày 28/6/1963 của VKSNDTC và Bộ Công an quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ giữa VKSNDTC và Bộ Công an)

Nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan Công an trong giai đoạn điều tra:

Cơ quan Công an vừa có nhiệm vụ khởi tố vụ án, bước đầu thu thập chứng cứ

và khởi tố đối với bị can trong các vụ án phản cách mạng và các vụ phạm pháp về hình sự khác đã được phát hiện, vừa có trách nhiệm tiếp tục hoàn thành việc điều tra, lập hồ sơ vụ án Sau khi khởi tố vụ án, CQĐT phải áp dụng nhanh chóng mọi biện pháp cần thiết theo luật định để kịp thời phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội cũng như ngăn chặn tội phạm Khi tiến hành điều tra,

cơ quan Công an có quyền ra lệnh bắt, khám người, khám nhà, giữ lại thư tín, tạm giữ hoặc kê biên tài sản, tạm giam, gia hạn tạm giam, miễn tố, tạm tha bị can khi đã được sự phê chuẩn của VKS; tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội như khám xét, khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai nhân chứng…; có quyền tạm đình chỉ điều tra hoặc đình cứu; làm bản cáo trạng gửi VKS kèm theo hồ sơ vụ án nếu xét thấy cần truy tố bị can trước pháp luật

Trang 30

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong giai đoạn điều tra và truy tố: VKS có nhiệm vụ kiểm sát việc điều tra của CQĐT, đồng thời cũng có nhiệm

vụ khởi tố vụ án, khởi tố bị can và điều tra lập hồ sơ những vụ phạm pháp hình sự, truy tố trước Tòa án nhân dân những người phạm pháp về hình sự Khi kiểm sát điều tra, VKS có quyền hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án, khởi tố

bị can hoặc ra quyết định khởi tố vụ án khi thấy quyết định khởi tố vụ án hoặc đình chỉ khởi tố vụ án của cơ quan Công an là không đúng; phê chuẩn các quyết định bắt, khám xét của cơ quan Công an, có mặt khi cơ quan Công an hỏi cung bị can, tự mình hỏi cung nếu thấy cần thiết Khi kết thúc điều tra vụ

án, sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản cáo trạng do cơ quan Công an chuyển đến, VKS có quyền ra một trong các quyết định: Phê chuẩn bản cáo trạng và quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án, miễn tố bị can hoặc đình cứu vụ án theo quy định của pháp luật; hoàn lại hồ sơ để cơ quan Công an điều tra bổ sung nếu thấy hồ sơ thiếu những chứng cứ chủ yếu

1.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm

1988 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

BLTTHS năm 1988 xác định mục tiêu nhiệm vụ của tố tụng hình sự là: phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Xuất phát từ mục tiêu trên, phương pháp tố tụng cơ bản sử dụng trong quá trình giải quyết

vụ án là phương pháp điều tra, thẩm vấn

Trong giai đoạn điều tra, ngay khi nhận được tố giác tin báo về tội phạm, CQĐT, VKS trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định khởi tố hoặc không khởi tố hình sự Trong suốt quá trình điều tra, ĐTV sử dụng mọi biện pháp điều tra do pháp luật quy định như hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại; đối chất, nhận dạng; khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra… để thu thập chứng cứ

Trang 31

Trong giai đoạn truy tố, khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra do CQĐT chuyển sang, VKS tiếp tục kiểm tra các chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phải đưa ra một trong các quyết định sau: truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng; trả lại hồ sơ đề điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Theo quy định của BLTTHS năm 1988, trong hoạt động điều tra CQĐT có thẩm quyền điều tra tất cả các vụ án hình sự trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra trong Quân đội và những trường hợp do CQĐT của VKSND điều tra VKS cũng được giao thẩm quyền điều tra vụ án hình sự; đồng thời có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra, thực hiện quyền công tố, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh

và thống nhất Thẩm quyền điều tra của VKS theo quy định của BLTTHS là:

Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân điều tra trong những trường hợp sau đây, khi Viện trưởng xét thấy cần thiết:

- Khi phát hiện việc điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng;

- Khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, phát hiện những vụ phạm tội rõ ràng, không cần thiết phải chuyển Cơ quan điều tra khác;

- Khi phát hiện tội phạm trong hoạt động tư pháp;

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể giao cho

Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra trong những trường hợp khác [17]

Giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp; bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt người phạm tội, không làm oan người vô tội; bảo đảm không để một người nào bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế các quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật; bảo đảm việc

Trang 32

điều tra được khách quan, toàn diện và đầy đủ, đúng pháp luật, kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật trong quá trình điều tra và đề ra biện pháp khắc phục, xử lý nghiêm minh; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với

bị can là có căn cứ và hợp pháp Có thể thấy, mặc dù pháp luật quy định cả CQĐT và VKS đều có thẩm quyền điều tra nhưng việc điều tra vụ án chủ yếu

do CQĐT tiến hành VKS có vai trò rất quan trọng trong hoạt động điều tra

vụ án, giám sát các hoạt động điều tra, đảm bảo cho các hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; có quyền phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định của CQĐT; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; yêu cầu CQĐT truy nã bị can; đề ra yêu cầu điều tra, trả lại hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung; yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc làm vi phạm pháp luật của ĐTV nếu có; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra…

Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng độc lập trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ do pháp luật quy định Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có quan hệ phối hợp chặt chẽ với nhau Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là quan hệ về tố tụng, được quy định cụ thể tại BLTTHS Việc phối hợp có thể thực hiện theo hai hình thức là phối hợp chung và phối hợp theo từng vụ việc Phối hợp chung là hình thức phối hợp có phạm vi rất rộng "trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm" Phối hợp theo vụ việc là sau khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, CQĐT có trách nhiệm ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; VKS có quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố

bị can; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; nếu thấy cần thiết thì VKS có thể trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV, nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định của CQĐT; hủy bỏ các

Trang 33

quyết định không có căn cứ của CQĐT; yêu cầu truy nã bị can; quyết định truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG TỐ VÀ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

1.3.1.1 Cộng hòa Liên bang Đức

y d

Vai trò của Công tố viên trong quá trình tố tụng hình sự có quyền can thiệp vào tất cả các vụ việc phạm tội có thể bị truy tố hình sự mà việc thu thập đầy đủ chứng cứ là nhiệm vụ của Công tố viên Điều này có nghĩa là, Công tố viên có nghĩa vụ can thiệp vào tất cả các tội phạm có thể bị truy tố, miễn là có đầy đủ bằng chứng ên

Với tư cách là người chỉ huy quá trình điều tra, Công tố viên quyết định khởi tố và kết thúc việc tiến hành tố tụng Công tố viên phải phát hiện các tình tiết của vụ án một cách tích cực và chủ động Ngoài việc phát hiện các sự việc phạm tội, Công tố viên còn có trách nhiệm thu thập cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, và bảo đảm các chứng c đó đầy đủ, rõ ràng, được thu thập theo đúng trình tự mà pháp luật quy định

Về nguyên tắc, nếu không tự mình điều tra, Công tố viên có quyền sử dụng và chỉ huy lực lượng cảnh sát dân sự để tiến hành tố tụng điều tra ban

Trang 34

Cần phải nói rõ thêm, trong quá trình điều tra, Công tố viên giữ vai trò

là "Điều tra viên trưởng" CQĐT chỉ làm theo hoặc thực hiện các yêu cầu của

cơ quan tố tụng theo quy định tại các điều 161, 163 BLTTHS của Đức Để làm tăng tính hiệu quả của các quy định này, một số nhân viên cảnh sát được giao nhiệm vụ như "một nhóm nhân viên hỗ trợ của Công tố viên" theo Điều 152 Luật tổ chức Tòa án Trong một số trường hợp khẩn cấp, nhóm nhân viên hỗ trợ này cũng có quyền hạn như một Công tố viên trong việc tiến hành tố tụng

để đảm bảo tính kịp thời theo đòi hỏi của việc điều tra như tịch thu tang vật, nghe trộm điện thoại, quay phim, chụp ảnh trong một thời gian nhất định… Tuy nhiên, họ cũng có thể nhận chỉ thị trực tiếp của Công tố viên là nên làm như thế nào trong khi điều tra và phải tuân thủ những chỉ thị đó

Trong quá trình điều tra, nếu cảnh sát muốn thực hiện một biện pháp cưỡng chế nào đó như khám xét, tịch thu tang vật, theo dõi điện thoại, cho mật vụ thâm nhập, tạm giam… thì phải được sự phê chuẩn hay làm theo quyết định của Công tố viên Còn Công tố viên muốn trực tiếp thực hiện các biện

Trang 35

pháp này thì phải xin lệnh của Thẩm phán Chỉ trong trường hợp khẩn cấp thì Công tố viên mới có thể tự ra lệnh tiến hành các biện pháp đó và sau đó phải ngay lập tức xin lệnh của Tòa Riêng việc giam, giữ thì bắt buộc phải có lệnh của Thẩm phán

1.3.1.2 Cộng hòa Pháp

Hệ thống Viện công tố Pháp nằm bên cạnh hệ thống Tòa án, mỗi Viện công tố đều có đại diện ở các Tòa hình sự Theo quy định của pháp luật, Viện công tố thực hiện quyền công tố và yêu cầu áp dụng pháp luật trong phạm vi thẩm quyền về lãnh thổ của mình, giám sát việc áp dụng pháp luật hình sự trong địa phận mình quản lý Viện công tố thực hành quyền công tố và được hưởng những đặc quyền do pháp luật ủy thác Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm thực hành quyền công tố nhân danh nền Cộng hòa chứ không phải nhân danh Nhà nước hay Chính phủ Đây là đặc điểm riêng của Pháp vì người Pháp quan niệm rằng, pháp luật nghĩa là quốc gia tối cao nên Công tố viên là những người đại diện cho quốc gia, xã hội chứ không phải là những người thực hiện quyền hành pháp bên cạnh Tòa án Các Công tố viên không phải c viên chức của cơ quan hành pháp và không bảo vệ lợi ích riêng của quyền hành pháp

Đối với việc tiếp nhận và xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, mặc dù pháp luật quy định nhiều cơ quan có quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, song Viện công tố là cơ quan được giao trách nhiệm nắm, quản lý mọi thông tin về tội phạm trên lãnh thổ Cộng hòa Pháp và quyết định việc xử lý các tố giác, tin báo về tội phạm CQĐT, các cơ quan, tổ chức khác khi tiếp nhận được tố giác, tin báo về tội phạm phải kịp thời thông báo cho Viện công tố Để thực hiện tốt trách nhiệm này, Viện công tố tổ chức trực ban hình sự 24/24 giờ Bộ phận trực ban gồm các trợ lý công tố viên Bộ phận này có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và quyết định việc

xử lý tố giác, tin báo; tiếp nhận báo cáo của ĐTV; trực tiếp tiến hành một số

Trang 36

hoạt động điều tra khi thấy cần thiết như lấy lời khai ban đầu, khám nghiệm hiện trường…

Trong giai đoạn điều tra, Viện công tố có vai trò và trách nhiệm rất quan trọng, chỉ đạo việc điều tra vụ án và quyết định hầu hết các biện pháp tố tụng quan trọng trong giai đoạn này Mọi hoạt động điều tra vụ án của CQĐT phải thông báo đầy đủ, kịp thời cho Viện công tố để quyết định hướng xử lý tiếp theo ĐTV chỉ tham gia điều tra vụ án khi được Viện trưởng Viện công tố cấp phép điều tra Trong trường hợp ĐTV không đáp ứng yêu cầu chuyên môn, vi phạm kỷ luật hoặc không tuân thủ yêu cầu của Công tố viên thì Viện trưởng Viện công tố có thể quyết định tạm đình chỉ tư cách điều tra của ĐTV Thời hạn tạm đình chỉ tư cách điều tra của ĐTV tối đa là 2 năm Ngoài ra, pháp luật còn nhiều quy định khác để đảm bảo chế độ công tố chỉ đạo điều tra, đảm bảo mọi yêu cầu của Viện công tố được CQĐT tuân thủ đầy đủ, kịp thời Hàng năm, Công tố viên có quyền chấm điểm đối với ĐTV, thang điểm được quy định từ 0 đến 10, gắn liền với các tiêu chí như: khả năng điều tra vụ án, trình độ soạn thảo các văn bản tố tụng, phẩm chất đạo đức, giá trị các thông tin mà ĐTV chuyển cho VKS Kết quả chấm điểm của Viện công tố được chuyển cho Lãnh đạo CQĐT làm cơ sở xem xét quá trình thăng tiến của ĐTV

Quá trình giải quyết vụ án, nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp tạm giữ thì Viện công tố có quyền quyết định (trong thời hạn 24 giờ) và có thể gia hạn tạm giữ thêm một lần không quá 24 giờ Trong trường hợp đặc biệt cần tạm giữ trên 48 giờ thì thẩm quyền tạm giữ thuộc về Thẩm phán Tổng thời gian tạm giữ bao gồm cả các lần gia hạn là không qua 96 giờ Luật sư có quyền tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ Tuy nhiên, đối với các

vụ án về tội phạm có tổ chức, chỉ được phép gặp thân chủ sau 48 giờ tạm giữ; đối với các vụ án về tội phạm khủng bố, ma túy chỉ được phép gặp thân chủ sau 72 giờ tạm giữ Việc áp dụng biện pháp tạm giam, nghe lén điện thoại và các biện pháp tố tụng khác ảnh hưởng đến các quyền cơ bản của công dân

Trang 37

phải do Công tố viên đề nghị, Thẩm phán phê chuẩn và quá trình thực hiện được sự giám sát chặt chẽ bởi một Thẩm phán độc lập

Bên cạnh đó, Cộng hòa Pháp vẫn duy trì chế định Thẩm phán điều tra Thẩm phán điều tra chỉ tiến hành thụ lý, điều tra đối với những vụ án nghiêm trọng, phức tạp do Viện công tố chuyển sang Theo kết quả thống kê, có khoảng 5% vụ án được chuyển cho Thẩm phán điều tra Kết thúc quá trình điều tra, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra Tòa hoặc đình chỉ vụ án, đồng thời chuyển quyết định cùng hồ sơ vụ án cho Viện công tố để có ý kiến Viện công tố có quyền yêu cầu Thẩm phán thực hiện thêm một số hoạt động điều tra, có quyền phản đối quyết định của Thẩm phán điều tra Do sự quá phức tạp của chế định Thẩm phán điều tra, đồng thời không có sự phân định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm giữa Công tố viên và Thẩm phán nên dưới thời Tổng thống Sarkogy đã có chủ trương nghiên cứu để loại bỏ chế định này khỏi tố tụng hình sự Xu hướng chung hiện nay là hạn chế tối đa việc tham gia của Thẩm phán điều tra Hầu hết các vụ án hình sự do Công tố viên trực tiếp chỉ đạo điều tra

1.3.2.

, cơ quan công tố được phân chia theo cấp bang và liên bang

Ở cấp bang, do pháp luật mỗi bang khác nhau nên nhiệm vụ và quyền hạn của Công tố viên từng bang cũng khác nhau Tuy nhiên, điểm chung nhất của

Cơ quan công tố bất kỳ cấp nào cũng là truy tố tội phạm ra trước Tòa án

Ở cấp bang, các Công tố viên tiến hành truy tố các tội phạm xâm

phạm pháp luật của bang, quyền hạn và trách nhiệm của các Công tố viên địa phương được phân chia theo cấp qu Mỗi bang đều có một Tổng chưởng lý

và viên chức này có toàn quyền truy tố tất cả các tội phạm theo pháp luật bang quy định Đa số các văn phòng công tố của Mỹ không có các ĐTV hình

sự trong văn phòng Vì vậy, các Công tố viên phải lệ thuộc vào Cảnh sát và

Trang 38

các cơ quan thực thi pháp luật khác trong quá trình điều tra các tội phạm theo pháp luật liên bang Nói chung, Công tố viên không có khả năng giám sát điều tra mà thường nhận vai trò chỉ dẫn việc tìm kiếm bằng chứng đối với cảnh sát để hướng dẫn thủ tục bắt giam và đảm bảo việc thu thập các chứng

cứ theo đúng thủ tục Tuy nhiên, ở một số thành phố lớn, các văn phòng công

tố cũng có những Thanh tra cảnh sát riêng của mình để tiến hành điều tra

Ở cấp liên bang, việc truy tố tội phạm liên bang do Chưởng lý liên

bang truy tố Các tội phạm liên bang thường là những tội nghiêm trọng như buôn bán ma túy, giết người, quan chức chính quyền phạm tội hoặc tham nhũng, các tội xâm phạm lợi ích quốc gia như phản quốc v.v… Theo pháp luật liên bang, CQĐT là cơ quan duy nhất có trách nhiệm điều tra Mặc dù vậy, ĐTV vẫn phải thường xuyên trao đổi với Văn phòng công tố liên bang tại quận nơi xảy ra tội phạm Sau khi các thông tin về chứng cứ đã được ĐTV thu thập, họ sẽ trình lên cho Bộ Tư pháp hoặc Chưởng lý liên bang Sau đó Công tố viên liên bang sẽ quyết định có truy tố vụ việc ra tòa hay không

Nói chung, trong quá trình điều tra, dù ở cấp bang hay liên bang thì Công tố viên Hoa Kỳ vẫn thực hiện quyền lực đáng kể của mình Vị trí của Công tố viên được coi là một trong những người quan trọng và quyền lực nhất trong hệ thống tư pháp hình sự Mỹ, bởi vì Công tố viên có thực quyền để định đoạt việc liệu có hồ sơ để buộc tội chính thức hay không Điều đó đòi hỏi Công tố viên phải thực hiện tốt việc đánh giá các tình tiết của vụ án để quyết định xem việc truy tố có phục vụ một cách tốt nhất cho lợi ích của cộng đồng hay không và khi đã buộc tội thì phải dựa trên cơ sở những bằng chứng chắc chắn là bị cáo có tội Họ có thể không chấp nhận hồ sơ buộc tội do cảnh sát gửi tới cho đến khi những yêu cầu về chứng cứ của họ được cảnh sát đáp ứng,

họ cũng có thể từ chối phê chuẩn lệnh bắt giam của cảnh sát Ngoài ra, Công

tố viên còn có thể hủy bỏ hoặc đình chỉ vụ việc khi xét thấy việc điều tra của cảnh sát không đúng thủ tục hoặc chứng cứ yếu, không đủ để buộc tội hoặc có khả năng Tòa án sẽ không chấp nhận các chứng cứ đó

Trang 39

Trong giai đoạn điều tra, hầu hết các vụ việc hình sự đều do cảnh sát đảm trách, Cơ quan Công tố Hoàng gia không có quyền kiểm tra công tác quản lý nội bộ của cảnh sát cũng như không được can thiệp vào cách thức thực hiện chức năng của họ Tuy nhiên, hai cơ quan này đều có sự phụ thuộc lẫn nhau và sự phối hợp giữa Cơ quan cảnh sát với Cơ quan công tố là cần thiết nhằm đảm bảo cho các hoạt động tư pháp hình sự đạt hiệu quả

Các luật sư công tố tại các đồn cảnh sát chỉ làm chức năng tư v n, họ không có quyền chỉ đạo việc điều tra của cảnh sát và cũng không có quyền chỉ

thị cho cảnh sát về việc thu thập chứng cứ Nhưng theo luật định, họ có thể

chỉ dẫn cho cảnh sát các vấn đề pháp lý trong điều tra như mối liên hệ,

n , khả năng có thể chấp nhận của các chứng cứ thu thập được… Mặt khác, trong quá trình điều tra, cảnh sát có thể yêu cầu Công tố viên chỉ dẫn các vấn

đề về pháp luật liên quan đến việc điều tra Khi đã có đủ căn c , cảnh sát có thể lựa chọn một trong các khả năng để xử lý hông tiếp tục buộc tội;

ra quyết định cảnh cáo; quản lý chặt chẽ kẻ bị tình nghi; buộc tội kẻ vi phạm

Trường hợp cảnh sát quyết định buộc tội, họ phải chuyển toàn bộ hồ

sơ cho Công tố viên để quyết định có truy tố hay không Phần lớn các thủ tục

tố tụng hình sự đều do Cơ quan công tố Hoàng gia đảm nhiệm, nhiệm v

Trang 40

chính của họ theo luật định là tiến hành các thủ tục tố tụng hình sự do cơ quan cảnh sát và các cơ quan có thẩm quyền khác khởi tố; khởi tố và tiến hành tố tụng hình sự theo các quy định của Bộ luật về Công tố viên Hoàng gia; chỉ dẫn cho cảnh sát những vấn đề liên quan đến tội phạm hình sự

1.

VKSND thành lập theo bốn cấp Ở cấp trung ương

có VKSNDTC, 30 VKS tỉnh, 360 VKS thành phố, 2.887 VKS quận, huyện 131 VKS đặc biệt (gồm 62 VKS quân sự và 69 VKS giao thông đường sắt)

nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa như sau:

- Thực hành quyền công tố đối với các vụ án phản quốc, các vụ án liên quan đến việc chia cắt đất nước và các vụ án hình sự khác cản trở nghiêm trọng việc thi hành thống nhất chính sách và pháp luật của Nhà nước cũng như trật tự quản lý hành chính

- Tiến hành điều tra các vụ án hình sự do mình trực tiếp giải quyết

- Thẩm tra lại các vụ án do cơ quan an ninh công cộng điều tra và quyết định việc bắt giữ, truy tố hoặc miễn tố

- Khởi tố vụ án hình sự, hỗ trợ việc truy tố và thực hành giám sát các hoạt động tư pháp của Tòa án để bảo đảm việc tuân thủ pháp luật

- Giám sát việc thi hành bản án và quyết định trong các vụ án hình sự

và giám sát hoạt động của các nhà tù, trại giam nhằm bảo đảm việc tuân thủ pháp luật

KSV trực tiếp tiến hành điều tra khoảng 50 tội phạm trong Bộ luật Hình sự (BLHS) Hầu hết các tội phạm này liên quan đến tham nhũng và chức

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
2. Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Kiểm sát, (2).3. (2000),, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự", Kiểm sát, (2).3
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
11. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền công tố ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hoa
Năm: 2002
20. Quốc hội (2001), Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2001
21. Quốc hội (2002), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
23. Lê Hữu Thể (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Tác giả: Lê Hữu Thể
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
24. Võ Thọ (1985), Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự, Nxb Pháp lý, Hà Nội. 25. (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự
Tác giả: Võ Thọ
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1985
28. Trường Cao đẳng kiểm sát (1998), Giáo trình công tác kiểm sát, tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình công tác kiểm sát
Tác giả: Trường Cao đẳng kiểm sát
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (1998), giáo trình Luật tố tụng hình sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình Luật tố tụng hình sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
31. Đào Trí Úc (1995), Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học, luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đào Trí Úc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
32. Ủy ban Pháp luật - Quốc hội khóa X (2002), Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật - Quốc hội khóa X về Dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thẩm tra của Ủy ban pháp luật - Quốc hội khóa X về Dự án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi)
Tác giả: Ủy ban Pháp luật - Quốc hội khóa X
Năm: 2002
33. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2002) Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân
34. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2011), Pháp lệnh số 15/2011/UBTVQH sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh số 15/2011/UBTVQH sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
Tác giả: Ủy ban thường vụ Quốc hội
Năm: 2011
35. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), "Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay", Thông tin khoa học pháp lý, (Số chuyên đề) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt Nam từ năm 1945 đến nay
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2002
36. Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay Kiểm sát viên hình sự
Tác giả: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2006

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w