Đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội thì ngoài việc xác định những vấn đề cần chứng minh có tính chất bắt buộc chung như đối với các vụ án hình sự thông thườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ DIỆU HƯƠNG
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN
Trang 2Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN NGỌC CHÍ
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Diệu Hương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 7
1.1 CHỨNG MINH TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 7
1.2 ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 9
1.2.1 Khái niệm “Người chưa thành niên”, “người chưa thành niên phạm tội”, “bị can, bị cáo là người chưa thành niên” 9
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 15
1.2.3 Nội dung của đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 22
1.3 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 26
1.3.1 Đặc điểm tâm – sinh lý của người chưa thành niên 26
1.3.2 Thủ tục giải quyết vụ án hình sự 28
1.3.3 Sự công bằng, khách quan khi giải quyết vụ án hình sự 29
1.4 ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC 30
Trang 51.4.1 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Nga về đối tượng
chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 30 1.4.2 Những quy định của luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà
nhân dân Trung Hoa về đối tượng chứng minh 33 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ
ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 36 2.1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐỐI
TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 36 2.1.1 Quy định của pháp luật về đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên trước năm 2003 36 2.1.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về đối tượng
chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội 42
2.2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 55 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC BIỆN PHÁP
BẢO ĐẢM THỰC THI ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 61 3.1 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI
TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 61
Trang 63.1.1 Hoàn thiện pháp luật hình sự về người chưa thành niên phạm tội 61
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên 65
3.2 THÀNH LẬP TÒA ÁN CHO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 71
3.3 CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THỰC THI CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 73
3.3.1 Tăng cường sự hướng dẫn các quy định pháp luật có liên quan đến đối tượng chứng minh 73
3.3.2 Nghiên cứu và sớm ban hành một số luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự 74
3.3.3 Đổi mới công tác sắp xếp cán bộ, đầu tư phương tiện kỹ thuật hình sự 75
3.3.4 Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật 76
3.3.5 Nâng cao trình độ pháp lý nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Stt Số hiệu
1 Bảng 1.1: Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số
2 Bảng 2.1: Tổng số vụ án và vụ án người chưa thành niên bị
xét xử sơ thẩm ở Việt Nam từ năm 2009 – 2013 56
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong tố tụng hình sự việc xác định đối tượng chứng minh có vai trò rất quan trọng để có thể phát hiện nhanh chóng, xử lý chính xác, công minh người phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, góp phần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm Đối với vụ
án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội thì ngoài việc xác định những vấn đề cần chứng minh có tính chất bắt buộc chung như đối với các vụ
án hình sự thông thường thì Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải chứng minh những tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 302 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Những tình tiết này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong vụ án mà
bị can, bị cáo là người chưa thành niên bởi nó không chỉ giúp cơ quan có thẩm quyền xác định tội phạm, có các biện pháp xử lý phù hợp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên để từ đó có các biện pháp phòng ngừa
Có thể nói, người chưa thành niên là một trong những nhóm người đặc biệt, cần được bảo vệ Bởi vậy việc đặt ra các quy định pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự nói chung và quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án người chưa thành niên nói riêng là vô cùng cần thiết
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy do xác định đối tượng chứng minh của từng vụ án người chưa thành niên phạm tội không chính xác, thiếu… nên dẫn đến việc Toà án hoặc Viện kiểm sát phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, điều tra lại hoặc dẫn đến việc giải quyết vụ án sai sót, không phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp và cần được bảo vệ đặc biệt của những người chưa thành niên Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như: quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh, nhất là đối tượng chứng minh trong vụ án người chưa
Trang 9thành niên phạm tội còn có những điểm bất cập, trình độ nhận thức chưa cao,
ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm của người tiến tiến hành tố tụng… Bởi vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong vụ án người chưa thành niên phạm tội, đánh giá thực trạng quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh trong vụ án người chưa thành niên phạm tội và thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến vấn
đề này là cần thiết Từ đó, chúng ta có thể đề ra giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giải quyết vụ án hình sự chưa thành niên phạm tội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự Đây
cũng là lý do tác giả chọn đề tài “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên” làm luận án thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Về “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là
người chưa thành niên” trong một số giáo trình luật tố tụng hình sự của một
số trường đại học cũng như một số luận án đề cập đến dưới góc độ là một vấn
đề của quá trình chứng minh, hoặc do yêu cầu, mục đích của việc nghiên cứu chứ không tập trung chính vào đối tượng chứng minh hay việc đề cập đến đối tượng chứng minh mới chỉ dừng ở việc phục vụ cho học tập cơ bản để hiểu về vấn đề… nên việc nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ nhất định, mang tính khái quát sơ bộ về vấn đề Chẳng hạn như: trong Giáo trình luật tố tụng hình
sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2000, ở Chương III - Chứng cứ có đề cập đến: khái niệm đối tượng chứng minh và phân loại đối tượng chứng minh Trong khoá luận tốt nghiệp Cử nhân luật học về đề tài:
“Chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam”của tác giả Phạm Thế Lực -
K41B - Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, có đề cập đến: những vấn đề
Trang 10cần phải chứng minh trong tố tụng hình sự Việt Nam Trong khoá luận tốt
nghiệp cử nhân Luật học về đề tài: “Đối tượng chứng minh và phương tiện
chứng minh trong vụ án giết người”của tác giả Nguyễn Văn Hoan - K41C -
Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, có đề cập đến: đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự - trong đó gồm các vấn đề: khái niệm, nội dung và phân loại đối tượng chứng minh - Nhưng việc nghiên cứu chưa thật sâu sắc và toàn
diện Trong luận án Tiến sỹ Luật học về đề tài “Thu thập, đánh giá và sử
dụng chứng cứ trong điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam hiện nay” của tác giả
Đỗ Văn Đương - bảo vệ năm 2000, có đề cập đến: đối tượng chứng minh - nhưng đây không phải là đối tượng nghiên cứu chính của luận án, nên tác giả cũng chỉ giải quyết vấn đề một cách khái quát chung và làm rõ mối quan hệ của nó với các vấn đề khác trong luận án để từ đó nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề chính của luận án; hay như: Luận văn thạc sĩ
luật học của Đỗ Thị Phượng, Thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là
người chưa thành niên trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, (2003);… Như
vậy, có thể nói rằng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sắc về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên với quy mô là một đề tài độc lập, chuyên biệt về vấn
đề Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về đối tượng chứng minh vụ án hình sự
mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là cần thiết
3 Mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn
đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta về đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên
Trang 11phạm tội có so sánh với quy định của luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh trong các vụ
án người chưa thành niên phạm tội, tìm ra những điểm còn tồn tại, bất cập từ
đó bước đầu đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên quan đến đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu
luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
1 Nghiên cứu làm rõ những vấn đề thủ tục tố tụng đối với vụ án hình
sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên
2 Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên;
3 Đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình
sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự
mà bị can bị cáo là người chưa thành niên;
4 Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự mà bị can bị cáo
là người chưa thành niên và giải pháp nâng cao hiệu quả thực tiễn áp dụng những quy định đó của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự ở Việt Nam
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu những vấn đề thủ tục tố tụng đối với
vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên; những vấn đề lý luận
về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên
- Phạm vi: Luận văn nghiên cứu về đối tượng chứng minh trong tố tụng
hình sự một cách tổng thể trong phạm vi chung của tất cả các giai đoạn tố
Trang 12tụng: điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ở Việt Nam từ năm 1998 đến nay, chủ yếu tập trung trong phạm vi khoa học và thực tiễn luật tố tụng hình sự Đánh giá thực trạng hoạt động của các Cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây
4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và về giải quyết vụ án hình sự nói riêng, những thành tựu của các khoa học: triết học, luật hình sự, luật tố tụng hình sự, logic học, tội phạm học, điều tra hình sự và các học thuyết chính trị pháp lý
- Cơ sở sự thực tiễn của luận văn dựa trên cơ sở nghiên cứu luật tố tụng hình sự thực định và hoạt động chứng minh, giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các văn bản của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án hướng dẫn
về hoạt động, điều tra, xử lý vụ án hình sự
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp: hệ thống, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh, khảo sát thực tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến những vấn đề phải chứng minh trong các vụ
án người chưa thành niên phạm tội, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên
- Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên phạm
Trang 13tội Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội, tìm ra những nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện những quy định của luật tố tụng hình sự Việt Nam về đối tượng chứng minh trong các vụ án người chưa thành niên phạm tội và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật tố tụng hình sự về đối tượng chứng minh nói chung
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể
được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên để hoàn thiện hơn
- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan tiến hành tố tụng có thể khai thác vận
dụng những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình
sự mà bị can bị cáo là người chưa thành niên
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu còn tham khảo, luận văn gồm 3 chương với 9 mục
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong vụ
án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Chương 2 Quy định của pháp luật và thực tiễn về đối tượng chứng
minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Chương 3 Hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm thực thi áp
dụng pháp luật về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH
TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Từ điển Tiếng Việt có giải thích: “… Chứng minh là việc dùng suy
luận logic vạch rõ điều gì là đúng”[43] Hoạt động chứng minh được sử dụng
trong rất nhiều các lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực pháp luật
tố tụng hình sự Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự chính là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ án Mục đích của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Song, việc giải quyết vụ
án hình sự chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, do đó, quá trình chứng minh khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án chính là quá trình nhận thức chân lý khách quan về vụ án Cơ sở lý luận của hoạt động nhận thức này chính là lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin
Lý luận nhận thức Mác - Lênin khẳng định rằng: nhận thức là sự phản ánh biện chứng tích cực, sự phản ánh đó là một quá trình vận động và phát
Trang 15triển không ngừng từ không biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ thấp đến cao, từ nông đến sâu để nắm được bản chất quy luật của sự việc và hiện tượng Trong thế giới khách quan, không có cái
gì là con người không thể nhận thức được, mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức được
Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: thế giới thống nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ, tác động với nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau Phép biện chứng cũng chỉ ra rằng phản ánh là thuộc tính của chung của mọi đối tượng vật chất, V.I-Lênin
viết: “Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như
cảm giác, đặc tính phản ánh” [12, tr.104] Bởi vậy về nguyên tắc, hoạt động
của con người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vết trong thế giới khách quan Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng vật chất hoặc được phản ánh ghi nhận trong trí nhớ của con người Vì vậy, thông qua việc thu thập những dấu vết này một cách có hệ thống trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ nhận thức được đúng đắn bản chất của vụ án, dựng lại được toàn bộ diễn biến của sự việc phạm tội Quá trình thu thập những dấu vết của tội phạm và những thông tin có liên quan đến vụ án (thu thập chứng cứ) để nhận thức khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án - chính là quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự
Nhưng quá trình nhận thức sự thật khách quan của vụ án hình sự không phải là quá trình nhận thức trực tiếp mà là quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án Bởi vì, khi đó sự việc phạm tội không phải là đang xảy ra một cách hiện hữu để chúng ta nhận thức, mà trên thực tế sự việc phạm tội đã xảy ra, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng phải nhận thức khôi phục lại nó thông qua việc phát hiện thu thập và đánh giá những dấu vết mà nó để lại trong hiện thực khách quan
Trang 16Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự do những chủ thể nhất định tiến hành bằng việc phát hiện, thu thập chứng cứ từ các nguồn khác nhau
và sử dụng chứng cứ từ những nguồn này làm phương tiện chứng minh làm rõ
các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án
1.2 ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ
CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.2.1 Khái niệm “Người chưa thành niên”, “người chưa thành niên phạm tội”, “bị can, bị cáo là người chưa thành niên”
1.2.1.1 Khái niệm Người chưa thành niên
Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm người chưa thành niên được
định nghĩa như sau: "Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy
đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân"[43] Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về
quyền trẻ em năm 1990 thì "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ
trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn" Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của
Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1992 cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến
khái niệm "người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" như là một sự kế
thừa của Công ước về Quyền trẻ em
Luật pháp Việt Nam cũng như hầu hết luật pháp của các nước trên thế giới đều coi người chưa thành niên là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau Thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không thống nhất về vấn đề này
Trang 17Từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản pháp luật quốc tế, các nhà làm luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, như
sau: Điều 18 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định: "Người từ đủ mười tám tuổi
trở lên là người thành niên Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên"; Bộ luật lao động Việt Nam quy định: "Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi"
Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên
là người dưới 18 tuổi Quan niệm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước
quốc tế về quyền trẻ em ngày 20.02.1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
1.2.1.2 Người chưa thành niên phạm tội
Pháp luật các nước khi quy định về người chưa thành niên phạm tôi đều chú ý tới tuổi của họ Tại Mỹ, độ tuổi của trách nhiệm hình sự được thành lập theo quy định của pháp luật nhà nước Chỉ có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu, khoảng từ 6 đến 12 tuổi Hầu hết các bang dựa vào pháp luật chung, nắm giữ từ 7 tuổi đến 14 tuổi, trẻ em không có thể được coi là chịu trách nhiệm nhưng có thể được tổ chức chịu trách nhiệm
Tại Nhật Bản, người phạm tội dưới 20 tuổi được xét xử tại một tòa án gia đình, chứ không phải là trong hệ thống tòa án hình sự
Trong tất cả các nước Bắc Âu, tuổi trách nhiệm hình sự là 15, và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi có thể đến một hệ thống tư pháp là hướng chủ yếu đối với các dịch vụ xã hội, giam giữ như là phương sách cuối cùng Tính đến tháng 4 năm 1997, chỉ có 15 người chưa thành niên đang chấp hành hình phạt
tù ở Thụy Điển
Ở Trung Quốc, trẻ em từ 14 đến 18 tuổi được xử lý bằng hệ thống tư
Trang 18pháp vị thành niên và có thể bị kết án tù chung thân đối với tội đặc biệt nghiêm trọng
Trong hầu hết các nước châu Mỹ La tinh, các cải cách của pháp luật
về công lý trẻ vị thành niên đang được tiến hành Kết quả là, trách nhiệm hình sự người lớn tuổi đã được nâng lên đến 18 ở Brazil, Colombia và Peru Trẻ em từ 12 đến 18 tuổi phải chịu trách nhiệm dưới một hệ thống công lý vị thành niên
Tại Việt Nam, theo Điều 1 Luật bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em
của Việt Nam năm 2004 thì "trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi"
Có thể nói, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của người thành niên được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người; trình độ phát triển về nhận thức xã hội; điều kiện kinh tế-xã hội của từng quốc gia trong từng thời kỳ Song, sự khác biệt trong pháp luật của các quốc gia cũng phản ánh một sự thiếu đồng thuận trong cộng đồng quốc tế về độ tuổi chiụ trách nhiệm hình sự
Bảng 1.1: Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một số quốc gia trên thế giới
Trang 20Căn cứ vào thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của một số nước, pháp luật hình sự Việt Nam quy định: tuổi chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ là từ 16 tuổi trở lên, tuổi chịu trách nhiệm hình sự hạn chế là từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Cụ thể, điều 12 của
Song, cho dù là từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hay từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì người chưa thành niên khi phạm tội đều được hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước
Trong chương X của Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 (những quy định
đối với người chưa thành niên phạm tội), tại Điều 68 quy định: “Người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”.[24]
Quy định này của Bộ luật hình sự về mặt lý luận có thể hiểu, người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ gây ra vì người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy
đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện Một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự (loại trừ trách nhiệm hình sự) Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi được coi là người chưa có năng lực trách nhiệm hình
Trang 21sự đầy đủ Do đó, họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm (rất nghiêm trọng do cố ý hoặc đặc biệt nghiêm trọng) chứ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm Quy định này cũng thể hiện chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự của Đảng và Nhà nước ta
Tuy nhiên, pháp luật hình sự và tố tụng hình sự mới chỉ đưa ra các quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà chưa đưa ra khái niệm cụ thể về người chưa thành niên phạm tội
Trong nghiên cứu “tội phạm hình sự đối với người chưa thành niên –
những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học và so sánh luật học (phần I – những khía cạnh pháp lý hình sự” của tác giả Lê Cảm và
Đỗ Thị Phượng đã đưa ra khái niệm: “Người chưa thành niên phạm tội là
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do hạn chế bởi đặc điểm tâm – sinh lý và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm”[18] Có thể nói, đây là một
khái niệm hoàn chỉnh về người chưa thành niên phạm tội
1.2.1.3 Bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Điều 49 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định: “Bị can là người
đã bị khởi tố về hình sự”[23] Điều 50 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy
định: “bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”[23] Như vậy,
ta có thể hiểu bị can, bị cáo là người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị khởi tố về hình sự hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử
Bị can, bị cáo là người chưa thành niên khác với khái niệm “người
chưa thành niên phạm tội”, hay người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội” Điều 10 bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định nguyên tắc “không
ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà
án đã có hiệu lực pháp luật”[23] Như vậy, vào thời điểm cần phải chứng
Trang 22minh các vấn đề về hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội thì Tòa án chưa đưa vụ án ra xét xử, chưa có bản án có hiệu lục pháp luật nên người chưa thành niên chưa bị coi là có tội Do đó,để phù hợp với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, và tạo sự công bằng cho người chưa thành niên thì khi xem, xét các quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can bị cáo là người chưa thành niên cần đặc biệt chú ý tới khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên, khái niệm người chưa thành niên phạm tội… để
sử dụng cho chính xác
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
1.2.2.1 Khái niệm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Trong quá trình nhận thức chân lý, xác định đối tượng của nhận thức ở tùng lĩnh vực có ý nghĩa hết sức quan trọng Ở phương diện chung nhất thì toàn bộ thực tiễn khách quan là đối tượng của nhận thức nhằm tìm ra những quy luật của thế giới tự nhiên, xã hội và của chính con người Trong vụ án hình sự, đối tượng chứng minh được xác định là cơ sở của trách nhiệm hình
sự, đó là sự việc phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có liên quan đến vụ án Những vấn đề đó cần được các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ để xác định bản chất vụ án Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã quy định về đối tượng chứng minh tại Điều 63 như sau:
Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không
có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
Trang 233 Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.[23] Tìm hiểu các quy định về chứng cứ và chứng minh trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, ta thấy, Bộ luật chỉ liệt kê ra các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự mà không đƣa ra khái niệm cụ thể về đối tƣợng chứng minh Tuy nhiên, khái niệm này đã đƣợc đƣa ra trong một số nghiên cứu, cụ thể:
Trong giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đã đƣa ra khái niệm về đối tƣợng chứng minh trong vụ án hình sự, theo
đó thì: “Đối tượng chứng minh là tất cả các tình tiết phải được xác định
đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự” [39, tr.87] Phân tích khái niệm trên đây ta thấy, về cơ bản khái niệm đã
chỉ ra đƣợc nội dung chủ yếu của khái niệm là “tất cả các tình tiết phải đƣợc xác định đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự” Tuy nhiên, khái niệm chƣa đƣa ra đƣợc căn cứ pháp lý của đối tƣợng chứng minh đó chính là những vấn đề đƣợc luật tố tụng hình sự quy định cần phải làm rõ Đây là một khía cạnh rất quan trọng Bởi, trong tố tụng hình sự, nguyên tắc đầu tiên, cơ bản và quan trọng cần đƣợc tôn trọng là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Mặt khác, hoạt động tố tụng hình sự không chỉ do một cơ quan tiến hành, mà do nhiều cơ quan (Cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án…) phối hợp với nhau thực hiện Do đó, việc quy định các đối tƣợng chứng minh trong luật Tố tụng hình sự là cần thiết để đảm bảo tính thống nhất cho hoạt động chứng minh nói riêng và hoạt động tố tụng hình
sự nói chung
Trong khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật học “Đối tƣợng chứng minh và
Trang 24phương tiện chứng minh trong vụ án hình sự về tội giết người” của tác giả
Nguyễn Văn Hoan có đưa ra khái niệm: “Đối tượng chứng minh trong vụ án
hình sự là tổng hợp tất cả những tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”[9] Phân tích khái niệm, ta thấy, khái
niệm chưa đưa ra được nội hàm chính xác, chưa chỉ ra được bản chất của đối tượng chứng minh Trong vụ án hình sự, có rất nhiều tình tiết liên quan tới vụ
án, song, chỉ những tình tiết chưa biết mà cần phải biết để làm rõ bản chất vụ việc mới là đối tượng chứng minh Ngoài ra, cũng như khái niệm trên, khái niệm cũng chưa đề cập đến khía cạnh pháp lý của đối tượng chứng minh
Từ những phân tích trên thì đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự được hiểu là tổng hợp tất cả các vấn đề chưa biết nhưng luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải biết để làm rõ bản chất vụ án
và những nội dung khác liên quan đến vụ án, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
Hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự chính là quá trình nhận thức làm sáng tỏ nội dung của vụ án và các tình tiết có liên quan đến vụ án Suy cho cùng mục đích của hoạt động chứng minh trong tố tụng hình sự là để phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự và phục vụ cho việc đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, vụ việc phạm tội xảy ra trên thực tế rất đa dạng, chúng có thể khác nhau về tính chất, mức độ, hoàn cảnh… Do đó, ngoài những vấn đề luật tố tụng hình sự quy định bắt buộc phải chứng minh đối với các loại vụ án nói chung, thì luật tố tụng hình sự còn quy định đối tượng chứng minh trong một số trường hợp cụ thể Đó là những vấn đề chứng minh phát sinh trong những vụ án mà người thực hiện tội phạm là người chưa thành niên hoặc trong vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là người mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác làm
Trang 25mất năng lực hành vi Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người
chưa thành niên
Từ những phân tích về người chưa thành niên, người chưa thành niên phạm tội, bị can, bị cáo là người chưa thành niên và đối tượng chứng minh nói chung ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm đối tượng chứng minh trong vụ
án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên như sau: Đối tượng chứng minh
trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là tổng hợp các vấn
đề mà cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh trong vụ án hình sự nói chung và những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là
người chưa thành niên nói riêng nhằm giải quyết đúng đắn vụ án hình sự
1.2.2.2 Đặc điểm của đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà
bị can, bị cáo là người chưa thành niên
* Các quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo
là người chưa thành niên phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên
Trong thời gian qua, các loại tội phạm, tệ nạn xã hội có nhiều diễn biến phức tạp, nhất là tội phạm có tổ chức, tội phạm hình sự nguy hiểm có
vũ khí nóng Đáng tiếc và đáng báo động là tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên có chiều hướng gia tăng, với các biểu hiện nghiêm trọng như đánh nhau, giết người, trộm, cướp tài sản, hiếp dâm… Bên cạnh
đó, các tệ nạn xã hội đặc biệt là tệ nạn ma túy học đường vẫn đang là vấn đề nhức nhối của xã hội
Một trong những nguyên nhân của tình hình này là do người chưa thành niên phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về tâm sinh lý, chưa thể nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình đã thực hiện Nhận thức của các em thường non nớt, thiếu chín chắn, dễ bị kích động,
Trang 26dễ bị lôi kéo bởi bạn bè xấu hoặc người xung quanh Đặc biệt kinh nghiệm sống và khả năng kiềm chế của người chưa thành niên còn hạn chế nên việc phạm tội của họ thường là bột phát, nhất thời Do vậy, người chưa thành niên
là đối tượng có thể bị tác động dễ dàng hơn từ môi trường so với người đã thành niên Chính bởi những nguyên nhân đó mà việc pháp luật hình sự có quy định riêng về người chưa thành niên phạm tội mà cụ thể là đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là phù hợp
với đặc điểm tâm – sinh lý của nhóm đối tượng này
* Các quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo
là người chưa thành niên phù hợp với quyền được bảo vệ, chăm sóc, sự phát triển của người chưa thành niên
Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày càng được quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990 Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ trẻ em nói chung và người chưa thành niên trong các vụ án hình sự nói riêng Những quy định của thủ tục tố tụng đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong luật tố tụng hình sự Việt Nam nói chung và quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng đã tạo nên hành lang pháp lí vững chắc để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục người chưa thành niên một cách có hiệu quả Những quy định này cũng xuất phát chính từ nội
dung chủ yếu của nguyên tắc: “Việc xử lí người chưa thành niên phạm tội chủ
yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 69 Bộ luật hình sự) Dựa
trên nguyên tắc này, Bộ luật tố tụng hình sự đã thể hiện rõ quan điểm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên cần được đối xử
Trang 27theo cách thức phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, trên tinh thần tôn trọng nhân cách, phẩm giá và các quyền tự do cơ bản của các em cũng như tăng cường lòng tôn trọng của trẻ em đối với các quyền con người và các quyền tự do cơ bản của người khác nhằm mục đích giáo dục, thúc đẩy sự tái hoà nhập của người chưa thành niên trong cộng đồng, tránh làm cho các em có những ác cảm, mặc cảm với mọi người, với xã hội Giải quyết được điều này cũng có nghĩa giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và đầy đủ, góp phần vào việc giáo dục người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên nhận thức được lỗi lầm và sửa chữa lỗi lầm đồng thời tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức hữu quan có những biện pháp cụ thể trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ở người chưa thành niên
Như vậy, cùng với những quy định trong pháp luật Hình sự và Tố tụng hình sự Việt Nam quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà
bị can, bị cáo là người chưa thành niên đã tạo ra một hành lang pháp lý an toàn để bảo vệ quyền lợi và sự phát triển của người chưa thành niên trong trường hợp họ là người phạm tội
* Các quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo
là người chưa thành niên thể hiện sự nhân đạo của pháp luật
Việc trong thời gian vừa qua có những vụ trọng án gây ra bởi người chưa thành niên đã tạo nên sự bức xúc lớn trong cộng đồng xã hội Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và chính sách nhân đạo của Đảng và nhà nước ta được cụ thể hoá trong luật hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan thì việc xử lý đối với những đối tượng người chưa thành niên phạm tội chủ yếu để giáo dục cải tạo họ trở thành những công dân
có ích cho xã hội là hoàn toàn đúng đắn
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn luôn coi trẻ em
là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày
Trang 28mà ngay cả khi quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm pháp luật Luật hình sự bảo vệ người chưa thành niên bị coi là người phạm tội và cũng quy định một chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thành niên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên thể hiện rõ nét tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta Quy định này góp phần bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên Trong tất cả các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo chưa thành niên, các cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét một cách khách quan toàn diện và đầy đủ để xác định các yếu tố có liên quan đến việc thực hiện tội phạm của họ như: khả năng nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, những nguyên nhân
và điều kiện phạm tội
* Các quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo
là người chưa thành niên phù hợp với công cuộc đấu tranh phòng ngừa tội phạm là người chưa thành niên
Vấn đề người chưa thành niên vi phạm pháp luật và phạm tội đã và đang được tất cả các nhà nước trên thế giới quan tâm, lo lắng Liên hợp quốc
đã ban hành một số Công ước, Quy tắc liên quan đến công tác phòng chống vi phạm pháp luật của người chưa thành niên; các cơ quan của tổ chức lớn nhất hành tinh này cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo có tính chất toàn cầu và khu vực để bàn về vấn đề này
Ở nước ta, công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và phạm tội của người chưa thành niên thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các
cơ quan, tổ chức và toàn thể nhân dân Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật nhằm bảo
Trang 29đảm sự phát triển toàn diện của trẻ em và người chưa thành niên Để giải quyết vấn đề tội phạm chưa thành niên quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là: "Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái ấy xảy ra"[22] Quán triệt tinh thần đó, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
đã dành nguyên một chương riêng biệt (Chương XXXII) quy định về thủ tục
tố tụng đối với người chưa thành niên, trong có quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Có thể nói việc Bộ luật tố tụng hình sự dành hẳn một chương quy định về tội phạm chưa thành niên trong đó có quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là điều hết sức cần thiết cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chưa thành niên
1.2.3 Nội dung của đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can,
bị cáo là người chưa thành niên
Do tính chất, mức độ và hoàn cảnh của các tội phạm không giống nhau nên đối tượng chứng minh ở mỗi vụ án có những phạm vi và yêu cầu khác nhau Tuy vây, mọi tội phạm đều có những đặc điểm, quy luật chung giống nhau mà quá trình giải quyết vụ án hình sự các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh Tại Điều 63 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự như sau:
Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không
có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích động cơ phạm tội;
Trang 303 Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.[23] Đây là những vấn đề cần phải chứng minh đối với tất cả các vụ án
hình sự Ngoài ra, bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 còn có những điều
luật khác liên quan đến quy định đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự Cụ thể như:
- Tại Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội
và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.[23]
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh sự thật vụ án một cách khách quan và toàn diện Điều luật nhấn mạnh vấn đề chứng minh có tội hay không có tội và những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Mặc dù không thể hiện cụ thể những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự, nhưng có thể xem, Điều 10 Bộ luật tố tụng hình sự
là những phương châm, định hướng cơ bản cho các cơ quan tiến hành tố tụng xác định đối tượng chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án
- Khoản 1 điều 167 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng
cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình
Trang 31tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án…”[23]
Điều luật đã chỉ rõ, những nội dung phải nêu trong trong bản cáo trạng chính là những tình tiết cần phải chứng minh trong vụ án hình sự
- Điều 27 Bộ luật tố tụng hình sự nêu rõ:
Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa.[23];
Điều 225 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
Cùng với việc ra bản án, Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục những nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ chức đó phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết những biện pháp được áp dụng[23]
Như vậy, đối với mỗi vụ án, mỗi bị can, bị cáo, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh nguyên nhân và điều kiện phạm tội Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự, đồng thời, đây cũng là biểu hiện của chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước
- Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự Trong trường hợp vụ
án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa
có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết
vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.[23]
Trang 32Như vậy, nếu vụ án hình sự đặt ra các vấn đề về bồi hoàn, bồi thường dân sự thì đây là một trong những vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh
- Điều 64 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về chứng cứ:
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.[23]
Điều luật đã đưa ra định nghĩa về chứng cứ, song trong nội dung của điều luật cũng thể hiện những vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh trong vụ án hình sự
- Khoản 4 Điều 110 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:
Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự
mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi
bị can cư trú hoặc bị bắt….[23]
Như vậy, trong một vụ việc phạm tội, nếu không chứng minh được địa điểm xảy ra tội phạm thì cơ quan điều tra phải chứng minh làm rõ tội phạm được phát hiện ở đâu hoặc nơi cư trú của bị can… để xác định thẩm quyền điều tra vụ án…
Trên đây tác giả chỉ liệt kê một số các điều luật có liên quan đến đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự Riêng đối với vụ án do người chưa thành niên thực hiên, ngoài những vấn đề phải chứng minh như trên thì theo quy định tại Điểm 2 Điều 302 Bộ luật tố tụng hình sự quy định còn phải chứng minh:
Trang 33- Tuổi, trình độ phát triển thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của người chưa thành niên;
- Điều kiện sinh sống và giáo dục;
- Có hay không có người thành niên xúi giục;
- Nguyên nhân và điều kiện phạm tội
Trên đây là những nội dung cơ bản về đối tượng chứng minh trọng vụ
án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Những nội dung này sẽ được phân tích cụ thể ở phần sau
1.3 CƠ SỞ HÌNH THÀNH ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ
ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.3.1 Đặc điểm tâm – sinh lý của người chưa thành niên
Người chưa thành niên trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 là người đang ở độ tuổi phát triển mạnh về thể chất và tinh thần Con người đứng trước những thay đổi hình thái đột ngột, như cao vổng lên, sức mạnh cơ bắp, kinh nguyệt, di tinh, vỡ giọng, v.v…, tất nhiên sẽ dẫn đến hành loạt những biến động tâm lý Vì ở thời kỳ quá độ nên đặc trưng tâm lý còn vương chút trẻ con lại có những mầm mống mới nhú của tâm lý người lớn Tâm lý thời kỳ này có
4 đặc điểm chung như sau:
Một là, đây là thời kỳ phát triển mạnh cả về thể lực và trí lực Về trí tuệ thì tư duy trù tượng logic được phát triển mạnh, khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận và phán đoán cũng được nâng cao Về thể lực thì, thân hình lớn vổng lên, chuyển hóa trong cơ thể mạnh mẽ, tinh lực dồi dào, hiếu động luôn chân luôn tay, tựa như toàn thân nơi nào cũng dư thừa sức lực, nhất là trong những hoạt động tranh đua, cùng với sự tự ý thức hơi quá và lòng tự tôn hừng hực, tạo nên sự bất kham, mọi trường hợp đều muốn bộc lộ nguyện vọng mãnh liệt của bản thân Tóm lại, thời kỳ này đã thể hiện đầy đủ người thanh niên có lý tưởng, có lòng tiến thủ và dồi dào sức khỏe
Trang 34Hai là, ở tuổi này, có sự bộc lộ hết sức mạnh mẽ về tính tình, rất không
ổn định, rất dễ chuyển từ cực này sang cực kia Nhưng chưa có nhận thức đấy
đủ với tính phức tạp của xã hội, chưa hiểu thấu tính hợp lý và tính khả thi trong hành vi của bản thân, cũng chưa xác lập được một nhân sinh quan đúng đắn, nguyện vọng và thực hiện không sao thống nhất được, nên dẫn đến những sao động rất lớn trong tính tình
Ba là, đây là thời kỳ phát triển cá tính Ở thời kỳ này đã bắt đầu có cảm nghĩ mình là người lớn Khả năng tự kiềm chế dần được nâng cao, hành vi thiếu tự chủ dần giảm bớt, biết khống chế hành vi của mình theo khuôn phép của xã hội Nhưng nếu so với người thành niên thì đối tượng này dễ bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài, bởi tính nết, tình cảm Đây là thời kỳ quan trọng để phát triển tính cách và ý thức đạo đức
Bốn là, tâm lý phức tạp Trong quá trình trưởng thành, tâm lý người chưa thành niên thường phát triển không thăng bằng, nếu không chỉ dẫn kịp thời và đúng đắn, sẽ nảy sinh rất nhiều mâu thuẫn Theo tuổi đời tăng lên và phạm vi giao tiếp xã hội mở rộng, khát vọng mình phải độc lập ngày càng mãnh liệt, muốn thoát khỏi ràng buộc của gia đình và nhà trường, tự mình chi phối mọi việc, nhưng không thể tự lập, vẫn phải dựa dẫm vào gia đình, nhất là
về mặt kinh tế Xuất hiện nhiều mâu thuẫn trong bản thân người chưa thành niên: mâu thuẫn giữ nhu cầu sinh hoạt giới tính (tình dục) với đạo đức, pháp luật; mâu thuẫn giữa lý tưởng và hiện thực; mâu thuẫn giữa lòng ham hiểu biết biết với trình độ nhận thức
Năm là, người chưa thành niên có tâm lý tiếp thu những điều mới mẻ
và dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài; bị lôi kéo bởi bạn bè Môi trường sống, hoàn cảnh gia đình, môi trường học tập, vui chơi có vai trò quyết định rất lớn trong việc hình thành tính cách người chưa thành niên Chính bởi đặc điểm tâm lý này mà không ít người chưa thành niên bị đám bạn lôi kéo, bị lợi dụng và dần trở nên hư hỏng
Trang 35Với những đặc điểm tâm sinh lí của người chưa thành niên như vậy cho nên người chưa thành niên dễ bị kích động, lôi kéo, lợi dụng và trở thành tội phạm Do đó, thực tế đòi hỏi Bộ luật tố tụng hình sự cần phải có những quy định đặc biệt về thủ tục tố tụng trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên sao cho phù hợp với lứa tuổi, với những đặc điểm tâm – sinh lí của họ Có như vậy, mới có thể đạt tới nhiệm vụ của tố tụng hình sự đặt ra trong giáo dục công dân tuân thủ pháp luật và tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội
1.3.2 Thủ tục giải quyết vụ án hình sự
Như đã nêu trên, người chưa thành niên là người đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và nhiều khi do bị tác động mạnh của điều kiện bên ngoài Chính bởi vậy, khi giải quyết vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên ngoài việc tuân thủ các quy định về thủ tục giải quyết vụ án nói chung còn phải tuân theo các quy định về thủ tục tố tụng đặc thù cho loại án này
Chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam đối với việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên là nhằm giúp đỡ, cải tạo, giáo dục để người chưa thành niên nhận ra sai lầm từ đó sửa chữa những sai lầm của mình, tạo điều kiện để các em có khả năng tái hòa nhập cuộc sống Với lý do này pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã có những quy định về thủ tục tố tụng riêng dành cho người chưa thành niên khi họ là bị can, bị cáo trong các
Trang 36định về tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng, về đối tượng phải chứng minh, về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, về việc bào chữa, việc tham gia của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội vào tố tụng cũng như công tác xét
xử và thi hành án Bộ luật tố tụng hình sự cũng quy định các quyền tố tụng và bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật đối với đối tượng này
Như vậy, có thể thấy vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên có đặc trưng riêng so với các vụ án thông thường Chính bởi vậy, cần thiết phải có quy định riêng về đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người người thành niên
1.3.3 Sự công bằng, khách quan khi giải quyết vụ án hình sự
Nếu nhìn theo cách quy định về thủ tục tố tụng, việc áp dụng hình phạt,… đối với vụ án người chưa thành niên phạm tội đa phần chúng ta đều thấy được tính chất khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam với đối tượng này Song, nếu chúng ta nhìn theo một khía cạnh khác, chúng ta sẽ thấy những quy định đó là nhằm bảo đảm sự công bằng cho người chưa thành niên Bởi, họ là những người phát triển chưa đầy đủ cả về thể chất và tinh thần nên nếu chúng ta áp dụng các quy định tố tụng chung đối với họ sẽ là một điều không công bằng, không khách quan Do đó, khi giải quyết vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội, ngoài những đối tượng chứng minh chung, chúng ta thì còn phải chứng minh thêm các vấn đề như: tuổi, trình độ phát triển thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành
vi phạm tội của người chưa thành niên; Điều kiện sinh sống và giáo dục của người chưa thành niên; Khi người chưa thành niên thực hiện tội phạm có hay không có người thành niên xúi giục
Người chưa thành niên đang ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và đôi khi còn bị tác
Trang 37động mạnh mẽ của những điều kiện bên ngoài, do ở lứa tuổi đó họ chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm sinh lý, trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm sống của họ còn bị hạn chế, khả năng tự kìm chế chưa cao… nên
họ dễ bị người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy vào việc phạm tội và thông thường là ý thức phạm tội của họ chưa cao còng như chưa chắc chắn nên cũng
dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ thành người có ích cho xã hội… chính sách hình sự đối với người chưa thành niên chủ yếu là giáo dục giúp đỡ họ sửa chữa những sai lầm, phát triển lành mạnh để trở thành công dân có ích cho xã hội Chính vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mà người phạm tội
là người chưa thành niên thì cần phải chứng minh làm rõ thêm những nội dung như đã nêu ở đoạn trên mới có thể giải quyết vụ án một cách đúng đắn, công bằng, khách quan
1.4 ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ
CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC
Việc điều tra làm rõ các tình tiết của vụ án và những tình tiết liên quan đến vụ án là điều cần thiết để giải quyết vụ án hình sự một cách đúng đắn Chính bởi thế, thông thường bộ luật tố tụng hình sự của các nước đều quy định về những vấn đề cần phải chứng minh trong việc giải quyết vụ án hình
sự Tuy nhiên, mỗi cách lại có những quy định khác nhau về hình thức, nội dung, cấu trúc các tình tiết cần phải chứng minh đặc biệt là đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
1.4.1 Những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Nga về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Cũng giống như luật tố tụng hình sự Việt Nam, bộ luật tố tụng hình
sự Liên bang Nga năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2006 khi quy định về đối tượng chứng minh trong vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành
Trang 38niên đều quy định những tình tiết cần chứng minh đối với vụ án hình sự nói chung chung và đối với vụ án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên nói riêng
Tại điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga năm 2001, quy định
về những tình tiết cần chứng minh:
1 Trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần chứng minh:
1, Sự kiện phạm tội (thời gian, địa điểm, phương pháp và những tình tiết khác của việc thực hiện tội phạm);
2, Lỗi của người thực hiện tội phạm, hình thức lỗi và động cơ phạm tội;
3, Những tình tiết về nhân thân bị can;
4, Tính chất và mức độ thiệt hại do tội phạm gây ra;
5, Những tình tiết loại trừ tội phạm và hình phạt đối với hành vi;
6, Những tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng mức hình phạt;
7, Những tình tiết có thể dẫn đến việc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt
2 Cần xác định những tình tiết là điều kiện dẫn đến việc thực hiện tội phạm.[42]
Bên cạnh những quy định chung, Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga cũng quy định về các tình tiết đặc biệt cần chứng minh trong vụ án do
người chưa thành niên thực hiện tại điều 421:
1 Khi tiến hành điều tra và xét xử vụ án về tội phạm do người chưa thành niên thực hiện cùng với việc chứng minh những tình tiết quy định tại Điều 73 Bộ.luật này cần xác định:
1/ Tuổi của người chưa thành niên ngày, tháng, năm sinh của họ; 2/ Điều kiện sống và giáo dục của người chưa thành niên, mức độ phát triển về tâm sinh lý và những đặc điểm khác về nhân thân của họ;
Trang 393/ Ảnh hưởng của người lớn đối với người chưa thành niên
2 Nếu tài liệu chứng minh về sự chậm phát triển tâm sinh lý không liên quan đến rối loạn tâm thần thì cần phải xác định xem người chưa thành niên có nhận thức đầy đủ về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và điều khiển được hành vi của mình hay không.[42]
So sánh những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam với những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga về đối tượng chứng minh, ta thấy trong cả hai Bộ luật tố tụng hình sự này đều có điều luật riêng quy định trực tiếp về đối tượng chứng minh Trong các điều luật này có quy định cụ thể những vấn đề cần phải chứng minh trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự Trong cả hai Bộ luật tố tụng hình sự cũng đều có những điều luật riêng quy định về những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự mà người thực hiện tội phạm là người chưa thành niên Trong đó, Điều 73 quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án mà người thực hiện tội phạm đã thành niên và có năng lực trách nhiệm hình sự Điều
421 quy định về những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự mà người thực hiện hành vi phạm tội là người chưa thành niên Những vấn đề cần phải chứng minh này là những tình tiết thuộc về bản chất của vụ án hình sự và những tình tiết có liên quan đến trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành
vi phạm tội là người chưa thành niên
Như vậy, Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam và Bộ luật tố tụng hình sự Liên bang Nga có sự tương đồng về hình thức cấu trúc và có sự tương đồng ở chừng mực nhất định về nội dung quy định về đối tượng chứng minh trong vụ
án hình sự mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Lý do có sự tương đồng này, theo chúng tôi chủ yếu là vì khi xây dựng Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 40Việt Nam, chúng ta đã tham khảo và kế thừa thành tựu của Bộ luật tố tụng hình sự của Liên Xô trước đây (Liên bang Nga ngày nay)
1.4.2 Những quy định của luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa về đối tượng chứng minh
Nghiên cứu những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa cho thấy, trong Bộ luật không có điều luật riêng quy định về đối tượng chứng minh, mà những vấn đề cần phải chứng minh được quy định rải rác trong một số điều luật và vấn đề cần chứng minh được quy định mang tính khái quát chung chứ không chi tiết cụ thể Chẳng
hạn như ở Điều 2 của Bộ luật quy định: “Nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình
sự hình sự Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là đảm bảo việc điều tra, làm sáng rõ thực chất tội phạm mét cách chính xác, kịp thời…”[14] Hoặc
theo quy định tại Điều 31 Bộ luật thì: Chứng cứ là mọi sự thật chứng minh tính chân lý của vụ án Như vậy, theo nghĩa chung nhất thì các Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự phải chứng minh tính chân lý của vụ án, tức là làm sáng tỏ toàn bộ diễn biến của
vụ án như thực tế đã xảy ra
Tuy nhiên, trong quy định của một số điều luật khác của Bộ luật tố tụng hình sự Trung Hoa cũng thể hiện cụ thể hơn những tình tiết cần chứng minh trong vụ án Ví dụ: ở Điều 96 của Bộ luật quy định:
Khi thẩm tra các vụ án, Viện kiểm sát nhân dân phải làm rõ những điểm sau:
1/ Sự việc, tình tiết phạm tội có rõ ràng hay không, chứng cứ
có xác thực, đầy đủ hay không, tính chất và loại tội phạm đã được xác định đúng hay sai;
2/ Còn những hành vi phạm tội và người phải truy cứu trách nhiệm hình sự nào sót hay không;