1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đổi mới Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp

123 862 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tinh thần của các Nghị quyết trên đều xác định trong nhiệm vụ cải cách tư pháp, Toà án có vị trí trung tâm và hoạt động xét xử là trọng tâm, việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt độn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, chưa từng được công bố trong một công trình khoa học nào của người khác Các tài liệu tham khảo được trích dẫn một cách hợp pháp

Học viên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến phó Giáo sư-Tiến sĩ luật học Nguyễn Ngọc Chí - Giảng viên khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội - người đã hướng dẫn khoa học và tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giảng viên của khoa Luật thuộc Đại học quốc gia Hà Nội và các thầy cô cộng tác viên giảng dạy tại Khoa - những người đã tận tình dìu dắt và truyền đạt những kiến thức khoa học pháp lý bổ ích cho tôi trong suốt khoá học

Xin cảm ơn gia đình, người thân, các bạn đồng môn và đồng nghiệp đã luôn ở bên cạnh động viên và cổ vũ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này

THẠCH THỊ HẰNG

Trang 5

Nghị quyết 49-NQ/TW : Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/6/2005

của Bộ chính trị “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 3

LỜI CẢM ƠN 4

BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT 5

MỞ ĐẦU 8

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 15

1.1 Vị trí, chức năng của Toà án 15

1.1.1 Vị trí của Toà án 15

1.1.2 Chức năng của Tòa án 23

1.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự 25

1.2.1 Nguyên tắc độc lập 25

1.2.2 Nguyên tắc xét xử công bằng 28

1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm những điều kiện để Thẩm phán độc lập, yên tâm trong hoạt động xét xử 33

1.3 Toà án trong tố tụng hình sự một số nước điển hình trên thế giới 36

1.3.1 Hệ thống Toà án được tổ chức theo các cấp Toà án 37

1.3.2 Hệ thống Toà án được tổ chức theo cấp hành chính hoặc theo khu vực 43

1.3.3 Các Toà án chuyên trách độc lập với Toà án tư pháp 45

Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 49

2.1 Những quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Toà án 49

2.1.1 Toà án trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987 49

2.1.2 Toà án trong giai đoạn từ khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đến nay 61

2.2 Thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 67

Trang 7

2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 78 Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TOÀ ÁN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRƯỚC YÊU CẦU CỦA CẢI

CÁCH TƯ PHÁP 81

3.1 Những yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đặt ra đối với Toà án 81 3.1.1 Sự cần thiết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự 81

3.1.2 Những nguyên tắc của việc hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự 83

3.1.3 Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự 88

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự 93

3.2.1 Nhóm giải pháp đổi mới mô hình tổ chức hệ thống Toà án và phân định lại thẩm quyền của Toà án các cấp 93

3.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật 98

3.2.3 Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức của TAND cấp huyện 104

3.2.4 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực, phẩm chất, địa vị pháp lý của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân 106

KẾT LUẬN 109

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 116

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, hội nhập, đẩy mạnh công nghiệp hoá và hiện đại hoá Yêu cầu khách quan đặt ra là phải tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, trong đó cải cách tư pháp có vị trí rất quan trọng bởi mục tiêu của cải cách tư pháp là đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, tránh oan sai người vô tội Xuất phát từ yêu cầu khách quan đó, ngày 02/1/2002, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08 – NQ/TW về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác

tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết 08 – NQ/TW) Tiếp đó là Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện

hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49 –NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết 49 –NQ/TW) Tinh thần của các Nghị quyết trên đều xác định trong nhiệm vụ cải cách tư pháp, Toà án có vị trí trung tâm và hoạt động xét xử là trọng tâm, việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà

án là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật các vụ án hình sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần vào việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm và giáo dục pháp luật trong nhân dân

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp đã đạt được thì hoạt động của Toà án vẫn còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bất cập Cụ thể như: Tỷ lệ án tồn đọng vẫn còn cao, án sửa, huỷ, bị giám đốc thẩm, tái thẩm vẫn còn nhiều, hiện tượng chạy án, tham nhũng vẫn còn tồn tại, v.v,… Điều đó đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào ngành Toà án Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là mô hình tổ chức và hoạt động của Toà án vẫn còn nhiều điểm bất cập, chưa hợp lý Toà án

Trang 9

pháp là một nhánh quyền lực độc lập với các nhánh còn lại (lập pháp, hành pháp, độc lập với chính trị, các tổ chức Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, các nhóm quyền lực hoặc bất kỳ cơ quan, tổ chức nào), trình độ năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất còn thiếu, hiện tượng suy thoái đạo đức trong một số Thẩm phán, v.v,…

Trước những thực trạng trên, công tác cải cách tư pháp đã đặt nhiệm vụ trọng tâm vào cải cách Toà án, coi đây là một khâu đột phá, đưa ra những phương hướng chỉ đạo và một số nhiệm vụ mà ngành Toà án cần phải làm trong thời gian tới Tuy nhiên, đó mới chỉ dừng lại ở những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo, còn việc triển khai thực hiện sao cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam lại đặt ra nhiều vấn đề cần phải làm rõ Cũng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Toà án nhưng chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận chung về Toà

án, có một số bài viết cũng đã đề cập đến nhiệm vụ cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án trước yêu cầu của cải cách tư pháp nhưng mức độ nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra các luận giải khoa học, các kiến nghị lập pháp thì chưa sâu Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về việc nên hay không nên tổ chức lại mô hình Toà án, nếu có thì mô hình Toà án nên tổ chức, hoạt động như thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, các vấn đề tranh tụng tại phiên toà, v.v,…đặc biệt là trong tố tụng hình sự (TTHS)

Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Đổi mới Toà án trong tố tụng

hình sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp” làm luận văn tốt nghiệp

thạc sĩ của mình Nội dung của luận văn là cố gắng tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong TTHS trên cơ sở có nghiên cứu thực tiễn, phân tích đưa ra các luận giải khoa học, các kiến nghị lập pháp cho việc xây dựng, hoàn

Trang 10

thiện mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm: Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp thì Toà án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng vì phán quyết của Toà án thể hiện kết quả cuối cùng của tiến trình tố tụng, tuyên bố một người có tội hay không có tội, đúng hay sai Toà án là nơi thể hiện sâu sắc bản chất Nhà nước và nền công lý, thể hiện chất lượng hoạt động và

uy tín của hệ thống tư pháp trong hệ thống các cơ quan Nhà nước Nhận thức được

vị trí và vai trò quan trọng của Toà án nên trong thời gian qua đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về Toà án như: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân của Phạm Quý Tỵ đăng trên Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 07, tháng 07/2005; Đổi mới hệ thống tổ chức Toà án nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc 2 cấp xét xử của Vũ Gia Lâm đăng trên Tạp chí luật học số 06/2007; Một số vấn đề về tổ chức hệ thống Toà án theo định hướng cải cách tư pháp của Đinh Văn Quế đăng trên Tạp chí TAND số 23/2007; Cải cách hệ thống tư pháp Việt Nam, Đề tài cấp Nhà nước, mã số 92-98-353, Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Yểu và Nguyễn Đình Lộc; Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp (góp phần sửa đổi Hiến pháp năm 1992), Đề tài cấp Bộ, Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thế Liên, năm 2001; Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, PGS.TS Lê Minh Thông, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2001; Những vấn đề đổi mới hệ thống tư pháp ở nước ta, PGS.TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí TAND, số 4 năm 1999; Tìm hiểu tổ chức và thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự một số nước trên thế giới của Nguyễn Văn Trượng và Trần Ngọc Thành đăng trên Tạp chí TAND số 06/2007; Các hệ thống Toà án ở một số nước trên thế giới của Võ Khánh

Trang 11

Vinh đăng trên Tạp chí TAND số 23/2004; Cải cách tư pháp với việc sớm hình thành Toà án sơ thẩm khu vực của Lê Thúc Anh đăng trên Tạp chí TAND số 20/2007; Cơ sở lý luận và thực tiễn tăng cường năng lực xét xử của TAND cấp huyện - đề tài thuộc Bộ tư pháp, chủ nhiệm đề tài Nguyễn Văn Hiện; Một số vấn

đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình sự với chức năng xét xử của Toà án trong bối cảnh cải cách tư pháp của Nguyễn Trương Tín đăng trên Tạp chí Nhà nước pháp luật số 10/2008; Thẩm quyền của TAND các cấp theo luật tố tụng hình sự Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên bảo vệ năm 2000; Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TNAD ở Việt Nam của Hoàng Mạnh Hùng đăng trên Tạp chí cộng sản số 1 (122) năm 2007; Sách tham khảo “Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền” do TSKH Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí đồng chủ biên (2004), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội; Bài viết trao đổi

“Bàn thêm về cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Minh Đoan, Tạp chí Toà án nhân dân, số 14 năm 2009, v.v,…

Khái quát tất cả những bài viết, công trình nghiên cứu trên cho thấy các nghiên cứu chủ yếu về tổ chức và hoạt động của Toà án nói chung, chưa có một

công trình nghiên cứu nào về “Đổi mới Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu

của công cuộc cải cách tư pháp”, chưa có điều kiện đi sâu để phân tích nguyên

nhân và những giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS nói riêng đặc biệt là khi đặt trong bối cảnh của cải cách tư pháp

3 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn

a/ Mục đích nghiên cứu

Mục đích đặt ra của luận văn là: Nghiên cứu một cách có hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam, thấy được những điểm hợp lý và những điểm còn bất cập trong các quy

Trang 12

phạm về Toà án Qua đó, đề xuất kiến giải lập pháp bằng việc đưa ra mô hình mới

về tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS Đặc biệt trong tiến trình cải cách tư pháp thì việc nghiên cứu trên càng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng bởi theo tinh thần của cải cách tư pháp đã xác định trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án

b/ Nhiệm vụ nghiên cứu

Các nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu đặt ra đối với luận văn là:

Về mặt lý luận:

Phải đưa ra được các luận giải khoa học và các kiến giải lập pháp cho việc xây dựng mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu lịch sử tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, so sánh với mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án một số nước trên thế giới

c/ Đối tƣợng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về Toà án trong TTHS Việt Nam như: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Toà án Thực trạng hoạt động của Toà án, các nguyên tắc và một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong TTHS trên

cơ sở có so sánh, tham khảo có chọn lọc mô hình tổ chức, hoạt động của Toà án

Trang 13

4 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hổ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, chứng minh, so sánh, thống kê, lịch sử, v.v,…

5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn

Thứ nhất, Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện các vấn đề tổ chức và

hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam

Thứ hai, Hệ thống hoá lịch sử hình thành, phát triển các quy phạm về tổ

chức, hoạt động của Toà án trong hệ thống pháp luật nói chung và trong TTHS Việt Nam nói riêng Trên cơ sở đó, đưa ra nhận xét, đánh giá về tính hợp lý, bất hợp lý và những tồn tại, bất cập của các quy định về tổ chức, hoạt động của Toà án trong TTHS, có nghiên cứu, so sánh với hệ thống Toà án trong TTHS của một số nước trên thế giới Đưa ra các kiến nghị về mặt lập pháp xây dựng mô hình mới về

tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS

Thứ ba, Tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá thực trạng tổ chức cũng như hoạt

động của Toà án trong TTHS Việt Nam

Thứ tư, Xác định rõ vị trí, vai trò của Toà án trong công cuộc cải cách tư

pháp trên cơ sở quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng và được cụ thể hoá bằng các yêu cầu cụ thể đặt ra với Toà án Luận văn đã đưa ra được cơ sở, phương hướng và một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện về mặt tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong TTHS

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận:

Phân tích một cách có hệ thống và toàn diện các vấn đề tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS Trên cơ sở đó bằng các luận giải khoa học về việc xây dựng hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS đưa ra kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các quy phạm về tổ chức và hoạt động của Toà án ở khía cạnh lập pháp

Về mặt thực tiễn:

Trên cơ sở tìm hiểu nguyên nhân và đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án trong TTHS Việt Nam, luận văn đưa ra một số phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Toà án trong TTHS nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra của công cuộc cải cách tư pháp

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục luận văn gồm 3 chương với cơ cấu như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Toà án trong tố tụng hình sự

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự ở Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu của cải cách tư pháp

Trang 15

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TOÀ ÁN

Tư pháp là hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn và tính hợp pháp

của các hành vi [15] Tư pháp còn “là pháp đình y theo pháp luật mà xét định các

việc ở trong vi phạm pháp luật” [1] Ngay từ buổi ban đầu, tư pháp đã mang hai

nội dung chính, đó là: (1) Phán xét đối với những hành vi vi phạm pháp luật và (2) Phân xử những tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội Nói một cách chung nhất, quyền lực tư pháp là quyền lực xét xử và thuật ngữ “tư pháp xét xử” lần đầu tiên đã được sử dụng trong Bộ luật Hammurabi, một đạo luật được ban hành từ

1700 năm TCN Sự ra đời của nhà nước và pháp luật đã chuyển hoá quyền phán xét và phân xử của cộng đồng thành một bộ phận quan trọng của quyền lực nhà nước và được bảo vệ bằng pháp luật

Tuy nhiên, trong những nhà nước cổ xưa, quyền lực tư pháp không phải ngay từ đầu đã là một nhánh quyền lực nhà nước độc lập Tiếp nối những truyền thống quản lý xã hội theo kiểu công xã, đồng thời chịu ảnh hưởng từ những tâm thức tôn giáo về sự cai trị tuyệt đối của Đấng Tối Cao, nhà nước đã được xác lập

để thay thế công xã, người đứng đầu nhà nước thay thế cho những thủ lĩnh hay những Hội đồng bộ lạc và có vai trò đại diện cho Đấng Tối Cao để cai trị xã hội

Trang 16

Người đứng đầu nhà nước do đó tập trung trong tay tất cả mọi thứ quyền lực, có quyền nói lên những ý muốn của Đấng Tối Cao và coi đó là Luật, có quyền điều hành các hoạt động của xã hội, và có quyền phán xét đối với những kẻ dám xâm phạm đến luật Đó cũng chính là các quyền mà sau này người ta gọi là quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền triệt để này đã tồn tại trong phần lớn lịch sử của nhà nước và pháp luật

Để thực hiện quyền lực nhà nước, các vị Vua và Hoàng đế thời Cổ đại và Trung cổ đã biết tổ chức nên bộ máy nhà nước với tư cách thuần tuý là một bộ máy giúp việc chứ không phải là nơi để chia sẻ quyền lực Bộ máy tư pháp cũng đã được hình thành từ rất sớm Ở Ai Cập cổ đại, một bộ máy tư pháp khá hoàn chỉnh

đã được các Pharaon hình thành ngay từ đầu để đáp ứng yêu cầu cai trị xã hội Pharaon – người truyền đạt ý nguyện của Chúa Trời cho con người chính là người xét xử cao nhất Giúp việc cho sự phán xét của thần thánh là một cơ quan chuyên môn gồm 6 viện, đứng đầu là viện chưởng lý với rất nhiều nhân viên phục vụ [23]

Ở Babylonia cổ đại, cùng với việc ban hành bộ luật nổi tiếng, vua Hammurabi cũng đã thành lập Toà án tối cao để giúp việc cho mình với một Hội đồng thẩm phán gồm các bô lão có uy tín trong xã hội Như vậy, mặc dù được hình thành từ rất sớm và đóng vai trò là một bộ phận quan trọng của bộ máy cai trị nhưng bộ máy tư pháp hoàn toàn không mang tính chất là một nhánh của quyền lực nhà nước

để chia sẻ với quyền lực tối cao của các hoàng đế Vai trò của nó bị che lấp bởi các hoàng đế Nó có bổn phận là bộ máy giúp việc trung thành cho các hoàng đế để thực hiện một cách triệt để quyền lực thiêng liêng là phán xét và phân xử Trong Kinh Cựu Ước, vị quan toà nổi tiếng nhất chính là vua Salomon mà với sự anh minh của mình, ông đã phân xử việc tranh chấp con của hai người đàn bà bằng cách vờ ra lệnh chặt đứa trẻ làm đôi để nhìn thấy tình thương của người mẹ đích

Trang 17

thực [49] Trong suốt thời kỳ trung cổ, chỉ có một biệt lệ duy nhất về sự chia sẻ quyền lực tư pháp của hoàng đế cho bộ máy tư pháp Vào năm 1215, khi ký vào bản Đại hiến chương Magna Carta, Hoàng đế của nước Anh đã nhường một số quyền tư pháp cho các quan lại và nhân dân và lần đầu tiên trong lịch sử, một vị hoàng đế đã chấp nhận rằng mình có thể phải tôn trọng các đạo luật [20]

Trong suốt thời kỳ cổ đại và trung cổ, quyền lực tư pháp cũng bị chi phối bởi hai xu hướng chính trong cách thức tổ chức quyền lực nhà nước, đó là: tập trung, thống nhất và cát cứ, chia cắt Những cuộc chiến tranh liên miên để tranh giành quyền lực được thúc đẩy bởi những lợi ích từ đất đai, tài nguyên và nô lệ đã làm hình thành những đế quốc to lớn nhưng cũng đồng thời là nguyên nhân chia rẽ một

đế quốc to lớn thành nhiều quốc gia nhỏ hơn Điều đó đã diễn ra ở khắp các nhà nước quốc gia từ Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ân Độ, Hy lạp và La Mã Trong những giai đoạn chia cắt, cát cứ, khi quyền lực nhà nước trung ương suy yếu

và bị chia nhỏ thì quyền lực tư pháp cũng bị chia nhỏ bởi sự trỗi dậy của các thế lực địa phương

Sự phân chia quyền lực nhà nước thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp chỉ mới bắt đầu từ thời kỳ cách mạng tư sản cách đây không quá 300 năm Về mặt tồn tại xã hội, thời kỳ này là thời kỳ lớn mạnh của giai cấp tư sản ngay trong lòng của xã hội phong kiến đến mức có thể công khai thách thức lại với các đặc quyền phong kiến Về mặt ý thức xã hội, nhận thức của con người cũng có những biến đổi lớn lao, phản ánh đầy đủ và không kém gì cuộc đấu tranh đang diễn ra trong thực tại xã hội Nhận thức được chuyển dần từ chỗ coi Thượng Đế là trung

tâm sang một bước phát triển mới, coi Con Người là trung tâm; “Mắt của Con

Người đã hướng lên trời suốt bao nhiêu thế kỷ nay đã hướng vào bản thân mình”

[50] để tìm câu trả lời ngay trong thực tại xã hội Khi người ta đã dám công khai nghi ngờ tính chất thần thánh của quyền lực nhà nước, khi mà những luân lý tôn

Trang 18

giáo về bổn phận và sự phục tùng vô điều kiện phải đối diện với những thách thức

to lớn từ việc nhận thức đầy đủ hơn về quyền, nghĩa vụ, khi mà địa vị thần dân bị sói mòn bởi sức công phá ngày càng tăng của một trào lưu mới đòi thừa nhận địa

vị công dân , thì khi đó, việc tập trung quyền lực tuyệt đối trong tay một vị hoàng

đế ngày càng ít đi cơ sở để tồn tại Sự phân chia quyền lực nhà nước giữa các thế lực phong kiến đang suy tàn với tầng lớp tư sản đang lớn mạnh đã diễn ra, bắt đầu

ở quyền lực lập pháp và dần dần lan toả sang quyền lực hành pháp và quyền lực tư pháp Nơi diễn ra sự phân chia ấy chính là bộ máy nhà nước Suốt bao nhiêu thế

kỷ, bộ máy nhà nước đã là nơi để phục vụ cho việc thực thi quyền lực của các hoàng đế thì nay lại là nơi chia sẻ quyền lực với các hoàng đế Bộ máy tư pháp từng bước được tách khỏi bộ máy hành pháp, xác lập tính độc lập với bộ máy lập pháp và đại diện cho một nhánh quan trọng của quyền lực nhà nước - đó là quyền lực tư pháp

Quyền lực tư pháp là quyền lực xét xử dựa trên cơ sở của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật cũng như đối với những tranh tụng phát sinh trong đời sống xã hội Như vậy, việc thực hiện quyền lực tư pháp có bản chất là hoạt

động áp dụng pháp luật của nhà nước thông qua bộ máy tư pháp

b/ Nếu như quyền lực tư pháp chính là quyền lực xét xử thì Toà án chính là chủ thể trung tâm của quyền lực xét xử và gần như nó được hình thành cùng với việc các nhà nước đầu tiên tổ chức nên bộ máy nhà nước để cai trị xã hội Ngay từ khi còn bị coi là bộ máy giúp việc cho các hoàng đế cổ đại và trung cổ, Toà án đã

là biểu tượng thiêng liêng của công lý, là sự hiện diện sống động của pháp luật với đầy đủ tính chất nghiêm khắc vốn có của nó, là hình ảnh rất thực tế về nhà nước với sức mạnh của một thứ quyền lực không thể vượt qua

Trong tiếng La tinh, Toà án được gọi là Forum hay Comitia – có nghĩa “Nơi công cộng”, “Công đường” hay “Nơi họp các hội nghị nhân dân” Điều này đã

Trang 19

được ghi trong Luật 12 Bảng đồng (Duedecim Tabulae) vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 TCN [9] Tuy nhiên, các thuật ngữ như “Toà án”, “Quan toà” hay “Xét xử”

đã được quy định trong pháp luật từ sớm hơn thế rất nhiều trong Bộ luật Hammurabi vào khoảng 1700 năm TCN [9] Bộ luật này lại được xây dựng trên cơ

sở những pháp điển đã có từ trước của người Sumer đã chứng tỏ rằng không phải chỉ đến thời vua Hammurabi, cư dân ở vùng Lưỡng Hà ngay từ thời kỳ cổ đại đã rất quen thuộc với “Toà án” các “Quan toà” và hoạt động “Xét xử” Toà án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền lực xét xử hay quyền lực tư pháp Ở Trung Quốc,

bộ máy tư pháp ở trung ương thời cổ đại và trung cổ không gọi là Toà án mà được gọi Bộ Hình Trong kết cấu “Lục Bộ” điển hình của các triều đại phong kiến Trung Quốc, Bộ Hình là thiết chế duy nhất có chức năng trông coi việc điều tra, xét xử, thi hành các hình phạt và cai quản các nhà ngục Ở địa phương, bộ máy tư pháp mặc dù không được tổ chức một cách độc lập mà được đồng nhất với bộ máy hành pháp nhưng chỉ do một cơ quan thực hiện Các quan lại địa phương vừa thực hiện chức năng của hành pháp là cai quản xã hội, vừa thực hiện quyền lực xét xử đối với những vi phạm pháp luật và những tranh tụng phát sinh trong đời sống xã hội Cách thức tổ chức bộ máy theo kiểu này có ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mặc dù ở Trung Hoa, thuật ngữ “Toà án” không được sử dụng trong thời kỳ cổ đại và trung cổ nhưng “Công đường” như cách hiểu của người La Mã là nơi xét xử lại rất quen thuộc Hình tượng về việc xét xử nơi

“Công đường” đối với những người dân sinh sống trên dải hoàng phổ phì nhiêu của sông Hoàng Hà quen thuộc đến mức đã đi vào những truyền thuyết dân gian như một ước mơ về sự công bằng, giữa một xã hội còn nhiều bất công

Như vậy, trong lịch sử, quyền lực tư pháp là thống nhất và chỉ do một cơ quan thực hiện Cơ quan đó vừa thực hiện chức năng điều tra, chức năng công tố,

Trang 20

chức năng xét xử và kể cả việc thi hành các hình phạt mà chính nó phán quyết Cơ quan đó sau này được gọi chung là Toà án

Bước vào thời kỳ cận đại, cùng với sự phân chia quyền lực nhà nước, quyền lực tư pháp từng bước trở nên độc lập và tách khỏi sự ràng buộc với quyền lực hành pháp ở trung ương và địa phương Bộ máy tư pháp mà trung tâm là các Toà

án theo đó cũng từng bước được hình thành và xác lập địa vị độc lập trong bộ máy nhà nước Từ những tư tưởng về nhà nước pháp quyền có ảnh hưởng mạnh mẽ trong thời kỳ khai sáng, người ta dần dần ý thức được rằng bộ máy tư pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ pháp luật không những chỉ đối với xã hội

mà quan trọng hơn là đối với chính quyền lực nhà nước Khi pháp luật được hiểu như là một “Khế ước xã hội” để ràng buộc mọi người, đánh đổi cái quyền được tự

do làm hại người khác để đổi lấy quyền được xã hội bảo vệ khi bị người khác làm hại thì khi đó, người ta mới nhận ra rằng chính quyền lực và bộ máy nhà nước lại

là nơi dễ vi phạm “Khế ước xã hội” nhất Nắm trong tay quyền lực nhà nước, các

cơ quan nhà nước dường như có khuynh hướng không thể kiểm soát nếu không sử dụng chính quyền lực nhà nước được trao cho nhưng cơ quan độc lập với nhau Tư tưởng dùng quyền lực để chế ngự quyền lực đã đặt nền móng cho việc hình thành một bộ máy tư pháp độc lập, đóng vai trò là những cơ quan bảo vệ pháp luật Trong các thể chế tư pháp, Toà án luôn được xem là chủ thể trung tâm Sự tham gia của các cơ quan khác nếu có vào bộ máy tư pháp cũng chỉ nhằm để giúp cho toà án thực hiện quyền lực xét xử

Ở Việt Nam, hệ thống cơ quan tư pháp đầu tiên được thành lập sau cách mạng tháng 8 cũng có tính chất như vậy Điều 63 Hiến pháp năm 1946 đã khẳng

đinh: “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà gồm có: Toà án tối

cao, các Toà án phúc thẩm, các Toà án đệ nhị cấp và các Toà án sơ cấp” Như

vậy, trên phương diện luật thực định, khái niệm “Tư pháp” thực chất được đồng

Trang 21

nghĩa với hoạt động xét xử và hệ thống các cơ quan tư pháp chính là hệ thống các Toà án Mặc nhiên, bên cạnh hoạt động xét xử, hoạt động tư pháp còn bao gồm một số hoạt động khác như công tố, điều tra tư pháp, giám sát tư pháp nhưng các

cơ quan thực hiện các hoạt động này đều là những bộ phận thuộc Toà án [41]

Tùy theo nguyên tắc tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước được xác định trong Hiến pháp mà cách thức tổ chức các cơ quan tư pháp ở mỗi quốc gia cũng có

sự khác biệt Ở những nơi nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền thì quyền tư pháp chỉ là hoạt động xét xử và cơ quan tư pháp chỉ là Tòa án, cơ quan công tố và cơ quan điều tra là những cơ quan thuộc nhánh quyền hành pháp [15] Ngược lại ở Việt Nam hoặc những nước tổ chức và hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tập quyền thì hoạt động tư pháp có phạm vi rộng hơn, không chỉ có hoạt động xét xử mà còn có cả hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố và thi hành án

Do đó, cơ quan tư pháp bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 khi quy định các tội xâm phạm hoạt

động tư pháp có đưa ra định nghĩa sau: “Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là

những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.” (Điều 292 BLHS 1999) Theo định nghĩa này thì

hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án là hoạt động tư pháp và tương ứng với nó là các cơ quan tư pháp, bao gồm: Cơ quan điều tra, Cơ quan công tố (Viện kiểm sát), Tòa án và Cơ quan thi hành án Quy định này xuất phát từ quan điểm cho rằng hoạt động tư pháp không chỉ là hoạt động xét xử của Tòa án mà còn là hoạt động của các cơ quan, tổ chức của nhà nước trực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho hoạt động xét xử của Tòa án Theo đó, Tòa án sử dụng các kết quả của quá trình điều tra, truy tố, bào chữa, giám định tư pháp…một cách công khai và áp dụng các thủ tục tố tụng để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng

Trang 22

Theo TS Trần Văn Nam “hoạt động tư pháp là những hoạt động chủ yếu do các

cơ quan tư pháp thực hiện trong quá trình tố tụng nhằm mục đích là giải quyết các

vụ việc một cách đúng đắn, khách quan” Hoặc theo PGS.TS Phạm Hồng Hải thì:

“Hoạt động tư pháp là tập hợp những việc làm cụ thể do cơ quan tư pháp thực

hiện trong tố tụng trực tiếp liên quan và hướng tới mục đích giải quyết các vụ án một cách khách quan” Trên cơ sở này, ở Việt Nam, hoạt động tư pháp cần được

hiểu là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của các Cơ quan tư pháp gồm các

cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), Cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho hoạt động xét xử của Tòa án, được quy định trong tố tụng và trực tiếp liên quan đến quá trình giải quyết

vụ án Hoạt động tư pháp trong TTHS là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự và trực tiếp liên quan đến quá trình giải quyết các vụ án hình sự

Cho dù các cơ quan này, với những nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước khác nhau và nằm trong nhánh quyền lực nào thì hoạt động của nó cũng mang tính độc lập không bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức cá nhân nào

Trong các nhà nước dù được tổ chức theo nguyên tắc nào thì Tòa án cũng là một trong số các cơ quan quyền lực nhà nước thực hiện chức năng xét xử và là đại diện hoặc là trung tâm của quyền lực tư pháp Nhưng hoạt động truy tố, ở một số quốc gia không chỉ là quyền của cơ quan nhà nước mà bên cạnh công tố còn có tư

tố (tư tố quyền) thuộc về quyền của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào nên hoạt động truy

tố không phải bao giờ, ở đâu cũng là đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước Vì vậy, khác với hoạt động xét xử hình sự bao giờ cũng là thẩm quyền của Tòa án –

cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động truy tố chỉ là thẩm quyền của cơ quan nhà nước khi thực hiện công tố, khi mà họ đại diện cho quyền lực công để truy cứu trách nhiệm hình sự một người ra trước tòa án Trong trường hợp tư tố thì việc truy

Trang 23

cứu trách nhiệm hình sự một người ra trước Tòa án không đại diện cho quyền lực công mà mang tính chất tư, xuất phát từ lợi ích của cá nhân hoặc tổ chức Vì vậy,

cá nhân, tổ chức khi tiến hành tư tố không phải là thực hiện quyền lực nhà nước nên không được coi là cơ quan tiến hành tố tụng

Từ những phân tích trên có thể khẳng định, trong nhà nước pháp quyền Tòa

án đại điện cho quyền lực tư pháp có vị trí độc lập, kiểm soát với nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp Vì vậy, Tòa án là một thiết chế độc lập trong bộ máy nhà nước cũng như độc lập trong hoạt động xét xử của mình để bảo đảm tính khách quan, công bằng, công lý trong các bản án và quyết định của mình

1.1.2 Chức năng của Tòa án

Chức năng của nhà nước là những hoạt động nhà nước cơ bản nhất, mang tính thường xuyên, liên tục, tương đối ổn định, xuất phát từ bản chất, cơ sở kinh tế

- xã hội, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu cơ bản của nhà nước, có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại, phát triển của nhà nước và được thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước Tất cả các cơ quan nhà nước đều tham gia thực hiện chức năng của nhà nước

ở mức độ, phạm vi nhất định xuất phát từ vị trí, vai trò, thẩm quyền của mình Khi thực hiện chức năng của nhà nước, bản thân mỗi cơ quan nhà nước lại có chức năng của mình tùy theo vị trí và khuynh hướng hoạt động Do đó, chức năng của

cơ quan nhà nước là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của cả bộ máy nhà nước

Cơ quan tiến hành TTHS là những cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng tư pháp của nhà nước, trên cơ sở đó mỗi cơ quan lại có chức năng của riêng mình trong hoạt động TTHS Theo quan niệm chung được thừa nhận tương đối rộng rãi thì TTHS có ba chức năng: Chức năng buộc tội; Chức năng gỡ tội; Chức năng xét xử Trong đó chức năng xét xử, chức năng buộc tội (trong trường hợp công tố) hoàn toàn thuộc thẩm quyền của các các cơ quan tiến hành tố tụng,

Trang 24

chức năng gỡ tội là quyền của người bị buộc tội và người bào chữa Việc phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể tố tụng hình sự theo các chức năng cơ bản nêu trên sẽ giúp cho hoạt động TTHS có tính chuyên nghiệp cao, tăng cường trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện chức năng tố tụng được giao, là điều kiện quan trọng để bảo đảm mục tiêu, hiệu quả của TTHS Ngoài ra, ba chức năng

cơ bản của tố tụng hình sự được phân định rõ ràng còn là điều kiện quan trọng cho việc phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Đồng thời, nó cũng góp phần làm minh bạch, dân chủ trong TTHS, góp phần tôn trọng và bảo đảm quyền con người Những chức năng của TTHS do nhiều chủ thể thực hiện, đó là những cơ quan, người đại diện cho công quyền; người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án; các cơ quan, cá nhân khác liên quan hoặc tham gia vào quá trình giải quyết vụ án

Trong số các cơ quan này thì Tòa án đảm nhiệm chức năng xét xử trong TTHS Khi tội phạm xảy ra những xung đột về lợi ích cần phải giải quyết bởi một

cơ quan đại diện cho công quyền, đại diện công lý là Tòa án Vì vậy, hoạt động xét

xử vụ án hình sự của Tòa án không những là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước mà còn nhân danh công lý xem xét, đánh giá xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ để ra bản án, quyết định trong đó ấn định trách nhiệm hình sự cho người đã thực hiện hiện tội phạm xâm phạm đến những lợi ích được Nhà nước bảo vệ Hoạt động xét xử của Toà án, mặc dù được tiến hành trên

cơ sở những kết quả đã được ghi nhận trong quá trình điều tra, truy tố - là những giai đoạn tố tụng được tiến hành trước đó nhưng lại mang tính chất chính thức về mặt pháp lý đối với sự việc phạm tội và trách nhiệm của người thực hiện tội phạm

Vì vậy, việc điều tra, xem xét một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện mọi tình tiết, mọi chứng cứ của vụ án hình sự ở cả những quan hệ xã hội cơ bản và những quan

hệ xã hội có liên quan luôn được đặt ra khi tiến hành xét xử Đặc biệt đối với việc

Trang 25

xét xử một vụ án hình sự, tính chất này càng có ý nghĩa quan trọng vì mỗi một quyết định hay bản án hình sự được ban hành đều có ảnh hưởng đến những lợi ích thiết thân của các chủ thể pháp luật Mỗi một bản án hay quyết định của Toà án chỉ được phép dựa vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà - tức là được xem xét trong quá trình xét xử

Như vậy, hoạt động xét xử thực chất là một quá trình Toà án giải quyết những vụ án cụ thể mà ở đó tồn tại những xung đột về lợi ích không thể tự điều hoà của các bên liên quan cũng như đã vượt ra khỏi giới hạn cho phép của những

biện pháp giải quyết khác Xét xử được xem là chức năng quan trọng nhất trong

quá trình giải quyết vụ án và gắn liền với Tòa án trong nhà nước pháp quyền

1.2 Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Toà án trong tố tụng hình sự

Tòa án là bộ phận cấu thành của Bộ máy nhà nước nên tổ chức và hoạt động của Tòa án trong TTHS cũng phải tuân theo những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Trên cở sở những tiêu chí của nhà nước pháp quyền, những nguyên tắc căn bản sau đây được quán triệt trong tổ chức và hoạt động của Tòa án, đó là:

1.2.1 Nguyên tắc độc lập

Sư độc lập của các cơ quan tiến hành TTHS trong quá trình giải quyết vụ án

là đòi hỏi tất yếu của nhà nước pháp quyền Tuy nhiên, mức độ độc lập của Tòa án

ở mức độ cao hơn, bao gồm cả độc lập về tổ chức và hoạt động “Việc xuất hiện

nhà nước pháp quyền với đặc trưng căn bản là quyền lực nhà nước phải được phân chia rành mạch thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp thì Tòa án mới có vị trí độc lập một cách đầy đủ cả trên hai phương diện: Độc lập về

tổ chức và độc lập trong hoạt động xét xử” [15] Các cơ quan tiến hành tố tụng

khác mức độ độc lập ở mức độ kém hơn phụ thuộc vào vị trí, chức năng, nhiệm vụ,

Trang 26

quyền hạn trong bộ máy nhà nước Nếu Tòa án đòi hỏi sự độc lập cả trong tổ chức

và hoạt động xét xử thì cơ quan công tố và cơ quan điều tra chỉ độc lập trong hoạt động tố tụng giải quyết vụ án Sự độc lập của các cơ quan tiến hành tố tụng xuất phát trước hết từ yêu cầu giải quyết vụ án khách quan Việc điều tra thu thập chứng

cứ chứng minh sự thật khách quan vụ án và việc xem xét đánh giá các tình tiết của

vụ án và đưa ra các quyết định xử lý tội phạm và người phạm tội chỉ khách quan khi các cơ quan tiến hành tố tụng độc lập không chịu bất kỳ một sự can thiệp nào Ngoài ra sự độc lập của các cơ quan tiến hành tố tụng còn do yêu cầu kiểm soát

quyền lực nhà nước đối với lập pháp và tư pháp “Xu hướng lạm quyền và kiểm

soát, hạn chế, ngăn chặn lạm quyền đều mang tính tất yếu trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước và chỉ tòa án mới có khả năng, điều kiện vốn có của mình để tác động đến hành vi của con người và thông qua đó tác động đến quá trình diễn ra trong xã hội.”[15]

Để bảo đảm cho việc xét xử bình đẳng, dân chủ, khách quan thì nguyên tắc độc lập của Tòa án có vai trò quyết định, đồng thời sự độc lập của Tòa án trong hoạt động xét xử còn là nền tảng của tư pháp trong nhà nước pháp quyền Nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án là yêu cầu tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất

của hoạt động tư pháp mà Tòa án thực hiện “Đã nhân danh công lý và dựa vào

công lý thì Tòa án phải xét xử như là một người đứng giữa, trung lập không phụ thuộc vào bên nào Tuy nhiên, xét xử có tính đặc thù, đó là hoạt động tư duy của thẩm phán trong việp áp dụng pháp luật bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài như: sức ép của các thế lực nhà nước, dư luận xã hội nhất là của báo chí, sức ép của các đảng phái, tôn giáo, sự căng thẳng, hung hãn của các đương sự…Do vậy,

để bảo vệ công lý thẩm phán phải vượt lên tất cả các sức ép ngoại cảnh để có những phán quyết khách quan, nên hoạt động xét xử tự thân nó đã phát sinh nhu cầu phải độc lập Chỉ xét xử độc lập Tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của

Trang 27

mình là cơ quan bảo vệ công lý” [38] Theo J.Clifford Wallace - Thẩm phán toà án

Tối cao Hoa kỳ thì: “Độc lập tư pháp đảm bảo rằng các quan chức cũng phải tuân

theo pháp luật; với việc xét xử độc lập không có ai ở phía trên hay ở bên dưới luật” [48] Và độc lập tư pháp cần được nhận thức rộng rãi như việc bảo đảm nhân

quyền “Mọi người đều có quyền tham gia phiên toà một cách công khai và được

các Thẩm phán xét xử một cách độc lập và vô tư, khách quan” [48] Độc lập và chỉ

tuân theo pháp luật là công thức pháp lý chứa đựng các giá trị được thừa nhận chung trong Nhà nước pháp quyền đối với không chỉ trong hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm mà cả trong hoạt động điều tra, truy tố của Điều tra viên

và Kiểm sát viên Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất khó khăn của các hoạt động tư pháp và yêu cầu hoạt động đó phải đạt đến độ chính xác cao nhất, đòi hỏi các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền từ điều tra, truy tố, xét xử phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, chống lại các tác động và ảnh hưởng xấu từ mọi phía Đồng thời, nguyên tắc này cũng bắt nguồn từ nguyện vọng và tâm lý chung của xã hội đối với hoạt động tư pháp Trong hoạt động tư pháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm không những độc lập với sự can thiệp của lập pháp, hành pháp mà còn độc lập với chính sự can thiệp của cá nhân hay tổ chức trong nội bộ

cơ quan tư pháp

Sự thừa nhận về mặt pháp lý đối với độc lập xét xử phải bao gồm 3 yếu tố: 1) Toà án phải được trao thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề mang tính chất tư pháp; 2) Toà án phải là cơ quan duy nhất có quyền quyết định vụ việc đang yêu cầu giải quyết có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không; 3) Quyết định cuối cùng của Toà án không phải chịu bất kỳ sự xét duyệt của bất kỳ cơ quan hay quyền lực nào [16] Thực hiện nguyên tắc độc lập xét xử, các quốc gia tập trung vào xây dựng một hệ thống tòa án theo hướng phân định thẩm quyền giữa Tòa án với các

cơ quan lập pháp, hành pháp, đồng thời với việc đề cao trách nhiệm của Thẩm

Trang 28

phán Pháp luật quy định trách nhiệm của Thẩm phán phải độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự và chỉ tuân theo pháp luật trước hết là các quy tắc xét xử Việc tuân thủ các quy tắc xét xử tạo điều kiện cho chính Thẩm phán tránh được mọi áp lực từ phía các quan chức nhà nước và ngay cả áp lực của các Thẩm phán Tòa án cấp trên Đồng thời, sự ràng buộc của các quy tắc xét xử không cho phép xảy ra sự lạm dụng quyền lực của chính các Thẩm phán Pháp luật các nước đều quy định Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu có căn cứ cho rằng họ sẽ không vô tư khi tiến hành tố tụng [12]

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra những nhận định sau: 1) Sự độc lập trong xét xử của Tòa án là tất yếu khách quan trong xã hội tiến bộ, trong nhà nước pháp quyền và trở thành nguyên tắc hiến định, nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự các quốc gia 2) Hệ thống Tòa án đại diện cho quyền tư pháp phải được tổ chức và tạo điều kiện để độc lập với các nhánh quyền lực khác trong cơ cấu chung của quyền lực nhà nước 3) Thẩm phán, hội thẩm độc lập khi thực hiện chức năng xét xử 4) Sự độc lập của Toà án cũng như của thẩm phán, hội thẩm phải dựa trên cơ sở và trong khuôn khổ pháp luật 5) Nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm để Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm được độc lập khi xét xử [14]

1.2.2 Nguyên tắc xét xử công bằng

Giải quyết vụ án khách quan, công bằng là mục đích mà các cơ quan tiến hành tố tụng phải hướng tới trong quá trình tiến hành tố tụng Khi vụ án xảy ra thì

việc xác định sự thật khách quan và giải quyết vụ án kịp thời, đảm bảo công bằng

là đòi hỏi tất yếu của tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền XHCN Tuy nhiên, khi điều tra, truy tố, xét xử thường có sự không “cân bằng”, không bình đằng giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng với bị can, bị cáo

và những người tham gia tố tụng khác do một bên là đại diện cho công quyền với đầy đủ sức mạnh của quyền lực, của pháp luật, một bên là những người bị nghi là

Trang 29

phạm tội không có những sức mạnh và điều kiện như vậy Người tiến hành tố tụng

là những người thay mặt nhà nước ở các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm làm rõ bản chất vụ án Việc vô tư của họ khi tiến hành tố tụng có ý nghĩa quan trọng góp phần vào việc giải quyết vụ án một cách khách quan nên Luật tố tụng hình sự các quốc gia cũng như trong các thiết chế tư pháp quốc tế đều coi bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng là

nền tảng, là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự [11]

Tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thể hiện trên những khía cạnh sau: (1) Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm thu thập chứng cứ, khôi phục lại sự thật khách quan vụ án; (2) Khi tiến hành tố tụng, tất cả mọi quyết định, phán quyết của Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng đều phải dựa trên cơ

sở chứng cứ, trên cơ sở sự thật khách quan đã được thu thập Đồng thời, mọi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng ngoài việc có căn cứ pháp luật còn phải được lý giải tại sao lại áp dụng quyết định đó đối với những trường hợp cụ thể; (3) Người tiến hành tố tụng phải vô tư trong quá trình giải quyết vụ án, tất cả những yếu tố ảnh hưởng tới sự vô tư của những người này đều phải được loại bỏ; (4) Tòa án có trách nhiệm xác định, đánh giá tính khách quan của vụ án và trên cơ sở đó đưa ra quyết định và bản án phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án; (5) Trách nhiệm chứng minh vụ án thuộc về bên buộc tội (Cơ quan công tố, Viện kiểm sát), những chủ thể khác của TTHS có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh

Vấn đề cốt lõi để bảo đảm những khía cạnh nêu trên của tính khách quan trong quá trình giải quyết vụ án là sự vô tư của những người tiến hành tố tụng Sự

vô tư của những người này được hiểu là trong quá trình giải quyết họ phải có thái

độ công tâm khi thu thập, đánh giá chứng cứ và kết luận các vấn đề của vụ án, phải dựa vào các quy định của pháp luật làm căn cứ, hướng tới công lý, bình đẳng làm mục tiêu của toàn bộ hoạt động tố tụng, không vì tình riêng mà thiên vị đưa ra các

Trang 30

quyết định không phù hợp với thực tế khách quan và trái pháp luật [12] Tuy nhiên,

sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan nên bên cạnh việc giáo dục, nâng cao đạo đức đối với họ cần có cơ chế pháp lý đề ngăn ngừa khả năng dẫn đế sự không vô tư khi tiến hành tố tụng ở họ Cơ chế này phải được quy định cụ thể, rõ ràng trong luật TTHS làm cơ sở pháp lý cho việc ngăn ngừa sự không vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định, phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và tâm lý, đạo đức truyền thống ở từng quốc gia

Cơ chế cũng cần tạo một thủ tục chặt chẽ nhưng đơn giản, thuận tiện cho việc thay đổi người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định bằng việc để cho

họ tự mình từ chối tiến hành tố tụng khi có những căn cứ luật định, cơ quan có thẩm quyền chỉ quyết định thay đổi khi những người này không tự nguyện Sự chủ động từ chối tham gia tố tụng của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong trường hợp này thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng pháp luật của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tư pháp, đồng thời làm đơn giản hoá thủ tục tố tụng cũng như gánh nặng cho các cơ quan tiến hành tố tụng

Ngoài trách nhiệm hướng tới sự khách quan, TTHS còn đòi hỏi việc công

bằng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tố tụng “Quyền được xét

xử công bằng” (right to a fair trial) là một quyền cơ bản và có tính phổ quát cao, tồn tại trong cả các vụ án hình sự và phi hình sự Pháp luật nhiều quốc gia quy định quyền này với quan niệm rằng nó là quyền thiết yếu (essential) trong mọi quốc gia pháp trị [51] Việc đối xử với một người khi họ bị buộc tội phản ánh rõ nhà nước tôn trọng nhân quyền đến mức nào, bởi vậy, quyền được xét xử, được giải quyết vụ

án công bằng đã được coi là một hòn đá tảng (a cornerstone) của các xã hội dân chủ [52] Giống như đặc tính của mọi quyền con người là phụ thuộc lẫn nhau, quyền được xét xử công bằng với các quyền khác có mối quan hệ hai chiều Một

Trang 31

phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người như quyền sống, quyền được an toàn về thân thể, tự do ngôn luận Ngược lại, trong một xã hội không dân chủ, các quyền cơ bản của con người không được tôn trọng thì khó có thể có chuyện mọi người đều được xét xử công bằng Quan hệ chặt chẽ giữa quyền được xét xử công bằng với pháp trị và dân chủ cũng đã được

khẳng định chính thức trong Tuyên ngôn Dakar về quyền được xét xử công bằng

tại châu Phi Từ các văn bản pháp luật thì quyền được xét xử công bằng được hiểu

là quyền cơ bản của người bị buộc tội trong vụ án hình sự và của các bên trong vụ

việc phi hình sự trước cơ quan tư pháp (Cơ quan điều tra, Công tố và Tòa án), được pháp luật quốc gia và quốc tế ghi nhận và bảo vệ, bao gồm nhiều quyền cụ thể (như được bảo đảm quyền bào chữa, được xét xử nhanh chóng, công khai bởi Tòa án độc lập, không thiên vị ) nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công bằng,

cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân

Giải quyết vụ án công bằng đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm những quyền cụ thể sau đối với người bị tình nghi phạm tội: 1) Quyền bình đẳng trước Tòa án và được xét xử bởi Tòa án độc lập, không thiên vị, công khai; 2) Quyền bào chữa; 3) Quyền được xét xử theo thủ tục riêng của người chưa thành niên; 4) Quyền kháng cáo; 5) Quyền được bồi thường khi bị kết án oan; 6) Quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội danh; 7) Không bị truy cứu hình sự vì lý do không thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng; 8) Không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội phạm theo pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi; 9) Không áp dụng hồi tố cũng được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng

Khách quan, công bằng không những là đòi hỏi tất yếu khi giải quyết vụ án

mà còn là đòi hỏi đối với các cơ quan tiến hành tố tụng và trở thành nguyên tắc trách nhiệm của những cơ quan này được quy định trong Luật tố tụng hình sự ở

Trang 32

nhà nước pháp quyền “Công lý không chỉ phải được thực thi mà công lý còn phải

được chứng tỏ rằng nó đang được thực thi trên thực tế giải quyết vụ án” Điều đó

có nghĩa là thủ tục giải quyết vụ án phải được quy định trong luật theo hướng bảo đảm tôn trọng sự thật khách quan, công lý, đồng thời những quy định đó phải được

áp dụng trong thực tế giải quyết vụ án Các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của pháp luật, làm cho những quy định đó trở thành hiện thực trong thực tiễn giải quyết vụ án

Thủ tục tố tụng giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi tính chặt chẽ, dân chủ, tranh tụng, minh bạch tôn trọng công lý, bảo vệ quyền con người Những yêu cầu này, trước hết được thể hiện trong các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự thông qua việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật Thông thường xuất phát từ chính sách tố tụng hình sự, cơ quan lập pháp xác định các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự làm cơ sở cho việc xây dựng những chế định cụ thể của TTHS Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) được đánh giá tốt khi nó thỏa mãn những tiêu chí sau: (1) Những quy định của Luật TTHS bảo đảm cho công lý được thực thi; (2) Những quy định của Luật TTHS bảo đảm quyền con người được tôn trọng; (3) Những quy định của Luật TTHS bảo đảm để tố tụng được được tiến hành công bằng, dân chủ, minh bạch; (4) Những quy định của Luật TTHS bảo đảm không để bất kỳ cơ quan tiến hành tố tụng nào có thể lợi dụng quyền hạn của mình xâm phạm lợi ích của xã hội, vi phạm quyền con người trong quá trình giải quyết vụ án; (5) Những quy định của Luật TTHS phù hợp với thực tế đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đến lượt mình, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật TTHS, làm cho các quy định của pháp luật được thể hiện đầy đủ nhất trong thực tiễn giải quyết vụ án Tất cả mọi tư tưởng tiến bộ được

Trang 33

quy định trong pháp luật tố tụng sẽ trở thành vô nghĩa nếu các quy phạm pháp luật không được các cơ quan tiến hành tố tụng thực thi một cách nghiêm chỉnh

1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm những điều kiện để Thẩm phán độc lập, yên tâm trong hoạt động xét xử

Các Tòa án chỉ độc lập khi bản thân các thành viên của Tòa án độc lập, tức

là thẩm phán phải độc lập Tính độc lập của Thẩm phán chính là một trong những yếu tố cơ bản của bộ máy tư pháp độc lập Nếu các Thẩm phán có thể bị chính phủ hành pháp hay các cơ quan chính quyền khác thay đổi nhiệm vụ vào bất kỳ thời điểm nào thì tính độc lập của Tòa án về mặt thể chế không thể đảm bảo Thẩm phán chỉ có thể hoàn thành tốt vai trò của mình khi hoàn toàn được độc lập trong hoạt động chuyên môn Chính hoạt động độc lập chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán là nhằm mục đích bảo đảm quyền con người, quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, tránh mọi lợi dụng chức quyền mà đàn áp dân chúng

Độc lập của Thẩm phán phải được hiểu là độc lập trên mọi phương diện (độc lập cả bên trong và lẫn độc lập cả bên ngoài) Độc lập bên trong của Thẩm phán được hiểu là mọi phán quyết của Thẩm phán tòa án cấp dưới không chịu sự chỉ đạo của Tòa án cấp trên, không bị ảnh hưởng bởi các quan hệ nội bộ, quan hệ đồng nghiệp với nhau Các bản án, quyết định phán xét sai, sẽ được xem xét lại theo các thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự, dân sự… Khi xét xử, Thẩm phán không bị phụ thuộc vào các quyết định hoặc kết luận của cơ quan điều tra (độc lập với hồ sơ vụ án), độc lập với kết luận của Viện kiểm sát (độc lập với cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát) Bản án của Tòa án chỉ căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét

xử căn cứ vào kết quả phiên tòa, đối chiếu với các quy định của pháp luật để xử lý vụ

án và có quyền kết luận khác với ý kiến của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Vẫn cần phải nhắc lại rằng độc lập không có nghĩa là chỉ khi xét xử mà còn phải độc lập

Trang 34

trong mọi tình huống liên quan đến vụ việc xét xử cụ thể mà thẩm phán thụ lý Do vậy, Thẩm phán không chỉ phải độc lập với bên trong mà còn phải độc lập với bên ngoài, độc lập với các cơ quan, kể cả các cơ quan quyền lực nhà nước, các tổ chức, cá nhân, đương sự, người thân, bạn bè, quyền lợi tài chính, nhân thân liên quan vụ án, áp lực xã hội…Thẩm phán không phải chịu bất kỳ sự chỉ đạo, ảnh hưởng nào từ phía họ đối với các phán quyết của mình Hoạt động xét xử của Tòa án không chỉ dành cho các hành vi vi phạm pháp luật của mỗi cá nhân, kể cả các quan chức cao cấp của Nhà nước mà còn mở rộng ra cả hoạt động của các tổ chức, kể cả cơ quan quyền lực nhà nước trung ương

Theo PGS TS Nguyễn Đăng Dung thì có những giải pháp để tăng cường

sự độc lập cho Thẩm phán:

Thứ nhất, Thẩm phán phải có nhiệm kỳ lâu dài, thậm chí có thể là suốt đời,

lương bổng tương xứng, không bị các hoạt động chính trị của lập pháp và hành pháp chi phối Nếu Thẩm phán chỉ được bổ nhiệm trong một nhiệm kỳ ngắn ngủi theo bất cứ một thể thức nào hoặc do bất cứ ngành quyền nào cũng vậy, họ sẽ không có được một tinh thần độc lập và cương quyết Hơn nữa, Thẩm phán là một nghề đặc thù luôn phải chịu áp lực từ dư luận xã hội và bị đe dọa bởi các thế lực nguy hiểm trong xã hội, nên nếu không có một nhiệm kỳ vững chắc, dài lâu và chế

độ lương bổng không tương xứng thì ngành nghề này khó có thể tìm được những người có tài, có đức, lại chí công, vô tư trong hoạt động xét xử Chính sự độc lập của Tư pháp, của Thẩm phán là yếu tố quan trọng đáp ứng được yêu cầu của Nhà nước pháp quyền về việc hạn chế quyền lực nhà nước, đảm bảo thực hiện các

quyền dân chủ, quyền con người

Thứ hai, Thẩm phán phải do bổ nhiệm Những người được chọn vào làm việc

ở cơ quan xét xử phải là các cá nhân liêm khiết, có khả năng với sự đào tạo thích hợp và có chuyên môn về luật pháp Việc đề bạt Thẩm phán phải dựa vào những

Trang 35

yếu tố khách quan, đặc biệt là năng lực, tính liêm khiết và kinh nghiệm Bất cứ cách thức lựa chọn Thẩm phán tòa án nào cũng phải bảo đảm không có sự bổ nhiệm vì những động cơ không chính đáng Trong việc lựa chọn Thẩm phán không được phân biệt đối xử trên cơ sở chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính trị và các quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân, trừ yêu cầu rằng, một ứng viên được chọn vào cơ quan xét xử phải là công dân của quốc gia có liên quan và yêu cầu đó, không bị coi là có tính chất phân biệt đối xử

Như vậy, nhiệm kỳ của Thẩm phán, sự độc lập, an ninh, thù lao thích đáng, các điều kiện dịch vụ, lương hưu và tuổi về hưu phải được pháp luật bảo đảm

Thứ ba, tăng cường trách nhiệm của Thẩm phán Thẩm phán là một chức

danh thực hiện nghề nghiệp đặc thù, nghĩa là một nghề lao động trí não, đầy khó khăn phức tạp luôn bị đặt dưới sự giám sát nghiêm ngặt của xã hội Khi được phân công giải quyết vụ án, người thẩm phán phải suy nghĩ, cân nhắc rất nhiều trên cơ

sở quy định của pháp luật để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, thấu tình, đạt lý Việc xét xử tùy tiện hay một lời phán xử sai trái của Thẩm phán không những làm thay đổi định mệnh của một con người mà còn làm hiệu quả của hệ thống tư pháp trong việc tạo ra trật tự xã hội bị suy giảm Vì vậy vấn đề trách nhiệm của người thẩm phán trong hoạt động xét xử được đặt lên hàng đầu và cần được tăng cường

Ngoài cơ chế giám sát bên trong (Hội thẩm nhân dân, luật sư, người thưa kiện…) thì nguyên tắc xét xử công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho nhân dân tham dự phiên tòa, giám sát hoạt động của Tòa án chính là việc giám sát từ bênngoài

Thứ tư, nâng cao năng lực chuyên môn và kinh nghiệm xét xử của Thẩm

phán Bản thân nguyên tắc độc lập của Thẩm phán buộc người lĩnh trách nhiệm thẩm phán phải có năng lực, phải có chuyên môn nghiệp vụ

Trang 36

Hoạt động xét xử của Tòa án có thể dẫn đến chỗ công dân, pháp nhân, các

tổ chức được hưởng các quyền và lợi ích hoặc gánh chịu các nghĩa vụ nhất định, nên thẩm phán không có quyền được sai lầm trong hoạt động xét xử Sai lầm của Thẩm phán không chỉ làm thiệt hại một cá nhân cụ thể mà còn gây nên sự mất niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự công bằng trong xã hội Vói nghiệp vụ chuyên môn cao sẽ giúp cho người Thẩm phán hoàn thành được trọng trách nặng nề này

Thứ năm, đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán phải được quy chuẩn và

Thẩm phán được quyền xét xử theo lương tâm Công bằng, vô tư, khách quan và tình người là những phẩm chất không thể thiếu được của người Thẩm phán Làm thế nào để Thẩm phán là người có trách nhiệm, là người độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử, làm thế nào để người Thẩm phán dùng tài năng của mình cho việc bảo vệ nền công lý quốc gia, tất cả điều này đều phụ thuộc rất nhiều vàolương tâm và đạo đức của người Thẩm phán

1.3 Toà án trong tố tụng hình sự một số nước điển hình trên thế giới

Tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, tính chất của Nhà nước, đặc điểm mỗi quốc gia và quan điểm giai cấp của giai cấp thống trị thông qua các nhà cầm quyền mà

hệ thống Toà án của các nước được tổ chức theo những cách thức khác nhau: Đối với các quốc gia có lãnh thổ rộng lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, việc tổ chức Toà

án không thể không chú ý đến vấn đề địa lý lãnh thổ, nhưng ở Nhật Bản tuy Toà án cũng tổ chức theo từng cấp như Toà án tối cao, các Tòa thượng thẩm và Tòa cơ sở, nhưng các Toà án được đặt tập trung ở các thành phố lớn, hoặc các thủ phủ của mỗi vùng lãnh thổ lớn Còn ở Anh quốc đạt được sự phù hợp đó khi không coi trọng các yếu tố địa lý, dân cư mà lại nhấn mạnh việc tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử vụ việc, để thuận tiện nhà cầm quyền Anh quốc quy định những vụ việc quan trọng thì được xét xử ở Luân Đôn Ở nước Đức là một nước rất khắt khe với các công dân của mình, các bộ trưởng thì lại càng phải là những công dân

Trang 37

gương mẫu, quan niệm trên quy định mọi tội trạng cùng hình phạt mà các quan chức cao cấp được liệt kê trong bộ luật và họ cũng bị Toà án xét xử Nhưng ở Anh quốc với truyền thống các quan chức chỉ chịu trách nhiệm trước nghị viện, chứ không chịu quyền xét xử ở bất kỳ Toà án nào, do vậy Thượng nghị viện là Tòa thượng thẩm tối cao Tuy có sự khác nhau đó song khái quát thì Toà án các nước cũng có những đặc điểm chung theo những mô hình nhất định

1.3.1 Hệ thống Toà án được tổ chức theo các cấp Toà án

Dù có những khác biệt nhất định, các quốc gia đều thành lập khắp lãnh thổ của mình một cơ cấu Toà án có tính chất thứ bậc gọi là các cấp Toà án Có nhiều lý

do để giải thích việc thành lập hệ thống Toà án theo cơ cấu thứ bậc

Thứ nhất, Hệ thống Toà án được tách ra từ các cơ quan hành chính mà vốn

dĩ, hệ thống này có tính chất thứ bậc từ trung ương đến địa phương

Thứ hai, Do bản chất của hoạt động xét xử có ảnh hưởng trực tiếp đến

quyền lợi của dân chúng; đến sinh mạng con người mà nó còn là vấn đề uy tín của Nhà nước Một phán quyết sai trái không chỉ đưa đến sự thiệt hại cho người bị kết

án, mà còn đem lại sự mất tín nhiệm của nhân dân vào Nhà nước và sự phản ứng của xã hội đối với hệ thống chính trị Vì vậy cần phải có sự xem xét, cân nhắc thận trọng Giải pháp của các quốc gia cho nhu cầu này là quy định việc xét lại bản án

đã được xử bằng những Thẩm phán khác Nếu để các Thẩm phán của chính Tòa án

đó xử lại thì không ổn, vì xét cho cùng vẫn là do Toà án đó xét lại, uy tín của Tòa

án sẽ bị ảnh hưởng nếu phán quyết của họ là tiền hậu bất nhất Hơn nữa, nó còn có thể gây ra những khó xử giữa những Thẩm phán của cùng một Toà án với nhau Nếu đưa sang Tòa án khác cùng cấp xử lại cũng do những Thẩm phán cùng hạng thực hiện và dân chúng có thể sẽ không tin tưởng, sẽ gây ra tâm lý cho rằng địa hạt khác có công lý địa hạt này thì không Do vậy tính phổ biến hiện nay của các nước là việc xét lại bản án do Toà án cấp trên xét xử Vì vậy, mô hình chung nhất

Trang 38

của hệ thống Toà án các nước là tổ chức theo nhiều cấp từ thấp đến cao Thông thường cơ cấu hệ thống Toà án các nước bao gồm: Toà án sơ thẩm (Tòa cấp thấp); Tòa đệ nhị cấp (Tòa cấp trung); Tòa thượng thẩm (Tòa cấp cao)

Tòa sơ cấp hay còn gọi là Tòa cấp thấp có thẩm quyền giải quyết các vụ việc ít nghiêm trọng và không phức tạp

Tòa đệ nhị cấp có thẩm quyền giải quyết các vụ việc quan trọng, phức tạp, đồng thời các Tòa này xét xử lại các vụ việc do Tòa sơ cấp chuyển lên khi có sự yêu cầu xét xử lại của bị cáo, đương sự hay cơ quan nhà nước thẩm quyền khác

Tòa Thượng thẩm có thẩm quyền cao nhất xử lại các bản án do Tòa đệ nhị cấp chuyển lên Và thông thường những quyết định của Tòa thượng thẩm là chung thẩm

Như vậy mô hình của hệ thống Toà án theo các cấp: Sơ cấp, đệ nhị cấp và thượng thẩm là cơ cấu phổ biến nhất của các nước trên thế giới Bất cứ quốc gia nào Toà án cũng được tổ chức theo mô hình này Điều này có thể thấy qua tổ chức

TA một số nước như sau:

Hệ thống Toà án Anh quốc: Gồm:

(i) Toà án cấp cao;

(ii) Tòa hoàng gia;

(iii) Toà án cấp thấp

Toà án cấp cao bao gồm Tòa phúc thẩm và Toà án cấp cao Theo quy định

của luật nước Anh thì Thẩm phán của các Tòa này tương đương nhau

Tòa phúc thẩm xét xử các vụ có kháng cáo, kháng nghị do Tòa Hoàng gia chuyển lên Tuy vậy trong trường hợp Tòa Hoàng gia tuyên bị cáo vô tội thì Tòa phúc thẩm không có quyền sửa bản án, mà chỉ có quyền hoặc là y án của Toầ án

Trang 39

Hoàng gia hoặc nếu có căn cứ thì tuyên bị cáo phạm tội và trả lại toàn bộ hồ sơ vụ

án để thụ lý lại

Toà án cấp cao được hình thành từ rất lâu, mang tính chất lịch sử Toà án cấp cao thụ lý kháng cáo, kháng nghị về dân sự do Tòa thẩm quyền hẹp (Tòa cấp quận, huyện) chuyển lên Việc xét xử của Tòa cấp cao có sự tham gia của đoàn bồi thẩm Tòa cấp cao còn được gọi là phiên Tòa của Nữ hoàng Anh, tồn tại ở Anh từ cách đây hơn 700 năm

Tòa Hoàng gia là Toà án xét xử sở thẩm tất cả các vụ án có cáo trạng Khi

xét xử ở Tòa Hoàng gia có đoàn bồi thẩm tham gia

Toà án cấp thấp (Tòa có thẩm quyền hẹp) là Toà án cấp quận, có thẩm

quyền xét xử những vụ án ít nghiệm trọng (với mức án dưới 12 tháng tù giam) Các Toà án này không có thẩm quyền trên phạm vi toàn quốc như Tòa cấp cao, mà chỉ có thẩm quyền trong phạm vi địa hạt của mình Việc xét xử ở Toà án cấp thấp không có bồi thẩm đoàn tham gia, mà chỉ do một Thẩm phán đảm nhiệm

Hệ thống Toà án Đan Mạch: Gồm:

(i) Toà án tối cao;

(ii) Toà án cấp cao (gồm 2 Tòa: Miền Đông và Miền Tây);

(iii) Toà án cấp khu vực (gồm 82 Tòa)

Về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, theo quy định của luật về tư pháp hình sự Đan Mạch, việc phân định thẩm quyền của các Tòa án căn cứ vào mức án và tính chất của tội phạm, cụ thể là:

Toà án cấp khu vực sơ thẩm những vụ án hình sự có mức án từ 4 năm tù, những vụ án về tội phạm chính trị hoặc những vụ án mà bị cáo không nhận tội Xét

xử phúc thẩm những bản án sơ thẩm của Toà án cấp khu vực bị kháng cáo, kháng nghị

Trang 40

Toà án tối cao xét xử phúc thẩm những bản án sơ thẩm của Toà án cấp cao

bị kháng cáo, kháng nghị Xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm trong những trường hợp do luật định

Hệ thống Toà án Hàn Quốc: Gồm:

(i) Toà án tối cao;

(ii) Toà án cấp khu vực;

(iii) Toà án cấp địa hạt (quận, huyện, thị xã)

Toà án cấp địa hạt: xét xử các vụ án có giá trị tài sản bị xâm hại dưới 50

triệu Won hoặc có mức hình phạt tù dưới 1 năm

Toà án cấp khu vực: xét xử các vụ án có giá trị tài sản bị xâm hại hơn 50

triệu Won hoặc có mức hình phạt tù trên 1 năm và Hội đồng bao gồm 3 thẩm phán xét xử sơ thẩm - phúc thẩm các vụ án do Tòa cấp địa hạt xét xử có kháng cáo

Toà án tối cao: Xét xử phúc thẩm các vụ án sơ thẩm của Tòa khu vực do

một Hội đồng Thẩm phán xét xử có kháng cáo Thẩm quyền này do các Tòa phúc thẩm (có 5 Tòa phúc thẩm) Toà án tối cao Hàn Quốc xét xử Giám đốc thẩm lại các

án đã có hiệu lực pháp luật

Hệ thống Toà án Trung Quốc:

Theo quy định tại Điều 5 Luật tố tụng hình sự Trung Quốc thì Tòa án nhân dân thực hiện chức năng xét xử độc lập theo luật và không bị can thiệp bởi bất kỳ

cơ quan hành chính, tổ chức hoặc cá nhân nào Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án không được hoàn toàn độc lập Hoạt động của Tòa án bị giám sát bởi Ủy ban pháp luật chính trị của Đảng cộng sản Trung Quốc Đảng cộng sản Trung Quốc chỉ đạo

về cơ cấu và hoạt động của Tòa án

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1996), Hán - Việt Từ điển, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán - Việt Từ điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
2. Lê Thúc Anh (2007), “Cải cách tư pháp với việc sớm hình thành Toà án sơ thẩm khu vực”, Toà án nhân dân (20) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp với việc sớm hình thành Toà án sơ thẩm khu vực”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Lê Thúc Anh
Năm: 2007
3. Ban chấp hành trung ương Đảng (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
4. Ban chấp hành trung ương Đảng (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
5. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/1/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2002
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48 – NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
7. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
8. Bộ Chính trị (2010), Kết luận số 79- KL/TW ngày 28/7/2010 về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79- KL/TW ngày 28/7/2010 về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết 49-NQ/TW
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2010
9. Vương Chính Bình (204), Bộ thông sử thế giới vạn năm, NXB Văn hoá thông tin, tr. 375 - 377 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ thông sử thế giới vạn năm
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
10. Lê Văn Châu (2008), Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng xét xử trong tố tụng hình sự
Tác giả: Lê Văn Châu
Năm: 2008
11. Nguyễn Ngọc Chí (2010), Giáo trình Toà án Hình sự Quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Toà án Hình sự Quốc tế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
12. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, Nhà nước và pháp luật (8), tr. 53 - 57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo sự vô tư của người tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người giám định trong tố tụng hình sự”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
13. Nguyễn Ngọc Chí (2010), “Chức năng của Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”, Nghiên cứu lập pháp - Quốc hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng của Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu cải cách tư pháp”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2010
14. Nguyễn Ngọc Chí (2009), “Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, Nhà nước và pháp luật (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng tới nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2009
15. Nguyễn Đăng Dung (2004), Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền, NXB Tư pháp, tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2004
16. Lưu Tiến Dũng (2005), “Độc lập xét xử ở các nước quá độ - Một góc nhìn so sánh”, Toà án nhân dân (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc lập xét xử ở các nước quá độ - Một góc nhìn so sánh”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Lưu Tiến Dũng
Năm: 2005
17. Hoàng Mạnh Hùng (2007), “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở Việt Nam hiện nay”, Cộng sản, 1 (122) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của TAND ở Việt Nam hiện nay”, "Cộng sản
Tác giả: Hoàng Mạnh Hùng
Năm: 2007
18. Nguyễn Mạnh Hùng (2008), “Hoàn thiện các chức năng tố tụng hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta”, Nhà nước và pháp luật (09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện các chức năng tố tụng hình sự trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Năm: 2008
51. Mục từ Right to a fair trinal, Từ điển Wikipedia, http://en.wikipedia.org/wiki/Right to a fair trinal Link
52. Quyền được xét xử công bằng (The Right to a Fair Trinal), Ân xá Mỹ, http://www.amnestyusa.org/Intermational Justice/ Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ HỆ THỐNG TỔ CHỨC TOÀ ÁN VIỆT NAM   TỪ NĂM 1946 ĐẾN NAY - Đổi mới Toà án trong tố tụng hình sự trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
1946 ĐẾN NAY (Trang 116)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w