Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong các quy phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị giá tăng, một số cá nhân, doanh nghiệp đã lợi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGÔ THỊ THU THỦY
Đặc điểm hình sự của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng và giải pháp
phòng ngừa
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xã hội hiện đại, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước Thời gian qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh về thuế
và hoạt động thu thuế như: Luật Thuế doanh thu, Luật Thuế xuất khẩu – nhập khẩu, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và gần đây nhất là Luật Thuế giá trị gia tăng Luật Thuế giá trị gia tăng đã được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 và có hiệu lực từ ngày 1/1/1999, sau hơn bốn năm thực hiện, đã phát huy được những mặt tích cực như: góp phần tăng thu cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng cường năng lực quản lý sản xuất kinh doanh nói chung và quản lý thuế nói riêng trong khuôn khổ pháp luật
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong các quy phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị giá tăng, một số
cá nhân, doanh nghiệp đã lợi dụng chiếm đoạt hàng ngàn tỉ đồng từ ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân
Trước sự xuất hiện và ngày càng nguy hiểm, phức tạp của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, đã có một số công trình nghiên cứu phân tích, đưa ra các giải pháp khác nhau để phòng ngừa và đấu tranh với các tội phạm này Song, những công trình đó chưa nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện mà chỉ bó hẹp trong phạm vi một số khía cạnh Ví dụ: nghiên cứu của ngành Thuế chỉ phân tích và đưa ra kiến nghị về việc in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng
hoá đơn như: bài viết ”Giải pháp hoàn thiện chế độ quản lý sử dụng hoá đơn”
của tác giả Nguyễn Hoàng Nguyên đăng trên Tạp chí Thuế Nhà nước số tháng
8/2003, bài viết “Đi tìm giải pháp cho việc quản lý hoá đơn bán hàng” của tác
giả Nguyễn Xuân Sơn đăng trên tạp chí Tài chính số tháng 9/2002 Nghiên cứu của ngành Công an chủ yếu hướng vào các biện pháp đấu tranh mang tính
nghiệp vụ đặc thù của ngành như Luận văn Thạc sỹ Luật học “Phát hiện, điều
tra tội phạm lừa đảo trong việc thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng của lực
Trang 3lượng cảnh sát kinh tế” của tác giả Phan Quang Phương, Học viện Cảnh sát
nhân dân (năm 2002)
Xuất phát từ lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài :”Đặc điểm
hình sự của tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng và giải pháp phòng ngừa” Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp phần cùng các ngành
chức năng tìm ra những giải pháp phòng ngừa, đấu tranh chống loại tội phạm này một cách có hiệu quả, góp phần chống thất thoát ngân sách Nhà nước, đảm bảo công bằng xã hội
3 Nhiệm vụ của đề tài
3.1 Làm rõ cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng, hoàn thuế giá trị gia tăng và đặc điểm hình sự của các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng 3.2 Phân tích làm rõ những sơ hở, thiếu sót trong các qui phạm pháp luật về hoàn thuế giá trị gia tăng mà tội phạm có thể lợi dụng để hoạt động
3.3 Phân tích làm rõ những nguyên nhân, phương thức, thủ đoạn, trách nhiệm hình sự và những vấn đề khác có liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
3.4 Dự báo tình hình tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
3.5 Đưa ra các giải pháp phòng ngừa tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, kiến nghị với các ngành chức năng để có những điều chỉnh hợp lý, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ đổi mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4- Các văn bản pháp luật, dưới luật, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ
và các ngành có liên quan đến điều chỉnh hoạt động hoàn thuế giá trị gia tăng và công tác phòng ngừa loại tội phạm này
- Nghiên cứu hồ sơ một số vụ án điển hình trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng mà Toà án đã xét xử
4.2 Phạm vi nghiên cứu: tập trung nghiên cứu những vấn đề nổi lên và có liên
quan trực tiếp đến tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng ở lĩnh vực xuất khẩu hàng hoá từ khi áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng trên phạm vi cả nước (từ năm 1999 đến nay)
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội và sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp tiến cận hệ thống, toạ đàm, trao đổi kinh nghiệm, điều tra, khảo sát điểm ở một số địa phương, một số đơn vị thuộc
Bộ Công an, Bộ Tài chính Ngoài ra, phương pháp phân tích, tổng hợp cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình nghiên cứu
Trang 5CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG,
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC
HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1 Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, nhưng ở Việt Nam mới được áp dụng từ năm 1999 Thuế giá trị gia tăng có ưu điểm hơn hẳn so với thuế doanh thu trước đây Nếu như thuế doanh thu tính trên doanh thu
đã có thuế thì thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ Điều 1 Luật Thuế giá trị gia tăng đã đưa ra khái niệm về thuế giá trị gia tăng: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.”
Như vậy, theo định nghĩa này thì thuế giá trị gia tăng có đặc điểm:
Thuế được tính trên giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ chứ không tính trên toàn bộ giá trị của hàng hoá, dịch vụ đó Nhà nước kiểm soát được từng giai đoạn làm thay đổi giá trị hàng hoá, dịch vụ, do đó có cơ chế đánh thuế phù hợp
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng bao gồm tất cả các loại hàng hoá, dịch
vụ được luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Theo chúng tôi, khái niệm này đã phản ánh đầy đủ bản chất của thuế giá trị gia tăng Đa số các nước trên thế giới hiện nay áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng đều đưa ra khái niệm như vậy
1.1.2 Đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
Đối tượng chịu thuế: Về cơ bản, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng cũng
như đối tượng chịu thuế doanh thu trước kia, đó là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam [4,7]
Đối tượng nộp thuế: Tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam (gọi chung là
Trang 6cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng (gọi chung là người nhập khẩu) [4,7] Đó là các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Hợp tác xã; các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân
và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác; các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; các công ty nước ngoài và tổ chức nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng kinh doanh khác [4,67]
Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng cũng qui định những đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng như: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường Ví dụ: thóc phơi, sấy khô, đỗ tương được bóc vỏ ; sản phẩm muối: muối sản xuất từ nước biển, muối iôt ; một số hàng hoá nhập khẩu như máy bay, dàn khoan, tàu thuỷ thuê của nước ngoài để dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh; dịch vụ tín dụng và quĩ đầu tư; chuyển quyền sử dụng đất
b- Thuế suất thuế giá trị gia tăng:
Luật Thuế giá trị gia tăng qui định có bốn mức: 0%, 5%, 10% và 20% Mức thuế suất 0% được áp dụng chủ yếu đối với hàng hoá xuất khẩu Mức thuế suất 5% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: nước sạch phục vụ sinh
Trang 7hoạt, sản xuất; thuốc chữa bệnh; phân bón; thuốc trừ sâu Mức thuế suất 10% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: dầu mỏ, than đá, điện thương phẩm, vận tải, bốc xếp Mức thuế suất 20% được áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ như: vàng bạc, khách sạn, du lịch, dịch vụ môi giới [4,12-16]
Việc phân loại các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu và hướng dẫn tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ Hàng hoá xuất khẩu áp dụng thuế suất 0% để khuyển khích xuất khẩu Hàng hoá, dịch vụ thiết yếu, phục
vụ trực tiếp cho sản xuất và tiêu dùng được áp dụng mức thuế suất thấp là 5% Hàng hoá, dịch vụ không thiết yếu, cần điều tiết, mức thuế suất là 20%
Nguyên tắc áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng so với thuế suất thuế
doanh thu có những điểm khác nhau, đó là: Thứ nhất, thuế suất thuế doanh thu
phân biệt theo ngành nghề, mặt hàng và công dụng Cùng một loại sản phẩm, hàng hoá nhưng thuế suất qui định khâu sản xuất khác với thuế suất khâu kinh
doanh thương nghiệp; Thứ hai, thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng thống nhất
theo loại hàng hoá, dịch vụ, không phân biệt ngành nghề sản xuất, kinh doanh, bán buôn, bán lẻ hay nhập khẩu
Tuy nhiên, cũng cần phải thấy sự khác nhau giữa hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế và hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% là: hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% thì không phải nộp thuế giá trị gia tăng đầu ra
mà còn được khấu trừ hoặc hoàn trả số thuế đầu vào Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng thì không phải nộp thuế đầu ra nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn thuế đầu vào (nếu có)
Như vậy, hàng hoá xuất khẩu được ưu đãi về thuế cao hơn hàng hoá thuộc diện không chịu thuế Hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng vẫn phải chịu thuế giá trị gia tăng đầu vào (nếu có)
1.1.4 Phương pháp tính thuế
Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng khác hẳn với phương pháp tính thuế doanh thu: ”Thuế giá trị gia tăng phải nộp được tính theo phương pháp khấu trừ thuế hoặc phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng.” [4,17]
Trang 8a- Phương pháp khấu trừ thuế: phương pháp này hiện nay được đa số các nước
trên thế giới áp dụng, nghĩa là:
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
Thuế giá trị gia tăng đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán ra nhân thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó
Thuế giá trị gia tăng đầu vào bằng tổng số thuế giá trị gia tăng ghi trên hoá đơn giá trị gia tăng mua hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng [4,17]
b- Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Số thuế giá trị gia tăng phải nộp bằng giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế nhân thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ đó
Giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ bằng doanh số của hàng hoá, dịch
vụ bán ra trừ giá vốn của hàng hoá, dịch vụ bán ra
Phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng chỉ áp dụng đối với các đối tượng như: cá nhân sản xuất, kinh doanh và tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh ở Việt Nam không theo Luật Đầu tư nước ngoài tài Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hoá đơn, chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế và cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quí [4,17-18]
Trước đây, Nhà nước ta ban hành Luật Thuế doanh thu, song Luật thuế này bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót như: thuế đánh chồng lên thuế, có nhiều kẽ
hở để trốn thuế Việc ban hành Luật Thuế giá trị gia tăng thay cho Luật Thuế doanh thu nhằm khắc phục những hạn chế, thiếu sót của Luật Thuế doanh thu
Nghiên cứu hai Luật Thuế trên cho thấy giữa chúng có một số điểm giống
và khác nhau cơ bản như sau:
a- Những điểm giống nhau: đều là thuế gián thu, có phạm vi điều chỉnh rộng đối
với hầu hết các hàng hoá, dịch vụ và hoạt động kinh doanh; thuế tính trên doanh
Trang 9thu hoặc giá bán hàng hoá, dịch vụ; đối tượng nộp thuế là các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ
b- Những điểm khác nhau:
Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng tính trên giá bán hàng hoá, dịch vụ chưa có thuế giá trị gia tăng, còn thuế doanh thu tính trên doanh thu đã có thuế doanh thu;
Thứ hai, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ, còn đối tượng chịu thuế doanh thu là doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, vì vậy, thuế suất thuế doanh thu tăng, giảm sẽ tác động trực tiếp đến đối tượng tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ;
Thứ ba, thuế doanh thu cơ sở kinh doanh phải nộp tính trên doanh thu, còn thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị gia tăng;
Thứ tư, thuế doanh thu không thu khâu nhập khẩu hàng hoá, thuế giá trị gia tăng thu ngay khâu nhập khẩu hàng hoá Điều này thể hiện chính sách thuế thống nhất và bình đẳng giữa hàng hoá sản xuất trong nước với hàng hoá nhập khẩu
Chính vì những điểm khác nhau trên mà thuế giá trị gia tăng có nhiều ưu điểm hơn thuế doanh thu như: thuế giá trị gia tăng khắc phục được việc thu trùng lắp của thuế doanh thu nên tạo điều kiện mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hoá, dịch vụ; thuế giá trị gia tăng khuyến khích xuất khẩu hàng hoá và đầu tư hơn thuế doanh thu; thuế giá trị gia tăng thể hiện rõ hơn là loại thuế gián thu do người tiêu dùng chịu và không ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ sở kinh doanh; thuế giá trị gia tăng thúc đẩy cơ sở kinh doanh thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế; mua – bán hàng hoá có hoá đơn, chứng từ
1.1.5 Một số vấn đề cơ bản về hoàn thuế giá trị gia tăng
Ưu điểm lớn nhất của thuế giá trị gia tăng so với thuế doanh thu là vấn đề hoàn thuế Hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào được áp dụng đối với một số trường hợp được qui định tại Điều 16 Luật Thuế giá trị gia tăng, đặc biệt đối với
Trang 10hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu Đây là lĩnh vực mà Nhà nước luôn luôn ưu tiên, khuyến khích Những trường hợp được hoàn thuế là:
“1 Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ thuế được xét hoàn thuế hàng quí nếu số thuế đầu vào được khấu trừ của các tháng trong quí lớn hơn số thuế đầu ra hoặc được hoàn thuế đầu vào của tài sản cố định theo điểm c khoản 1 Điều 10 của Luật này;
2 Quyết toán thuế khi sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, phá sản có số thuế nộp thừa;
3 Quyết định xử lý hoàn thuế của cơ quan có thẩm quyền theo qui định của pháp luật.” [4,23]
(Điểm c Khoản 1 Điều 10 Luật Thuế giá trị gia tăng qui định: “Thuế đầu vào phát sinh trong tháng nào được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó; riêng đối với tài sản cố định, nếu có số thuế đầu vào được khấu trừ lớn thì được khấu trừ dần hoặc được hoàn thuế theo qui định của Chính phủ.”)
1.1.5.1 Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng
Đối tượng và trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng được qui định cụ thể tại Mục I Phần D Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng:
“Cơ sở kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ được xét hoàn thuế trong các trường hợp sau:
a- Cơ sở kinh doanh trong 3 tháng liên tục trở lên (không phân biệt niên độ kế
toán) có luỹ kế số thuế đầu vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra được hoàn thuế Số thuế được hoàn là số thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế
Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế giá trị gia tăng có số thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra như sau:
(Đơn vị tính: triệu đồng)
Thuế đầu Thuế đầu ra Luỹ kế số
Trang 11Tháng kê khai
thuế vào được khấu trừ
trong tháng
phát sinh trong tháng
Thuế phải nộp thuế đầu vào chưa được
khấu trừ Tháng 12/2000 200 100 -100 -100
Tháng 1/2001 300 350 +50 -50
Tháng 2/2001 300 200 -100 -150
Doanh nghiệp A luỹ kế 3 tháng liên tục có số thuế đầu vào lớn hơn thuế đầu ra Doanh nghiệp này được hoàn thuế giá trị gia tăng là 150 triệu đồng
b- Cơ sở kinh doanh trong tháng có hàng hoá xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia
tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ 200 triệu đồng trở lên thì được xét hoàn thuế theo tháng hoặc theo chuyến hàng (nếu xác định được thuế giá trị gia tăng đầu vào riêng của từng chuyến hàng)
Đối với hàng hoá uỷ thác xuất khẩu, gia công xuất khẩu qua một cơ sở khác ký hợp đồng gia công xuất khẩu, gia công chuyển tiếp xuất khẩu, đối tượng được hoàn thuế là cơ sở có hàng hoá đi uỷ thác xuất khẩu, cơ sở trực tiếp gia công hàng hoá xuất khẩu
Các cơ sở kinh doanh, tổ chức thuộc đối tượng được hoàn thuế giá trị gia tăng nói trên phải là đối tượng lưu giữ sổ sách, chứng từ kế toán và có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng
Các trường hợp cơ sở đã lập hồ sơ đề nghị hoàn thuế thì không được tính
bù trừ với số thuế đầu vào đã đề nghị hoàn thuế vào số thuế nộp thiếu của tháng trước hoặc số thuế phát sinh của tháng tiếp sau thời gian đã lập hồ sơ hoàn thuế
Trường hợp tháng trước thời gian xin hoàn thuế cơ sở có số thuế giá trị gia tăng nộp thừa thì cơ sở được tính cộng thuế giá trị gia tăng nộp thừa vào số thuế giá trị gia tăng được hoàn của thời gian xin hoàn thuế tiếp sau
Trường hợp cơ sở kinh doanh phát sinh luỹ kế số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra từ ba tháng trở lên nhưng cơ sở không đề nghị hoàn thuế thì được tính khấu trừ vào các tháng tiếp sau, nếu số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết thì cơ sở lập hồ sơ hoàn thuế.”
1.1.5.2 Phân loại đối tƣợng hoàn thuế
Trang 12Do ý thức chấp hành các Luật Thuế của các đối tượng nộp thuế khác nhau, có đối tượng làm tốt nghĩa vụ nộp thuế, có đối tượng cố tình nợ thuế, trốn thuế, vì vậy Luật Thuế giá trị gia tăng phân loại các đối tượng được hoàn thuế trên cơ sở ý thức chấp hành các Luật Thuế của đối tượng nộp thuế Cách phân loại này nhằm tạo công bằng trong đối xử, đồng thời cũng là biện pháp tích cực trong việc kiểm tra, giám sát các đối tượng nộp thuế
a- Đối tượng áp dụng kiểm tra, thanh tra trước khi hoàn thuế
Cơ sở kinh doanh mới thành lập có thời gian kinh doanh dưới một năm,
đề nghị hoàn thuế lần đầu;
Cơ sở kinh doanh đã có các hành vi vi phạm gian lận về thuế giá trị gia tăng như khai man, trốn thuế, vi phạm các qui định về chế độ hoá đơn, chứng từ ;
Cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản chưa qua chế biến theo đường biên giới đất liền không thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng;
Các cơ sở kinh doanh chia tách, giải thể, phá sản
b- Đối tượng áp dụng hoàn thuế trước, kiểm tra sau là các đối tượng không thuộc đối tượng nêu trên
c- Các trường hợp đã gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế đầy đủ, đúng qui định nhưng
đang trong giai đoạn bị điều tra, khởi tố về các hành vi gian lận về thuế giá trị gia tăng theo quyết định của các cơ quan chức năng thì tạm thời dừng việc xem xét giải quyết việc hoàn thuế đến khi có quyết định xử lý
Trường hợp cơ sở kinh doanh có hành vi gian lận về thuế giá trị gia tăng, thuộc đối tượng áp dụng kiểm tra trước khi hoàn thuế sau thời gian 12 tháng nếu
đã chấp hành tốt các qui định của Luật Thuế, chế độ quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ sẽ được hoàn thuế trước, kiểm tra sau Cơ quan thuế sẽ xem xét cụ thể từng trường hợp này [4,152-153]
1.1.5.3 Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng
Hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng gồm:
Trang 13- Công văn đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng nêu rõ lý do hoàn thuế, số thuế đề nghị hoàn, thời gian hoàn
- Bảng kê khai tổng hợp số thuế phát sinh đầu ra, số thuế đầu vào được khấu trừ,
số thuế đã nộp (nếu có), số thuế đầu vào lớn hơn số thuế đầu ra đề nghị hoàn lại
- Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ liên quan đến việc xác định thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra Bảng kê ghi rõ:
+ Số, ngày tờ khai xuất khẩu của hàng hoá xuất khẩu (trường hợp uỷ thác xuất khẩu phải ghi số, ngày tờ khai xuất khẩu của cơ sở nhận uỷ thác);
+ Số, ngày hợp đồng xuất khẩu hoặc số, ngày hợp đồng uỷ thác xuất khẩu đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu;
+ Số, ngày chứng từ thanh toán tiền hàng hoá xuất khẩu, dịch vụ xuất khẩu và của doanh nghiệp chế xuất qua Ngân hàng, ghi rõ hình thức và đồng tiền thanh toán;
+ Số, ngày Biên bản thanh lý Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu (Hợp đồng uỷ thác gia công xuất khẩu) giữa bên uỷ thác xuất khẩu và bên nhận uỷ thác; số lượng, giá trị, chủng loại hàng hoá uỷ thác xuất khẩu; số, ngày tờ khai xuất khẩu của cơ sở nhận uỷ thác xuất khẩu (đối với trường hợp uỷ thác xuất khẩu);
+ Xuất khẩu hàng hoá theo đường biên giới đất liền, đường biển, đường hàng không; tên nước nhập khẩu
Trường hợp việc kê khai thuế hàng tháng đã đầy đủ và chính xác, phù hợp với Bảng kê khai tổng hợp, cơ sở không phải nộp Bảng kê hàng hoá, dịch vụ mua vào, bán ra các tháng đề nghị hoàn thuế Trường hợp có điều chỉnh thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra của các tháng trong thời gian hoàn thuế thì cơ sở phải kê khai số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng đầu ra phát sinh từng tháng trong thời gian hoàn thuế, số thuế điều chỉnh phải giải trình rõ lý do [4,153-155]
1.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
Trang 141.2.1 Các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
Để chiếm đoạt được tiền từ ngân sách nhà nước qua việc hoàn thuế giá trị gia tăng, đối tượng phạm tội thường phải tiến hành nhiều loại hành vi khác nhau
và có thể phạm nhiều loại tội khác nhau
Qua nghiên cứu hồ sơ một số vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, chúng tôi nhận thấy có những tội phạm sau:
1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản;
2 Tội nhận hối lộ;
3 Tội đưa hối lộ;
4 Tội làm môi giới hối lộ;
5 Tội tham ô tài sản;
6 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Không phải tất cả các vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng đều có tất cả các tội nói trên mà có thể có một hay nhiều tội đó
Bộ Luật hình sự năm 1999 không có một Chương hay Mục riêng qui định về các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng, mà ở đây là một nhóm các tội nằm rải rác ở các Chương, các Mục khác nhau, từ Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu đến Chương XXI Các tội phạm về chức vụ
Trong các vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng đã được khởi tố hoặc đã được xét xử, chúng tôi nhận thấy nổi bật nhất là Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Lợi dụng quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng về khấu trừ thuế và hoàn thuế đầu vào từ 1% đến 5% trên giá trị hàng hoá mua vào từ những người trực tiếp sản xuất (không có hoá đơn, chứng từ) để xuất khẩu hoặc chế biến thành hàng xuất khẩu, đặc biệt là hàng nông, lâm, thuỷ sản mà nhiều doanh nghiệp, cá nhân đã lập hồ sơ giả để xin hoàn thuế, từ đó chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước
Để thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt, đối tượng phạm tội còn phải thực hiện nhiều hành vi khác mà những hành vi này cấu thành nên
Trang 15những tội phạm khác nhau, đó là các tội: Tội đưa hối lộ, Tội nhận hối lộ, Tội làm môi giới hối lộ, Tội tham ô tài sản, Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Các tội này xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, xâm phạm sở hữu nhà nước Những hành vi đó không những gây thiệt hại to lớn về vật chất mà còn gây thiệt hại nặng nề về tinh thần, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các cơ quan quản lý nhà nước
1.2.2 Đặc điểm và trách nhiệm hình sự của các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
1.2.2.1 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Theo qui định tại Điều 139 Bộ Luật hình sự năm 1999 thì lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác Hành vi lừa đảo bao gồm hai quá trình: dùng thủ đoạn gian dối và chiếm đoạt tài sản
a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm quyền sở hữu của Nhà nước đối với tài sản
b- Mặt khách quan của tội phạm: được thể hiện ở dấu hiệu hành vi và dấu hiệu hậu quả
Dấu hiệu hành vi: hành vi gian dối là việc đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin là sự thật Hành vi gian dối trong việc chiếm đoạt tiền hoàn thuế có những biểu hiện mang tính mới mẻ và tinh vi, đó là:
Trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng và sử dụng hoá đơn: lập bảng kê khống về việc mua hàng hoá ở những địa chỉ không có thật; mua hoá đơn trắng
để tự ý ghi; yêu cầu người xuất hoá đơn lập hoá đơn theo mục đích của mình; mua hoá đơn giả; quay vòng hoá đơn; sử dụng hoá đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn
Trong lĩnh vực hải quan: xuất khống hoàn toàn (lợi dụng chế độ ưu đãi miễn kiểm tra để xuất khẩu khống, nhập khẩu lậu), xuất hàng khống một phần, mượn hoặc thuê hàng của tư thương để xuất khẩu, quay vòng hàng xuất khẩu,
Trang 16sửa chữa tờ khai hải quan để tăng lượng hàng xuất khẩu, ví dụ: 1.040 bộ quần áo sửa thành 10.400 bộ quần áo, làm giả vận tải đơn đường biển để chứng tỏ hàng
đã xuống tàu, có làm thủ tục xuất khẩu hàng nhưng không làm thủ tục xuất cảnh cho phương tiện thực tế vận chuyển hàng hoá
Trong lĩnh vực ngân hàng: thanh toán bằng tiền mặt, không thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng, tự nộp tiền vào tài khoản của doanh nghiệp mình cho hàng xuất khẩu khống
Dấu hiệu hậu quả: tiền của Nhà nước bị chiếm đoạt bất hợp pháp Giá trị
bị chiếm đoạt có khi lên tới vài chục tỉ đồng trong một vụ án Tiền hoàn thuế được trả cho những doanh nghiệp, cá nhân làm ăn gian dối, gây ảnh hưởng xấu tới những doanh nghiệp hoạt động nghiêm túc
c- Chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế bao giờ cũng gắn với tổ chức kinh tế nên, trước hết chủ thể là những người lãnh đạo các doanh nghiệp (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ), những người công tác tại các phòng nghiệp vụ của các doanh nghiệp (phòng kế hoạch, kế toán, vật tư ), các đối tượng là công chức, viên chức nhà nước công tác tại các
cơ quan quản lý nhà nước như cán bộ Thuế Có trường hợp, cán bộ Thuế thoả thuận về tỉ lệ ăn chia nếu được hoàn thuế, mặc dù biết rõ hồ sơ chưa đầy đủ, đúng như qui định Những người nói trên đều có thể lợi dụng danh nghĩa, vai trò,
vị trí công tác để lừa đảo hoặc tiếp tay cho các đối tượng khác thực hiện hành vi lừa đảo Do có hiểu biết sâu sắc về chính sách, pháp luật, có trình độ nghiệp vụ quản lý kinh tế, có điều kiện và kinh nghiệm trong việc thiết lập các mối quan hệ
xã hội, lợi dụng vị thế công tác, những người này có thể dễ dàng thực hiện hoặc đứng ra “bảo lãnh” cho những người khác thực hiện hành vi lừa đảo
d- Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý Mục đích tư lợi
Đặc trưng nổi bật nhất của hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người bị hại tự nguyện trao tài sản Đây là điểm khác với hành vi chiếm đoạt trong các tội xâm phạm sở hữu khác như trộm cắp, cướp giật người
Trang 17phạm tội phải tự dịch chuyển tài sản Thời điểm được coi là hoàn thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội nhận được tài sản do người bị hại tự nguyện trao, cho dù chỉ là một phần Ở vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế, thời điểm người phạm tội ký vào giấy nhận tiền do kho bạc Nhà nước trao hoặc thời điểm tiền được chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp, khi đó mới hoàn thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản Nếu người phạm tội chỉ nhận được quyết định hoàn thuế mà bị cơ quan chức năng phát hiện ra hồ sơ giả thì tại thời điểm
đó chưa hoàn thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trách nhiệm hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Hình phạt chính: người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm Người thực hiện hành vi phạm tội nếu
có các tình tiết tăng nặng được qui định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 139 Bộ Luật hình
sự bị phạt tù từ hai năm đến tù chung thân hoặc tử hình
Hình phạt bổ sung: được qui định tại Khoản 5: “Người phạm tội còn có thể
bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
a- Khách thể của các tội phạm về hối lộ: đều xâm phạm hoạt động đúng đắn của
cơ quan nhà nước, xâm phạm nhiều mặt đến việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước
b- Mặt khách quan của các tội phạm về hối lộ:
Nhận hối lộ là hành vi đã hoặc sẽ nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
Trang 18Thái độ phê phán của xã hội đối với hành vi nhận hối lộ gay gắt hơn so với đưa hối lộ và làm môi giới hối lộ Người cán bộ có chức năng kiểm tra, giám sát các thủ tục cần thiết cho quá trình hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ không thực hiện đúng chức năng của mình, thậm chí còn tiếp tay cho tội phạm như: không có hàng xuất khẩu mà vẫn xác nhận có hàng xuất khẩu hoặc có hàng xuất khẩu ít nhưng lại xác nhận nhiều hơn Hành vi nhận hối lộ của cán bộ Thuế xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan Thuế, vi phạm chính sách và pháp luật thuế, ở chỗ: hướng dẫn những người phạm tội mua bán hoá đơn, lập bảng kê khống , cố ý kiểm tra hồ sơ một cách chiếu lệ nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội được hoàn thuế nhanh chóng nhất
Thời điểm hoàn thành tội nhận hối lộ là thời điểm người có chức vụ, quyền hạn nhận của hối lộ cho dù người này chưa thực hiện theo yêu cầu của người đưa hối lộ hoặc người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện xong yêu cầu của người đưa hối lộ cho dù người này chưa nhận của hối lộ
Đưa hối lộ: là hành vi đưa tiền hoặc lợi ích vật chất khác cho người có chức vụ, quyền hạn do người này đã làm hoặc để người này sẽ làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ Nếu cán bộ Hải quan, cán bộ Thuế thực hiện đúng chức trách của mình thì người đưa hối lộ sẽ không thực hiện được mục đích của mình, vi phạm pháp luật sẽ không xảy ra Việc đưa hối
lộ có thể trực tiếp hoặc qua trung gian Việc đề nghị của người đưa hối lộ đối với người có chức vụ, quyền hạn rất đa dạng Đa số các trường hợp, giữa người đưa
và người nhận hối lộ có sự trao đổi, thoả thuận nhưng có nhiều trường hợp những người này chỉ ngầm hiểu với nhau Thời điểm hoàn thành tội đưa hối lộ là thời điểm người đưa hối lộ đưa của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn cho
dù người này không nhận hoặc người có chức vụ quyền hạn đã thực hiện xong yêu cầu của người đưa hối lộ cho dù người đưa hối lộ chưa đưa của hối lộ
Môi giới hối lộ: trong các vụ án về chiếm đoạt tiền hoàn thuế mà Toà án
đã xét xử, chúng ta chưa gặp người môi giới hối lộ Thực tế vẫn có thể xảy ra do người đưa hối lộ và người nhận hối lộ không trực tiếp gặp nhau để trao đổi, thoả
Trang 19thuận Hành vi môi giới hối lộ có thể là chuyển tiền, trao đổi thông tin, tổ chức thương lượng hoặc tạo ra các điều kiện khác để người đưa và người nhận hối lộ gặp nhau Đặc điểm của người môi giới hối lộ là luôn thực hiện theo yêu cầu của người đưa và nhận hối lộ Trường hợp một người chủ động tổ chức việc đưa – nhận hối lộ thì người đó là đồng phạm với người đưa hoặc người nhận hối lộ chứ không phải là hành vi làm môi giới hối lộ Trường hợp một người nào đó giới thiệu một người cho người có chức vụ, quyền hạn thì hành vi của họ chỉ trở thành tội phạm khi chủ quan người đó biết được việc giới thiệu nhằm thực hiện hành vi đưa hối lộ Thời điểm hoàn thành tội làm môi giới hối lộ phụ thuộc vào thời điểm hoàn thành tội đưa hối lộ hoặc tội nhận hối lộ
Thời điểm hoàn thành một trong hai tội: tội đưa hối lộ hoặc tội nhận hối
lộ, thì tại thời điểm đó tội làm môi giới hối lộ mới hoàn thành
c- Chủ thể của các tội phạm về hối lộ
Đối với hành vi nhận hối lộ: phải là người có chức vụ, quyền hạn tức là những người được bầu cử, bổ nhiệm hoặc được tuyển dụng, có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ Những quyền hạn đã tạo cho những người này
có điều kiện thực hiện hành vi nhận hối lộ
Đối với hành vi đưa hối lộ: là bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự Chủ thể thường là chủ hàng xuất khẩu (hoặc xuất khẩu khống) hoặc là giám đốc các doanh nghiệp và những người khác được chủ hàng yêu cầu thực hiện hành vi đưa hối lộ
Đối với hành vi làm môi giới hối lộ là bất kỳ ai có quan hệ quen biết và có khả năng gây ra việc móc nối giữa người đưa hối lộ và người nhận hối lộ, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
d- Mặt chủ quan: đều là lỗi cố ý Mục đích tư lợi (đối với tội nhận hối lộ)
Của hối lộ được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau nhưng chủ yếu dưới dạng tiền: tiền Việt Nam, ngoại tệ; vàng, đá quí
Trang 20Một số ngành đặc thù như ngành Thuế, ngành Hải quan, trách nhiệm cá nhân rất cao Cấp trên không phải lúc nào cũng kiểm tra, giám sát được mọi hoạt động của cấp dưới Đây cũng là một kẽ hở để cấp dưới cố tình làm trái
Trách nhiệm hình sự của các tội phạm về hối lộ:
Tội nhận hối lộ:
Hình phạt chính: người nhận hối lộ bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Nếu người nhận hối lộ có các tình tiết tăng nặng theo qui định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 279 Bộ Luật hình sự thì bị phạt tù từ bảy năm đến tù chung thân hoặc tử hình
Hình phạt bổ sung: Khoản 5 qui định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tội đưa hối lộ:
Hình phạt chính: người đưa hối lộ bị phạt tù từ một năm đến sáu năm Nếu người đưa hối lộ có các tình tiết tăng nặng được qui định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 289 Bộ Luật hình sự thì bị phạt tù từ sáu năm đến tù chung thân hoặc tử hình
Hình phạt bổ sung: Khoản 5 qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.”
Trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự, Khoản 6 qui định: “Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”
Tội làm môi giới hối lộ:
Hình phạt chính: người làm môi giới hối lộ bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Người làm môi giới hối lộ nếu có các tình tiết tăng nặng được qui định
Trang 21tại Khoản 2, 3, 4 Điều 290 Bộ Luật hình sự thì bị phạt tù từ ba năm đến hai mươi năm
Hình phạt bổ sung: Khoản 5 qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.”
Trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, Khoản 6 qui định: “Người làm môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.”
1.2.2.3 Tội tham ô tài sản
Trong các Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần mà Nhà nước có nắm giữ cổ phần, nếu người phạm tội dùng tiền, tài sản của Nhà nước để đưa hối
lộ hoặc tiền hoàn thuế sau khi vào tài khoản của doanh nghiệp nhưng những người phạm tội lại chia nhau, thì họ không những phạm tội đưa hối lộ mà còn phạm tội tham ô tài sản Những người này thường mua hoá đơn để hợp pháp hoá các khoản chi tiêu, che dấu lượng tiền, tài sản đã lấy ra để đưa hối lộ hoặc đưa các khoản chi tiêu vào giá thành sản phẩm, chi phí sản xuất
Điều 278 Bộ Luật hình sự năm 1999 qui định: “Người nào lợi dụng chức
vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý ”
Tài sản được lấy ra để hối lộ hoặc tiền hoàn thuế bị chiếm đoạt chủ yếu dưới dạng tiền mặt
a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm quyền sở hữu nhà nước đối với tài sản b- Mặt khách quan của tội phạm: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao như một phương tiện để biến tài sản của Nhà nước thành tài sản của mình Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn rất đa dạng như sử dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện không đúng chức trách của mình, làm trái các qui định về quản lý tài sản thuộc lĩnh vực công tác mà mình phụ trách, sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép để chiếm đoạt tài sản
Thủ đoạn phạm tội như: sửa chữa sổ sách, chứng từ, lập chứng từ giả, tiêu huỷ hoá đơn, sổ sách Tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội
có trách nhiệm quản lý, có giá trị từ 500.000 đồng trở lên
Trang 22Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm người phạm tội chiếm đoạt được tài sản: tài sản được đưa ra khỏi nơi cất giữ hoặc người phạm tội sửa chữa xong chứng từ, sổ sách, lập xong chứng từ giả, tiêu huỷ xong hoá đơn, sổ sách cho dù tài sản chưa được đưa ra khỏi nơi cất giữ
c- Chủ thể của tội phạm: Người phạm tội chủ yếu là lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, kế toán trưởng, nhân viên kế toán, trưởng các phòng nghiệp vụ, thủ quĩ d- Mặt chủ quan của tội phạm: lỗi cố ý và tin rằng có thể chiếm đoạt được tài sản chung mà không bị phát hiện hoặc sẽ trốn tránh được trách nhiệm pháp lý; mục đích phạm tội là tư lợi
Nếu người phạm tội lập hồ sơ khống xin hoàn thuế mà tiền vào tài khoản của doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp mà nhà nước nắm giữ cổ phần, những người này chia nhau tiền hoàn thuế thì họ không những phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà còn phạm tội tham ô
Hành vi tham ô tài sản trước hết gây thiệt hại cho bản thân doanh nghiệp
đó, gây ra những hậu quả hết sức nặng nề đối với đời sống kinh tế–xã hội, góp phần quan trọng làm cho tệ tham những trở thành quốc nạn Sự mất mát, lãng phí về tài sản do hành vi tham ô gây nên là một trong những nguyên nhân làm mất thu chi ngân sách nhà nước, cản trở việc thực hiện các chính sách kinh tế của Nhà nước, không những thế nó còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào hiệu lực quản lý của các cơ quan nhà nước Công tác giáo dục quần chúng về thái độ bảo vệ tài sản nhà nước, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực cũng bị những tác động xấu
Trách nhiệm hình sự:
Hình phạt chính: người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm Nếu người phạm tội có các tình tiết tăng nặng được qui định tại Khoản 2, 3, 4 Điều
278 Bộ Luật hình sự thì bị phạt tù từ bảy năm đến tù chung thân hoặc tử hình
Hình phạt bổ sung: Khoản 5 qui định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Trang 23Cho dù người phạm tội chưa hoàn thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, song họ vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một hoặc những tội nếu có một hoặc những hành vi sau:
- Tội đưa hối lộ nếu có hành vi đưa hối lộ;
- Tội tham ô tài sản nếu người phạm tội dùng tiền của Nhà nước để hối lộ Nếu người phạm tội hoàn thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có một trong các hành vi trên thì họ phải chịu hình phạt theo nguyên tắc phạm nhiều tội
1.2.2.4 Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng
Thực tế đã chứng minh, có trường hợp, người xuất khẩu hàng hoá lợi dụng sự thiếu trách nhiệm của cán bộ Hải quan để xuất khống Ví dụ: đối với loại hàng hoá phải kiểm tra toàn bộ nhưng do cán bộ Hải quan muốn nhanh chóng kết thúc nên chỉ kiểm tra một phần, do đó không phát hiện được những lô hàng xuất khống Cán bộ Thuế vì bận nhiều việc nên kiểm tra hồ sơ hoàn thuế một cách sơ sài Hồ sơ có nhiều điểm không chính xác, thậm chí mâu thuẫn nhau nhưng vẫn cho hoàn thuế mà không yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình hoặc không đề xuất kiểm tra tại doanh nghiệp Sự thiếu trách nhiệm đó đã tạo điều kiện cho người phạm tội chiếm đoạt hàng trăm tỉ đồng tiền hoàn thuế Điều 285
Bộ Luật hình sự năm 1999 qui định về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, bao gồm hai quá trình:
- Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao;
- Hành vi đó trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng
Tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng giống với tội Nhận hối
lộ ở chỗ:
a- Khách thể của tội phạm: xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức b- Mặt khách quan của tội phạm: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm này Hậu quả nghiêm trọng ở đây là thiệt hại về vật chất và tinh thần Ở các vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế, số tiền bị chiếm đoạt bất hợp pháp ít thì vài chục triệu đồng, nhiều thì hàng trăm tỉ đồng Thiệt hại về tinh thần như gây mất
Trang 24uy tín, giảm lòng tin của nhân dân đối với cơ quan Nhà nước, hiệu quả quản lý kém Nếu không có hậu quả nghiêm trọng xảy ra thì người thực hiện hành vi thiếu trách nhiệm chỉ bị khiển trách, xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính c- Chủ thể: là những người có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ cụ thể do lãnh đạo phân công Những người này được đào tạo qua trường, lớp, có kinh nghiệm công tác Chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế thường là cán bộ Thuế
Người thực hiện hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng còn
có thể là giám đốc các doanh nghiệp, kế toán trưởng hoặc trưởng các phòng nghiệp vụ của doanh nghiệp Họ là những người được quyền ký vào các hoá đơn, chứng từ, giấy tờ có giá trị thanh toán Do quá tin tưởng cấp dưới mà khi ký những giấy tờ này, họ không kiểm tra đầy đủ, cụ thể Trường hợp này xảy ra khi người phạm tội dùng tiền, tài sản của Nhà nước để hối lộ, song cấp trên lại không biết được cấp dưới của mình hối lộ cán bộ Thuế, Hải quan để chiếm đoạt tiền hoàn thuế Đến khi vụ việc bị các cơ quan chức năng phát hiện thì họ mới vỡ
lẽ Nhiều người thừa nhận hành vi thiếu trách nhiệm của mình, song không ít người đổ lỗi cho khách quan như do thiếu cơ sở vật chất, do chuyên môn, năng lực yếu kém, do bận quá nhiều việc
Điểm khác nhau cơ bản nhất ở mặt chủ quan: tội Nhận hối lộ là lỗi cố ý có mục đích tư lợi Tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là lỗi vô ý (do quá tự tin hoặc cẩu thả) Người phạm tội hoàn toàn không nhằm mục đích tư lợi Khi xét xử, Toà án phải tìm được những chứng cứ để chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý hay cố ý Nếu là lỗi vô ý thì bắt buộc phải có hậu quả nghiêm trọng xảy ra, người thực hiện hành vi đó chịu trách nhiệm hình
sự về tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng Nếu là lỗi cố ý người thực hiện hành vi đó chịu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ cho dù ngươì đó chưa nhận của hối lộ Nhiều trường hợp, đối tượng nhận hối lộ rất ngoan cố, không chịu thừa nhận hành vi nhận hối lộ của mình, gây khó khăn cho công tác điều tra, xét xử
Trang 25Trách nhiệm hình sự:
Hình phạt chính: người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Nếu người phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiệm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm (Khoản 1, 2 Điều 285 Bộ Luật hình sự)
Hình phạt bổ sung: Khoản 3 qui định: “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”
Một đặc điểm nữa của vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế là bao giờ cũng có
đồng phạm Một người không thể thực hiện được mà phải có nhiều người cùng tham gia
Đồng phạm là hình thức phạm tội do cố ý được thực hiện với sự cố ý cùng tham gia của từ hai người trở lên Các dấu hiệu đặc trưng chung và bắt buộc của đồng phạm:
a- Mặt khách quan: có sự cùng tham gia của từ hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm; những người đồng phạm phải cùng chung hành động Hành vi của mỗi người trong số họ đều nhằm thực hiện tội phạm hoặc góp phần thực hiện tội phạm; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của mỗi người đồng phạm và hậu quả phạm tội chung do hành vi đó gây nên
b- Mặt chủ quan: phải có sự cùng cố ý của tất cả những người đồng phạm để tham gia vào việc thực hiện tội phạm do cố ý Những người đồng phạm trong việc thực hiện tội phạm đều biết được hoạt động phạm tội của nhau (của một người, một số người hoặc tất cả những người đồng phạm); mỗi người đồng phạm đều ý thức được rằng, bằng hành vi của mình cùng với những hành vi của người khác, họ đã phạm tội hoặc góp phần thực hiện tội phạm; những người đồng phạm đều cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phạm tội chung xảy ra Đa số các trường hợp, những người đồng phạm đều mong muốn hậu quả xảy ra nên rất tích cực thực hiện hành vi phạm tội của mình Rất hãn
Trang 26hữu có trường hợp những người đồng phạm có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy
ra
Cùng một tội phạm, nếu được thực hiện bởi nhiều người thì thông thường
sẽ nguy hiểm hơn so với một người thực hiện Tính nguy hiểm hơn ở chỗ:
Thứ nhất, những người cùng thực hiện một tội phạm có thể hỗ trợ cho nhau về vật chất, tinh thần ngay từ trước khi, trong khi và sau khi thực hiện tội phạm, gây nhiều khó khăn cho công tác điều tra, xét xử
Thứ hai, tội phạm được thực hiện bởi nhiều người có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn cho xã hội, thiệt hại cả về vật chất và tinh thần
Thứ ba, do nhiều người cùng thực hiện một tội phạm, cho nên những người đồng phạm có nhiều phương pháp và thủ đoạn phạm tội tinh vi hơn so với trường hợp phạm tội đơn lẻ ở tất cả các giai đoạn thực hiện tội phạm
Khoa học luật hình sự phân chia đồng phạm thành ba hình thức chính: đồng phạm đơn giản, đồng phạm phức tạp và đồng phạm đặc biệt (phạm tội có tổ chức) Đồng phạm trong vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế là đồng phạm phức tạp
Ở đây có sự thông mưu trước của những người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm, thể hiện ở các đặc trưng sau:
a- Mặt khách quan:
Có sự thoả thuận, bàn bạc trước về kế hoạch phạm tội
Giữa những người đồng phạm có sự phân công vai trò nhất định Ví dụ:
A, B, C đồng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoàn thuế giá trị gia tăng A móc nối với cán bộ Hải quan để xin xác nhận khống hàng xuất khẩu B tìm cách mua hoá đơn giá trị gia tăng đầu vào và ký vào các hoá đơn, chứng từ
C móc nối với cán bộ Thuế kiểm tra hồ sơ xin hoàn thuế Sự phân công này chỉ
là tương đối Những người đồng phạm có thể chuyển hoá vai trò cho nhau Những người này tham gia thực hiện tội phạm với tính chất là người cùng thực hành Người tổ chức cũng đồng thời là người tích cực, trực tiếp thực hiện tội phạm Hành vi của mỗi người trong đồng phạm có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với hậu quả của tội phạm
Trang 27b- Mặt chủ quan: Sự cố ý cùng liên kết về mặt ý thức của những người đồng phạm khi thoả thuận, bàn bạc kế hoạch phạm tội và phân công vai trò đã tạo nên mối quan hệ tương đối chặt chẽ và bền vững
Những người đồng phạm tội lừa đảo còn có thể đồng phạm tội khác như: tội đưa hối lộ, tội tham ô Những người này phải bàn bạc, thống nhất với nhau về cách rút tiền của Nhà nước, cách hợp pháp hoá khoản tiền bị lấy ra (đối với doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần), cách thức đưa hối lộ, đưa cho ai, ai là người đưa hối lộ, mức tiền đưa là bao nhiêu
Như vậy, trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng, những người phạm tội là cán bộ, nhân viên công tác tại các doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần mà Nhà nước nắm giữ cổ phần thường phạm nhiều tội hơn so với những người làm việc tại các doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân, bởi
họ có nhiều điều kiện hơn trong việc chiếm đoạt tiền, tài sản Nhà nước
* *
* Trong Chương này, chúng tôi đã cố gắng làm rõ cơ sở lý luận của thuế giá trị gia tăng, các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng và đặc điểm hình sự của các tội phạm này Thuế giá trị gia tăng được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế nước ta được phát triển theo nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Nó hoàn toàn phù hợp với các qui luật vận động của cơ chế thị trường, được các doanh nghiệp, cá nhân hưởng ứng mạnh mẽ Tuy nhiên, sơ hở của Luật Thuế giá trị gia tăng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm Người phạm tội trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng thường phạm nhiều tội khác nhau và bao giờ cũng có đồng phạm Tính đồng phạm đã làm cho tội phạm trở nên nguy hiểm hơn và cũng gây hậu quả nghiêm trọng hơn Sự phức tạp của tình hình tội phạm và sự khó khăn trong cuộc đấu tranh của các cơ quan chức năng sẽ được chúng tôi làm rõ hơn trong Chương 2 của Luận văn
Trang 28CHƯƠNG 2 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
2.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THỰC HIỆN LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
2.1.1 Thực trạng công tác thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng
Sau hơn bốn năm thực hiện Luật Thuế giá trị gia tăng, ngành Thuế đã đạt được những thành tích nổi bật Theo báo cáo của ngành Thuế, số thu ngân sách của thuế giá trị gia tăng sau khi trừ số thuế hoàn, chiếm khoảng 20% tổng thu Ngân sách Nhà nước Đại bộ phận các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh có ý thức cao trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Hiện nay, ngành Thuế đang quản lý thu những đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng khoảng:
- 60.000 doanh nghiệp nhà nước
- 1.800 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- 30.000 công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã có hoạt động sản xuất kinh doanh
- 1.400.000 hộ kinh doanh cá thể
Số thu thuế giá trị gia tăng cao hơn nhiều so với thuế doanh thu trước đây
Số thu thuế doanh thu năm 1998 là 13.000 tỉ đồng thì số thu thuế giá trị gia tăng năm 1999 là hơn 16.700 tỉ đồng, năm 2000 là 22.000 tỉ đồng Mặc dù năm 2001, Nhà nước điều chỉnh giảm thuế suất từ 10% xuống 5% đối với một số nhóm mặt hàng như: đường, phần mềm máy tính đồng thời mở rộng diện khấu trừ cho những trường hợp mua hàng không có hoá đơn giá trị gia tăng nhưng số thu vẫn đạt gần 19.000 tỉ đồng Năm 1999 số thu từ thuế giá trị gia tăng đạt 112,9%, năm
2000 đạt 117%, năm 2001 đạt 120% và năm 2002 đạt 125% so với dự toán năm Thuế giá trị gia tăng đã khuyến khích xuất khẩu tăng mạnh Kim ngạch xuất khẩu nước ta năm 1998 là 9,3 tỉ đôla thì năm 1999 là 11,5 tỉ đô la, năm 2000 là 14,2 tỉ đô la, năm 2001 là 14,3 tỉ đô la, năm 2002 là 16 tỉ đô la [2,3-4] Đồng thời, việc áp dụng thuế giá trị gia tăng đã làm cho các doanh nghiệp quan tâm
Trang 29nhiều hơn tới việc sử dụng hoá đơn Do thu thuế ở khâu sau còn kiểm tra được việc nộp thuế ở khâu trước nên chống thất thu thuế tốt hơn so với thuế doanh thu Bên cạnh những ưu điểm trên, việc thực hiện thuế giá trị gia tăng còn bộc lộ một số nhược điểm sau:
Thứ nhất, diện thu còn khá rộng, việc kế thừa tư tưởng của thuế doanh thu qui định tới 26 nhóm mặt hàng, dịch vụ không chịu thuế là quá rộng, gây trở ngại cho sự vận hành của loại thuế này;
Thứ hai, do thuế giá trị gia tăng thu ở các khâu đều có liên quan tới nhau,
ở khâu trước thu cao, khâu sau thu thấp thì phải hoàn thuế; ở khâu trước thu thấp, khâu sau thu cao thì người mua hàng vẫn phải trả tiền thuế cao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa về mặt ưu đãi thuế Mặt khác, điều quan trọng là khó có tiêu thức để phân biệt rạch ròi từng mặt hàng vào từng mức thuế suất khác nhau trong thực tế, do đó làm mất tính trung lập của sắc thuế này, tạo nên nhiều vướng mắc không đáng có trong quản lý thu thuế;
Thứ ba, việc mở rộng diện cho khấu trừ thuế đầu vào đối với hàng nông, lâm, thuỷ sản theo bảng kê cùng với việc buông lỏng qui chế quản lý hoá đơn bán hàng là nguyên nhân trực tiếp cho bọn người xấu lợi dụng chiếm đoạt tiền từ ngân sách Nhà nước;
Thứ tư, việc qui định hàng hoá, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt ở khâu sản xuất khi bán ra không phải nộp thuế giá trị gia tăng đã làm gián đoạn việc thu thuế giá trị gia tăng, dẫn đến có khâu bị tăng thuế đột biến, không đúng với tính chất của loại thuế này
2.1.2 Thực trạng công tác hoàn thuế giá trị gia tăng
Từ năm 1999 đến hết năm 2002, cả nước có 30.340 hồ sơ xin hoàn thuế giá trị gia tăng với số tiền đề nghị hoàn là 18.054 tỉ đồng Cơ quan thuế các cấp
đã kiểm tra hồ sơ tại nhiệm sở và đã loại trừ 4.272 hồ sơ không đủ căn cứ hoàn thuế do mắc các sai phạm về hành chính thuế, phát hiện có mẫu thuẫn về số liệu
kê khai hoặc số liệu không đủ độ tin cậy tương ứng với số tiền 3.138 tỉ đồng, bằng 17,4% số tiền đề nghị hoàn thuế
Trang 30Đối với các hồ sơ hợp lệ theo qui định, cơ quan thuế đã xử lý hoàn thuế cho 16.341 đơn vị với số tiền hoàn thuế là 14.916 tỉ đồng, trong đó hoàn thuế cho hàng hoá xuất khẩu là 80% Năm 1999 có khoảng 3.300 hồ sơ được hoàn thuế với số tiền 1.700 tỉ đồng Năm 2000 có khoảng 7.500 hồ sơ được hoàn thuế với số tiền 4.300 tỉ đồng Năm 2001 có khoảng 8.100 hồ sơ được hoàn thuế với
số tiền 5.000 tỉ đồng Năm 2002 có khoảng trên 7.000 hồ sơ được hoàn thuế với
số tiền gần 4.000 tỉ đồng
Số tiền hoàn thuế cho hàng nông, lâm, thuỷ sản xuất khẩu chiếm 25%, trong đó hoàn thuế cho những mặt hàng này xuất khẩu qua đường biên giới đất liền chiềm 7% tổng số tiền hoàn thuế Số tiền hoàn cho hàng gia công xuất khẩu, hàng xuất khẩu được sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu chiếm 55%, còn lại là hoàn thuế cho các trường hợp khác [2,4-5]
2.2 TÌNH HÌNH TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
2.2.1 Tội phạm đã bị phát hiện (Tội phạm rõ)
Số liệu tội phạm đã bị phát hiện là số lượng tội phạm đã xảy ra trong một phạm vi nhất định và trong một khoản thời gian nhất định mà các cơ quan chức năng đã biết, đã thụ lý và tiến hành giải quyết theo pháp luật tố tụng Sự biết của các cơ quan chức năng thể hiện ở chỗ, những thông tin về tội phạm đã được các
cơ quan này tiếp nhận và tiến hành giải quyết, xử lý theo pháp luật Tuy nhiên, việc xử lý theo pháp luật hiện hành còn phụ thuộc vào những tình tiết xảy ra tội phạm và những tình huống liên quan đến chủ thể của tội phạm Nói cách khác, việc xử lý tội phạm tuỳ thuộc vào sự bắt đầu hay kết thúc của tội phạm đã xảy ra như thế nào Tội phạm đã bị phát hiện là một bộ phận quan trọng khi xem xét tội phạm nói chung và tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng nói riêng Sau đây là một số số liệu về các vụ án hình sự và vụ án về chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng từ năm 2000 đến hết năm 2002
Trang 31Bảng 2.1: So sánh số vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng đã đƣợc
xét xử sơ thẩm với tổng số vụ án hình sự đƣợc xét xử sơ thẩm
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Bảng 2.2: So sánh số vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng
đã đƣợc xét xử sơ thẩm với số vụ án hình sự trong lĩnh vực kinh tế đƣợc xét xử sơ thẩm từ năm 2000 đến hết năm 2002 [33,3-4]
Năm Vụ án hình sự trong lĩnh vực kinh tế Vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Qua hai bảng so sánh trên, chúng ta thấy số vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế được đưa ra xét xử chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng số các vụ án hình sự Nguyên nhân khách quan: do tình hình chung việc xét xử các vụ án hình sự của Toà án các cấp là chậm; Luật Thuế giá trị gia tăng mới ra đời nên nhận thức của cán bộ công tác tại các cơ quan tiến hành tố tụng chưa đầy đủ dẫn đến việc giải quyết vụ án còn kéo dài; phạm vi điều tra rộng, trải dài từ Bắc tới Nam, từ các tỉnh đồng bằng đến các tỉnh miền núi, vụ việc liên quan tới nhiều cơ quan khác nhau, thậm chí liên quan tới các đối tác nước ngoài; do việc điều tra còn phụ thuộc vào việc xác minh, đối chiếu hoá đơn của ngành Thuế mà công tác này còn
Trang 32chưa kịp thời, chưa chính xác nên thời gian điều tra bị kéo dài; vụ án về chiếm đoạt tiền hoàn thuế mới xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Luật Thuế giá trị gia tăng, kinh nghiệm phòng, chống với loại tội phạm này của các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa có nhiều Nguyên nhân chủ quan: do sự can thiệp của một số cơ quan (cơ quan Thuế, Hải quan) có cán bộ thuộc diện cần được điều tra, làm rõ (bảng phân tích thành phần bị cáo trong vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng sẽ cho thấy rõ hơn)
Bảng 2.3 : So sánh thành phần bị cáo đƣợc đƣa ra xét xử sơ thẩm
trong vụ án chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng
DNNN
Lãnh đạo DNTN
Cán bộ Hải quan Cán bộ Thuế Thành phần khác
Số bị cáo
So sánh
%
Số bị cáo
So sánh
%
Số
bị cáo
So sánh
%
Số
bị cáo
So sánh
%
Số
bị cáo
So sánh
%
2000 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2001 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2002 104 10 9,62 28 26,92 0 0 0 0 62 63,46 T.số 104 10 9,62 28 26,92 0 0 0 0 62 63,46
(Nguồn: Toà án nhân dân tối cao)
Số bị cáo là lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước chiếm 35% so với số bị cáo
là lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân Nhà nước thường ưu tiên cho các doanh nghiệp của mình chức năng xuất, nhập khẩu, do vậy doanh nghiệp nhà nước có nhiều điều kiện hơn để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng Những người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước lại rất biết “hợp tác” với các doanh nghiệp tư nhân trong việc mua, bán hoá đơn giá trị gia tăng, do việc quản lý lỏng lẻo những doanh nghiệp này của các cơ quan quản lý nhà nước Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước còn lợi dụng việc mua hoá đơn để rút tiền của Nhà nước, tham ô tài sản, tăng chi phí đầu vào để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi dụng sự thiếu kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng
Trang 33mà các doanh nghiệp tư nhân đã biến hoá đơn tài chính như các loại hàng hoá thông thường khác, tự do mua, bán, tuỳ tiện lập hoá đơn
Rất nhiều vụ án cho thấy có dấu hiệu tiếp tay của cán bộ Hải quan, cán bộ Thuế nhưng chưa có cán bộ nào của hai cơ quan này bị đưa ra xét xử, hiện tại, mới chỉ có cán bộ Hải quan bị khởi tố đang nằm trong diện điều tra Cán bộ Thuế mới chỉ dừng lại ở mức độ được xử lý nội bộ Trách nhiệm này thuộc về cơ quan chủ quản và cả cơ quan tiến hành tố tụng
2.2.2 Tội phạm chƣa bị phát hiện (Tội phạm ẩn)
Tội phạm chưa bị phát hiện (tội phạm ẩn) là số lượng tội phạm đã được thực hiện, nhưng chưa bị phát hiện vì lý do nào đó tức không có dấu vết, tin tức nào về tội phạm đang được nghiên cứu
Tội phạm đã được thực hiện nhưng chưa bị phát hiện có thể: do trình độ điều tra, khám phá của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn non kém; do các cơ quan bảo vệ pháp luật không nắm được thông báo về tội phạm; do trình độ che giấu tội phạm của người phạm tội và những người khác mà các cơ quan bảo vệ pháp luật không thể phát hiện được Tình hình tội phạm ẩn chiếm một số lượng không nhỏ trong tình trạng phạm tội nói chung
Tội phạm ẩn trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng đều thuộc ba loại: tội phạm ẩn tự nhiên, tội phạm ẩn nhân tạo và tội phạm ẩn thống kê
a- Tội phạm ẩn tự nhiên là những tội phạm thực tế đã xảy ra nhưng các cơ quan
chức năng không nắm được, không có thông tin về chúng Tội phạm ẩn tự nhiên không phải chịu bất kỳ một sự tác động nào từ phía Nhà nước và xã hội, không phải chịu hình thức xử lý nào và tất nhiên không có trong thống kê hình sự Nguyên nhân người phạm tội hoặc những người khác không thông báo cho các
cơ quan bảo vệ pháp luật Ví dụ: doanh nghiệp A có giám đốc lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng Nhân viên kế toán thấy có rất nhiều hoá đơn mua hàng của nhiều doanh nghiệp khác nhau được chuyển về mà không có hàng thực nhập vào kho Người này biết rõ ràng giám đốc doanh nghiệp mua hoá đơn
Trang 34để lập hồ sơ xin hoàn thuế, song vì sợ mất việc làm mà nhân viên kế toán không dám thông báo với cơ quan cấp trên hoặc với các cơ quan bảo vệ pháp luật
b- Tội phạm ẩn nhân tạo là những tội phạm thực tế đã xảy ra, các cơ quan chức
năng đã nắm được nhưng vì các nguyên nhân khác nhau mà hành vi phạm tội đó không bị xử lý theo pháp luật Việc hành vi phạm tội đã bị phát hiện nhưng không bị xử lý theo pháp luật là do một hành vi phạm tội khác che đậy, trong khoa học nghiên cứu tội phạm gọi là: “bội ẩn” Hành vi tiếp tay của cán bộ Thuế, Hải quan không bị xử lý về hình sự, cũng có thể một phần do có sự vi phạm pháp luật tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hoặc người tiến hành tố tụng cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án để những cán bộ này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
c- Tội phạm ẩn thống kê bao gồm những hành vi phạm tội đã bị xử lý bằng chế
tài hình sự, nhưng vì các lý do khác nhau mà số này bị lọt ra ngoài thống kê hình
sự, làm cho việc đánh giá tình hình tội phạm trong thực tế không chính xác Tác hại của tội phạm ẩn thống kê gây nên chủ yếu đưa ra các thông tin sai lệch về số liệu tình hình tội phạm đã bị phát hiện Nguyên nhân là những qui định về thống
kê, báo cáo cũng như việc thực hiện các qui định đặt ra không đồng nhất, nhất là những trường hợp thống kê một người phạm nhiều tội hoặc một người phạm tội nhiều lần Ví dụ: trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tiền hoàn thuế, bị cáo A vừa phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vừa phạm tội tham ô, vừa phạm tội đưa hối
lộ Có toà án thống kê bị cáo A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có toà án thống kê vào tội tham ô, có toà án thống kê vào tội đưa hối lộ Không thống nhất được phương pháp thống kê thì sai số trong tội phạm ẩn thống kê còn nhiều
Do đây là những tội phạm mới xuất hiện, đồng thời trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, chúng tôi không có điều kiện để thực hiện phương pháp điều tra xã hội học nên chưa thể có những kết luận chính xác mức độ tội phạm ẩn Tuy nhiên, qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy tội phạm ẩn trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng chiếm một tỉ lệ khá cao trong toàn bộ số lượng tội phạm ở lĩnh vực này
Trang 352.2.3 Hậu quả của các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
Dưới góc độ tội phạm học, hậu quả của tội phạm gây nên là hậu quả chung ảnh hưởng đến xã hội trong cả khoảng thời gian dài mà cả xã hội phải gánh chịu và giải quyết Hậu quả của các tội phạm trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau: hậu quả trực tiếp, hậu quả gián tiếp, hậu quả trước mắt, hậu quả lâu dài
Bảng 2.4: Số liệu về số tiền chƣa thu hồi đƣợc do việc chiếm đoạt tiền hoàn thuế giá trị gia tăng gây ra trong các vụ án đã có quyết định khởi tố của cơ
quan điều tra từ năm 1999 đến hết năm 2002 [14,2-3]
(Đơn vị tính: tỉ đồng) Năm Số tiền đã rõ
là vi phạm Số tiền đã thu hồi được phải thu hồi Số tiền còn Tỉ lệ %
Số tiền bị thất thoát còn phải thu hồi chiếm tỉ lệ rất cao trong tổng số tiền
đã rõ là vi phạm, và còn chưa kể đến số tiền có dấu hiệu vi phạm tiếp tục được làm rõ Điều này cho thấy công tác đấu tranh với những tội phạm này đã khó nhưng việc khắc phục hậu quả thì còn khó khăn gấp nhiều lần Tiền hoàn thuế dù dưới dạng tiền mặt hay dưới dạng chuyển khoản qua ngân hàng đều dễ dàng lấy được Khi đã chia nhau, người phạm tội nhanh chóng tẩu tán, tiêu xài, do đó ít có khả năng lấy lại được Một số doanh nghiệp làm ăn thua lỗ nên không còn khả năng tài chính để hoàn trả Mặc dù, Bộ Tài chính đã ban hành qui trình về hoàn thuế giá trị gia tăng nhưng do tình hình tội phạm trong lĩnh vực này trở nên phức tạp đã gây nên áp lực lớn đối với cán bộ trực tiếp kiểm tra hồ sơ hoàn thuế Hồ
sơ hoàn thuế liên quan đến Hải quan, Ngân hàng, các doanh nghiệp ở nhiều địa
Trang 36phương khác nhau, trong thời hạn như qui định cán bộ Thuế không thể hoàn thành được, sai sót là không tránh khỏi Chính vì vậy, cán bộ Thuế luôn bị căng thẳng, phải chịu sức ép công việc Một số cán bộ biến chất, tiếp tay cho tội phạm
bị xã hội lên án Lòng tin của nhân dân cũng như của cơ quan cấp trên đối với ngành Thuế và Hải quan bị giảm sút Những hành vi phạm tội này còn tạo điều kiện cho các hành vi phạm tội khác như buôn lậu, làm giả các giấy tờ, tài liệu
và hậu quả của nó thì không thể tính được
Bảng 2.5: Tổng hợp tình hình các cơ sở bỏ kinh doanh và không thanh, quyết
toán hoá đơn ở các địa phương trong cả nước năm 2002 [14,6-7]
TT Địa phương
Cơ sở bỏ kinh doanh Số lượng hoá đơn DNTN CTy
CP, HTX
Hộ
KD khác
Loại 01/
GTKT
Loại 02/
Trang 38Số lượng hoá đơn trên hiện trôi nổi trên thị trường, rất khó kiểm soát Từ năm 2002, ngành Thuế tiến hành đóng dấu lên các tờ liên 2 của quyển hoá đơn trước khi được cấp cho đối tượng mua hoá đơn để hạn chế tình trạng doanh nghiệp này bán hàng lại sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp khác nhằm trốn thuế Công tác này đã góp phần tích cực cho cuộc đấu tranh của ngành Thuế đối với các hiện tượng mua, bán hoá đơn bất hợp pháp Tổng cục Thuế đã chỉ đạo, đối với các doanh nghiệp xin hoàn thuế có sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp bỏ kinh doanh không thanh, quyết toán hoá đơn, cục Thuế địa phương phải tiến hành kiểm tra thật kỹ tại doanh nghiệp trước khi ra quyết định hoàn thuế Số lượng hoá đơn nói trên đã và đang góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp cho các hành vi chiếm đoạt tiền hoàn thuế Hậu quả gây ra là vô cùng nặng nề và nghiêm trọng Biện pháp duy nhất của ngành Thuế lúc này là tăng cường thanh, kiểm tra tại doanh nghiệp và hồ sơ xin hoàn thuế, kể cả doanh nghiệp đã và sẽ được hoàn thuế Đối với những bộ hồ sơ có vấn đề nghi vấn, dứt khoát không được ra quyết định hoàn thuế trước khi bộ hồ sơ đó được làm rõ
2.3 PHƯƠNG THỨC, THỦ ĐOẠN PHẠM TỘI, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA CÁC TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC HOÀN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
2.3.1 Phương thức, thủ đoạn phạm tội trong lĩnh vực hoàn thuế giá trị gia tăng
Người phạm tội trong lĩnh vực kinh tế thường tìm ra các khiếm khuyết trong cơ chế quản lý kinh tế, các sơ hở của pháp luật để có phương thức hoạt động phù hợp Như trên đã trình bày, để khuyến khích xuất khẩu, Nhà nước ta đã cho phép các doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu hàng nông, lâm, thuỷ sản, được phép khấu trừ thuế và hoàn thuế đầu vào từ 1% đến 5% trên giá trị hàng hoá mua vào từ người trực tiếp sản xuất không có hoá đơn Chính sơ hở này đã tạo điều kiện trực tiếp cho tội phạm hoạt động
Để nắm bắt được các thông tin, họ đến các cửa khẩu vùng biên giới, nơi
mà hoạt động xuất, nhập khẩu diễn ra thường xuyên, nhộn nhịp, ở đây có những người chuyên mua, bán hợp đồng xuất khẩu khống Thực chất hợp đồng này là
Trang 39một tờ giấy trắng có sẵn chữ ký và con dấu của doanh nghiệp nước ngoài Người mua, bán hợp đồng xuất khẩu thường rất am hiểu chính sách hoàn thuế giá trị gia tăng của Nhà nước, thậm chí chúng còn hướng dẫn người mua hợp đồng cách thức hoàn thiện hồ sơ xin hoàn thuế, truyền đạt lại kinh nghiệm cho những người mua hợp đồng Người mua hợp đồng điền đầy đủ các điều khoản như: khối lượng, giá cả, phương thức thanh toán, điều kiện giao hàng Đối với những hợp đồng xuất khẩu khống hoàn toàn (tức hoàn toàn không có hàng xuất khẩu), người phạm tội tìm cách mua chuộc, hối lộ cán bộ Hải quan để xác nhận khống hàng xuất khẩu Đối với hàng xuất khẩu khống một phần (tức có hàng xuất khẩu
ít nhưng muốn có xác nhận Hải quan về lượng hàng xuất khẩu nhiều hơn), người phạm tội có thể thực hiện theo một trong hai cách sau: thứ nhất, cách thức thực hiện như trường hợp xuất khẩu khống hoàn toàn; thứ hai, nguỵ trang các lô, kiện hàng như có hàng thật Ví dụ: để một ít mực khô vào bao tải chứa cỏ khô để xuất khẩu mực; đổ hai lít tinh dầu lên thùng phi nước lã để xuất khẩu tinh dầu Nếu cán bộ Hải quan không phát hiện ra thì đương nhiên lượng hàng xuất khẩu đó được xác nhận Nếu bị phát hiện, họ hối lộ cán bộ Hải quan để cho qua
Bước tiếp theo là mua hoá đơn giá trị gia tăng và lập bảng kê thu mua hàng hoá để chứng tỏ có hàng đầu vào Người phạm tội tìm rất đúng các địa chỉ bán hoá đơn giá trị gia tăng, đó là các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, hộ kinh doanh Hoá đơn giá trị gia tăng bao gồm cả hoá đơn mua hàng hoá, hoá đơn vận chuyển và các hoá đơn dịch vụ khác (nếu có) Kèm theo đó, người phạm tội còn lập các phiếu xuất, nhập kho, giấy tạm ứng tiền mặt tức là phải hoàn thiện chu trình về chứng từ, hoá đơn từ lúc mua hàng đến lúc xuất khẩu hàng qua biên giới Đối với những người mới lập hồ sơ xin hoàn thuế lần đầu, do chưa có kinh nghiệm và am hiểu pháp luật, họ tìm cách liên hệ với cán bộ Thuế để hướng dẫn cách làm sao cho đúng qui trình, qui định của pháp luật
Trường hợp gia công hàng xuất khẩu, nhập nguyên liệu sản xuất hàng xuất khẩu thì phương thức hoạt động có khác, nguồn hàng đầu vào là hàng nhập
Trang 40khẩu, do đó, để tăng tiền thuế giá trị gia tăng đầu vào phải tăng lượng hàng nhập khẩu Điều này dễ dàng được thực hiện khi có sự tiếp tay của cán bộ Hải quan về xác nhận số lượng, chủng loại, tỉ lệ gia công Có trường hợp, doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm hoàn chỉnh nhưng vẫn có được xác nhận của Hải quan về nhập sản phẩm để gia công xuất khẩu Vi phạm chính trong lĩnh vực Hải quan chủ yếu là nhập khẩu và xuất khẩu thực tế ít hơn so với khai báo Hải quan để tăng tiền thuế đầu vào được hoàn
Trong lĩnh vực ngân hàng: thủ đoạn chủ yếu là tự nộp tiền vào tài khoản của chính doanh nghiệp mình cho hàng xuất khẩu khống
Thông thường, bộ hồ sơ giả xin hoàn thuế giá trị gia tăng bao gồm:
- Hợp đồng xuất khẩu với đối tác nước ngoài, nội dung hợp đồng có thể giả một phần hoặc hoàn toàn Có hợp đồng mang con dấu của doanh nghiệp nước ngoài nhưng doanh nghiệp này chưa bao giờ tồn tại ở quốc gia đó;
- Bảng kê thu mua hàng ở những địa chỉ không có thật;
- Vận tải đơn đường biển giả, các loại giấy tờ có xác nhận khống của cán