Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010… Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ
BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG PHÁP
LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
1.1 1.1 Khái quát chung về quyền con người 7
1.1.2 Khái niệm thi hành án hình sự và pháp luật thi hành án hình sự 9 1.1.3 Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi
1.2.3 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn từ năm 1988 đến 2003 17
1.2.4 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn từ năm 2003 đến nay 19
1.3 Vai trò của pháp luật thi hành án hình sự trong việc bảo vệ
Chương 2: CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT PHÁP
LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Bảo vệ các quyền con người bằng chế định về các chủ thể thi
hành án hình sự
26 2.2 Bảo vệ các quyền con người trong chế định thi hành án tử hình 29 2.3 Bảo vệ các quyền con người trong chế định thi hành hình phạt tù 33
Trang 32.4 Bảo đảm quyền con người trong thi hành các hình phạt chính
khác
41
2.5 Bảo đảm quyền con người trong thi hành các hình phạt bổ sung 43 2.6 Bảo đảm quyền con người trong thi hành các biện pháp tư pháp 46
2.7 Bảo đảm quyền con người trong thi hành án hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
47
2.8 Bảo vệ quyền con người thông qua chế định tha miễn 52
2.9 Bảo vệ các quyền con người thông qua nguyên tắc thi hành
Chương 3: THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI TRONG
PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM
3.1 Thực tiễn thi hành án hình sự ở Việt Nam trong việc bảo vệ
các quyền con người
67
3.2 Nguyên nhân của những bất cập trong việc bảo vệ các quyền
con người trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam
87
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ các quyền con
người trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam
100
3.3.1 Hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự 100 3.3.2 Đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo thi hành án 104 3.3.3 Xây dựng mô hình thi hành án hợp lý 105 3.3.4 Tăng cường, nâng cao đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật 108 3.3.5 Tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật 109 3.3.6 Bổ sung việc thực hiện nghĩa vụ dân sự trong công tác đặc xá 110 3.3.7 Hợp tác quốc tế trong thi hành án hình sự 111
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Số liệu thống kê số trường hợp được giảm, đình chỉ chấp
hành hình phạt tù từ năm 2005 đến 2010
68
Bảng 3.2 Số liệu thống kê về hoạt động thẩm định hồ sơ đặc xá và
kết quả đặc xá trong giai đoạn 2005 đến 2010
68
Trang 7
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
"Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại" [45, tr 124] Vì vậy, sự nghiệp xây
dựng Nhà nước pháp quyền gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ quyền con người bằng pháp luật, đặc biệt là lĩnh vực tư pháp hình sự (trong đó có hoạt động thi hành án hình sự) Bởi lẽ, trong lĩnh vực tư pháp hình sự quyền con người dễ
bị xâm phạm, bị tổn thương và để lại hậu quả nghiêm trọng do liên quan đến quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân
Trong hoạt động thi hành án hình sự, vấn đề quyền con người càng được quan tâm bởi chủ thể quyền con người trong quan hệ đó là những người
đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, là những người phải chấp hành bản án, quyết định của Tòa án Quyền con người của những người trong địa vị pháp lý của một kẻ có tội và đang chịu sự trừng phạt thích đáng từ pháp luật càng dễ bị xâm phạm hơn bao giờ hết
Ở Việt Nam, trước khi có Luật thi hành án hình sự 2010, hoạt động thi hành án hình sự ở nước ta được thực hiện theo hàng loạt các văn bản pháp luật đơn hành Thực tiễn thi hành án hình sự trong những năm qua, đặc biệt là quyền con người trong thực tế thi hành án và pháp luật thực định chưa được đảm bảo đã đặt ra yêu cầu phải có sự ra đời của một văn bản thống nhất điều chỉnh hoạt động này Luật thi hành án hình sự được Quốc hội thông qua ngày
17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2011 Đây là văn bản pháp luật mang tính pháp điển hóa đầu tiên trong lịch sử pháp luật thi hành án hình sự Nó tạo cơ sở pháp lý vững chắc và đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động thi hành án
Trang 8Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Một số vấn
đề chủ yếu về pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người” làm luận văn cao học luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật nói chung và pháp luật
về tư pháp hình sự nói riêng rất được quan tâm nghiên cứu Ví dụ như công trình
nghiên cứu của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009; cuốn Bảo đảm quyền con người trong Tư pháp hình sự Việt Nam, Nxb
Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010…
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Đề tài cấp Nhà nước đang thực hiện: "Luận cứ khoa học của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án ở Việt Nam trong giai đoạn mới" do Bộ
Tư pháp chủ trì; Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng hình sự của trường
Đại học luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật; một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật…
Thi hành án phạt tù là một vấn đề đã được nhiều nhà luật học trên thế giới và trong nước quan tâm nghiên cứu Tác giả Hoàng Ngọc Nhất có công
trình "Một số vấn đề cấp bách về thi hành án hình sự", trong đó có đề cập đến
thi hành án tù (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 1 năm 2001); tác giả
Nguyễn Văn Đông có công trình "Việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt
tù đối với người bị án tù chung thân mà hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ ngày 1 tháng 7 năm 2000" (Tạp chí Kiểm sát, số 11 năm 2001), tác giả Hoàng Mạnh Thường có công trình "Về hoãn thi hành án phạt tù" (Tạp chí Kiểm sát,
số 5 năm 2000)
Trang 9Tuy nhiên, hệ thống pháp luật tư pháp hình sự bao gồm trong đó lĩnh vực pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình
sự Vì vậy, các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến vấn đề bảo vệ các quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự ở một mức độ nhất định với tư cách là một bộ phận của pháp luật tư pháp hình sự nói chung
Riêng vấn đề bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án
hình sự cũng được đề cập đến trong một số công trình, bài viết như: Bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù, Luận văn thạc sỹ luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Phúc, "Bảo đảm quyền con người trong thi hành án phạt tù", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 4/2007; TS.Đỗ Đức Hồng Hà, "Mối quan hệ giữa quyền con người và luật thi hành án hình sự"
trong cuốn Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010
Những công trình, bài viết này mới chỉ đề cập tới vấn đề bảo vệ các quyền con người trong thi hành án phạt tù-một trong những hình phạt chính trong hệ thống hình phạt Hoặc là đã xem xét nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự (bài viết của TS.Đỗ Đức Hồng Hà) nhưng theo các văn bản đơn hành mà chưa có sự ra đời của Luật thi hành
án hình sự 2010
Như vậy, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành
hành án hình sự hiện hành Với tình hình trên, đề tài "Một số vấn đề chủ yếu
về pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người", lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ luận văn thạc sỹ tương đối
chuyên sâu, toàn diện, đầy đủ và đảm bảo được tính logíc, hệ thống, không có
sự trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
Trang 103 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
* Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện hành trong việc bảo vệ các quyền con người, chỉ ra những điểm còn thiếu sót hoặc chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật về vấn đề này Đồng thời nêu lên thực tế về đảm bảo quyền con người trong công tác thi hành án hình
sự ở nước ta Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tổng hợp, luận văn sẽ đề xuất một
số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự trong việc bảo vệ các quyền con người và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu này, luận văn phải hoàn thành một số nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về quyền con người và bảo vệ các quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người Từ đó chỉ ra những điểm thiếu sót trong các quy định của pháp luật về bảo vệ các quyền con người
- Đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Với nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận văn tập trung nghiên cứu việc bảo vệ các quyền con người dưới góc độ thi hành án hình sự bao gồm thi hành những bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Nội dung cốt lõi của luận văn là xoay quanh quyền con người dưới góc nhìn lý luận, luật thực định
Trang 11và thực tiễn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ được giới hạn trong phạm vi sau đây:
- Lịch sử hình thành và phát triển các quy đinh pháp luật thi hành án hình
sự Việt Nam trong việc bảo vệ các quyền con người;
- Các quy định của pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện hành trong việc bảo vệ các quyền con người;
- Tìm hiểu thực tiễn thi hành án hình sự về việc bảo vệ các quyền con người
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta
về quản lý Nhà nước, quản lý xã hội cũng như chủ trương, quan điểm về việc xây dựng Luật Thi hành án hình sự
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng hợp, lôgíc, lịch sử, qui nạp, đối chiếu, so sánh, khảo sát thăm dò lấy ý kiến trong phạm vi những người làm công tác thực tiễn, sử dụng kết quả thống kê nhằm làm sáng tỏ các vấn đề trong nội dung luận văn
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Những đóng góp của luận văn thể hiện trên một số phương diện sau đây:
Thứ nhất: Lần đầu tiên vấn đề bảo vệ các quyền con người trong pháp
luật thi hành án hình sự Việt Nam được nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện cả về lý luận, luật thực định và thực tiễn thi hành
Thứ hai: Sau khi Luật thi hành án hình sự 2010 có hiệu lực, chưa có
Trang 12công trình nào nghiên cứu, khảo sát chuyên sâu về vấn đề bảo vệ các quyền con người trong thi hành án hình sự
Thứ ba: Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất những
giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo vệ các quyền con người trong thi hành án hình sự, nâng cao hiệu quả của việc bảo vệ các quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự trên thực tế
Thứ tư: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài
liệu giảng dạy ở bậc Đại học, Trường Đào tạo nghề trong lĩnh vực tư pháp và
là tư liệu tốt để các nhà khoa học tham khảo trong nghiên cứu khoa học thi hành án hình sự Luận văn là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, trong một chừng mực nhất định cũng có thể giúp ích phần nào cho các cán bộ làm công tác thực tiễn trong việc hiểu biết một cách sâu sắc, đầy đủ và vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để từ đó làm tốt công tác bảo vệ các quyền con người trong thi hành án hình sự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cầu bởi 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bảo vệ các quyền con người
bằng pháp luật thi hành án hình sự
Chương 2: Các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam hiện
hành về bảo vệ các quyền con người và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động bảo vệ các quyền con người trong pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam
- Kết luận
- Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái quát chung về quyền con người
1.1.1 Khái niệm quyền con người
Quyền con người là một phạm trù rộng, đa dạng Tùy từng mục đích và phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những định nghĩa khác nhau về quyền con người Mặc dù số lượng các định nghĩa về quyền con người rất lớn và mỗi định nghĩa đều mang trong mình ít nhiều khía cạnh đúng đắn nhưng cho đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chính thống nào về quyền con người để làm chuẩn mực chung
Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, quyền là "điều mà pháp luật hoặc
xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi" [14, tr.743] Theo
đó, quyền con người có thể được hiểu là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho mỗi con người được hưởng, được làm, được đòi hỏi
Theo TS Trần Quang Tiệp: "Quyền con người là những đặc lợi vốn có
tự nhiên mà chỉ con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị,
Trang 14kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [15, tr.14]
Quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Động cho rằng: quyền con người
là những giá trị quý báu được thừa nhận chung bởi toàn thế giới, đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế; quyền con người trực tiếp liên quan đến
cá lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người và góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính nhân đạo và nhân văn của con người; các quyền con người tạo thành một hệ thống thống nhất, quan
hệ tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề, điều kiện của nhau, vừa là hệ quả của nhau
Trên cơ sở tìm hiểu về vấn đề quyền con người, tổng hợp các khái niệm
về quyền con người trên thế giới cũng như Việt Nam, tác giả luận văn hoàn toàn đồng tình với quan điềm của TSKH.GS Lê Cảm khi xây dựng khái niệm
quyền con người Theo đó, "quyền con người là một phạm trù lịch sử-cụ thể,
là giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các thành viên Liên hợp quốc cũng như bởi cộng đồng quốc tế".[7, tr.224]
Khi xem xét nghiên cứu khái niệm quyền con người có một số vấn đề cần lưu ý sau đây:
Một là, việc sử dụng thuật ngữ "quyền con người" và "nhân quyền" Có
ý kiến cho rằng hai khái niệm này mang ý nghĩa khác nhau Điều này thể hiện
ở chỗ, "quyền con người" được hiểu là những tư tưởng, quan điểm, nhận thức
"của ta" còn "nhân quyền" được nhắc đến với nghĩa là luận điệu, âm mưu, thủ đoạn "của địch" Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì nhân quyền có nghĩa là quyền con người Trong đó, nhân quyền là một từ Hán Việt
Trang 15còn quyền con người là một từ thuần Việt Như vậy, về mặt ngôn ngữ học, hai thuật ngữ này là từ đồng nghĩa nên hoàn toàn có thể sử dụng thay thế nhau
Hai là, phân biệt giữa khái niệm quyền con người và quyền công dân
Hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau Bởi lẽ, quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước
và công dân (tức là những người mang quốc tịch của nước đó) Quyền công dân là những quyền con người được pháp luật ghi nhận và bảo hộ cho công dân của nước họ Điều này quy định nguồn gốc pháp định của quyền công dân Trong khi đó quyền con người không bị bó hẹp trong quan hệ giữa nhà nước và công dân mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng Chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của xã hội chứ không bó hẹp trong phạm vi những người mang quốc tịch của quốc gia nhất định Tuy nhiên để quyền con người mang giá trị hiện thực thì nó cũng cần được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và quốc gia
1.1.2 Khái niệm thi hành án hình sự và pháp luật thi hành án hình sự
Thi hành án hình sự là giai đoạn của tố tụng hình sự nhằm thực hiện bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Quá trình giải quyết một vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn khác nhau: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Mỗi giai đoạn tuy độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một hoạt động thống nhất Giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước
Với ý nghĩa là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, thi hành án hình sự có mối quan hệ hữu cơ với các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Trên cả bình diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô nghĩa Khi một bản án, quyết định
Trang 16của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội xã bị vi phạm, quyền lực Nhà nước không được thực hiện, chuyên chính bị buông lỏng Bởi vậy, việc đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu tất yếu khách quan
Mặt khác, quá trình thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án trong thực tiễn Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống Thi hành án hình sự có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo mục đích của hình phạt là không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm giáo dục cải tạo họ trở thành công dân có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh phòng chống tội phạm Bởi vậy, để thực hiện vai trò đó và đảm bảo pháp chế của hoạt động này thì việc pháp điển hóa toàn bộ các quy định về quá trình thi hành án hình sự là yêu cầu cấp thiết, tránh sự tùy tiện, vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền
và lợi ích hợp pháp của người bị kết án
Luật thi hành án hình sự là hệ thống các quy tắc xử sự do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành bản án hình sự, quyết định của Tòa án nhằm trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.[4, tr.7]
1.1.3 Khái niệm bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
Pháp luật nói chung và pháp luật thi hành án hình sự nói riêng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền con người Vậy, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự là gì đặc điểm của nó như thế nào? Vấn đề này tác giả luận văn hoàn toàn đồng ý với quan điểm của
Trang 17GS.TSKH Lê Cảm:
Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền là sự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của pháp luật thi hành án hình sự để làm cho các quy định
đó phù hợp với các nguyên tắc và các quy phạm tương ứng của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự, được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan bảo vệ pháp luật, cũng như những người có chức vụ của những cơ quan này trong thực tiễn thi hành án hình sự, đồng thời góp phần tạo nên lòng tin của công dân vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và sự bình đẳng của pháp luật, sức mạnh và uy tín của bộ máy công quyền, tính nhân đạo và dân chủ của xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền nói chung
Những đặc điểm cơ bản của việc bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự:
Một là, Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
là sự điều chỉnh đầy đủ về mặt lập pháp, sự thực thi chính xác về mặt hành pháp và sự đảm bảo tối đa về mặt tư pháp các quy định của ngành luật này Điều đó có nghĩa rằng, quyền con người của những chủ thể tham gia vào quá trình thi hành án hình sự cần phải được ghi nhận đầy đủ trong pháp luật; quá trình thực hiện những quy định đó phải đảm bảo tuân thủ chặt chẽ pháp luật
và bất kỳ sự vi phạm nào cũng cần được xử lý nghiêm minh
Hai là, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
là sự phản ánh ở mức độ khác nhau một loạt các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận chung của luật thi hành án hình sự trong nhà nước pháp quyền (nguyên tắc pháp chế, nhân đạo, tiết kiện tối đa yếu tố trấn áp hình sự trong thi hành án hình sự, kết hợp thuyết phục, giáo dục với cưỡng chế, đảm bảo quyền con
Trang 18người theo những chuan mực quốc tế chung về đối xử với phạm nhân…) nhằm đảm bảo sự phù hợp của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về tôn trọng quyền con người trong thi hành án hình sự
Ba là, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
nhằm mục đích làm cho các quy định của pháp luật quốc gia được tuân thủ, chấp hành, áp dụng một cách nghiêm minh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quant hi hành án hình sự và những người có chức vụ của cá cơ quan này trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
Bốn là, bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật thi hành án hình sự
còn hướng tới mục đích tạo dựng niềm tin của công dân vào sự nghiêm minh của pháp chế, tính minh bạch và bình đẳng của pháp luật, sức mạnh và uy tín của hệ thống tư pháp hình sự và bộ máy công quyền, tính nhân đạo và dân chủ của xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền
Năm là, để thực hiện được những mục đích trên thì nội dung của pháp
luật trong việc bảo vệ các quyền con người không thể chỉ ghi nhận chung chung, không hoặc khó có khả năng thực hiện trên thực tế mà cần và phải được quy định cụ thể, rõ ràng và có tính khả thi
1.2 Lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về thi hành án hình sự
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thi hành án hình sự gắn liền với sự phát triển của pháp luật hình sự trong lịch sử Nhà nước Việt Nam
và có thể chia thành các giai đoạn như sau:
1.2.1 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn trước năm 1945
Dưới chế độ phong kiến pháp luật nói chung và pháp luật thi hành án hình sự nói riêng chưa phát triển Pháp luật hình sự được coi trọng nhằm tạo tính quyền lực, tính răn đe trừng phạt Vấn đề quyền con người trong pháp luật hình sự cũng như thi hành án chưa được đảm bảo Ở giai đoạn đầu của sự
Trang 19hình thành Nhà nước, pháp luật mang tính sơ khai đơn giản chủ yếu là luật tục, tập quán pháp Với tư tưởng thống trị "phép vua thua lệ làng" kéo theo hình thức thi hành án tương ứng
Dưới triều Ngô, Đinh, Tiền Lê Tuy chưa có văn bản pháp luật thành văn nhưng hình pháp vẫn rất được coi trọng với những hình phat hà khắc,
hình thức thi hành án tàn khốc Nhà Đinh: "Kẻ nào trái phép phải chịu tội bỏ vạc dầu, cho hổ ăn" [16, tr.211] Nhà Tiền Lê định ra luật lệ hình phạt tử hình
với các hình thức thi hành án: thiêu, lăng trì, thủy lao, chặt đầu, đun trong vạc dầu, cho hổ ăn thịt, róc mía trên đầu sư…
Thời Lý, Bộ Hình thư là bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử pháp chế Việt Nam Trong Hình thư, nhà Lý đã quy định thể lệ chuộc tội bằng tiền cho những người già trên 70 tuổi, cho trẻ em dưới 15 tuổi, cho người tàn tật, cho những người thân thích của nhà vua hoặc người có công lớn phạm tội, trừ trường hợp phạm tội thập ác Hình phạt và hình thức thi hành rất dã man như chặt đầu, chặt chân tay, chôn sống, phạt trượng, thích chữ…
Thời Lê được coi là dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam Các vị vua triều Lê rất coi trọng việc xây dựng hệ thống luật pháp Các
bộ sách về điển chế và luật pháp thời Lê lần lượt được ban hành như Bộ Hình thư; Hoàng triều quan chế; Quốc triều hình luật; Khám tụng điều lệ…Trong
đó bộ Quốc triều hình luật (tức Bộ luật Hồng Đức) được coi là quan trọng nhất, trong đó hình phạt và các hình thức thi hành án có nhiều thay đổi Bộ luật này có phạm vi điều chỉnh rộng trên các lĩnh vực: hình sự, dân sự, tố tụng,…Trong lĩnh vực hình sự 9 chương Danh lệ đưa ra các nguyên tắc chung khi trừng phạt Hệ thống hình phạt áp dụng ngũ hình với hình thức thi hành án
đa dạng: Xuy (5 bậc từ 10 đến 50 roi); Trượng (5 bậc từ 60 đến 100 trượng);
Đồ (3 bậc: đối với đàn ông gồm dịch đinh-tượng phường binh-chủng điển binh; đối với đàn bà gồm dịch phụ-suy thất tỳ-thung thất tỳ); Lưu (3 bậc: châu
Trang 20gần, châu ngoài, châu xa); Tử hình (3 bậc: giảo, trảm/trảm khiêu, lăng trì) Ngoài ra còn có các hình phạt bổ sung như cùm gông, thích chữ vào mặt, phạt tiền, giáng chức, tịch thu tài sản…
Dưới thời Nguyễn, Bộ Hoàng triều luật lệ (tức Bộ luật Gia Long) được xây dựng trên cơ sở Bộ luật Hồng Đức và Luật lệ Đại Thanh-Trung Quốc
Trong Bộ luật Gia Long thời Nguyễn, với 398 điều luật thì có tới 166 điều về hình luật, và điều 223 viết: Phàm kẻ mưu phản và đại nghịch và những kẻ cùng mưu, không phân biệt thủ phạm hay tòng phạm đều lăng trì xử tử (róc thịt, phanh thây, tùng xẻo) Về cơ bản hệ thống hình phạt và hình thức thi
hành án không thay đổi so với bộ luật Hồng Đức chỉ quy định cụ thể hơn về khung hình phạt Tuy nhiên, diện trừng phạt của Bộ luật Gia Long mở rộng thể hiện rõ trong nguyên tắc chịu phạt tập thể
Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Năm 1883, triều đình Huế ký với Pháp bản Hiệp ước thừa nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Bắc
Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ của Pháp Trong suốt thời gian từ 1858 đến năm
1945 thực dân Pháp đã thiết lập chính quyền thuộc địa ở Việt Nam Thời kỳ này
ở nước ta sử dụng hai loại Luật hình sự và tương ứng với nó là các hình thức thi hành án khác nhau Luật hình sự của Pháp dành cho người Pháp và người nước ngoài, còn Luật hình sự của nhà Nguyễn dành cho người bản xứ Sau khi Nam
Kỳ trở thành thuộc địa của Pháp thì ở Nam Kỳ sử dụng luật của Pháp, Bắc Kỳ và Trung Kỳ áp dụng Luật hình sự với người Việt Nam, cùng với nó là một hệ thống các công cụ bạo lực như hệ thống Tòa án, cảnh sát, nhà tù, trại giam Chỉ tính từ năm 1902 đến năm 1912 các nhà tù thực dân Pháp đã kết án 24.380 người
từ hình thức tù giam đến khổ sai, chung thân, tử hình
Thời kỳ Pháp thuộc, hai loại luật hình sự được áp dụng tương ứng với
đó là các hình thức thi hành án khác nhau Luật hình sự Pháp áp dụng với người Pháp, người nước ngoài, xứ Nam Kỳ (kể từ sau Hiệp ước 1883) Luật
Trang 21hình sự của nhà Nguyễn áp dụng đối với người dân bản xứ, xứ Bắc kỳ và Trung Kỳ (sau năm 1883) Cùng với đó là hệ thống các công cụ trấn áp bao gồm nhà tù, trại giam…
1.2.2 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1988
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ngày 02 tháng 9 năm 1945 Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt nam dân chủ cộng hòa Ngay sau đó, năm 1946 Hiến pháp đầu tiên được thông qua ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Để thực hiện chính sách nhân đạo của chính quyền cách mạng, ngày 20 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Sắc lệnh số 52/SL quy định về xá tội cho phạm nhân nhân và Sắc lệnh số 40/SL ngày 29 tháng 03 năm 1946 về việc bảo vệ quyền tự do cá nhân có quy định về việc bắt giữ người trong một số trường hợp cụ thể
Từ năm 1945 đến 1950 hệ thống các trại giam được hình thành dưới sự quản lý của Bộ Nội vụ nhưng chưa được quy định trong các văn bản pháp lý
Từ năm 1945 đến năm 1954, những văn bản pháp luật của Nhà nước được ban hành tập trung vào việc trừng trị những tội phạm phá hoại sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc như Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946 về trừng trị bọn phản cách mạng, bọ địa chủ cường hào ngoan cố; Sắc lệnh số 46 ngày 25/02/1946 về trừng trị tội phá hoại cộng sản; Sắc lệnh số
233 ngày 17/11/1946 về trừng phạt các tội hối lộ, biển thủ, phù lạm Đến ngày 16 tháng 9 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phan Kế Toại và Bộ trưởng
Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Hòe cùng ký tờ trình lên Chủ tịch nước đề nghị ban hành sắc lệnh về công tác quản lý trại giam Đến ngày 07 tháng 11 năm 1950 Chủ tịch nước công bố Sắc lệnh số 150/SL về tổ chức các trại giam Sắc lệnh này quy định nhiều nội dung về thi hành hình phạt tù, trong đó quy định rõ
Trang 22ràng quyền và nghĩa vụ của phạm nhân cũng như nhiệm vụ của cơ quan quản
lý cải tạo phạm nhân Điều 1 Sắc lệnh quy định rõ: "Phạm nhân phải giam giữ trong các trại giam để trừng trị và giáo hóa" Sắc lệnh số 150/1950/SL là
sắc lệnh đầu tiên và là văn bản pháp luật đầu tiên trực tiếp quy định về việc quản lý trại giam kể từ sau Cách mạng tháng Tám
Sắc lệnh số 180/SL ngày 20/10/1950 quy định những hình phạt với hành vi đầu cơ tiền tệ, làm giấy bạc giả, lưu hành giấy bạc giả Các hình thức thi hành án hình sự cũng có nhiều thay đổi, vừa đảm bảo yếu tố trừng trị, răn
đe, vừa nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội giúp họ “cải tà hoàn lương” Việc thi hành án hình sự được tổ chức và thực hiện mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc, nhiều hình thức thi hành án dã man, hà khắc trước đây đã được loại bỏ khỏi pháp luật hình sự
Tiếp đó, ngày 12 tháng 6 năm 1951 Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp ban hành Nghị định số 181-NV/6 quy định chi tiết về thiết lập và quản lý trại giam, sinh hoạt của phạm nhân, giáo hóa phạm nhân, nhân viên phụ trách và điều khoản chung Kèm theo Nghị định là Bản Quy tắc trại giam Theo đó, mỗi tỉnh thành phố có một trại giam, trong trường hợp đặc biệt có thể có hai trại giam Việc giáo dục phạm nhân được tổ chức trong trại giam bằng công tác lao động và đời sống tập thể, được học tập văn hóa và hướng dẫn nghề nghiệp Phạm nhân phải lao động 9h/ngày kể cả thời gian đi và về, trừ ngày chủ nhật, ngày lễ, ốm đau
Từ năm 1954 đến năm 1975 nhân dân ta phải thực hiện đồng thời hai nhiêm vụ chiến lược: xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Vì vậy, thời kỳ này, pháp luật hình sự tập trung chủ yếu vào việc trừng trị các hành vi xâm phạm hai nhiệm vụ trên Phần lớn các văn bản pháp luật tính đến năm 1960 mang tính đơn hành quy định về những hành vi nguy hiểm cho xã hội phải được xử
lý bằng hình sự nhưng lại không quy định rõ về cách thức thi hành án Năm
Trang 231962, Hội đồng Chính phủ ra Chỉ thị số 15/Vp ngày 07 tháng 7 năm 1962 về tăng cường công tác trại giam, trong đó quy định cụ thể hơn một số công tác
về quản lý, giáo dục và cải tạo phạm nhân nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót trước đây
Ngày 30 tháng 10 năm 1967 Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Pháp lệnh trừng trị tội phản cách mạng quy định đầy đủ, hệ thống các nguyên tắc và các tội danh Ngày 18 tháng 12 năm 1967 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 217/TTg/NC quy định về "tổ chức lại các trường giáo dục thiếu niên hư" Ngày 17 tháng 12 năm 1969, Chính phủ ra Quyết định số 224/CP giao trại cải tạo đã phân cấp trước đây cho Bộ công an mà lực lượng trực tiếp quản lý là cục quản lý và cải tạo phạm nhân
Ngày 01 tháng 12 năm 1979, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ ra Thông tư liên bộ số 68 về thi hành nghiêm chỉnh án phạt giam, chấn chỉnh công tác quản lý giáo dục phạm nhân chấp hành án phạt tù
Ngày 01 tháng 4 năm 1982 Bộ Nội vụ ra chỉ thị số 02/CP quy định việc tiến hành phân cấp quản lý cải tạo phạm nhân trên toàn quốc
Ngày 16 tháng 02 năm 1984 Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên bộ số 01-TT/LB quy định về việc thi hành nghiêm chỉnh các bản án phạt tù giam hoặc tử hình, cụ thể hóa quy định về thời hạn tạm ngừng thi hành án phạt tù và điều kiện tạm ngừng thi hành án phạt tù
1.2.3 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn từ năm 1988 đến 2003
Thi hành án hình sự liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Xác định thi hành án hình sự là công tác lớn, quan trọng nên Nhà nước ta đặc biệt quan tâm
Trang 24và đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho hoạt động này Trên cơ sở pháp lý đó, trong thời gian qua hoạt động thi hành án hình sự đã được
tổ chức, thực hiện bảo đảm sự nghiêm minh, khoan hồng, nhân đạo, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, phục vụ yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật về thi hành án hình sự
đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù hợp, chưa đồng bộ với quy định có liên quan đến công tác thi hành án hình sự trong một số đạo luật như Bộ luật hình sự năm 1999, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm
2002, Luật Công an nhân dân… Những tồn tại, hạn chế của pháp luật làm cho hoạt động thi hành án hình sự gặp nhiều bất cập, vướng mắc, các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực thi hành án hình sự mới chỉ quan tâm nhiều đến thi hành hình phạt tù, tử hình, trục xuất mà chưa quan tâm đúng mức đến việc thi hành các hình phạt khác; chưa có tổ chức bộ máy chuyên trách quản lý thống nhất việc thi hành án hình sự; đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ thi hành án hình sự còn thiếu về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng, chế độ chính sách còn chưa bảo đảm; cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác này chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ
Trước những thay đổi của tình hình trong nước và quốc tế, những văn bản pháp luật hình sự đơn hành không đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, ngày 27 tháng 6 năm 1985 Quốc hội thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1986 Bộ luật quy định tương đối đầy đủ về hệ thống hình phạt, các biện pháp tư pháp, nguyên tắc áp dụng chúng Trên cơ sở đó, công tác thi hành án hình sự cũng được triển khai đồng bộ, thống nhất
Sau đó, ngày 28 tháng 6 năm 1988, Quốc hội tiếp tục thông qua Bộ luật
Trang 25tố tụng hình sự có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1989 Bộ luật này đã dành hẳn một chương để quy định về thi hành án Có thể nói đây là văn bản pháp điển đầu tiên quy định cụ thể về thi hành án hình sự Trên cơ sở
đó, ngày 15 tháng 8 năm 1989, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp ban hành thông tư liên ngành số 04-89/TTLN quy định về giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù
Tiếp đó, ngày 8 tháng 3 năm 1993 Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành Pháp lệnh thi hành án phạt tù Sự ra đời của Pháp lệnh đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật thi hành án phạt tù ở Việt nam Tuy còn những hạn chế nhưng Pháp lệnh đã quy định tương đối đầy đủ về trình tự, thủ tục thi hành án phạt tù, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người thi hành án, quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án Pháp lệnh này sau đó được sửa đổi, bổ sung năm 2007 để phù hợp với Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật
tố tụng hình sự 2003
1.2.4 Pháp luật thi hành án hình sự giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Mặc dù đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần vào các năm 1989, 1991,
1992, 1997 nhưng Bộ luật hình sự vẫn bộc lộ những điểm hạn chế trước yêu cầu đấu tranh phồng chống tội phạm đang diễn biến ngày càng phức tạp Do
đó, sau nhiều năm soạn thảo ngày 21 tháng 12 năm 1999 Bộ luật hình sự mới được thông qua thay thế cho Bộ luật hình sự năm 1985 Trong đó phần hình phạt và các biện pháp tư pháp được chỉnh lý hoàn thiện hơn Sau này, Bộ luật hình sự 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để phù hợp với tình hình mới
Theo đó, để phù hợp với Bộ luật hình sự mới, với tư cách là luật hình thức – Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 cũng được thay thế bằng Bộ luật tố tụng hình sự mới được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục kế thừa và hoàn thiện các quy định về thi hành án hình sự
Trang 26Các văn bản pháp luật đơn hành hướng dẫn Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật tố tụng hình sự 2003 về thi hành bản án, quyết định của Tòa án liên tiếp
ra đời Ví dụ như: Nghị định số 59/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ quy định việc thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người chưa thành niên phạm tội; Nghị định số 60/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm 2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ; Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30 tháng 10 năm
2000 của Chính phủ quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo; Nghị định số 52/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng; Nghị định
số 53/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành hình phạt cấm cư trú và quản chế; Nghị định số 54/2001/NĐ-CP ngày
23 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất; Nghị định số 98/2002/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế tạm giữ, tạm giam kèm theo Nghị định
số 89/1998/NĐ-CP ngày 7 tháng 11 năm 1998; Thông tư liên tịch số 07/2004/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 29 tháng 4 năm 2004 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện một số quy định
về thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân chấp hành án phạt tù; Thông tư liên tịch số 07/2004/TTLT-BCA-VKSNDTC ngày 29 tháng 4 năm 2004 của
Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thực hiện một
số quy định về thi hành hình phạt tù đối với phạm nhân chấp hành án phạt tù; Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BCA-BQP-BYT-TANDTC-VKSNDTC ngày 18 tháng 5 năm 2006 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù đối với người đang chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng; Quyết định số 810/2006/QĐ-BCA ngaỳ 04 tháng 7 năm 2006 của Bộ Công an ban hành quy
Trang 27trình bảo vệ phiên tòa, áp giải bị cáo, dẫn giải người làm chứng ra tòa và quy trình thi hành án tử hình; Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BCA-BQP-BTC ngày 07 tháng 6 năm 2007 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính về việc hướng dẫn chế độ lao động, dạy nghề và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân trong trại giam; Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 02tháng 10 năm 2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dân thi hành một số quy định trong phần thứ năm "Thi hành án và quyết định của Tòa án" của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị định số 113/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ quy định việc ban hành quy chế trại giam…
Tuy vậy, nhìn lại lịch sử có thể nhận thấy hệ thống pháp luật thi hành
án hình sự chưa được pháp điển hóa thành một bộ luật riêng, thống nhất mà vẫn nằm rời rạc, rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau gây khó khăn cho công tác thi hành án Chính vì thế, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Thi hành án hình sự tại kỳ họp thứ 7 khóa XII ngày 17 tháng 6 năm
2010 Đây là luật thi hành án hình sự đầu tiên trong lịch sử pháp luật thi hành
án ở Việt nam Luật được xây dựng trên cơ sở đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, kế thừa các văn bản trước, tiếp thu có chọn lọc pháp luật thi hành án hình sự của các quốc gia trên thế giới Luật này quy định tương đối toàn diện và hệ thống khắc phục được những hạn chế của các văn bản đơn hành về thi hành án hình sự Trong thời gian qua, nhiều văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật thi hành án hình sự được ban hành: Nghị định 80/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định các biện pháp đảm bảo tái hòa nhập cộng đồng đối người chấp hành xong án phạt tù, áp dụng từ ngày 16 tháng 11 năm 2011; Nghị định 81/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế độ ăn, mặc, chăm sóc và quản lý của học sinh trường giáo dưỡng ngày16 tháng 9 năm 2011, áp dụng từ 01 tháng 11 năm 2011; Nghị
Trang 28định 82/2011/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định về thi hành án tử hình bằng hình thức tiêm thuốc độc, áp dụng từ ngày 01 tháng 11 năm 2011; Thông tư 114/2011/TT-BTC ngày 12-8-2011 Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y; Thông
tư 58/2011/TT-BCA ngày 9- 8-2011 Quy định về đồ vật cấm đưa vào trại giam và việc thu giữ, xử lý đồ vật cấm; Thông tư 46/2011/TT-BCA ngày 30-6-2011 Quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà
và liên lạc điện thoại với thân nhân; Thông tư 40/2011/TT-BCA ngày
27-6-2011 Quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành
án phạt tù cho phạm nhân; Nghị định 64/2011/NĐ- CP ngày 28-7-2011 Quy định việc thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh; Thông tư 40/2011/TT- BCA ngày 27-6-2011 Quy định tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân; Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22-10-2010 Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật hình sự…
1.3 Vai trò của pháp luật thi hành án hình sự trong việc bảo vệ các quyền con người
Quyền con người dù là quyền tự nhiên hay quyền pháp lý thì để đảm bảo thực hiện trong thực tiễn cũng cần có pháp luật Lời nói đầu Tuyên ngôn
toàn thế giới về nhân quyền 1948 đã khẳng định: "Điều cốt yếu là các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật" Con người cùng với các quyền
con người luôn là đối tượng phản ánh của hệ thống pháp luật Và cũng chỉ có thông qua pháp luật các quyền con người mới được ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy một cách có hiệu quả nhất
Vai trò đặc biệt quan trọng không thể thay thế của pháp luật trong việc bảo vệ các quyền con người được thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật là phương tiện thể chế hóa, pháp lý hóa, chính thức
Trang 29thức hóa các quyền con người Cho dù thừa nhận quyền con người có nguồn gốc tự nhiên thì các quyền đó cũng không mặc nhiên được bảo đảm Về nguyên tắc, các nhà nước chỉ bảo đảm thực hiện các quyền pháp lý, những quyền đã được pháp luật thừa nhận Vì thế, chỉ khi các quyền con người mang tính pháp lý nó mới có được những giá trị hiện thực Chỉ có pháp luật – công
cụ quyền lực nhất của nhà nước mới có thể chuyển những nghĩa vụ đạo đức thành những nghĩa vụ pháp lý trong việc tôn trọng quyền con người
Pháp luật thi hành án hình sự - bộ phận của hệ thống pháp luật nói chung cũng không nằm ngoài sứ mệnh cao cả đó Đặc điểm được thể chế hóa bằng pháp luật của quyền con người cũng mang trong mình những nét đặc thù Một trong những nét đặc thù ấy chính là sự thể chế hóa các quyền con người trong mỗi ngành luật khác nhau thì khác nhau Nó phụ thuộc vào các quan hệ xã hội mà ngành luật đó điều chỉnh Pháp luật thi hành án hình sự điểu chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành bản án, quyết định hình sự Vì thế, pháp luật thi hành án hình sự pháp lý hóa các quyền con người của những chủ thể tham gia vào quan hệ xã hội ấy
Thứ hai, pháp luật là công cụ bảo đảm giá trị hiện thực của quyền con
người Như trên đã phân tích, chỉ khi quyền con người được pháp lý hóa thì chúng mới thực sự được bảo đảm Bởi lẽ, pháp luật với tính chất quyền lực của mình là công cụ cưỡng chế thi thành đối với mọi chủ thể trong xã hội có nghĩa vụ tôn trọng quyền con người, kể cả những người có quyền lực, ban hành ra pháp luật
Nhà nước, với chức năng quản lý và trấn áp của mình không chỉ ghi nhận các quyền của những chủ thể tham gia vào quá trình thi hành án hình sự bằng hệ thống pháp luật thi hành án hình sự mà còn thông qua pháp luật để kiện toàn bộ máy tổ chức và hoạt động của cá cơ quan đảm bảo thực hiện các quyền đó
Thông qua pháp luật thi hành án hình sự, mỗi chủ thể tham gia vào
Trang 30quan hệ xã hội này đều có thể biết rõ những quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình Đồng thời, đó là cơ sở pháp lý vững chắc cho các chủ thể sử dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị vi phạm trong quá trình tham gia vào quan hệ pháp luật thi hành án hình sự
Pháp luật thi hành án hình sự là phương tiện thực hiện các cam kết quốc tề về bảo vệ các quyền con người trong thi hành án hình sự Thông qua quá trình "nội luật hóa" cá quy phạm pháp luật quốc tế về quyền con người mới đảm bảo những cam kết quốc tế về vấn đề này được thực hiện trên thực
tế Bởi lẽ, nếu các cam kết quốc tế không trở thành quy phạm pháp luật quốc gia thì đó chỉ là những cam kết trên giấy tờ mà không được đảm bảo hiệu lực trong thực tiễn
Trang 32Chương 2 CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO VỆ CÁC
QUYỀN CON NGƯỜI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
2.1 Bảo vệ các quyền con người bằng chế định về các chủ thể thi hành án hình sự
Thi hành án hình sự là chức năng đặc biệt của một số cơ quan Nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp, quyết định của Tòa án Hệ thống cơ quan thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay rất phức tạp, bao gồm cơ quan chuyên trách, cơ quan không chuyên trách,
cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội
Đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, thi hành án hình sự nói riêng cần sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan bảo vệ pháp luật với các ban, ngành hữu quan tạo thành thế trận toàn dân phòng, chống tội phạm, giáo dục cảm hóa người phạm tội Xuất phát từ yêu cầu Bộ luật hình sự Việt Nam quy định các cơ quan Công an, Kiểm sát, Tòa án, Tư pháp, Thanh tra và các cơ quan hữu quan khác có trách nhiệm thi hành đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình, đồng thời hướng dẫn, giúp đỡ các cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức công dân đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, giám sát và giáo dục
người phạm tội tại cộng đồng
Khi chưa có Luật thi hành án hình sự để thi hành hình phạt tù, Nhà nước đã thành lập cơ quan chuyên trách thuộc Bộ Công an đó là Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng Đối với các loại hình phạt không phải là tù hoặc tử hình và các biện pháp tư pháp hình sự, Nhà nước không thành lập cơ quan chuyên trách mà giao cho chính quyền địa phương,
cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc thi hành Cơ quan
Trang 33thi hành án dân sự có quyền thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tịch thu tiền, tài sản thu bất chính trong các bản án, quyết định của Tòa
án về hình sự Tuy nhiên, Luật thi hành án hình sự được ban hành đã khắc phục những tồn tại này, xác định rõ việc thi hành từng loại án hình sự
Tóm lại, thi hành án là hoạt động phức tạp vừa có sự tham gia của các
cơ quan thi hành án chuyên trách, vừa có sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan nhà nước khác, sự chỉ đạo của chính quyền địa phương đối với việc tổ chức thi hành án hàng ngày diễn ra trên địa bàn địa phương, các tổ chức xã hội và công dân mới thi hành án có hiệu quả Ví dụ như sự tham gia của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân và án treo
Theo Luật Thi hành án hình sự thì cơ quan quản lý thi hành án hình sự được quy định thuộc Bộ công an và Bộ Quốc phòng
Cơ quan thi hành án hình sự được chia thành 4 cấp từ cấp Bộ đến cấp quận huyện, quân khu và tương đương:
Cấp Bộ có: Trại giam thuộc Bộ công an, trại giam thuộc Bộ quốc phòng, trại giam thuộc quân khu
Cấp tỉnh có: Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Cấp huyện có: Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị
Trang 34thuộc công an cấp tỉnh, trại tạm giam cấp quân khu; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Đơn vị quân đội cấp trung đoàn và tương đương
Cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành
án hình sự; chỉ đạo nghiệp vụ; hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự; tổng kết công tác thi hành án hình
sự Đồng thời, cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ công an thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể như: tổ chức kiểm tra công tác thi hành án hình sự thuộc lực lượng công an nhân dân; quyết định đưa người chấp hành án phạt tù đến nơi chấp hành án; trực tiếp quản lý các trại giam thuộc Bộ Công an; thực hiện chế
độ thống kê, báo cá; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Công an giao
Mô hình các cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an được quy định cụ thể tại Nghị định số 77/2009/NĐ - CP của Chính phủ Theo đó, việc thi hành án hình sự được giao cho Tổng cục Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục 8) với cơ cấu tổ chức tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh trên cơ
sở kế thừa nền tảng từ cục V26 (Cục cảnh sát trại giam), Cục C22 (Cục cảnh sát bảo vệ) Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức cơ quan thi hành án là một hoạt động mang tính tất yếu, là một nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta
Về nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng cũng tương tự như của Cơ quan thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an Tuy nhiên có sự khác biệt tương đối về mô hình, cụ thể mô hình cơ quan thi hành án hình sự của Bộ Quốc phòng về cơ bản không thay đổi, gồm:
- Bộ Quốc phòng
- Cục điều tra hình sự
Trang 35- Các đơn vị quân đội
- Hệ thống trại giam
- Viện kiểm sát quân sự chịu trách nhiệm giám sát công tác thi hành án hình sự trong quân đội
2.2 Bảo vệ các quyền con người trong chế định thi hành án tử hình
Thi hành án tử hình là việc cơ quan, người có thẩm quyền tước bỏ quyền sống của người chấp hành án theo quy định của Luật thi hành án hình sự
Quyền sống là quyền tự nhiên, vốn có, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người Điều này đã được ghi nhận tại Điều 3 Tuyên ngôn toàn
thế giới về nhân quyền năm 1948: "Mọi người đều có quyền sống, quyền tự
do và an toàn cá nhân"; tiếp đó, Khoản 1 Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng nhấn mạnh: "Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống.Quyền này phải được pháp luật bảo vệ Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện"
Bởi liên quan đến quyền được sống của con người nên hình phạt tử hình
và thi hành án tử hình được quy định trong pháp luật gây nên nhiều tranh luận trong việc duy trì hay xóa bỏ hình phạt này Theo thống kê của Tổ chức ân xá quốc tế (Amnesty International - AI), tính đến năm 2009 đã có 95 quốc gia trên thế giới xóa bỏ hình phạt tử hình trong pháp luật và trên thực tế; 35 quốc gia tuy vẫn quy định hình phạt tử hình trong pháp luật nhưng không thi hành trên thực tế
và 58 quốc gia và vùng lãnh thổ duy trì và thi hành án tử hình
Ở Việt Nam, do diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, nhất là những tội phạm đặc biệt nguy hiểm, gây gánh nặng và sức ép với các cơ quan nhà nước trong việc tìm ra các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, đồng thời tác động đến tâm lý người dân trong việc áp dụng những hình phạt nghiêm khắc với tội phạm nên đa số người dân, các cơ quan chức năng và các đại biểu
Trang 36Quốc hội vẫn ủng hộ việc duy trì hình phạt tử hình đối với những tội phạm đặc biệt nguy hiểm
Tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Nam đang hòa chung xu hướng quốc tế là giảm việc áp dụng hình phạt tử hình Điều này biểu hiện rõ nét trong số lượng các tội danh có thể bị kết án tử hình giảm đi đáng kể từ 44 điều khoản trong Bộ luật hình sự năm 1985, xuống còn 29 điều khoản trong Bộ luật hình sự năm 1999 và 21 điều khoản theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999
Một trong những hình thức để bảo vệ quyền sống của con người trong thi hành án tử hình là quy định về những nguyên tắc khi áp dụng hình phạt
này đảm bảo "không ai bị tước đoạt mạng sống một cách tùy tiện" Cụ thể là:
Hình phạt tử hình chỉ áp dụng với những người phạm tội đặc biệt nguy hiểm Đó là những tội phạm gây nên những hậu quả đặc biệt nguy hiểm cho
xã hội và biện pháp xử lý đối với kẻ phạm tội không còn cách nào khác là phải cách ly vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội
Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử
Không thi hành án tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi Trong trường hợp này, hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân
Chính vì hình phạt tử hình tước đoạt quyền sống của con người, hậu quả sau khi thi hành án tử hình là không thể khắc phục được nên để đảm bảo rằng sự tước đoạt đó là đúng đắn, giảm thiểu tối đa những sai sót, pháp luật thi hành án hình sự quy định một trình tự, thủ tục chặt chẽ trước khi đưa bản
án tử hình ra thi hành Theo đó, bản án tử hình chỉ được thi hành nếu như
Trang 37Chánh án Tòa án nhân dân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; hoặc bản
án được kháng nghị nhưng Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình và Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm hình phạt tử hình (trong trường hợp người bị kết án gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước) Điều đó có nghĩa là tuy bản án tử hình đã
có hiệu lực pháp luật song cho tới khi thi hành trên thực tế vẫn có khoảng thời gian hợp lý để bản án tử hình có thể được xem xét có hay không có việc kháng nghị; để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; để người bị kết án thực hiện quyền được xin ân giảm án tử hình của mình Hơn nữa trước khi thi hành
án tử hình, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện kỹ việc kiểm tra căn cước, danh bản, chỉ bản của người phải chấp hành án
Hình thức thi hành án tử hình cũng là một khía cạnh thể hiện việc bảo
vệ các quyền con người
Cách thức thi hành án tử hình tạo nên cuộc tranh luận giữa những người duy trì và những người muốn xóa bỏ hình phạt này bởi nó liên quan
đến "quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục" được ghi nhận tại Điều 5 Tuyên ngôn toàn thế giới
về nhân quyền 1984 và cụ thể hóa tại Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 Với những người theo quan điểm xóa bỏ hình phạt này thì không một hình thức thi hành án tử hình nào là không gây đau đớn cho người bị hành quyết, có chăng chỉ là khác nhau về mức độ mà thôi Hơn nữa trong thời gian chờ đợi thi hành án, họ bị khủng hoảng về mặt tinh thần
Bởi vậy, thi hành án tử hình là một "sự tra tấn và vi phạm nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần của con người" Ngược lại, với những người theo quan
điểm duy trì hình phạt tử hình thì cho rằng với những phương pháp thi hành
án tử hình mới sẽ giảm thiểu tối đa sự đau đớn của tử tù trong quá trình hành
Trang 38quyết nên vấn đề nhân phẩm không quá đáng lo ngại
Trên thế giới tồn tại nhiều hình thức tử hình khác nhau như: treo cổ, dùng ghế điện, xử bắn, dùng phòng hơi ngạt, tiêm thuốc độc, dùng máy chém, ném đá đến chết, chém đầu Ở Việt Nam, trong lịch sử cũng tồn tại khá nhiều những hình thức thi hành án tử hình khác nhau như chém đầu bằng đao hoặc gươm, lăng trì… (thời phong kiến), dùng máy chém (thời thuộc Pháp), xử bắn (kể từ sau khi giành độc lập) và đến nay, kể từ ngày 01/7/2011 (ngày Luật thi
hành án hình sự 2010 có hiệu lực thi hành) thì "thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc" Xét một cách khách quan, phương pháp tiêm
thuốc độc tránh được nhiều khía cạnh tiêu cực của các phương pháp hành quyết khác như: không phá hủy thể xác tử tù, không có máu chảy từ các vết thương hở, không có mùi cháy của thân thể do bị điện giật, thân thể tử tù không bị phơi ra như khi treo cổ…Như vậy, ở mức độ nhất định, việc thay thế hình thức thi hành án tử hình bằng xử bắn bằng tiêm thuốc độc đã thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề quyền con người trong thi hành
án tử hình
Bảo vệ các quyền con người trong thi hành án tử hình còn được thể hiện trong những quy định về quyền của người bị kết án tử hình Đó là quyền được hưởng các tiêu chuẩn về ăn, uống, khám chữa bệnh, gửi nhận thư, quà thăm nuôi, quyền khiếu nại, tố cáo trong thời gian chờ thi hành án tử hình Sau khi đã bị thi hành án, tiền và tài sản khác gửi lưu ký tại trại giam được trả lại đầy đủ cho người thân hoặc người được ủy thác của họ Về tử tù, luật cũng
có những quy định mới: Ngoài việc được tự mình đọc quyết định thi hành án, quyết định không kháng nghị của viện trưởng VKSND tối cao và chánh án TAND tối cao hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước , tử
tù còn được ăn uống, viết thư cho người thân Thậm chí còn cho phép tử tù ghi âm lại lời nói của mình để gửi cho thân nhân
Trang 39Luật cũng quy định rõ Hội đồng thi hành án tử hình phải có trách nhiệm tổ chức an táng người đã bị thi hành án tử hình UBND cấp xã nơi thi hành án có trách nhiệm tạo điều kiện để tổ chức an táng người đã bị thi hành
án tử hình, quản lý phần mộ của người bị thi hành án tử hình Trong thời hạn
ba ngày sau khi bản án đã được thi hành, trại giam thông báo cho thân nhân của người bị thi hành án tử hình biết, giao cho họ tiền, tài sản, đồ vật khác có liên quan
Cuối cùng, luật thi hành án hình sự có quy định về việc giải quyết trường hợp thân nhân xin nhận tử thi, hài cốt của người bị chấp hành án tử hình Quy định này là chính sách nhân đạo thể hiện tư tưởng bảo vệ quyền con người của Đảng và Nhà nước ta; giải quyết yêu tố tâm linh cho gia đình người bị chấp hành án tử hình; phù hợp với truyền thống, đạo đức của dân tộc đối với người đã mất
2.3 Bảo vệ các quyền con người trong chế định thi hành hình phạt tù
Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật thi hành án hình sự buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành người có ích cho xã hội
Án phạt tù bao gồm tù có thời hạn và tù chung thân
Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định Tù có thời hạn áp dụng đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba năm, tối đa là hai mươi năm; áp dụng tổng hợp đối với một người phạm nhiều tội tối đa là ba mươi năm
Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình Hình phạt này không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội
Những giới hạn áp dụng hình phạt tù (có thời hạn và tù chung thân) là
Trang 40một hình thức để đảm bảo quyền con người
Tại Việt Nam tù chung thân không có nghĩa là phạm nhân sẽ phải chấp hành hình phạt tù giam suốt cả cuộc đời của mình trong trại giam Mà thông thường, theo chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, phạm nhân bị kết
án chung thân có thể được tha tù, thời gian tha sớm hay muộn là tuỳ thuộc vào việc người đó có nghiêm chỉnh chấp hành án hay không Nếu tốt họ có thể được ra tù sau 20 năm bị kết án, hay muộn hơn là 30 năm Một số trường hợp khác như phạm nhân đã già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo đều được xem xét cho ra tù trước thời hạn
Tư tưởng bảo vệ các quyền con người còn được thể hiện trong việc ghi nhận các quyền cùa phạm nhân trong và sau khi chấp hành xong hình phạt
Cụ thể là:
Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, phạm nhân được học văn
hóa, học nghề, hưởng chế độ khám chữa, điều trị bệnh, được gửi, nhận thư, bưu kiện, bưu phẩm, gặp gỡ thân nhân, nhận quà thăm nuôi theo đúng quy định chung; nếu chết hoặc bị thương tật do tai nạn lao động thì được hưởng chế độ bảo hiểm; được quyền khiếu nại tố cáo về những quyết định, những hành vi trái pháp luật của các cán bộ cơ quan thi hành án hoặc cán bộ cơ quan khác; được xét giảm thời hạn chấp hành, hoãn việc chấp hành án hoặc tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù theo quy định của pháp luật
Về chế độ học tập, học nghề và quyền được thông tin của phạm nhân:
Phạm nhân phải học pháp luật, giáo dục công dân và được học văn hoá, học nghề Phạm nhân chưa biết chữ phải học văn hoá để xoá mù chữ Phạm nhân
là người nước ngoài được khuyến khích học tiếng Việt Phạm nhân được bố trí ngày thứ bảy để học tập, học nghề và được nghỉ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo dục phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công