Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 32 Chương 2: CÁC TRƯỜNG HỢP VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN H
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGỌC DUY
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ NGỌC DUY
MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Mạnh Hùng
HÀ NỘI - 2012
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định trách nhiệm hình
sự và miễn trách nhiệm hình sự
7
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của chế định trách nhiệm hình sự 7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định miễn trách nhiệm
hình sự
11
1.2 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội và chính sách hình
sự của Nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội
19
1.2.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội 19
1.2.2 Chính sách hình sự của nhà nước ta đối với người chưa thành
niên phạm tội
21
1.3 Khái niệm, đặc điểm miễn trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội
Trang 4thành niên phạm tội
1.4 Khái quát lịch sử các quy phạm pháp luật về miễn trách nhiệm
hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp
luật hình sự Việt Nam trước khi có Bộ luật Hình sự năm 1999
25
1.4.1 Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám 1945 đến pháp điển
hóa lần thứ nhất - Bộ luật Hình sự Việt Nam 1985
25
1.4.2 Giai đoạn từ sau khi pháp điển hóa lần thứ nhất (Bộ luật Hình
sự Việt Nam năm 1985) đến khi pháp điển hóa lần thứ hai
(Bộ luật Hình sự 1999)
28
1.5 Khái quát các quy phạm pháp luật về miễn trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong pháp luật
hình sự một số nước trên thế giới
29
1.5.2 Bộ luật Hình sự Tây Ban Nha năm 1995 31 1.5.3 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào 32
Chương 2: CÁC TRƯỜNG HỢP VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH
SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG CẢ NƯỚC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
33
2.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự đối với người đối
với người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự
Việt Nam hiện hành
33
2.1.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với
mọi trường hợp phạm tội nói chung trong đó có miễn trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong Bộ luật
Hình sự hiện hành
33
Trang 52.1.2 Trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng riêng đối với
người chưa thành niên phạm tội
54
2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự
đối với người chưa thành niên phạm tội từ năm 2004 đến
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CỦA VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
75
3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên
phạm tội
75
3.2 Đẩy mạnh công tác hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc
áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
83
3.3 Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao
trình độ của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong
công tác giải quyết các vụ án đối với người chưa thành niên
phạm tội, trong đó có việc áp dụng các biện pháp miễn trách
nhiệm hình sự
84
3.4 Tăng cường vai trò của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và
gia đình, nhà trường trong việc giám sát, giáo dục người chưa
thành niên phạm tội khi họ được miễn trách nhiệm hình sự
87
3.5 Nghiên cứu thành lập tòa án chuyên xét xử các vụ án có
người chưa thành niên phạm tội
91
Trang 6KẾT LUẬN 102
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ luật Hình sự BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự NCTN : Người chưa thành niên PLHS : Phát luật hình sự
TNHS : Trách nhiệm hình sự
Trang 8loại tội giai đoạn 2004 - 2010
69
2.4 Thống kê số bị can được miễn TNHS giai đoạn 2004 - 2010 70
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thanh thiếu niên là hạnh phúc của mỗi gia đình, là thế hệ tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, có vai trò xung kích quan trọng trong các cuộc cách mạng của dân tộc ta Chính vì thế, vấn đề chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ và đấu tranh phòng, chống, ngăn chặn người chưa thành niên (NCTN) có hành vi vi phạm pháp luật từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, thông qua hoạt động của nhiều cấp ngành nhằm giáo dục, ngăn chặn và hạn chế tình trạng NCTN phạm tội và luôn có sự quan tâm đặc biệt đến việc hoạch định chính sách hình sự Pháp luật hình sự (PLHS) nước ta thể hiện chính sách nhân đạo đối với NCTN phạm tội Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999
đã kế thừa và phát triển BLHS 1985, là bước phát triển mới trong việc giải quyết vấn đề miễn trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội Nhiều quy phạm của chế định miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với NCTN phạm tội
đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh và phòng, chống tội phạm có hiệu quả Tuy nhiên, một số quy định vẫn còn bất cập, công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng PLHS trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức nên một số quy phạm pháp luật của chế định miễn TNHS còn có nhận thức không đúng, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội Nhưng cho đến nay, một số nội dung của chế định này còn có những quan điểm khác nhau và chưa thống nhất Hơn nữa, trong xu thế hội nhập cũng với sự phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, nhiều vấn đề của luật hình sự, trong đó
Trang 10có chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội cũng luôn vận động và phát triển đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện BLHS hiện hành và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng PLHS
là việc làm cần thiết, không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
hiện nay ở Việt Nam Với những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài: "Miễn
trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội theo luật hình
sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Miễn TNHS đối với NCTN phạm tội là một trong những vấn đề cơ bản và cần thiết, khá phức tạp của luật hình sự nên được các nhà nghiên cứu luật hình sự quan tâm và nghiên cứu Ở nước ta, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nội dung liên quan đến chế định miễn TNHS nói chung, miễn TNHS đối với NCTN phạm tội nói riêng Đáng chú ý là những công trình sau:
- Lê Cảm, Về các dạng miễn trách nhiệm hình sự được quy định tại
Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2001
- Lê Cảm, Về sáu dạng miễn trách nhiệm hình sự khác (ngoài Điều 25)
trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 2/2001
- Lê Cảm, Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự,
(Tập III), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2000
- Lê Cảm, Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt
Nam, trong sách: "Nhà nước và pháp luật Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI",
Tập thể tác giả do TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002
Trang 11- Nguyễn Ngọc Chí, Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Luật
hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học (KHXH), số 4/1997
- Thái Quế Dung, Những trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
theo Điều 48 Bộ luật Hình sự, Tạp chí Kiểm sát, Chuyên đề về BLHS, số 4/1999
- Phạm Hồng Hải, Chế định miễn trách nhiệm hình sự trong Bộ luật
Hình sự năm 1999, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12/2001
- Phạm Mạnh Hùng, Một số ý kiến về miễn trách nhiệm hình sự, Tạp
chí Tòa án nhân dân, số 2/1993
- Phạm Mạnh Hùng, Chế định trách nhiệm hình sự trong luật hình sự
Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003
- Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999
(Phần chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000
- Võ Khánh Vinh, Chương XVIII - Miễn trách nhiệm hình sự, trong
sách: "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)", Tập thể tác giả do PGS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Giáo dục, 2001
- Trịnh Tiến Việt, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về miễn trách
nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học năm 2008
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra và giải quyết nhiều vấn đề bức xúc mà lý luận và thực tiễn áp dụng PLHS đặt ra Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các khía cạnh, chuyên sâu ở mức độ luận văn thạc sĩ luật học về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Mục đích
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận nội dung cơ bản của những quy định về miễn TNHS đối với NCTN
Trang 12phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập để đề xuất những giải pháp cụ thể, góp phần tiếp tục hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới Đồng thời, luận văn cũng nhằm giải quyết một số vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm của chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng và tội phạm nói chung ở nước
ta hiện nay
- Nhiệm vụ
Với mục đích nghiên cứu như đã đề cập ở trên, luận văn tập trung vào việc giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của chế định này
trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, đồng thời so sánh chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam với chế định này của một số nước trên thế giới, từ đó làm sáng tỏ bản chất pháp lý của những quy định về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam
- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu việc áp dụng các quy phạm pháp luật
của chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn áp dụng PLHS nước ta Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê trên thực tế, những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng PLHS liên quan đến chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất
- Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam Cụ thể nghiên cứu các vấn đề như: Khái niệm NCTN phạm tội; khái niệm, đặc điểm miễn TNHS đối với NCTN phạm tội Luận văn cũng đi vào đánh giá, nhận xét số liệu từ thực tiễn việc áp dụng
Trang 13PLHS về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội Từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện PLHS và nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định PLHS về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của luật hình sự và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội trên địa bàn cả nước trong thời gian từ 2004 - 2010
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp luật Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản PLHS, tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền, các văn bản pháp lý khác, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgic, phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp để chọn lọc kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học
5 Những đóng góp mới của luận văn
Đây là luận văn thạc sỹ luật học đầu tiên trong khoa học luật hình sự
đề cập đến việc nghiên cứu một cách có hệ thống chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, luận văn đã có một số đóng góp sau:
- Phân tích một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn TNHS đối với NCTN phạm tội như: Khái niệm NCTN phạm tội, khái niệm miễn trách nhiệm đối với NCTN phạm tội theo luật hình
Trang 14sự Việt Nam, những quy định của PLHS một số nước trên thế giới về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội.Với việc phân tích lý giải, luận văn góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức chế định này được thống nhất
- Luận văn nghiên cứu khái quát việc áp dụng các quy định PLHS về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội trong hoạt động thực tiễn ở nước ta, phân tích một số điểm chưa phù hợp của BLHS và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng PLHS liên quan đến việc giải quyết vấn đề miễn TNHS đối với NCTN phạm tội Từ đó, luận văn cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng PLHS được thống nhất, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh và phòng chống tội phạm
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về miễn trách nhiệm hình sự đối với
người chưa thành niên phạm tội
Chương 2: Các trường hợp về miễn trách nhiệm hình sự đối với người
chưa thành niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội trong cả nước giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả việc áp
dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của chế định trách nhiệm hình sự
a Khái niệm trách nhiệm hình sự
Trong khoa học luật hình sự từ trước đến nay, xung quanh vấn đề khái niệm TNHS giữa các nhà hình sự học vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau dưới đây:
- Trong khoa học luật hình sự của Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện nay có một số quan điểm chính về TNHS như sau:
+ "Trách nhiệm hình sự là một giai đoạn nhất định của việc thực hiện các quyền và các nghĩa vụ bởi các chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự khi
mà người phạm tội bị cưỡng chế đối với việc phải những sự tước bỏ nhất định" [Dẫn theo 7, tr 605]
+ "Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ của người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế Nhà nước" [Dẫn theo 7, tr 606]
+ "Trách nhiệm hình sự là tác động có tính chất cưỡng chế - Nhà nước
do quy phạm pháp luật hình sự quy định và được áp dụng đối với người phạm tội bằng bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án" [Dẫn theo 7, tr 607]
+ "Trách nhiệm hình sự là hậu quả bất lợi do luật quy định đối với người phạm tội được tuyên bằng bản án của Tòa án đối với người phạm tội, được thể hiện chính trong việc kết án hoặc kết án có kèm theo hình phạt và án tích" [Dẫn theo 7, tr 607]
Trang 16- Trong khoa học luật hình sự Việt Nam cho đến nay có bốn quan điểm chủ yếu về TNHS như sau:
+ GS.TSKH Đào Trí Úc: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước" [35, tr 41]
+ GS TS Đỗ Ngọc Quang: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Tòa
án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà ười đó đã thực hiện”[22, tr 14]
ng-+ GS TSKH Lê Cảm: "Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định" [1, tr 122]
+ GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và PGS.TS Lê Thị Sơn: “Trách nhiệm
hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích [13, tr 126]
Như vậy, từ các quan điểm khác nhau, trên cơ sở phân tích khoa học
khái niệm TNHS, chúng tôi đưa ra khái niệm TNHS như sau: TNHS là hậu
quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm và hậu quả pháp lý ấy được thể hiện trong việc Tòa án nhân danh Nhà nước kết án người đã bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó, còn người bị kết án phải chịu sự tác động về mặt pháp lý hình sự theo một trình tự tố tụng riêng [7, tr 610]
b Các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự
Trang 17Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm khoa học về khái niệm TNHS, đồng thời căn cứ vào các quy phạm PLHS Việt Nam liên quan đến việc giải
quyết vấn đề TNHS và thực tiễn áp dụng các quy phạm ấy, chúng ta có thể rút
ra được các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sau đây:
- Đặc điểm thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc
thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm
Trách nhiệm hình sự chỉ có thể được áp dụng đối với người thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm, nghĩa là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự Như vậy, không có việc thực hiện hành vi bị luật hình sự coi là tội phạm thì không thể có trách nhiệm hình sự
- Đặc điểm thứ hai: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của cá nhân
người phạm tội
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ thừa nhận trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân là chủ thể
của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự
- Đặc điểm thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự quy định
Trách nhiệm hình sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và người phạm tội Nếu không có bản án kết tội của Tòa án thì không thể nói đến trách nhiệm hình sự đối với một người Điều
72 Hiến pháp năm 1992 của nước ta đã khẳng định một trong những nguyên tắc quan trọng nhằm bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tư pháp hình
sự - nguyên tắc suy đoán vô tội, với nội dung như sau: "Không ai bị coi là có tội
và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
Trang 18luật" Nguyên tắc này cũng đã được ghi nhận tương tự tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự
TNHS được thực hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do BLHS quy định, có thể là hình phạt hoặc biện pháp tư pháp
- Đặc điểm thứ tư: Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm trước Nhà nước, kết
quả của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, được xác định và thực hiện theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định [16, tr 29]
TNHS được thực hiện trong phạm vi của quan hệ PLHS giữa Nhà nước và người phạm tội với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định Hơn nữa, TNHS được xác định theo một trình tự, thủ tục đặc biệt do pháp luật tố tụng hình sự quy định được thực hiện bởi cơ quan tư pháp hình
sự có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án)
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chế định miễn trách nhiệm hình sự
a Khái niệm của miễn trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự là hai chế định của luật hình sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cơ sở của trách nhiệm hình sự
là việc thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự, song không phải cứ hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi đều phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp một người thực hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy định trong luật hình sự, nhưng xét thấy trường hợp đó không cần phải áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
đó vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, thì nhà làm luật sẽ quy định trường hợp đó được miễn trách nhiệm hình sự Khái
Trang 19niệm miễn trách nhiệm hình sự xuất phát từ khái niệm trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, trong BLHS 1985 và BLHS năm 1999, đều không ghi nhận khái niệm miễn TNHS Dưới góc độ khoa học luật hình sự, có một số quan điểm khác nhau về miễn TNHS, cụ thể là:
- Miễn TNHS là "một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và
được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [2, tr 7];
- Miễn TNHS là "không truy cứu trách nhiệm hình sự một người về
việc đã thực hiện một tội phạm được quy định trong luật hình sự, thể hiện trong một văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền" [31, tr 238];
- Miễn TNHS là "miễn những hậu quả pháp lý đối với một tội phạm do
pháp luật quy định" [35, tr 269];
- Miễn TNHS là "không buộc tội một người chịu trách nhiệm hình sự
về tội mà họ đã thực hiện" [34, tr 321];
- Miễn TNHS là "miễn kết tội cũng như áp dụng hình phạt đối với
người thực hiện tội phạm và do vậy họ không bị coi là có tội" [9, tr 14];
Như vậy, từ những quan điểm nêu trên theo chúng tôi, miễn TNHS
được hiểu là việc cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do phạm tội, nếu xét thấy việc truy cứu TNHS người đó là không cần thiết mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như giáo dục, cải tạo người phạm tội [7, tr 753]
b Các đặc điểm cơ bản của miễn trách nhiệm hình sự
Trang 20Từ khái niệm nêu trên kết hợp với việc nghiên cứu những quy định của PLHS Việt Nam hiện hành về miễn TNHS, chúng ta có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Một là, miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh rõ nét
nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam Bên cạnh các chế định khác như: Các trường hợp loại trừ TNHS, các tình tiết giảm nhẹ TNHS, miễn hình phạt, thời hiệu truy cứu TNHS…thì miễn TNHS thể hiện nguyên tắc nhân đạo đối với người phạm tội, bởi pháp luật hình sự không chỉ có biện pháp trừng phạt mà còn kết hợp biện pháp giáo dục, cải tạo, khoan hồng với người phạm tội chưa đến mức phải truy cứu TNHS
Hai là, miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh sự lên án
của Nhà nước và xã hội đối với người có hành vi phạm tội, nhưng người được miễn TNHS thì việc truy cứu TNHS với người đó là không cần thiết mà vẫn đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, khi họ có đầy đủ những điều kiện nhất định Mặc dù được miễn TNHS nhưng người này vẫn có thể chịu một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế phi hình sự thuộc các ngành luật khác
Ba là, miễn TNHS là một trong những biện pháp của Nhà nước để
thực hiện chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội và thể hiện phương châm trong đường lối đấu tranh phòng và chống tội phạm - "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng", "trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục, cải tạo" trong luật hình sự Việt Nam
Bốn là, miễn TNHS gắn liền và quan hệ chặt chẽ với TNHS Khái niệm
miễn TNHS cũng xuất phát từ khái niệm TNHS Bên cạnh đó, nếu như TNHS
là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu do đã thực hiện hành
vi phạm tội và được thể hiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do luật hình sự quy định, thì miễn TNHS có nghĩa lµ kh«ng buộc người đó phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi đó
Trang 21mà lẽ ra, nếu không có những điều kiện do luật định, thì họ phải chịu TNHS
trên những cơ sở chung Cơ sở của TNHS là việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm do người có lỗi thực hiện, thì cơ sở của miễn TNHS là việc có những điều kiện do PLHS quy định
để không buộc một người phải chịu TNHS, mặc dù hành vi của người đó đã
thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
Mặt khác, đối tượng bị áp dụng TNHS và được áp dụng miễn TNHS
đều là người phạm tội, tức là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm
Năm là, miễn TNHS chỉ áp dụng đối với người mà hành vi của họ đã
thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng họ lại có những điều kiện nhất định để được miễn TNHS Chẳng hạn, khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì người phạm tội được miễn TNHS (khoản 2 Điều 25) hay khi có quyết định đại xá (khoản 3
Điều 25 BLHS) Ngoài ra, vì người được miễn TNHS bị coi là người đã thực
hiện hành vi phạm tội, cho nên họ không được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật bồi thường nhà nước ngày 18/6/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (khoản 1 Điều 27)
Sáu là, người được miễn TNHS không phải chịu các hậu quả pháp lý
hình sự bất lợi của việc phạm tội như: họ không bị truy cứu TNHS, không bị
kết tội, không phải chịu hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế về hình sự khác
và không bị coi là có án tích Mặc dù BLHS hiện hành các nhà làm luật nước
ta chưa quy định nhưng căn cứ vào Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986
về việc Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999
của Tòa án nhân dân tối cao "Về việc giải đáp bổ sung một số vấn đề về áp
Trang 22dụng pháp luật" và thực tiễn xét xử cho thấy, người phạm tội được miễn
TNHS vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý
thuộc các ngành luật khác như: tố tụng hình sự; dân sự; hành chính; kỷ luật
Bảy là, phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể,
miễn TNHS chỉ được thực hiện bởi một cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền và quyết định phải được thể hiện bằng văn bản quy định trong Bộ luật
Tố tụng hình sự năm 2003 Cụ thể, các cơ quan này bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án (các điều 164, 169, 181, 249 và 314) khi có một trong các căn cứ để miễn TNHS theo quy định tương ứng của BLHS Bên cạnh đó, trường hợp trong một vụ án hình sự có đồng phạm thì việc miễn TNHS chỉ đặt ra đối với người nào nếu đáp ứng đầy đủ những điều kiện do luật định, còn đối với những người đồng phạm khác phải chịu TNHS trên những cơ sở chung [39, tr 110]
c Ý nghĩa của việc nghiên cứu chế định miễn trách nhiệm hình sự
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp ở
Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu chế định miễn TNHS của PLHS nước ta
có ý nghĩa quan trọng thể hiện trên các phương diện sau:
- Chế định miễn TNHS là chế định nhân đạo nhất của luật hình sự
trong đường lối xử lý tội phạm Vì việc giải quyết vấn đề miễn TNHS hoàn toàn không cần thiết và không phải bàn đến khi trong hành vi của công dân không có các dấu hiệu của cấu thành tội phạm;
- Từ thực tiễn áp dụng các quy phạm PLHS về miễn TNHS cần phải
lý giải, luận chứng và đưa ra mô hình lý luận dưới góc độ nhận thức - khoa học nhằm góp phần điều chỉnh trong PLHS thực định các trường hợp miễn TNHS khác cũng chính là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng và cần thiết của khoa học luật hình sự nước ta hiện nay;
Trang 23- Chế định miễn TNHS thể hiện chính sách phân hóa và thể hiện
phương châm trong đường lối xử lý Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục thuyết phục, cải tạo Qua đó, nhằm bảo vệ quyền con người trong tư pháp hình sự;
- Việc nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và sâu sắc chế định miễn TNHS
sẽ hỗ trợ cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án áp dụng chính xác các quy phạm của chế định này, đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và chứng minh rằng, bằng việc phân tích khái niệm miễn TNHS, các đặc điểm
cơ bản và các căn cứ pháp lý của những trường hợp miễn TNHS; v.v vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh và phòng chống tội phạm
1.2 KHÁI NIỆM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI VÀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ CỦA NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.2.1 Khái niệm người chưa thành niên phạm tội
Người chưa thành niên phạm tội là thuật ngữ được sử dụng trong ngành luật hình sự và luật tố tụng hình sự Tuy nhiên lại không có khái niệm pháp lý chính thức nào giải thích thuật ngữ này dù BLHS, TTHS có quy định chương riêng về NCTN phạm tội Trong PLHS, thuật ngữ NCTN được sử dụng dưới hai góc độ vừa là chủ thể tội phạm, vừa là đối tượng tác động của tội phạm Dưới góc độ là chủ thể của tội phạm thì tuổi của NCTN phạm tội được giới hạn hẹp hơn so với tuổi của NCTN trong các ngành luật khác, đó là
từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi Theo Điều 68 BLHS 1999 quy định: "Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này" [26] Như vậy một câu hỏi được đặt ra ở đây là tại sao PLHS lại quy định độ tuổi chịu TNHS của NCTN là 14 tuổi? Ở mỗi quốc gia trên thế giới có quy định độ tuổi chịu TNHS của NCTN rất khác nhau Chẳng hạn: Tuổi chịu TNHS của Singapo là
Trang 24từ đủ 7 tuổi đến 12 tuổi trở lên, của Anh là từ đủ 10 tuổi đến dưới 14 tuổi, của Đức, Nga, Nhật Bản là từ đủ 14 tuổi trở lên, của Canada là từ đủ 12 tuổi trở lên, của Thụy Điển là đủ 15 tuổi, Cuba là 16 tuổi, trong khi đó Chilê, Tâybanha lại không quy định độ tuổi tối thiếu chịu TNHS Sở dĩ, PLHS mỗi Quốc gia có quy định khác nhau như vậy là vì phụ thuộc vào điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội, cũng như sự phát triển của từng nước Ở nước ta, PLHS
có quy định 14 tuổi trở lên phải chịu TNHS là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Trong độ tuổi này, NCTN đã phát triển nhanh về tâm sinh lý, họ đã ý thức được hành vi của mình, tự ý thức được đâu là đúng, là sai cũng như ý thức được phần nào việc gì là đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm Do đó họ có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm về chính hành vi sai trái do mình thực hiện
Theo Điều 12 BLHS 1999 có sự phân hóa TNHS trong lứa tuổi NCTN phạm tội, quy định: "Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình
sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng"
Để xác định TNHS của NCTN thì phải xác định được họ đã thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, Điều 8 BLHS quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý Do đó, để xác định một người nào đó phải chịu TNHS thì phải xác định các yếu tố sau: sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm được quy định trong BLHS, người thực hiện hành vi phạm tội phải có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định, người đó thực hiện hành vi với lỗi cố ý hoặc vô ý, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ Tóm lại, trên cơ sở lập luận trên có thể đưa ra
định nghĩa khoa học về NCTN phạm tội như sau: NCTN phạm tội là người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi đã có lỗi cố ý hoặc vô ý trong việc thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm
Trang 251.2.2 Chính sách hình sự của nhà nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội
Chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời là chính sách pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng và bao gồm tổng thế bốn chính sách: Chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách PLHS, chính sách pháp luật TTHS và chính sách THAHS; với tư cách là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm đảm bảo thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, góp phần đưa các nguyên tắc của NNPQ vào đời sống thực tế, giáo dục công dân ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tiến tới xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam Như vậy:
Chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật thi hành án hình sự, cũng như thực tiễn
áp dụng chúng, đồng thời soạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh
phòng và chống tội phạm [7, tr 35]
Chính sách PLHS của nhà nước đối với NCTN phạm tội là những phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng PLHS đối với NCTN phạm tội, đảm bảo sự ổn định của hệ thống PLHS, tăng cường việc bảo vệ các quyền và tự do của NCTN, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của Nhà nước bằng PLHS, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm do NCTN thực hiện
Trong BLHS Việt Nam hiện hành, có một chương riêng quy định về NCTN phạm tội, trong đó có quy định nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội với mức độ giảm nhẹ đặc biệt đáng kể so với nguyên tắc về người phạm tội nói chung Trên thực tế, NCTN chịu sự tác động rất lớn và chủ yếu của
Trang 26môi trường sống xung quanh Sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như các đặc điểm nhân thân khác của NCTN chịu sự chi phối và sự giáo dục rất lớn từ gia đình,bạn bè, nhà trường và xã hội Nếu như họ sống trong môi trường không lành mạnh, tiếp xúc với nhiều tệ nạn xã hội thì họ sẽ dễ dàng tiếp thu những thói hư tật xấu, dễ bị tha hóa về nhân cách, cũng như dễ bị kích động, lôi kéo vào những hành vi vi phạm pháp luật Và ngược lại nếu trong môi trường lành mạnh thì NCTN sẽ có những điều kiện phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần, sống lành mạnh và trở thành người có ích cho xã hội Vì thế trường hợp NCTN phạm tội, ngoài trách nhiệm của cá nhân
họ thì gia đình, nhà trường và xã hội cũng phải chịu một phần trách nhiệm rất lớn Vì việc chăm sóc,giáo dục, quản lý lứa tuổi này còn nhiều thiếu sót, không quan tâm đúng mức, do đó chưa ngăn chặn, phòng ngừa được những tác động và ảnh hưởng xấu của các tệ nạn xã hội và những hành vi tiêu cực từ NCTN phạm tội gây ra Việc xử lý những đối tượng này chủ yếu nhằm mục đích giáo dục họ có ý thực tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống trong xã hội, giúp họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành một công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội Chính vì vậy, trong các nguyên tắc cơ bản xử lý NCTN phạm tội được quy định tại Điều 69 BLHS năm 1999, đã hạn chế tối đa việc truy cứu TNHS đối với NCTN phạm tội và hình phạt đối với họ; hạn chế áp dụng các chế tài hình sự nghiêm khắc Tuy nhiên, trong mọi trường hợp khi áp dụng luôn theo hướng giảm nhẹ đáng
kể và thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội trong trường hợp tương
tự Hơn nữa, trong nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội, luật còn quy định có thể áp dụng biện pháp miễn TNHS, điều này được quy định tại khoản 2
Điều 69 BLHS: "Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan
tổ chức nhận giám sát, giáo dục" [26]
Trang 27Người chưa thành niên vừa là đối tượng tác động của tội phạm cần được PLHS bảo vệ đặc biệt, cũng vừa là chủ thể của tội phạm Với vai trò là chủ thể của tội phạm, NCTN phạm tội là một dạng đặc thù của người phạm tội nói chung Việc quy định một người ở trong độ tuổi như vậy mới được coi
là NCTN phạm tội được nhà làm luật dựa trên cơ sở kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học, cũng như sự khảo sát về tâm lý - xã hội và lứa tuổi, đồng thời tổng kết kinh nghiệm của thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm và căn cứ vào chính sách hình sự của Nhà nước ta đối với NCTN phạm tội Do đó, việc xử lý những đối tượng này với mục đích giáo dục và giúp đỡ họ có điều kiện sửa chữa sai lầm, làm lại cuộc đời và trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội
1.3 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.3.1 Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Từ khái niệm miễn TNHS nói chung trong luật hình sự, chúng ta có thể hiểu khái niệm miễn TNHS đối với NCTN phạm tội trong luật hình sự như sau: Miễn TNHS đối với NCTN phạm tội là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng văn bản với nội dung hủy bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội đối với NCTN phạm tội
bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó, do các cơ quan tư pháp hình
sự có thẩm quyền tùy thuộc vào giai đoạn TTHS tương ứng áp dụng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện luật định
1.3.2 Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
Ngoài những đặc điểm nói chung của miễn TNHS trong luật hình sự, thì miễn TNHS đối với NCTN còn có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Trang 28Thứ nhất, đây là trường hợp miễn TNHS đặc biệt dành riêng cho
NCTN phạm tội, là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta đối với NCTN phạm tội
Thứ hai, miễn TNHS chỉ có thể đặt ra đối với NCTN phạm tội khi mà
hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của CTTP cụ thể nhưng đối với họ lại có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định Đây là trường hợp miễn TNHS mang tính chất tùy nghi Bởi lẽ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có thể quyết định áp dụng hoặc không áp dụng miễn TNHS đối với NCTN phạm tội khi họ có đầy đủ căn cứ pháp lý và điều kiện do luật định
Thứ ba, theo giai đoạn TTHS tương ứng cụ thể, miễn TNHS được
thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyết định được thể hiện bằng văn bản Cụ thể, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án (các điều 164, 169, 181 và 249 Bộ luật TTHS năm 2003)
Thứ tư, NCTN phạm tội được miễn TNHS đương nhiên không phải
chịu các hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện như không bị truy cứu TNHS, không phải chịu hình phạt, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội Tại đoạn 2 điểm 3 phần VIII Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS năm 1986 đã chỉ rõ:
"Khi miễn trách nhiệm hình sự thì Tòa án không được quyết định bất cứ loại hình phạt nào nhưng vẫn có thể quyết định việc bồi thường cho người bị hại
và giải quyết tang vật" Như vậy NCTN phạm tội vẫn có thể phải chịu một hoặc nhiều biện pháp tác động về mặt pháp lý thuộc các ngành luật tương ứng khác như: buộc phải phục hồi lại tình trạng ban đầu, buộc bồi thường thiệt hại
Thứ năm, PLHS Việt Nam quy định chế định miễn TNHS đối với
NCTN phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong áp dụng pháp luật cũng như giáo
Trang 29dục cải tạo NCTN phạm tội, không những động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập cộng đồng mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ trở thành người có ích trong xã hội Qua đó góp phần thể hiện rõ nét quan điểm của Nhà nước là không để lọt tội phạm và người phạm tội cũng như không làm oan người vô tội, phần nào làm giảm nhẹ cường độ việc áp dụng TNHS đối với NCTN phạm tội khi có đầy
đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện theo luật định
1.4 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT HÌNH
- Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 xá miễn cho một số tội phạm trước ngày 19/08/1945;
- Thông tư số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng chính phủ về đại xá;
- Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967;
Trang 30- Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970;
- Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành sắc lệnh quy định về các tội phạm và hình phạt;
- Pháp lệnh trừng trị các tội hối lộ ngày 20/05/1981;
- Pháp lệnh trừng trị tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 10/07/1982 [8, tr 189]
Như vậy, tuy không chính thức quy định với tính chất là một chế định độc lập trong PLHS nhưng vấn đề miễn TNHS đối với NCTN đã được áp dụng thực tiễn được thừa nhận trong một số văn bản pháp lý với nhiều tên gọi khác nhau theo các giai đoạn thời kỳ của đất Nước PLHS thực định có ghi nhận và thực tiễn xét xử có áp dụng miễn TNHS đối với NCTN phạm tội là vì xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước nói chung và luật hình Việt Nam sự nói riêng, mặc dù truy cứu TNHS và xử phạt
về hình sự là rất quan trọng trong việc bảo vệ và củng cố trật tự pháp luật song đó không phải là biện pháp duy nhất mà đòi hỏi ngày càng mở rộng các biện pháp tác động xã hội khác để đấu tranh và phòng chống tội phạm Mặt khác, miễn TNHS đối với NCTN phạm tội được quy định trong các văn bản với tên gọi khác nhau được áp dụng trong thời kỳ này chủ yếu thực hiện theo phương châm trong đường lối xử lý là "Nghiêm trị kết hợp với khoan hồng",
"trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo" Tuy nhiên với tình hình lúc đó là bảo
vệ nền độc lập và trật tự xã hội của Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa mới ra đời nên chưa có các quy định cụ thể mà các điều kiện để miễn TNHS được xác định tương tự như các điều kiện xử nhẹ hoặc miễn hình phạt được quy định tại một số điều ở các văn bản pháp lý khác nhau qua các thời kỳ lịch
sử từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi có BLHS đầu tiên của Việt Nam năm 1985 dưới đây mà chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu:
Trang 31Điều 1 mục 1 Sắc lệnh số 52/SL ngày 20/10/1945 văn bản PLHS đầu tiên của giai đoạn này quy định về đại xá cho một số tội phạm trước ngày 19/8/1945 Theo đó, những người phạm tội trước ngày 19/8/1945 về những loại
kể sau đây được hoàn toàn xá miễn: "1 Tội phạm vào luật lệ báo chí; 2 Tội phạm vào luật lệ hội họp….8 Tội vô ý giết người hoặc đánh người có thương tích; 9 Tội vi cảnh" [33, tr 184] Theo đó, đại xá là biện pháp khoan hồng của Nhà nước, xác định việc tha tội cho người phạm tội, trong đó có NCTN phạm tội; có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, thường chỉ được ban hành vào những dịp có sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của đất Nước Như vậy, miễn TNHS đối với NCTN phạm tội được áp dụng trong trường hợp xá miễn Theo Điều 4 của Sắc lệnh số 52/SL thì:
Những tội được xá miễn đều coi như không bao giờ, quyền công tố sẽ tiêu hủy, những chính hình và phụ hình mà Tòa án đã tuyên đều bỏ hết Những tiền phạt hoặc án phí mà công khố đã thu của tội nhân rồi thì không trả lại nữa.Những của cải đã tịch biên và phát mại rồi sẽ không trả lại nữa… [33]
Mục II trong Thông tư số 314-TTg ngày 09/11/1954 của Thủ tướng Chính phủ về đại xá có nêu: "Người đang bị giam mà được đại xá thì được tha ngay Những người đã mãn hạn tù hoặc được ân xá, ân giảm và được tha trước đây và những người này được tha đều được hưởng quyền công dân như ứng cử, bầu cử và các quyền tự do, dân chủ…" [33]
Ngày 20/5/1981 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ Tại Điều 8 Pháp lệnh đã quy định cụ thể trường hợp miễn TNHS, đó là: "Người phạm tội hối lộ, trước khi bị phát giác, chủ động khai rõ
sự việc, giao nộp đầy đủ của hối lộ thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự"
Như vậy, trong giai đoạn này miễn TNHS nói chung, miễn TNHS đối với NCTN phạm tội nói riêng là biện pháp khoan hồng đặc biệt Tuy nhiên, để lựa chọn biện pháp miễn TNHS đối với NCTN phạm tội hay miễn hình phạt, giảm hình phạt… để áp dụng trong trường hợp cụ thể thì ngoài việc áp dụng
Trang 32điều kiện quy định trong từng điều luật tương ứng còn dựa trên căn cứ khác như đường lối xử lý, chính sách của Đảng và nhà Nước trong từng thời điểm, hoàn cảnh lịch sử cũng như yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm từng nơi, từng lúc và từng vụ án cụ thể [8, tr 197]
Trên cơ sở tổng kết nghiên cứu các văn bản PLHS đã được ban hành trong thời kỳ trên cho thấy những trường hợp được xem xét để áp dụng miễn TNHS nói chung cũng như miễn TNHS đối với NCTN phạm tội nói riêng có thể bao gồm:
Luật hình sự Việt Nam được pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 BLHS năm 1985 đã quy định cả hệ thống các nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội Bên cạnh đó còn quy định các biện pháp miễn TNHS đối với NCTN phạm tội tại khoản 3 Điều 59 BLHS năm 1985, quy định như sau:
Trang 33"Viện kiểm sát có thể quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình, tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát, giáo dục" [24] Như vậy, NCTN phạm tội có thể được miễn TNHS nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và nếu được gia đình hoặc tổ chức xã hội nhận trách nhiệm giám sát giáo dục Về nguyên tắc, một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bị BLHS coi là tội phạm thì người đó phải chịu TNHS về hành vi ấy Người phạm tội nói chung cũng được miễn TNHS nhưng chỉ trong trường hợp "do sự chuyển biến của tình hình mà hành
vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và do
sự ăn năn hối cải, thái độ tích cực của người phạm tội góp phần hiệu quả trong việc phát hiện và điều tra tội phạm…" [24, khoản 1 Điều 48] Đối với NCTN phạm tội có thêm một điều kiện nữa để có thể được miễn TNHS so với điều kiện miễn TNHS đối với người phạm tội nói chung, đồng thời điều kiện
đó còn phải gắn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong xã hội trong công tác cải tạo, giáo dục NCTN phạm tội ngay cả khi họ được miễn TNHS NCTN chỉ được đưa ra xét xử trong trường hợp cần thiết
1.5 KHÁI QUÁT CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.5.1 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga
BLHS Liên Bang Nga được Đuma Quốc gia Nga thông qua ngày 24/5/1996 và được tổng thống Liên bang Nga ký Luật số 64 ngày 13/6/1996
"Về việc thi hành Bộ luật Hình sự của Liên bang Nga", đồng thời Bộ luật có hiệu lực từ ngày 1/1/1997 [39, tr 130] Theo đó, các nhà làm luật nước này đã
ghi nhận miễn TNHS với tính chất là một chế định độc lập trong BLHS này tại một chương riêng biệt (Chương 11) bao gồm bốn điều luật tương ứng là
Trang 34bốn trường hợp miễn TNHS, mà cụ thể là: "Do người phạm tội ăn năn hối cải (Điều 76); Do người phạm tội đã hòa giải với người bị hại (Điều 77); Do sự thay đổi của tình hình (Điều 78) và; Do đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
"Người chưa thành niên có thể bị áp dụng cùng một lúc nhiều biện pháp giáo dục bắt buộc"
Như vậy, khi nghiên cứu các quy định về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội của PLHS Liên Bang Nga chúng tôi nhận thấy các quy định đó là tương đối chi tiết, cụ thể, rõ ràng, phản ánh nguyên tắc nhân đạo của PLHS đối với NCTN phạm tội Từ đó chúng ta có thể rút ra những điểm giống nhau giữa BLHS Việt Nam và BLHS Liên bang Nga Cả hai Bộ luật đều dành một chương quy định về NCTN phạm tội, đó là chương X BLHS Việt Nam, chương XIV BLHS Liên Bang Nga Trong các chương đó có quy định cụ thể
về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội, mặc dù về các căn cứ và điều kiện áp dụng các quy định về miễn TNHS đối với NCTN phạm tội của hai Nước là
Trang 35khác nhau nhưng về bản chất là giống nhau đều thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước dành cho NCTN phạm tội
1.5.2 Bộ luật Hình sự Tây Ban Nha năm 1995
Miễn TNHS được quy định tại Chương II BLHS Tây Ban Nha - "Các
căn cứ miễn trách nhiệm hình sự" (các điều 20-21) Tuy nhiên, mặc dù tên
chương là như vậy nhưng trong nội dung lại đề cập đến các trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội không phải chịu - loại trừ TNHS [39, tr 136]:
- Người chưa đến 18 tuổi;
- Người trong thời gian thực hiện tội phạm vì bị đầu độc
bằng rượu mạnh, chất độc, chất ma túy hoặc chất hướng thần khác
mà không có ý định phạm tội hoặc không nhìn thấy trước hoặc không buộc phải nhìn thấy trước khả năng là mình sẽ phạm tội, cũng như do ảnh hưởng của các chất này đã cản trở sự nhận thức được của người đó tính chất trái pháp luật của hành vi hoặc cản trở
sự điều khiển hành vi được thực hiện;
- Người trong thời gian thực hiện hành vi phạm tội vì bị rối
loạn nào đó về tâm thần mà không thể nhận thức được tính chất trái
pháp luật của hành vi do mình thực hiện hoặc không thể điều khiển
được hành vi của mình
- Người bị rối loạn về tâm thần làm mất năng lực nhận thức
hoạt động của mình từ lúc sinh ra hoặc từ lúc còn thơ ấu;
- Người đã hành động trong phòng vệ chính đáng;
- Người đã hành động trong tình thế cấp thiết;
- Người đã hành động để thực hiện trách nhiệm, quyền hợp
pháp, cũng như các nghĩa vụ theo chức vụ hoặc nghề nghiệp của mình
Trang 36- Người đã hành động trong tình trạng khiếp sợ mãnh
liệt [5, tr 51-52]
1.5.3 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Quy định tại Chương IV - "Miễn trừ trách nhiệm hình sự" với những
trường hợp sau:
- Người chưa đủ 15 tuổi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm
tội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 17) nhưng Tòa án phải áp dụng biện pháp giáo dục, cải tạo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự;
- Người bị mất trí, không nhận thức được hậu quả của hành
vi do mình gây ra thì không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng Tòa án phải buộc họ chữa bệnh theo quy định của Bộ luật Hình sự (Điều 18);
- Người thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái bị phụ
thuộc, bị đe dọa, uy hiếp thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp tội phạm nghiêm trọng thì sự đe dọa, uy hiếp chỉ
là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (Điều 19);
- Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp phòng
vệ chính đáng, thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 20);
- Người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp tình thế cấp thiết thì không bị coi là phạm tội và không phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 21) [18, tr 17]
Như vậy, thực chất các trường hợp đã nêu trong BLHS nước này chính xác
phải gọi là các trường hợp loại trừ TNHS theo quan điểm của các nhà làm luật
nước ta, vì thực ra bản chất của trường hợp không phạm tội hoàn toàn khác với trường hợp phạm tội mà người phạm tội được miễn TNHS [39, tr 137]
Trang 37GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
2.1 CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự áp dụng đối với mọi trường hợp phạm tội nói chung trong đó có miễn trách nhiệm hình
sự đối với người chưa thành niên trong Bộ luật Hình sự hiện hành
a Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm
tội (Điều 19 Bộ luật Hình sự)
Theo Điều 19 BLHS năm 1999 quy định: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS” Như vậy, căn cứ vào nội dung điều luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua, chúng ta có thể chỉ ra những điều kiện để được miễn TNHS như sau:
Một là, người phạm tội chấm dứt thực hiện ý định hoặc hành vi phạm
tội phải tự nguyện và dứt khoát, tức là người đó phải từ bỏ thực sự ý định phạm tội hoặc hành vi phạm tội mà họ đã bắt đầu, chứ không phải tạm thời dừng lại chốc lát để chờ cơ hội thuận lợi khác hay chuẩn bị kỹ lưỡng sẽ tiếp tục phạm tội Đối với người phạm tội thì họ hoàn toàn có khả năng khách
Trang 38quan để thực hiện và ngay cả thực tế khi dừng lại, người phạm tội vẫn tin tưởng rằng hiện tại không có trở ngại gì và nếu bản thân muốn thì họ vẫn có thể tiếp tục thực hiện được tội phạm Những trường hợp chủ thể dừng lại việc thực hiện tội phạm đến cùng do các nguyên nhân khách quan khác (ví dụ: do
bị thúc ép, do bị bắt buộc, do bị phát hiện hay gặp trở ngại khác ) đều không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
Hai là, việc chấm dứt thực hiện tội phạm chỉ xảy ra trong trường hợp
tội phạm chưa hoàn thành Bởi lẽ, trường hợp tội phạm hoàn thành thì người phạm tội đã thực hiện được đầy đủ những dấu hiệu khách quan và chủ quan của tội phạm và việc dừng lại không làm thay đổi tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do người đó thực hiện
Ba là, người phạm tội tự quyết định chấm dứt việc thực hiện tội phạm,
mặc dù vào thời điểm thực tế quyết định chấm dứt việc thực hiện tội phạm, người phạm tội vẫn nhận thức được khả năng thực tế khách quan vẫn cho phép tiếp tục thực hiện tội phạm Tuy nhiên, trường hợp nếu một người nào
đó quyết định ngừng thực hiện tội phạm sau khi thấy rõ ràng điều kiện khách quan không cho phép thực hiện được tội phạm thì không được thừa nhận là tự
ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội Do đó, nếu đáp ứng đủ những điều kiện trên, thì người này được miễn TNHS về tội định phạm, nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đầy đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu TNHS về tội này Chẳng hạn, A đã mua súng để giết B, mặc dù A tự ý chấm dứt việc giết người, thì A vẫn phải chịu TNHS về hành vi mua bán trái phép
vũ khí quân dụng [39, tr 141]
b Miễn trách nhiệm hình sự do sự chuyển biến của tình hình (khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự)
Khoản 1 Điều 25 BLHS quy định: "Người phạm tội được miễn trách
nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến
Trang 39của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" Đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc đối với
hai dạng cụ thể, đó là khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa
Theo Từ điển Tiếng Việt, "chuyển biến" được hiểu là "biến đổi sang trạng thái khác với trước, thường là theo hướng tích cực" [20, tr 188], còn
"tình hình" là "tổng thể nói chung những sự kiện, hiện tượng có quan hệ với nhau, diễn ra trong một không gian, thời gian nào đó, cho thấy một trạng thái hoặc xu hướng phát triển của sự vật" [20, tr 996] Do đó, căn cứ "sự chuyển biến của tình hình" mặc dù chưa được các nhà làm luật nước ta hướng dẫn, song ở góc độ chung được hiểu là sự thay đổi những điều kiện trong đời sống
xã hội về các phương diện khác nhau như kinh tế, chính trị-xã hội, pháp luật, văn hóa, khoa học Tuy nhiên, sự thay đổi này là quy luật và cơ sở đưa đến một trong hai điều kiện để người phạm tội được miễn TNHS tương ứng với hai dạng dưới đây:
b.1 Trường hợp do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Đây là trường hợp khi các cơ quan tiến
hành tố tụng tiến hành truy cứu TNHS đối với người đã phạm tội, do tình hình đã thay đổi, PLHS hiện hành quy định hành vi do người đó thực hiện đã không còn nguy hiểm cho xã hội, mặc dù vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi đó được PLHS quy định là tội phạm Căn cứ để xác định
do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội là quy định của Nhà nước có liên quan đến hành vi phạm tội và những quy định này phải được thể hiện bằng văn bản có tính pháp quy của Nhà nước Do đó, sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có thể được hiểu như sau:
Trang 40Một là, sự thay đổi các điều kiện khách quan trong các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội, đồng thời sự thay đổi ấy nhất thiết phải là yếu tố làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Hay nói cách
khác, "trước khi có sự thay đổi của tình hình thì hành vi ấy bị coi là nguy
hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự nên việc thực hiện hành vi này bị coi là tội phạm và người thực hiện nó phải chịu trách nhiệm hình sự" [4, tr 95-96] Chẳng hạn, do chuyển đổi cơ chế tập trung quan liêu
bao cấp sang nền kinh tế thị trường, BLHS năm 1999 đã không quy định người nào thực hiện các hành vi như: lạm sát gia súc, buôn bán tem phiếu phải chịu TNHS do những hành vi này không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, mặc dù chúng được BLHS năm 1985 quy định là tội phạm và người thực hiện các hành vi đó phải chịu TNHS
Hai là, do hành vi được thực hiện vào thời điểm trước đây mà pháp
luật quy định là tội phạm và chủ thể bị coi là có TNHS đối với việc thực hiện hành vi ấy, nhưng tại thời điểm điều tra, truy tố hoặc xét xử hành vi ấy đã mất
đi tính nguy hiểm cho xã hội, nên PLHS quy định là người phạm tội được miễn TNHS
b.2 Trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội
không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Đây là dạng thứ hai của trường hợp quy
định tại khoản 1 Điều 25 Bộ luật này và nếu thỏa mãn, người phạm tội cũng được miễn TNHS Sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa được hiểu là:
Một là, sự thay đổi của tình hình ở đây phải xảy ra sau khi chủ thể
thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời tại thời điểm khi có sự chuyển biến của tình hình thì tội phạm mà người đó thực hiện nhất thiết phải đang ở trong giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử