1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

112 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.4 Một số đề xuất về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, vị trí của cơ quan Viện kiểm sát trong chiến lược cải cách tư pháp từ năm 2006 đến năm 2020 81 3.4.1 Đề xuất về việc không tiếp

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ LAN CHI

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ LAN CHI

KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ

MÃ SỐ: 50514

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TSKH LÊ VĂN CẢM

HÀ NỘI – NĂM 2005

Trang 3

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

1.1 Nhận thức chung về kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự 7

1.1.1 Khái niệm kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự 7

1.1.2 Đối tƣợng, phạm vi và hình thức kiểm sát việc TTPL 11

1.2.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố 19

1.2.2 Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố với

chức năng kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

20

1.3 Khảo cứu một số mô hình tổ chức thực hiện quyền công tố và giám sát, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự trên thế giới

23

1.3.1 Mô hình mô hình tổ chức thực hiện quyền công tố và giám

sát việc TTPL trong tố tụng hình sự theo hệ thống pháp luật

Anglo Saxon

24

1.3.2 Mô hình mô hình tổ chức thực hiện quyền công

tố và giám sát TTPL trong tố tụng hình sự theo hệ thống

25

Trang 5

pháp luật Châu Âu lục địa

1.3.3 Mô hình mô hình tổ chức thực hiện hoạt động thực hành

quyền công tố và kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự theo

hệ thống pháp luật XHCN (trước đây) và Việt Nam hiện nay

27

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG

TỐ TỤNG HÌNH SỰ

35

2.1 Kiểm sát việc TTPL đối với một số hoạt động trong giai đoạn

khởi tố - điều tra vụ án hình sự

35

2.1.1 Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và

kiến nghị khởi tố

35

2.1.3.2 Kiểm sát các hoạt động hỏi cung, lấy lời khai của

những người tham gia tố tụng

46

2.1.3.3 Kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn 47

2.2 Kiểm sát việc TTPL đối với một số hoạt động trong giai đoạn

xét xử các vụ án hình sự

50

2.2.1 Kiểm sát hoạt động chuẩn bị xét xử, thành phần và sự có

mặt của những người tiến hành và tham gia tố tụng tại phiên tòa

51

2.2.2 Kiểm sát việc thực hiện giới hạn xét xử của Hội đồng xét xử 52

2.2.3 Kiểm sát việc TTPL của Hội đồng xét xử trong quá trình

điều khiển phiên tòa

53

2.2.4 Kiểm sát việc TTPLsau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm 58

Trang 6

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP

LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

63

3.1.1 Đề xuất bổ sung quy định Viện kiểm sát kiểm sát việc tiếp

nhận tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan

điều tra

64

3.1.2 Đề xuất bãi bỏ quy định về quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử 64 3.1.3 Đề xuất hoàn thiện các quy định về khám nghiệm hiện trường 65 3.1.4 Đề xuất hoàn thiện các quy định về chế định biện pháp ngăn chặn

và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn

kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

75

3.3.1 Giải pháp về nâng cao vai trò của những người tham gia

tố tụng

76

3.3.1.1 Giải pháp về nâng cao vai trò của luật sư 76

3.3.1.2 Giải pháp về nâng cao vai trò của những người tham gia

tố tụng khác

77

3.3.2 Giải pháp về nâng cao vai trò của các cơ quan thông tấn, báo chí 79

Trang 7

3.4 Một số đề xuất về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, vị trí

của cơ quan Viện kiểm sát trong chiến lược cải cách tư pháp từ năm 2006 đến năm 2020

81

3.4.1 Đề xuất về việc không tiếp tục duy trì hoạt động kiểm sát

việc TTPL trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

83

3.4.2 Đề xuất bỏ quy định về hoạt động kiểm sát việc TTPL của

những người tham gia tố tụng

85

3.4.3 Đề xuất về việc điều chỉnh chức năng, vị trí cơ quan Viện

kiểm sát trong bộ máy Nhà nước

87

PHỤ LỤC: PHIẾU THĂM DÒ Ý KIẾN VÀ BẢNG TỔNG KẾT KẾT QUẢ THĂM DÒ Ý KIẾN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI

CÁC VKSND ĐỊA PHƯƠNG

92

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trong những năm vừa qua, công tác tư pháp nói chung và công tác giải quyết án hình sự nói riêng đã có những chuyển biến đáng kể, đặc biệt là sau

sự ra đời Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/1/2002 “về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Dưới sự định hướng và điều chỉnh của những văn bản này, các hoạt động tố tụng hình sự được tiến hành một cách minh bạch hơn, khách quan hơn, quyền lợi của người tham gia tố tụng được đảm bảo hơn, xu thế mở rộng tranh tụng và dân chủ hoá hoạt động tố tụng cũng tiếp tục được khẳng định và mở rộng

Tuy nhiên, thực tiễn quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự cho thấy còn tồn tại nhiều hiện tượng vi phạm pháp luật của chính các

cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Đó là những vi phạm về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn tố tụng, thậm chí tồn tại những hiện tượng vi phạm nghiêm trọng pháp luật như cố ý không xử lý về hình sự, không thực hiện đầy đủ các hoạt động điều tra nhằm thu thập những chứng cứ quan trọng, không đảm bảo các quyền bào chữa cơ bản của người bị buộc tội, tình trạng tham nhũng, tha hoá của một bộ phận không nhỏ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và các chức danh tư pháp khác Điều đáng quan ngại là số lượng các vi phạm pháp luật kể trên bị phát hiện, xử lý quá muộn, quá ít, không tương xứng với tính chất và mức độ vi phạm

Để xảy ra tình trạng trên, Viện kiểm sát có một phần trách nhiệm không nhỏ, bởi vì, kiểm sát các hoạt động tư pháp là một chức năng hiến định của Viện kiểm sát (và trong tố tụng hình sự, pháp luật quy định Viện kiểm sát THQCT và kiểm sát việc TTPL) Tuy nhiên, tại sao dù có chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn như vậy nhưng công tác kiểm sát việc TTPL chưa thật sự hiệu

Trang 9

quả? Xuất phát từ những bất cập và hạn chế gì? Giải pháp nào để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát?… Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách khách quan và toàn diện

Tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện đang được đẩy mạnh, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị khoá IX về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020, dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đưa ra những quan điểm cải cách mang tính đột phá trong việc tổ chức lại hệ thống Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Trong đó, Viện kiểm sát được chuyển đổi thành Viện công tố Điều này đặt ra những cách tiếp cận mới, những cách nhìn mới cả trên phương diện lý luận và thực tiễn về kiểm sát hoạt động tư pháp, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

Xuất phát từ những lý do mang tính thời sự nêu trên cùng sự quan tâm,

mong muốn tìm hiểu của bản thân, tác giả đã lựa chọn đề tài “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự là một đề tài không mấy mới

mẻ trong khoa học luật tố tụng hình sự, nhất là trong giới khoa học kiểm sát,

đã có khá nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài này như: đề tài

“Vai trò của Viện kiểm sát trong việc THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị” năm 2002 của Viện Khoa học Kiểm sát - VKSNDTC, luận văn thạc sĩ luật học “Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự” năm 2004 của học viên cao học Trần Công Hoà, các bài nghiên cứu “Nâng cao chất lượng công tác công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp” của Phạm Xuân Khánh trên Tạp chí Kiểm sát số 5/1999, “Những biện pháp chủ yếu về nâng cao chất lượng kiểm sát hoạt động tư pháp và THQCT trong năm 2002” của Hoàng

Trang 10

Công Huấn trên Tạp chí Kiểm sát số 2/2002… Tuy nhiên, các công trình này chỉ nghiên cứu một hoặc một số nội dung của kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự như hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự hoặc kiểm sát việc TTPL trong giai đoạn khởi tố - điều tra của tố tụng hình

độ một luận văn thạc sỹ luật học

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Ngay từ tên gọi, đề tài đã giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ dừng lại ở một số vấn đề lý luận và thực tiễn Điều này nhằm đảm bảo tính chuyên sâu cần thiết của mỗi nội dung được lựa chọn đề cập Theo quy định của pháp

luật, hoạt động kiểm sát việc TTPL được tiến hành trong việc điều tra các vụ

án hình sự của các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; trong việc xét xử các vụ án hình sự; trong việc thi hành bản án, quyết định hình sự của TAND; trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù Tuy nhiên, do tính chất

đa dạng, phức tạp và nhiều khía cạnh của hoạt động kiểm sát việc TTPL trong

tố tụng hình sự, trong giới hạn một luận văn thạc sỹ, đề tài chỉ có thể đề cập một số vấn đề của kiểm sát việc TTPL trong việc điều tra và xét xử các vụ án hình sự mà theo quan điểm của tác giả, là cơ bản và quan trọng hơn cả Những nội dung được lựa chọn đề cập trong luận văn phải là những vấn đề

Trang 11

tiêu biểu, làm rõ được các vấn đề lý luận và khái quát được thực tế kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung nghiên cứu và giải quyết được các nhiệm vụ

mà đề tài đặt ra, trên cơ sở phương pháp luận nền tảng của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đã sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp Đặc biệt, phương pháp khảo sát, thăm dò ý kiến những người làm công tác thực tiễn được sử dụng ở mức độ đáng kể trong quá trình nghiên cứu luận văn

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn này là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự; đánh giá thực trạng, xác định các nguyên nhân, điều kiện tác động tới quá trình triển khai thực hiện, từ đó, hướng tới các giải pháp, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, đồng thời, phác thảo những đường nét ban đầu cho thiết chế kiểm tra, giám sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự sau khi kiểm sát việc TTPL không còn là một chức năng luật định của Viện kiểm sát được ghi nhận trong BLTTHS như hiện nay

Với cách đặt vấn đề như trên, tác giả luận văn đặt cho mình những nhiệm

vụ sau:

1 Đưa ra khái niệm kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự và làm rõ các thành tố cấu thành nên khái niệm đó, phân biệt khái niệm kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự với các khái niệm gần nó;

2 Khảo cứu một số mô hình tổ chức thực hiện hoạt động THQCT và

kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự tại một số quốc gia trên thế giới

Trang 12

nhằm trả lời các câu hỏi mang tính chất lý luận – lịch sử về mô hình chúng ta đang áp dụng hiện nay và sẽ hướng tới trong tương lai;

3 Tập trung nghiên cứu thực tế thực hiện một số hoạt động kiểm sát

việc TTPL trong tố tụng hình sự trong giai đoạn khởi tố, điều tra, xét xử vụ án

hình sự;

4 Đưa ra các giải pháp, đề xuất về hoàn thiện pháp luật, về tổ chức -

nhân sự, về việc điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, bộ máy của cơ quan Viện kiểm sát cũng như các giải pháp, đề xuất nâng cao vai trò của các thiết chế

hỗ trợ việc kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

6 Những điểm mới của luận văn

Luận văn này là công trình nghiên cứu đầu tiên:

1 Đưa ra khái niệm kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự và so

sánh khái niệm này với khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự;

2 Từ việc phân tích thực trạng hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, đưa ra những cách nhìn mới mẻ, mạnh dạn và trung thực về thực chất một số hoạt động tố tụng được tiến hành trong quá trình giải quyết

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Trang 13

- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong tố tụng hình sự;

- Chương 2: Một số vấn đề về thực trạng kiểm sát việc tuân theo pháp

luật trong tố tụng hình sự;

- Chương 3: Một số giải pháp và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả kiểm

sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Trang 14

tổ chức xã hội nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật” [8]

Như vậy, các hoạt động trong tố tụng hình sự bao gồm:

- Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự Cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự là các cơ quan Nhà nước chuyên trách thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, bao gồm: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự

- Hoạt động của những người tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng, có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự

- Hoạt động của những người tham gia tố tụng: hoạt động của những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của những người tham gia tố tụng

Trang 15

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của những người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật

vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)

BLTTHS còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các

cơ quan, tổ chức và công dân trong việc chủ động phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn tội phạm, trong việc thực hiện các biện pháp cưỡng chế của tố tụng hình sự Như vậy, hoạt động của các chủ thể trên, trong những trường hợp nhất định, cũng là các hoạt động trong tố tụng hình sự

Khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm “Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” “Kiểm sát” ở tầng nghĩa phổ thông, Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “là kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” [37: tr 523] Theo

đó, nội dung của khái niệm “kiểm sát” là hoạt động kiểm tra với đối tượng kiểm tra là việc chấp hành pháp luật Như vậy, định nghĩa này chưa chỉ ra chủ thể của hoạt động kiểm sát Pháp luật thực định chỉ quy định một loại chủ thể

có chức năng kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, đó là Viện kiểm sát

Điều 23 BLTTHS 2003 quy định:

…Viện kiểm sát kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này

Viện kiểm sát THQCT và kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội

Trang 16

Như vậy, theo BLTTHS 2003, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình

sự đối với Viện kiểm sát là một chức năng, một nghĩa vụ luật định Tham gia vào “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự không chỉ có Viện kiểm sát mà còn có các chủ thể khác như người tham gia tố tụng, các cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cá nhân công dân và toàn thể xã hội nói chung Quyền “kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Nhà nước” trong tố tụng hình sự của các chủ thể khác xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp và pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước và quyền công dân Điều 56 Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam năm 1992 khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội” Điều 8 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định: “Cơ quan Nhà nước, Uỷ ban Mặt trận trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu

dân cử có quyền giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra ” Đối với

những chủ thể này, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không phải là chức năng hoạt động mà là các quyền, nghĩa vụ phái sinh từ chức năng hoạt động hay các quyền, các hoạt động mang tính tự nguyện Về bản chất, các hoạt động của những chủ thể này như: theo dõi, yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng báo cáo tình hình hoạt động, yêu cầu trả lời lý do ra các quyết định, yêu cầu chấm dứt, khắc phục vi phạm cũng hướng tới việc “phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật” và “loại trừ việc vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân” trong tố tụng hình sự Tuy nhiên, các hoạt động trên không thể coi là hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự mà chỉ là các hoạt động giám sát việc TTPL trong tố tụng hình sự Sự khác nhau giữa hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát và hoạt động giám sát của các chủ thể khác chính là hình thức thực hiện

mà cụ thể là phương thức và các quyền năng mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép khi thực hiện Chính điều này làm cho hoạt động giám sát của các chủ thể khác không thể hiện chất “kiểm sát” như hoạt động kiểm sát của Viện

Trang 17

kiểm sát Tuy nhiên, xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của hoạt động giám sát do các chủ thể khác thực hiện, có thể coi đây là các thiết chế bổ trợ cho hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

Ngoài ra, khi đề cập đến các thiết chế bổ trợ cho hoạt động kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, không thể không nhắc tới vai trò giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan tiến hành tố tụng Xuất phát từ đặc thù của mối quan hệ phối hợp - chế ước trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Toà án có thể phát hiện và kiến nghị xử lý các quyết định, hành vi tố

tụng của nhau và của Viện kiểm sát nếu nhận thấy có vi phạm pháp luật

Về thuật ngữ “tuân theo pháp luật”, theo quan điểm được nhiều người thừa nhận, không thể giải thích bằng cách tách bạch “tuân theo” là gì và

“pháp luật" là gì rồi ghép lại “Tuân theo pháp luật” cần được hiểu không phải với tư cách là một tổ hợp ngôn ngữ, mà là một thuật ngữ pháp lý thống nhất, mang tính chỉnh thể để chỉ một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật Theo

lý luận chung về pháp luật, bốn hình thức thực hiện pháp luật bao gồm:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Thứ hai, sử dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện các quyền chủ thể của mình

Thứ ba, thi hành pháp luật (chấp hành pháp luật) Thi hành pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể pháp luật thực hiện nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực

Trang 18

Thứ tư, tuân theo pháp luật (tuân thủ pháp luật) Tuân theo pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Tuân theo pháp luật là một dạng thực hiện pháp luật mang tính chất thụ động, thể hiện ở việc các chủ thể phải kiềm chế bản thân

để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Những quy phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, hành chính được thực hiện dưới hình thức này [40: tr 463, 464]

Như vậy, “tuân theo pháp luật” chỉ là một hình thức thực hiện pháp luật

và là một hình thức thực hiện pháp luật ở mức độ tự giác thấp nhất Nếu hiểu

“tuân theo pháp luật” trong khái niệm “kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự” như trên thì nội hàm của thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong tố tụng hình sự” sẽ bị thu hẹp đáng kể Trong khi đó, pháp luật thực

định cho thấy đối tượng của “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

hình sự” không chỉ có hoạt động TTPL (ở dạng thụ động) mà còn có những hoạt động thực hiện pháp luật ở mức độ cao hơn và những hoạt động này chiếm tỷ lệ đa số Đó là những hoạt động áp dụng pháp luật, sử dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng Việc “tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự” ở góc độ thực tế, đã phải bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật

Từ các phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tuân

theo pháp luật trong tố tụng hình sự: “kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng hình sự là một nhóm quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát, có nội dung là kiểm tra, giám sát trực tiếp các hoạt động thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”

1.1.2 Đối tượng, phạm vi và hình thức kiểm sát việc tuân theo

pháp luật

Trang 19

1.1.2.1 Đối tượng, phạm vi kiểm sát

Để xác định đối tượng, phạm vi kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình

sự, cần trả lời hai câu hỏi: thứ nhất, “tuân theo pháp luật” - vậy “pháp luật” được “tuân theo” là toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung hay là chỉ một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó; thứ hai, hoạt động TTPL của những chủ thể nào

là đối tượng của kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự

Trả lời câu hỏi thứ nhất, cần hiểu “tuân theo pháp luật” trước hết là tuân theo pháp luật tố tụng hình sự Pháp luật tố tụng hình sự quy định trình

tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, nhiệm vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng khác Do vậy, kiểm sát hoạt động của các chủ thể trong tố tụng hình sự chính

là kiểm sát việc các chủ thể có tuân thủ các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự, tuân theo cách xử sự luật định trong quan hệ phát sinh giữa các bên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự hay không Pháp luật được “tuân theo” cũng cần được hiểu là những quy định của pháp luật nội dung được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào tố tụng hình sự, bên cạnh các hoạt động nhằm giải quyết vụ án hình sự, còn có những hoạt động khác, do lĩnh vực pháp luật khác điều chỉnh Tuy nhiên, chỉ những quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt động giải quyết vụ án hình sự mới có thể nằm trong

ngoại diên của khái niệm “pháp luật” trong kiểm sát việc TTPL trong tố tụng

hình sự

Thứ hai, trả lời câu hỏi hoạt động TTPL của chủ thể nào là đối tượng

của kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự Như trên đã phân tích, các hoạt

động trong tố tụng hình sự gồm có: hoạt động của những cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra - Viện kiểm sát - Toà án và tương ứng là hoạt động của

Trang 20

những người tiến hành tố tụng: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án; hoạt động của những người tham gia tố tụng như người bị tạm giữ, bị can,

bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, luật sư, bào chữa viên nhân dân, người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… hoạt động của các cơ quan, tổ chức và công dân tham gia vào tố tụng hình sự trong những trường hợp nhất định Nói tóm lại, việc TTPL của

các chủ thể tham gia vào tố tụng hình sự là đối tượng của kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự Tất nhiên, đối tượng của kiểm sát việc TTPL trong tố

tụng hình sự không thể bao gồm việc TTPL của chính bản thân Viện kiểm sát

1.1.2.2 Hình thức kiểm sát

Theo chúng tôi, hình thức kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự là

cách thức thực hiện hoạt động kiểm sát Khi bàn tới hình thức kiểm sát, cần làm rõ hai vấn đề: 1, phương thức kiểm sát (trực tiếp hay gián tiếp); 2, các

quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát được sử dụng khi kiểm sát việc TTPL

trong tố tụng hình sự

Thứ nhất, về phương thức kiểm sát:

Hiện nay, đa số các ý kiến thống nhất cho rằng phương thức kiểm sát

việc TTPL trong tố tụng hình sự là sự kiểm tra, giám sát một cách trực tiếp,

liên tục các hoạt động tố tụng cụ thể Phương thức kiểm sát này cho phép phân biệt hoạt động kiểm sát việc TTPL của Viện kiểm sát với hoạt động giám sát việc TTPL của những người tham gia tố tụng, cơ quan dân cử, báo chí Các chủ thể này không tham gia hoặc có tham gia vào tố tụng hình sự nhưng chỉ trong một hoặc một số giai đoạn tố tụng và giám sát việc TTPL là mục đích phái sinh từ các quyền tố tụng và các quyền chủ thể của họ Giám

Trang 21

sát việc TTPL trong tố tụng hình sự chủ yếu là những hoạt động được pháp luật ghi nhận dưới dạng các quyền Tùy vào vị trí và sự quan tâm của từng chủ thể, họ sẽ không sử dụng hoặc sử dụng các quyền này ở những mức độ khác nhau Đối với Viện kiểm sát, chỉ có Viện kiểm sát mới có thể tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc TTPL trong tố tụng hình sự một cách trực tiếp, liên tục do có đủ các cơ sở, điều kiện cần thiết (vị trí pháp lý đặc biệt với chức năng, quyền lực, bộ máy…) Nói cách khác, trong toàn bộ quá trình giải quyết một vụ án hình sự, Viện kiểm sát có quyền và nghĩa vụ có mặt tại tất cả các giai đoạn từ khởi tố - điều tra - truy tố - xét xử và thi hành án Viện kiểm sát cũng có quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để tác động trực tiếp tới các đối tượng bị kiểm sát nhằm đảm bảo cho hoạt động giải quyết vụ án được theo đúng quy định của pháp luật, nói cách khác, để pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết vụ án

Tính trực tiếp, liên tục của hoạt động kiểm sát không nên hiểu là Viện kiểm sát phải có mặt, theo dõi và giám sát mọi hoạt động giải quyết vụ án đang diễn ra của các chủ thể tham gia vào tố tụng hình sự Viện kiểm sát không thể kiểm sát một cách trực tiếp từng hoạt động tố tụng Tuỳ vào điều kiện thực tế về nhân sự, số lượng vụ án và tính chất từng loại án mà Viện kiểm sát sẽ quyết định khi nào phải tiến hành kiểm sát trực tiếp diễn tiến của một hoạt động tố tụng và khi nào kiểm sát thông qua kết quả của hoạt động tố tụng (sau khi hoạt động tố tụng đó được thực hiện) Ví dụ: trong quá trình chuẩn bị xét xử, Viện kiểm sát không thể kiểm sát trực tiếp việc Toà án giao quyết định đưa vụ án ra xét xử và cũng không cần kiểm sát trực tiếp việc giao quyết định này Bởi vì, chỉ cần qua kiểm sát phần thủ tục bắt đầu phiên toà, Viện kiểm sát cũng sẽ nhận biết được việc Toà án đã giao quyết định hay chưa Trong khi đó, đối với hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, Viện kiểm sát phải kiểm sát trực tiếp, tại chỗ hoạt động khám

Trang 22

nghiệm Trong quá trình giải quyết một vụ án cụ thể, các Kiểm sát viên được phân công THQCT và kiểm sát các hoạt động tố tụng trong vụ án phải xác định được hoạt động nào phải kiểm sát trực tiếp, hoạt động nào chỉ cần kiểm sát gián tiếp

Thứ hai, về các quyền năng pháp lý cụ thể của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự:

Quyền năng của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc TTPL trong tố tụng

hình sự được thể hiện cụ thể qua các quyền của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định tại Điều

23, 36, 37, 113, 339 BLTTHS, Điều 4, 14, 18, 24, 27 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, có thể phân loại các quyền năng trên thành những nhóm sau:

- Nhóm các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật, đó là các quyền kiểm tra, giám sát hoạt động điều tra, hoạt động xét xử, hoạt động tạm giữ, tạm giam, quản lý vào giáo dục người chấp hành án phạt tù, hoạt động thi hành án hình sự (kiểm tra, giám sát việc tiến hành những hoạt động cụ thể, tiếp nhận các khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp thông tin về vi phạm của Điều tra viên, thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, tại giam, yêu cầu thông báo tình hình tạm giữ, tạm giam, quản lý vào giáo dục người chấp hành án phạt tù… )

- Nhóm các quyền nhằm khắc phục, xử lý vi phạm:

- Quyền yêu cầu khắc phục các vi phạm;

- Quyền yêu cầu xử lý nghiêm minh Điều tra viên và những người

có thẩm quyền khác đã vi phạm pháp luật;

- Quyền kiến nghị, kháng nghị nhằm khắc phục các nguyên nhân

và điều kiện vi phạm pháp luật

Trang 23

- Quyền yêu cầu ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra, trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo

Tương ứng với các quyền năng pháp lý của Viện kiểm sát khi kiểm sát

việc TTPL trong tố tụng hình sự, đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể

khác trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát Điều

114 BLTTHS quy định: “Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát…” Điều 6 Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự quy định: “Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện những yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự”

1.1.3 Phân biệt khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố

tụng hình sự với khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

Hiện nay trong tư pháp hình sự, có hai khái niệm hiện đang được sử

dụng: “kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự” và “kiểm sát các hoạt động

tư pháp trong tố tụng hình sự” Để làm rõ khái niệm “kiểm sát việc TTPL

trong tố tụng hình sự”, cần phân biệt nó với khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự”

Về khái niệm “hoạt động tư pháp”, ý kiến thứ nhất cho rằng, hoạt động

tư pháp là hình thức thực hiện những thẩm quyền tương ứng do luật định của

hệ thống Toà án mà thông qua đó các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà nước pháp quyền biến thành hiện thực [13: tr 14]

Ý kiến thứ hai cho rằng, hoạt động tư pháp là hoạt động xét xử của Toà

án và hoạt động của các cơ quan khác của Nhà nước và các tổ chức khác được Nhà nước cho phép thành lập, trực tiếp liên quan hoặc phục vụ cho việc xét

Trang 24

xử của Toà án Toà án sử dụng công khai các kết quả hoạt động điều tra, truy

tố, bào chữa, giám định tư pháp, áp dụng các thủ tục tư pháp theo luật định để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng Hoạt động tư pháp cần được hiểu là hoạt động của các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Toà án [27: tr 11-12]

Như vậy, cả hai ý kiến trên hoặc khẳng định chủ thể của hoạt động tư pháp chỉ là Toà án, hoặc lại mở rộng phạm vi chủ thể của hoạt động này tới cả các các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Toà

án

Quan điểm của chúng tôi tương đồng với cách hiểu tương đối phổ biến hiện nay: hoạt động tư pháp là các hoạt động do cơ quan tư pháp thực hiện, mang tính quyền lực nhà nước, được thực hiện trong quá trình tố tụng, được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng, trực tiếp liên quan tới quá trình giải quyết các vụ án

Tuy nhiên, phạm vi của hoạt động tư pháp không bao gồm tất cả các hoạt động của cơ quan tư pháp Bên cạnh hoạt động tư pháp, mỗi cơ quan tư pháp còn có nhiều lĩnh vực hoạt động khác Các lĩnh vực hoạt động khác không nhằm trực tiếp giải quyết vụ án hình sự, do đó không nằm trong phạm

vi đối tượng của kiểm sát các hoạt động tư pháp

Về khái niệm “kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự” đến nay vẫn tồn tại một số ý kiến khác nhau:

Ý kiến thứ nhất dựa trên luật thực định cho rằng, kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [56: tr 4-5]

Trang 25

Ý kiến thứ hai cho rằng, kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và phần “tư pháp” trong thi hành án [56: tr 3]

Chúng tôi đồng ý với ý kiến cho rằng, với tư cách là chức năng hiến định của Viện kiểm sát, kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng

Vì vậy, kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự khác với kiểm

sát việc TTPL trong tố tụng hình sự ở phạm vi, đối tượng kiểm sát, cụ thể:

Thứ nhất, hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động chỉ do các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thực hiện một số thẩm quyền

tư pháp chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện Đây là những hoạt động có tính quyền lực nhà nước Các hoạt động TTPL không chỉ có các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự mà còn bao gồm cả những hoạt động của các cơ quan, tổ chức không phải là các cơ quan tư pháp, hoạt động của những người tham gia

tố tụng

Thứ hai, hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự bao gồm những dạng thực hiện pháp luật ở mức độ cao: áp dụng pháp luật và sử dụng pháp luật, do các dạng thực hiện pháp luật này gắn với chức năng, nghề nghiệp của những người tiến hành tố tụng Trong khi đó, những hoạt động TTPL trong tố tụng hình sự bao gồm cả các dạng thực hiện pháp luật ở mức độ thấp, gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng

Như vậy, khái niệm kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự rộng

hơn khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, phạm vi

Trang 26

kiểm sát các hoạt động tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự bao trùm phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự

1.2 Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức

năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái niệm quyền công tố và tực hành quyền công tố

Trong lịch sử tư pháp hình sự Việt Nam, quyền công tố là một thuật ngữ pháp lý chính thức xuất hiện trong Hiến pháp 1980 Tuy nhiên, về mặt lý luận, đúng như nhận xét của PGS TSKH Lê Cảm:

Hiện nay trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật

tố tụng hình sự nói riêng ở Việt Nam, quyền công tố vẫn chưa được nghiên cứu một cách thoả đáng, vẫn chưa có công trình nào làm sáng

tỏ về mặt lý luận một cách có căn cứ đảm bảo sức thuyết phục, tương đối hoàn chỉnh và có hệ thống những vấn đề đã nêu với tính chất là một đối tượng nghiên cứu riêng biệt [12: tr 15]

Ở nước ta, có quan điểm ngự trị trong thời gian dài cho rằng: quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm pháp luật

ra xét xử nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật Nói một cách khác, quyền công tố là quyền của Nhà nước nhân danh quyền lợi công

để quyết định đưa một sự việc ra xem xét để phán quyết Quyền công tố bao trùm cả lĩnh vực pháp luật tố tụng dân sự và các lĩnh vực pháp luật khác Quan niệm này đã quá mở rộng nội dung và phạm vi của quyền công tố

Gần với quan điểm trên, một quan điểm khác lại diễn đạt quyền công tố

là quyền của Nhà nước cáo buộc các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Những người theo quan điểm này xuất phát từ vị trí của Nhà nước là một chủ thể pháp luật đặc biệt, đứng trên các chủ thể khác, có quyền đưa mọi vi phạm pháp luật ra trước Toà án để xét

Trang 27

xử vì Nhà nước nhân danh quyền lực công, có trách nhiệm bảo vệ các lợi ích công

Ở một thái cực khác, lại có người đưa ra quan điểm quyền công tố chỉ

là quyền truy tố người phạm tội ra trước Toà án, thực hiện sự buộc tội tại phiên toà Quan điểm này lại quá thu hẹp nội dung và phạm vi của quyền công tố, khẳng định quyền công tố chỉ gồm có hai quyền năng: quyền truy tố

và quyền buộc tội tại phiên toà

Tuy nhiên, theo quan điểm được thừa nhận rộng rãi hiện nay, quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, nói cách khác,

là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội Như vậy, bản chất của quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, do đó, quyền công tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự

Tuỳ vào các quan điểm về tổ chức bộ máy Nhà nước và các điều kiện lịch sử, chính trị khác nhau, mỗi Nhà nước giao cho một hay một số cơ quan nhất định trong bộ máy Nhà nước thực hiện quyền công tố Cơ quan được trao quyền THQCT phải có trách nhiệm bảo đảm tính hợp pháp của việc thu thập chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội; thực hiện việc truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà Như vậy, THQCT

là việc hiện thực hoá quyền truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội với các quyền năng tương ứng mà Nhà nước trao cho hoặc một số cơ quan nhất định Chúng tôi tán thành với quan điểm cho rằng THQCT là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra - truy tố - xét xử

1.2.2 Mối quan hệ giữa chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Trang 28

Theo BLTTHS 2003, Viện kiểm sát có chức năng THQCT và kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự Trong phần này, căn cứ vào các quy định của pháp luật thực định, luận văn sẽ phân tích mối quan hệ giữa hai chức năng trên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, từ đó khái quát về tính chất, đặc điểm của mối quan hệ này theo mô hình luật tố tụng hình sự Việt Nam

Trong giai đoạn khởi tố - điều tra, mối quan hệ giữa hai chức năng của Viện kiểm sát được thể hiện cụ thể ở những nội dung sau:

Khi vụ án được khởi tố, Viện kiểm sát bắt đầu tiến hành kiểm sát việc TTPL như kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra… Tuy nhiên, cũng có nhiều trường hợp, khi chưa khởi tố vụ án đã xuất hiện hoạt động kiểm sát, ví dụ hoạt động kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi Tiếp theo, Viện kiểm sát sẽ kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án Viện kiểm sát có thể tán thành quyết định của Cơ quan điều tra hay ra quyết định huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của cơ quan này để trực tiếp khởi tố vụ án

Sau khi có quyết định khởi tố vụ án, một loạt các hoạt động điều tra của

Cơ quan điều tra được chính thức thực hiện Để thực hiện các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng như các biện pháp ngăn chặn, khám xét, thu giữ, kê biên… Viện kiểm sát sẽ kiểm sát các hoạt động điều tra và cả các hoạt động thực hiện những biện pháp cưỡng chế tố tụng nêu trên Đồng thời, Viện kiểm sát cũng kiểm sát việc TTPL của những người tham gia tố tụng… Nhờ có các hoạt động kiểm sát này, việc tiến hành một loạt các hoạt động thuộc nhóm quyền THQCT như đề

ra yêu cầu điều tra, quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra, yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can… sẽ đạt được những hiệu quả cần thiết

Trang 29

Ngược lại, các hoạt động THQCT cũng sẽ tác động trở lại, mang tính chất hỗ trợ các hoạt động kiểm sát, góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động kiểm sát

Kiểm sát tốt các hoạt động TTPL trong giai đoạn điều tra cũng là cơ sở cho hoạt động truy tố trong giai đoạn truy tố (pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam vẫn coi truy tố là một giai đoạn tố tụng độc lập)

Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát kiểm sát việc TTPL trong việc xét xử, THQCT với việc đọc cáo trạng, xét hỏi, trình bày lời luận tội, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, tranh luận với những người tham gia

tố tụng tại phiên toà Để bảo vệ quyết định truy tố, bảo vệ nội dung buộc tội, Viện kiểm sát cần dựa trên các kết quả của hoạt động điều tra được tiến hành một cách có căn cứ và hợp pháp từ các giai đoạn tố tụng trước đó Thực hiện tốt hoạt động kiểm sát việc TTPL là tiền đề cho việc thực hiện tốt hoạt động THQCT tại phiên toà

Như vậy, chức năng kiểm sát việc TTPL nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố tụng được hợp pháp, khách quan, đầy đủ, tương hỗ cho chức năng THQCT, cả hai chức năng đều có chung mục đích cao nhất là giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và công bằng Trong đó, chức năng kiểm sát việc TTPL đảm bảo cho hoạt động THQCT đi đúng hướng, đúng pháp luật, theo cách nói của PGS TSKH Lê Cảm:

Thực hiện tốt chức năng này không những là điều kiện quan trọng nhằm loại trừ các vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình thực hiện một loạt các hành vi tố tụng hình sự của các Cơ quan điều tra (như khởi tố và hỏi cung bi can, lấy lời khai người làm chứng, khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, ) mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc truy tố được khách quan, đúng tội, đúng người và đúng pháp luật.[12: tr 17]

Trang 30

Cũng chính vì vai trò hỗ trợ rất đắc lực cho chức năng THQCT và vị trí không thể tồn tại khu biệt với chức năng THQCT, rất nhiều người cho rằng kiểm sát việc TTPL không thể tồn tại với tư cách một chức năng độc lập mà chỉ là một nội dung, một yêu cầu, một nhiệm vụ lớn của Viện kiểm sát và phái sinh từ chức năng THQCT Theo quan điểm của chúng tôi, trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự, nếu căn cứ vào luật thực

định, có thể coi kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự là một chức năng

của Viện kiểm sát Tuy nhiên, “chức năng” luôn được hiểu là một phương diện hoạt động cơ bản, một lĩnh vực tồn tại độc lập tương đối với các lĩnh vực

khác Trong khi đó, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự, như phân tích

ở phần trên, chưa phải là một phương diện hoạt động cơ bản, một lĩnh vực

độc lập Kiểm sát việc TTPL bao gồm những hoạt động bảo đảm các điều

kiện cần thiết cho hoạt động THQCT Hoạt động THQCT chỉ có thể dựa trên các chứng cứ được thu thập hợp pháp và kiểm sát việc TTPL chính là công cụ đảm bảo tính hợp pháp của các hoạt động thu thập chứng cứ và các hoạt động khác liên quan đến việc giải quyết vụ án Do đó, dù không quy định kiểm sát

việc TTPL là một chức năng của Viện kiểm sát thì để THQCT, Viện kiểm sát vẫn phải thực hiện hoạt động kiểm sát việc TTPL Việc khảo cứu một số mô

hình tổ chức THQCT và giám sát, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự trên thế giới trong phần dưới đây của luận văn cũng phần nào làm rõ và mở rộng vấn đề này

1.3 Khảo cứu một số mô hình tổ chức thực hiện quyền công tố và giám sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự trên thế giới

Như chúng tôi đã từng đề cập, do quan điểm của mỗi quốc gia về tổ chức bộ máy Nhà nước, các điều kiện lịch sử - chính trị khác nhau, dẫn đến

mô hình tổ chức thực hiện hoạt động thực hiện quyền công tố và giám sát, kiểm sát việc TTPL trong tố tụng hình sự của mỗi quốc gia là khác nhau

Trang 31

1.3.1 Mô hình tổ chức thực hiện quyền công tố và giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo hệ thống pháp luật Anglo - Saxon

Nhìn chung, các nước theo hệ thống luật Anglo - Saxon thường sử dụng kiểu tố tụng tranh tụng, không tồn tại khái niệm kiểm sát và không coi

kiểm sát việc TTPL hay kiểm sát hoạt động tư pháp là một chức năng của tố

tụng hình sự hay chức năng của cơ quan công tố Tố tụng tranh tụng quan niệm sự thật của vụ án được xác định thông qua hoạt động tranh tụng tự do giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Về nguyên tắc, hai bên tranh tụng có khả năng như nhau không chỉ khi tranh luận tại Toà án mà ngay từ giai đoạn điều tra, thu thập chứng cứ, các bên có rất nhiều cách khác nhau để đạt được mục đích buộc tội hay gỡ tội Bên buộc tội phải đưa ra các chứng cứ chứng minh

có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, bên gỡ tội phải tìm mọi cách chứng minh hành vi không cấu thành tội phạm hoặc có các căn cứ để miễn, giảm trách nhiệm hình sự “Hình thức tố tụng tranh tụng cũng không buộc các bên phải khách quan, công khai trong quá trình thu thập chứng cứ”, do đó, không

đặt ra việc kiểm sát việc TTPL ngay từ giai đoạn điều tra, thu thập chứng cứ

[41: tr 78]

Trong tố tụng tranh tụng, gần như chỉ có một giai đoạn chính thức duy nhất - giai đoạn xét xử và cũng là giai đoạn điều tra công khai tại phiên toà Quá trình điều tra trước đó được coi là giai đoạn chuẩn bị tố tụng hay giai đoạn tiền tố tụng Việc TTPL trong giai đoạn chuẩn bị tố tụng được thể hiện trên cơ sở các kết quả điều tra - các chứng cứ buộc tội hay gỡ tội được đưa ra xem xét tại phiên toà Toà án đánh giá tính hợp pháp, tính xác thực và tính logic của các chứng cứ đó Do vậy, Toà án cũng gián tiếp kiểm sát tính hợp pháp của các hoạt động thu thập chứng cứ Nói cách khác, “chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật thuộc về Toà án” [41: tr 79] Về nguyên tắc, nếu các tài liệu, đồ vật có thu thập được nhiều bao nhiêu chăng nữa nhưng nếu

Trang 32

không chứng minh được nguồn gốc và không bảo đảm được tính hợp pháp của hoạt động điều tra, thu thập thì cũng không được chấp nhận Điều này buộc các bên không phải chỉ đấu tụng thật thuyết phục tại phiên toà mà còn phải tuân thủ pháp luật nghiêm túc khi tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ

Trong mô hình tố tụng tranh tụng, Toà án là người đứng giữa bên công

tố (bên buộc tội) và bên gỡ tội, là cơ quan có vị trí độc lập độc lập để xem xét tính hợp pháp của chứng cứ và gián tiếp kiểm tra sự tuân thủ pháp luật trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của cả hai bên Chức năng THQCT được giao cho một cơ quan độc lập là Viện công tố và THQCT được coi là phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu của cơ quan công tố Cơ quan công tố chỉ đạo hoạt động điều tra và giám sát hoạt động điều tra để đảm bảo tính đầy đủ, khách quan, hợp pháp của hoạt động thu thập chứng cứ Cơ quan công tố ở nhiều bang của Hoa Kỳ được coi là cơ quan truy tố.[31: tr 46-54] Trong khi

đó, giám sát việc TTPL là cũng là một yêu cầu mang tính chất phái sinh từ chức năng xét xử của Toà án, không phải là phương diện hoạt động cơ bản, chủ yếu của Toà án Như vậy, chỉ tồn tại hoạt động giám sát mà không có

khái niệm kiểm sát việc TTPL trong mô hình này

1.3.2 Mô hình tổ chức thực hiện quyền công tố và giám sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa

Về cơ bản, các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa mà điển hình là Cộng hoà Pháp sử dụng kiểu tố tụng thẩm vấn Giai đoạn điều tra được đặc biệt nhấn mạnh và giai đoạn xét xử không được đặc biệt coi trọng như trong tố tụng tranh tụng Tại phiên toà, Thẩm phán sẽ thực hiện hoạt động xét xử bằng cách tiếp tục điều tra (chủ yếu qua việc xét hỏi và đánh giá chứng cứ) trước khi đưa ra phán quyết cuối cùng Do đó, chức năng buộc tội

Trang 33

và chức năng bào chữa của các bên tồn tại mờ nhạt hơn so với kiểu tố tụng tranh tụng

Hoạt động điều tra sơ bộ do các Điều tra viên - các Cảnh sát tư pháp thực hiện Điều tra viên chịu sự chỉ đạo trực tiếp trong hoạt động điều tra của Công tố viên Cảnh sát tư pháp còn phải chịu sự giám sát của Toà luận tội bên cạnh Toà phúc thẩm

Giai đoạn điều tra sơ bộ do Viện công tố chỉ đạo, khi việc điều tra hoàn tất thì vụ án được: 1, chuyển sang giai đoạn khởi tố vụ án - điều tra tại toà do

Dự thẩm (là một Thẩm phán) thực hiện, hoặc: 2, chuyển trực tiếp cho Toà án xét xử Sau khi thấy đã đầy đủ chứng cứ, Dự thẩm đưa vụ án ra xét xử với các

vụ phạm tội không quá nghiêm trọng thuộc thẩm quyền của Toà khinh tội và Toà vi cảnh Với trọng tội, Dự thẩm chuyển hồ sơ cho Viện trưởng Viện công

tố bên cạnh Toà sơ thẩm để giao lại cho Toà luận tội tại Toà phúc thẩm để điều tra cấp hai Xét thấy đã đầy đủ chứng cứ, Toà luận tội đưa bị can ra Toà đại hình để xét xử Toà luận tội có hai chức năng: chức năng điều tra cấp hai

và chức năng giám sát quá trình điều tra của dự thẩm Toà luận tội gồm một Chánh toà và hai Thẩm phán Đại diện của Viện công tố tại phân toà này là Viện trưởng Viện công tố bên cạnh toà phúc thẩm và các Phó Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phúc thẩm hoặc các Công tố viên [30]

Pháp luật nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và pháp luật Chính quyền miền Nam Việt Nam trước năm 1975 ảnh hưởng nhiều của pháp luật Cộng hòa Pháp trong việc tổ chức bộ máy các cơ quan xét xử, công tố Điều 5 Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945 (về thành lập Tòa án quân sự của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa) đã xác định các chức năng buộc tội, bào chữa và xét

xử trong lĩnh vực tố tụng hình sự: “Tòa án quân sự được thành lập như sau: ngồi xử có Chánh án và hai hội thẩm Đứng buộc tội là một Ủy viên quân sự hay Ủy viên của Ban trinh sát ” Ở miền Nam Việt Nam:

Trang 34

Theo điều 77 và 78 Hiến pháp năm 1967, các Thẩm phán được chia làm hai ngành, xử án và công tố [17: tr 1] Sự phân chia thẩm phán thành hai ngành và phân nhiệm giữa thẩm phán tọa xử với thẩm phán công tố trên đây không phải là một sáng kiến mới lạ của Hiến pháp 1967 Hiến pháp chỉ xác nhận một tình trạng cố hữu trong tổ chức tư pháp thời Pháp thuộc, được duy trì do chỉ dụ 4 ngày 18/10/1949 [17: tr 3]

Như vậy, mô hình thực hiện quyền công tố và giám sát việc TTPL theo

hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa khá phức tạp Hoạt động công tố theo nghĩa gốc là truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội được thực hiện bởi

cả ba thiết chế tư pháp hình sự: Cảnh sát tư pháp - Dự thẩm - Toà luận tội Hoạt động giám sát điều tra vừa do Viện trưởng Viện công tố bên cạnh toà sơ thẩm, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh toà phúc thẩm, vừa do Toà luận tội thực hiện Như vậy, cơ quan công tố là cơ quan bên cạnh Toà án, vừa thực hiện hoạt động điều tra - công tố, vừa giám sát Cơ quan điều tra, không có

hoạt động kiểm sát xét xử của Toà án Theo mô hình này, kiểm sát việc TTPL

không được coi là một chức năng của tố tụng hình sự mà chỉ tồn tại hoạt động giám sát của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm bảo đảm quá trình giải quyết

vụ án được chính xác, khách quan và đúng pháp luật

1.3.3 Mô hình tổ chức thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo hệ thống pháp luật XHCN (trước đây) và Việt Nam hiện nay

Ở các nước XHCN trước đây, THQCT chỉ là một trong các quyền cơ bản của Viện Kiểm sát Viện kiểm sát là một trong bốn loại cơ quan Nhà nước: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp và cơ quan kiểm sát Vì thế:

Quyền công tố ở đây không thuộc lĩnh vực hành pháp, cũng không thuộc lĩnh vực tư pháp theo quan niệm truyền thống mà thuộc

Trang 35

về một lĩnh vực khác của quyền lực Nhà nước: quyền kiểm sát Đây là khái niệm hoàn toàn mới của khoa học pháp lý, xuất hiện sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga 1917.[15]

Với cách tổ chức bộ máy Nhà nước như trên, quyền công tố không phải chỉ có trong tố tụng hình sự, cũng không phải là một chức năng độc lập của

Viện kiểm sát mà chỉ là một phương thức để kiểm sát việc TTPL

Tại Việt Nam trước đây, mô hình này được thể hiện rất rõ trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1980 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

1992 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992 quy định:

Viện kiểm sát nhân dân thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân

theo pháp luật và thực hành quyền công tố bằng sáu công tác: công tác

kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã

hội, công tác kiểm sát điều tra; công tác kiểm sát xét xử; công tác kiểm sát giam giữ và cải tạo; công tác kiểm sát thi hành án và công tác điều tra tội phạm

Mô hình này được áp dụng triệt để đến mức các hoạt động kiểm sát

việc TTPL bao trùm lên mọi hoạt động của xã hội Tuy nhiên, xuất phát từ

những vấn đề phát sinh trong thực tiễn thực hiện: thứ nhất, Viện kiểm sát không đủ khả năng về nhân lực và vật lực để kiểm sát tất cả các hoạt động của đời sống xã hội; thứ hai: không cần thiết phải kiểm sát tất cả các hoạt động của đời sống xã hội; thứ ba: hoạt động kiểm sát chung dẫn tới sự chồng chéo trong các hoạt động kiểm sát, thanh tra, giám sát và tạo nên một bộ phận

“kiêu binh” và tha hoá trong cơ quan Viện kiểm sát vì có quá nhiều quyền lực

- do đó, Hiến pháp 1992 sửa đổi đã thu hẹp đáng kể phạm vi chức năng kiểm sát trước kia Bên cạnh chức năng THQCT, Viện kiểm sát chỉ còn hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi) quy định:

“Viện kiểm sát nhân dân Tối cao THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp,

Trang 36

góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự THQCT

và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định”

Cụ thể hóa bằng Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 và

BLTTHS 2003, mô hình tổ chức THQCT và kiểm sát việc TTPL trong tố

tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay có những nét chính sau:

- Viện kiểm sát nhân dân THQCT và kiểm sát việc TTPL trong việc

điều tra các vụ án hình sự của các Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

- THQCT và kiểm sát việc TTPL trong việc xét xử các vụ án hình sự;

- Kiểm sát việc TTPL trong việc thi hành bản án, quyết định hình sự

của Tòa án nhân dân;

- Kiểm sát việc TTPL trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo

dục người chấp hành án phạt tù

Trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, kiểm sát việc TTPL và THQCT được giao cho Viện kiểm sát Viện kiểm sát kiểm sát việc TTPL của Cơ quan điều tra, của Tòa án, của các cá nhân và cơ quan khác tham gia vào tố tụng hình sự, kiểm sát việc TTPL trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù Viện kiểm sát THQCT với các hoạt động đề

ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra, truy tố bị can và bảo vệ quyết định truy tố của mình trước Toà án

Nếu quan niệm tố tụng hình sự ở Việt Nam là kiểu “tố tụng buộc tội” như ý kiến một số người, hoạt động THQCT thực chất là nhiệm vụ của cả ba

cơ quan: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án Trong đó, hoạt động điều tra về cơ bản do Cơ quan điều tra đảm nhận Viện kiểm sát không tự mình tiến hành các hoạt động điều tra mà chủ yếu là sử dụng các kết quả điều tra

Trang 37

của Cơ quan điều tra để phục vụ cho hoạt động truy tố ở giai đoạn truy tố Vì thế, bắt buộc Viện kiểm sát phải kiểm sát việc TTPL trong giai đoạn điều tra Kiểm sát điều tra là cơ sở cho hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố, bảo vệ quyết định truy tố ở giai đoạn xét xử sau này Xét xử là giai đoạn điều tra cuối cùng, tại phiên toà, vụ án được điều tra một cách toàn diện nhất, công khai nhất nhưng phần lớn do Toà án thực hiện với hoạt động xét hỏi của hội đồng xét xử

Một điểm đặc biệt trong tố tụng hình sự Việt Nam là Viện kiểm sát còn thực hiện hoạt động kiểm sát việc xét xử vụ án hình sự Trong khi đó, hầu như không một quốc gia nào trên thế giới quy định Viện kiểm sát hay Viện công

tố có quyền kiểm sát việc TTPL trong việc xét xử các vụ án hình sự Ngay cả

pháp luật Liên bang Nga và pháp luật CHND Trung Hoa là nơi mà những tư

tưởng lập pháp XHCN còn tương đối đậm nét, nơi mà nhiệm vụ kiểm sát việc

TTPL của cơ quan Viện kiểm sát còn được ghi nhận trong các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát cũng không được trao quyền năng này Theo luật Liên bang Nga về Viện kiểm sát Cộng hòa liên bang Nga trước đây, Viện kiểm sát kiểm sát việc chấp hành các đạo luật đang có hiệu lực trên toàn lãnh thổ, kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các bộ, tổng cục thuộc Liên bang, kiểm sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan thực hiện các hoạt động trinh sát, nghiệp vụ, các Cơ quan điều tra, thẩm cứu, kiểm sát việc chấp hành pháp luật trong việc điều tra, thẩm cứu, trong việc giam giữ, cải tạo, các trại chấp hành hình phạt, nơi tạm giam, tạm giữ.[31] Điều 37 BLTTHS Liên bang Nga được Đuma quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 và được Hội đồng liên bang phê chuẩn ngày 5/12/2001 quy định: “Kiểm sát viên là người có chức

vụ, quyền hạn, có quyền nhân danh Nhà nước trong quá trình tố tụng hình sự

và kiểm sát hoạt động tố tụng của Cơ quan điều tra ban đầu và Cơ quan điều tra dự thẩm trong phạm vi thẩm quyền được quy định trong Bộ luật này” [46] Tại Trung Quốc, Viện kiểm sát thực hành quyền kiểm sát đối với các vụ án

Trang 38

phản quốc, chia rẽ đất nước, giám sát hoạt động điều tra của công an, giám sát việc thi hành các phán quyết, quyết định của Tòa án trong các vụ án hình sự, hoạt động của các trại giam, nơi tạm giam và cơ quan cải tạo lao động và cũng không có quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án [31]

Hoạt động kiểm sát xét xử được đặt ra với mục đích đảm bảo cho việc xét xử của Toà án được tiến hành đúng pháp luật, phát hiện nhanh chóng các

vi phạm trong quá trình xét xử để có biện pháp khắc phục kịp thời, góp phần nâng cao chất lượng xét xử Trên lý thuyết, đây là điểm hoàn toàn tiến bộ và tích cực của luật tố tụng hình sự Việt Nam, bởi vì, xét xử chính là giai đoạn điều tra cuối cùng trước khi quyết định số phận pháp lý của một công dân Nếu đã kiểm sát được hoạt động điều tra để hoạt động điều tra được khách quan, công bằng, hợp pháp và tiếp tục kiểm sát được hoạt động xét xử thì sẽ hạn chế được rất lớn các hiện tượng án oan, án sai, án tồn đọng …

Tuy nhiên, việc triển khai mô hình này lại xuất hiện rất nhiều những điểm bất hợp lý Chúng tôi sẽ làm rõ những điểm bất hợp lý này trong phần phân tích về thực trạng hoạt động kiểm sát xét xử trong Chương II của luận văn

Ở đây, một câu hỏi đặt ra là: tại sao trong tố tụng hình sự Việt Nam lại tồn tại mô hình cơ quan kiểm sát, tại sao Viện kiểm sát lại phải (được) kiểm sát quá nhiều hoạt động tố tụng như vậy? Câu trả lời nằm ở tính chất lịch sử -

lý luận chứ không phải tính chất thực tiễn của vấn đề Bởi vì, ở góc độ thực tiễn, trong lĩnh vực tố tụng hình sự, gần như tất cả các quốc gia trên thế giới đều không quy định kiểm sát việc TTPL là chức năng cuả bất kì một cơ quan tiến hành tố tụng nào và cũng không thể chứng minh việc giải quyết các vụ án hình sự tại các quốc gia đó kém hiệu quả hơn Việt Nam hay tình hình tội phạm diễn biến tiêu cực hơn Việt Nam và ngược lại

Trang 39

Ở góc độ lý luận, theo chúng tôi, việc giải thích cần xuất phát từ quan điểm về tổ chức bộ máy của Nhà nước ta và các yếu tố lịch sử, pháp lý khác

Như đã từng đề cập, hệ thống cơ quan Kiểm sát, quyền kiểm sát với tư cách là một trong bốn hệ thống cơ quan Nhà nước, một trong bốn loại quyền lực Nhà nước mới xuất hiện sau khi ra đời Nhà nước XHCN (thời điểm cách mạng Tháng mười Nga 1917) Điều này bắt nguồn từ tư tưởng của Lênin về

tổ chức bộ máy Nhà nước và vấn đề pháp chế:

Theo Lênin, pháp chế thì phải thống nhất, pháp chế không thống nhất thì không thể tiến hành công cuộc Cách mạng XHCN… yếu tố cản trở mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất đến sự thống nhất của pháp chế XHCN là bệnh cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa Muốn đấu tranh chống lại một cách có hiệu quả chủ nghĩa cục bộ địa phương, nhất thiết phải thành lập Viện kiểm sát Viện kiểm sát có quyền và bổn phận chỉ làm một công việc mà thôi, tức là: “làm thế nào cho trong toàn nước cộng hoà có một sự nhận thức thật sự thống nhất về pháp chế, dù là ở các địa phương có những đặc điểm và ảnh hưởng như thế nào chăng nữa” [16: tr 9]

Như vậy, Viện kiểm sát có trách nhiệm giám sát việc TTPL của các cơ quan Nhà nước ở trung ương cho đến các cơ quan, chính quyền địa phương,

tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành thống nhất và nghiêm chỉnh, loại trừ mọi hiện tượng tiêu cực, tự nhiên, chống đối

Do điều kiện lịch sử - chính trị, chúng ta cũng đã áp dụng mô hình Viện kiểm sát với cách đặt vấn đề như trên trong một thời gian dài (cho tới năm 2002) với đặc trưng là chức năng kiểm sát “chung” của Viện Kiểm sát Mô hình này đã chứng minh tính hiệu quả và hợp lý của nó trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định khi Việt Nam mới xây dựng chính quyền nhân dân,

Trang 40

xây dựng hệ thống pháp luật XHCN và thực hiện chuyên chính vô sản để bảo

vệ chính quyền cách mạng non trẻ Tuy nhiên, khi các điều kiện lịch sử nói trên không còn nữa, việc duy trì phạm vi kiểm sát quá rộng như trên không còn phù hợp Chính vì vậy, Hiến pháp 1992 được sửa đổi theo hướng thu hẹp phạm vi này lại, hiện nay Viện kiểm sát chỉ còn kiểm sát các hoạt động tư pháp, và trong BLTTHS 2003, là kiểm sát việc TTPL của các chủ thể hoạt động tố tụng hình sự

Có thể nói, mỗi nhà nước đều phải có cơ chế giám sát việc TTPL với những hình thức giám sát nhất định Ở các nước theo thuyết Tam quyền phân lập, cơ chế đối trọng quyền lực đã tạo ra sự giám sát rất có hiệu quả việc thực hiện pháp luật của cả ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây cũng là một trong những lý do khiến các quốc gia này không cần thiết phải tổ chức một cơ quan kiểm sát việc TTPL với tư cách là một trong bốn hệ thống cơ quan Nhà nước như mô hình Viện kiểm sát ở các nước XHCN Tất nhiên, việc so sánh vị trí, chức năng của Viện công tố trong các nhà nước theo thuyết Tam quyền phân lập với vị trí, chức năng của Viện kiểm sát trong Nhà nước XHCN chỉ có ý nghĩa tương đối

Tại các quốc gia theo quan điểm quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, mô hình tổ chức một cơ quan chuyên trách việc kiểm sát hoạt động TTPL là điều khá phổ biến, mà cơ bản là các nước XHCN trước kia Hiện nay, mô hình này tồn tại ở rất ít quốc gia trên thế giới Nhìn lại lịch sử lập pháp Việt Nam, dưới triều đại phong kiến, mô hình Nhà nước tập quyền là chủ đạo với hai điển hình là bộ máy Nhà nước nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn đều tồn tại hệ thống các cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát Năm 1465, vua Lê Thánh Tông đã đưa ra mô hình lục Viện - lục Khoa.[39: tr 125] Lục Viện tương ứng với sáu bộ trong nội các và lục khoa là sáu cơ quan kiểm sát hoạt động của sáu viện Lục khoa, lục viện độc lập với nhau và chịu trách nhiệm trước nhà vua Nhà Nguyễn sau này tiếp tục mô hình trên của nhà Lê

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
23. Nguyễn Đức Mai (1993), “Về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm”, Tạp chí Toà án nhân dân, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 1993
24. Nguyễn Hải Hà (2003), “Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ”, Đặc san Nghề luật, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống pháp luật Hoa Kỳ
Tác giả: Nguyễn Hải Hà
Năm: 2003
41. Trường Đào tạo các chức danh tư pháp (2003), Kỷ yếu đề tài khoa học cấp trường: “Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trường Đào tạo các chức danh tư pháp
Năm: 2003
42. Trường Đào tạo các chức danh tư pháp (2004), Kỷ yếu đề tài khoa học cấp trường: “Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chương trình đào tạo kiểm sát viên, một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Trường Đào tạo các chức danh tư pháp
Năm: 2004
1. Ban Chấp hành trung ƣơng, Ban Cán sự Đảng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2002), Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong ngành kiểm sát nhân dân Khác
2. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tƣ pháp trong thời gian tới Khác
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lƣợc Cải cách tƣ pháp đến năm 2020 Khác
5. Bộ luật tố tụng hình sự (1988) 6. Bộ luật tố tụng hình sự (2003) Khác
7. Đinh Văn Quế (2004), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 về xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Khác
8. Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Khác
9. Hà Mạnh Trí (2003), Bài kết luận Hội nghị ngành Kiểm sát nhân dân từ ngày 14 đến ngày 16/07/2003 Khác
10. Hoàng Công Huấn (2002), Những biện pháp chủ yếu về nâng cao chất lƣợng kiểm sát hoạt động tƣ pháp và thực hàn quyền công tố trong năm 2002, Tạp chí Kiểm sát (2) Khác
11. Học viện Tư pháp, (2005) Chương trình đào tạo các chức danh tư pháp năm 2005, Nxb Thống kê Khác
12. Lê Cảm (2000), Quyền công tố: Một số vấn đề lý luận cơ bản, Tạp chí Toà án nhân dân (8) Khác
13. Lê Cảm (2002), Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tƣ pháp trong Nhà nước pháp quyền, Tạp chí Toà án nhân dân (11) Khác
14. Lê Cảm và Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên) (2004) Cải cách tƣ pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Khác
15. Lê Hữu Thể (2000), Bàn về khái niệm quyền công tố, Tạp chí Kiểm sát (8) Khác
16. Lê Hữu Thể (2000), Về vị trí và chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (7) Khác
17. Lê Tài Triển, (1971) Nhiệm vụ của Công tố viện, Giấy phép sở PHNT ngày 1-3-1971 triển hạn ngày 6-9-1971 Khác
18. Lê Thị Tuyết Hoa, Bàn về quyền công tố, Tạp chí Nhà nước và pháp luật (10) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THĂM Dề í KIẾN - Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THĂM Dề í KIẾN (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm