Vì vậy, để góp phần ngăn chặn, phòng ngừa và giảm bớt vi phạm pháp luật và các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn về tính mạn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN VĂN THẢO
CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ CÁC SỐ LIỆU ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRỊNH TIẾN VIỆT
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Văn Thảo
Trang 3Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN
TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG CỘNG,
TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ QUY ĐỊNH CÁC TỘI XÂM PHẠM
AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 9 1.1.1 An toàn công cộng, trật tự công cộng - khách thể được bảo vệ bằng luật
hình sự Việt Nam 9 1.1.2 Sự cần thiết của việc quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ trong luật hình sự Việt Nam 14 1.2 KHÁI NIỆM CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 17 1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 21 1.3.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa
lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 21 1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi
pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 28
Trang 4Chương 2: CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG
BỘ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VÀ BỘ LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 35
2.1 CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 35 2.1.1 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ
(Điều 202 Bộ luật hình sự) 35 2.1.2 Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203 Bộ luật hình sự) 42 2.1.3 Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông không bảo đảm an
toàn giao thông đường bộ (Điều 204 Bộ luật hình sự) 44 2.1.4 Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các
phương tiện giao thông đường bộ (Điều 205 Bộ luật hình sự) 47 2.1.5 Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206 Bộ luật hình sự) 50 2.1.6 Tội đua xe trái phép (Điều 207 Bộ luật hình sự) 52 2.2 PHÂN BIỆT CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC CÓ LIÊN QUAN TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ 55 2.2.1 Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ với tội đua xe trái phép 55 2.2.2 Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ với tội cản trở giao thông 57 2.2.3 Phân biệt tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông
đường bộ với tội vô ý làm chết người 58 2.2.4 Phân biệt tội đua xe trái phép với tội tổ chức đua xe trái phép 59 2.2.5 Phân biệt tội đua xe trái phép với tội gây rối trật tự công cộng 60 2.3 CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 62 2.3.1 Bộ luật hình sự Liên bang Nga 63 2.3.2 Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 67 2.3.3 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức 69
Trang 5Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC,
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 75
3.1 THỰC TIỄN XÉT XỬ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO
THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH PHƯỚC 75 3.1.1 Khái quát tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Phước 75 3.1.2 Tình hình xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên
địa bàn tỉnh Bình Phước 78 3.1.3 Một số tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và các nguyên nhân cơ bản 83 3.2 HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM NĂM 1999 CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 96 3.2.1 Nhận xét chung 96 3.2.2 Nội dung kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định của Bộ luật hình
sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ 100 3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 105 3.3.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ 105 3.3.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng
cao ý thức pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ 108 3.3.3 Tổ chức có hệ thống điều khiển hoạt động giao thông đường bộ, quản
lý phương tiện giao thông, đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, cấp giấy phép lái xe 109 3.3.4 Tăng cường công tác tuần tra, giám sát và xử lý kịp thời mọi vi phạm
an toàn giao thông đường bộ, xét xử nghiêm minh và kịp thời các vụ án trong lĩnh vực này 111
KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội đua xe trái phép 56 Bảng 2.2: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội cản trở giao thông 58 Bảng 2.3: Sự khác nhau giữa tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện
giao thông đường bộ và tội vô ý làm chết người 59 Bảng 2.4: Sự khác nhau giữa tội đua xe trái phép và tội tổ chức đua xe trái phép 60 Bảng 2.5: Sự khác nhau giữa tội gây rối trật tự công cộng và tội đua xe trái phép 61 Bảng 3.1: Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân
người phạm tội về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) trên địa bàn tỉnh Bình Phước 78 Bảng 3.2: Tổng số vụ án, tổng số bị cáo đưa ra xét xử và hình phạt, nhân thân
người phạm tội về tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) trên địa bàn tỉnh Bình Phước 79 Bảng 3.3: Loại tội và số vụ án thực hiện trên địa bàn tỉnh Bình Phước qua
nghiên cứu ngẫu nhiên tổng số 123 bản án 83
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã có những khởi sắc đáng mừng và đem lại nhiều sự chuyển biến trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội ở các thành phố lớn nói chung, tỉnh Bình Phước nói riêng, sự thay đổi khởi sắc thể hiện trên nhiều lĩnh vực đem lại đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt đẹp cho nhân dân Trong những sự chuyển biến trên thì giao thông vận tải thể hiện rõ nhất qua việc đường sá, cầu cống được xây dựng mới và xe cộ được mua sắm rất nhiều Theo số liệu thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước thì hàng tháng, có hàng trăm, hàng nghìn xe máy và ô tô đăng ký mới trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, đi đôi với sự phát triển hoạt động giao thông vận tải thì tình hình các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng và tình hình tai nạn giao thông đường bộ nói chung gần đây cũng tăng rất nhanh về cả số lượng vụ việc và mức độ nghiêm trọng đã gây ra những hậu quả lớn về người
và tài sản, làm ảnh hưởng không nhỏ đến an ninh trật tự, an toàn xã hội Theo thống kê của ủy ban An toàn giao thông Quốc gia những năm gần đây tình
hình các vụ tai nạn giao thông xảy ra nhiều đột biến trên cả ba tiêu chí (số vụ,
số người chết và số người bị thương) Ví dụ: Trong năm 2009, cả nước đã xảy
ra 12.492 vụ tai nạn giao thông, làm chết 11.516 người, bị thương 7.914 người Trung bình mỗi ngày vẫn có 31 người chết do tai nạn giao thông Trong 6 tháng đầu năm 2010 cả nước đã xảy ra hơn 6.500 vụ tai nạn giao thông, làm chết hơn 5.600 người và bị thương hơn 4.800 người Điều rất đáng chú ý là ngoài những con số thống kê trên còn có hơn 18.000 vụ va chạm giao thông khiến 23.000 người bị thương Ngoài những thiệt hại rất lớn về tính
Trang 8mạng, xã hội và mỗi gia đình còn phải gánh chịu hậu quả nặng nề do tai nạn giao thông gây ra Còn nửa tháng đầu năm 2013, cả nước vẫn xảy ra trên 450
vụ tai nạn giao thông, cướp đi sinh mạng của 380 người, làm bị thương 325 người Bình quân mỗi ngày vẫn xảy ra 30 vụ tai nạn, làm chết 25 người, bị thương 21 người Đặc biệt, trong các ngày mùng 3, 7, 8/1, mỗi ngày xảy ra từ
40 - 45 vụ tai nạn, làm chết từ 30 - 40 người và bị thương từ 20 - 43 người Vẫn có nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng xảy ra làm nhiều người chết và bị thương Đơn cử như ngày 13/1, tại km 68+560 Quốc lộ 48C thuộc xã Yên Hòa, huyện Tương Dương (Nghệ An), đã xảy ra vụ tai nạn làm 3 người chết,
2 xe mô tô hư hỏng nặng Cùng ngày, tại địa phận xã Kỳ Thịnh, huyện Kỳ Sơn (Hà Tĩnh) đã xảy ra vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng làm 3 người chết tại chỗ Vụ tai nạn ngày 14/1, tại Quốc lộ 9D, thuộc địa bàn phường Đông Lương, Thành phố Đông Hà (Quảng Trị) khiến 2 người chết tại chỗ [64]
Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu á thì Việt Nam mất tới
885 triệu USD/năm cho chi phí tổn thất về người và vật chất do tai nạn giao thông gây ra Đó là chưa kể đến nguồn nhân lực lớn của ngành Y tế dành cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng cho các nạn nhân [61] Còn xét riêng trên địa bàn tỉnh Bình Phước, theo số liệu Công an tỉnh và ủy ban An toàn giao thông tỉnh thì số vụ tai nạn và số người chết, số người bị thương vẫn tăng, giảm theo hàng năm, tuy nhiên, số vụ va chạm và tai nạn giao thông vẫn xảy
ra với mức độ ngày đáng báo động Ví dụ: Năm 2007, số vụ tai nạn là 195 vụ,
số người chết là 198 và số người bị thương là 186 người Đến năm 2012, con
số này có giảm là 161 vụ tai nạn, 360 vụ va chạm, tổng cộng là 521 vụ, số người chết là 165 người và số người bị thương lại tăng nhiều là 688 người
Còn theo thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước, số vụ án và
số bị cáo thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ vẫn bị đưa ra xét xử thường xuyên, tuy nhiên chủ yếu tập trung vào tội vi phạm quy
Trang 9định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), theo đó, trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) có 327 vụ án và 340 bị cáo và năm sau tổng số vụ án và tổng số bị cáo đều cao hơn năm trước; v.v
Do đó, trước thực trạng này, Nhà nước, xã hội và các cơ quan chức năng trong cả nước nói chung, tỉnh Bình Phước nói riêng đã tiến hành nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt và liên tục để ngăn chặn và phòng, chống vi phạm và tội phạm trong lĩnh vực an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân phát sinh là sự gia tăng tính chất và mức độ của hành vi vi phạm nói chung, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ nói riêng như: phóng nhanh, vượt ẩu, cẩu thả khi thực hiện các quy định khác về an toàn trong điều khiển phương tiện nhưng không có giấy phép hoặc không có bằng lái theo quy định, trong khi say rượu hoặc không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển giao thông gây ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản cho người khác
Vì vậy, để góp phần ngăn chặn, phòng ngừa và giảm bớt vi phạm pháp luật và các tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân, việc nghiên cứu và làm sáng tỏ khái niệm và những dấu hiệu pháp
lý hình sự của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, nghiên cứu so sánh với Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới và đánh giá thực tiễn xét
xử các tội phạm này trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) trên địa bàn tỉnh Bình Phước để thực hiện mục đích trên có ý nghĩa chính trị - xã hội và lý luận - thực tiễn quan trọng Đây cũng là lý do để tác giả quyết định lựa chọn
đề tài: "Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự
Việt Nam (trên cơ sở số liệu địa bàn tỉnh Bình Phước)" làm đề tài luận văn
thạc sĩ luật học của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có một số công trình nghiên cứu được công bố, đồng
thời thể hiện trên ba bình diện - luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham
khảo, bình luận, cũng như giáo trình dành cho hệ đại học và một số bài viết bình luận án như:
* Nhóm thứ nhất (các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật học) bao gồm: 1) Bùi Kiến Quốc, Các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ở Thủ đô Hà Nội,
Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2001; 2) Ngô Huy
Ngọc, Những biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ tại thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 1996; 3) Phan Huy Thái, Điều tra các vụ án vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ trên địa bàn thành phố Hà Nội - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ
luật học, Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1998; 4) Nguyễn Đắc Dũng,
Tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh), Luận văn thạc sĩ luật học, 2011 và; 5) Nguyễn Ngọc Anh, Tội đua xe trái phép trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật,
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012; v.v
* Nhóm thứ hai (các sách chuyên khảo, tham khảo) bao gồm: 1) ThS Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học chuyên sâu Bộ luật hình sự - Phần các tội phạm, Tập VI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2005; 2) ThS Hoàng Đình Ban, Hoạt động phòng ngừa tai nạn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an nhân
Trang 11dân, Hà Nội, 2008; 3) TS Trần Minh Hưởng, Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2002; 4) TS Nguyễn Đức Mai, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; v.v
* Nhóm thứ ba (giáo trình, đề tài, bài viết) bao gồm: 1) GS.TS Đỗ Ngọc Quang, Chương XIX - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội
phạm), GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001
(tái bản năm 2007); 2) GS TS Võ Khánh Vinh, Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam (Phần các tội phạm), GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb
Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; 3) GS TS Nguyễn Ngọc Hòa, Chương XXV - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách:
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Tập II) do GS TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ
biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010; 4) TS Phạm Văn Beo, Bài 10 - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Trong sách: Luật
hình sự Việt Nam (Quyển 2 - Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2010; 5) TS Cao Thị Oanh (chủ biên), Chương X - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010; v.v
Ngoài ra, năm 2004 có đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường (Đại học
Luật Hà Nội) của TS Trương Quang Vinh (chủ trì): Tội tổ chức đua xe trái phép, tội đua xe trái phép và đấu tranh phòng, chống các tội này trên địa bàn thành phố Hà Nội Tiếp đến là một số bài viết đi sâu vào tranh luận tội danh
cụ thể, xác định lỗi của tội phạm này như: 1) ThS Lê Văn Luật, Xác định lỗi trong các vụ án tai nạn giao thông, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2005; 2) ThS Huỳnh Quốc Hùng, Một số vấn đề về định tội và định khung tăng nặng
Trang 12trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007; v.v
Tuy nhiên, qua nghiên cứu các công trình trên cho thấy một số công trình có phạm vi nghiên cứu rộng, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ chỉ được đề cập riêng rẽ từng tội bằng bình luận những dấu hiệu pháp lý hình sự và hình phạt hoặc chỉ xem xét dưới góc độ tội phạm học - phòng ngừa cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, trong khi đó, chưa có công
trình khoa học nào ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học đề cập đến cả nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trên một địa bàn cụ thể là tỉnh Bình Phước Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của
Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, cũng như đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng luôn có ý nghĩa về
lý luận và thực tiễn, đặc biệt phục vụ trực tiếp yêu cầu chính trị - xã hội và đấu tranh phòng, chống các tội phạm đã nêu trên địa bàn tỉnh Bình Phước
3 Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu có hệ thống về những vấn đề pháp lý cơ bản của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ như: khái niệm và những dấu hiệu pháp lý hình sự, phân biệt các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ với một số tội phạm khác có liên quan trong Bộ luật hình sự, nghiên cứu
so sánh với Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới, đồng thời phân tích thực tiễn xét xử các tội phạm này trong thời gian 06 năm (2007 - 2012) trên địa bàn tỉnh Bình Phước Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một số vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn xét xử để kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội phạm này
Trang 133.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đúng như tên gọi của nó - Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo luật hình sự Việt Nam (trên cơ
sở số liệu địa bàn tỉnh Bình Phước)
4 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính sách hình sự của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như trong việc bảo vệ an toàn, trật tự xã hội
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình
sự như: phân tích, tổng hợp, so sánh, phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn, điều tra án điển hình để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình
sự và luận chứng các vấn đề cần nghiên cứu trong luận văn này
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 14quy định hiện hành; các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự về các tội phạm này ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn, đặc biệt một số giải pháp gắn liền với việc phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Phước
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Bên cạnh đó, luận văn còn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục
vụ nghiên cứu và học tập môn học Luật hình sự Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này hiện nay và sắp tới ở địa bàn tỉnh Bình Phước nói riêng và cả nước nói chung
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về các tội xâm phạm an toàn giao
thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ theo quy định
của Bộ luật hình sự Việt Nam và Bộ luật hình sự một số nước trên thế giới
Chương 3: Thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Phước, hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ
Trang 15Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC BẢO VỆ AN TOÀN CÔNG CỘNG,
TRẬT TỰ CÔNG CỘNG VÀ QUY ĐỊNH CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.1 An toàn công cộng, trật tự công cộng - khách thể được bảo vệ bằng luật hình sự Việt Nam
Đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và giữ gìn trật tự, an toàn
xã hội nói riêng là một trong những nhiệm vụ quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Bởi lẽ, an toàn công cộng, trật
tự công cộng được ổn định, giữ vững lại có ý nghĩa củng cố, tăng cường cho
sự vững mạnh và tồn tại của chính quyền nhân dân, tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ và tích cực hơn nữa trong công tác đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm, phát huy được sức mạnh tổng hợp, đồng bộ của toàn bộ hệ thống chính trị, trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương trong phòng, chống tội phạm có hiệu quả cao, qua đó nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, bảo đảm tuân thủ nghiêm chỉnh pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hữu hiệu các lợi ích của Nhà nước, trật tự, an toàn xã hội
Đặc biệt, yêu cầu này càng được đề cao trong thời kỳ Đảng và Nhà nước
ta tiến hành đổi mới toàn diện theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra Theo đó, vấn đề bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó gắn liền với sự nghiệp đổi mới toàn bộ nền kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Do đó, ngay từ khi giành được chính quyền,
Trang 16Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng bằng việc ra một số văn bản như: Điều lệ tạm thời số 329-CP ngày 17/9/1954 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý các loại vũ khí; Nghị định số 23-CP ngày 24/02/1973 của Hội đồng Chính phủ về việc tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ góp phần tạo ra môi trường xã hội lành mạnh,
ổn định, bảo đảm nền tảng vững chắc để phát triển kinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống của nhân dân Vì vậy, hiện nay, để tiếp tục bảo đảm tốt công tác giữ gìn an toàn công cộng, trật tự công cộng ở nước ta, đòi hỏi Đảng và Nhà nước
ta phải không ngừng đầu tư cơ sở, vật chất kỹ thuật, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ cao, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn Quá trình giữ gìn bảo đảm an toàn công cộng, trật tự công cộng cũng chính là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và nhiều quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân
Tuy nhiên, không phải mọi hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng đều bị xử lý hình sự, việc xử lý phải trên cơ sở giáo dục, thuyết phục mọi công dân có ý thức chấp hành, nhắc nhở, cảnh cáo, xử lý hành chính, chúng ta chỉ xử lý hình sự đối với những trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ đáng kể hay gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội
Vì vậy, ranh giới xác định vấn đề trách nhiệm hình sự với các trách nhiệm pháp lý khác (dân sự, hành chính ) được phân định rõ ràng trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả tác hại mối quan hệ xã hội bị xâm hại, cũng như thái độ của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Thực tế cho thấy các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật
tự công cộng đã gây ra những thiệt hại không nhỏ về tài sản và tính mạng, sức khỏe của công dân, ảnh hưởng đến trật tự ở những nơi công cộng, đến hoạt động chung của xã hội
Do đó, khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ an toàn công cộng, trật tự công cộng, Điều 78 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 đã quy
Trang 17định: "Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng" Ngoài ra, Điều 79 Hiến pháp cũng quy định: "Công dân có nghĩa vụ tuân theo Hiến pháp và pháp luật, tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội chấp hành tốt những quy tắc sinh hoạt công cộng"
Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nhấn mạnh:
"Nâng cao hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm các
vi phạm pháp luật giao thông Tăng cường hạ tầng kỹ thuật, phương tiện giao thông công cộng, năng lực tổ chức giao thông; thực hiện phương án điều tiết hợp lý cơ cấu và quản lý chất lượng các phương tiện giao thông để giảm tới mức thấp nhất tai nạn giao thông" [10]; v.v
Xuất phát từ tầm quan trọng của việc giữ gìn an toàn, trật tự công cộng trong đời sống xã hội, trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, hệ thống văn
bản pháp luật, Bộ luật hình sự đã quy định Chương "Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng" để bảo vệ các lợi ích trên, xử lý các hành
vi nguy hiểm cho xã hội ở mức độ cao, qua đó bảo đảm mọi sinh hoạt, vui chơi, giải trí, hoạt động công cộng được an toàn, ổn định và tuân thủ các quy
tắc xã hội và quy tắc của pháp luật Vì vậy, tôn trọng và bảo vệ "an toàn công cộng, trật tự công cộng" là “một trong những thước đo, tiêu chí để đánh giá
sự ổn định của xã hội, đánh giá sức mạnh của các cơ quan bảo vệ pháp luật, khả năng quản lý của các cơ quan, tổ chức, đồng thời nó cũng đánh giá được
ý thức pháp luật, văn minh pháp lý của công dân” [16]
Tuy nhiên, trong phạm vi nội dung nghiên cứu này, chúng tôi chỉ nêu khái niệm và những dấu hiệu pháp lý chung của nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng để chứng minh rằng, cùng với các khách thể khác, an toàn công cộng, trật tự công cộng cũng là một trong những khách thể quan trọng được Bộ luật hình sự Việt Nam bảo vệ, tôn trọng và bất kỳ hành vi nào xâm phạm đến nhóm khách thể này đều bị xử lý theo các quy định về những tội phạm tương ứng của Bộ luật hình sự
Trang 18Do vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, theo chúng tôi khái niệm các tội phạm đang đề cập có thể định nghĩa như sau:
Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và
đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về an toàn công cộng, trật tự công cộng, gây ra những thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân, cũng như qua đó xâm phạm đến hoạt động bình thường, ổn định xã hội ở những nơi công cộng
Từ khái niệm này, có thể chỉ ra những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng như sau:
* Khách thể của tội phạm: Cùng với việc xâm phạm vào những quy
định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, các tội phạm ở Chương này còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân Song đây không phải là khách thể trực tiếp của các tội phạm này Tùy theo từng tội phạm cụ thể mà khách thể trực tiếp của tội phạm là xâm phạm đến an toàn công cộng hay trật tự công cộng
Căn cứ vào khách thể bị xâm hại và đặc điểm pháp lý của các tội quy định trong Chương XIX Bộ luật hình sự, chúng ta có thể chia ra thành hai nhóm sau:
- Nhóm 1: Các tội xâm phạm an toàn công cộng;
- Nhóm 2: Các tội xâm phạm trật tự công cộng
Những quy định về an toàn công cộng rất đa dạng, phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm những quy định, điều lệ, nội quy ở những nơi công cộng trên các lĩnh vực giao thông vận tải (đường sắt, đường bộ, đường thủy, đường không), trong lao động sản xuất, trong quản lý vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc những quy định này nhằm
Trang 19bảo đảm an toàn tài sản của Nhà nước, của tổ chức, an toàn về tính mạng, sức khỏe của công dân
Những quy định về trật tự công cộng được hiểu là những quy định (thành văn hoặc không thành văn) ở những nơi công cộng như nhà ga, sân quảng trường, bến tầu, đường phố đông người, công viên những nơi tập trung đông người liên quan đến nếp sống văn minh, nếp sống xã hội chủ nghĩa được mọi người biết, thừa nhận và chấp hành
* Mặt khách quan của các tội phạm: Hành vi khách quan của các
tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội có thể được thực hiện bằng hình thức hành động hoặc không hành động phạm tội
Tuy nhiên, đa số các tội phạm được thực hiện bằng các hành động cụ thể như các tội xâm phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông; tội tổ chức đua xe trái phép; tội đua xe trái phép; tội tạo ra lan truyền, phát tán các chương trình vi -rút tin học Nhưng cũng có một số tội phạm được thực hiện bằng hình thức không hành động như tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ
vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng; v.v
Ngoài ra, cũng đa số các tội trong chương này có cấu thành tội phạm vật chất, tức là cần có dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra, nêu chưa có dấu hiệu hậu quả thì đã bị xử lý hành chính Trong Chương này cũng có một số tội do tính chất nguy hiểm cao và yêu cầu phòng ngừa, ngăn chăn sớm nên không đòi hỏi phải có dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội như: Tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 206), tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 216), tội cản trở giao thông đường không (Điều 217), tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn (Điều 218); v.v
Tương tự, cũng có một số tội phạm trong cấu thành tội phạm cơ bản có giả định nếu hành vi đó tuy chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng
Trang 20đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì xử lý về hình sự, ví dụ: Tội đua xe trái phép (Điều 207)
* Mặt chủ quan của các tội phạm: Với các tội xâm phạm an toàn công
cộng thì đa số các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho
xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
Trong khi đó hầu hết các tội xâm phạm trật tự công cộng lại được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi nhưng mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Ngoài ra, động cơ phạm tội của các tội phạm được quy định trong Chương này rất đa dạng nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm
* Chủ thể của các tội phạm: Chủ thể của các tội phạm này là những
người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, có một số tội phạm đòi hỏi người thực hiện tội phạm phải có dấu hiệu chủ thể đặc biệt, ví dụ: người điều khiển phương tiện giao thông; tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông; v.v
1.1.2 Sự cần thiết của việc quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong luật hình sự Việt Nam
Giao thông vận tải đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, từ việc giúp cho các quá trình sản xuất diễn ra liên tục và bình thường; phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân được thuận lợi hơn, cũng như là nhân tố quan trọng trong phân bố sản xuất và dân cư Đặc biệt, giao thông vận tải còn bảo đảm các mối liên hệ kinh tế, xã hội giữa các địa phương, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế, văn hóa, đặc biệt là tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh
Trang 21trên mọi vùng miền của Tổ quốc; v.v Trong giao thông vận tải, giao thông đường bộ lại giữ một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ một quốc gia nào, trong đó có Việt Nam
Trong những năm qua, mặc dù Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp
đã nỗ lực cố gắng và đề ra nhiều giải pháp để kiềm chế gia tăng, tiến tới giảm dần tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, nhưng tai nạn giao thông vẫn xảy
ra nghiêm trọng ở mức cao, gây thiệt hại không nhỏ về người, tài sản của Nhà nước và của nhân dân, trong đó đứng đầu là tai nạn giao thông đường bộ với
ba tiêu chí số người, số vụ và số thiệt hại Thực trạng này đã là một vấn đề xã hội hết sức bức xúc và đang làm đau đầu các cơ quan chức năng, các nhà quản lý ở nước ta hiện nay Do đó, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là nhóm những tội phạm nằm trong nhóm các tội xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và nó cần thiết được ghi nhận trong Bộ luật hình sự Việt Nam để kịp thời xử lý những người có hành vi xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, nếu đáp ứng các điều kiện nhất định Vì vậy, ngay
từ khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên - Bộ luật hình sự năm 1985, các nhà làm luật đã quan tâm đến việc quy định một số hành vi liên quan đến các tội phạm này trong Bộ luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tính mạng, sức khỏe, tài sản của công dân
Ngoài ra, ngày 24/02/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng và Chính phủ
đã ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông" và Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 "Về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông" Trong hai văn bản này, nội
dung xác định rõ các chủ trương, giải pháp cơ bản và lâu dài, cũng như các biện pháp cấp bách nhằm kiềm chế việc gia tăng, chặn đứng và đẩy lùi tai nạn giao thông, qua đó, yêu cầu tất cả các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc
Trang 22và các đoàn thể phải đặt nhiệm vụ bảo đảm an toàn giao thông là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý; tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản này
Việc xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông nói chung và các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng theo quy định của Bộ luật hình sự là một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm góp phần ngăn chặn, phòng ngừa
và kiềm chế tai nạn giao thông, xử lý các vi phạm ở mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, tính mạng, sức khỏe của công dân và các thiệt hại vật chất cho xã hội và công dân
Thực tiễn xét xử các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong thời gian vừa qua cho thấy mặc dù đã được sửa đổi và đã có văn bản hướng dẫn của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án này, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn thường gặp những vướng mắc, lúng túng trong việc xác định tội danh; áp dụng các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt; đường lối xử lý cụ thể, đặc biệt là tội phạm hay xảy ra trên địa bàn cả nước nói chung, địa bàn tỉnh Bình Phước nói riêng là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; v.v Nguyên nhân của tình trạng này một phần do các quy định của pháp luật hiện hành về các tội phạm này (Bộ luật hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan) đã bộc lộ nhiều điểm không còn phù hợp với thực tiễn Mặt khác, các văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự cũng chưa đầy đủ, rõ ràng dẫn đến sự nhận thức và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn giữa các cơ quan tiến hành
tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, trong khi đó, việc bảo đảm an toàn công cộng, trật tự công cộng luôn luôn được đặt ra trong mọi điều kiện, hoàn cảnh vì sự yên bình của xã hội, sự an toàn của tính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân
Trang 23Như vậy, trên cơ sở này, các nhà làm luật Việt Nam đã quy định thành những tội cụ thể xâm phạm an toàn giao thông đường bộ trong Bộ luật hình
sự với sáu tội phạm cụ thể quy định tại các điều 202 - 207 làm căn cứ pháp lý quan trọng để bảo đảm việc giữ gìn và bảo vệ an toàn công cộng, tính mạng, sức khỏe của công dân luôn luôn được đặt ra trong mọi tình huống, tuy việc
xử lý các hành vi phạm tội là việc làm bất đắc dĩ
1.2 KHÁI NIỆM CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trong luật hình sự, tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu nhất Nội dung của khái niệm tội phạm đã "thể hiện rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị xã hội cũng như những đặc điểm pháp lý của luật hình sự" [52] Đồng thời nó còn "được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lý khác "[13] Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực nhất trong xã hội, "xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật, cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng"[4] Tội phạm mang bản chất là một hiện tượng pháp lý Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội - pháp lý, tội phạm luôn chứa đựng trong nó đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền, tự do và các lợi ích hợp pháp của con người Đặc biệt, tội phạm “cũng chịu sự tác động sâu sắc của ý thức pháp quyền được thể hiện trong pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội phải tuân theo trật tự pháp luật và sự tác động (điều chỉnh) này lại có tính cưỡng chế cao thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước”[55]
Tại Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2009, các nhà làm luật nước ta đã ghi nhận định nghĩa lập pháp của khái niệm tội phạm như sau: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ
Trang 24luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố
ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Như vậy, có thể coi quy định về tội phạm nêu trên là quy định "có tính khoa học thể hiện tập trung nhất quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm"[14]
Tuy nhiên, khái niệm tội phạm trong định nghĩa lập pháp mới chỉ ghi nhận bốn
đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản trong nội hàm khái niệm của Điều 8 Bộ luật hình sự bao gồm: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự; tội phạm do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện; tội phạm được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý và tội phạm xâm phạm đến các khách thể được Bộ luật hình sự xác lập và bảo vệ Do đó, nếu nghiên cứu một cách sâu sắc những đặc điểm cụ thể thuộc nội dung của khái niệm tội phạm cũng như xem xét mối liên hệ giữa chúng thì thấy rằng, theo GS TSKH Lê Văn Cảm, khái niệm này còn thiếu một đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản là tội phạm
do người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện[4] thì mới phù hợp với lý luận và bao quát xử lý các trường hợp trong thực tiễn
Còn về khái niệm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ cụ thể
- bao gồm sáu tội - tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, tội cản trở giao thông đường bộ, tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn, tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ, tội tổ chức đua xe trái phép và tội đua xe trái phép chính là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung)
Trang 25Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, chỉ có định nghĩa
riêng rẽ về từng tội phạm hoặc có tác giả chỉ liệt kê và phân tích sáu tội phạm
này và quan niệm đó là thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ[23], còn khái niệm cả nhóm tội phạm xâm phạm an toàn giao thông đường bộ thì chưa có định nghĩa
Tuy nhiên, cũng có một tác giả cho rằng: “Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ (hay còn gọi là các tội xâm phạm trật tự giao thông đường bộ) là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại các điều
202, 203, 204 và 205 Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách vô ý xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác”[35]
Như vậy, theo quan điểm này, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ (hay còn gọi là các tội xâm phạm trật tự giao thông đường bộ) là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và được quy định tại Điều 202 (tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ), Điều 203 (tội cản trở giao thông đường bộ), Điều 204 (tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn), Điều 205 (tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ) và các tội phạm này đều được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý
Chúng tôi cho rằng, quan điểm này đã thu hẹp nội hàm các tội xâm
phạm an toàn giao thông đường bộ Bởi lẽ, ngoài những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Điều 202 (tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ), Điều 203 (tội cản trở giao thông đường bộ), Điều 204 (tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn), Điều 205 (tội điều động hoặc giao cho người không
đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ), các tội xâm
Trang 26phạm an toàn giao thông đường bộ còn bao gồm cả hai tội phạm quy định tại Điều 206 (tội tổ chức đua xe trái phép) và Điều 207 (tội đua xe trái phép) Bởi
lẽ, hai tội phạm này không những xâm phạm đến an toàn công cộng, mà còn xâm phạm đến trật tự công cộng thể hiện ở chỗ: Các hành vi này xâm phạm
an toàn công cộng thông qua việc gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến
tài sản, tính mạng, sức khỏe của con người ở nơi công cộng, làm cho mọi
người hoang mang, lo sợ, đồng thời xâm phạm đến trật tự công cộng thông
qua việc gây mất trật tự nơi công cộng, tắc nghẽn giao thông, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cộng đồng dân cư Do đó, hành vi đua xe trái phép và tổ chức đua xe trái phép đã đồng thời xâm phạm đến cả hai quan hệ
xã hội này thông qua các hành vi phạm tội được mô tả trong nội dung các điều 206 - 207 Bộ luật hình sự, nên cần phải được xếp chung vào nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ mới đầy đủ và chính xác Hơn nữa, đối với hai tội phạm này, chủ thể của tội phạm đã thực hiện các hành vi của mình dưới hình thức lỗi cố ý
Vì vậy, dưới góc độ khoa học luật hình sự, khái niệm các tội phạm đang nghiên cứu được định nghĩa như sau:
Các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự
và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi (cố ý hoặc
vô ý), xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, đồng thời còn gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác
Như vậy, từ khái niệm này có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của các
tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ như sau:
Một là, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là những
hành vi xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông vận tải đường
Trang 27bộ cũng như an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng và bị xử lý theo quy định của Bộ luật hình sự
Hai là, các hành vi phạm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ
vi phạm quy định an toàn giao thông đường bộ được biểu hiện trực tiếp thông qua thực hiện các chức năng điều khiển sự vận động của phương tiện giao thông đường bộ, thông qua việc gây mất trật tự nơi công cộng, tắc nghẽn giao thông, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cộng đồng dân cư, của xã hội
Ba là, hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản; gây thiệt
hại nghiêm trọng cho trật tự, an toàn công cộng, sự yên ổn - hoạt động bình thường của xã hội
Bốn là, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ là những hành
vi xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ do chủ thể là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.3.1 Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đập tan chế độ thực dân phong kiến, đồng thời thiết lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để bảo vệ thành quả cách mạnh, ngay sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành nhiều các văn bản pháp luật hình sự quy định các tội chống chính quyền dân chủ nhân dân như: tội âm mưu lật đổ
Trang 28chính quyền, tội gián điệp, tội bạo loạn, tội hoạt động phỉ trong Sắc lệnh số
21 ngày 14/2/1946 Tuy nhiên, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ nằm trong hệ thống luật hình sự Việt Nam được quy định muộn hơn nhiều
so với các loại tội khác và chưa được quy định trong các văn bản pháp luật hình sự trong thời kỳ này Như vậy, các tội chống lại chính quyền dân chủ nhân dân ra đời rất sớm, gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong khi đó, các tội xâm phạm an toàn giao thông đường
bộ có lịch sử ra đời muộn hơn và quy phạm pháp luật quy định các tội phạm này là những quy phạm viện dẫn, nên một số tội trong nhóm các tội này chỉ ra đời khi có các quy định về an toàn giao thông vận tải - đường bộ tức là khi có Luật về giao thông đường bộ
Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Nhà nước ta tiến hành xây dựng hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật để quản lý xã hội, trong đó
có các văn bản pháp luật bảo đảm an toàn giao thông vận tải đường bộ Ngày 03/10/1955[42], Luật đi đường bộ mới được ra đời kèm theo Nghị định số 348/NĐ của Bộ Giao thông Bưu điện Đây là văn bản pháp lý đầu tiên của Nhà nước ta về an toàn giao thông vận tải, tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Tiếp theo Nghị định 348/NĐ nói trên, hàng loạt các văn bản pháp lý khác về an toàn giao thông vận tải đã ra đời như: Nghị định số 139/NĐ ngày 19/12/1956; Nghị định số 44/NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông Bưu điện; Nghị định Liên bộ Giao thông Bưu điện - Công an số 09/NĐLB ngày 07/3/1956 ban hành thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ về kỷ luật an toàn giao thông vận tải trong thời chiến; Nghị định số 36/CP ngày 29/5/1995 về tăng cường bảo đảm trật tự an toàn giao thông vận tải đường bộ và trật tự đô thị và đến nay là Nghị định số 36/CP ngày 10/7/2001 về bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật
Trang 29tự an toàn giao thông đô thị Đáng chú ý là ngày 29/6/2001, Quốc hội đã thông qua Luật giao thông đường bộ đầu tiên của Việt Nam Luật này bắt đầu
có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2002
Các văn bản chuyên ngành nói trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự quy định các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ Tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung vào tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông vận tải (ghép các hành vi xâm phạm đến các lĩnh vực giao thông vào làm một nhóm)
Văn bản pháp luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta điều chỉnh tội vi phạm quy định về nhóm tội phạm này là Thông tư số 442/TTg ngày 19/01/1955 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, Điểm 4 của Thông tư nói trên
quy định: "Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà làm người khác
bị thương sẽ bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm"[42] Như vậy, qua nghiên cứu
Thông tư này, thấy rõ những nội dung chủ yếu sau đây:
- Chỉ những vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường
bộ gây thương tích, gây chết người mới bị coi là tội phạm và bị xử phạt Nếu chỉ gây thiệt hại thuần túy về vật chất không bị coi là tội phạm và không bị xử
lý về hình sự;
- Điều luật này quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với hai khung hình phạt khác nhau; khung 1 quy định - phạt tù từ ba tháng đến ba năm (cấu thành tội phạm cơ bản) được áp dụng cho trường hợp chỉ gây thương tích Còn khung 2 quy định - phạt tù đến mười năm (cấu thành tội phạm tăng nặng) được áp dụng cho trường hợp gây chết người
Sau hơn một năm thực hiện Thông tư 442/TTg, ngày 29/6/1956, theo
đề nghị của Ban Nội chính Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ra Thông tư
Trang 30số 556/TTg bổ khuyết điểm 4 của Thông tư này Điểm 4 của Thông tư 556 quy định: Không cẩn thận hay không theo Luật đi đường mà làm người khác
bị thương thì sẽ phạt tù từ ba tháng đến ba năm Nếu gây tai nạn làm chết người thì có thể bị phạt tù đến mười năm Trong trường hợp gây tai nạn lớn làm chết nhiều người và gây thiệt hại lớn đến tài sản của nhân dân thì có thể
bị phạt đến tù chung thân hay tử hình[42]
Như vậy, trước ngày giải phóng miền Nam, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đều được điều tra, truy tố, xét xử theo Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg của Thủ tướng Chính phủ Qua xem xét quy định nói trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Việc quy định tội phạm này trong pháp luật hình sự ở một chừng mực nhất định thời đó còn nhiều hạn chế, thể hiện ở chỗ: trật tự ban hành các loại văn bản cũng như nội dung của văn bản không đúng thẩm quyền (Thông tư của Thủ tướng Chính phủ ban hành những nội dung đáng lẽ phải do luật quy định; Bộ trưởng ban hành nghị định ); điều luật quy định tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ còn đơn giản, chưa thể hiện sự phân hóa cao trách nhiệm hình sự (chỉ có 2 khung hình phạt và khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của các khung hình phạt quá xa nhau; các tình tiết định khung tăng nặng còn bó hẹp trong giới hạn mức độ hậu quả, mà không có các loại tình tiết khác như tình tiết phạm tội trong tình trạng say rượu, gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn nên không đáp ứng được tính đa dạng, phức tạp của hành vi phạm tội)
- Việc ban hành Thông tư số 556/TTg ngày 29/6/1955 bổ sung cho Thông tư 442/TTg ngày 29/6/1956 có hạn chế lớn về mặt lập pháp và không có hiệu quả Trong Thông tư này, các nhà lập pháp đã quá nhấn mạnh tới mặt khách quan của tội phạm (dấu hiệu hậu quả của tội phạm), mà không chú ý tới
Trang 31lỗi vô ý của người phạm tội nên chế tài cho tội này quá nghiêm khắc, không phù hợp với bản chất của loại tội có lỗi vô ý và với yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm Ví dụ: Thông tư 556/TTg ngày 29/6/1956 quy định gây chết 01 người có thể bị phạt tù đến 10 năm (khung 2), gây chết nhiều người và gây thiệt hại lớn về tài sản có thể phạt tù chung thân hoặc tử hình (khung 3) Thực tiễn xét xử từ trước tới nay chưa có bị cáo nào bị phạt tù chung thân hoặc
tử hình về tội này Những bị cáo làm chết 1 người thông thường bị xử tù 3 năm hoặc nhẹ hơn, chưa có trường hợp nào xử phạt đến 10 năm Điều đó chứng tỏ luật pháp quá xa rời thực tiễn, cần phải được sửa đổi, bổ sung
Như vậy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, việc xử lý hành
vi phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được thực hiện theo hướng dẫn tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xử lý tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn (Công văn số 949/NCPL ngày 25/11/1968 của Tòa án nhân dân tối cao)[42] Theo Bản sơ kết này, thì tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm phạm nền an toàn giao thông - một bộ phận của nền trật tự, trị an - vốn thuộc loại tội khinh xuất Đối với loại tội này, cần xác định chắc chắn là có hành vi phạm luật lệ giao thông, có hậu quả tác hại cụ thể do hành vi phạm tội gây nên Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn thường xảy ra trong phạm vi hoạt động nghề nghiệp của người lái và nói chung là hoạt động của người điều khiển phương tiện vận chuyển
Ngoài ra, đường lối xử lý đối với người phạm tội vi phạm luật lệ giao
thông gây tai nạn là “trừng trị thích đáng đối với những vi phạm nghiêm trọng, nghiêm trị đúng mức đối với những vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời kết hợp với thận trọng để xem xét đầy đủ mọi tình tiết một cách toàn diện”[42], cụ thể:
- Vi phạm nghiêm trọng về luật lệ giao thông vận tải luôn thể hiện trên
Trang 32hai mặt: 1) Người lái xe thiếu tinh thần trách nhiệm không chú ý kiểm tra an toàn của phương tiện vận chuyển, phóng bừa, vượt ẩu, không tuân thủ luật lệ giao thông vận tải; 2) Tai nạn làm thiệt hại đến tài sản của xã hội hoặc tính mạng của nhân dân
Về mức án, nếu không có tình tiết đáng châm chước, thông thường có thể phạt tới hai năm tù giam, nhưng cá biệt cũng có vụ có thể xử phạt tới ba năm tù giam Châm chước đối với những vi phạm tuy nghiêm trọng nhưng xảy ra trong những hoàn cảnh đặc biệt của thời kỳ chiến tranh, như: đường sá, cầu, phà xấu vì bị phá hoại, xe chạy ban đêm không được bật đèn, lái xe mới được đào tạo, tay lái non, có ít kinh nghiệm do thời gian phục vụ còn ngắn, chưa kịp xử lý nhiều khó khăn, phức tạp đặc biệt, có khi lại bị mệt mỏi vì phải tăng cường độ lao động do yêu cầu cấp thiết của kế hoạch vận chuyển; địch
uy hiếp và bắn phá, người lái xe mất bình tĩnh, do tinh thần bị căng thẳng mà gây ra tai nạn; v.v [2] Về mức hình phạt, trong trường hợp này có thể áp dụng hình phạt và biện pháp nhẹ như: cảnh cáo, án treo; trường hợp thật cần thiết giam giữ, không nên phạt quá một năm tù
- Phạm tội vi phạm đặc biệt nghiêm trọng về luật lệ giao thông, vận tải
là những vi phạm thể hiện đầy đủ trên các mặt sau đây:
+ Vi phạm có mức độ khinh xuất cao như: lái xe biết rõ ràng là phương tiện vận chuyển không an toàn, có thể dễ gây tai nạn mà không quan tâm sửa chữa hoặc đề nghị sửa chữa, cứ sử dụng phương tiện một cách tắc trách, không có biện pháp tối cần thiết phòng ngừa tai nạn; phóng bừa, vượt ẩu một cách quá mức, không tuân thủ luật lệ một cách trắng trợn; có biểu hiện rõ ràng
là ỷ lại vào tình hình thời chiến mà vi phạm luật lệ giao thông, trong trường hợp không có gì là ảnh hưởng trực tiếp do địch gây nên
+ Tai nạn gây nên tác hại lớn, như: chết nhiều người, tài sản bị thiệt hại
có giá trị lớn làm trở ngại cho sự thực hiện chủ trương và kế hoạch của Đảng
và Nhà nước; v.v
Trang 33+ Nhân thân của bị cáo xấu, hoàn cảnh và điều kiện phạm tội nghiêm trọng, như: lái xe có phẩm chất chính trị xấu, sinh hoạt bê tha, đã có tiền
án, tiền sự về vi phạm luật lệ giao thông vận tải, đang lợi dụng nhiệm vụ công tác để có những hành vi phạm pháp khác (như thông đồng với gian thương, với những phần tử xấu chở hàng lậu thuê, đầu cơ, chở hàng thuê lấy tiền tiêu riêng; v.v )
Về mức án, nếu không có tình tiết gì đáng châm trước và chưa xét đến những hành vi phạm tội khác với ý nghĩa là phạm tội độc lập, có thể áp dụng mức án đến năm năm tù giam; cá biệt có thể phạt tới bảy năm tù giam
Mục IV - Đường lối xử lý đối với một số trường hợp cụ thể cũng đã nêu: 1) Việc định tội và việc phân định mức độ trách nhiệm hình sự giữa người lái chính với lái phụ hoặc người nào khác cầm tay lái;
2) Vấn đề thu hồi bằng cầm lái (với tính chất là một biện pháp hành chính, vừa là một hình phạt phụ về hình sự)
Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Chỉ thị số 138-TTg ngày 15/8/1970 về việc cấm dùng xe ôtô vận tải trái phép[42] Theo đó, các lái xe ôtô vận tải tuyệt đối không được mang xe ô tô của Nhà nước đi vận chuyển trái phép; nếu vi phạm sẽ bị thi hành kỷ luật nặng, phạt tiền, thu bằng lái, truy tố trước Tòa án Tuy nhiên, cũng chưa khẳng định rõ, nếu ở mức độ nặng, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm gì
Đến năm 1976, Chính phủ mới ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 quy định tội phạm và hình phạt đối với hành vi xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe của nhân dân Tại Điều 9 Sắc luật này quy định về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và
sức khỏe của nhân dân như sau: "Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung hình phạt tù từ ba tháng đến năm năm, trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1000 đồng ngân hàng"
Trang 34Qua trên cho thấy, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985, các hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa được quy định là một tội phạm độc lập Đường lối xử lý hành vi phạm tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn được thực hiện theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn Đến năm 1976, Nhà nước mới ban hành một văn bản dưới dạng Sắc luật quy định tội phạm và hình phạt đối với tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng chỉ là một trong số các tội xâm phạm đến trật
tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân; được quy định tại một
điều luật có tên tội danh là tội "xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng và sức khỏe nhân dân"
Như vậy, mặc dù Nhà nước đã ban hành một số văn bản khác nhau, tuy nhiên, phần lớn các văn bản chỉ tập trung chủ yếu vào xử lý và hướng dẫn về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng mà Bộ luật hình sự năm 1985 ghi nhận một cách đầy đủ và có hệ thống sau này
1.3.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Tháng 6 năm 1985, Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời, được công bố bởi Lệnh của Chủ tịch nước ngày 09/7/1985 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986
Về nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ, Bộ luật hình sự
đã quy định cụ thể các tội sau:
- Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải (Điều 186)
Trong Bộ luật này, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ chưa có tên riêng, mà được quy định chung trong tội vi phạm các
Trang 35quy định về an toàn giao thông vận tải thuộc bốn lĩnh vực - đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không Quy phạm pháp luật quy định tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải của Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 186, Chương VIII - Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính) có nội dung như sau:
1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
a) Đi quá tốc độ, chở quá trọng tải, tránh, vượt trái phép;
b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồn lách, đường bay và
độ cao quy định;
c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông vận tải
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Điều khiển phương tiện an toàn giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;
b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn
3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai mươi năm
4 Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 so với nội dung trong
Trang 36Điều 9 Sắc luật 03-SL/76 đã có một bước tiến bộ rất lớn cả về nội dung và kỹ
thuật lập pháp, cụ thể tên của tội đã được xác định rõ là "Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng" Đây là điều mà
các văn bản pháp luật trước đó đều chưa thể hiện được Ngoài ra, Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 không chỉ nêu tội danh mà đã mô tả các dấu hiệu pháp
lý đặc trưng của tội phạm cũng như quy định các khung hình phạt tương ứng với các loại trường hợp phạm tội khác nhau, khắc phục được hạn chế của Sắc luật 03-SL/76 (chỉ nêu tội danh và hình phạt) Đặc biệt, đường lối xử lý tội phạm theo Điều 186 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng có sự thay đổi so với Sắc luật 03-SL/76, Thông tư 442/TTg và Thông tư 556/TTg Về hình phạt tù, Điều
186 Bộ luật hình sự năm 1985 đã nâng mức phạt tù tối đa từ 15 năm lên 20 năm cho phù hợp với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của tội này
- Tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187)
Theo đó, Điều luật này quy định:
1 Người nào có một trong những hành vi sau đây cản trở giao thông vận tải gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm:
a) Đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không;
b) Di chuyển, phá hủy biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông;
c) Có hành vi khác cản trở giao thông vận tải
2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm
Tội phạm được quy định nhằm xử lý các hành vi cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng như: đào, phá các công trình giao thông, đặt vật chướng ngại cản trở giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường
Trang 37không; di chuyển, phá hủy biển báo hiệu hoặc các thiết bị giao thông; v.v xâm phạm đến an toàn công cộng, qua đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác
- Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không có đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 188) Theo đó:
1 Người nào có một trong những hành vi sau đây thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
a) Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông vận tải mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản;
b) Điều động người không có bằng lái hoặc không đủ những điều kiện khác, điều động người say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nói trên
2 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm
Tương tự, tội phạm được quy định nhằm xử lý các hành vi đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không có đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng, qua đó xâm phạm đến an toàn công cộng, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác
Như vậy, sau hơn 10 năm thực hiện, Bộ luật hình sự năm 1985 nói chung, cũng như quy phạm pháp luật quy định về các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ nói riêng đã phát huy tác dụng to lớn trong việc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này Tuy nhiên, quy định của Bộ luật hình
sự năm 1985 về các tội phạm này cũng bộc lộ một số hạn chế Chẳng hạn,
Trang 38trong đó nổi bật là việc quy định cả bốn loại hành vi phạm tội trong bốn lĩnh
vực an toàn giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không) có đặc điểm kỹ thuật và yêu cầu bảo đảm an toàn rất khác nhau vào cùng một điều luật hoặc tương tự, hành vi cản trở giao thông cũng gộp vào
trong cùng một điều luật trong cả bốn lĩnh vực an toàn giao thông vận tải
(đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không); v.v Điều này đã hạn chế nhiều đến việc quy định cụ thể hành vi phạm tội, cũng như việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với người phạm tội
Tóm lại, qua bốn lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 vào
các năm 1989, 1991, 1992 và 1997, nội dung của các tội xâm phạm an toàn giao thông đường bộ về cơ bản nội dung không có gì thay đổi so với chính các tội phạm này, mà chỉ có sự thay đổi về tên tội (được sửa đổi năm 1991),
từ tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng thành tội vi phạm quy định về an toàn giao thông vận tải Việc bỏ cụm
từ "gây hậu quả nghiêm trọng" nhằm cho tên tội phù hợp với tất cả các trường
hợp bị coi là phạm tội này theo nội dung của điều luật (khoản 4 Điều 186 quy định trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cũng là trường hợp phạm tội này, mặc dù chưa gây ra hậu quả nguy hiểm cho
xã hội) Ngoài ra, các tội phạm khác vẫn giữ nguyên
Bên cạnh đó, song song với nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành, hành vi đua xe trái phép không được quy định thành một tội danh riêng để xử lý độc lập Hành vi này
có những biểu hiện rõ rệt của một tội danh được Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội gây rối trật tự công cộng Vì vậy, quy định của điều luật này được sử dụng để xử lý về hình sự hành vi đua xe trái phép Thời gian sau, tình trạng đua xe trái phép, đặc biệt là đua xe máy, diễn ra phức tạp, gây mất trật
tự công cộng, vi phạm các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đe
Trang 39dọa tính mạng, sức khỏe của con người, tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc Nhà nước Việc xử lý về hình sự của các cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án đối với loại vi phạm pháp luật này còn chưa thống nhất, dẫn đến hạn chế hiệu quả của việc ngăn chặn loại vi phạm pháp luật này Do đó, Bộ Nội vụ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 10/TTLT ngày 31/12/1996 để hướng dẫn xử lý hành vi đua xe trái phép như sau:
Một là, mọi trường hợp đua xe trái phép có từ 2 xe tham gia trở lên đều
bị coi là hành vi gây rối trật tự công cộng và người đua xe trái phép phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công cộng, theo khoản 1 Điều 198
Bộ luật hình sự năm 1985 Người tổ chức cuộc đua xe trái phép, người xúi giục người khác đua xe trái phép thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng)
Hai là, người đua xe trái phép nếu gây thiệt hại đến tính mạng, sức
khỏe của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, mà thiệt hại xảy ra là do lỗi vô ý, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 198 Bộ luật hình sự (nếu có hành vi tổ chức, xúi giục thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 -
tội gây rối trật tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều
186 Bộ luật hình sự năm 1985
Ba là, người đua xe trái phép nếu gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe
của người khác hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, mà thiệt hại xảy
ra là do lỗi cố ý, thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 198
Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng), còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều tương ứng của Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 101, Điều 109, Điều 138 hoặc Điều 160)
Bốn là, người đua xe trái phép vì mục đích được thua bằng tiền hoặc
Trang 40hiện vật thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự (tội gây rối trật tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1985
Năm là, người đua xe trái phép có hành vi chống lại người thi hành
công vụ ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng) còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ theo Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985
Sáu là, người đua xe trái phép có hành vi chống lại người thi hành công
vụ làm cho người thi hành công vụ bị thương hoặc chết thì ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 198 Bộ luật hình sự năm 1985 (tội gây rối trật tự công cộng), căn cứ vào trường hợp cụ thể còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều tương ứng (Điều 101, Điều 109) của Bộ luật hình sự năm
1985 Đến năm 1999, hành vi đua xe trái phép đã được tách ra thành một tội danh độc lập trong Bộ luật hình sự để xử lý về tội đua xe trái phép (Điều 207)
Tóm lại, trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, các nhà làm luật nước ta mới chỉ quy định trực tiếp nhóm các tội xâm phạm an toàn giao thông
đường bộ tại ba điều luật - tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận
tải (Điều 186), tội cản trở giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 187) và tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông vận tải không bảo đảm an toàn hoặc điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 188) và xử lý hành vi đua xe trái phép trong tội gây rối trật tự công cộng (Điều 198) Tuy nhiên, đây chính là cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý các hành vi xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, cũng như là tiền đề cho việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các tội phạm này trong lần pháp điển hóa lần thứ hai luật hình sự -
Bộ luật hình sự năm 1999 sau này