1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay

118 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

vô ý làm chết người 2.10 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính 50 2.11 Tổng số vụ án, bị cáo do

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HÀ HỒNG SƠN

CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VÀ THỰC TIỄN XÉT XỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Tiến Việt

HẢ NỘI - 2011

Trang 3

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM

CHẾT NGƯỜI THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

8

1.1 Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội

phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự

1.2 Khái niệm tội vô ý làm chết người, tội vô ý làm chết người do

vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính và phân

biệt các tội phạm này với một số tội phạm khác theo luật hình

sự Việt Nam

15

1.2.2 Khái niệm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề

nghiệp hoặc quy tắc hành chính

18

1.2.3 Phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm

khác theo luật hình sự Việt Nam

20

1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự

Việt Nam từ thời kỳ phong kiến đến trước khi ban hành Bộ

luật hình sự năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

23

Trang 4

1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách

mạng tháng Tám năm 1945

23

1.3.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công

cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự

năm 1985

27

1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến

trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999

30

Chương 2: Các tội vô ý làm chết người theo QUY Định Của Bộ Luật

Hình Sự việt nam NĂM 1999 và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay

33

2.1 Các tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật hình sự

Việt Nam năm 1999

2.2 Thực tiễn xét xử các tội vô ý làm chết người ở nước ta hiện nay 39

2.2.2 Tình hình xét xử tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc

nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

46

Chương 3: hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả

áp dụng những quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

74

3.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật những

quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội

vô ý làm chết người

74

3.1.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ

luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

74

3.1.2 ý nghĩa của việc hoàn thiện pháp luật những quy định của Bộ

luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

75

Trang 5

3.2 Hoàn thiện những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam

năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

75

3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định

của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm

chết người

80

3.3.1 Tăng cường công tác xây dựng pháp luật, đồng thời hướng

dẫn, giải thích những quy định của của Bộ luật hình sự liên

quan đến các tội vô ý làm chết người

80

3.3.2 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân

các văn bản pháp luật khác liên quan đến các hành vi có thể

dẫn tới hậu quả chết người

86

3.3.3 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ

tư pháp, tăng cường phối hợp giữa các chủ thể phòng ngừa tội

phạm trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội vô ý làm

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Tổng số vụ, số bị cáo phải xét xử và tổng số vụ, bị cáo về

tội vô ý làm chết người phải giải quyết trên toàn quốc từ

năm 2005-2010

40

2.2 Tổng số vụ, số bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người từ năm 2005 đến năm 2010

41

2.3 Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa án 42

2.4 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô

ý làm chết người

43

2.5 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người trong tương quan với các tội xâm phạm tính

mạng của con người (các tội từ Điều 93 đến Điều 103 Bộ

luật hình sự)

44

2.6 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người trong tương quan với các tội xâm phạm an

toàn công cộng, trật tự công cộng (các tội từ Điều 202

đến Điều 256 Bộ luật hình sự)

45

2.7 Tổng số vụ, số bị cáo và tổng số vụ, bị cáo về tội vô ý

làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy

tắc hành chính phải giải quyết trên địa bàn toàn quốc

trong thời gian từ năm 2005-2010

47

2.8 Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc

hành chính

48

2.9 Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa án đối với tội 49

Trang 7

vô ý làm chết người

2.10 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô

ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc

quy tắc hành chính

50

2.11 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc

hành chính trong tương quan với các tội xâm phạm tính

mạng của con người (Các tội từ Điều 93 đến Điều 103 Bộ

luật hình sự)

51

2.12 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm

chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc

hành chính trong tương quan với các tội xâm phạm an

toàn công cộng, trật tự công cộng (Các tội từ Điều 202

đến Điều 256 Bộ luật hình sự)

52

2.13 Số bị cáo do Tòa án xét xử từ năm 2005-2010 (thống kê

cấp tỉnh + quận/huyện) về tội giết người, tội vô ý làm

chết người, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc

nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội vô ý gây

thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người

khác, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp, tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ và tội vi phạm quy định về an toàn lao động

54

2.14 Những loại tội phạm chính qua nghiên cứu ngẫu nhiên

175 bản án hình sự sơ thẩm của các Tòa án nhân dân cấp

tỉnh trên địa bàn cả nước đã xét xử từ ngày 01-01-2010

đến ngày 31-12-2010

57

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong cuộc sống của con người thì những lợi ích về nhân thân (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm) có ý nghĩa quan trọng nhất Chính vì vậy mà Tuyên ngôn thế giới về quyền con người ngày 10-12-1948 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố: "Mọi người đều có quyền sống và quyền an toàn về cá nhân" Như vậy, quyền sống là quyền trước tiên và quan trọng nhất của con người Mọi hành vi xâm phạm quyền sống của con người đều bị coi là hành vi phạm tội nghiêm trọng nhất và phải bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật Việt Nam đã thừa nhận và cam kết thực hiện tốt nhất các quyền ấy Lần lượt các bản Hiến pháp của nước ta (1946, 1959, 1980, 1992) đều thể hiện tinh thần đó Điều 71 Hiến pháp hiện hành quy định: "Mọi công dân đều có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ

về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…" [20, tr 144]

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng, tiềm lực kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường Đời sống văn hóa, xã hội tiến bộ trên nhiều mặt, cuộc sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; chương trình xóa đói, giảm nghèo được thực hiện đạt nhiều kết quả nổi bật Song song với việc phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo đảm quyền của công dân, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, đặc biệt là quyền sống Nhà nước Việt Nam đặc biệt ưu tiên và đã có những nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền sống cho mọi người dân, kể cả quyền sống của những người phạm tội, quyền này được pháp luật Việt Nam

Trang 9

bảo vệ Mọi hành vi xâm phạm đến quyền được sống của con người (dù là với lỗi cố ý hay vô ý) đều bị coi là tội phạm và bị xử lý bằng pháp luật hình sự trên những cơ sở chung Bộ luật hình sự Việt Nam đều đã quy định những hình phạt nghiêm khắc đối với các hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến quyền sống của con người

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do tác động của nhiều nguyên nhân, tình hình tội phạm nói chung và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe nói riêng diễn ra tương đối nghiêm trọng và phức tạp Các hành vi sử dụng điện để bảo vệ tài sản gây ra hậu quả có người bị điện giật chết vẫn xảy ra nhiều nơi trên phạm vi cả nước Mặc dù đã được các cơ quan có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, các Tòa án đã áp dụng các hình phạt nghiêm khắc đối với những người có hành vi phạm tội để đấu tranh, nhưng do

sự thiếu hiểu biết của người dân nên trên thực tế, loại tội này vẫn tiếp tục xảy

ra Ngoài ra, trong quá trình xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng, duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông phục vụ cuộc sống, đã xảy ra việc một số người bị chết do rò rỉ điện tại các thiết bị điện công cộng, ngã xuống cống ngầm…nhưng do chưa có hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về các trường hợp này, nên chưa được giải quyết một cách triệt để Thực tiễn xét

xử cho thấy, việc đánh giá chứng cứ trong những vụ án này rất phức tạp; bởi

lẽ, văn bản pháp luật để các Tòa án áp dụng trong việc xét xử đối với loại tội này chưa đầy đủ, rõ ràng Tình trạng đó đã và đang gây nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong công tác điều tra, truy tố và xét xử cũng như trong chủ động phòng và đấu tranh chống tội phạm, gây ảnh hưởng tới việc phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; gây tổn hại tới lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa

Ở một chừng mực nhất định, do các quy định của luật hình sự Việt

Trang 10

tính hệ thống, đồng bộ; đặc biệt là thiếu quy phạm định nghĩa và các quy định liên quan đến các yếu tố định tội danh và định khung hình phạt nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức các dấu hiệu pháp lý, việc định tội danh và đường lối xử lý đối với các tội phạm này Có trường hợp không làm sáng tỏ được ranh giới giữa tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, sự khác nhau giữa các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác có cùng tính chất lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự như: tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202), tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông (Điều 220), tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy (Điều 240), tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện (Điều 241), tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 242); v.v

Do đó, để tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sắc hơn các vấn

đề lý luận về cấu thành tội phạm này cũng như thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử đối với các tội vô ý làm chết người từ đó đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự; đồng thời qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm này, thì việc tác giả lựa chọn nghiên cứu đề

tài: "Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay" làm luận văn thạc sĩ Luật học là cần thiết

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Dưới góc độ thực tiễn, Tòa án nhân dân tối cao đã có các văn bản

hướng dẫn việc xử lý một số khía cạnh liên quan đến các tội này như Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của

Bộ luật hình sự năm 1985; Công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10-6-2002 giải đáp các vấn đề nghiệp vụ Tuy nhiên, những hướng dẫn trong các văn bản này mới chỉ đề cập tới từng trường hợp phạm tội cụ thể, những khái niệm của

Trang 11

hành vi phạm tội vô ý làm chết người nêu trong những hướng dẫn trên cũng chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn trong việc áp dụng trong thực tiễn, chưa đủ tác dụng để đấu tranh, phòng ngừa với loại tội phạm này

Dưới góc độ khoa học pháp lý, việc nghiên cứu các tội vô ý làm chết

người đã được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo luật học như Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam và một số cơ sở đào tạo khác Trong đó phải kể đến một số giáo trình, sách chuyên khảo hay những bài viết như: GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa,

Chương IV- Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm),

tập thể tác giả do TSKH.GS Lê Văn Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2003; GS.TS Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003 Ngoài ra,

các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công

trình nghiên cứu của ThS Đinh Văn Quế như Bình luận khoa học Bộ luật hình

sự năm 1999 - Phần chung, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; Bình luận chuyên sâu Bộ luật hình sự, tập I, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003;

TS Nguyễn Đức Mai, Phân biệt tội gây thương tích dẫn đến chết người với tội giết người và tội vô ý làm chết người, Tạp chí Tòa án nhân dân số 07/1998; PGS.TS Trần Văn Luyện, Những điểm mới cơ bản về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 03/2001; TS Đỗ Đức Hồng Hà, Phân biệt tội giết người với một số tội phạm khác xâm phạm tính mạng con người, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 02/2003 Bên cạnh đó, còn

phải kể đến một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Luật học chuyên ngành

Tư pháp hình sự nghiên cứu các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe

Trang 12

con người, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập trực tiếp đến các tội vô ý làm chết người

Như vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên đã phần nào làm sáng tỏ một số vấn đề về khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng của cả nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, trong đó có các tội vô ý làm chết người; nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống các vấn đề

lý luận và thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, các dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và thực tiễn xét xử đối với các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam, qua đó đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ

luật hình sự năm 1999 về các tội phạm này

mà chưa có điều kiện nghiên cứu, phân tích

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống về những vấn đề pháp lý cơ bản của các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam

Trang 13

như: khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, trách nhiệm hình sự đối với người phạm

tội; phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự; đồng thời đi sâu phân tích thực tiễn xét xử các tội vô ý làm chết người trong thời gian từ năm 2005-2010 Trên cơ sở đó, luận văn chỉ ra một

số vướng mắc, tồn tại trong công tác xử lý, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về xử lý các loại tội phạm này

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối, chính

sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu, điều tra án điển hình… để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần

nghiên cứu trong luận văn này

6 Những đóng góp mới của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về hành

vi vô ý làm chết người trong khoa học luật hình sự Việt Nam; phân tích thông qua nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm trên địa bàn toàn quốc từ năm 2005-2010 và các bản án hình sự cụ thể của một số Tòa án để đánh giá Qua

đó chỉ ra những mâu thuẫn, bất cập trong các quy định của pháp luật hiện

Trang 14

nguyên nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội vô ý làm chết người ở khía cạnh lập pháp hình sự và việc áp dụng trong thực tiễn

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ luật hình sự Việt Nam liên quan đến các tội vô ý làm chết người, qua đó góp phần nâng cao

hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống những tội này hiện nay và sắp tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về các tội vô ý làm chết người theo

luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Các tội vô ý làm chết người theo quy định của Bộ luật

hình sự Việt Nam năm 1999 và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp nâng cao hiệu

quả áp dụng những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 về các tội vô ý làm chết người

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 KHÁI NIỆM LỖI VÔ Ý VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUY ĐỊNH CÁC TỘI PHẠM ĐƯỢC THỰC HIỆN DƯỚI HÌNH THỨC LỖI VÔ Ý THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1.1 Khái niệm và cơ sở lý luận của lỗi theo luật hình sự Việt Nam

Nguyên tắc có lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình

sự Việt Nam Có lỗi là cơ sở chủ quan để có thể buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và về hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi đó gây ra Dù hành vi của họ có gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng nếu họ không có lỗi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Có thể nói, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi được thực hiện một cách có lỗi Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành

vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và với hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi ấy gây ra thể hiện dưới hình thức lỗi cố ý hay vô ý "Một người phải chịu trách nhiệm hình sự không chỉ vì họ đã có hành vi nguy hiểm cho

xã hội, mà còn vì họ đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó" [23, tr 87]

Theo nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mỗi hiện tượng trong thực tại khách quan đều được quy định bởi một hoặc nhiều hiện tượng khác nhau; sự tồn tại, thay đổi và phát triển của mọi hiện tượng đều chịu sự chi phối của những quy luật khách quan Hoạt động của con người cũng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan Tuy vậy, nhờ hoạt động có ý thức, con người có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật để thực hiện mục đích của mình,

đó là sự tự do của con người Con người có tự do đối với xử sự của mình có nghĩa là họ có tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện xử sự Tuy nhiên, con

Trang 16

phù hợp với quy luật thì có nghĩa họ đã tự tước bỏ khả năng tự do của mình Tự

do và trách nhiệm là hai phương diện của một vấn đề, không thể có trách nhiệm

mà không được tự do, cũng như không thể có tự do không liên quan gì đến trách nhiệm đối với người khác, đối với xã hội Tự do không phải bẩm sinh con người có được mà gắn với quá trình hoạt động, lịch sử phát triển của loài người

Trách nhiệm được hiểu là khả năng của con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình, đồng thời là khả năng thực hiện một cách tự giác những nghĩa vụ được đặt ra cho mình Cũng như tự do, trách nhiệm của con người được quy định bởi những nhu cầu phát triển của đời sống con người Trách nhiệm hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích giữa cá nhân với cộng đồng và xã hội Lợi ích của mỗi người chỉ có thể thực hiện được trong một tương quan nhất định với lợi ích của lợi ích của một xã hội nhất định Trách nhiệm tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là hình thái tích cực, tức là hình thái có trách nhiệm của con người và hình thái tiêu cực, tức là hình thái chịu trách nhiệm của con người Dưới hình thái tích cực, trách nhiệm thể hiện ở những hoạt động nhằm duy trì, phát triển trật tự xã hội, pháp chế, đạo đức Còn dưới hình thái tiêu cực, trách nhiệm phát sinh từ những lợi ích của xã hội

và của con người bị vi phạm, khi không thực hiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội thì người đó phải chịu trách nhiệm trước xã hội Có thể nói, con người có trách nhiệm là con người thấy trước những hậu quả của hành động của mình,

cố gắng ngăn chặn những tác hại có thể xảy ra đối với lợi ích của xã hội

Khi xã hội bảo đảm cho mỗi cá nhân được tự do thì cũng đòi hỏi cá nhân phải đáp ứng đòi hỏi của xã hội, đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội, trách nhiệm đó hoàn toàn phù hợp với tự do Những đòi hỏi của

xã hội nhằm thực hiện sự tiến bộ, sự phát triển của xã hội theo tất yếu khách quan, việc thực hiện những đòi hỏi của xã hội cũng chính là thực hiện sự tự

Trang 17

do "Con người có tự do để thực hiện trách nhiệm và thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng là sự thực hiện tự do" [23, tr 86]

Mặc dù con người trong xã hội có khả năng thực tế để tự do, nhưng trong xã hội vẫn có những xử sự không đúng, đó là những hành vi phạm tội, hành vi vi phạm pháp luật và những hành vi trái đạo đức Đối với những hành

vi như vậy xã hội và Nhà nước có quyền buộc họ phải chịu trách nhiệm, đó là hậu quả của việc không thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ trên cơ sở quyền hạn của tự do "Tự do là cơ sở của trách nhiệm và trách nhiệm chỉ đặt ra cho một người khi họ có tự do Con người xử sự trái với lợi ích của Nhà nước, của

xã hội thì có nghĩa họ là người có lỗi, trách nhiệm chỉ đặt ra khi có lỗi" [23, tr 86]

Tự do, trách nhiệm là cơ sở lý luận của lỗi Lỗi là một dấu hiệu của tất

cả các cấu thành tội phạm, đòi hỏi phải được xác định trong mọi trường hợp khi áp dụng luật hình sự Việc ghi nhận nguyên tắc có lỗi trong Luật hình sự chính là sự thừa nhận và tôn trọng tự do thực sự của con người Xác định lỗi đúng là một điều kiện cần thiết định tội danh, nếu xác định lỗi sai thì sẽ dẫn đến định tội danh sai Trong thực tiễn, việc xác định lỗi trong nhiều trường hợp rất phức tạp Để có thể xác định lỗi một cách chính xác, đòi hỏi phải nắm vững những dấu hiệu về hình thức cấu trúc tâm lý của các loại lỗi đã được mô

tả trong các điều luật của Bộ luật hình sự và hiểu rõ bản chất của lỗi nói chung cũng như mặt nội dung của từng loại "Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về lỗi và từng loại lỗi mới có thể có được phương pháp đúng trong việc xác định lỗi trong những trường hợp phạm tội cụ thể" [51, tr 25]

Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, tuy có nhiều cách thể hiện khác nhau, song về cơ bản các quan điểm đều thống nhất về nội hàm của chế định lỗi là nhằm xác định rõ lý trí và ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài của tội phạm

Trang 18

Có quan điểm định nghĩa lỗi căn cứ vào mặt hình thức của lỗi như

sau: "Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý" [22, tr 101]

Có quan điểm định nghĩa lỗi theo đặc điểm cấu trúc tâm lý, cụ thể là:

"Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội" [23, tr 91]

Có quan điểm cho rằng:

Lỗi hình sự là mặt chủ quan của tội phạm và là một trong những điều kiện bắt buộc của trách nhiệm hình sự, đồng thời là thái

độ tâm lý của người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm mà người đó thực hiện và hậu quả do hành vi ấy gây nên dưới hình thức cố ý hoặc vô ý [9, tr 422]

Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khác nhau trên đây về lỗi và căn cứ vào các quy định về lỗi trong pháp luật hình sự Việt Nam, có thể

đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm mà họ đã thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra

Căn cứ vào các yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi,

trong cả ba lĩnh vực thể hiện của luật hình sự Việt Nam (pháp luật hình sự thực định, lý luận và xét xử) bao gồm hai hình thức lỗi - cố ý và vô ý Hình thức lỗi cố ý được phân chia thành hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Hình thức lỗi vô ý được chia thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì quá

tự tin và vô ý phạm tội vì cẩu thả

Trang 19

1.1.2 Khái niệm lỗi vô ý và cơ sở lý luận của việc quy định các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý theo luật hình sự Việt Nam

Theo Từ điển Tiếng Việt "vô ý" được hiểu là "không để ý đến" [56, tr 1329]

Như vậy, phạm tội do lỗi vô ý được hiểu là người phạm tội do bất cẩn, không

để ý các quy tắc, quy định của đời sống xã hội nên đã gây nên thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác

"Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội do không nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của các hành

vi đó Nói cách khác, không giống như lỗi cố ý, ở trường hợp lỗi vô ý người phạm tội không lựa chọn hành vi phạm tội" [23, tr 97] Có thể nhận thấy lỗi

vô ý có các dấu hiệu cơ bản, một là - người phạm tội không nhận thức được tính

nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình khi quyết định thực hiện hành vi

đó và hai là - người phạm tội có đủ điều kiện để nhận thức được vấn đề đó và

có điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội

Như vậy, họ đã thực hiện hành vi do không nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do họ thực hiện Vì vậy, tội phạm do lỗi vô

ý nói chung chỉ nguy hiểm khi gây ra hậu quả nghiêm trọng Việc gây thiệt hại cho xã hội là một căn cứ xác định hành vi đã thực hiện có mức độ nguy hiểm đáng kể cho xã hội Hành vi được thực hiện do lỗi vô ý có mức độ nguy hiểm thấp hơn hành vi phạm tội thực hiện do lỗi cố ý

Những trường hợp người phạm tội không nhận thức đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội (mặc dù có đủ điều kiện để nhận thức được) có thể xảy ra như sau:

Thứ nhất, người phạm tội không nhận thức được tính chất thực tế của

hành vi và do vậy không nhận thức được khả năng gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó

Trang 20

Thứ hai, người phạm tội tuy có khả năng nhận thức được tính chất

thực tế của hành vi nhưng hoàn toàn không nhận thức được khả năng gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình

Thứ ba, người phạm tội nhận thức được tính chất thực tế của hành vi,

nhận thức được hậu quả xảy ra nhưng sau khi cân nhắc đã loại trừ khả năng

đó khi lựa chọn hành vi So với lỗi cố ý thì đây là điểm khác nhau cơ bản, vì trong trường hợp lỗi cố ý, người phạm tội đã chấp nhận khả năng hậu quả xảy

ra khi lựa chọn và thực hiện hành vi "Trong trường hợp lỗi vô ý, người phạm tội loại trừ khả năng đó và cho rằng hậu quả không xảy ra" [25, tr 151]

Căn cứ vào việc người phạm tội không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trong những trường hợp có lỗi vô ý, khoa

học luật hình sự phân lỗi vô ý thành hai hình thức là vô ý phạm tội vì cẩu thả

và vô ý phạm tội vì quá tự tin Với cách phân chia này, lỗi vô ý phạm tội vì

cẩu thả bao gồm những trường hợp người phạm tội không nhận thức được đầy

đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (không thấy trước hậu quả) Trường hợp không nhận thức được đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tuy nhận thức được khả năng hậu quả xảy ra nhưng đã tự loại trừ khả năng đó thuộc hình thức lỗi vô ý phạm tội vì quá tự tin

Trong thực tiễn cuộc sống, hành vi phạm tội do lỗi vô ý thường được biểu hiện dưới các hình thức như: thiếu tinh thần trách nhiệm trong công tác chuyên môn nghiệp vụ; thiếu kỷ luật trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao; thái độ bất cẩn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; không quan tâm đến tính mạng và lợi ích của những người xung quanh; làm những công việc không phù hợp với năng lực chuyên môn của bản thân; thiếu kinh nghiệm và không được chuẩn bị chu đáo về chuyên môn nghiệp vụ Các lĩnh vực thường xảy ra tội phạm do lỗi vô ý là các tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông, vi phạm quy định về phòng cháy và chữa cháy; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn trong sử dụng điện, xây dựng, lao động, vệ sinh an toàn thực

Trang 21

phẩm, khám chữa bệnh, quản lý, sử dụng dược liệu và các dịch vụ y tế Trên cơ

sở này, các nhà làm luật đã cụ thể hóa thành các tội phạm cụ thể để xử lý những người nào có hành vi xâm phạm đến, qua đó bảo đảm trật tự an toàn xã hội chung

Trong chính sách pháp luật hình sự ở nước ta hiện nay, quan điểm của các nhà làm luật tập trung xử lý các tội phạm do lỗi cố ý Tuy nhiên, việc quy định tội phạm và hình phạt đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội do lỗi vô ý là vấn đề cần thiết; bởi lẽ, chính sách hình sự của Nhà nước được quyết định bởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, pháp luật hình sự được xây dựng trên

cơ sở các nguyên tắc nhất định của chính sách hình sự Một đòi hỏi quan trọng khi áp dụng pháp luật hình sự là phải bảo đảm việc xác định chính xác trách nhiệm pháp lý Dưới góc độ khoa học pháp lý, trách nhiệm pháp lý được hiểu là hậu quả bất lợi của một chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu và được thể hiện bằng một hay nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được pháp luật quy định

Trong thực tiễn, cần phải xây dựng và áp dụng những quy định nghiêm khắc đối với các hành vi tuy được thực hiện với lỗi vô ý nhưng đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng Vì theo nguyên tắc pháp chế, một đòi hỏi quan trọng khi áp dụng pháp luật hình sự là phải bảo đảm áp dụng đầy đủ và chính xác các quy định để xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội Tuy nhiên, những tội phạm do lỗi vô ý phần lớn xuất phát từ những nguyên nhân khách quan Trong khi đó, pháp luật hình

sự chỉ thực sự có giá trị và phát huy tác dụng khi tác động có hiệu quả tới nhận thức chủ quan của con người Mặt khác, trong nhiều trường hợp, việc giữ gìn trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, cũng như nâng cao trách nhiệm trong công tác chuyên môn, nghề nghiệp đối với các quy tắc an toàn

xã hội không hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và ý muốn của con người, mà còn bị ảnh hưởng bởi các điều kiện khách quan như khả năng kinh tế, trình độ

Trang 22

khoa học kỹ thuật, các phương tiện đảm bảo an toàn Ngoài ra, còn phụ thuộc nhiều vào ý thức tuân thủ pháp luật và kỷ luật của con người; vì vậy, nếu áp dụng những hình phạt nghiêm khắc đối với các tội phạm được thực hiện với lỗi vô ý thì tác dụng của luật hình sự đối với những hành vi này là rất hạn chế và trong nhiều trường hợp, đi ngược lại quan điểm nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta

Có thể thấy rằng đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội nói chung

và những hành vi được thực hiện với lỗi vô ý nói riêng, việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự nhằm đảm bảo việc giáo dục ý thức pháp luật, giữ gìn trật tự, kỷ cương trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, cũng như nâng cao trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức trong công tác chuyên môn, nghề nghiệp là cần thiết Ngoài ra, để thực hiện nguyên tắc công bằng trong luật hình sự, đòi hỏi phải có sự bình đẳng khi quy định và áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt giữa những người phạm tội do lỗi cố ý cũng như phạm tội

do lỗi vô ý Chính vì vậy, trong công tác xây dựng và áp dụng pháp luật, cũng cần quan tâm đến lợi ích của bản thân người phạm tội, việc áp dụng loại và mức hình phạt chỉ đến mức cần và đủ và đạt được mục đích của hình phạt, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp vô ý phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng qua đó bảo đảm sự công bằng và nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự, cũng như đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của chế định lỗi nói chung và cơ sở

lý luận của việc quy định các tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý

nói riêng, tác giả luận văn cho rằng: Lỗi vô ý là trường hợp người phạm tội khi hành động đã không có ý thức lựa chọn cách thức phạm tội, họ đã thực hiện tội phạm trong khi có đủ điều kiện để lựa chọn một hành vi khác không gây thiệt hại cho xã hội; ngoài ra, người phạm tội vì không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi hoặc tuy thấy trước nhưng tin rằng hậu

Trang 23

quả đó không xảy ra; vì vậy, họ không nhận thức được hành vi sẽ thực hiện là hành vi phạm tội

1.2 KHÁI NIỆM TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI, TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI DO VI PHẠM QUY TẮC NGHỀ NGHIỆP HOẶC QUY TẮC HÀNH CHÍNH VÀ PHÂN BIỆT CÁC TỘI PHẠM NÀY VỚI MỘT SỐ TỘI PHẠM KHÁC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.2.1 Khái niệm tội vô ý làm chết người

Hiện nay, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội vô ý làm chết người, song tựu trung lại các quan điểm đó vẫn thống nhất trong việc nêu ra nội dung và bản chất pháp

lý của tội phạm này

Có quan điểm cho rằng: "Vô ý làm chết người là hành vi của một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra chết người mặc

dù phải thấy trước và có thể thấy trước hoặc tuy thấy trước hành vi của mình

có thể gây ra chết người nhưng tin rằng hậu quả đó không xảy ra" [34, tr 103]

Quan điểm này dựa trên các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (Điều 98)

để định nghĩa, nhưng chưa nêu được dấu hiệu chủ thể của tội phạm này

Quan điểm khác cho rằng:"Vô ý làm chết người được hiểu là trường hợp hành vi vô ý của một người làm cho người khác bị chết" [58, tr 81] Tương

tự, có quan điểm lại cho rằng: "Vô ý làm chết người là hành vi của một người không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây ra chết người mặc

dù phải thấy trước và có thể thấy trước nhưng tin rằng hậu quả chết người không xảy ra" [2, tr 114] Các quan điểm này nhìn chung chưa nêu được dấu

hiệu chủ thể của tội phạm, cũng như chưa phản ánh rõ ràng hành vi khách quan của tội phạm

Trang 24

Có quan điểm cụ thể hóa hơn biểu hiện của hành vi phạm tội vô ý làm chết người và đã nêu tương đối đầy đủ nội dung khái niệm tội phạm này, song vẫn thiếu dấu hiệu chủ thể của tội phạm, theo đó:

Vô ý làm chết người là trường hợp vô ý gây ra hậu quả chết người do vi phạm quy tắc an toàn về tính mạng, sức khỏe trong những lĩnh vực khác nhau của hoạt động chung xã hội Những quy tắc này có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành nếp quen sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận Trong Bộ luật hình sự có nhiều tội danh khác nhau được quy định cho hành vi vô ý làm chết người, tùy thuộc vào lĩnh vực có quy tắc an toàn mà chủ thể đã vi phạm Các trường hợp vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc an toàn công cộng (an toàn giao thông, an toàn lao động, an toàn trong xây dựng, an toàn trong quản lý vũ khí ) được quy định thành những tội danh khác nhau thuộc nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng Tội vô ý làm chết người được quy định trong Chương "Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người" gồm những trường hợp vô ý làm chết người còn lại chưa được quy định thành các tội riêng [25, tr 297]

Tuy nhiên, qua nghiên cứu cơ sở lý luận của chế định lỗi nói chung và các tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý nói riêng, tác giả luận văn tán thành với cách lập luận về tội vô ý làm chết người như sau:

Vô ý làm chết người là trường hợp người phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự đã có hành

vi vi phạm quy tắc an toàn nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người Các quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự thông thường đã trở thành tập quán sinh hoạt, được mọi người biết

Trang 25

và thừa nhận Hậu quả của hành vi vi phạm là dẫn đến hậu quả chết người, đây là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này Người phạm tội có thể thực hiện tội phạm do vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả Trong trường hợp vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây hậu quả chết người nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra Còn trong trường hợp vô ý vì cẩu thả, người phạm tội không thấy trước được hậu quả chết người do hành vi của mình gây ra mặc dù họ phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó

Từ những phân tích như đã nêu trên, tác giả luận văn đưa một khái niệm

về tội phạm này như sau: Tội vô ý làm chết người là hành vi của một người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật hình sự, không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra chết người mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hoặc tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả chết người, nhưng cho rằng hậu quả chết người sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được và trên thực tế đã gây ra hậu quả làm chết người

1.2.2 Khái niệm tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Cũng giống như tội vô ý làm chết người, dưới góc độ khoa học Luật hình sự, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đối với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

Có quan điểm cho rằng:

Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính là trường hợp đặc biệt của tội vô ý làm chết người Các quy tắc an toàn bị vi phạm trong trường hợp này là quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính và người phạm tội là

Trang 26

người có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính đó [22, tr 304]

Tương tự như trên, có quan điểm cho rằng:

Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp là trường hợp làm chết người do không thực hiện đúng những quy định về an toàn lao động mà người phạm tội xuất phát từ nghề nghiệp có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm phải thực hiện Vô ý làm chết người do

vi phạm quy tắc hành chính là trường hợp người phạm tội làm chết người do vi phạm những quy tắc do pháp luật hành chính quy định [2,

tr 116]

Các quan điểm trên đây có ưu điểm là nêu được khách thể của tội phạm xâm phạm đến, nhưng ở chừng mực nhất định chưa nêu được cụ thể hành vi phạm tội và dấu hiệu chủ thể của tội phạm này

Quan điểm khác lại cho rằng: "Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính được hiểu là hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính Đây là trường hợp đặc biệt của tội vô ý làm chết người" [58, tr 83] Quan điểm này

mới chỉ nêu định nghĩa hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính chứ chưa làm rõ khái niệm của tội phạm này Hơn nữa, hành vi phạm tội khác tội phạm, vì khái niệm tội phạm đòi hỏi phải đầy đủ như khái niệm trong Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành

Có quan điểm cho rằng:

Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính là trường hợp làm chết người do không thực hiện đúng những quy tắc về an toàn lao động mà người phạm tội phải có trách nhiệm hay nghĩa vụ do nghề nghiệp quy định Những

vi phạm quy tắc nghề nghiệp của người phạm tội là những vi phạm

Trang 27

thuộc phạm vi một ngành, một nghề do Nhà nước quy định có tính chất nghiệp vụ để bảo đảm an toàn cho mọi người Do làm một nghề mà nghề đó trực tiếp liên quan đến tính mạng của con người, nên phải tuân thủ quy tắc an toàn, nếu vi phạm dễ dẫn đến chết người Cũng là vô ý làm chết người, nhưng người vi phạm quy tắc nghề nghiệp phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn

Vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính là trường hợp làm chết người do không thực hiện đúng những quy tắc xã hội do luật hành chính quy định Những quy tắc này có thể do các cơ quan hành chính Trung ương quy định như Chính phủ, Thủ tướng, các Bộ, các ngành; nhưng cũng có thể do các cơ quan hành chính ở địa phương hoặc một đơn vị sản xuất quy định Các quy phạm hành chính tương đối rộng, vì các quan hệ xã hội nếu không do ngành luật khác điều chỉnh thì hầu hết do luật hành chính điều chỉnh [34, tr 107]

Quan điểm này có điểm hợp lý là phù hợp với các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam, nhưng dưới góc độ khoa học trong khái niệm đã nêu chưa thể hiện dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Trên cơ sở nghiên cứu và tiếp thu các điểm hợp lý trong các quan điểm nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa khoa học về tội phạm này như sau:

Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính là trường hợp người phạm tội do không thực hiện đúng những quy định

về an toàn và quy tắc hành chính mà do tính chất nghề nghiệp họ phải có nghĩa vụ hoặc trách nhiệm thực hiện, gây hậu quả làm chết người

Ngoài ra, nghiên cứu các khái niệm trên, có thể thấy giữa các cấu thành các tội phạm này có mối liên hệ đặc biệt, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 Bộ luật hình sự năm 1999) được tách ra từ tội vô ý làm chết người (Điều 104 Bộ luật hình sự

Trang 28

hai tội đều là tù có thời hạn; tội vô ý làm chết người có mức hình phạt tù cao nhất là mười năm; còn tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính có hình phạt cao nhất là mười hai năm, ngoài

ra còn quy định cả hình phạt bổ sung đối với tội này Có thể nói, giữa hai tội này thể hiện mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm bình thường (Điều 98) và cấu thành tội phạm tăng nặng (Điều 99)

1.2.3 Phân biệt các tội vô ý làm chết người với một số tội phạm khác theo luật hình sự Việt Nam

Thực tiễn xét xử cho thấy, việc làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của tội này với một số tội khác có liên quan để định tội danh chính xác, xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không phải trường hợp nào cũng dễ dàng Do

đó, cần phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự

có liên quan và dễ có sự nhầm lẫn trong thực tiễn nhằm làm sáng tỏ vấn đề nêu trên

* Phân biệt các tội vô ý làm chết người với tội giết người (Điều 93 Bộ

luật hình sự)

Về mặt khách quan của tội phạm các tội vô ý làm chết người và tội giết người thể hiện ở chỗ chúng đều là hành vi làm chết người Tuy nhiên,

giữa hai tội này có những điểm khác nhau là: Nếu tội giết người là bất kỳ

hành vi nào có khả năng gây ra cái chết cho nạn nhân và người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình có thể làm nạn nhân chết nhưng vẫn thực hiện vì

mong muốn nạn nhân chết hoặc chấp nhận hậu quả nạn nhân chết thì các tội

vô ý làm chết người là hành vi vi phạm quy tắc bảo đảm an toàn cho tính mạng của con người thuộc các lĩnh vực khác nhau đã được quy phạm hóa hoặc đã trở thành tập quán mà mọi người đều biết và thừa nhận; người phạm tội không những không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, cũng không có thái độ thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà đáng lẽ ra phải thấy

Trang 29

hoặc có thể thấy, hoặc tuy có thể thấy trước hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ

quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm hậu quả không xảy ra

* Phân biệt các tội vô ý làm chết người với tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 Bộ luật hình sự)

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

là một tội danh nằm trong nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 Các tội này không chỉ vi phạm các quy tắc

xử sự về an toàn xã hội mà còn gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại về người và tài sản Theo nghĩa rộng, an toàn công cộng là sự an toàn về tính mạng và tài sản của công dân, của xã hội tại những nơi sinh hoạt đông người Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm an toàn công cộng được giới hạn trong phạm vi an toàn giao thông vận tải, an toàn trong lao động, sản xuất, xây dựng Do nhóm tội phạm này rất đa dạng, xảy ra trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, xâm phạm đến các quy định về an toàn công cộng, các quy tắc của đời sống xã hội, quy định về quản lý an toàn lao động, quản lý phòng cháy, chữa cháy ; vì vậy, tác giả luận văn chỉ đặt vấn đề phân biệt các tội vô ý làm chết người với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ (Điều 202), bởi lẽ các tội này đều do lỗi vô ý của người

phạm tội song đã gây thiệt hại tới tính mạng của con người, ảnh hưởng tới sự bình yên, ổn định của toàn xã hội So sánh hai tội phạm này thấy rằng, chủ thể của tội phạm là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện; cả hai tội phạm này người phạm tội đều thực hiện dưới dạng lỗi vô ý, có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý vì cẩu thả Tuy nhiên, giữa hai tội phạm này còn có một số điểm khác nhau, thể hiện ở chỗ đối với các tội vô ý làm chết người thì hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm Còn đối với tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ thì hậu quả có thể là gây thiệt hại nghiêm

Trang 30

trọng đến tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tài sản của người khác.

* Phân biệt các tội vô ý làm chết người với tội vi phạm các quy định

về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 Bộ luật hình sự)

Sử dụng vũ khí quân dụng nói ở Điều 333 là hành vi nhằm phát huy tính năng của vũ khí quân dụng nhằm mục đích nào đó Tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí là hành vi của người được trang bị vũ khí quân dụng

sử dụng vũ khí đó không đúng mục đích trang bị gây hậu quả nghiêm trọng

Cần phân biệt tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng với tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do

vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109), với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99) và với tội gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, cụ thể là: người sử dụng vũ khí quân dụng được trang bị trang bị để bắn chim, bắt cá, gây tiếng nổ gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333); người dùng vũ khí quân dụng đùa nghịch, người không khám súng trước khi lau chùi súng, người không cẩn thận trong bảo quản vũ khí gây nổ (như không khóa an toàn bị vấp ngã, vô tình đưa tay vào cò súng ) gây hậu quả nghiêm trọng thì tùy theo thiệt hại xảy ra mà truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 109), tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính (Điều 99) hoặc tội gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều

145)

1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỜI KỲ PHONG KIẾN ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI VÔ Ý LÀM CHẾT NGƯỜI

Trang 31

1.3.1 Giai đoạn từ thời kỳ phong kiến Việt Nam đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước độc lập, tự chủ với một nền pháp luật đầy tính sáng tạo, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử Từ khi bắt đầu hình thành Nhà nước Văn Lang đầu tiên, trải qua các thời kỳ triều đại phong kiến, pháp luật hình sự nước ta ngày càng được củng cố, phát triển và hoàn thiện cho tới ngày nay Do việc thu thập, chọn lọc các tài liệu lưu trữ có hạn chế nên việc nghiên cứu lịch sử các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam nói chung, cũng như về các tội vô ý làm chết người nói riêng qua các thời kỳ cũng không thực sự đầy đủ; vì vậy, trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ cố gắng đề cập tới một số khía cạnh về sự hình thành và phát triển những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội vô ý làm chết người, dưới những giai đoạn lịch sử mà kỹ thuật lập pháp hình sự nước nhà đạt trình độ phát triển, nổi bật nhất

- Thời kỳ nhà Lê: Tháng 6 năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ, quân

xâm lược nhà Minh đã chia nước ta ra làm 17 phủ, 5 châu để cai trị Từ năm

1418, cuộc kháng chiến của nhân dân ta do Lê Lợi lãnh đạo đã giành nhiều thắng lợi và cho đến năm 1428, đã đánh đuổi được quân xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước Từ khi lên nắm quyền, hoạt động xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng đã được nhà Lê quan tâm, chú trọng Năm 1483 vua Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốc Triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) nổi tiếng, được chia làm 6 quyển với 13 chương, bao gồm 722 Điều Bộ luật này đã trở thành một khuôn mẫu cho cổ luật Việt Nam và làm rạng danh cho nền văn hiến Việt Nam [46, tr 29] Bộ luật Hồng Đức có đề cập đến hai hình thức lỗi cố ý và vô ý, trong đó trách nhiệm của lỗi cố ý nặng

Trang 32

hơn lỗi vô ý Về việc vô ý làm chết người, được quy định tại chương Đấu Tụng như sau:

Trong khi đánh nhau lỡ lầm phải người xung quanh bị thương hay đến chết, thì xử nhẹ hơn tội đánh chết người một bậc Nếu người kia vì cớ ngã mà bị thương hay chết, thì xử theo tội đùa bỡn mà làm bị thương hay chết người Nếu lỡ đánh bị thương hay làm chết người đánh giúp mình, thì được giảm tội hai bậc Vì chơi đùa mà làm người khác bị thương hay chết, thì xử nhẹ hơn tội đánh

bị thương hay chết người hai bậc (nghĩa là những người hẹn cùng nhau chơi đùa đấu sức, lỡ đánh chết), bắt trả tiền mai táng hai mươi quan Tuy hai bên cùng thuận ý cầm đồ nhọn, trèo lên cao, lội nước sâu, vì thế mà bị thương hay giết nhau, thì chỉ được xử giảm tội một bậc và phải trả một nửa tiền đền mạng Những việc lầm lỡ làm bị thương hay chết, đều xét tình trạng sự việc mà giảm tội (nghĩa là việc xảy ra ngoài sức người, tai mắt không kịp nhận thấy, không kịp nghĩ tới, hay vì vật nặng, sức người không chống nổi, hoặc trèo lên trên cao, tới chỗ nguy hiểm, săn bắt cầm thú, để đến nỗi thành ra sát thương người, đều là việc lầm lỡ [42, tr 181]

Như vậy, trong Bộ luật Hồng Đức, tội vô ý làm chết người đã được đề cập đến, mặc dù chưa có được một khái niệm pháp lý rõ ràng, cũng như chưa

có điều luật cụ thể để áp dụng xử lý, mà mới chỉ là những quy định rải rác trong một số trường hợp phạm tội do lỗi vô ý Tuy nhiên, những quy định này cũng đã tương đối cụ thể, chi tiết; đặc biệt là đã có sự phân hóa nặng, nhẹ giữa cố ý giết người và vô ý làm chết người Điều đó đã thể hiện những nét hoàn chỉnh trong các quy định pháp luật thời kỳ nhà Lê, phản ánh được những đặc điểm của xã hội đương thời Đồng thời cũng thể hiện trình độ lập pháp hình sự đầy sáng tạo của cha ông ta thời kỳ này

Trang 33

- Thời kỳ nhà Nguyễn: Sau khi đánh bại triều đại Tây Sơn, năm 1802

Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy hiệu Gia Long, đặt kinh đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay) Vua Gia Long đã cho soạn thảo và cho áp dụng Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) vào năm 1813 trên phạm vi toàn quốc Có thể nói, "đây là một Bộ luật đầy đủ và hoàn chỉnh nhất của nền cổ luật Việt Nam, gồm hai phần, 22 quyển với 398 Điều" [46, tr 29]

Tương tự như pháp luật hình sự thời kỳ nhà Lê, pháp luật hình sự thời

kỳ nhà Nguyễn cũng đề cập đến lỗi cố ý và lỗi vô ý, trong đó trách nhiệm của lỗi cố ý nặng hơn so với với lỗi vô ý Các tội vô ý làm chết người được quy định tại Điều 11 quyển 14 phần Hình luật là tội hí sát, ngộ sát, quá thất sát thương nhân (chết vì trò chơi, chết vì không cố ý, chết vì lầm lẫn, bị thương),

cụ thể như sau:

Phàm những trò chơi có thể giết người như đấu quyền, gậy;

từ đó giết người, làm bị thương và nhân đánh lộn mà ngộ sát, làm bị thương người bên cạnh Trường hợp này xử tội theo làm chết bị thương vì đánh lộn Làm chết người thì bị treo cổ, làm bị thương nặng nhẹ, bị bắt tội Người bị mưu giết, cố giết nhưng lại giết lầm qua người bên cạnh, thì xử tội theo cố sát Nếu giết chết thì xử chém, không nói bị thương, vẫn xử theo tội đánh lộn Nếu biết bến sông nước sâu, bùn lầy mà nói láo là bàng cạn và cầu, đò mục nát không thể chở người qua sông mà nói láo là chắc chắn, dối gạt khiến người qua đi sông đưa đến chết chìm, bị thương, giống như chết vì trò chơi, cũng

xử tội theo đánh lộn chết bị thương Quả thật nghe thấy không tới nơi, suy nghĩ không đến chốn, như: đạn bắn cầm thú, có việc gì quăng đá ném gạch, phàm không tính khiến chết người, hoặc nhân leo lên nơi cao nguy hiểm, trợt chân bá nhầm đồng bạn Hoặc xui thuyền khiến gió, cưỡi ngựa lướt nhanh, đánh xe dưới sườn núi, thế không thể dừng lại hoặc cung khiêng vật nặng mà sức không đủ nên

Trang 34

cảnh giết làm bị thương người, đều xử tội theo luật đánh lộn giết làm

bị thương Theo luật, mua chuộc cấp cho gia đình bị giết, bị thương

để chi phí chôn cất thuốc men điều trị [27, tr 703]

Nghiên cứu các quy định nêu trên, có thể thấy mặc dù chịu ảnh hưởng của pháp luật hình sự phong kiến Trung Quốc, nhưng pháp luật hình sự thời

kỳ nhà Nguyễn cũng đã tiếp thu các giá trị, kinh nghiệm lập pháp về hình sự nói chung cũng như các tội vô ý làm chết người nói riêng của nhà Lê, đồng thời có những sáng tạo nhất định, thể hiện kỹ thuật lập pháp hình sự trình độ cao thời kỳ này

- Thời kỳ Pháp thuộc: Đến giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành

xâm lược nước ta và thực hiện chính sách chia để trị, đồng thời xây dựng hệ thống pháp luật thực dân nửa phong kiến ở Việt Nam Riêng đối với hệ thống pháp luật hình sự, có ba Bộ luật hình sự được thi hành trên lãnh thổ tương ứng với ba miền bị chia cắt của nước ta là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Đó là bộ

"Luật hình An Nam" áp dụng ở Bắc kỳ; bộ "Hoàng Việt hình luật" áp dụng tại Trung kỳ Còn ở Nam kỳ, theo Sắc luật ngày 25-7-1884, Bộ luật Gia Long được áp dụng đối với người phạm tội là người bản xứ và trong Sắc luật ngày 16-3-1912 thực dân Pháp quy định các Tòa án ở Nam kỳ phải áp dụng pháp luật hình sự của Pháp thay cho Bộ luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp pháp luật của Pháp chưa dự liệu được Sắc luật ngày 31-12-1912 của Toàn quyền Đông Dương đã sửa đổi 56 Điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật Canh cải và cho áp dụng tại đây [57, tr 21]

Trong các Bộ luật này, quy định về các tội vô ý làm chết người tuy đã được quy định, song còn khá sơ sài và mờ nhạt, qua nghiên cứu cho thấy:

+ Hình luật Canh cải là công cụ pháp lý quan trọng của thực dân Pháp nhằm đàn áp các phong trào cách mạng của nhân dân ta và xử lý nghiêm khắc những người phạm tội Vì vậy, chỉ tập trung quy định các tội phạm và các hình phạt mang tính răn đe, trừng trị [57, tr 22]

Trang 35

+ Luật hình An Nam áp dụng ở Bắc Kỳ, nói chung chỉ tập trung quy định các tội và những hình phạt nghiêm khắc, tuy vẫn còn giữ một số nét truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam trước đây Đối với các trường hợp không phải là cố ý giết người, luật này quy định: "Người nào vì sơ suất bất cẩn, hay là không tuân giữ quy tắc của quan, không phải là cố ý, mà đến nỗi giết người, hay là sự giết người bởi đấy mà sinh ra, phải phạt giam từ ba tháng đến hai năm và phạt bạc từ hai mươi đồng đến hai trăm đồng"

+ Hoàng Việt hình luật áp dụng ở Trung kỳ: các thể lệ trong luật này đều là trích lấy ở trong luật Gia Long và giữ theo những điều lưu truyền của nước Nam, chỉ châm trước sửa sang lại [46, tr 76] Theo quy định tại mục III Chương thứ XXI (các trường hợp giết người, đả thương, đầu độc mà bởi vô tâm) thì: "Người nào vô tâm giết người nhưng vì vụng về, vô ý, sơ suất hoặc không tuân thể lệ mà làm chết người hoặc sinh ra sự chết người sẽ bị phạt giam từ ba tháng đến ba năm" Như vậy, các nhà làm luật vẫn sử dụng cụm từ

"phạm tội mà bởi vô tâm", đồng thời có một mục riêng trong một chương nhằm nhấn mạnh hơn nguyên tắc nhân đạo trong chính sách phân hóa tội phạm và người phạm tội trong pháp luật giai đoạn đó

1.3.2 Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trước pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự năm 1985

Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nước công nông non trẻ đã tiến hành tích cực hoạt động lập pháp nói chung và pháp luật hình sự nói riêng Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hình

sự như Sắc lệnh số 21/SL ngày 14-02-1946 trừng trị các tội phản cách mạng; Sắc lệnh số 27/SL ngày 28-02-1946 trừng trị các tội bắt cóc, tống tiền, ám sát cùng hàng loạt các Sắc lệnh khác nhằm đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước Tuy nhiên, do tình hình

Trang 36

nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình sự cần thiết nói riêng Nên" tại Sắc

lệnh 47/SL ngày 10-10-1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định tạm thời giữ các luật lệ cũ với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa" [46, tr 84] Như vậy, về mặt thực tiễn, Nhà nước ta cũng phần nào ghi nhận những vấn

đề cơ bản về khái niệm các hành vi vô ý làm chết người trong các luật lệ đã

được ban hành trước đó

Trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các Tòa án đã căn cứ vào những văn bản nói trên và chính sách trừng trị của Chính phủ để xét xử đem lại kết quả tốt cho việc bảo vệ trật tự, an ninh Tuy nhiên, do đường lối xét xử không thống nhất, rõ ràng nên việc xét xử còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc Để hướng dẫn các Tòa án trừng trị một số tội phạm thông thường, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư 442/TTg ngày 19-01-1955 về việc trừng trị một số tội phạm, đã quy định: "Không cẩn thận hay không theo luật đi đường

mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ bị phạt ba tháng đến ba năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến mười năm Đối với những tội tương tự, các Tòa án có thể bị phạt theo như những tội trên đây" [48, tr 356]

Sau một thời gian thi hành, các cơ quan có trách nhiệm nhận thấy mức hình phạt tối đa mười năm chưa thích đáng trong những trường hợp có tai nạn khủng khiếp làm chết người và thiệt hại nhiều đến tài sản của nhân dân Vì vậy, Thủ tướng phủ đã ban hành Thông tư số 556/TTg ngày 29-6-1955 bổ khuyết Thông tư 442/TTg ngày 19-01-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc trừng trị một số loại tội phạm, theo đó quy định:

Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽ bị phạt ba tháng đến ba năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bị phạt tù đến mười năm Trường hợp gây

ra tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến tài sản của

Trang 37

nhân dân thì có thể bị phạt đến tù chung thân hoặc tử hình [48, tr

326].

Song song với việc xây dựng nền pháp luật tự chủ, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Bộ Tư pháp đã có Thông tư số 19-VHH ngày 30-6-1955 yêu cầu các Tòa án không nên áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến nữa

Ngày 15-6-1956, Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban

hành Sắc lệnh 267-SL quy định:

Kẻ nào vì thiếu tinh thần trách nhiệm mà trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, để lộ bí mật Nhà nước, để xảy ra tai nạn làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của Hợp tác

xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước, sẽ bị phạt từ ba tháng đến hai năm tù Nếu gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng, có thể bị phạt tới hai mươi năm tù hoặc chung thân và phải bồi thường thiệt hại [48].

Cụ thể hóa các quy định này, tại Chỉ thị số 02/NCCS ngày 29-4-1963,

Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xử lý tội thiếu tinh thần trách nhiệm gây tai nạn làm thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, đến sức khỏe và sinh mạng của những người lao động tại các công trường, nhà máy, hầm mỏ,

kho tàng , đã nêu một số khái niệm về lỗi khinh suất như sau:

Tai nạn xảy ra do khinh suất là tai nạn xảy ra ngoài ý muốn của bị can

Sẽ coi là khinh suất nếu bị can đã thấy trước khả năng xảy ra tai nạn nhưng vì chủ quan, thiếu thận trọng, quá tin vào những biện pháp phòng ngừa của mình cho nên đã để xảy ra tai nạn (hình thức lỗi ở đây là khinh suất vì quá tự tin) hoặc bị can không thấy trước khả năng xảy ra tai nạn nhưng đáng lẽ phải thấy

Trang 38

và có thể thấy trước khả năng đó, để có những biện pháp phòng ngừa thích đáng (hình thức lỗi ở đây là khinh suất vì cẩu thả)

Qua việc tổng kết công tác xét xử, Tòa án nhân dân tối cao đã có Bản tổng kết số 10/NCPL ngày 08-01-1968 hướng dẫn đường lối xử lý tội thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm quy tắc an toàn lao động, gây thiệt hại nghiêm trọng về người, về tài sản (gọi tắt là tội vi phạm quy tắc an toàn lao động), đã nêu khái niệm rõ ràng hơn về lỗi sơ suất, cụ thể:

Bị cáo đã thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nhưng vì chủ quan, thiếu thận trọng, nhẹ dạ tin vào những tình tiết, những biện pháp phòng ngừa không đầy đủ, cho nên hậu quả tác hại đã xảy ra Đây là hình thức lỗi sơ suất vì quá tự tin

Bị cáo không thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nhưng đáng lẽ phải thấy và có thể thấy trước khả năng đó, vì đã được học tập

về bảo hộ lao động, huấn luyện về phương pháp làm việc an toàn; hậu quả tác hại xảy ra do thiếu sự chú ý cần thiết Đây là hình thức lỗi sơ suất vì cẩu thả

Tại Bản chuyên đề tổng kết xét xử tội giết người ban hành kèm theo

Công văn số 452-HS2 ngày 10-8-1970, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về

việc phân biệt giữa giết người với vô ý làm chết người; trường hợp cần phân biệt giữa lỗi cố ý gián tiếp làm chết người với vô ý quá tự tin làm chết người và trường hợp định giết người này nhưng lại làm chết người khác, cụ thể là: mặt khách quan của hai tội này rất giống nhau vì cùng là một hành vi làm chết người khác; nhưng mặt chủ quan và do đó tính chất nguy hiểm cho xã hội thì rất khác nhau, thể hiện ở chỗ đối với tội vô ý làm chết người, không những can phạm không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, hoặc không có thái độ thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà còn không thấy được trước hậu quả đó mà đáng lẽ phải thấy và có thể thấy, hoặc tuy có thể thấy hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm cho hậu quả không xảy ra [48, tr 336]

Trang 39

1.3.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước pháp điển hóa lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999

Từ khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước,

nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được một số thành tựu quan trọng, trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng , nhưng cũng đã gặp phải nhiều khó khăn và khuyết điểm trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, pháp luật,

kỷ cương bị buông lỏng Trong lĩnh vực lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành đã không đủ cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề

có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Ngày 27-6-1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 01-01-1986 (sau đây viết tắt là Bộ luật hình sự năm 1985)

Lần đầu tiên, Bộ luật hình sự đã nêu định nghĩa pháp lý về lỗi vô ý Theo Điều 10 Bộ luật hình sự năm 1985 thì vô ý phạm tội là phạm tội thuộc các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội do cẩu thả mà không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước

và có thể thấy trước; b) Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình

có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả

đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được [36, tr 126]

Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 104) cũng lần đầu tiên quy định về tội vô ý làm chết người như sau:

1 Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm; 2 Phạm tội do vi phạm quy tắc nghề nghiệp

Trang 40

năm Phạm tội làm chết nhiều người thì bị phạt tù từ ba năm đến mười lăm năm [36, tr 126]

Như vậy, vô ý làm chết người là khung cơ bản của tội phạm Còn phạm tội do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính là tình tiết định khung tăng nặng của tội này

Tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29-11-1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự đã hướng dẫn về tội vô ý làm chết người (Điều 104), hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng của người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể (các Điều 186, 187, 188…), như sau:

- Hành vi do cẩu thả hoặc quá tự tin mà làm chết người, thì nói chung

bị xử lý về tội vô ý làm chết người (Điều 104, khoản 1) như: người đi săn ban đêm do lầm lẫn mà bắn chết người

- Hành vi làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp (như: công nhân mắc đường dây dẫn điện do làm việc không cẩn thận gây chết người qua đường) hoặc vi phạm quy tắc hành chính (như: chặt cây công cộng trái với quy định của cơ quan có thẩm quyền, làm gẫy cành cây, đứt dây dẫn điện, gây chết người qua đường) thì bị xử lý theo quy định của Điều 104, khoản 2

- Hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác do

vi phạm một hành vi hành chính cụ thể mà điều luật quy định riêng (như các Điều 186, 187, 188, 190…) thì bị xử lý theo điều luật tương ứng Ví dụ: lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn chết người bị xử lý theo Điều 186 về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng

Tóm lại, trải qua từng thời kỳ lịch sử, chính sách hình sự của Nhà nước ta về tội phạm này đã đạt được một số thành tựu nhất định Qua nghiên cứu lịch sử lập pháp hình sự thấy rằng tội vô ý làm chết người đã được quy định rất sớm Đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999, với hệ thống

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự (2000), Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999, Nhà in Bộ Công an, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Ban Chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự
Nhà XB: Nhà in Bộ Công an
Năm: 2000
2. Phạm Văn Beo (2010), Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật hình sự Việt Nam - Quyển 2 (Phần các tội phạm)
Tác giả: Phạm Văn Beo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Bộ Công an (1998), Những văn bản của Nhà nước về an ninh trật tự (1955-1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những văn bản của Nhà nước về an ninh trật tự (1955-1995)
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
4. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2011), Thông báo số 464/TB- BLĐTBXH ngày 22/02 về tình hình tai nạn lao động năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo số 464/TB- BLĐTBXH ngày 22/02 về tình hình tai nạn lao động năm 2010
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
5. Lê Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), (Tái bản lần thứ nhất), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
6. Lê Cảm (2006), "Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự", Tòa án nhân dân, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Tòa án nhân dân
Năm: 2006
7. Lê Cảm (2006), "Nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự", Kiểm sát, (19) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước pháp quyền trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2006
9. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
10. Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: Lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành
Tác giả: Lê Văn Cảm, Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
11. Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
12. Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên) (2009), Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
15. Đảng Cộng sản việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản việt Nam
Năm: 2005
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
17. Nguyễn Ngọc Điệp, Đinh Thị Ngọc Dung (1996), 900 thuật ngữ pháp lý Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 900 thuật ngữ pháp lý Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điệp, Đinh Thị Ngọc Dung
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
18. Trần Ngọc Đường (2004), Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền con người, quyền công dân
Tác giả: Trần Ngọc Đường
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
19. Phạm Hồng Hải (Chủ biên) (2000), Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
20. Hiến pháp Việt Nam năm (1946, 1959, 1980 và 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Việt Nam năm (1946, 1959, 1980 và 1992)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
21. Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và hình phạt
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng số vụ, số bị cáo phải xét xử và tổng số vụ, bị cáo - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.1 Tổng số vụ, số bị cáo phải xét xử và tổng số vụ, bị cáo (Trang 49)
Bảng 2.2: Tổng số vụ, số bị cáo đã bị Tòa án xét xử - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.2 Tổng số vụ, số bị cáo đã bị Tòa án xét xử (Trang 50)
Bảng 2.3: Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.3 Phân tích chế tài theo quyết định của Tòa (Trang 51)
Bảng 2.4: Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.4 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị (Trang 53)
Bảng 2.5: Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về  tội vô ý làm chết ng-ời trong t-ơng quan với các tội - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.5 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết ng-ời trong t-ơng quan với các tội (Trang 54)
Bảng 2.8: Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.8 Tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội vô ý làm chết người (Trang 59)
Bảng 2.10: Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô ý   làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.10 Đặc điểm về nhân thân của các bị cáo bị xét xử về tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Trang 61)
Bảng 2.11: Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.11 Tổng số vụ án, bị cáo do Tòa án xét xử về tội vô ý (Trang 62)
Bảng 2.13: Số bị cáo do Tòa án xét xử từ năm 2005-2010 (thống kê cấp   tỉnh + quận/huyện) về tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội vô ý   làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính,  tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn  - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.13 Số bị cáo do Tòa án xét xử từ năm 2005-2010 (thống kê cấp tỉnh + quận/huyện) về tội giết người, tội vô ý làm chết người, tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn (Trang 66)
Bảng 2.14: Những loại tội phạm chính qua nghiên cứu ngẫu nhiên - Các tội vô ý làm chết người theo luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử ở nước ta hiện nay
Bảng 2.14 Những loại tội phạm chính qua nghiên cứu ngẫu nhiên (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w