1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010

117 1,5K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 921,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, khái niệm tội phạm về ma tuý được hiểu như sau: Tội phạm về ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU THẢO

CáC TộI PHạM Về MA TúY TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM

Và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000 - 2010

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS TRỊNH QUỐC TOẢN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VÂN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ

MA TÚY THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8 1.1 Khái niệm về chất ma túy, tội phạm về ma tuý trong luật

khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 18 1.2.3 Nhưng qui định về các tội phạm về ma túy theo Bộ luật hình

các vụ án Hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh 40

Trang 4

2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động xét xử các vụ án

hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh 44 2.3 Những hạn chế về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình

sự về ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân 54

2.3.1 Những hạn chế về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về

ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân 54 2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chê trong hoạt động xét xử sơ thẩm

các vụ án hình sự về ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh 57

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH

SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÉT XỬ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY 66 3.1 Các quan điểm về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma

tuý của Toà án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh 66 3.2 Yêu cầu xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma tuý của

Toà án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh 68 3.3 Nhu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp hình sự và nâng cao hiệu

quả xét xử các tội phạm về ma túy 70 3.4 Các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy 74 3.5 Các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình

sự về các tội phạm về ma túy 77

3.5.1 Hoàn thiện các quy phạm pháp luật liên quan hoạt động xét xử

các tội phạm ma túy 77 3.5.2 Hoàn thiện về việc tham gia của người bào chữa 90 3.5.3 Hoàn thiện về đường lối xử lý đối với tội phạm về ma túy 90

3.6 Các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử các tội phạm về ma túy 91

3.6.1 Hoàn thiện các chế độ chính sách đãi ngộ đối với Thẩm phán

và cán bộ công chức thuộc ngành Tòa án 91

Trang 5

3.6.2 Kiện toàn cơ cấu tổ chức nâng cao trình độ năng lực phẩm

chất đội ngũ Thẩm phán và cán bộ công chức của tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh 92 3.6.3 Tăng cường công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng chống

ma túy ở tỉnh Bắc Ninh 95 3.6.4 Tăng cường trang thiết bị và phương tiện cho hệ thống cơ quan

Tòa án ở tỉnh Bắc Ninh 98

KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự

BLTTH: Bộ luật tố tụng hình sự HĐXX: Hội đồng xét xử

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

Bảng 2.1: So sánh tình hình tội phạm về ma tuý với tình hình

Bảng 2.2: Tình hình tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ma túy ngày nay đang là vấn đề mang tính toàn cầu và là mối lo ngại chung của các quốc gia trên khắp các châu lục Tệ nạn ma túy trở thành một vấn

đề nóng bỏng, nhức nhối gây hậu quả nhiều mặt cả về chính trị, kinh tế, văn hóa,

xã hội, ma túy đã trở thành hiểm họa của toàn nhân loại, không một quốc gia, một dân tộc nào thoát khỏi ảnh hưởng của những hậu quả tai hại do tệ nạn ma túy gây ra Tệ nạn ma túy là nguồn phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm, tội phạm có tổ chức, tội phạm xuyên quốc gia và các tệ nạn xã hội Lạm dụng ma túy làm tiêu phí một khoản tiền to lớn của mỗi gia đình và toàn xã hội Nghiện

ma túy còn là một trong các nguyên nhân chủ yếu gây lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS Các vấn đề ma túy, tội phạm, HIV/AIDS, môi trường và nạn đói nghèo có mối liên hệ mật thiết, gây tác hại nặng nề đối với nền kinh tế - xã hội của quốc gia và biết bao đau thương đến các gia đình [7]; [8]; [9]; [53]

Nhận thức rõ tính chất nguy hiểm của tệ nạn này, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã và đang tiếp tục coi trọng và tập trung đầu tư cho nhiệm vụ phòng, chống ma túy Trong những năm qua, bằng nội lực của mình và với sự giúp đỡ, phối hợp của cộng đồng quốc tế, Đảng và Nhà nước đã chủ động triển khai đồng bộ và toàn diện nhiều chủ trương, biện pháp rất tích cực nhằm đấu tranh phòng, chống ma túy và đạt được nhiều kết quả quan trọng

Trong các biện pháp đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy thì hoạt động xét xử của ngành Tòa án nhân dân đối với các tội phạm về ma túy là vô cùng quan trọng Xét xử là chức năng cơ bản của Tòa án nhân dân nước ta, điều này đã được ghi nhận trong điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Hoạt động xét xử nói chung, xét xử án hình

sự trong đó có xét xử các tội phạm về ma túy nói riêng là hoạt động áp dụng

Trang 9

pháp luật để ra các bản án, các quyết định thể hiện tính nghiêm minh và sự công bằng của pháp luật Do vậy, tăng cường công tác xét xử các vụ án hình

sự nói chung và các vụ án về ma túy nói riêng vừa là nhiệm vụ, vừa là trách nhiệm, vừa là đạo đức của cán bộ, công chức ngành Tòa án, có ý nghĩa quyết định trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động xét xử

Ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW về một

số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Đến ngày 02/06/2005, Bộ Chính trị tiếp tục ra Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Nghị quyết xác định cải cách tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử, đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Thực hiện chủ trương này, trong những năm qua hoạt động xét xử của của ngành Tòa

án đã đạt được những kết quả tích cực Chính sách, pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự đã từng bước được định hình và hoàn thiện, tạo điều kiện cho các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng có được môi trường pháp lý thuận lợi để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ kịp thời lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân [16]; [17]

Mặc dù tỉnh Bắc Ninh chưa phải là địa bàn trọng điểm về tội phạm ma túy, nhưng với đặc điểm là tỉnh đồng bằng, giao thông thuận lợi, có đường thủy, đường sắt, đường bộ nối liền với các tỉnh, thành phố khác, giáp danh các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hà Nội, có nhiều làng nghề phát triển, tập trung nhiều khu công nghiệp lớn có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút nhiều lao động trong và ngoài tỉnh Điều này, đã tạo điều kiện cho các tệ nạn xã hội thâm nhập và phát triển, trong đó nổi cộm là tệ nạn ma túy Tệ nạn ma túy không chỉ diễn ra ở các khu vực thành phố, thị xã mà đã lan về cả những vùng quê yên tĩnh Nguy hại hơn, ma túy còn len lỏi vào cả học đường đầu độc thế hệ trẻ, gây ra nhiều hậu quả to lớn cho mỗi con người,

Trang 10

mỗi gia đình và toàn xã hội Đứng trước thực trạng đó, ngành Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã xét xử nhiều vụ án về ma túy, đưa ra xét xử lưu động về các tội phạm ma tuý tại nhiều địa bàn trong tỉnh nhằm tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân về tác hại của ma túy và răn đe các đối tượng có biểu hiện vi phạm Nhưng cho đến nay, tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh vẫn diễn biến phức tạp Đòi hỏi các Cơ quan, người tiến hành tố tụng cần

có những biện pháp quyết liệt và nỗ lực hơn nữa trong đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy

Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về ma túy đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáp ứng yêu cầu về đấu tranh phòng chống tội phạm ma tuý Tuy vậy, việc xét xử để ra các bản án, quyết đinh của Tòa án các cấp ở tỉnh Bắc Ninh còn có những sai sót nhất định, dẫn đến việc cấp Tòa án có thẩm quyền hủy, sửa tuy không nhiều nhưng lại ảnh hưởng đến uy tín của ngành, tác động tiêu cực đến lòng tin của nhân dân vào công lý, ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng

Xuất phát từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Các tội phạm

về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010” để làm luận văn thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Xét xử án hình sự, dân sự của Tòa án nhân dân là vấn đề được một số nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị được công bố Tuy nhiên xét xử các vụ án hình sự về ma túy chưa được quan tâm nhiều Có thể kể đến một số công trình có giá trị liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn như sau:

Dưới góc độ Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ gồm có: Luận án tiến sĩ

của Phạm Minh Tuyên: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy

trong Luật hình sự Việt Nam”, bảo vệ năm 2006; Luận văn thạc sỹ của Bùi

Trang 11

Mạnh Cường: “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn điều tra, truy tố các vụ án

ma túy ở Việt Nam” tại, bảo vệ năm 2006; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn

Dư: “Nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên

địa bàn tỉnh Bắc Giang”, năm 2007; Luận văn thạc sĩ của Phạm Hồng Trang:

"Áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án ma tuý của Toà án nhân dân ở tỉnh

Nghệ An", năm 2010

 Dưới góc độ đề tài nghiên cứu khoa học gồm có: Đề tài nghiên cứu

khoa học của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: “Những giải pháp nhằm nâng

cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” do TS Nguyễn Minh Tuyên - Phó Chánh tòa án nhân dân tỉnh

Bắc Ninh, đề tài nghiệm thu năm 2009; Đề tài nghiên cứu khoa học: “Điều

tra, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế tệ nạn và tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” do Nguyễn Việt

Hùng - Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang làm Chủ nhiệm đề tài, nghiệm thu tháng 6/2007

Dưới góc độ bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành: Bài viết của

tác giả Lưu Tiến Dũng: “Bàn về áp dụng pháp luật trong công tác xét xử”,

Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 05/2005; Bài viết của tác giả Chu Thị Trang

Vân: “Vai trò sáng tạo của Toà án trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình

sự”, Tạp chí Lập pháp số 27 tháng 09/2007

Các công trình và bài viết trên đã nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử các vụ án hình sự nói chung; trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong luật hình sự nói riêng Đây là các tài liệu tham khảo bổ ích cho học viên trong quá trình viết luận văn Tuy nhiên, các tác giả chưa đi sâu vào tình hình xét xử về những vụ án về ma túy Việc nghiên cứu hoạt động xét xử các vụ án về ma túy tại tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh còn phụ thuộc vào các hoàn cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội cụ thể Vì vậy, đây là đề tài

Trang 12

đầu tiên đi sâu nghiên cứu vấn đề xét xử các vụ án hình sự về ma túy trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể ở tỉnh Bắc Ninh

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ các vấn đề có tính chất lý luận

và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009 -2013 Trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử các về ma túy

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Nghiên cứu Một số vấn đề chung về cá tội phạm về ma túy theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ lý luận Mác-Lênin về Nhà nước và pháp luật Luận văn nêu lên những đặc điểm, phân tích thực trạng thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh từ năm

2009 đến năm 2013 và các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả xét xử các tội phạm về ma túy trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trong phạm vi là một luận văn thạc sỹ luật học thuộc chuyên ngành luật Hình sự và tố tụng hình sự, luận văn này chỉ tập trung vào những vấn đề

lý luận và thực tiễn xét xử các vụ án hình sự về ma túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận văn khái quát những vấn đề chung của quy trình xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy từ việc nghiên cứu các tình tiết cụ thể của vụ án đến việc chọn quy phạm pháp luật và ban hành các bản án, quyết định tại phiên tòa xét xử công khai, dựa trên thực tiễn xét xử các vụ án về ma túy trong 5 năm gần đây Theo nội dung của đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2000-2010, nhưng để đáp ứng tính sát thực của đề tài, được sự đồng ý, cho phép của Giảng viên hướng dẫn, học viên mở rộng phạm vi nghiên cứu đề tài đến năm 2013

Trang 13

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng

về cải cách tư pháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49- NQ/TW của Bộ chính trị

Các phương pháp cụ thể được sử dụng để nghiên cứu đề tài này là: Phân tích, tổng hợp lịch sử, so sánh, thống kê và sử dụng tài liệu thứ cấp

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

- Hình thành cơ sở lý luận về xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là đóng góp nhằm nâng cao nhận thức lý luận cho việc thực hiện chức năng xét

xử nói chung, xét xử án hình sự trong đó có các vụ án về ma túy nói riêng của Tòa án nhân dân

- Tổng kết thực tiễn rút ra những nhận định, đánh giá có ý nghĩa góp phần nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy tại ngành Tòa án nhân dân ở tỉnh Bắc Ninh

- Đề xuất được một hệ thống các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng xét xử các vụ án về ma túy trên địa tỉnh Bắc Ninh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác xét xử án hình sự Đặc biệt

là những người trực tiếp làm công tác xét xử án hình sự của các cấp Tòa án ở tỉnh Bắc Ninh

Đồng thời, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy,

Trang 14

nghiên cứu và học tập trong các trường Đại học chuyên luật hoặc các cơ sở đào tạo không chuyên luật

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về các tội phạm về ma túy theo Luật

hình sự Việt Nam

Chương 2: Thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về ma túy tại

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu

quả xét xử các tội phạm về ma túy

Trang 15

Chương 1

MỘT SỐ VÂN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về chất ma túy, tội phạm về ma tuý trong luật hình

sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm chất ma túy

Từ xa xưa do trình độ nhận thức của con người còn thấp, y học chưa phát triển nên con người chỉ biết sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Trong các loại cây đó có cây thuốc phiện, cây cần sa, cây côca và sau đó người ta cũng phát hiện tác hại của nó ở Việt Nam, thuật ngữ "ma túy" xuất hiện ban đầu có nghĩa là thuốc phiện, rồi đến cây cần sa và cây côca Một số ý kiến cho rằng, gọi là "ma túy" bởi vì các chất này có tác dụng như ma thuật, ma quái,

có thể chữa một số bệnh và tăng hưng phấn hoặc ức chế thần kinh, làm cho con người mê mẩn, ngây ngất, túy lúy Trong tiềm thức của người Việt Nam

ma túy đồng nghĩa với sự xấu xa tội lỗi Ngày nay, ngoài các sản phẩm của cây thuốc phiện, cây cần sa, cây côca còn có các chất được tổng hợp trong phòng thí nghiêm Nên khái niệm ma túy được mở rộng về nội dung, ở các nước khác nhau thì khái niệm ma túy cũng quan niệm khác nhau Điểm chung của Luật về kiểm soát ma túy của các nước là đều đề cập đến ma túy bao gồm các chất gây nghiện và các chất hướng thần

Ma túy, theo gốc Hán – Việt, có nghĩa là “làm mê mẩn” Chất ma tuý lúc đầu dùng để chỉ các chất có tác dụng gây ngủ, gây mê; sau này khi khoa học phát triển con người tổng hợp được các chất tự nhiên có khả năng gây nghiện, thì chất ma tuý được hiểu là những chất có tính chất gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng Nói một cách tổng quát: Chất ma túy là các chất hóa học có nguồn tự nhiên hoặc nhân tạo khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay

Trang 16

đổi tâm trạng, ý thức và trí tuệ làm cho con người bị lệ thuộc khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng Theo Luật Phòng chống

ma túy (LPCMT) của nước ta công bố ngày 22/12/2000 quy định:

- Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành

- Chất gây nghiện là chất kích thích hoặc chất ức chế thần kinh dễ gây tình trạng nghiện với người sử dụng

- Chất hướng thần là chất kích thích ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn đến tình trạng nghiện đối với người sử dụng

- Tiền chất là các chất hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong danh mục do Chính phủ ban hành

Theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất, thì các chất ma túy gồm 227 chất, chia làm 03 danh mục và 22 hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế chất ma túy cần kiểm soát

- Danh mục 1; Các chất ma túy rất độc, tuyệt đối cấm sử dụng, việc sử dụng chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học và điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền (gồm 47 chất trong đó có một số chất thường gặp như hêrôin, morphin, ecstasy, cần sa và nhựa cần sa )

- Danh mục 2: Các chất ma túy độc hại được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (bao gồm 112 chất trong đó có một số chất thường gặp như côcain, thuốc phiện, nhựa côca )

Trang 17

- Danh mục 3: Các chất ma túy độc dược dùng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo yêu cầu điều trị (bao gồm 68 chất trong đó

có một số chất thường gặp như diazepam, delorazepam )

- Danh mục 4: Các hóa chất không thể thiếu trong quá trình điều chế ma túy (22 chất trong đó có một số chất thường gặp như acetone, acetic anhydride ) [26]

Như vậy, dưới góc độ khoa học pháp lý thì ma túy có một số các đặc điểm sau: ma túy là một chất gây nghiện, khi thâm nhập vào cơ thể con người làm thay đổi một số chức năng hoạt động thần kinh làm cho con người lệ thuộc vào chất này Tại Điều 61 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam 1992 quy định: Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và chất ma túy khác Tại LPCMT được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 9/12/2000 đã xác định chất ma túy là chất nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành

Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm về chất ma túy như sau: Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành, khi sử dụng gây lên tình trạng kích thích hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây ra tình trạng nghiện đối với người sử dụng

1.1.2 Khái niệm tội phạm về ma tuý trong Luật hình sự Việt Nam

- Khái niệm tội phạm về ma tuý: Cũng như các tội phạm khác, tội phạm

về ma tuý là: “những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý…” (khoản 1, điều 8 BLHS 1999) Tội phạm về ma tuý cũng là “ hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt” Các tội

Trang 18

phạm về ma tuý được Nhà nước ta xác định là một loại tội phạm nghiêm trọng Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tình hình nghiện hút và buôn lậu ma túy diễn ra hết sức nghiêm trọng, đã trở thành thảm họa chung của toàn nhân loại Con người khi sử dụng một vài lần các chất ma túy sẽ có nhu cầu được cung cấp thường xuyên với liều lượng ngày càng cao hơn Chất ma túy vào cơ thể sẽ gây ra sự rối loạn về tâm sinh lý và tàn phá, hủy hoại sức khỏe; khi không đáp ứng được nhu cầu họ sẽ lên cơn vật vã, đau đớn về thể xác và có thể làm tất cả những gì kể cả tội ác để giải tỏa cơn nghiện Nạn nghiện hút, tiêm chích ma túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người mà còn làm kiệt quệ kinh tế gia đình và xã hội, là nguyên nhân đẩy người lương thiện vào con đường phạm tội Vì vậy, Nhà nước phải độc quyền và thống nhất quản lý các chất ma túy với những quy định rất nghiêm ngặt Vi phạm các quy định về chế độ quản lý các chất ma túy không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát chất ma túy của Nhà nước mà còn tạo ra một lớp người nghiện, làm suy thoái giống nòi, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và an ninh quốc gia Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của việc vi phạm các quy định về chế độ quản lý chất ma túy như vậy, nên mọi hành vi vi phạm ở bất kỳ khâu nào của quá trình quản lý chất ma túy đều bị quy định là tội phạm Căn cứ vào các điều luật về tội phạm

ma túy trong BLHS năm 1999, tội phạm ma túy được hiểu là "hành vi cố ý

xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước”[ 25, tr.175]

BLHS năm 1999 quy định 10 điều luật về tội phạm ma túy gồm:

Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (Điều 192); Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 193); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194); Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

Trang 19

(Điều 195); Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196); Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 197); Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 198); Tội sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 199) (Tội này đã được bãi bỏ từ ngày 01/01/2010 theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS ngày 19/6/2009); Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 200); Tội vi phạm quy định về quản lý sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất

ma túy khác [27, Điều 201]

Tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm chung như các tội phạm khác về tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự, tính có lỗi và tính chịu hình phạt Tuy nhiên tội phạm ma túy cũng có những đặc điểm riêng

so với các loại tội phạm khác như:

Có tính nguy hiểm cao cho xã hội:

Thể hiện ở chỗ, các tội phạm về ma túy đều trực tiếp, hoặc gián tiếp liên quan đến ma túy, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, để cho ma túy xâm nhập vào cộng đồng làm gia tăng số người nghiện, gây tác động xấu về nhiều mặt như kinh tế, chính trị, văn hóa và trật tự an toàn xã hội; xâm hại nghiêm trọng tới tính mạng, sức khỏe của con người; là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác [22,tr.18]

- Có tính chống đối pháp luật rất cao của kẻ phạm tội: Các đối tượng phạm tội ma túy thường có nhân thân xấu, khi bị phát hiện thường chống trả hết sức quyết liệt và sẵn sàng sử dụng vũ khí Khi một mắt xích trong đường dây tội phạm ma tuý bị lộ, để bảo đảm an toàn cho hoạt động phạm tội của mình, chúng sẩn sàng thủ tiêu đồng phạm

Trang 20

- Tính bí mật, khép kín, cắt đoạn và kéo dài của hoạt động phạm tội: Đặc tính hình sự nổi bật của tội phạm ma tuý là tính “cắt đoạn” và tính “liên hoàn”, hoạt động theo đường dây chặt chẽ thường là các thành viên trong gia đình họ hàng, chất ma tuý gọn nhẹ, lãi suất cao

Vì vậy, để bảo đảm tuyệt đối bí mật cho hoạt động phạm tội, các đối tượng phạm tội về ma túy thường hình thành các đường dây chìm, khép kín

từ người mua đến người vận chuyển và người bán, khép kín trong một nhóm đối tượng và thường là những người thân như: vợ chồng, con cái, anh chị em , đặc biệt là tính cắt đoạn, người nào biết việc người ấy, không biết tới người thứ ba thể hiện tính chia cắt rất nghiêm ngặt Tính liên hoàn đó là một chuỗi hành vi phạm tội, từ sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán đến người sử dụng; đặc biệt do tính chất siêu lợi nhuận của mua bán ma túy mang lại, nên không dễ gì khi đã bước vào con đường phạm tội mà tự dứt bỏ

ra được; mặt khác, đã tham gia đường dây mua bán ma túy lớn nếu tự ý rút khỏi đường dây cũng rất dễ bị đồng bọn thủ tiêu Nên các đối tượng phạm tội thường diễn ra nhiều năm

Vì vậy, BLHS quy định về tội phạm ma túy có tính nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với các tội phạm khác (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia), nên trong 10 điều luật quy định về tội phạm ma túy, có hai điều quy định tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình (khoản 4 Điều 193, khoản

4 Điều 194), bốn điều quy định tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân (khoản 4 Điều 195, khoản 4 Điều 197, khoản 4 Điều 200, khoản 4 Điều 201); 12 trường hợp là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, 8 trường hợp là tội phạm rất nghiêm trọng, 10 trường hợp là tội phạm nghiêm trọng và chỉ có

2 trường hợp là tội ít nghiêm trọng Xuất phát từ đặc điểm này mà việc xét xử đối với người phạm tội về ma túy thường nghiêm khắc hơn so với các tội phạm khác [28]; [29]; [30]

Trang 21

Do vậy, khái niệm tội phạm về ma tuý được hiểu như sau: Tội phạm về

ma túy là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây mất trật tự an toàn xã hội và phải

chịu hình phạt do Bộ luật hình sự quy định

Tội phạm về ma tuý có nhiều loại:

Đối với các vụ án mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy với quy

mô lớn thường được người phạm tội tổ chức rất chặt chẽ thành những đường dây xuyên quốc gia, nhưng lại không giống như tổ chức của các vụ án có tính chất tổ chức khác, người chỉ huy, phân công, điều hành không lộ diện, có vụ

có rất đông người tham gia vào đường dây vận chuyển, mua bán ma túy nhưng thông thường chỉ người thứ nhất biết người thứ hai chứ không biết người thứ ba Cũng chính vì đặc điểm này mà hoạt động điều tra, khám phá các đường dây ma túy rất khó khăn, không ít những vụ án sau khi xét xử mói phát hiện trong đường dây vận chuyển, mua bán ma túy còn có những người phạm tội khác, cá biệt có trường hợp trước khi thi hành án tử hình, người bị kết án tử hình mới khai ra đồng phạm

Đối với những hành vi mua bán ma túy có tính chất tiêu thụ, người phạm tội thường chia ma túy thành những gói nhỏ (tép, chỉ ) để bán cho các con nghiện Việc tổ chức tiêu thụ ma túy rất tinh vi, người phạm tội thường sử dụng những địa điểm thuận lợi, có phân công người canh gác, khi các lực lượng chống ma túy phát hiện thì chúng tẩu thoát dễ dàng

Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, người phạm tội chủ yếu là những người bán lẻ ma túy cho con nghiện, sau đó cho họ mượn luôn địa điểm, dụng cụ để họ hút, chích ma túy, ít có trường hợp người phạm tội đứng ra tổ chức như kiểu tổ chức đánh bạc

Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma túy thời gian qua

Trang 22

còn cho thấy, người có hành vi vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy ít khi bị bắt quả tang, nếu có bị bắt quả tang thì cũng chỉ bị bắt với trọng lượng

ma túy ít và nhờ có tin tố giác của nhân dân, còn lại đa số các vụ án ma tuý được điều tra, truy tố thuộc dạng án truy xét đó là bắt được người mua ma túy

để sử dụng và từ lời khai của người sử dụng ma túy CQĐT mới xác minh, truy tìm người bán ma túy Khi người mua ma túy để sử dụng bị bắt thì lập tức người bán ma túy đã kịp tẩu tán hoặc bỏ trốn nếu có nguy cơ bị lộ Trường hợp người mua chất ma túy khai ra người bán chất ma túy cho mình, nhưng nếu chỉ

có lời khai của người mua chất ma túy mà không có các nguồn chứng cứ khác

mà người bán ma túy không nhận tội thì cũng rất khó xử lý [33,tr.275]

Nắm chắc những đặc điểm của tội phạm về ma túy sẽ giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có những phương pháp phù hợp trong việc áp dụng các quy định của BLHS và BLTTHS vào việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về ma túy

1.2 Những qui định về các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985

Cũng như các loại tội phạm khác, tội phạm ma tuý từ khi xuất hiện đã gây tác hại nhiều mặt cho đời sống xã hội Do vậy, ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề ngăn chặn thuốc phiện Xác định được việc đấu tranh ngăn chặn thuốc phiện không thể là công việc một sớm, một chiều, nên ngoài việc giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân hiểu đực tác hại của thuốc phiện để nhân dân

tự giác tránh xa thuốc phiện thì Chính phủ còn sử dụng cả biện pháp quá độ

để sớm ổn định tình hình Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47/SL tạm thời giữ lại một số luật lệ cũ quy định về các tội phạm ma

Trang 23

túy không trái với nội dung chính thể Cộng hoà Đây chính là một trong những văn bản pháp lý quan trọng nhằm sớm ổn định tình hình đất nước Song do điều kiện lịch sử lúc đó cả dân tộc ta đang dồn hết sức lực cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược nên việc xoá bỏ trồng cây thuốc phiện và quản lý thuốc phiện cha thể thực hiện được Cho tới ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ mới ban hành Nghị định số 150/TTg quy định việc xử

lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 255/TTg ngày 22/12/1952 quy định những người có hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện bị xử lý như: Phạt tiền từ một đến năm lần trị giá thuốc phiện lậu, tịch thu thuốc phiện khi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép Người vi phạm có thể còn bị truy

tố ra trước Toà án nhân dân Ngày 15/9/1955 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 580/TTg bổ sung Nghị định số 150/TTg, quy định những trường hợp có thể bị đưa ra Toà án để xét xử Cùng với Nghị định này, theo thẩm quyền, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 635/VHH-HS ngày 29/3/1958 và Thông tư số 33/VHH-HS ngày 5/7/1958 để thống nhất đường lối xét xử đối với những vụ án buôn lậu thuốc phiện [46]; [48]

Từ năm 1954 đất nước ta tạm chia làm hai miền với hai chế độ chính trị, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy ở mỗi miền rất khác nhau, ở miền Nam, tình hình buôn bán ma tuý, tình trạng nghiện hút phát triển nhanh, việc buôn bán ngày càng có quy mô lớn có tính tổ chức cao, hình thành các tổ chức sử dụng ma túy công khai Tính đến năm 1975 (sau giải phóng) có khoảng 170.000 người nghiện ma túy Sau khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết áp dụng nhiều biện pháp để bài trừ tệ nạn nghiên hút, do đó chỉ sau bảy năm (đến năm 1982) con số người nghiện giảm xuống chỉ còn 40.000 người Ngày 25/3/1977, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 76/CP về

Trang 24

chống buôn lậu thuốc phiện Trên cơ sở Nghị định này, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an đã ra Thông tư liên ngành hướng dẫn áp dụng pháp luật trong cả nước, trong đó xác định: Nghị định

số 580/TTg về trừng trị tội buôn lậu thuốc phiện tiếp tục có hiệu lực thi hành và cho áp dụng thống nhất trong cả nước

Song Nghị định số 150/TTg và Nghị định số 225/TTg, chỉ đề cập xử lý hành vi tàng trữ và vận chuyển trái phép, không đề cập đến việc xử lý hành vi sản xuất hoặc buôn bán trái phép thuốc phiện, chỉ tới khi ban hành Nghị định

số 580/TTg thì mới quy định những trường hợp: buôn lậu thuốc phiện có nhiều người tham dự và có thủ đoạn gian lận; tang vật trị giá trên 1.000đ (tính theo thời giá năm 1955); buôn nhỏ hoặc làm môi giới có tính chất thường xuyên, chuyên nghiệp đã bị phạt tiền nhiều lần; các vụ có liên quan đến nhân viên chính quyền hoặc bộ đội và không thi hành quyết định phạt tiền của cơ quan Thuế vụ hoặc Hải quan có thể bị đa ra Toà án để xét xử Người có các hành vi phạm tội nêu trên có thể bị phạt tù từ ba tháng đến năm năm, phạt tiền

từ một đến năm lần trị giá thuốc phiện lậu, tịch thu tang vật và các phương tiện dùng vào việc phạm tội

Thông tư số 635/VHH-HS và Thông tư số 33/VHH-HS của Bộ Tư pháp hướng dẫn:

Trường hợp buôn lậu thuốc phiện gây tác hại lớn làm cản trở việc thực hiện chính sách và kế hoạch Nhà nước thì có thể áp dụng sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 để xử phạt trên năm năm tù Đối với bọn cầm đầu những tổ chức buôn lậu có thể phạt từ năm năm tù đến mời năm tù; bọn tay chân chuyên nghiệp phạt từ ba đến năm năm tù; bọn cơ hội phạm tội đã giáo dục nhiều lần mà còn vi phạm thì phạt từ một đến ba năm tù, trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ thì vẫn có thể phạt dưới một năm tù hoặc cho hưởng án treo

Trang 25

Đến năm 1982, Hội đồng Nhà nước ban hành pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn bán, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trong

đó ma tuý được coi là đối tượng của buôn lậu và mức phạt có thể lên tới tử hình Tuy nhiên pháp lệnh mới chỉ đề cập tới vấn đề buôn lậu ma tuý dưới góc độ xử phạt hành chính và xử phạt hình sự, chứ cha đề cập tới khía cạnh khác của ma túy [19]

1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999

Vào những năm 1980, tình hình sản xuất, lưu thông và sử dụng ma túy

có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là buôn bán qua biên giới Trước tình hình

đó, Bộ luật hình sự đầu tiên của Nhà nước ta đã được Quốc hội thông qua ngày 27/6/1985 đã quy định trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy tại ba điều: Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới; Điều 166: Tội buôn bán hàng cấm; và Điều 203: Tội tổ chức dùng chất ma túy

Theo Bộ luật hình sự năm 1985, chỉ có một Điều (Điều 203) quy định riêng về “tội tổ chức dùng chất ma túy”, còn các hành vi sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép các chất ma túy chưa được quy định thành tội riêng mà những hành vi mua bán, vận chuyển ma túy qua biên giới thì bị truy

cứu theo Điều 97 “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ

qua biên giới” [35] và những hành vi mua bán, vận chuyển ma tuý trong nội

địa thì truy tố theo Điều 166 là “Tội buôn bán hàng cấm” [35] Bộ luật hình

sự 1985 là công cụ sắc bén để đấu tranh, chống các tội phạm về ma túy Song việc quy định không tách bạch chung và chưa bao quát đã làm giảm hiệu quả của Bộ luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy Theo

Bộ luật hình sự năm 1985, hành vi buôn bán, tàng trữ các chất ma tuý phải xử

lý theo tội "Buôn bán hàng cấm", còn hành vi sản xuất, vận chuyển trái phép

Trang 26

chất ma túy thì chưa được quy định cụ thể Trước yêu cầu của thực tiễn đặt ra

là cần phải xử lý nghiêm khắc với cả hành vi “sản xuất”, “vận chuyển” trái phép các chất ma túy Ngày 28/12/1989 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, trong đó tách tội phạm ma túy thành một điều riêng nằm ở Mục B thuộc chương "Các tội xâm phạm an ninh quốc gia" Như vậy, đến thời điểm này thì tội phạm về ma túy lại được quy định thành hai tội nằm ở hai chương khác nhau trong Bộ luật hình sự đó là: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy (Điều 96a BLHS) với ba khung hình phạt rất nghiêm khắc, với mức hình phạt cao nhất đến tử hình đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và Tội tổ chức dùng chất ma túy (Điều 203 BLHS) với mức hình phạt cao nhất là mười năm tù [6]; [27]

Đối với tệ nạn nghiện ma tuý, Luật bảo về sức khỏe nhân dân ngày 30/6/1989 tại Điều 29 cũng đã quy định: Các cơ sở y tế phải tiến hành các biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh nghiện ma tuý

Để tỏ rõ thái độ kiên quyết đấu tranh với tệ nạn ma tuý và các tội phạm

về ma tuý của Đảng và Nhà nước ta, Hiến pháp 1992 tại Điều 61 đã quy định

" Nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ, sử dụng trái phép thuốc phiện và các chất ma tuý khác Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa các bệnh xã hội nguy hiểm ” [34] Để tạo sức mạnh tổng hợp

cho cuộc đấu tranh phòng, chống ma tuý, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết

số 06/CP ngày 29/01/1993 về tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy với kinh phí cho chương trình từ 1993 đến 1997 là 300 tỷ đổng Nhằm tạo cho việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma túy nên các ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Bộ Nội

vụ đã cùng xây dựng Thông tư liên ngành số 07/TTLN ngày 05/12/1992, số 05/TTLN ngày 14/2/1995, số 09/TTLN ngày 10/10/1996 hướng dẫn áp dụng

Trang 27

Để ngăn chặn tệ nạn ma túy với phương châm “triệt nguồn ma túy” ngày 16/1/1986 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ)

đã ra Chỉ thị số 243/CT về việc cấm gieo trồng cây thuốc phiện và giải thể các đơn vị chuyên doanh dược liệu này; Chỉ thị số 99/CT ngày 8/4/1991 của Chính phủ về việc vận động nhân dân không trồng cây anh túc và quy định về trách nhiệm của các cấp, các ngành hữu quan

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong hoạt động lập pháp cũng như thực tiễn đấu tranh chống các tội phạm ma túy nhưng tội phạm về ma túy và cùng với nó

là tệ nạn ma túy vẫn tiếp tục tăng nhanh Tinh hình mới khiến cho quy định tại Điều 96a cũng không đủ đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống các tội phạm

về ma túy Do vậy ngày 10/5/1997 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, trong đó có tội phạm về ma tuý, thể hiện cách tiếp cận, giải quyết vấn đề của Nhà nước ta đối với tội phạm về ma túy một cách toàn diện, có hệ thống, triệt

để hơn và nghiêm khắc hơn Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình

sự quy định tội phạm về ma tuý thành một chương riêng, bổ sung một số tội danh, định lượng các chất ma tuý trong từng khung hình phạt, tăng nặng mức hình phạt, nâng cao hình phạt tiền và tịch thu tài sản, thêm một số hình phạt bổ sung khác, đó là những điểm mới quan trọng nhất trong Chính sách hình sự của Nhà nước ta về tội phạm ma tuý Tại điều 2 của “Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS” đã quy định Chương VIIa “Các tội phạm về ma túy” các tội phạm về ma túy được tách ra thành 13 điều: Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy; tội sản xuất trái phép chất ma túy; tội tàng trữ trái phép chất ma túy; tội vận chuyển trái phép chất ma túy; tội chiếm đoạt chất ma túy; tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy; tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán các phương tiện dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép

Trang 28

khác sử dụng trái phép chất ma túy; tội vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng chất gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

1.2.3 Nhưng qui định về các tội phạm về ma túy theo Bộ luật hình sự năm 1999

Trong điều kiện đất nước ta đã và đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với nền kinh tế nhiều thành phần, phát triển theo cơ chế thị trường, mở cửa hợp tác rộng rãi với các nước trong khu vực và trên thế giới, từng bước hoà nhập với khu vực và thế giới

Bộ luật hình sự năm 1985, dù qua vài lần sửa đổi vẫn chưa theo kịp tình hình, phát triển của xã hội Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1985 một cách toàn diện đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống các tội phạm nói chung và các tội phạm về ma túy nói riêng Trên cơ sở đó Bộ luật hình sự năm 1999 đã ra đời Trong Bộ luật hình sự năm 1999 tội phạm về ma túy được quy định thành một chương riêng (Chương XVIII) với 10 tội danh khác nhau So với Bộ luật hình sự năm 1985 thì Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều thay đổi, bổ sung phù hợp với cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay [4;5]

Các tội phạm về ma tuý được quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999 tại một chương riêng (Chương XVIII- Các tội phạm về ma tuý) gồm 10 điều

từ Điều 192 đến Điều 201, về mức hình phạt cụ thể với từng tội như sau:

Điều 192 Tội trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất

ma tuý Có 2 khung hình phạt chính, tối thiểu 06 tháng tù, tối đa 07 năm tù, hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 01 triệu đồng đến năm mươi triệu đồng

Điều 193 Tội sản xuất trái phép chất ma tuý Có 4 khung hình phạt chính, tối thiểu là 02 năm tù, tối đa là tử hình

Điều 194 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt trái phép chất ma tuý Có 4 khung hình phạt chính, tối thiểu là 02 năm tù, tối

đa là tử hình

Trang 29

Điều 195 Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý Có 4 khung hình phạt chính, tối thiểu là 01 năm tù, tối đa là tù chung thân

Điều 196 Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy Có 2 khung hình phạt chính, tối thiểu là 01 năm tù, tối đa là 10 năm tù

Điều 197 Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý Có 04 khung hình phạt chính, tối thiểu 02 năm tù, tối đa đến tử hình

Điều 198 Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý Có 02 khung hình phạt chính, tối thiểu 02 năm tù, tối đa 15 năm tù

Điều 199 Tội sử dụng trái phép chất ma tuý Có 02 khung hình phạt chính, tối thiểu 03 tháng tù, tối đa 05 năm tù

Điều 200 Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý Có 04 khung hình phạt chính, tối thiểu 02 năm tù, tối đa là tù chung thân

Điều 201 Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc có chất ma túy khác Có 04 khung hình phạt chính, tối thiểu là phạt tiền

05 triệu đồng, tối đa là tù chung thân

Ngoài hình phạt chính nói trên thì người phạm các tội từ Điều 193 đến Điều 198, các Điều 200 và Điều 201 có thể còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 05 triệu đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Bộ luật hình sự năm 1999 so với Bộ luật hình sự năm 1985 đã chặt chẽ hơn về mặt khoa học, dễ hiểu và dễ áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy Đồng thời Bộ luật hình sự năm 1999 đã bổ sung thêm tình tiết "phạm tội đối với trẻ em" là tình tiết tăng nặng định khung trong khoản 2 Điều 198 "Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"

Trang 30

Điều này thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta luôn xác định thế hệ trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước do vậy cần phải tạo điều kiện, quan tâm bồi dưỡng, giáo dục, bảo vệ và tạo mọi điều kiện cho thế hệ trẻ phát triển một cách toàn diện Ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm

1999 Việc ban hành luật này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình từng bước hoàn thiện pháp luật hình sự của Nhà nước ta, góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra và bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bổi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Hành vi bị coi là tội phạm trong BLHS năm 1999 nay không còn nguy hiếm cho xã hội nữa Theo Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS, người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân [30]

Khoản 3 điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS nhà làm luật đã phi hình

sự hóa (hoàn toàn) 4 tội danh trong BLHS, trong đó có tội sử dụng trái phép chất ma túy Việc bãi bỏ điều luật này, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự nhưng cũng xác định rõ trong thời gian qua các hành vi nêu trên không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Việc bỏ tội sử dụng trái phép chất ma túy là xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian qua cho thấy hiệu quả răn đe, phòng ngừa chung của việc xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm này không cao Hiệu quả giáo dục, cải tạo, phục hồi đối với người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy là rất hạn chế Mặt khác, người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy trong thực tế rất nhiều, không

có khả năng xử lý bằng hình sự hết được, xảy ra tình trạng không công bằng của pháp luật Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng dưới góc độ xã hội thì người nghiện ma túy được coi là nạn nhân của một tệ nạn Hơn nữa, việc không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma

Trang 31

túy là tội phạm không có nghĩa là dung túng đối với hành vi này mà cần có biện pháp xử lý hiệu quả, bền vững hơn như biện pháp bắt buộc chữa bệnh, nâng cao các biện pháp điều trị y tế kết hợp với lao động, giáo dục tại gia đình

và cộng đồng Trường hợp người nghiện ma túy mà có hành vi phạm tội thì sẽ

bị xử lý hình sự theo các tội danh tương ứng của BLHS Bên cạnh đó, tham khảo pháp luật nước ngoài cho thấy pháp luật hình sự nhiều nước trên thế giới không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm

Như vậy, đến nay theo quy định của BLHS thì có 9 điều luật quy định

về các tội phạm ma túy, là cơ sở pháp lý cho việc xử lý về hình sự các hành vi phạm tội ma túy trên thực tế, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này

Cùng với việc thông qua Bộ luật hình sự mới, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật phòng, chống ma túy, có hiệu lực từ ngày 01/6/2001 Đây là đạo luật đầu tiên quy định toàn diện về công tác phòng, chống ma túy Đây chính là những cơ sở pháp lý quan trọng để đấu tranh phòng, chống ma túy, điều đó cũng thể hiện chính sách hình sự và quan điểm của Nhà nước ta quyết tâm phòng, chống ma túy một cách quyết tâm nhất

Cùng với việc ban hành Bộ luật hình sự quy định các tội phạm về ma tuý và hình phạt áp dụng đối với người phạm tội, ban hành Luật phòng, chống

ma tuý, Đảng và nhà nước ta cũng luôn quan tâm công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động toàn dân tích cực phòng, chống các tệ nạn về ma tuý cũng như tội phạm về ma tuý Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo công tác này như Nghị quyết số 06/CP ngày 29/01/1993 của Chính phủ về công tác phòng chống ma tuý, Chỉ thị số 33/CT/TW ngày 01/03/1994 của Ban

bí thư trung ương Đảng (khoáVII), Chỉ thị số 06 /CT/TW ngày 30/11/1996 của Bộ chính trị (khoá VIII) về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý, gần đây nhất là Chỉ thị số 21/CT-TW ngày

Trang 32

26/3/2008 của Bộ Chính trị (khoá X) về tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý trong tình hình mới [43]

1.3 Đường lối xử lý hình sự đối với các tội phạm về ma túy

Trong những năm vừa qua, công tác phòng chống và kiểm soát ma tuý

đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy nhiên, tình tình mua bán, vận chuyển, tàng trữ vẫn chưa giảm; tình hình nghiện hút, tiêm chích, hút hít và tổ chức sử dụng ma tuý đang diễn ra phức tạp, nhất là đối với tầng lớp thanh, thiếu niên Ma tuý đã gây tác hại rất lớn và ảnh hưởng rất xấu đến sức khoẻ,

là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm chặn đứng và đẩy lùi tệ nạn này, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên tệ nạn này vẫn đang là mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội Một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma tuý là việc xử lý các hành

vi phạm tội về ma tuý

Chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội phạm về

ma tuý gồm 10 Điều tương ứng với 10 tội danh khác nhau So với Chương VIIA (phần tội phạm) Bộ luật hình sự năm 1985, thì Bộ luật hình sự năm

1999 quy định ít hơn 4 Điều (Bộ luật hình sự năm 1985 có 14 Điều) Tuy

có ít hơn 4 điều nhưng các hành vi phạm tội về ma tuý vẫn bị xử lý không sót một hành vi nào

Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 đối với các tội phạm về ma tuý, nói chung không có gì thay đổi lớn, vì Chương VIIA Bộ luật hình sự năm

1985 là chương được sửa đổi bổ sung tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá IX ngày 10-5-1997 (có hiệu lực từ ngày 22-5-1997) Các quy định tại chương VIIA Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tương đối đầy đủ, các hành vi, các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ quy định một số tình tiết (đúng ra là cụ thể hoá một số tình tình tiết) như: Gây tổn

Trang 33

hại nặng cho sức khoẻ, thì quy định cụ thể tỷ lệ thương tật là bao nhiêu %; điều chỉnh lại mức hình phạt trong từng khung hình phạt cho phù hợp với thực tiễn xét xử, nhất là hình phạt bổ sung Một thay đổi lớn nhất đối với các tội phạm về ma tuý quy định tại chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999 so với chương VIIA Bộ luật hình sự năm 1985 là nhập bốn tội quy định các Điều 185c,185d,185đ và 185e thành một tội quy định tại Điều 194 với đầy đủ các hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán và chiếm đoạt chất ma tuý, đồng thời quy định hình phạt bổ sung ngay trong từng điều luật mà không quy định thành một điều luật riêng như Bộ luật hình sự năm 1985 (Điều 185o) Việc nhập 4 điều thành một điều và quy định hình phạt bổ sung ngay trong cùng một điều luật đã làm cho chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999 chỉ còn 10 điều so với 14 điều của Bộ luật hình sự năm 1985

Sau khi Bộ luật hình sự năm 1985 được bổ sung chương VIIA, các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương cũng đã kịp thời ban hành Thông tư liên tịch số 01-1998/TTLT ngày 2 tháng 1 năm 1998 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ và ngay sau đó các cơ quan trên lại ban hành Thông tư liên tịch số 02-1998/TTLT ngày 5 tháng 8 năm 1998 hướng dẫn áp dụng Chương VIIA quy định các tội phạm về ma tuý Các hướng dẫn này bước đầu đã đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan tiến hành

tố tụng và các cán bộ làm công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm về ma tuý, các nội dung trong các Thông tư này vẫn còn giá trị tham khảo khi áp dụng các quy định tại chương XVIII Bộ luật hình sự năm 1999 đối với các tội phạm về ma tuý

Do pháp luật quy định các tội phạm về ma tuý trong từng thời ký có khác nhau nên nhất là từ khi Quốc hội bổ sung chương VIIA quy định các tội phạm về ma tuý có hiệu lực từ ngày 22-5-1997, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội về ma tuý trước ngày 22-5-1997 cần

Trang 34

chú ý hiệu lực về thời gian Mặt khác, trước và sau khi Quốc hội bổ sung Chương VIIA, các cơ quan chức năng như Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng Bộ luật hình sự khi xử lý các hành vi phạm tội có Hên quan đến

ma tuý và mỗi văn bản đó cũng có nội dung khác nhau, cũng như hiệu lực thi hành cũng khác nhau nên việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đế xử

lý đối với hành vi phạm tội về ma tuý cũng khá phức tạp

Tuy nhiên, do những quy định của Bộ luật hình sự năm 1985 đối với các tội phạm về ma tuý và các hướng dẫn áp dụng về tội phạm ma tuý vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu mà thực tiễn xét xử đặt ra Mặt khác, dù không có thay đổi nhiều, nhưng các quy định của chương XVIII Bộ luật hình sự năm

1999 về các tội phạm ma tuý có nhiều điểm nếu không được tìm hiểu thì khó

có thể áp dụng đúng khi giải quyết các hành vi phạm tội về ma tuý

Ngày 19/6/2009, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 Việc ban hành luật này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình từng bước hoàn thiện pháp luật hình sự của Nhà nước ta, góp phần khắc phục những hạn chế, bất cập của BLHS, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đang đặt ra và bảo đảm hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Luật sửa đổi, bổ sung BLHS đã thể chế hóa chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước; hình sự hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội đòi hỏi phải xử lý về hình sự mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế, nhất là các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin, chứng khoán, tài chính-kế toán, sở hữu trí tuệ trong hợp tác quốc tế về chống khủng bố, chống mua bán phụ nữ, trẻ em ; phi hình sự hóa một số hành vi bị coi là tội phạm trong BLHS năm

1999 nay không còn nguy hiếm cho xã hội nữa

Trang 35

Theo đó, bỏ hình phạt tử hình ở 8 điều luật trong đó có Khoản 4 Điều

197 (Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) BLHS năm 1999 quy định người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên; gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác Theo Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS, người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân

Khoản 3 điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung BLHS nhà làm luật đã phi hình

sự hóa (hoàn toàn) 4 tội danh trong BLHS, trong đó có tội sử dụng trái phép chất ma túy Việc bãi bỏ điều luật này, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự nhưng cũng xác định rõ trong thời gian qua các hành vi nêu trên không còn nguy hiểm cho xã hội nữa Việc bỏ tội sử dụng trái phép chất ma túy là xuất phát từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian qua cho thấy hiệu quả răn đe, phòng ngừa chung của việc xử lý hình sự đối với hành vi vi phạm này không cao Hiệu quả giáo dục, cải tạo, phục hồi đối với người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy là rất hạn chế Mặt khác, người phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy trong thực tế rất nhiều, không

có khả năng xử lý bằng hình sự hết được, xảy ra tình trạng không công bằng của pháp luật Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng dưới góc độ xã hội thì người nghiện ma túy được coi là nạn nhân của một tệ nạn Hơn nữa, việc không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm không có nghĩa là dung túng đối với hành vi này mà cần có biện pháp xử lý hiệu quả, bền vững hơn như biện pháp bắt buộc chữa bệnh, nâng cao các biện pháp điều trị y tế kết hợp với lao động, giáo dục tại gia đình

và cộng đồng Trường hợp người nghiện ma túy mà có hành vi phạm tội thì sẽ

Trang 36

bị xử lý hình sự theo các tội danh tương úng của BLHS Bên cạnh đó, tham khảo pháp luật nước ngoài cho thấy pháp luật hình sự nhiều nước trên thế giới không coi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm

Như vậy, đến nay theo quy định của BLHS thì có 9 điều luật quy định

về các tội phạm ma túy, là cơ sở pháp lý cho việc xử lý về hình sự các hành vi phạm tội ma túy trên thực tế, góp phần phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống đối với loại tội phạm này

Trong những năm qua liên ngành Trung ương Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toàn án nhân dân tối cao đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn giải quyết các vụ án ma túy, các văn bản đó đã định hướng và góp phần tích cực trong việc đấu tranh với các loại tội phạm về ma túy Tuy nhiên, do có sự thay đổi, bổ sung của Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng Hình sự và diễn biến tình hình tội phạm ma túy ngày càng phức tạp, nghiêm trọng thì những văn bản trên còn có những bất hợp lý trong việc xử lý các loại tội phạm về ma túy cụ thể:

Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn quyết định hình phạt đối với tội phạm về ma túy

Đến nay văn bản này không phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy đẫn đến việc áp dụng và quyết định hình phạt chưa đảm bảo nguyên tắc công bằng

Mục 3.1 Nghị quyết hướng dẫn: Trong trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng, vừa

có tình tiết giảm nhẹ nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau thì xử phạt người phạm tội mức án tương ứng với trọng lượng chất ma túy như sau:

- Xử phạt 20 năm tù nếu Heroin hoặc Cocain có trọng lượng từ 100g đến 300g;

Trang 37

- Xử phạt trung thân nếu Heroin hoặc Cocain có trọng lượng từ 300g đến 600g

Khi quyết định hình phạt dựa vào trọng lượng các chất ma túy, trọng lượng các chất ma túy càng nhiều thì mức phạt càng cao và ngược lại Theo hướng dẫn trên thì người phạm tội với trọng lượng l00g Heroin cũng phải chịu mức hình phạt như người tội phạm về ma túy với trọng lương 299g Heroin và ngược lại Với hướng dẫn trên thì định hướng từ l00g đến dưới 300g là khoảng cách quá xa và bất hợp lý khi quyết định hình phạt Mặt khác, nếu mỗi bị can phạm tội đom lẻ về mua bán, tàng trử, vận chuyển trái phép từ l00g Heroin hoặc Cocain trở lên thi bị xét xử theo khoản 4 điều 194 Bộ luật hình sự với khung hình phạt thấp nhất là 20 năm, cao nhất là tử hình Tuy nhiên, nhiều vụ án ma túy được đưa ra xét xử có tính chất đồng phạm, có nhiều bị cáo tham gia, được tổ chức chặt chẽ, buôn bán vận chuyển số lượng lớn ma túy là Heroin với trọng lượng hàng chục kilogam nhưng khi xét xử án

tử hình còn có án chung thân và án tù có thời hạn Trong khi đó hành vi phạm tội có tổ chức bao giờ cũng nguy hiểm hơn phạm tội mang tính đơn lẻ

Tại Nghị quyết 02/2013 ngày 17/4/2003 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn hình sự đối với người thực hiện tội phạm về ma túy trong một số trường hợp cụ thể tại các tiết c, d, đ, e, g điểm 2 mục 2 có ghi: “Người nào nghiện ma túy ” theo luật phòng chống ma túy thì người nghiện ma túy là người bị lệ thuộc vào việc sử dụng ma túy Tuy nhiên, trong thực tiễn khi nhiều đối tượng tụ tập sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt giữ

có khai là đã sử dụng ma túy nhưng không thường xuyên, xác minh không có

hồ sơ quản lý đối tượng ở cơ sở vì vậy xác định đối tượng nghiện ma túy hay không rất khó khăn Do đó, khi vận dụng hướng dẫn trên có nhiều cách hiểu khác nhau dẫn đến đường lối xử lý khác nhau

Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi hành, việc áp dụng

Trang 38

quy định về trọng lượng ma túy để xét xử bị cáo theo Điều 194 Bộ luật hình

sự có nhiều thuận lợi Điều 194 đã quy định cụ thể về trọng lượng ma túy áp dụng cho từng khoản tương ứng với hành vi phạm tội của người thực hiện tội phạm, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án nhân dân các cấp trong việc định tội, định khung hình phạt trong hoạt động xét xử, đảm bảo được tính nghiêm minh, khách quan, công bằng khi ban hành các bản án

Để hướng dẫn áp dụng thống nhất về đường lối xử lý giữa các ngành, các địa phương, nhằm đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật, cũng như nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, điều tra, truy tố người phạm tội trước pháp luật đối với các tội phạm về ma túy Liên ngành Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, trong đó hướng dẫn cách thức, phương pháp tính, quy đổi định lượng ma túy, định lượng xác định cấu thành tội phạm đổi với các hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy tạo thuận lợi cho quá trình giải quyết vụ án về ma túy Các quy định này đã tạo cơ

sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, hướng dẫn chi tiết về định lượng, tỷ lệ phần trăm

về trọng lượng của các chất ma túy, là căn cứ để xác định khung hình phạt áp dụng và mức hình phạt tương ứng với trọng lượng do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra giúp cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng dễ dàng áp dụng, tránh được sự tùy tiện khi áp dụng Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nội dung hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17 về định lượng ma túy

để truy cứu trách nhiệm hình sự còn nhiều vướng mắc trong quá trình vận dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng rất cần được làm rõ, sửa đổi,

bổ sung và hoàn thiện

Trang 39

Chương 2

THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH NĂM 2001 - 2013

2.1 Đặc điểm kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến hoạt động xét xử các

vụ án Hình sự về ma túy tại Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh

Tỉnh Bắc Ninh được tái lập từ ngày 01 tháng 01 năm 1997, là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tam giác tăng trưởng kinh tế lớn Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh Mặc dù là tỉnh nhỏ, có diện tích tự nhiên rất hẹp khoảng 807,6km2, dân số là 1.024.151 người, mật độ dân số đứng thứ ba của cả nước với 1.245 người/lkm2, dân số sống chủ yếu ở vùng nông thôn với

782.428 người, chiếm 76,4% Tỉnh Bắc Ninh được chia thành 8 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện, tiếp giáp với các tỉnh, thành phố

là Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên và Bắc Giang, có đường giao thông đường

bộ, đường sắt và đường sông thuận lợi Với truyền thống văn hoá lâu đời, Bắc Ninh là vùng quê có nhiều lễ hội truyền thống, hàng năm thu hút hàng vạn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm các khu di tích lịch sử, văn hoá, thăm các làng nghề truyền thống cùng các hoạt động buôn bán, giao lưu kinh

tế, văn hoá

Từ khi tái lập tỉnh, đặc biệt là sau Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVI năm 2000 và Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ XVII năm 2005, nền kinh tế tỉnh Bắc Ninh đã và đang phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ một tỉnh thuần nông, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng công nghiệp và dịch vụ Trong nông nghiệp, tỷ trọng giữa chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản so với trồng trọt hiện nay đã chiếm 60% giá trị toàn ngành Trong công nghiệp, công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các làng nghề được đặc biệt quan tâm và chú

Trang 40

trọng đầu tư Tính đến nay, đã quy hoạch được 7 khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với diện tích hơn 6.459 ha; đồng thời trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt bổ sung 6 khu công nghiệp với hơn 1.424 ha, cấp giấy phép đầu tư cho 300 dự án, trong đó có gần 137 dự án nước ngoài đầu tư với số vốn đăng ký hơn 2 tỷ USD và 5.157 tỷ đồng và quy hoạch được 54 cụm công nghiệp nhỏ và vừa, cụm công nghiệp làng nghề có ở khắp các địa phương trong tỉnh Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh Bắc Ninh trong những năm qua đã làm cho nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao và phát triển tương đối toàn diện, giáo dục, y tế, văn hoá được nâng lên một bước, đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, đời sống nhân dân đặc biệt là ở nông thôn đã có nhiều thay đổi và được cải thiện rõ rệt

Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội cũng trở nên rõ rệt, tạo ra những mâu thuẫn, vấn đề việc làm cho người lao động vãn còn nan giải, các chính sách xã hội còn nhiều bất cập, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, hoạt động tội phạm ngày càng tinh vi xảo quyệt

Trong điều kiện chung của đất nước, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh

có sự phát triển, tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh nói chung, tội phạm về ma tuý và tệ nạn ma tuý nói riêng luôn có chiều hướng gia tăng, tính chất và mức độ phạm tội cũng như hình thức sử dụng ngày càng tinh vi và đa dạng hơn Diễn biến của tình hình tội phạm nói chung cũng như tình hình tội phạm về ma tuý và tệ nạn ma tuý đã và đang gây ra những tác hại về kinh tế - chính trị - xã hội; ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân và truyền thống đạo đức cũng như hình ảnh của vùng quê Kinh Bắc văn hiến lâu đời [51]

Những điều kiện tự nhiên, sự chuyển biến về kinh tế - văn hoá - xã hội trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh đã ảnh hưởng đến việc ADPL trong hoạt động xét xử án hình sự nói chung và án hình sự về ma tuý của TAND các cấp

ở tỉnh Bắc Ninh Những ảnh hưởng đó biểu hiện tập trung trên một số phương diện sau:

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) (1998), Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao, Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày /1/1998 và Thông tư liên tịch số 02/TTLT ngày 5/8/1998 hướng dẫn áp dụng Chương VII A quy định các Tội phạm về ma tuý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày /1/1998 và Thông tư liên tịch số 02/TTLT ngày 5/8/1998 hướng dẫn áp dụng Chương VII A quy định các Tội phạm về ma tuý
Tác giả: Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
2. Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp (2007), Thông tư số 17/ 2007/TTLN ngày 24/12/2007 quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 17/ 2007/TTLN ngày 24/12/2007 quy định về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
3. Dương Thanh Biểu (1999), Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy, Chuyên đề khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp tăng cường công tác kiểm sát điều tra các tội phạm về ma túy
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Chuyên đề khoa học
Năm: 1999
4. Lê Cảm (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
5. Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh: lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài tập thực hành
Tác giả: Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
6. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung).( Sách chuyên khảo sau đại học). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung).( Sách chuyên khảo sau đại học)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
7. Chính phủ (2001), Nghị định số 67/2001/NĐ-CP quy định về việc ban hành Danh mục các chất ma tuý và tiền chất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 67/2001/NĐ-CP quy định về việc ban hành Danh mục các chất ma tuý và tiền chất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2001
8. Chính phủ (2003), Nghị định số 133/2003/NĐ-CP quy định bổ sung vào Danh mục các chất ma tuý và tiền chất, ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 133/2003/NĐ-CP quy định bổ sung vào Danh mục các chất ma tuý và tiền chất, ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2003
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 58/2003/NĐ-CP ngày 29/5/2003 quy định về kiểm soát nhập khẩu, xuất khẩu chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2003/NĐ-CP ngày 29/5/2003 quy định về kiểm soát nhập khẩu, xuất khẩu chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
10. Chính phủ (2007), Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007 quy định sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một số chất thuộc Danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hanh kèm Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007 quy định sửa tên, bổ sung, chuyển, loại bỏ một số chất thuộc Danh mục chất ma tuý và tiền chất ban hanh kèm Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2001
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2007
11. Chính phủ (2009), Nghị định số 45/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 quy định về việc hướng dẫn nhập khẩu mẫu, lấy mẫu, quản lí, sử dụng mẫu các chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thân về mục đích quốc phòng, an ninh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 45/2009/NĐ-CP ngày 13/5/2009 quy định về việc hướng dẫn nhập khẩu mẫu, lấy mẫu, quản lí, sử dụng mẫu các chất ma tuý, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thân về mục đích quốc phòng, an ninh
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
12. Chính phủ (2011), Nghị định số 17/2011/NĐ-CP ngày 22/2/2011 quy định về bổ sung, sửa tên chất, tên khoa học đối với một số chất thuộc Danh mục các chất ma tuý và tiền 22 chất ma tuý, ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ-CP ngày 1/10/2001 và Nghị định số 163/2007/NĐ-CP ngày 12/11/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 17/2011/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
13. Cục Thống kê Bắc Ninh (2009), Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2008, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2008
Tác giả: Cục Thống kê Bắc Ninh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2009
14. Nguyễn Mạnh Cường (2007), Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma túy theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật trong điều tra, truy tố các vụ án ma túy theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2007
15. Phạm Đình Cửu (2010), “Các chất ma túy và một số giải pháp phòng chống”, Tạp chí Phòng chống ma túy – Uỷ ban Quốc gia phòng, chống Aids và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chất ma túy và một số giải pháp phòng chống
Tác giả: Phạm Đình Cửu
Nhà XB: Tạp chí Phòng chống ma túy – Uỷ ban Quốc gia phòng, chống Aids và phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm
Năm: 2010
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08- NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
18. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
19. Trần Văn Đượm (2005), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm, Tập I, Chương VIII), Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm, Tập I, Chương VIII)
Tác giả: Trần Văn Đượm
Năm: 2005
20. Nguyễn Phong Hòa (1998), Các tội phạm về ma túy đặc điểm hình sự; dấu hiệu pháp lý; các biện pháp phát hiện và đấu tranh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tội phạm về ma túy đặc điểm hình sự; "dấu hiệu pháp lý; các biện pháp phát hiện và đấu tranh
Tác giả: Nguyễn Phong Hòa
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1998
21. Trần Minh Hưởng (2009), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Tập I), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Tập I)
Tác giả: Trần Minh Hưởng
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: So sánh tình hình tội phạm về ma tuý với tình hình tội phạm nói - Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 2.1 So sánh tình hình tội phạm về ma tuý với tình hình tội phạm nói (Trang 43)
Bảng 2.2: Tình hình tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 2.2 Tình hình tội phạm ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Trang 44)
Bảng 2.3: Tình hình khởi tố, truy tố, xét xử các vụ án về ma tuý trên  địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2009 đến năm 20013 (cả cấp tỉnh và cấp - Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 2.3 Tình hình khởi tố, truy tố, xét xử các vụ án về ma tuý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 2009 đến năm 20013 (cả cấp tỉnh và cấp (Trang 45)
Bảng 2.4: Tình hình xét xử các vụ án vê ma tuý - Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 2.4 Tình hình xét xử các vụ án vê ma tuý (Trang 47)
Bảng 2.5: Đặc điểm nhân thân của các bị cáo - Các tội phạm về ma túy trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn xét xử trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2000-2010
Bảng 2.5 Đặc điểm nhân thân của các bị cáo (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w