Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
Hà nội – 2013
[
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thùy Dương
Trang 4Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP
LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM
Cơ sở lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm
Quan niệm chung về biện pháp tư pháp
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của biện pháp tịch thu vật, tiền
trực tiếp liên quan đến tội phạm
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp
xử lý vi phạm hành chính
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tiền
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm với hình phạt tịch thu tài sản
Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
Trang 5Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định biện
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi
ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Nghiên cứu so sánh biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên
quan đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam với biện pháp
cưỡng chế về hình sự tương đương trong luật hình sự một số
Chương 2: BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN
TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG Các quy định về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999
Thực tiễn áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm – những tồn tại và hạn chế
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU
Trang 6Nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm
Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về biện
pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong
thực tiễn
Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tịch thu
vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong thực tiễn
Trang 731
1.5 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong LHS Việt Nam và hình phạt tịch thu tài sản trong LHS Thụy Điển
33
1.6 So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong LHS Việt Nam và hình phạt tịch thu trong LHS Nhật Bản
50
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước đã sử dụng kết hợp các biện pháp về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, pháp luật để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm Trong toàn
bộ các biện pháp tác động bằng pháp luật thì pháp luật hình sự tuy không phải là biện pháp đầu tiên, biện pháp quyết định nhưng nó là một công cụ sắc bén, đóng một vai trò rất quan trọng
Gắn liền với ngành luật hình sự là biện pháp trách nhiệm hình sự (TNHS) Hình phạt và các biện pháp tư pháp chính là chế tài cụ thể để thực hiện TNHS đó Các biện pháp tư pháp khi được áp dụng có khả năng tác động hỗ trợ cho hình phạt đối với người phạm tội và trong nhiều trường hợp các biện pháp này còn
có thể thay thế hình phạt Cả hình phạt và các biện pháp tư pháp
về mặt nội dung đều thể hiện được nguyên tắc nhân đạo sâu sắc,
sự kết hợp giữa nghiêm trị với khoan hồng, giữa trừng trị với cải tạo, giáo dục trong chính sách hình sự của nước ta
Kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985, BLHS năm 1999 là bước phát triển mới trong luật hình sự nước
ta Nhiều quy phạm luật hình sự (LHS) đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả Tuy nhiên, một số quy định về chế định các biện pháp tư pháp nói chung và về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên
Trang 9quan đến tội phạm nói riêng trong BLHS hiện hành, ở những mức độ khác nhau, bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định, chưa đáp ứng được yêu cầu của việc xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh hiện nay Mặt khác, công tác giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự trong thời gian qua chưa được quan tâm đúng mức nên một số quy định của pháp luật hình sự, trong đó có các quy định về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm còn có những nhận thức không thống nhất, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn
Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong khoa học và việc áp dụng nó trong thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những kiến giải lập pháp hoàn thiện phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm và ngăn chặn, hạn chế tới mức thấp nhất hậu quả của tội phạm gây ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Đây là lý
do mà chúng tôi chọn đề tài "Biện pháp tư pháp tịch thu vật,
tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề TNHS cũng như hình phạt, các biện pháp tư pháp, với tư cách là một trong các dạng của TNHS, đã được nhiều sách, báo, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập một cách đa dạng, phong phú Nhưng việc nghiên cứu các biện pháp tư pháp nói chung, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nói riêng, với tư cách là những biện pháp hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt vẫn còn chưa được quan tâm
Trang 10đúng mức mà mới chỉ được đề cập khái quát trong một số công trình nghiên cứu
Sau khi BLHS năm 1999 ban hành, chế định biện pháp tư pháp nói chung, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nói riêng cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham khảo do các tác giả khác nhau biện soạn như:
- Chương XV – Khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt
và các biện pháp tư pháp của TS Trịnh Quốc Toản, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) Tập thể tác giả,
do TSKH Lê Cảm chủ biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2001 (tái bản năm 2003, 2007);
- Chương XII - Khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt và
các biện pháp tư pháp của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, trong
sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I Tập thể tác giả, do
GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007;
- Chương XV - Khái niệm hình phạt, hệ thống hình phạt và
các biện pháp tư pháp của GS.TS Võ Khánh Vinh, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, tập I Tập thể tác giả, do
GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2005;
- Phần thứ ba – Chương II – Hệ thống hình phạt và các
biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam của PTS Đỗ
Ngọc Quang, trong sách: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam
(Phần chung) Tập thể tác giả, do PTS Đỗ Ngọc Quang chủ
biên, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1996 (tái bản năm 2005);
Trang 11- ThS Đinh Văn Quế Chương XI – Các biện pháp tư
pháp, trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hính sự năm 1999 (Phần chung), NXB thành phố Hồ Chí Minh, 2000;
- Chương VI – Các biện pháp tư pháp của ThS Trần Minh Hưởng, trong sách: Bình luận khoa học Bộ luật hính sự năm
1999 (Phần chung) Tập thể tác giả, do ThS Trần Minh Hưởng
chủ biên, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2002;
- GS.TS Lê Cảm Chương thứ bảy – Hình phạt và biện
pháp tư pháp, trong sách: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), sách chuyên khảo sau đại học, NXB
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005
- GS.TS Lê Cảm Chương thứ bốn – Hệ thống hình sự:
Những phương hướng cơ bản để nâng cao hiệu quả của hệ thống
tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền,
trong sách chuyên khảo: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai
đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, 2009
- Ts Trịnh Quốc Toản Chương 2 – Các hình phạt bổ sung
trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành, trong sách chuyên
khảo: Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam, NXB
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như:
- “Hình phạt và biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt
Nam” của TSKH.GS Lê Cảm, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số
11/2000;
- “Các biện pháp tư pháp trong Bộ luật hình sự năm
Trang 121999 và vấn đề Bộ luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó” của Phạm Hồng Hải, Tạp chí Luật học
số 5/2000;
- “Nghiên cứu so sánh luật hình sự của một số nước Châu
Âu” của TSKH.GS Lê Cảm, Tạp chí Tòa án nhân dân tháng 10
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Mục đích của luận văn:
- Làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam
- Phân tích những bất cập của các quy định về biện pháp
Trang 13tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm cả về mặt lý luận và thực tiễn
- Từ đó, luận văn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật, bảo đảm cho việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm được chính xác và triệt để
* Nhiệm vụ của luận văn:
Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và các quy định trong pháp luật hình sự Việt Nam về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và các chế định có liên quan như: hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp…
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong thực tiễn các giai đoạn thực hiện tố tụng hình sự (TTHS) ở nước ta hiện nay
- Nghiên cứu so sánh pháp luật hình sự một số nước về vấn đề tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và các vấn đề có liên quan
- Phân tích những tồn tại, hạn chế và những vướng mắc của việc áp dụng pháp luật hình sự liên quan đến chế định biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức
và áp dụng pháp luật được thống nhất
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo LHS Việt Nam Cụ thể
là nghiên cứu các vấn đề như sau: Khái niệm; đặc điểm; điều
Trang 14kiện áp dụng; thủ tục áp dụng…
Chế định biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau của LHS và luật tố tụng hình sự (LTTHS) như: hình phạt, hình phạt
bổ sung, biện pháp tư pháp chung…Việc đề cập đến các vấn đề trên của LHS và LTTHS cũng chỉ nhằm giải quyết một cách có
hệ thống và làm rõ hơn chế định biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm theo LHS Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là một nội dung tuơng đối hẹp nhưng lại rất phức tạp Biện pháp này đã được nghiên cứu chung trong hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp nhưng chưua có nghiên cứu chuyên sâu và riêng rẽ nên việc hiểu trong lý luận và vận dụng trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn và vướng mắc
Trong khuôn khổ luận văn chủ yếu nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn về biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong LHS Việt Nam trong BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện Bên cạnh đó, luận văn còn có sự phân tích, đối chiếu,
so sánh với pháp luật hình sự một số nước khác để tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về biện pháp
tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong pháp luật hình sự của nước ta
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
* Cơ sở lý luận của luận văn:
Trang 15- Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng và chống tội phạm;
- Những thành tựu của khoa học luật hình sự của một số nước trong khu vực và trên thế giới;
- Các nghiên cứu về hình phạt và biện pháp tư pháp nói chung, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nói riêng của các tác giả trong và ngoài nước
- BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999 hiện hành cũng như các văn bản pháp luật của các ngành bảo vệ pháp luật hướng dẫn hoạt động điều tra, xử lý các vụ án hình sự
* Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình hoàn thành, tác giả luận văn đã sử dụng tổng hợp và đồng bộ các phương pháp nghiên cứu có độ tin cậy cao của khoa học luật hình sự và một số ngành khoa học khác Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn đặc biệt coi trọng các phương pháp điều tra điển hình, so sánh, hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp để làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu của luận văn
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Xác định những bất cập trong việc tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm cả về mặt lập pháp và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
- Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện những vấn đề
lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
Trang 166 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Những kết quả nghiên cứu của luận văn là những bổ sung vào khoa học luật hình sự Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm Do đó nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các ngành bảo vệ pháp luật phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật hình
sự, trong việc biên soạn các giáo trình luật hình sự và các luật khác trong các trường có giảng dạy pháp luật
Những kết luận, đề xuất của luận văn là kết quả nghiên cứu có cơ sở lý luận và thực tiễn, vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành pháp luật có thể khai thác, sử dụng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của mình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về biện pháp tư pháp tịch
thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Chương 2: Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự
và nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong thực tiễn
Trang 17Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN
TỘI PHẠM
Trang 181.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM
1.1.1 Quan niệm chung về biện pháp tư pháp
Khi thực hiện tội phạm thì cá nhân người phạm tội sẽ phải gánh chịu một hậu quả pháp lý bất lợi nhất định trước Nhà nước
về hành vi phạm tội của mình Hậu quả pháp lý bất lợi đó chính
là TNHS, được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế hình sự khác theo quy định của BLHS Nguyên tắc không tránh khỏi TNHS khi thực hiện tội phạm là một trong các nguyên tắc cơ bản của LHS Việt Nam, là nguyên tắc nhằm đảm bảo sự công bằng và bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, bảo
vệ trật tự pháp luật và giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật
Hệ thống các dạng TNHS gồm có:
- Các biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất: các hình phạt chính và hình phạt bổ sung (Từ Điều 29 đến Điều 40 – BLHS năm 1999)
- Các biện pháp cưỡng chế về hình sự khác (ít nghiêm khắc hơn hơn hình phạt), gồm:
+ Các biện pháp tư pháp chung (Từ Điều 41 đến Điều 44 – BLHS năm 1999)
+ Các biện pháp cưỡng chế về hình sự có tính chất giáo dục đối với người chưa thành niên phạm tội (Biện pháp tư pháp riêng) – các biện pháp thay thế hình phạt (Điều 70 – BLHS năm 1999) [8, tr 614]
Về chế định hình phạt thì đã được ghi nhận khá rõ ràng và thống nhất trong hệ thống pháp luật hình sự nước ta Trong khi
Trang 19đó, trong LHS của nước ta từ trước đến nay (BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999) lại chưa có khái niệm pháp lý nào về biện pháp
tư pháp Tuy nhiên, nó cũng đã được một số nhà hình sự học đề cập đến trong khoa học luật hình sự Và tựu chung lại đều thống nhất một quan điểm, như GS.TSKH Lê Cảm đã nêu trong Sách
chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học
luật hình sự (Phần chung) – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội,
2005:
Biện pháp tư pháp (bao gồm biện pháp tư pháp chung và
biện pháp tư pháp riêng) là biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà Nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt [8, tr 679]
Từ khái niệm khoa học của biện pháp tư pháp, có thể chỉ
ra 06 (sáu) đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp như sau:
Thứ nhất, các biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng
chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt Và hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp tư pháp là người phạm tội không bị coi là có án tích (như khi áp dụng hình phạt) nếu như biện pháp tư pháp được áp dụng độc lập đối với người phạm tội mà không kèm theo hình phạt (Ví dụ: khi người phạm tội được miễn hình phạt)
Thứ hai, với tính chất là một dạng của TNHS và là một
hình thức để thực hiện TNHS trong văn bản của cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền, biện pháp tư pháp cũng chỉ có thể xuất
Trang 20hiện khi có sự việc phạm tội, bởi lẽ, nếu không có tội phạm thì cũng không thể có biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt
Thứ ba, trong khi việc áp dụng hình phạt chỉ có thể do một
cơ quan tư pháp hình sự duy nhất, đó là Tòa án, và chỉ áp dụng đối với người bị kết án nói riêng thì biện pháp tư pháp lại có chủ thể áp dụng rộng hơn Căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, biện pháp tư pháp hỗ trợ hình phạt (từ điều 41 đến điều 43 – BLHS năm 1999) có thể do các cơ quan tư pháp hình sự khác nhau có thẩm quyền áp dụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) và đối với người phạm tội nói chung (cả bị can, bị cáo, người phạm tội và người bị kết án), còn biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt (Điều 70 – BLHS năm 1999) chỉ do Tòa án áp dụng và chỉ đối với người bị kết án nói riêng
Thứ tư, mục đích của biện pháp tư pháp chỉ là nhằm hạn
chế chứ không tước đoạt quyền, tự do của người phạm tội Trong khi hình phạt có thể tước đoạt quyền nhân thân hoặc thậm chí là tước đoạt tính mạng của người phạm tội thì các biện pháp tư pháp chỉ có thể hạn chế một số quyền nhân thân của người phạm tội, thậm chí có một số biện pháp tư pháp xét về mặt xã hội còn mang lại lợi ích cho người phạm tội (như biện pháp bắt buộc chữa bệnh, đưa vào trại giáo dưỡng) Ngoài ra, biện pháp tư pháp còn nhằm mục đích hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt
Thứ năm, biện pháp tư pháp được quy định trong pháp luật
hình sự và phải do cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt do luật tố tụng hình sự quy định
Thứ sáu, biện pháp tư pháp chỉ mang tính chất cá nhân vì
Trang 21theo pháp luật hình sự Việt Nam nó chỉ được áp dụng đối với riêng bản thân người phạm tội [9, tr 258]
Về việc phân loại, dựa vào đối tượng áp dụng, có thể chia các biện pháp tư pháp thành 2 loại:
- Biện pháp tư pháp chung áp dụng cả với người đã thành niên và người chưa thành niên phạm tội, gồm có:
+ Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41 – BLHS năm 1999)
+ Biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi (Điều 42 – BLHS năm 1999)
+ Biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 – BLHS năm 1999)
- Biện pháp tư pháp riêng chỉ áp dụng với người chưa thành niên phạm tội, gồm có:
+ Giáo dục tại xã, phường, thị trấn (Điều 70 – BLHS năm 1999)
+ Đưa vào trường giáo dưỡng (Điều 70 – BLHS năm 1999)
Bộ luật hình sự quy định các biện pháp tư pháp chung và riêng là góp phần giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và đúng đắn chính sách hình
sự của Nhà nước ta Đồng thời, điều đó còn phản ánh việc áp dụng hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước do luật hình sự quy định không phải là phương tiện duy nhất trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Trang 221.1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
1.1.2.1 Khái niệm biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Trước đây và hiện nay, nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm là một trong những công việc quan trọng của Nhà nước, của các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp luật và toàn
xã hội Bên cạnh việc phát hiện tội phạm thì việc xử lý, trừng trị tội phạm để hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho xã hội
do hành vi phạm tội gây ra, đồng thời ngăn chặn người phạm tội phạm tội mới, răn đe những người trong xã hội không phạm tội
là việc làm không thể thiếu trong nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm Như vậy, việc nghiên cứu khái niệm biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
BLHS năm 1985 gọi biện pháp này là “biện pháp tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm”, đến BLHS năm
1999 tên gọi của nó được sửa lại thành “biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” Thực ra, về bản chất, hai tên gọi này không hề mâu thuẫn gì với nhau mà chỉ là sự sửa đổi
để nâng cao kỹ thuật lựa chọn ngôn ngữ Ngôn ngữ trong luật phải đảm bảo tính nghiêm túc, khách quan, chính xác, dễ hiểu, một nghĩa, tránh sử dụng từ ngữ tối nghĩa hoặc sai nghĩa, không thể hiện đúng nội dung, gây ra những cách hiểu khác nhau Việc giải thích và sử dụng ngôn ngữ tránh dài dòng, mập mờ, đa nghĩa, khó hiểu gây ra xung đột về nhận thức và thực hiện trong thực tế Ngôn ngữ trong luật phải đảm bảo tính phổ thông, thống
Trang 23nhất, không được lạm dụng từ nước ngoài Vì thế, việc sửa đổi này là hoàn toàn hợp lý để tránh sự dài dòng không cần thiết Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là biện pháp tư pháp chung áp dụng cả với người đã thành niên và người chưa thành niên phạm tội Biện pháp này được quy định trong LHS nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu đối tượng tịch thu và phạm vi tịch thu Cũng như biện pháp tư pháp, trong LHS của nước ta từ trước đến nay (BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999) chưa có khái niệm pháp lý nào về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, và kể cả trong ngành khoa học luật hình sự nó cũng chưa được các nhà hình sự học đề cập đến Trong các giáo trình luật hình sự cũng như trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự biện pháp này chỉ được liệt kê tên gọi
và nội dung tịch thu trong hệ thống hình phạt và các biện pháp tư pháp Có thấy trong Chương VI – Các biện pháp tư pháp của ThS Trần Minh Hưởng (Sách Bình luận khoa học Bộ luật hính
sự năm 1999 (Phần chung), tập thể tác giả, do ThS Trần Minh Hưởng chủ biên, Học viện Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 2002) có nêu khái niệm của từng biện pháp tư pháp nhưng lại trừ biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm không được nêu khái niệm Đó chính là một trong những thiếu sót của cuốn sách tham khảo này Từ đó, phải khẳng định việc đưa ra một khái niệm cho biện pháp tư pháp này là thực sự cần thiết và mang tính cấp bách
Tuy chưa có một nhận định nào về khái niệm biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nhưng có thể dựa vào bản chất của biện pháp này để đưa ra khái niệm như sau:
Trang 24Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội
phạm là biện pháp tư pháp buộc người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội giao nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; vật hoặc tiền do phạm tội mà có hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; hoặc vật Nhà nước cấm lưu hành nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây nguy hiểm cho xã hội 1.1.2.2 Đặc điểm của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Vì biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là một biện pháp tư pháp nên nó có đầy đủ 06 (sáu) đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp, đó là:
Thứ nhất, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt Và hậu quả pháp lý của việc áp dụng biện pháp này là người phạm tội không bị coi là có án tích (như khi áp dụng hình phạt) nếu như biện pháp này được áp dụng độc lập đối với người phạm tội mà không kèm theo hình phạt (Ví dụ: khi người phạm tội được miễn hình phạt)
Thứ hai, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm cũng chỉ có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội, bởi
lẽ, nếu không có tội phạm thì cũng không thể có biện pháp tư pháp với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự ít nghiêm khắc hơn hình phạt
Thứ ba, căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ
thể, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
có thể do các cơ quan tư pháp hình sự khác nhau có thẩm quyền
Trang 25áp dụng (Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) và đối với người phạm tội nói chung (cả bị can, bị cáo, người phạm tội
và người bị kết án)
Thứ tư, mục đích của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm là hỗ trợ cho hình phạt
Thứ năm, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm được quy định trong pháp luật hình sự và phải do
cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự đặc biệt do LTTHS quy định
Thứ sáu, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến
tội phạm chỉ mang tính chất cá nhân
Ngoài sáu đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm tác động tới cả tài sản của những người tham gia tố tụng khác cũng như tài sản của cơ quan, tổ chức, thậm chí cả tài sản của nhà nước chứ không chỉ riêng tài sản của người phạm tội
Thứ hai, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan
đến tội phạm được tòa án áp dụng bên cạnh hình phạt không chỉ nhằm mục đích trừng trị, răn đe, giáo dục người phạm tội và những cá nhân khác trong xã hội mà còn để xử lý vật chứng, xử
lý tài sản, tiền bạc có liên quan đến tội phạm mà các cơ quan tiến hành tố tụng đã thu giữ, đã kê biên
1.1.2.3 Vai trò của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Trang 26Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là bộ phận cấu thành của hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự trong LHS Việt Nam Biện pháp tư pháp này là biện pháp hỗ trợ cho hình phạt Tuy nhiên, điều đó không làm cho nó mất đi vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách hình sự
và đấu tranh phòng, chống tội phạm
Vai trò của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong việc thực hiện chính sách hình sự được thể hiện trước hết ở phương diện xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật Song song với việc quy định tội phạm thì việc quy định một
hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự đa dạng để hình sự hóa đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội là một việc quan trọng để thực hiện chính sách hình sự Đa dạng hóa các biện pháp cưỡng chế hình sự là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật Với nhiều loại biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau được quy định với nhiều cấp độ về khả năng tác động khác nhau thì việc xử lý hình sự sẽ càng chính xác, do đó, mục đích của các biện pháp cưỡng chế hình sự đạt được càng cao, có nghĩa là khả năng phân hóa TNHS càng được bảo đảm tốt Từ đây, có thể nhận thức được sự có mặt của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong LHS bên cạnh hình phạt và các biện pháp tư pháp khác làm cho hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự cân đối hơn, tương xứng hơn, hoàn thiện hơn, giúp cho việc thực hiện chính sách hình sự năng động, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm Việc áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm sẽ củng cố, hỗ trợ và
Trang 27tăng cường cho kết quả của việc áp dụng hình phạt Hiệu quả tối
đa của việc áp dụng hình phạt trong nhiều trường hợp chỉ có thể đạt được khi có sự hỗ trợ của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Mỗi một biện pháp cưỡng chế hình sự đều có khả năng đưa lại những hạn chế về quyền và lợi ích nhất định của đối tượng bị áp dụng Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm có khả năng hạn chế những quyền và lợi ích về mặt kinh tế của người bị áp dụng nên được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng “nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây nguy hiểm cho xã hội và giáo dục họ trở thành những công dân
có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới” [41 tr 269] Việc quy định biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự là một giải pháp pháp lý đúng đắn, phối hợp với hình phạt và biện pháp tư pháp khác trong việc thực hiện các mục đích của TNHS
Ngoài ra, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm khi được áp dụng còn góp phần thực hiện chức năng bảo vệ, chức năng phòng ngừa và chức năng giáo dục của LHS, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện một cách đầy đủ và có hiệu quả những khả năng vốn có của biện pháp này trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Việc áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đối với người phạm tội giúp giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Nội dung của chức năng này không
Trang 28nhằm vào người phạm tội mà nhằm vào cộng đồng xã hội, có tính chất răn đe, phòng ngừa Mọi người nhìn vào hậu quả pháp
lý mà người phạm tội phải gánh chịu để có những xử sự đúng đắn, tôn trọng pháp luật, nếu không họ cũng có thể bị xử phạt như những người phạm tội, đồng thời nhắc nhở mọi người trong cộng đồng xã hội chớ có phạm tội, nếu đã có ý định phạm tội thì phải dừng lại, nếu không dừng lại sẽ phải chịu hậu quả pháp lý nhất định Thông qua việc tác động tới đối tượng bị áp dụng bằng cách tước bỏ những điều kiện xã hội, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm còn có tác dụng răn đe đối với các thành viên khác trong xã hội, góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân
Để nâng cao hiệu quả công tác phòng và chống tội phạm thì đòi hỏi Nhà nước và xã hội phải áp dụng đồng bộ, có hệ thống và toàn diện các biện pháp khác nhau với mức độ cưỡng chế phù hợp và uyển chuyển thì mới có khả năng ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng phạm tội ra khỏi cuộc sống xã hội [43, tr 20] Mặc dù biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm có nội dung trừng trị không cao như hình phạt, nhưng nó thể hiện sự lên án mạnh mẽ của Nhà nước, đồng thời, chủ động loại trừ điều kiện tái phạm của người phạm tội, làm tăng hiệu quả của hình phạt Do đó, sự phối hợp nhịp nhàng giữa hình phạt với các biện pháp tư pháp nói chung, biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm nói riêng là rất quan trọng, góp phần nâng cao tính hiệu lực và hiệu quả của cả hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự trong LHS Việt Nam
1.2 PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN
Trang 29TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM VỚI HÌNH PHẠT TIỀN, HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN VÀ BIỆN PHÁP XỬ
- Một là, đều là biện pháp cưỡng chế về hình sự do LHS
quy định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân (con người cụ thể, có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị LHS cấm)
- Hai là, đều là biện pháp đánh vào tài sản, kinh tế của đối
tượng bị áp dụng
- Ba là, đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối
với đối tượng bị áp dụng, đó là bị tước quyền sở hữu đối với tài sản
- Bốn là, đều có thể được áp dụng độc lập trong trường
- Bảy là, đều nhằm mục đích trừng trị đồng thời giáo dục,
cải tạo người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm
Trang 30Nghiêm khắc hơn biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
2 Chủ thể
áp dụng
Cả cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng
Chỉ do Tòa án xét xử vụ
án hình sự cụ thể tương ứng mới có thẩm quyền
lý do pháp luật hình sự quy định
- Chỉ áp dụng đối với người bị kết án nói riêng, trên cơ sở bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật
4 Điều Áp dụng trong mọi Chỉ áp dụng đối với tội
Trang 31lý kinh tế, trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính nếu áp dụng
là hình phạt chính; chỉ
áp dụng đối với tội phạm về tham nhũng,
ma túy nếu áp dụng là hình phạt bổ sung; và những tội phạm khác do BLHS quy định tại chế tài của điều luật về tội phạm đó
5 Đối
tượng áp
dụng
- Công cụ, phương tiện
dùng vào việc phạm tội;
thể là thuộc sở hữu của
người phạm tội hoặc
thuộc sở hữu của người
Một khoản tiền nhất định của người bị kết
án
→ Khoản tiền này là của người bị kết án
Trang 32khác hoặc tài sản của Nhà nước
6 Hậu
quả pháp
lý
- Đối tượng bị áp dụng không bị coi là có án tích
- Người phạm tội phải chịu án tích
1.2.2 Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm với hình phạt tịch thu tài sản
1.2.2.1 Giống nhau
Giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và hình phạt tịch thu tài sản có những điểm giống nhau như sau:
- Một là, đều là những biện pháp cưỡng chế về hình sự do
LHS quy định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân (con người cụ thể, có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị LHS cấm)
- Hai là, đều là biện pháp đánh vào tài sản, kinh tế của đối
tượng bị áp dụng
- Ba là, đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối
với đối tượng bị áp dụng, đó là bị tước quyền sở hữu đối với tài sản
- Bốn là, chỉ áp dụng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS
quy định
- Năm là, đều nhằm mục đích ngăn ngừa người phạm tội
phạm tội mới, răn đe người khác không phạm tội và giáo dục toàn xã hội tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm
Trang 33Hình phạt tịch thu tài sản
1 Mức độ
nghiêm
khắc
Ít nghiêm khắc hơn hình phạt tịch thu tài sản
Nghiêm khắc hơn biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
-Có thể áp dụng độc lập, không phải kèm theo hình phạt
- Chỉ áp dụng đối với người bị kết án nói riêng, trên cơ sở bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật
- Không được áp dụng độc lập, chỉ có thể áp dụng kèm theo hình phạt chính
3 Điều
kiện áp
dụng
Áp dụng trong mọi trường hợp khi có vật, tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm
Chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp
do BLHS quy định
3 Hậu Người bị áp dụng biện Người bị áp dụng hình
Trang 34Chỉ do Tòa án xét xử vụ
án hình sự cụ thể tương ứng mới có thẩm quyền
- Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành
→ Các tài sản này có thể là thuộc sở hữu của người phạm tội hoặc thuộc sở hữu của người khác hoặc tài sản của Nhà nước
- Các tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án, không có liên quan trực tiếp đến tội phạm
→ Các tài sản này là thuộc sở hữu hợp pháp của người bị kết án
1.2.3 Phân biệt biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm với các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
1.2.3.1 Giống nhau
Giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và biện pháp xử lý hành chính có những điểm giống nhau
Trang 35như sau:
- Một là, đều là chế tài pháp luật áp dụng đối với người có
hành vi vi phạm pháp luật do Nhà nước quy định trong mỗi
ngành luật tương ứng
- Hai là, đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối
với người vi phạm pháp luật
- Ba là, đều nhằm mục đích trừng trị đồng thời giáo dục,
cải tạo người phạm tội, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật,
đấu tranh phòng và chống tội phạm
1.2.3.2 Khác nhau
Bảng 1.3: So sánh giữa biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp
liên quan đến tội phạm và biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Tiêu chí
so sánh
Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
→ Nghiêm khắc hơn biện pháp
xử lý hành chính
Là biện pháp chành chính
→ Ít nghiêm khbiện pháp tư pháp
3 Thẩm quyền Cơ quan Điều tra, Viện kiểm Tòa án nhân dân ho
Trang 36áp dụng sát nhân dân hoặc Tòa án nhân
dân
Uỷ ban nhân dân các cấp
4 Hậu quả
pháp lý
Không bị coi là có tiền án Không bị coi là có tiền sự
1.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP TỊCH THU VẬT, TIỀN
TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945
đến trước khi ban hành BLHS năm 1985
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, LHS nước ta đã có
quy định về hình phạt và phân chia hình phạt thành 3 loại: Chính
hình, phụ hình và túc hình Chính hình là hình phạt tuyên độc lập
cho mỗi tội phạm, còn phụ hình là hình phạt thêm vào hình phạt
chính, không cần tòa án tuyên án Phụ hình là hậu quả tất yếu của
chính hình nên tòa án không cần tuyên phụ hình mà nó vẫn được
thi hành theo luật pháp Bổ túc hình theo tên gọi cũng là thêm
vào hình phạt chính, không có bổ túc hình khi không có chính
hình Nhưng trái với phụ hình, bổ túc hình chỉ được áp dụng cho
tội nhân khi tòa án có tuyên phạt rõ ràng Bổ túc hình hay còn
gọi là hình phạt bổ sung trong LHS thời kỳ này gồm có: tịch thu
tài sản, buộc phải bồi thường chi phí hay tổn hại, cấm quyền,
tước quyền công dân, lưu xứ, quản thúc, câu thúc thân thể, niêm
yết tên tuổi phạm nhân nơi công cộng Thời kỳ này LHS nước ta
chưa có quy định về biện pháp tư pháp
Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong điều kiện nhà
nước ta chưa xây dựng được hệ thống pháp luật kiểu mới, chủ
tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 47 ngày 10/10/1945
Trang 37cho phép tạm thời áp dụng pháp luật của chế độ cũ với điều kiện
là không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể Dân chủ cộng hòa Nhưng đồng thời Chính phủ cũng đã ban hành các văn bản LHS mới để kịp thời bảo vệ các thành quả của cách mạng Trong các văn bản pháp luật này, biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đã được nhà làm luật quy định
Ví dụ như ở điều 1 Sắc lênh số 223/SL ngày 17/11/1946 truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ quy định áp dụng với người phạm tội hình phạt khổ sai từ 5 đến 20 năm, phạt bạc gấp đôi tang vật hối lộ, phù lạm hay biển thủ Tang vật hối lộ
bị tịch thu sung công Người phạm tội còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là ¾ gia sản Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị xử phạt như trên
Từ ngày hòa bình lập lại, cách mạng nước ta đã chuyển sang giai đoạn mới, các văn bản pháp luật, chính sách, đường lối,
án lệ ngày một nhiều, vì thế việc áp dụng luật lệ của chế độ cũ đã không những không còn thích hợp nữa mà còn gây ra những tác hại nhất định trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Với lý do
đó, trên cơ sở Thông tư số 19 – VHH ngày 30/06/1955 của Bộ
Tư pháp, ngày 10/07/1959 Tòa án nhân dân tối cao đã chỉ thị cho các tòa án các cấp là: “Trong tình hình xã hội Việt Nam hiện nay…hoàn toàn không thể sử dụng điều luật của đế quốc và phong kiến được nữa, dù là với tinh thần mới, để xét xử các vụ
án hình sự và dân sự, cần áp dụng luật pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành từ trước đến giờ (luật, sắc lệnh, nghị định, thông tư…), đường lối chính sách của Đảng và Chính
Trang 38phủ, án lệ của tòa án nhân dân tối cao” Như vậy, có thể khẳng định là sau khi hòa bình lập lại, luật lệ của chế độ cũ, trong đó có các quy định về các loại trách nhiệm hình sự không còn áp dụng nữa Trong thời kỳ này Nhà nước ta tiếp tục ban hành nhiều văn bản pháp luật hình sự mới có liên quan tới biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, như:
Để kịp thời đối phó với những trường hợp lợi dụng những khó khăn về kinh tế và những sơ hở trong việc quản lý thị trường, những hoạt động đầu cơ trục lợi nghiêm trọng, Chính phủ được Ban thường trực Quốc hội thỏa thuận đã ban hành sắc lệnh số 01/SL ngày 19/04/1957 cấm mọi hành vi đầu cơ về kinh
tế Sắc lệnh này do Nghị quyết ngày 14/09/1957 của Quốc hội sửa đổi và bổ sung quy định ở điều 3 như sau: “…Những người
bị truy tố trước Tòa án có thể bị phạt tiền từ 10.000đ đến 100.000.000đ và phạt tù từ 1 tháng đến 5 năm, hoặc một trong hai hình phạt trên Ngoài ra, số hàng hóa phạm pháp sẽ bị tịch thu một phần hay toàn bộ, hoặc bị trưng mua” [51]
Tóm lại, nghiên cứu lịch sử tiến triển của TNHS trong các giai đoạn trước khi pháp điển hóa luật hình sự lần thứ nhất năm
1985 cho thấy bên cạnh hình phạt thì biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là loại biện pháp tư pháp được thiết lập sớm nhất và cũng được áp dụng nhiều nhất trong luật hình sự nước ta, góp phần tích cực và hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
Nghiên cứu cũng cho thấy, do những nguyên nhân khác nhau nên trước đây nhà nước ta chưa có điều kiện pháp điển hóa luật hình sự, để quy định toàn diện và thống nhất những vấn đề
Trang 39về tội phạm và hình phạt cũng như các vấn đề khác có liên quan tới TNHS Tất cả các văn bản LHS trước đây đều là những văn bản đơn hành (sắc luật, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, thông tư…), mỗi văn bản chỉ quy định một vấn đề riêng biệt Nhiều trường hợp, có những quy định về vấn đề TNHS, trong đó có biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm lại chứa đựng, thể hiện trong các văn bản quy phạm hành chính Ngoài ra, trong các văn bản LHS không có sự phân biệt rành mạch giữa các dạng TNHS mà chỉ quy định rất chung chung, không nêu rõ nội dung, phạm vi, điều kiện, thời hạn áp dụng đối với từng dạng Những hạn chế đó đã ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của TNHS trong thực tiễn Nhưng có một điểm cần phải nhấn mạnh là việc quy định và áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm trong giai đoạn này là những kinh nghiệm quý báu cho pháp điển hóa LHS năm 1985 1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành BLHS năm 1985 đến trước khi ban hành BLHS năm 1999
BLHS năm 1985 là BLHS đầu tiên của nước ta đã được kỳ họp thứ IX – Quốc hội khóa VII thông qua ngày 27/06/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 BLHS năm 1985 thể hiện tập trung chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, quy định một cách thống nhất, tổng thể và có hệ thống trong cùng một văn bản những vấn đề về tội phạm và hình phạt
Lần đầu tiên BLHS quy định một hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp hoàn chỉnh, trên cơ sở kế thừa và phát triển luật hình sự nước ta trước đây
Trong BLHS năm 1985, biện pháp tịch thu vật, tiền trực
Trang 40tiếp liên quan đến tội phạm được quy định tại Điều 33:
“ Điều 33: Tịch thu vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm:
1- Tòa án có thể quyết định tịch thu, sung quỹ Nhà nước:
a, Những vật, tiền bạc của người phạm tội đã được dùng vào việc thực hiện tội phạm;
b, Những vật, tiền bạc thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm;
c, Những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
d, Những vật, tiền bạc thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ,
sử dụng, lưu hành
2- Đối với những vật, tiền bạc thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm hoặc sử dụng trái phép thì không bị tịch thu mà trả lại cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.”[28]
Theo quy định của Khoản 1 Điều 33 – BLHS năm 1985 thì chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền quyết định việc tịch thu, sung quỹ nhà nước vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm, các cơ quan khác không có thẩm quyền áp dụng biện pháp này [40, tr 293]
Vật và tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm gồm có vật, tiền bạc của người phạm tội đã được dùng vào việc thực hiện tội phạm; vật, tiền bạc thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm