Nhiệm vụ của luận văn + Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết + Đánh giá một cách có hệ thống sự kế thừa của pháp luật qua các giai đoạn lịch sử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM TUẤN ANH
THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT
ĐỂ LẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT DÂN SỰ
MÃ SỐ : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI – NĂM 2007
Trang 2Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ VIỆC THỰC
1.1.2.2 Các yếu tố cấu thành 17 1.2 Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 22 1.2.1 Khái niệm nghĩa vụ và nghĩa vụ tài sản 22 1.2.2 Thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại – Một
1.3 Sơ lược những quy định của pháp luật thời kỳ phong kiến đến
Chương 2 THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN CỦA NGƯỜI
2.1.1 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong
2.1.2 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản sau khi di sản được
Trang 32.1.4 Thứ tự thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể 57 2.2 Thời điểm phát sinh và phạm vi thực hiện nghĩa vụ 61
2.2.1.1 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ của người thừa kế 61 2.2.1.2 Thời điểm phát sinh nghĩa vụ của các chủ thể
2.2.2.1 Trường hợp di sản chưa được chia 65 2.2.2.2 Trường hợp di sản đã được chia 68 2.3 Các loại nghĩa vụ tài sản của người chết để lại và thứ tự thanh
2.3.1.1 Nhóm thứ nhất: nghĩa vụ với nhà nước 75 2.3.1.2 Nhóm thứ hai: nghĩa vụ với cá nhân, tổ chức khác 76 2.3.1.3 Các chi phí phát sinh 78
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện những quy định của pháp luật về
thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại 98
MỞ ĐẦU
Trang 4I Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài
So với các chế định khác của dân luật, thừa kế là một chế định có lịch
sử phát triển khá lâu dài và là một trong những chế định cơ bản, quan trọng nhất của pháp luật dân sự Ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, thừa kế luôn nhận được sự quan tâm thích đáng của các nhà làm luật cũng như giới nghiên cứu khoa học pháp lý
Cùng với sự phát triển của đất nước qua mỗi giai đoạn, chế định thừa
kế đã phần nào phản ánh được những đặc trưng về điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội và nền tảng văn hoá truyền thống Từ đó, góp phần điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này Trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc gia nhập WTO thể hiện sự hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới thì cơ hội làm giàu cho bản thân và đất nước sẽ rộng mở cho tất cả mọi người
Vì vậy, một kết quả dễ dự đoán đó là sự xuất hiện ngày càng đa dạng, phức tạp những quan hệ tài sản, trong đó, thừa kế cũng không phải là ngoại lệ Thực tiễn xét xử tranh chấp thừa kế trong những năm vừa qua đã phần nào phản ánh sự phức tạp này Để đáp ứng được sự thay đổi và đảm bảo được quyền thừa kế của cá nhân cũng như những chủ thể có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan thì những vấn đề của thừa kế cần tiếp tục nhận được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu và những nhà lập pháp Yêu cầu cơ bản đối với chế định thừa kế đó là trả lời và giải quyết hai câu hỏi lớn: Tài sản của người chết
để lại sẽ thuộc về ai, theo trình tự nào? và những nghĩa vụ tài sản của họ để lại
sẽ chấm dứt hay do ai tiếp tục thực hiện? Đây là hai mặt của một vấn đề Hiện tại, những công trình, đề tài nghiên cứu và cả những quy định của pháp mới chủ yếu tập trung trả lời cho câu hỏi thứ nhất Do đó, nghiên cứu để làm sáng
tỏ cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết cho những chủ thể khác, trên cơ sở phân tích luật thực định và thực tiễn giải quyết tranh chấp cũng như vướng mắc và từ đó đề ra những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật sẽ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn Từ lý do này,
Trang 5tác giả chọn đề tài “Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam”
II Tình hình nghiên cứu đề tài
Tính đến thời điểm hiện tại, những công trình, đề tài nghiên cứu mới chủ yếu tập trung trả lời cho câu hỏi tài sản của người chết để lại thuộc về ai
và theo trình tự nào, rất ít công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề thực hiện
nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Những công trình nghiên cứu một cách tổng quát về thừa kế có: “Tìm hiểu pháp lệnh thừa kế” của Luật sư Lê Quế, năm 1994; Sách chuyên khảo
“Bình luận khoa học về Thừa kế trong luật dân sự Việt Nam” của Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện – Khoa Luật Đại học Cần Thơ, Nhà xuất bản trẻ “Thừa
kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng” của Tiến sĩ Phạm Văn Tuyết, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Nghiên cứu những vấn đề cụ thể về thừa kế có: Sách chuyên khảo “Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ 1945 đến nay” của Tiến sĩ Phùng Trung Tập - Đại học Luật Hà Nội, NXB Tư pháp; Luật án tiến sĩ “Di sản thừa kế” của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huệ - Đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sĩ “Điều kiện có hiệu lực của
di chúc” của học viên Nguyễn Hồng Nam – Cao học khoá 8 Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội
Ngoài ra còn có một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên nghành và các khoá luận tốt nghiệp của các sịnh viên luật
III Mục đích nghiên cứu
Luận văn sẽ làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết, trên cơ sở phân tích tính kế thừa qua các giai đoạn lịch sử, phân tích luật thực định và đánh giá tực tiễn giải quyết tranh chấp từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này
Trang 6IV Nhiệm vụ của luận văn
+ Làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết
+ Đánh giá một cách có hệ thống sự kế thừa của pháp luật qua các giai đoạn lịch sử
+ Phân tích những quy định của luật hiện hành cùng với việc nêu thực tiễn giải quyết tranh chấp
+ Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
V Phạm vi nghiên cứu
Thừa kế là một vấn đề lớn và khá phức tạp Trong phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ đề cập đến một mặt trong một vấn đề rộng lớn đó Luận văn đi vào phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản của thừa kế
và việc chuyển giao nghĩa vụ tài sản của người chết Kết hợp với việc phân tích các quy định của luật hiện hành cùng với việc đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
VI Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin cùng những thành tựu của khoa học pháp lý Tác giả đã vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, giải thích, so sánh, tổng kết thực tiễn để lý giải những vấn đề đặt ra
VII Những đóng góp và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
+ Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thừa kế và việc chuyển giao nghĩa vụ
+ Phân tích và làm rõ tính kế thừa của pháp luật qua các giai đoạn
Trang 7+ Phân tích để làm rõ những quy định của luật hiện hành cùng với việc nêu thực tiễn giải quyết các tranh chấp và những vướng mắc từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
+ Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, giảng dạy cũng như những người hoạt động thực tiễn
VIII Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn được bố cục làm ba chương như sau:
Chương 1: Lý luận chung về thừa kế và việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Chương 2: Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại theo quy định của Bộ luật Dân sự
Chương 3: Thực trạng giải quyết tranh chấp, những vướng mắc trong thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỪA KẾ VÀ VIỆC THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI
1.1 THỪA KẾ VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT THỪA KẾ
1.1.1 Khái niệm thừa kế
Thừa kế theo nghĩa chung nhất là “hưởng của người chết để lại cho”
[32, tr 972] Ở đây, chúng ta quan tâm đến khía cạnh thừa kế về tài sản
Trang 8Trong mối quan hệ giữa con người với con người về tài sản, ngay từ thời kỳ sơ khai chúng ta đã phải đứng trước vấn đề: khi một cá nhân chết đi thì tài sản của họ để lại sẽ được xử lý như thế nào Vấn đề này cũng song hành cùng với sự phát triển của xã hội loài người Tuỳ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử, từng hình thái xã hội với những chế độ sở hữu khác nhau mà chúng ta nhận được những câu trả lời khác nhau cho vấn đề này
Ở thời kỳ đầu của chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ thị tộc, bộ lạc
đã hình thành và tài sản có được thuộc về quyền chung của thị tộc, bộ lạc Thời kỳ này, thừa kế đã manh nha hình thành và được giải quyết theo tập tục Trong điều kiện kinh tế, xã hội và hôn nhân phụ thuộc vào địa vị chủ đạo của người phụ nữ trong thị tộc, nên việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của người
đã chết cho những người còn sống tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và
các phong tục tập quán của thị tộc Ph.Ăngghen đã nhận xét: “Theo chế độ mẫu quyền, nghĩa là chừng nào mà huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản để lại trong thị tộc, nay trong thực tiễn có lẽ người ta vẫn trao cho những người cùng huyết tộc với người mẹ” [13, tr.79]
Sự kế thừa tài sản trong thị tộc, bộ lạc theo chế độ mẫu hệ đã đặt nền móng ban đầu cho sự hình thành và phản ánh tính tất yếu của việc thừa kế tài sản theo huyết thống Hiện nay, ở một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam và một
số dân tộc trên thế giới vẫn duy trì việc thừa kế tài sản theo huyết thống của người mẹ
Theo tiến trình phát triển của xã hội, cùng với những sự phân công lao động trong xã hội và gia đình, người đàn ông đã tạo ra nhiều của cải nuôi sống các thành viên trong thị tộc, bộ lạc đã làm thay đổi quan hệ xã hội Sự thiết lập địa vị của người đàn ông trong gia đình và trong từng thị tộc, bộ lạc
đã là căn cứ sắp xếp lại trật tự của thị tộc, bộ lạc Khi người đàn ông đã chiếm
vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội thì chế độ mẫu hệ đã bị thay thế bằng chế
Trang 9với người cha, mang họ của cha theo chế độ phụ hệ và thừa kế tài sản của người cha được xác lập Như vậy, tương ứng với từng giai đoạn lịch sử phát triển nhất định là sự phát triển của lực lượng sản xuất, của hình thức gia đình , của sự thay đổi quan hệ sở hữu và theo đó việc thừa kế tài sản cũng thay đổi
Tóm lại, trong thời kỳ đầu của xã hội loài người - thời kỳ Nhà nước chưa xuất hiện và pháp luật chưa ra đời thì sở hữu và thừa kế tài sản đã xuất hiện như một tất yếu khách quan và nó thuộc về phạm trù kinh tế Mối quan
hệ giữa sở hữu và thừa kế phát sinh trong xã hội và được thể hiện ở chỗ: Nếu
sở hữu là yếu tố tiền đề để thừa kế phát sinh thì ngược lại, thừa kế lại là phương tiện để duy trì, củng cố và phát triển sở hữu tài sản Thừa kế là một thực tế xã hội được thể hiện ở sự chuyển dịch tài sản của người chết cho người còn sống, nó gắn chặt với lợi ích của cá nhân, gia đình, cộng đồng dòng họ , vì thế trong bất kỳ chế độ xã hội nào cũng có sự tác động của quy tắc xã hội Quy tắc đó được biểu hiện ở những yếu tố như phong tục, tập quán và cao hơn nữa là quy phạm pháp luật
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, của cải xã hội ngày càng được làm ra nhiều hơn, không những đảm bảo cho sinh hoạt và đời sống của cộng đồng thị tộc, bộ lạc mà còn dư thừa, đời sống trong mỗi gia đình và xã hội đã có nhiều thay đổi và theo đó trong mỗi thị tộc, bộ lạc người có địa vị
đã lợi dụng chức phận để chiếm đoạt một phần sản phẩm của thị tộc cùng với
sự nắm quyền điều hành thị tộc, bộ lạc Những người nắm quyền đó đã trở thành những người giàu có trong xã hội và xã hội nguyên thuỷ đã bắt đầu tan
rã, nhường chỗ cho xã hội mới – xã hội có giai cấp đã xuất hiện Sự phân hoá này về cơ bản dựa theo mức độ, giá trị tài sản, tư liệu sản xuất mà các tầng lớp người trong xã hội chiếm hữu được khác nhau, từ đó hình thành nên chế
độ tư hữu về tài sản mà chủ yếu đối với tư liệu sản xuất Hình thức thừa kế phù hợp với chế độ tư hữu tài sản được hình thành, nó xuất hiện như một tất
Trang 10yếu, đánh dấu bước ngoặt mới trong quan hệ tài sản và quan hệ thừa kế tài sản
Khi giai cấp xuất hiện thì có giai cấp thống trị và giai cấp bị trị, đương nhiên đối kháng giai cấp là điều không tránh khỏi Những trật tự trong quan
hệ sở hữu tài sản nói chung và trong quan hệ thừa kế nói riêng được Nhà nước của chế độ tư hữu thiết lập trong giai đoạn này nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Thông qua những quy phạm pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế trong việc xác định phạm vi chủ thể, nội dung, hình thức, điều kiện chuyển dịch tài sản thừa kế và những vấn đề khác có liên quan đến việc thừa kế tài sản
Cùng với sự hình thành, phát triển nhà nước và pháp luật của chế độ tư hữu thì sở hữu và thừa kế đều là những phạm trù pháp luật và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Chế độ tư hữu tài sản là tiền đề của chế định thừa kế, ngược lại, chế định thừa kế là cơ sở để củng cố chế độ tư hữu tài sản Như vậy, giữa chúng có mối liên hệ ràng buộc theo những chuẩn mực pháp luật nhất định và mang bản chất giai cấp sâu sắc Tất nhiên, sự thể hiên tính giai cấp trong mỗi lĩnh vực pháp luật khác nhau là khác nhau Thậm chí, trong mỗi chế định, sự thể hiện tính giai cấp cũng có sự đậm, nhạt khác nhau Đối với chế định thừa kế, sự thể hiện tính lịch sử, tính truyền thống có phần đậm nét hơn
Thừa kế là phạm trù pháp luật có tính khả biến Tính khả biến được thể hiện qua các quy phạm pháp luật mà các quy phạm này không những phụ thuộc vào mức độ phát triển trong một chế độ xã hội nhất định, nghĩa là cũng
có quy định khác nhau trong việc điều chỉnh mối quan hệ về thừa kế Thừa kế khi đó không những là phạm trù kinh tế, phạm trù pháp luật mà còn mang tính lịch sử, bởi vì nó thể hiện rõ nét quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các chế độ xã hội khác nhau và của một chế độ xã hội theo từng giai đoạn phát triển nhất định
Trang 11Từ sự phân tích nêu trên có thể rút ra một số kết luận:
- Thừa kế là một phạm trù xuất hiện cùng với sự xuất hiện của quan hệ
sở hữu từ buổi sơ khai của loài người và nó phản ánh quan hệ kinh tế - xã hội nói chung và lịch sử phát triển kinh tế - xã hội nói riêng
- Thừa kế với tư cách một phạm trù pháp luật cũng phản ánh tính giai cấp đồng thời so với các chế định khác của dân luật thì thừa kế phản ánh rõ nét hơn văn hoá truyền thống
1.1.2 Quan hệ pháp luật thừa kế
1.1.2.1 Khái niệm
Từ khi giai cấp xuất hiện, Nhà nước ra đời, để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội nói chung, trong đó có thừa kế đã được Nhà nước điều chỉnh bằng một loại quy phạm mới đó là quy phạm pháp luật
Trong lý luận pháp lý hiện đại, khi các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật thì những quan hệ đó không chỉ đơn thuần mang tính kinh tế -
xã hội hay lịch sử mà nó còn mang tính pháp lý và khi đó những quan hệ này được gọi là những quan hệ pháp luật
Các nhà khoa học pháp lý đã định nghĩa: “Quan hệ pháp luật là hình thức pháp lý của các quan hệ xã hội xuất hiện dưới tác động điều chỉnh của các quy phạm pháp luật” [20, tr 390]
Các quan hệ pháp luật được cấu thành bởi ba yếu tố: 1) Chủ thể; 2) Khách thể; 3) Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý; và phát sinh, thay đổi, chấm dứt căn cứ trên các sự kiện pháp lý
Trên cách thức tiếp cận truyền thống của khoa học pháp lý về quan hệ pháp luật, chúng ta cùng làm sáng tỏ những khía cạnh lý luận của khái niệm
Trang 12Việc dịch chuyển tài sản của cá nhân người đã chết cho những người còn sống luôn tồn tại quan hệ giữa người với người Khi mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tài sản của người chết để lại được Nhà nước điều chỉnh bằng pháp luật thì chúng trở thành quan hệ pháp luật thừa kế - một loại quan hệ pháp luật dân sự Quan hệ pháp luật dân sự được xác định là nhóm các quan hệ xã hội do pháp luật dân sự điều chỉnh Các quan hệ pháp luật dân
sự rất phong phú, đa dạng về chủ thể, khách thể, nội dung, cách thức phát sinh Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà chúng ta có thể phân loại quan
hệ pháp luật dân sự thành quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân; quan hệ dân
sự tương đối và và quan hệ dân sự tuyệt đối Căn cứ vào nhóm các quan hệ dân sự có tính chất cùng loại và liên hệ mật thiết với nhau ta có thể có quan hệ pháp luật sở hữu, quan hệ pháp luật nghĩa vụ, quan hệ pháp luật thừa kế…
Từ đây, theo cách phân loại như trên, có thể đưa ra một khái niệm
chung nhất về quan hệ pháp luật thừa kế: Quan hệ pháp luật thừa kế là nhóm các quan hệ xã hội do pháp luật thừa kế điều chỉnh
Sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ thừa kế ở nước ta có những diễn biến, thay đổi phức tạp vì chính quá trình hình thành và phát triển pháp luật dân sự phụ thuộc vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ Chính sự phát triển phức tạp này mà hiện nay, trong một số bài viết, luận văn hoặc các công trình nghiên cứu về pháp luật thừa kế ở nước ta, một
số tác giả đưa ra những cách hiểu khác nhau về quan hệ pháp luật thừa kế
Loại quan điểm thứ nhất cho rằng, “quan hệ thừa kế là mối liên hệ giữa người để lại di sản và người nhận di sản” [21, tr 9-11] Cách hiểu như vậy là
có sự nhầm lẫn khi xác định chủ thể của quan hệ thừa kế Quan hệ pháp luật thừa kế chỉ phát sinh từ thời điểm người để lại di sản chết hoặc được xác định
là đã chết theo một bản án của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật (thời điểm mở thừa kế) Và đương nhiên khi đã chết hay Toà án tuyên bố là đã chết thì về lý luận cũng như pháp lý cá nhân đó chấm dứt tư
Trang 13thừa kế, có chăng chỉ là ý chí của họ đã thể hiện khi còn sống nếu họ có để lại
di chúc Quan hệ pháp luật thừa kế lúc này phát sinh giữa những chủ thể còn sống trong việc chuyển giao tài sản của người đã chết và xử lý những vấn đề
có liên quan
Loại quan điểm thứ hai cho rằng, “thừa kế là một loại quan hệ sở hữu”
[33, tr 7] Cách quan niệm này về quan hệ pháp luật thừa kế cũng không chính xác Trong quan niệm này có sự nhầm lẫn về sự kiện phát sinh và nội dung của quan hệ thừa kế Như trên đã trình bày, quan hệ pháp luật thừa kế chỉ phát sinh từ thời điểm người để lại di sản chết hoặc được xác định là đã chết theo một bản án của Toà án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật (thời điểm mở thừa kế) Quyền của người có tài sản để lại (kể cả trong trường hợp có di chúc) và quyền của người thừa kế (nhận hay không nhận di sản) chỉ có giá trị pháp lý từ thời điểm mở thừa kế Mặt khác xét về nội dung của quan hệ thì, nội dung của quan hệ sở hữu đó là những quyền năng của chủ thể đối với tài sản thuộc quyền sở hữu còn nội dung của quan hệ thừa kế đó là những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình chuyển giao tài sản của người đã chết cho những người còn sống (có thể chuyển giao bằng di chúc hoặc theo sự phân định của pháp luật) Đặc biệt, trong quá trình chuyển giao tài sản, có thể phát sinh nhiều quan hệ có liên quan như thực hiện nghĩa vụ của người chết, thanh toán các chi phí liên quan - một nội dung không hề liên quan đến quan hệ sở hữu Dưới góc độ này, quyền nhận di sản
là một trong những căn cứ phát sinh quyền sở hữu tài sản Như vậy, thừa kế không phải là một loại quan hệ sở hữu mà nó chỉ là một loại quan hệ pháp luật dân sự độc lập với quan hệ sở hữu tài sản
Loại quan điểm thứ ba cho rằng, thừa kế không không phải là quan hệ pháp luật mà chỉ là sự kiện dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang người còn sống [42, tr 45] Theo chúng tôi, cách quan niệm này cũng không chính
xác, bởi lẽ, đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung là những quan hệ xã hội hoặc suy cho cùng là hành vi của những cá nhân, tổ chức Nhưng hành vi
Trang 14của mỗi cá nhân, tổ chức không phải là hành vi độc lập tuyệt đối, những hành
vi này luôn liên hệ, ảnh hưởng với hành vi của những chủ thể khác và tạo thành các quan hệ xã hội Trong việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống thì sự dịch chuyển này không phải là sự dịch chuyển tự động, mà nó được thực hiện thông qua những hành vi cụ thể của những chủ thể (người thừa kế, người quản lý di sản, người được di tặng ) Những hành
vi của các chủ thể này phải có sự liên hệ với nhau (như việc thu hồi, quản lý
di sản, thanh toán và phân chia di sản) để thực hiện mục đích cơ bản đó là dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo đúng ý chí của người chết (trường hợp chia thừa kế theo di chúc) hoặc theo đúng quy định của pháp luật (nếu thừa kế theo pháp luật) Những mối liên hệ này được điều chỉnh bởi chế định thừa kế nên chúng chính là quan hệ pháp luật thừa kế
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra một định nghĩa như sau về quan
hệ pháp luật thừa kế:
Quan hệ pháp luật thừa kế là nhóm quan hệ xã hội phát sinh trên cơ sở chuyển giao tài sản của người chết để lại giữa những người thừa kế và những chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan do pháp luật thừa kế (hay rộng hơn là pháp luật dân sự) điều chỉnh
1.1.2.2 Các yếu tố cấu thành
Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật thừa kế cũng được cấu thành bởi các yếu tố: Chủ thể; Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý (nội dung); Khách thể
Trang 15- Người thừa kế
Người thừa kế là chủ thể cơ bản, quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật thừa kế Người thừa kế là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Người thừa kế là cá nhân có thể được hưởng thừa kế với hai hình thức là thừa
kế theo pháp luật hoặc thừa kế theo di chúc Nếu hưởng thừa kế theo hình thức thừa kế theo pháp luật thì cá nhân đó phải nằm trong diện và hàng thừa
kế, có nghĩa là cá nhân đó phải có quan hệ về huyết thống, nuôi dưỡng hoặc quan hệ về hôn nhân đối với người để lại di sản thừa kế
Về nguyên tắc chung, năng lực pháp luật của chủ thể xuất hiện từ thời điểm người đó sinh ra, còn năng lực hành vi xuất hiện dần vì nó phụ thuộc vào từng lĩnh vực và tuỳ thuộc vào sự phát triển tâm, sinh lý Tuy nhiên, trong lĩnh vực thừa kế có một trường hợp tương đối đặc biệt đó là việc hưởng thừa
kế của người đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Điều 635 Bộ
luật dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2005 (BLDS năm 2005) quy định: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết ” Từ quy định này mà có quan điểm cho rằng thai
nhi chính là một chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật thừa kế Cách hiểu như vậy là không chính xác Phân tích kỹ bản chất của trường hợp hưởng thừa
kế này thấy rằng, để được hưởng thừa kế thì phải hội đủ hai điều kiện sau:
+ Phải thành thai trước khi người để lại di sản chết;
+ Sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế
Nếu người chưa thành thai vào thời điểm mở thừa kế hoặc thành thai trước thời điểm mở thừa kế nhưng thai bị sảy hoặc sinh ra mà chết ngay thì cũng không được hưởng thừa kế Đối với trường hợp thừa kế theo pháp luật thì phải có quan hệ huyết thống với người để lại di sản, do đó, một người đã
Trang 16thành thai trước thời điểm mở thừa kế thì mặc nhiên người này được coi là con hoặc cháu của người đã chết Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ, chồng ” Muốn xác định người con
sinh ra sau khi bố chết đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế hay chưa, các nhà làm luật dùng phương pháp “suy đoán pháp lý” Cụ thể, thai nhi tồn tại tối đa là 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu trong khoảng thời gian này thai nhi được sinh ra thì mặc nhiên được coi là đã thành thai trước thời điểm
mở thừa kế và sẽ được thừa kế di sản của người chết theo di chúc hoặc theo pháp luật Người có tài sản có thể lập di chúc cho một người đang là thai nhi hưởng di sản Trường hợp này đứa trẻ có thể được sinh ra trước hoặc sinh ra sau thời điểm mở thừa kế Nếu đứa trẻ sinh ra trước thời điểm mở thừa kế và
di chúc không bị thay đổi, bị huỷ thì sau khi mở thừa kế của người lập di chúc, đứa trẻ đó được hưởng thừa kế theo di chúc Ngược lại, nếu đứa trẻ sinh
ra sau thời điểm mở thừa kế thì phải trong vòng 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế mới được hưởng di sản
Tóm lại, nếu coi thai nhi là chủ thể của quan hệ pháp luật, hay nói cách khác, thai nhi có năng lực pháp luật thừa kế thì khi thành thai trước thời điểm
mở thừa kế thì đương nhiên phải được hưởng thừa kế Nếu sau này thai nhi không được sinh ra hoặc sinh ra lại chết ngay thì tài sản đó lại được xử lý theo quan hệ pháp luật thừa kế mới Tuy nhiên, như trên đã phân tích, để được hưởng thừa kế phải hội đủ hai điều kiện Trường hợp này chỉ được coi như là
sự bảo lưu quyền hưởng di sản của thai nhi có điều kiện Sở dĩ có sự bảo lưu như vậy là do truyền thống đạo đức tốt đẹp của Việt Nam và thể hiện tính nhân văn của pháp luật nước ta
Người thừa kế là tổ chức cũng phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa
kế Tổ chức bao gồm các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp Đối với tổ chức chỉ có thể
Trang 17được hưởng thừa kế theo hình thức thừa kế theo di chúc hoặc trường hợp không có người thừa kế
- Các chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan khác
Trong quá trình chuyển giao tài sản có thể xuất hiện những chủ thể sau: Người quản lý di sản, người nhận di tặng, chủ nợ của người để lại tài sản, người quản lý tài sản dùng vào việc thờ cúng
Việc xuất hiện những chủ thể này không mang tính chất đương nhiên,
mà tuỳ vào từng trường hợp cụ thể hay do sự thoả thuận của các đồng thừa kế
mà có thể có hay không sự xuất hiện của các chủ thể này Tuy nhiên, khi xuất hiện, những nhóm quan hệ này luôn gắn chặt với vấn đề xử lý tài sản của người chết do vậy chúng được điều chỉnh chung trong chế định thừa kế Sự xuất hiện này sẽ làm cho quan hệ pháp luật thừa kế trở lên phong phú và đa dạng
Trong quan hệ pháp luật thừa kế, những chủ thể này cũng có những quyền và nghĩa vụ nhất định và nó phát sinh từ thời điểm mở thừa kế
* Khách thể của quan hệ pháp luật thừa kế
Theo nghĩa chung nhất, khách thể quan hệ pháp luật là cái mà quan hệ pháp luật đó tác động tới Các cá nhân, tổ chức tham gia vào những quan hệ pháp luật nhằm thoả mãn những nhu cầu về kinh tế, chính trị, tinh thần của mình Sự thoả mãn đó đạt được thông qua những hành vi hướng tới các đối tượng vật chất, tinh thần Trong quan hệ pháp luật thừa kế, vấn đề trung tâm
đó là việc giải quyết di sản và những nghĩa vụ mà người chết để lại Do vậy, mỗi chủ thể bằng hành vi của mình, hướng tới việc giải quyết hai vấn đề trên Những người thừa kế bằng hành vi của mình sẽ thực hiện quyền được hưởng
di sản, đối tượng mà hành vi của những chủ thể này hướng tới là di sản mà người chết để lại
* Quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý
Trang 18Khi một người có tài sản chết, quan hệ pháp luật thừa kế phát sinh, từ
đó các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật thừa kế có những quyền và nghĩa
vụ nhất định Tổng hoà các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể chính là nội dung của quan hệ pháp luật thừa kế Tùy thuộc vào từng loại chủ thể mà có những quyền, nghĩa vụ tương ứng khác nhau Trong quan hệ pháp luật thừa
kế thì quyền năng quan trọng nhất đó là quyền được hưởng di sản thừa kế và quyền từ chối nhận di sản thừa kế Để đảm bảo quyền này, pháp luật đã quy định cho những chủ thể của quan hệ pháp luật hàng loạt những quyền năng khác như quyền cử người quản lý di sản, quyền thu hồi những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết, quyền khởi kiện yêu cầu Toà án bảo vệ quyền thừa kế Bên cạnh những quyền năng này thì chủ thể của quan hệ thừa kế cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định Một trong những nghĩa vụ đó
là nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại Khi tiếp nhận di sản thừa kế thì đồng nghĩa với việc những người hưởng di sản phải có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Tóm lại, để việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống được thực hiện đúng theo ý chí của người để lại di sản và đúng theo quy định của pháp luật thì pháp luật đã quy định một trình tự chuyển giao khá chặt chẽ gắn với những quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể
* Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật thừa kế
Sự kiện pháp lý là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống của đời sống thực tế được chỉ ra trong phần giả định của quy phạm pháp luật mà nhà làm luật gắn sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt của quan hệ pháp luật với sự tồn tại của nó [20, tr 406, 407]
Với ý nghĩa như trên, sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật thừa kế chính là sự kiện chết của một cá nhân kèm một khối tài sản nhất định Một cá nhân chết đi có thể làm chấm dứt một số quan hệ pháp luật nhưng đồng thời cũng là căn cứ làm phát sinh một quan hệ mới, đó làm quan hệ giữa
Trang 19các chủ thể trong việc phân chia khối di sản cũng như việc thanh toán những nghĩa vụ mà người đó để lại Quan hệ này được gọi là quan hệ pháp luật thừa
kế
1.2 THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI
1.2.1 Khái niệm nghĩa vụ và nghĩa vụ tài sản
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ được hiểu là: “Sự xử sự mà một người phải thực hiện vì một hoặc nhiều người khác, nhưng sự thực hiện đó không được đặt dưới sự bảo đảm của Nhà nước bằng pháp luật Pháp luật không buộc người đó phải thực hiện, họ thực hiện nghĩa vụ hoàn toàn theo lương tâm của mình để làm tròn bổn phận làm người” [18, tr 3]
Theo nghĩa hẹp, nghĩa vụ được hiểu là một việc làm cụ thể của người
có nghĩa vụ, như nghĩa vụ trả tiền, nghĩa vụ giao vật Trong giao dịch dân
sự, nghĩa vụ dân sự được dùng theo nghĩa này rất phổ biến
Tại Điều 280 BLDS 2005 quy định: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo
đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)”
Theo quy định này chúng ta thấy mỗi loại nghĩa vụ có những đối tượng riêng Đối tượng của nghĩa vụ là cơ sở quan trọng để phân loại nghĩa vụ Đa
số luật pháp các nước trên thế giới đều phân chia đối tượng của nghĩa vụ ra làm ba loại và tương ứng với nó là ba nhóm nghĩa vụ cơ bản:
- Đối tượng là tài sản - gắn liền với nghĩa vụ chuyển giao tài sản
- Đối tượng là công việc - gắn liền với nghĩa vụ phải thực hiện một công việc nhất định
- Đối tượng là công việc không được làm - gắn liền với nghĩa vụ không được thực hiện một công việc nhất định
Trang 20Tương tự pháp luật của các nước, tại khoản 1 Điều 282 BLDS 2005 của Việt Nam cũng quy định đối tượng của nghĩa vụ gồm ba loại sau:
- Đối tượng của nghĩa vụ là một tài sản: Tài sản là đối tượng phổ biến nhất của nghĩa vụ dân sự Tài sản ở đây theo quy định tại Điều 163 BLDS
2005 bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản
- Đối tượng của nghĩa vụ là công việc phải làm: Công việc phải làm được xem là đối tượng của nghĩa vụ nếu từ một công việc được nhiều người xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ, mà theo đó, người có nghĩa vụ phải thực hiện công việc theo đúng nội dung đã được xác định
- Đối tượng của nghĩa vụ dân sự là công việc không được làm: Công việc không được làm được xem là đối tượng của nghĩa vụ trong những trường hợp các bên từ công việc đã xác lập với nhau một quan hệ nghĩa vụ mà theo
đó, người có nghĩa vụ phải kiềm chế không thực hiện công việc theo những nội dung mà các bên đã thoả thuận hoặc pháp luật quy định
Để hiểu rõ hơn bản chất pháp lý của nghĩa vụ dân sự, chúng ta cần thiết phải làm rõ mối liên hệ, cũng như sự khác biệt giữa “nghĩa vụ dân sự” và
“trách nhiệm dân sự” Về phương diện lý luận và trên thực tế chế định “nghĩa
vụ dân sự” có mối liên hệ chặt chẽ với chế định “trách nhiệm dân sự”, nhưng hai chế định này có nội dung, tính chất, đặc điểm hoàn toàn khác nhau
Trách nhiệm dân sự hiểu theo nghĩa thông thường: “là việc bắt buộc phải sửa chữa một thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự” [25, tr 70, 71] Như vậy, trách nhiệm dân sự là hệ quả tất
yếu của việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp này, trách nhiệm dân sự chỉ đặt ra khi đã có một nghĩa vụ dân sự được xác lập Sự khác biệt giữa nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự thể hiện cụ thể ở hai điểm sau:
- Về thời gian: Thông thường nghĩa vụ dân sự là mối quan hệ được xác lập trước, trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý của việc không thực hiện
Trang 21hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với người có quyền
- Về mặt tính chất: Trách nhiệm dân sự là một dạng cụ thể của trách nhiệm pháp lý, có đầy đủ các đặc điểm chung nhất của trách nhiệm pháp lý:
+ Là một trong những hình thức cưỡng chế nhà nước
+ Áp dụng đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
+ Được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi pháp luật cho phép
+ Sử dụng một số biện pháp chế tài nhất định do pháp luật quy định, để buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi
Với các đặc điểm trên, mục đích cơ bản của trách nhiệm dân sự là khôi phục tình trạng ban đầu của một quyền dân sự bị vi phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội, công dân Trái lại, về mặt tính chất, nghĩa
vụ dân sự là một quan hệ pháp luật dân sự, trong đó quyền và nghĩa vụ của hai bên chủ thể tương ứng với nhau Nghĩa là, trong quan hệ nghĩa vụ, quyền của chủ thể này sẽ là nghĩa vụ của chủ thể kia, và việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ bao giờ cũng hướng tới việc thoả mãn những lợi ích nhất định của chủ thể có quyền So với trách nhiệm dân sự, tính chất cưỡng chế trong các quan hệ nghĩa vụ có đặc thù riêng Về nguyên tắc, các bên chủ thể
có thể thoả thuận cả những biện pháp cưỡng chế và sẽ được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng nếu một bên trong quan hệ nghĩa vụ đã không thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ mà họ đã tự nguyện cam kết
Qua sự phân tích như trên có thể thấy “nghĩa vụ dân sự” và “trách nhiệm dân sự” là những khái niệm pháp lý khác nhau Vấn đề đặt ra, “nghĩa
vụ tài sản” theo quy định tại Điều 637 BLDS 2005 là nghĩa vụ dân sự hay trách nhiệm dân sự hay bao gồm cả nghĩa vụ dân sự và trách nhiệm dân sự Làm sáng tỏ được vấn đề này sẽ có ý nghĩa pháp lý rất lớn trong việc xác định
Trang 22thực hiện và những nghĩa vụ nào sẽ được chấm dứt khi người để lại di sản chết Trong toàn bộ chương về thừa kế của BLDS 2005, không có điều luật riêng nào định nghĩa hoặc liệt kê những nghĩa vụ tài sản mà chủ thể của quan
hệ thừa kế phải tiếp tục thực hiện thay cho chủ tài sản Tuy nhiên, căn cứ vào những quy định về nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự; căn cứ phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ dân sự và quy định tại Điều 683 BLDS 2005 về thứ tự ưu tiên thanh toán có thể đưa ra những nhận xét bước đầu về cách hiểu nghĩa vụ tài sản theo quy định tại Điều 637 BLDS 2005 như sau:
Thứ nhất: Trước hết có thể khẳng định, nghĩa vụ tài sản quy định tại
Điều 637 BLDS 2005 dù được hiểu theo nghĩa nào thì cũng phải là một loại nghĩa vụ gắn với tài sản và có thể chuyển giao, đó là loại nghĩa vụ chuyển giao một tài sản nào đó cho chủ thể có quyền Bởi lẽ, một trong những căn cứ chấm dứt nghĩa vụ được quy định tại khoản 8 Điều 374 BLDS 2005 là: bên có nghĩa vụ là cá nhân chết mà nghĩa vụ phải do chính cá nhân đó thực hiện
Điểm này được quy định cụ thể tại Điều 384 BLDS 2005 như sau: “Khi các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định về việc nghĩa vụ phải do chính bên có nghĩa vụ thực hiện mà cá nhân chết hoặc pháp nhân, chủ thể khác chấm dứt thì nghĩa vụ cũng chấm dứt” Theo quy định như trên, những loại
nghĩa vụ này là những nghĩa vụ gắn với nhân thân hoặc những giá trị tinh thần của chủ thể nghĩa vụ Ví dụ như: nghĩa vụ cấp dưỡng, hoặc nghĩa vụ làm việc theo thoả thuận trong hợp đồng lao động Tương tự như vậy, những quyền gắn với nhân thân của chủ thể có quyền cũng chấm dứt khi chủ thể có quyền
là cá nhân chết Có nghĩa là, người có nghĩa vụ không phải thực hiện nghĩa vụ nên nghĩa vụ cũng sẽ không được chuyển giao
Thứ hai: Nghĩa vụ tài sản quy định tại Điều 637 BLDS 2005 không
phải là khái niệm tương đồng hoàn toàn với khái niệm nghĩa vụ dân sự hay trách nhiệm dân sự được quy định tại Mục 1 và Mục 3 Chương XVII BLDS
2005 Điều này có thể dễ dàng nhận ra khi xem xét Điều 683 BLDS 2005 Tại điều luật này quy định:
Trang 23“Các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán theo thứ tự sau đây:
1 Chi phí hợp lý theo tập quán cho việc mai táng;
2 Tiền cấp dưỡng còn thiếu;
3 Tiền trợ cấp cho người sống nương nhờ;
4 Tiền công lao động;
5 Tiền bồi thường thiệt hại;
6 Thuế và các khoản nợ khác đối với Nhà nước;
7 Tiền phạt;
8 Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác;
9 Chi phí cho việc bảo quản di sản;
do các bên tự do, tự nguyện thay đổi về nội, cũng như chủ thể thực hiện nghĩa
vụ trên cơ sở của pháp luật Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ, các bên là người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ và và trực tiếp thực hiện quyền dân
sự theo nội dung của quan hệ ấy trong suốt quá trình kể từ khi quan hệ nghĩa
Trang 24vụ được xác lập cho đến khi chấm dứt hoàn toàn Tuy nhiên, để tiện lợi trong việc thi hành nghĩa vụ, các bên có thể thoả thuận chuyển giao nghĩa vụ cho người thứ ba Bởi lẽ, suy cho cùng, trong quan hệ nghĩa vụ (đặc biệt quan hệ nghĩa vụ tài sản) thì vấn đề nhân thân hoặc những giá trị tinh thần của chủ thể nghĩa vụ không phải là yếu tố quan tâm hàng đầu của chủ thể mang quyền Chủ thể mang quyền quan tâm nhiều đến khả năng thực hiện nghĩa vụ của chủ thể mang nghĩa vụ Do đó, nếu nghĩa vụ được chuyển giao cho chủ thể có khả năng thực hiện và tạo thuận lợi cho các bên thì việc chuyển giao đó sẽ rất có ý nghĩa Chúng ta có thể hình dung điều này qua ví dụ sau:
Có lẽ, xuất phát từ cơ sở lý luận và ý nghĩa thực tiễn như nêu trên mà pháp luật của các nước trên thế giới đều có quy định về việc chuyển giao nghĩa vụ Như pháp luật của Cộng hoà Pháp có quy định vấn đề này từ Điều
1771 đến Điều 1274
Ở Việt Nam, vấn đề chuyển giao nghĩa vụ cũng được quy định khá rõ ràng từ Điều 315 đến Điều 317 BLDS 2005 Theo những quy định này, chuyển giao nghĩa vụ là sự thoả thuận giữa người có nghĩa vụ với người khác trên cơ sở đồng ý của người có quyền nhằm chuyển nghĩa vụ cho người khác (gọi là người thế nghĩa vụ) Người thế nghĩa vụ trở thành người có nghĩa vụ mới phải thực hiện nghĩa vụ vì lợi ích của người có quyền Thực chất của việc chuyển giao nghĩa vụ là sự thoả thuận tay ba, theo đó người thứ ba thay thế người có nghĩa vụ cũ để trở thành chủ thể có nghĩa vụ mới của quan hệ nghĩa
Trang 25vụ trước đó Người có nghĩa vụ cũ chấm dứt hoàn toàn quan hệ nghĩa vụ với người có quyền
Về hình thức, sự “chuyển giao nghĩa vụ” có những nét tương đồng với việc “thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba” quy định tại Điều
293 BLDS 2005 Cả hai trường hợp này đều phát sinh trên cơ sở sự thoả thuận tay ba giữa chủ thể mang quyền, chủ thể mang nghĩa vụ và người thứ
ba, theo đó, người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ không phải là chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu Tuy nhiên, xét về bản chất pháp lý thì đây là hai trường hợp khác biệt hoàn toàn Đối với việc “chuyển giao nghĩa vụ” thì chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu được chấm dứt hoàn toàn, họ không phải chịu trách nhiệm
về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người thế nghĩa vụ Còn đối với việc
“thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba” thì chủ thể mang nghĩa
vụ vẫn phải chịu trách nhiệm với bên có quyền nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự
Thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, xét dưới góc độ nào
đó cũng là một hình thức chuyển giao nghĩa vụ Bởi lẽ, trước khi có sự chuyển giao nghĩa vụ thì đã tồn tại một quan hệ nghĩa vụ do người chết lúc còn sống xác lập và nghĩa vụ tài sản không phải do chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu trực tiếp thực hiện mà được chuyển giao cho người thứ ba (những chủ thể của quan hệ thừa kế) Tuy nhiên, việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” không hoàn toàn giống với việc “chuyển giao nghĩa vụ” và cũng không hoàn toàn giống với việc “thực hiện nghĩa vụ thông qua người thứ ba” Có thể khẳng định việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” là một sự chuyển giao nghĩa vụ đặc biệt
Có thể hình dung sự khác biệt, đặc biệt của việc “thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” so với việc “chuyển giao nghĩa vụ dân sự” và việc
“thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba” qua bảng so sánh sau:
Trang 26Tiêu chí đánh
giá
Chuyển giao nghĩa vụ dân sự (Điều 315 BLDS 2005)
Thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại (Điều 637 BLDS 2005)
Thực hiện nghĩa
vụ dân sự thông qua người thứ
ba (Điều 293 BLDS 2005)
1 Về căn cứ
phát sinh
Sự chuyển giao được thiết lập trên cơ sở sự thoả thuận (hợp đồng) giữa chủ thể mang quyền - chủ thể mang nghĩa
vụ - người thứ ba
về việc người thứ
ba thay thế người
có nghĩa vụ cũ để trở thành chủ thể
có nghĩa vụ mới
Sự chuyển giao nghĩa vụ xuất phát từ sự kiện chết của cá nhân (người mang nghĩa vụ ban đầu) Việc chuyển giao sẽ do pháp luật quy định Việc chuyển giao không xuất phát
từ sự thoả thuận của chủ thể mang quyền - chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu - người thứ ba
Phát sinh trên cơ
sở của sự thoả thuận (hợp đồng
uỷ quyền) giữa chủ thể mang quyền - chủ thể mang nghĩa vụ - người thứ ba về việc người thứ ba thay chủ thể mang nghĩa vụ thực hiện nghĩa
vụ dân sự đối với người có quyền
2 Về hình thức Phải được thể Không có quy Pháp luật không
Trang 27chuyển giao hiện bằng văn
bản hoặc lời nói
Trong trường hợp pháp luật có quy định thì việc chuyển giao nghĩa vụ còn phải
có công chứng, chứng thực, đăng
ký hoặc xin phép
định Bởi vì đây
là sự chuyển giao không xuất phát
từ sự thoả thuận của các bên mà
do pháp luật quy định
quy định, do đó
có thể suy đoán hình thức của thoả thuận được thể hiện dưới những hình thức như quy định tại Điều 124 BLDS
2005
3 Về hậu quả
pháp lý
Nghĩa vụ được chuyển giao cho người thứ ba Chủ thể mang nghĩa
vụ ban đầu không phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa
vụ của người thứ
ba
Nghĩa vụ được chuyển giao cho người thứ ba
Chủ thể mang nghĩa vụ ban đầu chết nên chấm dứt tư cách chủ thể
Nghĩa vụ do người thứ ba thực hiện Nhưng chủ thể mang nghĩa
vụ ban đầu vẫn phải chịu trách nhiệm với chủ thể mang quyền nếu người thứ ba không thực hiện hoặc thực hiện không đúng
4 Về chủ thể
tiếp nhận nghĩa
vụ
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào do các bên thoả thuận
Do pháp luật xác định (hoặc xác định trong di chúc) dựa trên những dấu hiệu đặc biệt (vấn đề
Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào do các bên thoả thuận
Trang 28này sẽ được phân tích kỹ ở phần sau của bản luận văn)
5 Về phạm vi
thực hiện nghĩa
vụ
Người tiếp nhận nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã thoả thuận
Người tiếp nhận nghĩa vụ chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ trong phạm vi
di sản được hưởng
Người tiếp nhận nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đã thoả thuận
1.3 SƠ LƯỢC NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THỜI KỲ PHONG KIẾN ĐẾN TRƯỚC KHI CÓ BỘ LUẬT DÂN SỰ
Xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến (đặc biệt là dưới thời nhà Lê) chịu ảnh hưởng rất lớn của Nho giáo Do đó, gia đình Việt Nam thời kỳ này được
Trang 29tổ chức theo chế độ phụ quyền Gia đình được đứng đầu bởi người chủ gia đình với những quyền hạn rất lớn Người chủ gia đình thường là người cha hoặc mẹ goá không kết hôn lại, nếu cả cha, mẹ đều không còn thì các quyền hạn ấy được giao cho người con trưởng theo quan niệm “quyền huynh thế phụ” Do đặc thù về tổ chức gia đình mà về tài sản không có sự phân biệt về tài sản giữa gia đình với các thành viên khác trong gia đình Mọi sự quyết định và giao dịch với bên ngoài đều do chủ gia đình quyết định Mặc dù, trong thời kỳ phong kiến dưới triều Lê, con cái cũng có thể có tài sản riêng và sống độc lập nhưng trường hợp này là rất ít
Chính vì những lý do trên, trong thời kỳ phong kiến, các nghĩa vụ tài sản do người nắm quyền hạn của chủ gia đình chịu trách nhiệm Khi muốn đòi nợ, các chủ nợ sẽ phải liên hệ với người chủ gia đình Những người chịu trách nhiệm trả các khoản nợ do một người chết để lại, trên nguyên tắc được xác định như sau:
- Nếu cha chết, thì mẹ còn sống trả tất cả các khoản nợ của gia đình;
- Nếu cha, mẹ đều chết thì con trai trưởng và các con khác đóng vai trò người phải trả nợ
Có hai trường hợp đặc biệt:
- Thứ nhất: Con có tài sản riêng trong lúc cha mẹ còn sống được phép
của cha mẹ cho ra ở riêng thì con có trách nhiệm giúp cha mẹ trả nợ như một người bảo lãnh, nếu cha mất thì con phải giúp mẹ trả nợ
- Thứ hai: Con gái đã lấy chồng Về nguyên tắc, con gái đã lấy chồng
không có trách nhiệm trả nợ của cha, mẹ ruột chết để lại Nếu cha, mẹ không
có con trai hoặc có nhưng không đủ sức trả nợ thì con gái đã lấy chồng có thể lãnh nợ cho cha, mẹ nếu được chồng đồng ý
Trong trường hợp khi gia đình không còn con, cháu nối dõi thì tài sản được giao cho cha, mẹ, ông, bà hoặc người thân thuộc bàng hệ Những người
Trang 30này sẽ quản lý tài sản và thực hiện việc trả nợ trong phạm vi tài sản để lại [20,
tr 426]
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và thiết lập chế độ cai trị thì lẽ đương nhiên, chúng ta sẽ chịu ảnh hưởng về mọi mặt trong đó có lĩnh vực pháp luật Nhìn chung, pháp luật thời kỳ này vẫn kế thừa những quy định của pháp luật thời phong kiến cũng như những tục lệ có lợi cho việc cai trị Nhưng ngôn ngữ pháp lý đã được diễn giải lại theo ngôn ngữ pháp lý phương tây Thời kỳ này, những khái niệm như di sản thừa kế, người thừa kế, người được di tặng được sử dụng trong các Bộ luật dân sự Bắc kỳ, Trung kỳ Theo
đó, những người được thừa kế và thậm chí cả người được di tặng đều có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
Về phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản thì ở nước ta, trong giai đoạn trước năm 1945, trong nhân dân có tục lệ “phụ trái tử hoàn” Theo tục lệ này, các con phải trả toàn bộ các khoản nợ của người cha đối với các chủ nợ Các khoản nợ của người cha chưa kịp thanh toán thì các con phải dùng tài sản của mình để trả nợ thay cho người cha đã chết Trách nhiệm theo “phụ trái tử hoàn” là trách nhiệm vô hạn về tài sản Trong trường hợp có nhiều con, cháu, các BLDS Bắc, Trung quy định rằng những người này phải chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn trong việc trả nợ [2, Điều 374], [4, Điều 379] Một người thừa kế là con, cháu có thể bị kiện yêu cầu trả toàn bộ số nợ, dù chỉ được hưởng một phần di sản, tuy nhiên người trả nợ nhiều có thể kiện đòi người trả
nợ ít hoàn trả cho mình phần chi trả vượt mức [2, Điều 373], [4, Điều 378]
Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990 (thời điểm trước khi có Pháp lệnh thừa kế), kể từ khi nước ta giành được độc lập, pháp luật thừa kế của chế độ mới được xây dựng, củng cố và bổ sung theo hướng từng bước được hoàn thiện Sắc lệnh ngày 10/10/1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế
độ cũ, trong đó có những quy định về thừa kế, ngoại trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Trong giai
Trang 31là: Sắc lệnh số 97-SL của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Thông tư số 1742-BNC ngày 18/9/1956 của Bộ Tư pháp; Thông tư số 594-NCPL ngày 27/8/1968 của Toà án nhân dân tối cao; Thông tư số 81-TANDTC ngày 24/7/1981 của Toà
án nhân dân tối cao Các văn bản này đã đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật dân sự nói chung và pháp luật thừa kế nói riêng Vấn đề trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản và phạm vi thực hiện nghĩa vụ tài sản tiếp tục được
ghi nhận Tại Thông tư 594 quy định: “Di sản thừa kế bao gồm không những quyền sở hữu cá nhân về những tài sản mà người chết đó để lại mà còn gồm
cả những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người chết để lại” Qua quy định này cho thấy,
mặc dù việc quy định nghĩa vụ tài sản là một phần của di sản thừa kế là một điểm hạn chế, tuy nhiên nó giúp ta xác định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của những người thừa kế Đặc biệt trong giai đoạn này, tục lệ “phụ trái
tử hoàn” đã bị xoá bỏ, theo đó những người thừa kế chỉ phải thực hiện nghĩa
vụ tài sản trong phạm vi tài sản mà người chết để lại
Ngày 30/8/1990, Pháp lệnh Thừa kế (PLPK) được ban hành, đây là một văn bản pháp luật tương đối tổng hợp, toàn diện và thống nhất để điều chỉnh quan hệ thừa kế Trong Pháp lệnh này, nghĩa vụ tài sản của người chết để lại
đã được tách ra khỏi di sản, không còn là một phần trong khối di sản [8, Điều
4, Điều 8] Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại được quy
định tại những điều luật riêng biệt Tại Điều 8 PLTK quy định: “Người thừa
kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại” Tại Điều 32 PLTK quy định: “Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại:
1 Nếu di sản chưa được chia thì người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản
2 Nếu di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tương ứng với phần di sản mà mình đã được
Trang 323 Nếu Nhà nước, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế hưởng di sản theo di chúc, thì cũng thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân.”
Như vậy, trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại tiếp tục được quy định trong PLTK Theo đó, người thừa kế là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại (trong PLTK không có quy định về việc thực hiện nghĩa vụ tài sản từ di sản thờ cúng) Vấn
đề giới hạn thực hiện nghĩa vụ tài sản đã được quy định rõ ràng, người thừa
kế chỉ chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi di sản mà mình được hưởng
Chương 2 THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
2.1 CHỦ THỂ THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN
Khi một cá nhân chết, đứng dưới góc độ sinh học thì đó là sự chấm dứt của sự sống còn dưới góc độ pháp lý thì đó có thể là sự bắt đầu cho những quan hệ mới phát sinh Pháp luật lúc này cần giải quyết hai vấn đề lớn, đó là: những tài sản (nếu có) của người chết sẽ thuộc về ai và những nghĩa vụ của người đó (nếu có) sẽ chấm dứt hay do ai tiếp tục thực hiện
Kế thừa những quy định của Pháp lệnh Thừa kế, Bộ luật Dân sự năm
Trang 33sản của người chết để lại So với BLDS 1995 thì BLDS 2005 không có thay đổi gì nhiều, có chăng chỉ là sự thêm vào hoặc bớt đi một vài thuật ngữ để điều luật rõ ràng hơn Theo đó, một nguyên tắc chung được BLDS xác lập đó là: những người hưởng thừa kế sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại [5, Điều 637]
Theo quy định của BLDS, một cách tổng thể, việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại có thể do những chủ thể sau đây thực hiện:
1 Người hưởng thừa kế (Điều 637 BLDS 2005);
2 Người quản lý di sản (Điều 637 BLDS 2005);
3 Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 670 BLDS 2005);
tỏ trong những phần tiếp theo của luận văn) Chúng ta có thể nghiên cứu và
làm sáng tỏ vấn đề này trên cơ sở chia thành hai trường hợp sau: trường hợp
di sản chưa được chia và trường hợp di sản đã được chia
2.1.1 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong trường hợp di sản chưa được chia
Trang 34Tại khoản 2 Điều 637 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý
di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế”
Trong khoảng thời gian kể từ thời điểm mở thừa kế đến khi di sản được chia cho những người hưởng thừa kế, cần phải thực hiện những công việc nhất định như: lập danh mục di sản; thu hồi tài sản thuộc khối di sản; bảo quản di sản nhằm đảm bảo cho khối di sản được thống nhất và việc chia di sản được thực hiện đúng theo ý chí của người để lại di sản (nếu là thừa kế theo di chúc) hoặc đảm bảo cho người được hưởng thừa kế được nhận đúng
kỷ phần mình được hưởng theo quy định của pháp luật (nếu là thừa kế theo pháp luật) Để thực hiện những công việc này, cần thiết phải xuất hiện một chủ thể với những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể - đó là vai trò của người quản lý di sản
Tư cách người quản lý di sản có thể được xác lập thông qua một trong bốn cách sau:
- Do người để lại di sản chỉ định trong di chúc;
- Do người thừa kế thoả thuận cử ra;
- Nếu trong di chúc chưa chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa
kế cử được người quản lý di sản;
- Nếu chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản
lý thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý (Điều 638 BLDS 2005)
Trong thực tiễn, tư cách người quản lý di sản chủ yếu được xác lập bằng một trong hai cách đầu tiên Việc quy định hai trường hợp sau chẳng qua chỉ là sự bổ sung cho hai trường hợp trước nhằm đảm bảo chắc chắn di sản
Trang 35Quyền và nghĩa vụ cụ thể của người quản lý di sản được quy định tại khoản 2 Điều 637; Điều 639; Điều 640 BLDS 2005 Theo quy định tại khoản
2 Điều 637 và điểm a khoản 1 Điều 640 BLDS 2005, một trong những nhiệm
vụ quan trọng của người quản lý di sản đó là thay mặt những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Về nguyên tắc, những người hưởng thừa kế là những người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Tuy nhiên, trong trường hợp này, tài sản chưa được người thừa kế chiếm hữu thực tế Nên, để thuận tiện cho việc thanh toán nợ cho các chủ nợ, pháp luật đã quy định người quản lý tài sản sẽ tiến hành việc thanh toán nợ trên cơ sở sự đồng ý của những người hưởng thừa kế Việc thanh toán
nợ của người quản lý di sản không phải là một hành động pháp lý độc lập mà
nó được tiến hành trên cơ sở sự kiểm soát/đồng ý của những người thừa kế Trong BLDS 1995 và 2005 chưa có điều luật quy định cụ thể khi tiến hành thực hiện nghĩa vụ tài sản, người quản lý di sản cần được những người hưởng thừa kế đồng ý những vấn đề gì Tuy nhiên, căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 637 BLDS 2005 và điểm b khoản 1 Điều 639 BLDS 2005 và sự suy đoán logic thì khi thực hiện nghĩa vụ tài sản, người quản lý di sản cần phải được những người hưởng thừa kế đồng ý những vấn đề sau:
- Phương thức thanh toán;
- Tài sản (trong khối di sản) được đưa ra để thực hiện nghĩa vụ Thông thường, di sản để lại thường là hiện vật như nhà cửa, đất đai, các bất động sản khác do đó, khi khoản nợ phải trả là tiền mặt thì những người hưởng thừa kế
sẽ quyết định bán tài sản nào trong khối di sản để thực hiện nghĩa vụ
- Phạm vi thực hiện nghĩa vụ với ý nghĩa, nếu khoản nợ mà người chết
để lại lớn hơn khối di sản thì những người hưởng thừa kế sẽ quyết định có trả phần nợ vượt quá đó không
Trang 36Về quyền hạn của người quản lý di sản cũng cần phải chú ý đến thoả thuận của họ với những người hưởng thừa kế cũng như sự chỉ định của người
Tóm lại, xét về bản chất pháp lý, mối quan hệ giữa chủ nợ - chủ thể quản lý di sản - chủ thể hưởng di sản trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại “gần giống” như việc “thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba” quy định tại Điều 293 BLDS 2005 (như phân tích ở phần Chương 1 của Luận văn) Sự “gần giống” ở đây được thể hiện: Chủ thể quản
lý di sản không phải là người được hưởng di sản, họ chỉ là người thay mặt những người hưởng thừa kế quản lý khối di sản, do đó, đương nhiên nghĩa vụ tài sản của người chết cũng không thuộc về họ Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại trong trường hợp này chẳng qua là việc thực hiện thay cho người thừa kế để đảm bảo sự thuận tiện trong việc thanh toán nghĩa
vụ Và những người hưởng thừa kế vẫn phải chịu trách nhiệm trước những người có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ của người quản lý di sản
2.1.2 Chủ thể thực hiện nghĩa vụ tài sản sau khi di sản đƣợc chia
Như phần trên đã trình bày, khi di sản chưa chia thì người quản lý di sản sẽ đại diện những người hưởng thừa kế để thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại Khi di sản đã được chia, nếu những khoản nợ chưa được trả hoặc chưa trả hết thì người trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài sản lúc này chính
Trang 37là những người được hưởng thừa kế Theo quy định của BLDS thì những chủ thể này bao gồm:
- Người thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật)
- Người được di tặng;
- Người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng
2.1.2.1 Người thừa kế
Tại khoản 3 Điều 637 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp di sản
đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết
để lại ” Để hiểu rõ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người thừa
kế, trước tiên cần thiết phải làm rõ cụm từ “người thừa kế” theo quy định trên bao gồm những chủ thể nào, thoả mãn những điều kiện nào?
Pháp luật thừa kế ở Việt Nam thừa nhận hai hình thức thừa kế đó là thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Do đó, tương ứng với hai hình thức thừa kế này, người thừa kế cũng bao gồm người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật Người thừa kế theo di chúc là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào được chỉ định hưởng di sản trong di chúc hợp pháp, thoả mãn những điều kiện được quy định tại Điều 635 BLDS 2005 và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 643 BLDS 2005 Tất cả các chủ thể thừa kế theo di chúc, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng với phần di sản mà mình được nhận Trong trường hợp người để lại di sản thừa kế không có sự định đoạt đối với tài sản của mình bằng di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di chúc không có hiệu lực thi hành, phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật thì thừa kế theo pháp luật được áp dụng Việc xác định người thừa kế theo pháp luật cần phải dựa trên những cơ sở nhất định trong mối quan hệ với người để lại di sản Trước hết, người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và đáp ứng đủ những điều kiện sau:
Trang 38Để xác định diện thừa kế, theo truyền thống, pháp luật Việt Nam dựa vào ba mối quan hệ cơ bản: quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan
hệ nuôi dưỡng Người thuộc diện thừa kế theo pháp luật là người có ít nhất một trong ba mối quan hệ nêu trên với người để lại di sản, cụ thể như sau:
+ Người thuộc diện thừa kế theo pháp luật có mối quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản;
+ Hoặc người đó có mối quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản;
+ Hoặc người đó có mối quan hệ huyết thống với người để lại di sản Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể có mối quan hệ như nêu trên đều nằm trong diện thừa kế Việc xác định diện thừa kế còn dựa trên việc xác định hàng thừa kế Theo đó, Điều 676 BLDS 2005 sắp xếp hàng thừa kế theo thứ
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
Những chủ thể được liệt kê ở điều trên chính là những chủ thể nằm trong phạm vi diện thừa kế và có khả năng pháp lý được hưởng thừa kế Nhưng không phải tất cả chủ thể được liệt kê ở trên đều có quyền hưởng thừa
kế thực tế Việc được hưởng thừa kế thực tế hay không được xác định dựa trên nguyên tắc: những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản,
Trang 39bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (khoản 3 Điều 676 BLDS 2005) Đến đây chúng ta có thể kết luận: không phải tất cả các chủ thể thuộc diện thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, chỉ những người được hưởng thừa kế thực tế mới phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
- Thứ hai: Phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế (Điều 635
BLDS 2005)
Ngoài việc thoả mãn những điều kiện về diện và hàng thừa kế, muốn pháp luật thừa nhận là người thừa kế thì chủ thể đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế Người thừa kế là một chủ thể chủ yếu và quan trọng nhất trong quan hệ pháp luật thừa kế Quan hệ pháp luật về thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế, do đó, để trở thành chủ thể trong quan hệ pháp luật thừa kế thì người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế thì mới có đủ điều kiện năng lực chủ thể để tham gia quan hệ pháp luật thừa kế Tuy nhiên,
ở đây cần phải lý giải thế nào được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế? Kết hợp khoản 1 Điều 633 BLDS 2005 và Điều 641 BLDS 2005 chúng ta có thể lý giải điều này như sau: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết về sinh học hoặc thời điểm người để lại tài sản bị Toà án tuyên bố là
đã chết Và những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm thì họ không có quyền thừa kế di sản của nhau Nếu không xác định được rõ ràng ai chết trước thì được quyền suy đoán là họ chết cùng thời điểm
Do vậy, người được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế là người có căn
cứ rõ ràng để xác nhận là còn sống sau khi người để lại di sản chết, hoặc nếu người thừa kế đã chết thì cũng phải có căn cứ rõ ràng để xác nhận người đó chết sau người để lại di sản
Qua sự phân tích trên, có thể tạm thời kết luận, người thừa kế theo quy định tại khoản 3 Điều 637 BLDS 2005 là người thực tế được hưởng di sản bao gồm cả người thừa kế theo di chúc và người thừa kế theo pháp luật
Trang 40Theo quy định của pháp luật thừa kế Việt Nam, ngoài những người thừa kế thông thường được chỉ định trong di chúc hoặc được hưởng với tư cách nằm trong diện và hàng thừa kế theo pháp luật còn xuất hiện một số chủ thể thừa kế khá đặc biệt khác như người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (Điều 639 BLDS 2005); người thừa kế thế vị (Điều 677 BLDS 2005) Sở dĩ gọi những chủ thể này là những chủ thể đặc biệt là do, đối với người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc thì họ được hưởng di sản không phải với tư cách là người thừa kế được chỉ định trong di chúc Sở dĩ họ được hưởng di sản là do có mối quan hệ về nhân thân đặc biệt với người để lại di sản và phần di sản mà họ được hưởng là nhằm đảm bảo cuộc sống ở mức cần thiết Đối với người thừa kế thế vị thì họ cũng được hưởng di sản không phải theo những tư cách thông thường trên Cả hai dạng chủ thể này đều được hưởng di sản xuất phát từ những lý do và sự kiện pháp
lý đặc biệt Do sự đặc biệt đó mà một vấn đề được đặt ra là hai chủ thể này có phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại không Theo chúng tôi, xuất phát từ nguyên tắc, toàn bộ di sản của người chết để lại cần phải được đem ra để thực hiện nghĩa vụ của người đó thì các chủ thể này cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản
Một chủ thể khác cũng đáng quan tâm trong việc xác định trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là chủ thể được hưởng di sản
từ kết quả của việc suy đoán Điều 641 BLDS 2005 về trường hợp thừa kế của những người có quyền thừa kế di sản của nhau mà chết cùng thời điểm Chủ thể này chúng tôi tạm gọi là “người thừa kế gián tiếp” Có thể hình dung qua
ví dụ sau:
A (có con là B, C)
B (có con là D, E) C