Giao dịch dân sự được thiết lập do người thiết lập tại thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình tự nguyện về ý chí của chủ thể 51 Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN HOÀI THANH
Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ TRONG GIAO DỊCH DÂN
SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN HOÀI THANH
Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ TRONG GIAO DỊCH DÂN
SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật dân sự
Mã số : 60 38 30
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Đăng Hiếu
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Hoài Thanh
Trang 41.1 Khái niệm và phân loại giao dịch dân sự 5
1.2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 12
1.3 Khái niệm giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí 20
Chương 2: CÁC TRƯỜNG HỢP GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM
Trang 52.1.4 Giao dịch dân sự giả tạo 40 2.1.5 Giao dịch dân sự được thiết lập do người thiết lập tại thời
điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
tự nguyện về ý chí của chủ thể
51
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIAO DỊCH
DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA
3.2.1 Các quy định chung về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể
trong giao dịch dân sự
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việc xác lập các giao dịch dân sự giữa các chủ thể là một hiện tượng tất yếu khách quan trong cuộc sống, là một đặc trưng cơ bản của xã hội loài người Trình độ phát triển, tiến bộ xã hội ngày càng cao, các quyền dân chủ,
tự do giành cho cá nhân ngày càng lớn, hoạt động của mỗi cá nhân ngày càng
đa dạng, thì các giao dịch dân sự ngày càng phong phú và phức tạp Việc đảm bảo cho các giao dịch dân sự đó diễn ra theo đúng ý chí của chủ thể xác lập, mang lại lợi ích mà chủ thể mong muốn và không ảnh hưởng đến sự ổn định, trật tự của xã hội có ý nghĩa hết sức to lớn Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải quyết vấn đề trên càng trở nên cấp thiết
Cách thức được lựa chọn là tạo ra những quy chuẩn, giới hạn của tự do
ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự Bởi ý chí chủ thể là yếu tố hình thành và có tính chất quyết định đến nội dung cũng như hiệu lực của giao dịch dân sự Tuỳ từng trường hợp vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể mà pháp luật đặt ra các cách thức xử lý khác nhau như: bổ sung, giải thích, hoàn thiện
và thực hiện giao dịch hoặc tuyên bố giao dịch dân sự bị vô hiệu khi có yêu cầu hay mặc nhiên phủ nhận sự tồn tại của giao dịch dân sự đó
Thực tế hiện nay phát sinh rất nhiều tranh chấp về hợp đồng dân sự hay hành vi pháp lý đơn phương liên quan đến điều kiện về ý chí của chủ thể Đặc biệt là các hợp đồng quan trọng như: chuyển nhượng quyền sử dụng đất,nhà
ở, hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo hiểm, mua bán hàng hoá hay trong vấn đề lập di chúc của người để lại di sản với những dấu hiệu của sự lừa dối, đe doạ, giả tạo, nhầm lẫn do thiếu hiểu biết và cẩu thả Có tranh chấp đã được giải quyết song phải trải qua rất nhiều phiên toà với những phán quyết khác nhau,
Trang 7có tranh chấp trải qua nhiều thủ tục tại các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa
có được một phán quyết cuối cùng
Nhằm nâng cao hiểu biết, giúp hạn chế khả năng tham gia vào các giao dịch dân sự vi phạm điều kiện về ý chí, giải quyết một cách chính xác các tranh chấp phát sinh Nghiên cứu các quy định về ý chí của chủ thể trong giao
dịch dân sự là vô cùng cần thiết Do đó, tôi chọn đề tài: “Ý chí của chủ thể
trong giao dịch dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sỹ Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là một nội dung rất rộng
và phức tạp, vì vậy luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đến vấn đề sự tự nguyện
về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự cũng
đã được đề cập trong các bài viết nghiên cứu trao đổi và các công trình nghiên cứu bảo vệ khoa học
Công trình của tác giả: Nguyễn Thị Nhàn, "Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự", Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2008; Bùi Thị Thu Huyền, "Hợp đồng dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về ý chí của chủ thể", Luận văn thạc sĩ
Luật học, năm 2010 Hai công trình này trực tiếp đề cập đến ý chí của chủ thể trong thời gian gần đây, song công trình của tác giả Bùi Thị Thu Huyền chỉ nghiên cứu trong phạm vi hợp đồng dân sự còn công trình của tác giả Nguyễn Thị Nhàn lại nghiên cứu theo từng giao đoạn xác lập và thực hiện giao dịch dân sự
Bài viết đăng trên tạp chí của tác giả: Tiến sĩ Ngô Huy Cương "Tự do
ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, 2008 Tiến sĩ Đỗ Văn Đại: "Nhầm lẫn trong chế định hợp đồng: những bất cập và hướng sửa đổi", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp năm 2008; Lê Thị Bích Thọ: "Lừa dối trong giao kết hợp đồng", Báo Thông
tin pháp luật, năm 2008 Các bài viết này một số đi theo hướng hàn lâm,
Trang 8nghiên cứu theo học thuyết tự do ý chí, một số lại chỉ nghiên cứu một trường hợp vi phạm ý chí chủ thể cụ thể
Vì vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài "Ý chí của chủ thể trong giao dịch
dân sự theo pháp luật Việt Nam hiện nay" để làm sáng tỏ các quy định của
pháp luật, những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện và mạnh dạn đề xuất một vài ý kiến hoàn thiện pháp luật
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận về giao dịch dân sự và giao dịch dân
sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể
- Phân tích các quy định pháp lý về các loại giao dịch dân sự vi phạm
sự tự nguyện về ý chí của chủ thể, hậu quả pháp lý của việc vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể, tập trung vào các quy định về giao dịch dân sự
vô hiệu do vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể
- Phân tích thực tiễn việc áp dụng các quy định pháp luật giải quyết các tranh chấp, đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao khả năng áp dụng pháp luật xung quanh vấn đề vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận và giải quyết những vấn đề mà luận văn đặt
ra, trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tác giả đã sử dụng và kết hợp một cách đồng bộ các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong luận văn
5 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Trang 9- Phân tích một cách có hệ thống cách khía cạnh của sự tự nguyện về
ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự Phân tích và so sánh được các quy định về sự tự nguyện về ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự của pháp luật Việt Nam hiện hành và trước đây; so sánh với pháp luật nước ngoài
- Đánh giá được các nguyên nhân dẫn đến việc xác lập giao dịch vi phạm sự tự nguyện về ý chí chủ thể, tình hình tranh chấp và áp dụng các quy định pháp luật xử lý tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự vi phạm các điều kiện về sự tự nguyện
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vi
phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về giao dịch
dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về giao dịch dân sự vi phạm
sự tự nguyện về ý chí của chủ thể và kiến nghị hoàn thiện
Trang 10Chương 1
LÍ LUẬN CHUNG VỀ GIAO DỊCH DÂN SỰ VÀ GIAO DỊCH DÂN SỰ
VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ CỦA CHỦ THỂ
1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIAO DỊCH DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm giao dịch dân sự
Từ thời cổ đại đến nay giao dịch còn được gọi với các tên khác nhau như khế ước, giao ước, hiệp ước Theo Từ điển tiếng Việt thì giao dịch là sự giao tiếp, tiếp xúc, giao kèo… giữa hai hay nhiều đối tác với nhau Hiểu theo khía cạnh pháp lý thì giao dịch chính là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm hướng tới một mục đích làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định
Ngày nay, vị trí và vai trò của giao dịch ngày càng được khẳng định trong các hệ thống pháp luật Tuy nhiên, pháp luật của mỗi quốc gia lại có các cách tiếp cận khác nhau Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp không đưa ra chế định giao dịch dân sự mà chỉ đưa ra chế định hợp đồng dân sự và chế định thừa kế
Bộ luật dân sự Nhật Bản đưa ra chế định hành vi pháp lý bao trùm lên chế định hợp đồng và chế định thừa kế theo di chúc Hầu như pháp luật của các nước đều không quy định cụ thể về khái niệm giao dịch dân sự mà nó chỉ được đề cập đến dưới góc độ khoa học Theo các nhà khoa học Nhật Bản thì:
"Giao dịch dân sự là hành vi hợp pháp nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm
dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" [53, tr 114] Như vậy, các nhà khoa học Nhật
Bản không nêu ra cụ thể các loại giao dịch mà nó là tất cả những hành vi tự nguyện của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự nhằm thu được một kết quả nhất định với điều kiện các hành vi này không trái pháp luật
Theo pháp luật Việt Nam, trước khi có Bộ luật dân sự 1995 chúng ta chưa có quy định riêng về giao dịch dân sự mà chỉ được đề cập dưới góc độ là hợp đồng dân sự (Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991), hoặc ý chí đơn
Trang 11phương của chủ thể trong việc lập di chúc (Pháp lệnh thừa kế năm 1990) Bộ luật dân sự năm 1995 đã chính thức đề cập đến giao dịch dân sự với quy định
cụ thể về khái niệm, điều kiện có hiệu lực của giao dịch, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu… Trong Bộ luật dân sự năm 2005, giao dịch dân sự được quy định trong chương VI, Phần thứ nhất của bộ luật, giao dịch dân sự
là hợp đồng được quy định tại Mục 7 Phần 3, giao dịch dân sự là hành vi pháp
lý đơn phương được quy định qua các hợp đồng như hứa thưởng, thi có giải
Theo đó, Điều 121 Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự" [35] Giao dịch dân sự trước hết phải là hành vi do con người tiến hành một cách có ý thức và có mục đích Để tham gia vào giao dịch dân sự cụ thể người đó phải có đủ tư cách chủ thể Tức là phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đủ để đảm bảo họ ý thức được họ muốn gì, ý thức được hành vi họ đang tiến hành và chịu trách nhiệm về hành vi của mình Nói cách khác, giao dịch dân sự là hành vi có ý chí của chủ thể Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đa phương (hợp đồng) hoặc đơn phương, tức là một loại sự kiện pháp lý - sự kiện xảy ra trong thực
tế mà pháp luật dự liệu, quy định là phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định Tùy từng giao dịch dân sự cụ thể, hậu quả pháp lý đó là làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể Giao dịch là hành
vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch
Tóm lại, có thể rút ra một số đặc điểm của giao dịch dân sự như sau:
Thứ nhất, giao dịch dân sự phải có ý chí và thể hiện được ý chí của
chủ thể tham gia giao dịch Khi tham gia vào giao dịch dân sự, các chủ thể đều mong muốn đạt được những mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh hoặc sinh hoạt, tiêu dùng Để đạt được mục đích đó, các chủ thể phải thể hiện được ý chí của mình Khi xác lập giao dịch các bên phải
Trang 12thể hiện ý chí của mình ra bên ngoài và phải có sự thỏa thuận thống nhất những nội dung mà họ đã thể hiện Nếu các bên không thỏa thuận được thì giao dịch cũng sẽ không được giao kết Trường hợp giao dịch dân sự là hành
vi pháp lý đơn phương mà nội dung chính của giao dịch do một bên đưa ra, tuy bên kia không trực tiếp thỏa thuận nhưng về cơ bản họ phải đồng ý với tất
cả nội dung, điều kiện do bên đã đưa ra và tự nguyện tham gia giao dịch
Thứ hai, sự thể hiện ý chí của các chủ thể trong giao dịch dân sự nhằm
hướng tới một hậu quả pháp lý nhất định Bởi vì không phải bất kì một hợp đồng dân sự hay hành vi pháp lý đơn phương nào cũng được coi là giao dịch dân sự Chỉ được coi là giao dịch dân sự khi hành vi pháp lý đó phải nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự với chủ thể khác
Thứ ba, mục đích của giao dịch dân sự là những lợi ích hợp pháp mà
các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch Mục đích của giao dịch dân sự chính là hậu quả pháp lý sẽ phát sinh từ giao dịch mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội
Thứ tư, các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện Sự tự nguyện là
một nguyên tắc quan trọng trong quá trình thiết lập giao dịch Đây là sự phản ánh tính thống nhất giữa ý chí và thể hiện ý chí của các chủ thể Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí cho nên sự tự nguyện bao gồm các yếu tố cấu thành là tự do ý chí và bày tỏ ý chí, giữa chúng phải có sự thống nhất với nhau Nếu không có tự do ý chí và bày tỏ ý chí hoặc không có sự thống nhất giữa hai yếu tố này thì cũng không có sự tự nguyện Giao dịch dân sự khi vi phạm sự tự nguyện có thể dẫn đến vô hiệu
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận: Giao dịch dân sự là sự thể hiện ý chí một cách tự nguyện của các chủ thể trong khuôn khổ của pháp luật
để làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự Qua đó góp phần cho giao lưu dân sự phát triển phù hợp với sự phát triển của xã hội
Trang 131.1.2 Phân loại giao dịch dân sự
1.1.2.1 Căn cứ vào sự thể hiện ý chí của chủ thể
Căn cứ vào ý chí của chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch dân sự được phân thành hai loại đó là: Hợp đồng dân sự và hành vi pháp lý đơn phương
Hợp đồng dân sự là loại giao dịch dân sự phổ biến và thông dụng nhất
trong đời sống hàng ngày và chiếm một vị trí quan trọng trong việc điều tiết các quan hệ tài sản, nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện nay Hợp đồng dân sự có thể diễn ra giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân với pháp nhân, hay giữa các pháp nhân, tổ chức với nhau Các bên tự do thỏa thuận trên cơ sở
tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định về vật chất hoặc tinh thần nhưng không trái với pháp luật và đạo đức xã hội của quốc gia mà các chủ thể tham gia hợp đồng chịu sự điều chỉnh
Thông thường hợp đồng dân sự có hai bên tham gia, trong đó thể hiện
sự thống nhất ý chí của các chủ thể trong một mối quan hệ cụ thể như mua bán, cho thuê, nhưng cũng tồn tại hợp đồng có nhiều bên tham gia như hợp đồng hợp tác Mỗi bên trong hợp đồng có thể có một hoặc nhiều chủ thể tham gia như mua bán tài sản chung Trong hợp đồng, ý chí của một bên đòi hỏi sự đáp lại của bên kia, tạo thành sự thống nhất ý chí giữa các bên, từ đó mới hình thành được hợp đồng Do vậy, hợp đồng là sự thỏa thuận ý chí của hai hay nhiều bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Sự thỏa thuận vừa là nguyên tắc, vừa là đặc trưng của hợp đồng dân sự và được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quan hệ hợp đồng: từ giao kết đến thực hiện hoặc sửa đổi, chấm dứt hợp đồng dân sự
Sự tự do thỏa thuận giữa các chủ thể trong giao dịch dân sự thường là
sự bàn bạc, đi đến thống nhất ý chí của các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự nhất định Việc thỏa thuận này không bị cản trở bởi bất cứ yếu tố nào, trừ trường hợp trái pháp luật và đạo
Trang 14đức xã hội Ví dụ như khi các bên tham gia kí kết hợp đồng mua bán một chiếc xe máy thì chủ sở hữu và người mua xe có quyền tự do bàn bạc giá cả, phương thức thanh toán, thời gian, địa điểm giao xe…
Trên thực tế thì sự tự do thỏa thuận mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ Bởi lẽ, sự thỏa thuận phải làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên mới hình thành hợp đồng
Ví dụ lời hứa của cha mẹ với con cái không làm phát sinh hậu quả pháp lý Thậm chí trong một số trường hợp hành vi thỏa thuận giữa các bên có ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý nhưng sau đó nếu các bên không mong muốn tiếp tục thì hậu quả cũng không xảy ra Đây là yếu tố quan trọng để xác định
sự khác nhau giữa hợp đồng với các quan hệ xã hội khác Sự thỏa thuận phải dựa trên cơ sở pháp luật cho phép, nếu trái với các quy định của pháp luật thì hợp đồng có thể bị vô hiệu, các bên giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật hoặc tự thỏa thuận
Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự trong đó thể hiện ý
chí của một bên nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Hành vi pháp lý đơn phương là sự tuyên bố ý chí công khai của một phía chủ thể, nên việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
mà không phụ thuộc vào ý chí của bên kia Ví dụ như hành vi lập di chúc của một chủ thể đối với tài sản hợp pháp của mình, người đố đã thể hiện ý chí cá nhân để định đoạt tài sản mà họ có, không phụ thuộc vào ý chí của bên nhận
di sản Như vậy, ý chí của người lập di chúc không phụ thuộc vào ý chí của người khác nhưng làm phát sinh một loại quan hệ pháp luật thuộc giao dịch dân sự
Thông thường hành vi pháp lý đơn phương được xác lập theo ý chí của một bên chủ thể duy nhất (lập di chúc, từ chối hưởng di sản, hứa thưởng…)
Có thể có nhiều chủ thể cùng tham gia và một bên của giao dịch (hai cá nhân,
tổ chức cùng tuyên bố hứa thưởng, di chúc chung của vợ chồng…) Trong
Trang 15nhiều trường hợp, hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả khi có những người khác đáp ứng được những điều kiện nhất định do người xác lập giao dịch đưa ra Những người này phải đáp ứng được các điều kiện nhất định
đó mới làm phát sinh nghĩa vụ của người xác lập giao dịch (hứa thưởng, thi
có giải…) Hành vi pháp lý đơn phương là một giao dịch cho nên nội dung và hình thức phải phù hợp với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1.1.2.2 Căn cứ vào hình thức của giao dịch dân sự
Căn cứ vào hình thức thể hiện của giao dịch dân sự thì giao dịch dân
sự được thể hiện dưới hình thức lời nói, giao dịch thể hiện dưới hình thức văn bản và giao dịch thể hiện dưới hình thức hành vi cụ thể
Thông thường hình thức lời nói của giao dịch dân sự được áp dụng đối với các giao dịch có giá trị không lớn hoặc giữa các chủ thể có sự quen biết, tin cậy lẫn nhau hoặc với các giao dịch dân sự phát sinh hậu quả pháp lý sau khi thỏa thuận và các bên thực hiện nghĩa vụ ngay sau đó giao dịch chấm dứt
Giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức văn bản có thể do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định Trong trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện dưới hình thức văn bản thì các chủ thể tham gia phải tuân theo hình thức này Ngoài ra giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản như: fax, telex…
Giao dịch dân sự thể hiện bằng hành vi cụ thể: hình thức này cũng phổ biến trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt khi công nghệ ngày càng phát triển với
sự tự động hóa được áp dụng ở nhiều nơi như: bán hàng qua máy tự động, rút tiền ở các máy ATM…
1.1.2.3 Giao dịch dân sự có điều kiện
Dựa vào thời điểm làm phát sinh, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, giao dịch dân sự được chia thành giao dịch có điều kiện làm phát sinh hiệu lực và giao dịch có điều kiện làm chấm dứt hiệu lực
Trang 16Trong khi thực hiện giao dịch dân sự, đôi khi các bên xác định là giao dịch dân sự đó chỉ phát sinh hoặc chấm dứt hiệu lực khi xảy ra một sự kiện nhất định Các giao dịch đó được gọi là giao dịch dân sự có điều kiện và các
sự kiện đó được gọi là điều kiện Các điều kiện đó dự liệu khả năng có thể xảy ra nhưng không chắc chắn xảy ra trong tương lai Tuy nhiên, sự kiện được coi là điều kiện phải là sự kiện xảy ra một cách tự nhiên Nếu một trong các chủ thể của giao dịch dân sự có hành vi ngăn cản không cho các điều kiện
đó xảy ra hoặc hành vi thúc đẩy cho điều kiện đó nhanh chóng xảy ra để không thực hiện nghĩa vụ thì cũng không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự có thể được xác lập với điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ Trong trường hợp giao dịch dân sự có điều kiện phát sinh, việc xảy ra điều kiện đó sẽ làm phát sinh hiệu lực của giao dịch Ví dụ: A hứa thưởng cho
B chiếc máy tính nếu B đỗ đại học Trong trường hợp B đỗ đại học thì sẽ phát sinh hậu quả pháp lý là B sẽ được A thưởng cho chiếc máy tính (hợp đồng tặng cho có điều kiện) Nếu B không thi đỗ đại học thì hậu quả pháp lý sẽ không xảy ra
Giao dịch có điều kiện hủy bỏ là giao dịch trong đó việc xảy ra điều kiện sẽ hủy bỏ hiệu lực của giao dịch Ví dụ: Công ty A cam kết với sinh viên
B sẽ cấp học bổng trong thời gian học tập, nếu điểm trung bình của các môn trong 1 học kỳ không đạt được 7,00 trở lên thì công ty A không cấp học bổng cho B nữa Như vậy, nếu B không đạt được điểm trung bình của kì học từ 7,00 trở lên sẽ dẫn đến việc hủy bỏ việc cấp học bổng
Trên nguyên tắc tự do xác lập và thực hiện giao dịch, các điều kiện của giao dịch thường do chủ thể của giao dịch lập ra Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một số trường hợp ngoại lệ, pháp luật quy định một số yêu cầu bắt buộc mà nếu các chủ thể không tuân thủ thì sẽ làm cho giao dịch trở nên vô hiệu Ví dụ như:
Trang 17Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế [35, Điều 635] Pháp luật không cho phép thực hiện các giao dịch dân sự có điều kiện nếu điều kiện đó vi phạm pháp luật Ví dụ như A hứa thưởng cho B nếu như
B đánh trọng thương C, giao dịch này sẽ bị vô hiệu ngay từ khi giao kết
Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia giao dịch cũng như đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên, pháp luật cũng quy định:
Trong trường hợp điều kiện làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự không thể xảy ra được do hành vi cố ý cản trở của một bên hoặc của người thứ ba thì coi như điều kiện đó đã xảy ra; nếu
có sự tác động của một bên hoặc của người thứ ba cố ý thúc đẩy cho điều kiện để làm phát sinh hoặc hủy bỏ giao dịch dân sự xảy ra thì coi như điều kiện đó không xảy ra [35, Điều 125]
1.2 ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA GIAO DỊCH DÂN SỰ
1.2.1 Điều kiện về chủ thể
Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật dân sự 2005 thì: "người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự" [35, Điều 122] Khái niệm "người" được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tất cả các chủ thể tham gia giao dịch dân
sự như: cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác
1.2.1.1 Đối với chủ thể là cá nhân
Cá nhân được coi là chủ thể phổ biến của các giao dịch dân sự Có thể nói cá nhân tham gia hầu hết tất cả các giao dịch dân sự, kể cả với các giao dịch dân sự trong đó chủ thể là pháp nhân hay các tổ chức khác, thì cá nhân vẫn tham gia với tư cách người đại diện
Trang 18Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Vì vậy, giao dịch dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực nếu phù hợp với năng lực hành vi dân sự của cá nhân Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự
Căn cứ vào khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cũng như khả năng thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cá nhân, pháp luật nước ta quy định năng lực hành vi dân sự của cá nhân từ Điều 17 đến Điều 23 Bộ luật dân sự 2005 như sau:
- Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được quyền xác lập mọi giao dịch dân sự, trừ trường hợp họ bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi [35, Điều 22], tuyên bố hạn chế năng lực hành vi [35, Điều 23]
- Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày [35, Điều 20]
- Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi được xác lập các giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác [35, Điều 20] (ví dụ: lập di chúc phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý)
- Những người chưa đủ 6 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự không được phép xác lập mọi giao dịch dân sự Các giao dịch dân sự của những người này đều do người đại diện theo pháp luật thực hiện
1.2.1.2 Đối với các chủ thể khác
Các chủ thể khác của giao dịch dân sự đó là: Pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình
Trang 19- Pháp nhân chỉ tham gia các giao dịch phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của pháp nhân trong phạm vi điều lệ hoạt động của pháp nhân đó [35, Điều 86]
- Hộ gia đình chỉ tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền
sử dụng đất, đến hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác theo quy định của pháp luật [35, Điều 106]
- Tổ hợp tác chỉ tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ hợp tác được xác định trong hợp đồng [35, Điều 111]
Với tính chất là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự được tạo nên bởi sự liên kết của nhiều cá nhân đơn lẻ, độc lập nên khi xác lập hoặc thực hiện một giao dịch dân sự, chủ thể đó nhất thiết phải thông qua vai trò của người đại diện của mình
Hành vi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự do người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác chỉ được coi là hành vi của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nến những hành
vi này được tiến hành phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động của chủ thể đó hoặc được ghi nhận trong quyết định thành lập pháp nhân hay trong bản điều lệ của pháp nhân
Hành vi pháp lý do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện thì về nguyên tắc nó sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện Nó chỉ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện nếu được người đó đồng ý
Hành vi pháp lý do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, nó sẽ không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại diện, trừ trường hợp người đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối Tuy nhiên, trong trường hợp không được sự đồng ý của người được đại diện thì người đại diện
Trang 20vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đối với người đã giao dịch với mình về phần giao dịch vượt quá phạm vi đại diện
1.2.2 Điều kiện về nội dung, mục đích
Theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì "mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội" [35, Điều 122]
Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà một hoặc các bên xác lập giao dịch đó đưa ra hoặc thỏa thuận với nhau Các điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể tham gia vào giao dịch đó, đồng thời cũng có thể xác định trách nhiệm dân sự của các chủ thể trong trường hợp các chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cam kết
Mục đích của giao dịch dân sự là nhu cầu hay những lợi ích về mặt vật chất hay tinh thần mà các chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia vào một giao dịch dân sự Không thể có giao dịch dân sự mào mà người tham gia xác lập, thực hiện nó không có mục đích nhất định Mục đích này sẽ đạt được khi
nó được thể hiện thông qua các điều khoản của giao dịch và các bên thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết khi xác lập giao dịch
Ngoài ra, không phải lúc nào mục đích của các bên tham gia giao dịch cũng được thể hiện rõ ràng chính xác thông qua nội dung của hợp đồng Trong trường hợp đó cần phải làm sáng tỏ mục đích của giao dịch và cần phân biệt mục đích với động cơ của giao dịch dân sự Động cơ được hiểu là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy những suy nghĩ, hành động Động cơ xác lập giao dịch là nguyên nhân thúc đẩy các bên tham gia xác lập giao dịch, nó không phải là yếu tố bắt buộc của giao dịch dân sự như mục đích Vì vậy, nếu không làm rõ được mục đích của giao dịch hoặc mục đích không đạt được thì giao dịch đó coi như vô hiệu, sẽ không làm phát sinh bất cứ quyền và nghĩa
Trang 21vụ nào, vì mục đích của giao dịch dân sự là yếu tố bắt buộc để giao dịch có hiệu lực pháp lý
Khi tham gia các giao dịch dân sự thì mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội [35, Điều 128] Theo đó, điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định (ví dụ như các giao dịch nhằm thực hiện hành vi phạm tội như giết người, gây thương tích…) Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hộ, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Tóm lại, một giao dịch dân sự muốn được coi là có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch dân sự đó phải không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội
1.2.3 Điều kiện về ý chí
Đây là điều kiện được xây dựng dựa trên cơ sở nguyên tắc "tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận", một trong những nguyên tắc cơ bản của luật dân
sự được ghi nhận tại Điều 4 Bộ luật dân sự 2005
Bản chất của giao dịch dân sự là hành vi có ý chí nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ mà các bên mong muốn đạt được Do vậy, có thể nói bản chất của giao dịch dân sự là sự tự nguyện xác lập giao dịch, thể hiện qua sự thống nhất giữa ý chí và tuyên bố ý chí của chủ thể mà không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ một tác động nào từ bên ngoài Ý chí tự nguyện của chủ thể là tiền
đề quan trọng để hình thành giao dịch Nhưng giao dịch chỉ hợp pháp khi được pháp luật công nhận mới phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự trên thực
tế Vì vậy, quy định của Bộ luật dân sự 2005 đã coi yếu tố tự nguyện là một trong bốn điều kiện cơ bản không thể thiếu được trong giao dịch dân sự có hiệu lực: "người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện" [35, Điều 122]
Trang 22Để xác định một chủ thể tham gia giao dịch có hoàn toàn tự nguyện hay không thì điều kiện cần là người đó được pháp luật cho phép tham gia giao dịch và điều kiện đủ là hành vi tham gia giao dịch của các chủ thể phải là thể hiện ý chí đích thực của mình
Sự tự nguyện của các bên trong giao dịch dân sự được thể hiện ở việc các bên tham gia giao dịch có quyền tự do ý chí và bày tỏ ý chí Khi chủ thể xác lập giao dịch dân sự thì yêu cầu đầu tiên của pháp luật là các chủ thể đó phải tự do và tự nguyện Chỉ có tự do ý chí và không chịu bất kỳ sự ràng buộc nào thì chủ thể mới đích thực được thỏa thuận Trong giao dịch dân sự, tự do
ý chí có nghĩa là chủ thể tham gia giao dịch có quyền:
- Quyền tự do ý chí về việc thỏa thuận kí kết hợp đồng với ai, với nội dung gì và có nghĩa vụ ràng buộc với các chủ thể tham gia
- Quyền tự do thỏa thuận các nội dung giao dịch dân sự theo ý muốn của các chủ thể như: thời gian, địa điểm thực hiện, phương thức thực hiện, điều kiện thực hiện giao dịch…
- Quyền tự do lựa chọn hình thức giao dịch như: bằng văn bản, lời nói, hành vi, trừ trường hợp pháp luật bắt buộc một số giao dịch phải tuân theo một hình thức nhất định
Các bên phải được biểu lộ ý chí một cách thoải mái và trung thực theo đúng ý chí và mong muốn của mình, nghĩa là phải có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và biểu lộ ra bên ngoài, không bị áp đặt bởi bất cứ một lý do nào khác như bị khống chế, bị đe dọa, bị lừa dối… Nếu trong trường hợp ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch bị áp đặt, cấm đoán bởi sự tác động của người khác hoặc ngoại cảnh để dẫn đến chủ thể tham gia giao dịch không thực sự thể hiện được ý chí của mình trong giao dịch dân sự thì họ hoàn toàn
có quyền không chấp nhận giao dịch đó, tự mình hoặc yêu cầu tòa án tuyên
bố vô hiệu
Trang 23Pháp luật dân sự Việt Nam dựa trên nguyên nhân cơ bản dẫn đến giao dịch dân sự vi phạm yếu tố tự nguyện, tức là không có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí như sau:
- Chủ thể tham gia giao dịch cố tình không thể hiện đúng ý chí thực của mình nhằm trốn tránh pháp luật hoặc vì một lý do khác Ví dụ trong trường hợp các bên xác lập giao dịch bán nhà nhưng khi làm thủ tục sang tên trước bạ thì đã thỏa thuận với nhau ghi giá bán trong hợp đồng thấp hơn với giá thực tế để giảm thuế trước bạ Đây là trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do giả tạo Trong giao dịch này, các bên tham gia xác lập giao dịch đã thông đồng với nhau thể hiện ý chí ra ngoài không đúng với ý chí của mình nhằm mục đích trốn thuế
- Chủ thể tham gia giao dịch không bày tỏ được ý chí thực của mình
là do bị tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài Khác với nguyên nhân trên, hành
vi vi phạm sự tự nguyện xuất phát từ chính sự mong muốn của các chủ thể tham gia xác lập giao dịch Trong trường hợp này, chủ thể tham gia không thể bày tỏ được ý chí của mình là do ngoại cảnh tác động (lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn) Cụ thể trong trường hợp đe dọa, chủ thể bị đe dọa bắt buộc phải xác lập theo ý chí của bên đe dọa vì lo ngại cho vật chất, thể chất và tinh thần của mình hoặc cha, mẹ, vợ chồng, con mình
Như vậy, sự tự nguyện về ý chí trong giao dịch dân sự chính là sự thống nhất giữa tự do ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể khi tham gia vào một giao dịch dân sự nhất định
1.2.4 Điều kiện về hình thức
Hình thức của giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định của chủ thể tham gia giao dân sự Thông qua hình thức biểu hiện này bên đối tác và người thứ ba biết được nội dung của giao dịch đã xác lập Hiện nay, giao dịch dân sự có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản
Trang 24Thông thường, pháp luật của các nước trên thế giới quy định giao dịch dân sự phải tuân thủ quy định về hình thức theo các khuynh hướng sau:
- Khuynh hướng thứ nhất là: đòi hỏi một số giao dịch phải được thể hiện bằng hình thức nhất định, nếu vi phạm hình thức thì giao dịch sẽ bị vô hiệu (như pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, Thái Lan…) Trong pháp luật của Cộng hòa Liên bang Đức, những đòi hỏi đầu tiên đưa ra là khi giao kết, giao dịch phải tuân thủ nghiêm ngặt những điều kiện về hình thức, nếu không tuân thủ những quy định này thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu tuyệt đối
Pháp luật của Thái Lan lại quy định: "Một hành vi pháp lý không theo đúng
hình thức quy định của pháp luật thì vô hiệu" [2, Điều 115]
- Khuynh hướng thứ hai là: không coi hình thức là điều kiện xác định hiệu lực của bất kỳ một giao dịch nào Trong bộ luật dân sự nước Cộng hòa Pháp không có một điều khoản nào quy định khi hợp đồng không tuân thủ các quy định về hình thức sẽ dẫn tới vô hiệu Theo Bộ luật dân sự của Nhật Bản thì nguyên tắc tự do giao dịch dân sự thừa nhận cả việc tự do lựa chọn về hình thức giao kết: "Mặc dù nhà nước yêu cầu tuân thủ hình thức đặc biệt thì giao dịch pháp lý vẫn hoàn toàn có đặc điểm không theo một hình thức bắt buộc nào" [53, tr 118]
Ở Việt Nam, Bộ luật dân sự 2005 quy định: "Hình thức giao dịch dân
sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định" [35, Điều 122] Có thể thấy, các nhà lập pháp của nước ta đi theo khuynh hướng thứ nhất Tuy nhiên, quy định này còn có những hạn chế nhất định Bởi lẽ:
Hình thức giao dịch thực chất chỉ là cách thể hiện ý chí của các bên tham gia giao dịch dân sự ra bên ngoài, cũng là cơ sở để tạo nên chứng cứ khi
có tranh chấp và góp phần bảo đảm an toàn trong giao lưu dân sự Tuy nhiên, quy định giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức thì vô hiệu tuyệt đối sẽ tạo nên một khoảng cách nhất định giữa sự thống nhất ý chí thực
Trang 25và hiệu lực của giao dịch Bên cạnh đó, nếu các chủ thể tham gia giao dịch không tuân thủ quy định về hình thức sẽ dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu là không phù hợp với tình hình thực tế, như việc quy định hình thức của giao dịch mua bán bất động sản Hiện nay, việc thực hiện những quy định về hình thức đối với hợp đồng mua bán, chuyển nhượng nhà, đất rất khó khăn, phức tạp Mặt khác, có trường hợp lại xuất phát từ yếu tố chủ quan của các bên, chẳng hạn khi mua bán nhà hai bên hoàn toàn tự nguyện nhưng khi làm thủ tục thì giá nhà có biến động; vì muốn bảo vệ lợi ích của mình nên một bên yêu cầu hủy hợp đồng… Khi xảy ra tranh chấp này mà tất cả các trường hợp Tòa án đều tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không công bằng
1.3 KHÁI NIỆM GIAO DỊCH DÂN SỰ VI PHẠM SỰ TỰ NGUYỆN VỀ Ý CHÍ
Trong các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình, con người phải biểu hiện ý chí để vượt qua những khó khăn, trở ngại Ý chí từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo các nhà tâm lý học thì: "Ý chí là mặt năng động của ý thức biểu hiện ở năng lực thực hiện hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn" [47, tr 121]
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì ý chí là phẩm chất tâm
lý đặc trưng của người một thuộc tính tâm lý của nhân cách, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn
Trong giao dịch dân sự, ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của mỗi chủ thể mà nội dung của nó là được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân chủ thể tham gia giao dịch Ý chí của các bên tham gia giao dịch dân sự giữ một vai trò quan trọng trong cuộc sống bởi các giao dịch dân sự diễn ra hàng ngày, hàng giờ để đáp ứng những nhu cầu khác nhau của con người Ý chí được biểu hiện ra bên ngoài dưới một
Trang 26hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của họ khi tham gia giao dịch dân sự cụ thể Tuy nhiên ý chí phải được thể hiện dưới hình thức phù hợp với các quy định của pháp luật và phải có sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí giữa các bên tham gia giao dịch Ý chí của chủ thể trong giao dịch dân sự là yếu tố cơ bản với mục đích thỏa mãn một nhu cầu thiết yếu nào đó của bản thân chủ thể Muốn đạt được những mục đích đó chủ thể tham gia giao dịch phải có năng lực hành vi dân sự để điều khiển ý chí và lý trí của mình
Ý chí của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật dân sự nói chung và quan hệ dân sự nói riêng phải phù hợp với ý chí của nhà nước được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật Bởi vậy, trong các giao dịch dân sự "ý chí của các chủ thể và ý chí của nhà nước kết hợp lại, ý chí của cá nhân phụ thuộc vào ý chí của nhà nước" [22]
Giao dịch dân sự là hành vi mang ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Các bên tham gia giao dịch tự đặt mình vào cam kết, có cam kết đặt ra theo ý chí của một bên, có cam kết thể hiện ý chí của hai hay nhiều bên Tuy nhiên, khi xác lập và thự hiện giao dịch dân sự các chủ thể tham gia giao dịch phải tự nguyện Sự tự nguyện có thể hiểu một cách đơn giản là sự lựa chọn và hành động tự do trong ý thức, bắt nguồn từ những tác nhân được xem xét dựa trên lý trí để đạt đến một mục đích nào đó Theo cách này, tự nguyện chính là việc chủ thể điều khiển được chính bản thân trong những hành động và quyết định của chính mình
Trong các giao dịch dân sự, sự tự nguyện được hiểu là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể Tự do ý chí và bày tỏ ý chí là hai mặt của sự tự nguyện Khi tham gia giao dịch thì sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí phải thống nhất với nhau như hai mặt của một vấn đề
Tự do ý chí thể hiện ra bên ngoài là việc tự do lựa chọn phương thức
để đạt được mục đích đặt ra theo ý chí của người cam kết Tự do ý chí và thể
Trang 27hiện ý chí là ý muốn và sự lựa chọn phương thức để đạt được ý muốn trong điều kiện có thể của người tham gia giao dịch Ý chí đó nếu chưa được bộc lộ
ra bên ngoài thì vẫn là ý tưởng chủ quan của chủ thể, nó mới chỉ là động lực bên trong thúc đẩy các chủ thể có tham gia giao dịch hay không Để biến ý tưởng chủ quan đó thành hiện thực thì các chủ thể phải hành động, tức là ý chí của họ phải được thể hiện ra bên ngoài và người khác có thể thấy được nội dung của ý chí đó
Tất cả các giao dịch dân sự đều có một đặc điểm chung là sự thống nhất giữa tự do ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Giao dịch dân sự là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch
Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội dung của nó được xác định bởi nhu cầu nhất định của bản thân họ Ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải được thể hiện
ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác biết được mục đích, động cơ và nội dung cụ thể của giao dịch dân sự Bởi vậy, giao dịch dân
sự không thể thiếu sự thống nhất ý chí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch Điều này không chỉ đúng với các giao dịch dân sự có chủ thể là
cá nhân mà còn đúng với các chủ thể khác như pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình Bởi vì khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại diện Người đại diện xác lập giao dịch phải thể hiện được ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện
Theo Từ điển tiếng Việt thì vi phạm tức là làm trái quy định Ở đây,
có thể hiểu vi phạm sự tự nguyện về ý chí của chủ thể là không có sự thống nhất giữa tự do ý chí và bày tỏ ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự Sự
vi phạm này có thể do lỗi vô ý hoặc cố ý của các bên tham gia giao dịch
Pháp luật dân sự nước ta quy định, một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự là người tham gia giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện Vì
Trang 28vậy, hành vi vi phạm sự tự nguyện về ý chí sẽ có thể dẫn đến giao dịch dân sự
bị vô hiệu Vi phạm sự tự nguyện về ý chí là sự không thống nhất giữa ý chí thực và biểu hiện của ý chí (bày tỏ ý chí) ra bên ngoài của các chủ thể Sự không thống nhất đó có thể do yếu tố bên ngoài tác động hoặc do yếu tố chủ quan bên trong của con người
Như vậy, giao dịch dân sự vi phạm sự tự nguyện về ý chí là giao dịch dân sự mà ý chí của các chủ thể trong giao dịch đó không có sự thống nhất giữa ý chí bên trong và bày tỏ ý chí ra bên ngoài của một hoặc các bên tham gia giao dịch Sự vi phạm đó có thể dẫn đến hậu quả pháp lý là làm vô hiệu giao dịch dân sự
Trang 29Dựa vào nguyên nhân của sự vi phạm, thì giao dịch dân sự vi phạm sự
tự nguyện về ý chí của chủ thể được chia thành các loại sau: giao dịch dân sự
do nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, giả tạo và giao dịch dân sự được xác lập do người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình
2.1.1 Giao dịch dân sự nhầm lẫn
Theo nghĩa thông thường, "nhầm lẫn" là sự nhận thức hay đánh giá không đúng của chủ thể về thực tế sự vật, sự việc; là "tưởng nó là thế này nhưng thực chất nó là thế khác" Trong đời sống thường nhật, nhầm lẫn là
khả năng mà ai cũng có thể gặp phải Đôi khi nhầm lẫn không gây ra hậu quả
mà có thể tạo cơ hội tốt chẳng hạn có được thêm bạn, nhưng nhiều lúc hậu quả sẽ rất nặng nề như việc nhầm xăng với nước khi dập đám cháy
Trong khoa học pháp lý, có nhiều cách hiểu khác nhau về nhầm lẫn
Có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn là sự thể hiện không chính xác ý muốn đích thực của các bên, hay nói cách khác đó là "sự không trùng khớp giữa ý chí được thể hiện với mong muốn thật của người thể hiện ý chí" [24, tr 283] Cũng có cách hiểu cho rằng nhầm lẫn là một giả thiết sai lầm liên quan đến sự việc hoặc luật lệ tồn tại vào thời điểm xác lập giao dịch, hoặc nhầm lẫn là sự không phù hợp giữa niềm tin và thực tế, nói cách khác là cái nghĩ trong đầu khác với cái xảy ra trong thực tế Dù cách thể hiện bằng ngôn ngữ có khác nhau nhưng nội dung của khái niệm nhầm lẫn về cơ bản được hiểu như nhau, đó là
sự không phù hợp giữa sự thể hiện ý chí của chủ thể với thực tế của sự việc
Trang 30Để xem xét một cách chính xác có yếu tố "nhầm lẫn" trong khi xác lập giao dịch dân sự, ta cần nhìn nhận sự "nhầm lẫn" ở hai khía cạnh:
- Ở khía cạnh khách quan, người ta phải đặt một người bình thường vào vị trí của người tin nhầm để xác định trong hoàn cảnh tương tự người đó
có nhận thức, đánh giá như thế nào về nội dung của giao dịch Từ đó, đánh giá xem sự tin nhầm liệu có phải là vô lý hay khó chấp nhận không?
- Ở khía cạnh chủ quan, người ta cần xem xét mối quan hệ giữa sự nhầm lẫn của người đó trong mối tương quan với khả năng nhận thức, năng lực chuyên môn của người đó Từ đó, đánh giá xem sự tin nhầm của người đó
có phải là từ sự cẩu thả, sơ suất hay không?
Theo pháp luật nước ta, nhầm lẫn có thể là một căn cứ tuyên giao dịch dân sự bị vô hiệu Theo Điều 131 Bộ luật dân sự 2005:
Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn
có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa
án tuyên bố giao dịch vô hiệu Trong trường hợp một bên do lỗi cố
ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này [35, Điều 131] Dựa vào tinh thần điều luật trên, Giáo trình của Trường Đại học Luật
Hà Nội cho rằng: "Nhầm lẫn là việc các bên hình dung sai về nội dung của giao dịch mà tham gia vào giao dịch gây thiệt hại cho mình hoặc cho bên kia" [49, tr.27] Và đưa ra các điều kiện để giao dịch dân sự xác lập do nhầm lẫn bị vô hiệu bao gồm: Phạm vi của nhầm lẫn là nội dung giao dịch và đối tượng của
sự việc; Sự nhầm lẫn phải gây ra thiệt hại cho một trong các bên, phải được thể hiện rõ ràng, phải xác định được căn cứ vào nội dung giao dịch, bên bị nhầm lẫn phải chứng minh được sự nhầm lẫn đó [49, tr 27]
Trang 31Dân luật Nhật Bản phân biệt nhầm lẫn trong giao dịch dân sự làm ba loại: (1) Nhầm lẫn trong sự thể hiện là sự nhầm lẫn về các điểm chú thích hoặc con số (ví dụ: thay vì 10 đô la lại viết thành 10 bảng Anh) (2) Nhầm lẫn về nội dung (ví dụ: cho rằng đơn vị dặm thường và đơn vị dặm biển là một) (3) Nhầm lẫn về động cơ Trong đó, nhầm lẫn về nội dung chủ yếu dẫn đến tính vô hiệu của giao dịch [53, tr 136] Như vậy, dân luật Nhật Bản khá tương đồng
về sự nhầm lẫn gây ra việc vô hiệu của giao dịch dân sự với luật Việt Nam
Luật La Mã phân nhầm lẫn thành 5 loại [5] Bao gồm:
- Nhầm lẫn về đối tượng (error in corpore): là nhầm lẫn về sự vật, công việc làm đối tượng của giao dịch
- Nhầm lẫn về bản chất pháp lý của giao dịch (error in negoto): là nhầm lẫn giữa hai loại giao dịch có bản chất pháp lý khác nhau Ví dụ: nhầm hợp đồng gửi giữ và hợp đồng tặng cho tài sản
- Nhầm lẫn về bản chất đồ vật (error in substantia): là nhầm lẫn về thực chất của đồ vật
- Nhầm lẫn về người (error in persona): là việc xác lập giao dịch dân
sự với người này lại tưởng nhầm giao kết với người khác
- Nhầm lẫn về giá cả
Bộ luật dân sự Bắc Kì 1931 và bộ luật dân sự Trung Kì 1936 chia nhầm lẫn thành hai loại:
- Nhầm lẫn cản trở là sự nhầm lẫn cản trở sự thống nhất ý chí giữa các bên Bao gồm: nhầm lẫn bản chất giao dịch, đối tượng giao dịch, người đối ước, nguyên nhân giao dịch Nhầm lẫn cản trở là cả hai người đều hiểu lầm ý của nhau, vì thế không thể có sự thống nhất ý chí các bên
- Nhầm lẫn khiếm khuyết là khi các bên chủ thể đều phù hợp với nhau trên các điểm chính, nhưng thật ra một bên đã đồng ý cam kết bị nhầm lẫn trên một vài điểm của giao dịch Trường hợp này giao dịch được thiết lập hợp
Trang 32pháp với đủ các yếu tố, nhưng để bảo vệ quyền lợi của chủ thể giao kết pháp luật cho phép bên bị nhầm lẫn được khởi kiện xin hủy hợp đồng [1, tr 32]
Người ta cũng có thể dựa trẽn tiêu chí một hay nhiều người tham gia vào sự nhầm lẫn để phân loại nhầm lẫn như sau:
- Nhầm lẫn đơn phương là khi một bên bị nhầm lẫn và bên khác biết sự nhầm lẫn đó Ví dụ, A bán cho B một nhẫn kim cương, B tin đó là kim cương
tự nhiên A biết rằng đó không phải là kim cương tự nhiên và biết B nhầm
- Nhầm lẫn đối với nhau là khi các bên chủ thể đều bị hiểu nhầm nhưng là hiểu nhầm về các vấn đề khác nhau Ví dụ: A tưởng B cho mình chiếc xe máy trong khi đó là hợp đồng gửi giữ B lại nghĩ mình xác lập hợp đồng gửi giữ không công
- Nhầm lẫn chung là khi các bên chủ thể có cùng một nhầm lẫn về một hoặc một số vấn đề Sự nhầm lẫn này khiến cho các chủ thể đã xác lập giao dịch Mỗi bên giao dịch đều xác lập giao dịch khác với ý chí thực của mình
Vấn đề nhầm lẫn không loại trừ các giao dịch dân sự mang yếu tố nước ngoài Loại giao dịch này có đặc thù là vượt ra khỏi biên giới mỗi quốc gia Do đó vấn đề áp dụng pháp luật nước nào để điều chỉnh là khá phức tạp
và ảnh hưởng khá lớn đến quyền lợi của chủ thể Điều 3.4 Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế quy định: "Nhầm lẫn là một nhận thức nhầm liên quan tới các sự kiện hoặc pháp luật đang tồn tại khi hợp đồng được giao kết" Theo đó nhầm lẫn gồm:
- Nhầm lẫn về sự kiện (mistake of fact) là sự hiểu sai về nội dung sự việc
- Nhầm lẫn về luật (mistake of law) là sự hiểu sai về luật áp dụng đưa đến một cam kết không đúng với mong muốn của chủ thể Và chỉ có nhầm lẫn
về sự kiện mới làm giao dịch vô hiệu Nhầm lẫn về luật sẽ không làm giao dịch dân sự không phát sinh hậu quả pháp lý Bởi theo nguyên tắc thì không
ai được xem là không biết luật Trừ khi đương sự chứng minh được trước Tòa
Trang 33án rằng rơi vào trường hợp cho là không biết pháp luật nước ngoài hoặc được cho là không biết các quyền tư thậm chí chúng là các quyền có tính pháp lý
Tóm lại:
- Bộ luật dân sự 2005 không đưa ra khái niệm về nhầm lẫn mà chỉ đưa
ra sự nhầm lẫn đơn phương là yếu tố dẫn đến sự vô hiệu của giao dịch dân sự Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất nhiều trường hợp giao dịch dân sự được xác lập do sự nhầm lẫn của cả hai bên tham gia mà pháp luật nước ta lại không điều chỉnh
Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng, như chúng ta đã biết đòi hỏi mang tính cốt lõi của hợp đồng là sự thể hiện ý chí chung Trong trường hợp cả hai bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng thì rõ ràng không có sự trùng khớp ý chí chung đích thực của cả hai bên với những
gì họ thể hiện trong nội dung cam kết Vì vậy, không thể coi sự nhầm lẫn song phương là yếu tố có thể dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự
- Bộ luật dân sự 2005 không quy định mức độ nhầm lẫn như thế nào thì sẽ dẫn đến vô hiệu giao dịch dân sự Vì vậy có thể hiểu rằng bất kì một nhầm lẫn nào về nội dung của giao dịch (cho dù sự nhầm lẫn đó mang tính chất quyết định hay không mang tính chất quyết định đến việc giao kết hợp đồng) đều có thể dẫn đến hợp đồng vô hiệu
Bộ luật dân sự 1995 có cách tiếp cận khác về sự nhầm lẫn trong giao dịch dân sự Điều 141 quy định: "khi một bên do nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của giao dịch mà xác lập giao dịch " [31, Điều 141] Như vậy, Bộ luật dân sự 1995 chỉ coi các nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợp đồng là yếu tố
có thể dẫn tới sự vô hiệu Như vậy, so với luật trước đó, Bộ luật dân sự 2005
đã sửa đổi lại theo hướng: giao dịch có thể bị tuyên bố vô hiệu ngay cả khi chỉ
có sự nhầm lẫn về nội dung không chủ yếu của giao dịch
- Nhầm lẫn phải tồn tại ở thời điểm "xác lập giao dịch" Điều đó có nghĩa là "nhận thức" của bên nhầm lẫn về nội dung của hợp đồng và "sự thật"
Trang 34về nội dung này phải được xác định tại thời điểm "xác lập giao dịch" Tại thời điểm này chúng ta phải biết cụ thể "nhận thức" của bên cho rằng nhầm lẫn là
gì và "thực sự" về nội dung của hợp đồng tại thời điểm này như thế nào Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng ta không được sử dụng những thông tin nảy sinh sau thời điểm này Trong thực tế chúng ta thường phải khai thác những thông tin phát hiện sau để biết giao dịch dân sự có nhầm lẫn hay không Nhận thức của một người đối với một sự việc có thể thay đổi theo thời gian nên thời điểm nhận thức của họ cần phải xác định một cách chính xác Như đã nói ở trên, phải xác định nhận thức này vào thời điểm giao kết hợp đồng
- Nhầm lẫn được xác định do lỗi vô ý Điều 141 Bộ luật dân sự 1995 quy định về nhầm lẫn đã không xác định yếu tố lỗi khi xác lập giao dịch Tuy nhiên, Bộ luật dân sự 2005 lại có sự sửa đổi theo hướng phân biệt trường hợp nhầm lẫn khi tham gia giao dịch dân sự do sự vô ý hoặc do sự cố ý của một bên như sau:
Nếu một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu
Nếu một bên có lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự thì giao dịch đó được giải quyết theo quy định tại điều 132 của Bộ luật dân sự 2005, hay có thể xác định đây là một giao dịch bị lừa dối
Nhầm lẫn có thể là yếu tố dẫn đến hợp đồng vô hiệu khi bên nhầm lẫn
có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó nhưng không được chấp nhận Ví dụ: A bán một chiếc bình cổ đời nhà Thanh cho B với giá
50 triệu đồng Nhưng sau khi bán A mới biết đó là bình cổ đời nhà Minh và
có giá lên tới 100 triệu đồng A đã yêu cầu B đưa thêm cho mình 50 triệu đồng đúng với giá trị thực của chiếc bình Nếu yêu cầu của A không được chấp nhận thì A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu
Trang 352.1.2 Giao dịch dân sự lừa dối
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, "lừa dối" là lừa bằng thủ đoạn nói dối,
gian lận để làm cho người ta nhầm tưởng mà nghe theo, tin theo [52, tr 1068]
Về mặt khái niệm, lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người này đối với người khác nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề mà quyết định một việc gì đó theo mục đích của người lừa dối
Thuật ngữ pháp lý "lừa dối" được hình thành từ thời La Mã Cổ luật
La Mã lúc đầu coi lừa dối như một tội phạm hình sự, theo đó những kẻ lừa dối sẽ bị trừng phạt đối với những sự lừa dối mang tính quan trọng Dần dần lừa dối đã được sử dụng trong lĩnh vực dân sự và xem nó như một trong các yếu tố có thể làm cho hợp đồng vô hiệu Tuy nhiên, Luật La Mã coi quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu chỉ có thể hành xử khi sự lừa dối xuất phát từ người đối ước, chứ không do một người thứ ba [42]
Quan niệm này cũng được cổ luật Việt Nam kế thừa Điều 659 Bộ luật dân sự Bắc Kỳ 1931 quy định: "khi nào có một bên lập mưu đánh lừa bên kia, đến nỗi giá không có mưu đó bên kia không giao ước thì sự đánh lừa đó là một duyên cớ làm cho hiệp ước vô hiệu" Bộ luật dân sự Trung Kỳ 1936 nhắc lại nguyên văn tại điều thứ 695 Điều 668 Bộ luật dân sự 1972 diễn giải lại với nội dung tương tự: "sự gian trá chỉ là một nguyên nhân làm cho khế ước
vô hiệu nếu những mưu gian, chước dối của một bên là nguyên nhân chính thúc đẩy bên kia kết ước"
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì lừa dối trong giao dịch dân sự là: "hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó" [35, Điều 132]
Như vậy, rõ ràng một người có hành vi lừa dối thì không thể coi là trung thực được, quy định này của pháp luật là một trong những sự thể hiện của nguyên tắc tự do tự nguyện giao kết hợp đồng, thể hiện được sự phù hợp
Trang 36với pháp luật và thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn Theo đó, sự lừa dối chỉ
là điều kiện để giao dịch không có hiệu lực pháp luật khi có các yếu tố sau:
- Người lừa dối có thể là người thứ ba hoặc là người trực tiếp xác lập giao dịch Có thể hiểu, hành vi lừa dối phải do một bên tham gia giao dịch dân sự hoặc người thứ ba thực hiện Như vậy, so với quy định tương ứng tại Điều 142 Bộ luật dân sự 1995 thì Bộ luật dân sự 2005 đã bổ sung quy định nếu người thứ ba có hành vi lừa dối người khác phải tham gia giao dịch dân
sự thì cũng làm giao dịch dân sự vô hiệu Đây là một bước tiến hợp lý của các nhà lập pháp nước ta Tuy nhiên, một bên tham gia giao dịch có phải biết về
sự lừa dối này hay chỉ cần có hành vi gian dối của người thứ ba mà các bên tham gia không hề biết vẫn được xác định là giao dịch dân sự bị lừa dối Có hai cách hiểu về vấn đề này như sau:
Cách hiểu thứ nhất: hành vi lừa dối không do một bên giao kết thực hiện nhưng đã biết về hành vi đó nhưng vẫn xác lập giao dịch với bên kia thì giao dịch này được coi là giao dịch lừa dối Nghĩa là, chỉ được xác định là giao dịch lừa dối do hành vi của người thứ ba khi một bên giao dịch biết về điều này Trong trường hợp mà giao dịch được xác định do hành vi lừa dối của người thứ ba mà hai bên đều không biết về điều này thì giao dịch đó có thể coi là cả hai bên đều bị nhầm lẫn
Cách hiểu thứ hai: có thể xác định giao dịch dân sự bị lừa dối trong trường hợp cả hai bên đều không biết về sự lừa dối đó Vì quy định tại Điều 132
Bộ luật dân sự 2005 chỉ nêu rằng có thể do hai chủ thể thực hiện đó là: Một bên tham gia hoặc người thứ ba mà không hề có mối liên hệ nào giữa hai đối tượng này
Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng ý với các hiểu thứ hai, nghĩa là
có thể xác định một giao dịch được xác lập do bị lừa dối trong trường hợp hành vi gian dối của người thứ ba mà các bên xác lập đều không biết Còn trường hợp một bên giao dịch biết về sự lừa dối đó thì được coi như chính người xác lập giao dịch đã thực hiện hành vi đó Có thể đưa ra ví dụ sau:
Trang 37A bán cho B một chiếc đồng hồ cổ Tuy nhiên, do C có xích mích với B, lại nói với A và B rằng đó là chiếc đồng hồ cổ rất quý hiếm, giá của chiếc đồng hồ đó cao hơn nhiều so với giá ban đầu hai bên đã thỏa thuận Do không
có hiểu biết nhiều về đồng hồ cổ nên A và B đã tin lời C và xác lập giao dịch với giá cao hơn đó Như vậy, ở đây rõ ràng có sự lừa dối của C - người thứ ba trong giao dịch giữa A và B, nhưng lại có các cách hiểu khác nhau:
Cách thứ nhất cho rằng: do cả A và B đều không biết là C đã lừa dối mình nên trong trường hợp này xác định A và B đều nhầm lẫn về đối tượng của giao dịch, nên xác định là giao dịch được xác lập do sự nhầm lẫn
Cách thứ hai cho rằng: ở đây có sự lừa dối của C nên A và B mới tham gia giao dịch này Nhầm lẫn này do lỗi cố ý của người thứ ba nên giao dịch này phải được xác định là giao dịch lừa dối
Như vậy, trong trường hợp này, không thể coi là có sự nhầm lẫn khi xác lập giao dịch vì lí do sau: đã có hành vi gian dối của C làm cho A và B ký kết hợp đồng, chính hành vi gian dối này đã làm cho B mua chiếc đồng hồ cao hơn nhiều so với giá trị thực của nó, nên phải xác định đây là giao dịch bị lừa dối mới chính xác và hợp lý Mặt khác, với quy định về nhầm lẫn hiện nay thì không có đủ điều kiện để tuyên bố giao dịch trên là vô hiệu
- Người lừa dối thực hiện hành vi lừa dối một cách cố ý, có ý thức và mong muốn có được sự chấp nhận xác lập giao kết dân sự của người bị lừa dối Lừa dối chỉ được coi là yếu tố dẫn đến vô hiệu hợp đồng khi một bên cố
ý làm cho bên kia phải giao kết hợp đồng không theo ý muốn thực
Hành vi lừa dối của các chủ thể có thể mang tính chủ động (tích cực) hoặc mang tính bị động (tiêu cực) Lừa dối mang tính chủ động khi người lừa dối thực hiện những hành vi như tổ chức, thực hiện hoặc đồng lõa trong việc cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng tài liệu giả, nói dối… làm cho người bị lừa dối nghĩ về sự việc quá lên so với thực tế khách quan Lừa dối được coi là mang tính bị động hay tiêu cực trong trường hợp người lừa dối im lặng không
Trang 38bày tỏ quan điểm của mình về một yếu tố quan trọng của giao dịch nhằm hưởng lợi từ việc người bị lừa dối chấp nhận xác lập giao dịch dân sự
Pháp luật của một số nước trong một số trường hợp coi sự kiện không nói ra điều mà người tham gia có trách nhiệm phải nói khi xác lập giao dịch cũng được coi là hành vi gian trá và trong một số trường hợp pháp luật cũng thừa nhận việc khai gian hay im lặng trong trường hợp xét một cách hợp lý phải thông tin cho người cùng giao kết biết là lừa dối Khi đưa ra nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế, Unidroit đã ghi nhận nguyên tắc:
Một bên trong hợp đồng được phép vô hiệu hợp đồng, nếu bên đó giao kết hợp đồng do bị bên kia lừa dối về sự việc, kể cả trong ngôn ngữ hoặc hành vi, hoặc do bên kia (bên lừa dối) không cung cấp thông tin về các yếu tố, mà theo những tiêu chuẩn thông thường về công bằng và hợp lý trong thương mại họ phải được thông báo [43]
Như vậy, pháp luật nhiều nước cũng như nguyên tắc thương mại quốc
tế không chỉ giới hạn sự biểu hiện của lừa dối ở hành vi, lời nói mà thừa nhận
cả trường hợp một bên không cung cấp thông tin hoặc im lặng khi xét một cách hợp lý là họ phải có nghĩa vụ thông báo
Khi Bộ luật dân sự 2005 quy định về khái niệm lừa dối như trên, đã có
ý kiến cho rằng chưa bao quát hết được các trường hợp, đó là chưa quy định
rõ hành vi không cung cấp thông tin quan trọng của giao dịch dân sự là một hành vi lừa dối Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng hành vi không cung cấp thông tin là hành vi cố ý của một bên "nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó" và đó được coi là hành vi lừa dối khi tham gia giao dịch
- Sự lừa dối là yếu tố quyết định đối với việc bên bị lừa dối xác lập giao dịch dân sự Tính chất quyết định thể hiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì các bên sẽ không xác lập giao dịch Ví dụ như việc
Trang 39một người bán hàng nói giá quá cao thì không bị xem là lừa dối, vì người mua
sẽ không vì thông tin này mà giao kết hợp đồng mua bán
Lừa dối và nhầm lẫn đều là những khiếm khuyết của sự thể hiện ý chí của các bên trong giao kết hợp đồng và đều giống nhau ở chỗ cả hai đều liên quan đến việc trình bày một cách trực tiếp hoặc gián tiếp về những sự việc không đúng sự thật hay không tiết lộ một sự thật Tuy sự nhầm lẫn và lừa dối trong giao dịch dân sự đều có một điểm chung: bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối do hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng… nên đã xác lập giao dịch, nhưng giữa chúng có một điểm khác biệt cơ bản Trong trường hợp xác lập giao dịch do bị nhầm lẫn, sự nhầm lẫn có thể gây bởi lỗi cẩu thả, sơ suất, kém hiểu biết của chính bên bị nhầm lẫn hoặc do lỗi vô ý của bên kia hoặc do lỗi của người thứ ba; còn trong trường hợp xác lập giao dịch do bị lừa dối, sự nhầm lẫn lại chỉ có thể được gây ra bởi hành vi mang tính chất cố ý của bên kia hoặc do lỗi của người thứ ba Việc một bên tạo lập cho bên kia một sự nhầm lẫn hoặc lạm dụng sự nhầm lẫn đã tồn tại của bên kia để xác lập giao dịch sẽ
bị coi là lừa dối Ngoài ra, sự phân biệt giữa nhầm lẫn và lừa dối còn được xác định bởi tính chất và mục đích của việc trình bày gian lận của một bên
Như vậy, nếu không có hành vi cố ý làm cho người bị lừa dối hiểu sai lệch bản chất sự việc thì không có một giao dịch dân sự được xác lập
Tóm lại, để có thể xem xét một hành vi có phải là sự lừa dối trong giao kết hợp đồng hay không người ta căn cứ vào các yếu tố sau đây: Thứ nhất, phải có sự cố ý đưa thông tin sai lệch hoặc bỏ qua sự thật của một bên; thứ hai, người nghe phải không biết đến sự sai lệch đó; ba là, người nghe đã tin vào sự sai lệch do một bên đưa ra mà giao kết hợp đồng
2.1.3 Giao dịch dân sự đe dọa
Đe dọa được hiểu là việc một người dùng hành vi hay lời nói tác động vào ý chí của một người khác làm cho người đó phải miễn cưỡng tuân theo sự sắp đặt hay ý muốn của mình Trong giao dịch dân sự, đe dọa là hành vi cố ý
Trang 40tác động vào ý chí của một người làm cho người đó khiếp sợ mà buộc phải xác lập, thực hiện giao dịch
Luật La Mã không sử dụng thuật ngữ "đe dọa" mà đi đề cập đến "bạo lực" trong giao dịch dân sự Trong lịch sử La Mã, về cuối thời kỳ Cộng hòa,
có nhiều cuộc rối loạn trong nước, trật tự xã hội không được duy trì, vì vậy xảy ra rất nhiều bạo lực Để các chủ thể khỏi phải "kết ước" dưới ảnh hưởng của bạo lực các pháp quan La Mã đã đặt ra một tố quyền công nhận cho nạn nhân của bạo lực được xin bồi thường gấp bốn lần tổn thất Ngoài ra nạn nhân còn có thể xin viện ra sự bạo lực để không thi hành khế ước thậm chí xin tiêu hủy khế ước [27, tr 127] Luật La Mã coi bạo lực là việc người đối ước hoặc người thứ ba làm cho người kia sợ hãi mà xác lập hợp đồng dân sự Do đó, người bị bạo lực có thể sử dụng hai tố quyền có tính cách hình sự hoặc dân sự
Dân luật Pháp coi đe dọa tương tự như luật La Mã:
- Hợp đồng được giao kết do một bên bị đe dọa sẽ vô hiệu Hành vi đe dọa
có thể do bên giao kết trực tiếp thực hiện hoặc bên thứ ba thực hiện [29, Điều 1111]
- Hành vi đe dọa là hành vi tác động vào một người có lý trí và làm cho người đó lo sợ có thể bị thiệt hại lớn về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản của mình Để xác định mức độ đe dọa cần phải xem xét đến độ tuổi, giới tính
và hoàn cảnh của những người liên quan [29; Điều 1112]
- Hành vi đe dọa là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu không chỉ trong trường hợp hành vi đe dọa nhằm vào bản thân người giao kết hợp đồng mà còn cả trong trường hợp nhằm vào vợ, chồng, tôn thuộc, ti thuộc của người đó [29, Điều 1113] Chỉ riêng sự sợ hãi biểu lộ đối với cha mẹ hoặc tôn thuộc khác mà không có hành vi đe dọa thì chưa đủ căn cứ để hủy hợp đồng [29, Điều 1114]
- Không thể kiện đòi hủy hợp đồng vì lý do bị đe dọa nếu sau khi hành vi đe dọa chấm dứt, hợp đồng đã được chấp nhận một cách rõ ràng hoặc