1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn Thành phố Hải Phòng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

132 1,2K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Điều 137 Hiến pháp sửa đổi năm 2001, Điều 13 - 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 112 - 113 Bộ luật tố tụng hình sự BLTTHS hiện hành thì trong giai đoạn điều tra cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM HỒNG QUÂN

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT

TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH

SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG -

Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2012

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội Trung tâm tư liệu - Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM HỒNG QUÂN

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM

SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI

PHÒNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hµ néi - 2012

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM HỒNG QUÂN

CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM

SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI

PHÒNG -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

luận văn thạc sĩ luật học

Người hướng dẫn khoa học: TS GVC Nguyễn Ngọc Chí

Hµ néi - 2012

Trang 4

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Phạm Hồng Quân

Trang 5

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG, NHIỆM

VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

hình sự

20

1.2.1 Các nhiệm vụ của chức năng thực hành quyền công tố trong

giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

20

1.2.2 Các nhiệm vụ của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

Trang 6

1.3.4 Từ năm 1992 đến trước năm 2003 30 1.4 So sánh với chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát Trung Quốc 31

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG

GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TẠI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

34

2.1 Đặc điểm tình hình có liên quan đến hoạt động thực hiện chức

năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn

2.2 Thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát

nhân dân thành phố Hải Phòng trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự

38

2.2.1 Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng 38 2.2.2 Đối với các hoạt động nghiệp vụ 39 2.3 Những tồn tại trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ

của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng

68

Chương 3: NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT, GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƢỢNG THỰC HIỆN CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

76

3.1 Các cơ sở của cải cách tư pháp đối với chức năng và nhiệm vụ

của viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

76

3.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội và tội phạm trên địa bàn thành phố

Hải Phòng trong thời gian tới

76

Trang 7

3.1.2 Những yêu cầu của cải cách tư pháp trong thời gian tới 80

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCA : Bộ Công an BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự CQĐT : Cơ quan điều tra

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng ĐTV : Điều tra viên

HĐND : Hội đồng nhân dân KSĐT : Kiểm sát hoạt động điều tra KSHĐTP : Kiểm sát các hoạt động tư pháp KSV : Kiểm sát viên

THQCT : Thực hành quyền công tố VKS : Viện kiểm sát

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTP : Viện kiểm sát nhân dân thành phố XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu

Theo quy định của Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có hai chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) và kiểm sát hoạt động tư pháp (KSHĐTP) Trước những đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước và cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước luôn đặt ra những yêu cầu mới trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) Điều này được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng Nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới đã đặt ra yêu cầu đối với VKSND các cấp là:

Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ [8]

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về

"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" xác định: " tăng cường nhiệm

vụ của công tố trong hoạt động điều tra " [10] Tiếp theo đó, Nghị quyết

Hội nghị lần thứ IX của Ban Chấp hành Trung ương khóa X ngày 05/01/2009 về việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả cải cách tư pháp đã khẳng

định: "…Bảo đảm có điều kiện cho Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt

chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra…" Điều này cho

thấy, hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án hình

Trang 10

sự của VKSND không ngừng được nâng cao về chất lượng, đổi mới về nội dung, phương pháp, cách thức thực hiện nhằm tạo ra những chuyển biến mới

về chất của công tác này

Theo quy định của Điều 137 Hiến pháp sửa đổi năm 2001, Điều 13 -

14 Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Điều 112 - 113 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành thì trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự VKSND

có chức năng, nhiệm vụ cụ thể là: khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra (CQĐT) khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; kiểm sát việc khởi tố; kiểm sát các hoạt động điều tra

và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT; đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra; trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật; yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi Điều tra viên (ĐTV) theo quy định của pháp luật; nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu của tội phạm thì khởi tố về hình sự; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác, phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT theo quy định của pháp luật; hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT; Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng; giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật; yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; kiến nghị với cơ quan, tổ chức và đơn vị hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, VKSND

đã góp phần hạn chế, khắc phục các vi phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT), người tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, quyền và lợi ích của Nhà nước, các tổ chức xã hội khác Qua

đó, đã góp phần không nhỏ vào hoạt động đấu tranh, phòng, chống tội phạm

và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Trang 11

Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Luật tổ chức VKSND năm 2002, thời gian qua Viện kiểm sát nhân dân thành phố (VKSNDTP) Hải Phòng trong công tác THQCT và KSHĐTP ở giai đoạn điều tra các vụ án hình sự đã có nhiều

cố gắng, từng bước khắc phục khó khăn nâng cao chất lượng công tác Tuy nhiên, qua tổng kết hoạt động của VKSNDTP Hải Phòng cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đã ảnh hưởng đến hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Phòng Trong việc giải quyết một số vụ án hình sự cụ thể ở giai đoạn điều tra có tình trạng Kiểm sát viên (KSV) được phân công THQCT và KSĐT các vụ án hình sự

đã không nhận thức và thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn trách nhiệm của mình như: không tiến hành kiểm sát điều tra (KSĐT từ đầu), kiểm sát kết thúc điều tra, thụ động và phụ thuộc vào kết quả điều tra của CQĐT, không kịp thời phát hiện các vi phạm của CQĐT trong hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự, chưa đề

ra được các yêu cầu điều tra sát thực nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong việc điều tra vụ án, dẫn đến tình trạng Tòa án trả hồ sơ cho VKS (Viện kiểm sát), VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung do vi phạm nghiêm trọng thủ tục

tố tụng hoặc để lọt tội phạm vẫn còn xảy ra Chính vì vậy, trên phương diện là

học viên cao học em chọn đề tài: "Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát

trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng

- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" làm luận văn nghiên cứu nhằm góp phần

tìm ra các giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác này, đáp ứng với yêu cầu của cải cách tư pháp trên địa bàn thành phố Hải Phòng

2 Tình hình nghiên cứu

Có rất nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này đã viết bài như: Kỹ năng THQCT và kiểm sát tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Nguyễn Văn Huyên; THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra - Lê Hữu Thể; Một số nghiên cứu về vai trò của VKSND trong giai đoạn điều tra, truy tố, quyền công tố và THQCT tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên - Khoa luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền công tố của

Trang 12

VKSND trong tố tụng hình sự Tại VKSNDTP Hải Phòng cũng đã có một số chuyên đề nghiên cứu về vấn đề này như: chuyên đề án đình chỉ điều tra, chuyên đề giải pháp nâng cao chất lượng bản cáo trạng, chuyên đề công tác THQCT và KSĐT các vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2008 Các công trình nghiên cứu của các tác giả mới đề cập nhiều ở mặt lý luận và giới hạn ở một số khía cạnh của từng nội dung công tác THQCT và KSHĐTP chưa đề cập nhiều đến thực trạng của hoạt động này tại Hải Phòng

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu luận văn tập trung làm sáng tỏ những chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong các quy định của pháp luật hiện hành và thông qua thực tiễn áp dụng, thực hiện hoạt động THQCT và KSHĐTP trên địa bàn thành phố Hải Phòng để tổng hợp, phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động THQCT và KSHĐTP của VKSNDTP Hải Phòng trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự, từ năm 2006 đến năm 2011 Trên cơ sở đó, đề ra những

đề xuất, kiến nghị, giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát nói chung và VKSNDTP Hải Phòng nói riêng

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

Nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của VKSND nói chung và VKSNDTP Hải Phòng nói riêng trong thời gian tới

- Mục đích của việc nghiên cứu là làm rõ một số vấn đề lý luận và những đòi hỏi, vướng mắc trong thực tiễn của công tác THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự của VKSNDTP Hải Phòng theo các quy định của BLTTHS năm 2003, từ đó có những kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao chất lượng của công tác này

- Từ mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như:

 Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chức năng, nhiệm vụ của VKSND trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành

Trang 13

 Tổng kết, đánh giá thực tiễn hoạt động THQCT và KSĐT các vụ án hình sự của VKSNDTP Hải Phòng từ năm 2006 đến năm 2011

 Xây dựng các giải pháp để khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng của công tác THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra các vụ

án hình sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm: lý luận về chức năng nhiệm

vụ của VKSND trong quá trình THQCT và KSHĐTP ở giai đoạn điều tra vụ

án hình sự theo quy định của BLTTHS năm 2003 và hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của VKSNDTP Hải Phòng từ năm 2006 đến năm 2011

- Luận văn xác định nghiên cứu hoạt động THQCT và KSHĐTP của VKSNDTP Hải Phòng, không đề cập đến hoạt động của VKS quân sự

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Nhà nước pháp luật của Hồ Chí Minh làm nền tảng cho quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành như: thu thập

số liệu, thông tin; thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chức năng, nhiệm vụ của Viện

kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

Chương 2: Thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát trong giai đoạn

điều tra tại thành phố Hải Phòng

Chương 3: Những kiến nghị, đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng

thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ

án hình sự

Trang 14

1.1.1 Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra

Thuật ngữ "chức năng" theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa là hoạt động, tác dụng bình thường hoặc đặc trưng của một cơ quan, một hệ cơ quan nào đó trong cơ thể" [69]

"Chức năng của Cơ quan nhà nước là hoạt động chủ yếu, thường xuyên, có tính ổn định tương đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung của cả bộ máy nhà nước" [18]

Trong Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cơ quan VKSND là một mắt xích quan trọng Trong đó, nhà nước giao cho VKS hai chức năng cơ bản là THQCT và KSHĐTP Theo Điều 137 Hiến pháp 1992 (sửa

đổi năm 2001) quy định: "Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công

tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [31] và Điều 23 BLTTHS quy định:

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [33]

Như vậy, VKS là cơ quan thay mặt Nhà nước truy tố người phạm tội ra trước Tòa án để xét xử và là cơ quan giám sát của Nhà nước trong quá trình giải

quyết vụ án hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

Trang 15

Trong tố tụng hình sự Việt Nam chưa có khái niệm quy định thế nào

là "giai đoạn tố tụng" Theo GS.TSKH Lê Cảm:

Giai đoạn tố tụng hình sự là những bước của quá trình tố tụng hình sự, tương ứng với chức năng nhất định trong hoạt động

tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các

quyền hợp pháp của công dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự [3]

Trên cơ sở các quy định của BLTTHS Việt Nam thì quá trình tố tụng của nước ta trải qua các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục

vụ nhu cầu của con người Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm Điều tra là giai đoạn thứ 2 của quá trình tố tụng, trong đó, CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc bồi thường thiệt hại

do tội phạm gây ra và trên cơ sở đó quyết định: đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, chuyển toàn bộ tài liệu chứng cứ cho VKS đề nghị truy tố người phạm tội theo tội danh nhất định được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS)

Chức năng của VKS trong giai đoạn điều tra là tổng thể những biện pháp mà VKS áp dụng để chứng minh việc thực hiện tội phạm, xác định rõ nguyên nhân, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội, động cơ, mục đích của tội phạm, lỗi của chủ thể cũng như nhân thân người phạm tội, hậu quả của tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra Chức năng này là một phần của quyền công tố

Trang 16

Phạm vi thực hiện chức năng nhiệm vụ của VKS trong giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi CQĐT hoặc cơ quan khác có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án

1.1.2 Nội dung chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra

1.1.2.1 Thực hành quyền công tố

Theo TS Lê Hữu Thể:

Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, hay nói cách khác là quyền nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này là quyền của Nhà nước, Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta từ năm 1960 đến nay là cơ quan Viện kiểm sát) Để làm được điều này, cơ quan công tố phải có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó trước phiên tòa [38]

Quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự nhân danh công quyền đối với người phạm tội nên đối tượng của quyền công tố chỉ là tội phạm và người phạm tội Với quan niệm như trên về quyền công tố và đối tượng của quyền công tố, theo ý kiến của em nội dung của quyền công tố là

sự buộc tội đối với người đã thực hiện hành vi tội phạm

Hiện nay trong giới luật học của nước ta có nhiều quan điểm về phạm

vi quyền công tố Quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền công tố của VKS được tiến hành tại Tòa án thể hiện bằng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa

án thông qua Cáo trạng, bằng việc đọc Cáo trạng tại phiên tòa, bằng lời buộc tội của KSV khi tranh luận và đề nghị kết tội với mức và loại hình phạt nhất định Do vậy, việc điều tra vụ án được giao cho CQĐT là độc lập không liên quan đến chức năng của VKS

Trang 17

Quan điểm thứ hai cho rằng: Quyền công tố của VKS không chỉ ở giai đoạn xét xử mà ngay từ giai đoạn điều tra Hoạt động điều tra vụ án hình sự được thực hiện bởi CQĐT bằng các quyết định tố tụng Các quyết định này có thể bị VKS thay đổi hoặc hủy bỏ nếu không đúng quy định của pháp luật Do vậy hoạt động điều tra của CQĐT là những việc làm giúp VKS thực hiện chức năng công tố

Với quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, phạm vi của quyền này bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Để bảo đảm thực hiện quyền công tố trong thực tế đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trong đó quy định các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho VKS thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Thực tiễn hoạt động giải quyết án hình sự ở nước ta 50 năm qua cho thấy, CQĐT và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự, thậm chí số vụ án

do các CQĐT thực hiện việc khởi tố chiếm tới khoảng hơn 95% Số vụ án VKS khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số vụ án

mà CQĐT khởi tố Tuy nhiên phải thấy rằng xét đến cùng VKS là cơ quan có vai trò quyết định trong việc khởi tố CQĐT có quyền bắt người phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ v.v Nhưng đây thực chất chỉ là những hoạt động

hỗ trợ, phục vụ cho hoạt động công tố Trên cơ sở kết quả điều tra, lời luận tội của KSV và kết quả tranh tụng dân chủ tại phiên tòa, Tòa án áp dụng pháp luật quy kết trách nhiệm đối với bị cáo Bản án kết tội của Tòa án cũng là sự chấp nhận lời buộc tội của VKS đối với người phạm tội

Từ những nội dung trình bày trên, có thể hiểu THQCT là việc sử dụng

tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn

Trang 18

điều tra, truy tố và xét xử Theo đó, THQCT trong các giai đoạn điều tra là

việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố

để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong giai đoạn này

Từ định nghĩa này, có thể rút ra kết luận về một số đặc điểm của hoạt động thực hành quyền công tố như sau:

Thứ nhất, THQCT do VKS thực hiện, vì vậy nó mang tính quyền lực

nhà nước và có tính mục đích: Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác

Thứ hai, THQCT là những hoạt động phát động công tố, đó là khởi tố

vụ án, khởi tố bị can Khởi tố vụ án là việc Nhà nước chính thức công khai trước toàn xã hội có tội phạm xảy ra và bắt đầu triển khai hoạt động thực hành quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện tội phạm đó Còn khởi tố bị can là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức tuyên

bố về mặt pháp lý một người nào đó có dấu hiệu phạm tội và đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Khi quyền công tố đã được khởi động, đòi hỏi CQĐT phải tiến hành điều tra để làm rõ có tội phạm xảy ra hay không? Nếu có, ai là người phạm tội, phạm tội gì, mức độ phạm tội ?

Thứ ba, trong giai đoạn điều tra vụ án, VKS THQCT với những nội

dung cơ bản sau đây:

- Yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi

tố bị can

- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra

- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 19

- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác

- Phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT

- Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQĐT

- Quyết định việc truy tố bị can

- Quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra

- Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án

Một vấn đề rất quan trọng bắt buộc phải làm rõ khi nói về hoạt động THQCT, đó là phạm vi và nội dung THQCT Theo em, phạm vi THQCT bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Trong giai đoạn điều tra, phạm vi THQCT bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm xảy ra đến khi kết thúc việc điều tra, VKS ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định của pháp luật

tố tụng hình sự

Việc xác định đúng khái niệm, đặc điểm, phạm vi của hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là căn cứ, cơ sở để phân biệt với hoạt động KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và các hoạt động thực hiện chức năng khác nhằm thực hiện đúng thẩm quyền trong quá trình điều tra vụ án hình sự, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

1.1.2.2 Kiểm sát hoạt động tư pháp

Trong khoa học pháp lý đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm hoạt động tư pháp:

Thứ nhất, hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan: điều tra,

truy tố, xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức liên quan hoặc bổ trợ cho công tác xét xử của Tòa án Tòa án sử dụng công khai các kết quả hoạt động điều tra, truy tố, bào chữa, giám định tư pháp, áp dụng các thủ tục

Trang 20

tư pháp theo luật định để nhân danh Nhà nước đưa ra phán quyết cuối cùng

thể hiện quyền lực nhà nước

Thứ hai, có bốn dạng hoạt động tư pháp tương ứng với bốn chức năng

của quyền tư pháp Một là, thực hiện thẩm quyền giải thích các quy phạm pháp luật mà trước hết là giải thích Hiến pháp Hai là, thực hiện thẩm quyền xét xử bằng hoạt động tố tụng tư pháp Ba là, thực hiện thẩm quyền giám sát của Tòa án đối với tính hợp pháp và có căn cứ của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính chất tố tụng, tức là thực hiện sự kiểm tra của Tòa

án trong việc áp dụng các chế tài về hành chính, tố tụng hình sự và hình sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật Bốn là, thực hiện thẩm quyền xác nhận chính thức các sự kiện thông qua các hành vi cụ thể có ý nghĩa pháp lý trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hoặc hạn chế quyền chủ thể tương ứng của các công dân trong quá trình giải quyết các mối quan hệ xã hội

Thứ ba, hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá

nhân tham gia vào việc giải quyết các tranh chấp pháp lý, các vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền phán quyết của Tòa án và thi hành các phán quyết đó theo thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định Từ góc độ chủ thể, hoạt động tư pháp là hoạt động của các CQTHTT (các cơ quan tư pháp), các cơ quan thực hiện một số nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp (giám định tư pháp, công chứng tư pháp, luật sư)

Thứ tư, hoạt động tư pháp phải do cơ quan tư pháp tiến hành Tuy

nhiên, không phải tất cả các hoạt động của cơ quan tư pháp đều được gọi là hoạt động tư pháp Xuất phát từ nghĩa rộng của khái niệm tư pháp, có thể hiểu hoạt động tư pháp là các hoạt động liên quan tới quá trình giải quyết các tranh chấp bao gồm các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ về tranh chấp; hoạt động khởi kiện, khởi tố, truy tố; hoặc xét xử và thi hành các phán quyết của Tòa án trong thực tiễn Cũng như các cơ quan nhà nước khác, các

cơ quan tư pháp cũng có nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau Bên cạnh hoạt động tư pháp (khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) mỗi cơ quan tư

Trang 21

pháp còn có nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhưng nó không gắn với quá trình giải quyết một vụ án cụ thể nên không được gọi là hoạt động tư pháp Ví dụ hoạt động phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền, giáo dục pháp luật Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, các cơ quan tư pháp còn tiến hành một loại hoạt động mà hoạt động này được điều chỉnh bằng pháp luật hành chính chứ không được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng Vì vậy, nó cũng không được coi là hoạt động tư pháp (hoạt động báo cáo công tác của cấp dưới với cấp trên, hoạt động tổng kết công tác của mỗi cơ quan, hoạt động thanh tra) Trong quá trình thực hiện hoạt động tư pháp, giữa những người ở các cơ quan

tư pháp khác nhau luôn tồn tại một loại quan hệ được gọi là quan hệ hành chính - tư pháp (quan hệ hành chính giữa Thủ trưởng và nhân viên trong việc phân công công tác, quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tư pháp) Vì không phải là hoạt động tư pháp nên những hoạt động nói trên cũng không phải là đối tượng của kiểm sát tư pháp Em tán thành quan điểm này vì đây là quan điểm có cơ sở lý luận và thực tiễn

Theo TS Lê Hữu Thể:

Hoạt động tố tụng hình sự là một khái niệm chung của khoa học pháp lý, dùng để chỉ những hoạt động được thực hiện bởi các

cơ quan và người tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tố tụng, các tổ chức, cá nhân tham gia tố tụng, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Còn hoạt động tư pháp hình sự vốn được coi là đối tượng kiểm sát của Viện kiểm sát là những công việc cụ thể, trực tiếp chỉ do các cơ quan tư pháp, các

cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp, như Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, và các Ủy ban nhân dân xã, phường được giao thực

Trang 22

hiện một số hoạt động thi hành án chịu trách nhiệm thực hiện, trên

cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm giải quyết một vụ án hình sự cụ thể và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Hoạt động tư pháp là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp [37]

Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu Hoạt động tư pháp là tập

hợp những việc làm cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng trực tiếp liên quan và hướng tới mục đích giải quyết các vụ án một cách đúng đắn, khách quan

Hoạt động tư pháp có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, là hoạt động chỉ do các cơ quan tư pháp và các cơ quan

được giao thực hiện một số thẩm quyền tư pháp chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện Đây là những hoạt động có tính quyền lực nhà nước

Thứ hai, là những hoạt động trực tiếp nhằm giải quyết một vụ án hình

sự cụ thể và thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án

Thứ ba, là những hoạt động được điều chỉnh bằng pháp luật tố tụng

hình sự

Như vậy, xét ở góc độ chủ thể tiến hành và tham gia hoạt động tố tụng, phạm vi hoạt động tư pháp hình sự hẹp hơn so với hoạt động tố tụng hình sự Hoạt động tố tụng hình sự do nhiều chủ thể khác nhau thực hiện, gồm

cả các CQTHTT, các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện một số hoạt động

tư pháp, các cơ quan bổ trợ tư pháp và người tham gia tố tụng Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước trong tố tụng hình sự và chỉ do các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm quyền thực hiện một

số hoạt động tư pháp tiến hành Vì vậy, hoạt động tư pháp trong giai đoạn

điều tra là hoạt động của CQĐT, của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến

hành một số hoạt động điều tra và hoạt động THQCT của VKS, nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Trang 23

Một vấn đề cần lưu ý là ngoài các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tư pháp nêu trên còn có các

cơ quan bổ trợ tư pháp Đó là các cơ quan công chứng, giám định, bào chữa Hoạt động của các cơ quan này không phải là hoạt động tư pháp mà là hoạt động bổ trợ tư pháp, nhằm góp phần cho việc giải quyết các vụ án hình sự được đúng đắn, khách quan và cũng bị điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Cùng với các hoạt động tư pháp và hoạt động bổ trợ tư pháp, còn có các hoạt động tham gia tố tụng của những người khác như người bị tạm giữ,

bị can, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự v.v… Hoạt động của những người này cũng không phải là hoạt động tư pháp, mà chỉ là các hoạt động tham gia tố tụng bình thường, nhằm góp phần cho việc giải quyết các vụ án hình sự được đúng đắn, khách quan theo quy định của pháp luật tố tụng

Do vậy, trước hết phải khẳng định KSHĐTP là chức năng hiến định của VKS, được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 KSHĐTP là một dạng giám sát nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát nhà nước nói chung về tư pháp, KSHĐTP là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao một số thẩm quyền tư pháp trong quá trình tố tụng Mục đích của KSHĐTP hình sự là nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, VKS có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan tư pháp hoặc cán

bộ tư pháp nào Ở nước ta, hoạt động KSHĐTP hình sự chỉ do duy nhất một chủ thể tiến hành, đó là cơ quan VKS Hoạt động này được thực hiện bởi các KSV là người tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự, trên cơ sở các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của VKS được ghi nhận trong Luật tổ chức VKSND

Trang 24

và BLTTHS KSHĐTP hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước,

do Quốc hội giao cho VKS nhằm bảo đảm pháp chế trong hoạt động tư pháp hình sự

Bản chất của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự là kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát, theo em đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự là hành vi xử sự của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động tư pháp trong quá trình tiến

hành tố tụng hình sự Đối tượng của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

các hoạt động tư pháp ở giai đoạn điều tra là hành vi xử sự của các CQĐT và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Khi tiến

hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND, BLHS, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để theo dõi, xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ thể bị kiểm sát cũng như để bảo đảm tính hợp pháp của ngay chính các hoạt động kiểm sát của VKS Đồng thời, mối quan hệ giữa VKS cấp trên với các VKS

cấp dưới không phải là quan hệ "kiểm sát việc tuân theo pháp luật" Đây chỉ

là quan hệ quản lý trong chỉ đạo, điều hành giữa cấp trên và cấp dưới Vì vậy, VKS cấp trên không thể áp dụng các quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với VKS cấp dưới như đối với các chủ thể khác

Phạm vi của KSHĐTP hình sự là vấn đề cũng đang có nhiều tranh

luận Về mặt lý luận, phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra, theo đó các cơ quan tư pháp có thẩm quyền có trách nhiệm phát động quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Khi quyền công tố được phát động thì mặc nhiên phát sinh hoạt động tố tụng của các chủ thể tiến hành tố tụng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Do đó, đòi hỏi hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp cũng được bắt đầu tiến hành để bảo đảm các hành vi tố tụng của các chủ thể nói trên tuân thủ

Trang 25

pháp luật Hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp sẽ chấm dứt khi kết thúc các hoạt động tố tụng và mục đích của tố tụng hình sự đã đạt được Nói cách khác, trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự đều có hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự

Về mặt nguyên tắc, phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các hoạt động tư pháp hình sự bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố (một số trường hợp có thể được tiến hành trước khi khởi tố: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi ) và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án Phạm vi của KSHĐTP ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi vụ án hình sự được khởi tố và kết thúc khi VKS quyết định việc truy tố hoặc không truy tố kẻ phạm tội ra tòa, hoặc khi vụ án được đình chỉ theo qui định của

pháp luật tố tụng hình sự

Khi tiến hành hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các chủ thể thực hiện các hoạt động tư pháp hình sự, VKS có những quyền hạn sau đây:

Thứ nhất là các các quyền nhằm phát hiện vi phạm pháp luật của các

cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tư pháp Những quyền trên nhằm bảo đảm cho VKS nắm được vi phạm, xác định nguyên nhân và điều kiện dẫn đến vi phạm Trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp để khắc phục vi phạm nhằm bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Thứ hai là các quyền yêu cầu khắc phục, xử lý vi phạm của các chủ

thể tiến hành các hoạt động tư pháp hình sự

Từ những nội dung trình bày trên, có thể đưa ra khái niệm về KSHĐTP

hình sự như sau: KSHĐTP hình sự là chức năng Hiến định của VKS, có nội

dung là giám sát mọi hoạt động của các cơ quan tư pháp và các cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

Trang 26

Theo đó, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu

là: hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS trong việc điều tra

của CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm bảo đảm cho việc điều tra được tiến hành theo đúng các quy định của pháp luật

Từ khái niệm trên trên có thể rút ra đặc điểm KSHĐTP trong giai

đoạn điều tra vụ án hình sự như sau:

Thứ nhất, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt

động chỉ do VKS chịu trách nhiệm trực tiếp thực hiện Đây là những hoạt động có tính quyền lực nhà nước nhằm bảo đảm cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra

Thứ hai, KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là những

hoạt động phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm của các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra vụ án

Thứ ba, trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKS KSHĐTP với

những nội dung cơ bản sau đây:

- Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ

sơ vụ án của CQĐT

- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng

- Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra

- Yêu cầu CQĐT khắc phục vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của ĐTV; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm đối với ĐTV đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra

- Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Trang 27

Việc xác định đúng khái niệm, đặc điểm, phạm vi của hoạt động tư pháp và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là căn cứ, cơ sở để phân biệt với hoạt động THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và các hoạt động thực hiện chức năng khác của VKS, nhằm thực hiện đúng thẩm quyền trong quá trình KSĐT vụ án, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác

Tóm lại, ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, THQCT là những biện pháp mà VKS trực tiếp quyết định: quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn; quyết định phê chuẩn các quyết định của CQĐT; quyết định việc truy tố bị can ra Tòa án; còn KSHĐTP là những biện pháp VKS không trực tiếp ra quyết định, mà qua công tác kiểm sát, nếu phát hiện các vi phạm pháp luật của CQĐT thì yêu cầu, kiến nghị CQĐT, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra khắc phục

Giữa hoạt động KSHĐTP và THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, hỗ trợ cho nhau Mối quan hệ này song song tồn tại trong phạm vi bắt đầu từ khi tội phạm được phát hiện, khởi tố, điều tra cho đến khi CQĐT kết thúc quá trình điều tra

Trong mối quan hệ giữa hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cần phải lưu ý mục đích của hoạt động THQCT

và mục đích của hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn điều tra Mục đích của hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra là nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như các hành vi thực hiện tội phạm của họ Hoạt động này phải đầy đủ, chính xác, khách quan, theo đúng các trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định KSHĐTP ở giai đoạn điều tra có mục đích là bảo đảm các hoạt động điều tra (hoạt động chứng minh tội phạm trong giai đoạn điều tra) được đúng đắn, đầy đủ, khách quan, tức là được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục, nội dung do pháp luật quy định Như vậy, cả hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có chung mục đích bao quát là nhằm bảo đảm cho mọi hành vi phạm tội đều phải được

Trang 28

xử lý kịp thời, việc khởi tố, điều tra, truy tố được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Hoạt động THQCT và KSHĐTP trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, tác động, ảnh hưởng đến nhau Kiểm sát việc tuân theo pháp luật có hiệu quả là điều kiện bảo đảm THQCT đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại

1.2 NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ

Thuật ngữ "nhiệm vụ" được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học là "công việc phải làm vì một mục đích và trong một thời gian nhất định" [69] Do đó, có thể hiểu nhiệm vụ của cơ quan VKS là những hoạt động cụ thể của VKS trong một thời gian nhất định nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành mình để cùng thực hiện nhiệm vụ chung của cả bộ máy nhà nước

Theo quy định tại Điều 13 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: khi THQCT trong giai đoạn điều tra, VKSND có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây

1.2.1 Các nhiệm vụ của chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

1.2.1.1 Hoạt động khởi tố vụ án, bị can

Theo quy định tại khoản 1 Điều 104, Điều 112 BLTTHS năm 2003 và khoản 1 Điều 13 Luật tổ chức VKSND, VKS khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp sau đây: Khi quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT,

cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, lực lượng Cảnh sát biển, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm không có căn cứ thì VKS hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định khởi tố vụ án

Trang 29

Thẩm quyền khởi tố vụ án thuộc về Viện trưởng VKS các cấp Tuy nhiên, Viện trưởng có thể ủy quyền hoặc phân công cho Phó Viện trưởng THQCT, KSĐT ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự

Theo quy định tại Điều 106, Điều 112 BLTTHS năm 2003 và khoản 1 Điều 13 Luật tổ chức VKSND, VKS có quyền yêu cầu CQĐT thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác Trường hợp có căn cứ thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, VKS có văn bản yêu cầu để CQĐT ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà CQĐT không nhất trí thì VKS ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố

vụ án hình sự Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố

vụ án hình sự của CQĐT chưa đủ căn cứ hoặc không có căn cứ thì VKS có văn bản yêu cầu để CQĐT bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc ra quyết định hủy bỏ; nếu CQĐT không nhất trí mà rõ ràng việc thay đổi, bổ sung này không có căn cứ thì VKS ra quyết định hủy bỏ

So với BLTTHS năm 1988, thì BLTTHS năm 2003 có sự thay đổi căn bản về thẩm quyền khởi tố bị can của CQĐT, VKS Theo quy định của BLTTHS năm 1988, CQĐT, VKS đều có quyền chủ động trong việc khởi tố bị can Nhưng theo quy định mới của BLTTHS năm 2003, thì quyền chủ động ra quyết định khởi tố bị can thuộc về CQĐT VKS chỉ phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của CQĐT Lần đầu tiên vấn đề phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của VKS được quy định tại BLTTHS năm 2003 nhằm hạn chế đến mức tối đa tình trạng khởi tố bị can oan sai, hoặc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội

Theo quy định tại Điều 127 BLTTHS năm 2003, khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội

đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của CQĐT có căn cứ và hợp pháp, VKS ra

Trang 30

quyết định phê chuẩn và nếu thấy không có căn cứ thì ra quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của CQĐT

Điều 112, Điều 126, Điều 127 BLTTHS năm 2003 quy định thẩm quyền của VKS trong việc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của CQĐT Theo đó, trong quá trình điều tra vụ án hình sự, khi có căn cứ xác định còn có người khác thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án, nhưng CQĐT không khởi tố, hoặc hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, bị can còn có hành vi phạm tội khác, VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định khởi tố bị can, hoặc

ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu đã yêu cầu

mà CQĐT không thực hiện thì VKS ra quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, bổ sung quyết định khởi tố bị can

Trong trường hợp CQĐT kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang VKS, sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, bị can còn có hành vi phạm tội khác thì VKS ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và yêu cầu CQĐT khởi tố bị can hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can, bổ sung quyết định khởi tố bị can Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS ra quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can, bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi các quyết định này cho CQĐT tiến hành điều tra bổ sung, trong thời hạn 24 giờ để tiến hành điều tra

1.2.1.2 Yêu cầu điều tra, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra của Viện kiểm sát

Thẩm quyền và trách nhiệm của VKS trong quá trình điều tra vụ án thông qua việc đề ra các yêu cầu điều tra đối với CQĐT nhằm chống làm oan,

bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, bảo đảm cho việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Theo quy định tại khoản 2 Điều 112 BLTTHS năm

Trang 31

2003, khi THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, VKS phải đề ra yêu cầu điều tra và bám sát các hoạt động điều tra của CQĐT, bảo đảm các yêu cầu điều tra phải được thực hiện Khi phát hiện các tình tiết mới phát sinh trong quá trình điều tra, VKS phải có yêu cầu bổ sung để CQĐT làm rõ

Theo quy định tại khoản 2 Điều 112 BLTTHS khi THQCT và KSHĐTP ở giai đoạn điều tra, ngoài thẩm quyền yêu cầu CQĐT tiến hành các hoạt động điều tra và kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT, VKS có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự…đối chất, thực nghiệm điều tra, nhằm kiểm tra tính khách quan, chính xác trong các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án trước khi ra các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền hoặc để phát hiện vi phạm của CQĐT

1.2.1.3 Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, khởi tố hình sự nếu Điều tra viên vi phạm pháp luật

Theo quy định tại Điều 42, Điều 44, khoản 3 Điều 112 BLTTHS, VKS yêu cầu thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV nếu có căn cứ chứng minh ĐTV không vô tư, khách quan trong quá trình điều tra vụ án

1.2.1.4 Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn

Luật tổ chức VKS và BLTTHS năm 2003 quy định: Ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự, hoạt động THQCT và KSHĐTP của VKS được thể hiện thông qua vai trò quyết định trong việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn VKS có quyền phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp; quyết định việc tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm Ngoài thẩm quyền phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam và lệnh tạm giam bị can của CQĐT, theo quy định tại các Điều 80, Điều 120 BLTTHS năm 2003, VKS còn có quyền gia hạn tạm giam và có quyền trực tiếp ra lệnh bắt bị can để tạm giam Điều 91, Điều 92, Điều 93 BLTTHS năm

Trang 32

2003 quy định VKS có quyền ra lệnh cấm bị can đi khỏi nơi cư trú, quyết định cho bị can được bảo lĩnh và quyết định cho bị can được đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm; phê chuẩn quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm của CQĐT

1.2.1.5 Hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra

Hủy bỏ quyết định trái pháp luật của CQĐT là quyền năng pháp lý của VKS được quy định tại Điều 112 BLTTHS về nhiệm vụ quyền hạn của VKS khi THQCT trong giai đoạn điều tra: "…Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra…" Đối với các quyết định của Phó Thủ trưởng CQĐT đã được VKS phê chuẩn mà phát hiện không có căn cứ và trái pháp luật thì Thủ trưởng CQĐT kiến nghị Viện trưởng VKS cùng cấp hoặc VKS cấp trên trực tiếp ra quyết định hủy bỏ Ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ các quyết định

của Phó Thủ trưởng CQĐT, VKS phải gửi cho CQĐT để thực hiện Đối với các

quyết định của Phó Thủ trưởng CQĐT, BLTTHS quy định phải có sự phê chuẩn của VKS Sau khi đã gửi sang VKS nhưng chưa phê chuẩn nếu phát hiện không

có căn cứ và trái pháp luật nhưng Thủ trưởng CQĐT không đồng ý ra quyết định hủy bỏ thì VKS ra quyết định hủy bỏ và gửi cho CQĐT để thực hiện

1.2.1.6 Hoạt động truy tố, tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án

Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2003, sau khi CQĐT kết thúc điều tra vụ án, chuyển hồ sơ và bản kết luận điều tra vụ án đến VKS thì VKS có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án tùy tình hình cụ thể, kết quả điều tra được phản ánh trong hồ sơ vụ án để ra một trong những quyết định: truy tố

bị can ra trước Tòa án bằng bản Cáo trạng hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án

1.2.2 Các nhiệm vụ của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự

Theo quy định tại điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2002 quy định: khi thực hiện công tác KSĐT, VKSND có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây

Trang 33

1.2.2.1 Kiểm sát việc khởi tố; kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án hình sự của Cơ quan điều tra

VKS trong quá trình KSĐT vụ án hình sự phải kiểm sát chặt chẽ việc gửi kịp thời quyết định khởi tố, quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, tránh tình trạng CQĐT chậm trễ trong việc gửi quyết định cho VKS hoặc có sự kiện phạm tội xảy ra nhưng không được khởi tố vụ án VKS phải kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự

và quyết định không khởi tố vụ án hình sự đảm bảo các "dấu hiệu tội phạm" phải được phản ánh trong quyết định khởi tố vụ án và trong hồ sơ, tài liệu xác minh đơn, tin báo, tố giác tội phạm…

Sau khi nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự cần kiểm tra xem xét tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định Tính có căn cứ của quyết định là những căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS Khi xem xét quyết định, VKS phải đảm bảo thẩm quyền của cơ quan ra quyết định, người

ra quyết định, nội dung và hình thức quyết định cũng như những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

là đúng với quy định của pháp luật

Khi tiến hành kiểm sát quyết định khởi tố bị can, VKS đảm bảo quyết định khởi tố bị can phải thỏa mãn được các điều kiện mà pháp luật đã quy định, đó là tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định Trong hoạt động kiểm sát khởi tố bị can, VKS trước hết phải xác định được thẩm quyền của cơ quan, người ra quyết định khởi tố bị can có đúng quy định của pháp luật không Hình thức và nội dung của quyết định khởi tố bị can có đảm bảo đúng pháp luật không Khởi tố bị can về tội gì, theo điều nào của BLHS phải được ghi rõ trong quyết định khởi tố bị can

Trong quá trình KSĐT vụ án, VKS có trách nhiệm kiểm sát chặt chẽ việc lập hồ sơ của CQĐT nhằm bảo đảm các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra phải được thể hiện trong hồ sơ vụ án, các tài liệu trong

hồ sơ phải được sắp xếp, đánh số bút lục theo đúng trình tự

Trang 34

1.2.2.2 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng

Trong quá trình KSĐT vụ án hình sự, KSV chủ động yêu cầu ĐTV giải thích và đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ người bị tạm giữ, bị can và những người tham gia tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 62 BLTTHS

Kiểm sát việc lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi liên quan đến vụ án, người làm chứng của ĐTV: KSV chủ động yêu cầu ĐTV lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng; không để sót những người làm chứng quan trọng mà họ trực tiếp nghe được, nhìn thấy hành vi phạm tội, bảo đảm cho họ quyền đưa ra tài liệu, đồ vật những yêu cầu của mình để làm rõ vụ án; nếu thấy cần thiết thì đồng thời với việc ghi lời khai, có thể ghi âm, chụp ảnh, ghi hình

Kiểm sát việc hỏi cung bị can của ĐTV: KSV phải chủ động bàn với ĐTV về kế hoạch và đề ra yêu cầu hỏi cung bị can ngay sau khi khởi tố bị can

để làm rõ các vấn đề có liên quan đến tội phạm đã khởi tố

Trong quá trình KSĐT vụ án hình sự, khi xác định bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, thì KSV yêu cầu ĐTV báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT có văn bản yêu cầu Đoàn luật sư phân công Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình

1.2.2.3 Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự theo quy định của pháp luật

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa CQĐT thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng VKS cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm quyết định

Trang 35

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa CQĐT cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng VKS cấp đó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển thì Viện trưởng VKS có thẩm quyền nơi xảy

vụ án hình sự Nếu hành vi của ĐTV có dấu hiệu xâm phạm hoạt động tư pháp thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng cấp tỉnh báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) giao cho Cục điều tra của VKSNDTC khởi tố, điều tra theo thẩm quyền

Đối với những quyết định không có căn cứ, trái pháp luật của Phó thủ trưởng CQĐT hoặc ĐTV thì Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng CQĐT ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ

1.2.2.5 Kiến nghị với cơ quan hữu quan

Thực hiện quyền này chính là nhằm mục tiêu phòng ngừa tội phạm, từng bước hạn chế tội phạm thông qua hoạt động KSĐT các vụ án hình sự của VKS Trên cơ sở KSĐT vụ án hình sự nếu phát hiện các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, đơn vị hữu quan có những sơ hở, thiếu sót…là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới vi phạm, tội phạm thì VKS phải ban hành kiến nghị để

tiến hành phòng ngừa tội phạm

Trang 36

1.3 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TỪ NĂM 1945 ĐẾN TRƯỚC NĂM 2003

1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1960

Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Cùng với việc kiện toàn lại bộ máy nhà nước, hệ thống các cơ quan Tòa án đã được tổ chức hoạt động trên phạm vi cả nước Tòa án quân sự được thành lập ở 3 miền Bắc, Trung, Nam theo Sắc lệnh số 33c/SL ngày 13/9/1945; hệ thống Tòa án thường được thành lập bao gồm các tòa án sơ cấp,

đệ nhị cấp và Tòa thượng thẩm (Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946); Tòa án đặc biệt để xét xử những nhân viên của Ủy ban nhân dân (UBND), nhân viên của các cơ quan của Chính phủ phạm tội (Sắc lệnh số 64 ngày 23/11/1945) Thời kỳ này chưa có hệ thống các Cơ quan VKS Tuy nhiên, chức năng công

tố đã được hình thành Trong các Tòa án đều có "công tố viện" do Công tố ủy viên phụ trách, chuyên thực hiện chức năng công tố Chánh án và Công tố ủy viên trong các Tòa án đều là thủ trưởng đơn vị, có nhiệm vụ riêng biệt

Ngày 29/4/1958, Quốc hội khóa I đã quyết định chia tách và thành lập mới một số cơ quan nhà nước, trong đó có việc thành lập Viện công tố trung ương và hệ thống Viện công tố, Tòa án cũng được thành lập thành hệ thống riêng biệt, đều tách khỏi Bộ tư pháp, là cơ quan ngang bộ, thuộc Chính phủ

Ngày 01/7/1959, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 256/TTg quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố và tổ chức hệ thống Viện công tố Viện công tố trung ương là tiền thân của VKSND, có nhiệm vụ chung là: "giám sát việc tuân thủ và chấp hành pháp luật của nhà nước, truy tố theo luật hình sự những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản của công, bảo vệ quyền và lợi ích của người công dân, bảo đảm cho công cuộc kiến thiết và cải tạo Xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi." Viện công tố thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như: điều tra, truy tố trước Tòa án những kẻ phạm pháp về hình sự; giám sát

Trang 37

việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của CQĐT; giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác xét xử của Tòa án; giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự và trong hoạt động của các cơ quan giam giữ, cải tạo; khởi tố hoặc tham gia tố tụng những

vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của nhà nước và nhân dân

Những quy định trên đây đã khái quát những nhiệm vụ quyền hạn của Công tố viện trong hệ thống các Tòa án nhân dân "Khi thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, Viện công tố có trách nhiệm áp dụng những biện pháp pháp lý thích đáng theo pháp luật để xử lý mọi hành vi phạm pháp, mọi phần

tử phạm pháp"

1.3.2 Từ năm 1960 đến năm 1980

Tiếp thu kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt là Liên

Xô (cũ), ngày 31/12/1959, Quốc Hội khóa I đã thông qua Hiến pháp mới, ghi nhận sự tồn tại của VKS với tư cách là cơ quan độc lập với một chức năng duy nhất là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Ngày 15/7/1960, Quốc hội II đã thông qua Luật tổ chức VKSND Ngày 26/7/1960, hệ thống các cơ quan VKS chính thức được thành lập từ trung ương đến địa phương theo nguyên tắc tập trung, thống nhất lãnh đạo trong ngành Điều 2 Luật tổ chức VKSND quy định: "VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật làm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất, pháp chế xã hội chủ nghĩa được giữ vững" Điều 17 quy định rõ từng nhiệm vụ cụ thể mà VKS phải thực hiện: khởi tố về hình sự và giữ quyền công tố trước Tòa án nhân dân cùng cấp; khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà nước và của nhân dân; kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cùng cấp và dưới một cấp; kiểm sát việc chấp hành bản án và các quyết định của Tòa án nhân dân

Trang 38

Ở giai đoạn này, Hệ thống pháp luật chưa quy định rõ giữa THQCT và KSHĐTP Theo đó, THQCT chỉ là một biện pháp thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật

1.3.3 Từ năm 1980 đến năm 1992

Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước tiến hành xây dựng đất nước Trước tình hình mới, nhiệm vụ của Nhà nước ta đã thay đổi, đòi hỏi Nhà nước phải có sự chỉnh sửa về mặt pháp luật để tạo ra sự thống nhất trong cả nước Quốc hội nước ta đã thông qua Hiến pháp năm 1980 quy định rõ hơn về vị trí, vai trò của VKSND So với Hiến pháp năm 1959 có những điểm bổ sung mới nhấn mạnh chức năng THQCT và đề cao vai trò của Viện trưởng VKSNDTC Điều 138 Hiến pháp năm 1980 quy định:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ và các

cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, các cơ quan chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân, các nhân viên nhà nước và công dân, thực hành quyền công tố đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Viện kiểm sát nhân dân các địa phương và VKS quân sự kiểm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố trong phạm vi trách nhiệm của mình [28]

1.3.4 Từ năm 1992 đến trước năm 2003

Đại hội của Đảng năm 1986 đã xác định nhiệm vụ quan trọng mới của nhà nước ta là đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa…trong đó đặc biệt chú ý đến nội dung cải cách tư pháp Hiến pháp năm

1992 được ban hành trên cơ sở những thay đổi mới của tình hình đất nước

đã có sự điều chỉnh về chức năng của VKSND bỏ chức năng kiểm sát chung Tại điều 137, Hiến pháp 1992 quy định chức năng, nhiệm vụ của ngành kiểm sát nhân dân với hai chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo

Trang 39

pháp luật trong hoạt động tư pháp Luật tổ chức VKSND năm 1992 vẫn giữ nguyên các chức năng, nhiệm vụ của VKSND nhưng phạm vi đối tượng thực hiện chức năng của VKS có sự thu hẹp Trong lĩnh vực kiểm sát chung chỉ tập trung vào kiểm sát văn bản, chỉ tiến hành kiểm sát hành vi khi phát hiện có vi phạm pháp luật (Điều 8, Điều 9) Ngoài ra, VKSND còn có nhiệm

vụ trực tiếp điều tra tội phạm trong những trường hợp do pháp luật tố tụng hình sự quy định

Trước sự thay đổi của đất nước, đòi hỏi việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước nói chung và của VKSND nói riêng phải

có sự thay đổi cho phù hợp với tiến trình cải cách tư pháp Ngày 02/4/2002, Quốc hội đã thông qua Luật tổ chức VKSND năm 2002, tiếp tục khẳng định VKSND có hai chức năng cơ bản nhưng đã nhấn mạnh chức năng THQCT nên đã đưa lên trước, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật không tiến hành trên các lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội như trước đây nữa mà chỉ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong lĩnh vực hoạt động tư pháp

1.4 SO SÁNH VỚI CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRUNG QUỐC

Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định tại điều 129: VKSND Trung Hoa là cơ quan giám sát việc tuân theo pháp luật VKSND Trung Hoa có nhiệm vụ: bằng việc thực hiện quyền kiểm sát của mình, VKSND Trung Hoa có nhiệm vụ trấn áp tất cả các mối đe dọa, tấn công, phá hoại đất nước, những mối nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, các hoạt động phạm tội khác và truy tố tội phạm… VKSND còn có nhiệm vụ giáo dục nhân dân, thuyết phục, động viên nhân dân về lòng trung thành với tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tuân thủ nhất quán Hiến pháp, pháp luật và đấu tranh với mọi hoạt động trái pháp luật…

Từ những quy định trên cho thấy, VKSND Trung Hoa có các quyền hạn: kiểm sát các vụ án đe dọa và tấn công phá hoại đất nước, các tội phạm

Trang 40

nghiêm trọng khác xâm hại đến việc thực hiện nghiêm túc các chính sách của nhà nước, luật, pháp lệnh; điều tra các vụ án tham nhũng, các hành vi vô trách nhiệm trong thực hiện chức năng của nhà nước, các vụ án xâm hại đến các quyền khác của công dân, các tội phạm nghiêm trọng khác như: bắt giữ người trái pháp luật, tra tấn để bức cung, tạo chứng cứ giả; xem xét các vụ án an ninh quốc gia do cơ quan an ninh quốc gia và các cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành điều tra; thực hiện quyền công tố trong các vụ án hình sự và giám sát việc tuân thủ pháp luật các phiên tòa của tòa án nhân dân; giám sát việc tuyên án và áp dụng hình phạt của các Tòa án nhân dân trong các vụ án hình

sự, khi phát hiện có sai sót phải kháng nghị yêu cầu sửa chữa; giám sát việc tuân theo pháp luật đối với các phiên tòa xét xử các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động của Tòa án nhân dân; giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân; giám sát việc tuân theo pháp luật trong các trại giam, tạm giữ và trại cải tạo phạm nhân

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đặt chức năng THQCT của VKS lên trước và vẫn duy trì chức năng kiểm sát như: kiểm sát thủ tục tố tụng, kiểm sát việc khởi tố điều tra, kiểm sát và phê chuẩn quyết định tạm giam chờ xét xử, kiểm sát hoạt động điều tra, xem xét yêu cầu truy tố của

CQĐT và ra quyết định…

Trải qua 50 năm, VKSND của chúng ta cũng dần dần trưởng thành và trở thành cơ quan độc lập Ban đầu từ một bộ phận thuộc Tòa án, chúng ta đã được tách ra thành một cơ quan độc lập với chức năng và nhiệm vụ riêng của mình Trong tiến trình hội nhập và phát triển, chúng ta đã nghiên cứu học tập, đổi mới chức năng nhiệm vụ của VKS, theo đó dần dần thu hẹp chức năng của VKS lại tập trung vào một chức năng chính là công tố Trong giai đoạn hiện nay, để tăng cường trách nhiệm của VKS, Đảng và Nhà nước ta đã đưa

ra chủ trương "gắn công tố với điều tra" và "nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành viện công tố" cho phù hợp với quốc tế

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Đức Anh (2010), "Một vài ý kiến về việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát theo mô hình khu vực", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài ý kiến về việc tổ chức hệ thống Viện kiểm sát theo mô hình khu vực
Tác giả: Hồ Đức Anh
Năm: 2010
2. Lê Văn Cảm (2002), "Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền", Tòa án nhân dân, (11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2002
3. Lê Văn Cảm (2004), "Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng", Kiểm sát, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2004
5. Lê Văn Cảm (2010), "Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền", Kiểm sát, (7+9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Lê Văn Cảm
Năm: 2010
6. Lý Văn Chính (2004), Quyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: uyền công tố trong tố tụng hình sự tranh tụng và việc vận dụng trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Lý Văn Chính
Năm: 2004
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3 của Bộ Chính trị (khóa IX) về một số công việc cấp bách các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2000
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08 NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7 của Bộ Chính trị về đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2010
13. Nguyễn Minh Đức (2008), "Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát theo tinh thần cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Minh Đức
Năm: 2008
14. Nguyễn Duy Giảng (2010), "Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Duy Giảng
Năm: 2010
15. Phạm Hồng Hải (2002), "Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp", Kiểm sát, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2002
16. Nguyễn Hữu Hậu (2009), "Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đặt ra khi đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Nguyễn Hữu Hậu
Năm: 2009
17. Nguyễn Văn Huyên (2007), Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Tập bài giảng, Học viện tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
Tác giả: Nguyễn Văn Huyên
Năm: 2007
18. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
19. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2011). Mô hình tố tụng hình sự một số nước trên thế giới- kinh nghiệm với việc hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học tại Hà Nội, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tố tụng hình sự một số nước trên thế giới- kinh nghiệm với việc hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
21. Ngô Ngọc Liên (2005), "Một số ý kiến qua 5 năm thi hành Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân từ năm 2002 đến năm 2005", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến qua 5 năm thi hành Pháp lệnh kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân từ năm 2002 đến năm 2005
Tác giả: Ngô Ngọc Liên
Năm: 2005
22. Trương Đắc Linh (2008), "Một số ý kiến về đổi mới tổ chức VKS trong chiến lược cải cách tư pháp ở nhà nước ta hiện nay", vksndtc.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về đổi mới tổ chức VKS trong chiến lược cải cách tư pháp ở nhà nước ta hiện nay
Tác giả: Trương Đắc Linh
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: số liệu CQĐT khởi tố, VKS phê chuẩn; VKS khởi tố vụ án, bị can,  huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị  can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án,  khởi tố bị can - Chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn Thành phố Hải Phòng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.1 số liệu CQĐT khởi tố, VKS phê chuẩn; VKS khởi tố vụ án, bị can, huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can; yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can (Trang 124)
Bảng 2.2: Số liệu VKSNDTP Hải Phòng quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ  biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác - Chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn Thành phố Hải Phòng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.2 Số liệu VKSNDTP Hải Phòng quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác (Trang 125)
Bảng 2.4: Số liệu thống kê số lượng kiến nghị của VKS đối với CQĐT - Chức năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự trên địa bàn Thành phố Hải Phòng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Bảng 2.4 Số liệu thống kê số lượng kiến nghị của VKS đối với CQĐT (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm