1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004

95 563 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 783,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

việc tham gia TTDS của VKSND đã được công bố như đề tài cấp Bộ "Vị trí vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự" do Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC thực hiện năm 20

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HẰNG

VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

VIỆT NAM NĂM 2004

Chuyên ngành : Luật dân sự

Mã số : 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hằng

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUY ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT

THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ

1.3 Sơ lược sự hình thành và phát triển các quy định của pháp

luật Việt Nam từ năm 1945 đến nay về việc tham gia tố tụng

dân sự của Viện kiểm sát

18

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 18

Trang 5

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 21

Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2004 VỀ VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ

27

2.1 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết các vụ việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm

27

2.1.1 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

27

2.1.2 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết việc dân sự theo thủ tục sơ thẩm

34

2.2 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết vụ việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm

36

2.2.1 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm

36

2.2.2 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải

quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm

44

2.3 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong thủ tục giám đốc

thẩm, tái thẩm

45

2.3.1 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong thủ tục giám đốc

thẩm, tái thẩm bản án, quyết định giải quyết vụ án dân sự

46

2.3.2 Viện kiểm sát tham gia tố tụng trong thủ tục giám đốc thẩm,

tái thẩm quyết định giải quyết việc dân sự

49

Chương 3: THỰC TIỄN VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG

DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2004 VÀ KIẾN NGHỊ

52

3.1 Thực tiễn Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

52

Trang 6

3.1.1 Khái quát thực tiễn Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004

52

3.1.2 Những hạn chế, vướng mắc trong việc Viện kiểm sát tham

gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự KSV : Kiểm sát viên

TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTDS : Tố tụng dân sự

VKS : Viện kiểm sát VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

3.1 Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý của VKSND

thành phố Hà Nội trong hai năm 2011, 2012

53

3.2 Thống kê kết quả công tác kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp

của VKSND thành phố Hà Nội trong hai năm 2011, 2012

54

3.3 Thống kê kết quả công tác kiểm sát bản án, quyết định

của VKSND thành phố Hà Nội đạt được trong hai năm

2011, 2012

55

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân,

do dân, vì dân Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta không ngừng đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Để góp phần thực hiện được các mục tiêu đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay của Nhà nước ta là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, cải cách tư pháp nhằm đảm bảo cho các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng hoạt động hiệu quả

Trong lĩnh vực tư pháp, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW

về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 08-NQ/TW) đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật

trong hoạt động tư pháp" [6] Ngày 15 tháng 6 năm 2004, tại Kỳ hợp thứ 5

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua

Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) Đây là BLTTDS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó có quy định các vấn đề vai trò, nhiệm

vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong tố tụng dân sự (TTDS) Bộ luật này điều chỉnh theo hướng hạn chế thẩm quyền tham gia TTDS của VKSND, đề cao nguyên tắc quyền tự quyết định của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án Tuy vậy, qua thực hiện Bộ luật này cho thấy trong điều kiện hệ thống pháp luật Việt Nam còn bất cập, người dân còn gặp khó khăn trong việc tự chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đội ngũ cán bộ xét xử và đội ngũ Luật sư cũng chưa đáp ứng được yêu

Trang 10

cầu v.v thì việc hạn chế việc tham gia TTDS của VKSND lại không phù hợp Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc vi phạm pháp luật trong giải quyết các vụ việc dân sự vẫn xảy ra Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 49-NQ/TW) nêu rõ:

Nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức Tình hình phạm tội diễn biến phức tạp, với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng Các khiếu kiện hành chính, các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, các loại khiếu kiện và tranh chấp có yếu tố nước ngoài có chiều hướng tăng về số lượng và phức tạp, đa dạng hơn Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với các cơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm [8].Xuất phát từ thực tiễn trên, ngày 29 tháng 3 năm 2011 tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã sửa đổi, bổ sung các quy định về việc VKSND tham gia tố tụng dân sự Mặc dù Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS đã sửa đổi nhiều quy định của BLTTDS về việc tham gia TTDS của VKSND cho hợp lý hơn, khoa học hơn nhưng thực tiễn áp dụng những năm qua cho thấy vẫn còn

có sự bất cập, cần sự tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện Với những lý do nêu

trên, học viên đã chọn đề tài "Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004" nghiên cứu làm

luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm gần đây việc tham gia TTDS của VKSND đã được một số

Trang 11

việc tham gia TTDS của VKSND đã được công bố như đề tài cấp Bộ "Vị trí vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự" do Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) thực hiện năm 2008; bài "Nhận thức đúng thẩm

lu t t t ng dân sự" của Tiến sĩ Khuất Văn Nga đăng trên Thông tin Khoa học kiểm sát năm 2004; bài "Quy định về tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự của Viện kiểm sát nhân dân và hướng sửa đổi, bổ sung theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự" của Tiến sĩ Hoàng Thị Quỳnh Chi, đăng trên Thông tin Khoa học kiểm sát năm 2010; bài "Nghiên cứu các chủ trương của Đảng về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự và sự thể chế hóa trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ" của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Việt, đăng

trên Thông tin Khoa học kiểm sát năm 2010 v.v Ngoài ra còn một số bài viết

đề cập đến vị trí, vai trò của VKSND trong TTDS đăng trên Tạp chí Luật học,

Tạp chí Tòa án, Tạp chí Kiểm sát, Thông tin khoa học pháp lý như "Bàn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự" của tác giả Hoàng Yến đăng trên Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh 2012; "Nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004" của tác giả Hồ Quốc Thái đăng trên Thông tin khoa học kiểm sát năm 2010; "Nghiên cứu về vai trò của

cơ quan công tố/kiểm sát trong tố tụng dân sự một số nước trên thế giới - Những bài học cho việc xác định vị trí vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự Việt Nam" của Phạm Hoàng Diệu Linh đăng trên Thông tin khoa học kiểm sát năm 2010; "Kiểm sát các hoạt động tư pháp của ngành kiểm sát nhân dân là yêu cầu tất yếu của xã hội xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa" của tác giả Võ Huy Triết đăng trên Tạp chí kiểm sát

năm 2012

Mặc dù các công trình nghiên cứu đã công bố có đề cấp đến việc tham gia TTDS của VKSND nhưng việc nghiên cứu chủ yếu mới đi vào làm rõ vai

Trang 12

trò của VKSND trong TTDS mà chưa đi sâu vào từng khía cạnh, phạm vi riêng biệt của việc tham gia TTDS của VKSND Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu việc tham gia TTDS của VKSND vẫn là cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu là làm rõ những vấn đề lý luận; nội dung các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS; việc thực hiện chúng trong thực tiễn và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện

có hiệu quả các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS, đáp ứng

yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

Để thực hiện mục đích trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về VKSND tham gia TTDS như khái niệm, đặc điểm và vai trò của VKSND

- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về VKSND tham gia TTDS

- Khảo sát thực tiễn hoạt động của VKSND tham gia TTDS, tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của VKSND tham gia TTDS

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về VKSND tham gia TTDS, các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS và thực tiễn tham gia TTDS của VKSND Ngoài ra, có nghiên cứu các quy định của các văn bản pháp luật liên quan về VKSND tham gia TTDS để đối chiếu tham khảo như các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS, Luật Tổ chức VKSND và các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS v.v

Trong khuôn khổ đề tài luận văn thạc sĩ luật học, việc nghiên cứu giới hạn trong những vấn đề lý luận cơ bản về việc tham gia TTDS của VKSND như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở tham gia TTDS của VKSND, các quy định của

Trang 13

BLTTDS về việc tham gia TTDS của VKSND và thực tiễn thực hiện chúng trong những năm gần đây ở Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước về cải cách tư pháp, xây dựng pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Ngoài ra việc nghiên cứu còn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phân tích, phương pháp so sánh sánh, chứng minh tổng hợp

6 Tính mới và những đóng góp của việc nghiên cứu đề tài

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về VKSND tham gia TTDS Đánh giá được thực trạng các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS

- Chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong thực hiện các quy định của BLTTDS về VKSND tham gia TTDS

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật về VKSND tham gia TTDS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quy định Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Chương 2: Nội dung các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về Viện

kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Chương 3: Thực tiễn Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự và kiến nghị

Trang 14

1.1.1 Khái niệm việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Xã hội là hệ thống các quan hệ đa dạng và phức tạp và chủ thể khi tham gia vào các quan hệ xã hội phải thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật Một chủ thể không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật sẽ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khác Do đó, để duy trì trật tự xã hội Nhà nước thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể Khi có tranh chấp phát sinh, chủ thể có quyền, lợi ích bị xâm phạm có thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khi đó, Tòa án sẽ tiến hành những hành vi nhất định để giải quyết một tranh chấp dân sự Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS thì TTDS bao gồm khởi kiện, hòa giải, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và thi hành án Từ đó có thể hiểu "tố tụng dân sự" là quá trình bao gồm các hoạt động của Tòa án và VKSND trong việc giải quyết các vụ việc dân sự Nếu như luật tố tụng hình sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự thì luật tố tụng dân sự bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong TTDS để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự đúng đắn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước

Ở Việt Nam, hệ thống VKSND ra đời từ năm 1960, xuất phát từ nhu

Trang 15

hành nghiêm chỉnh và thống nhất, vì lẽ trên phải tổ chức ra VKSND nhằm giữ vững pháp chế Xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho pháp luật được thi hành

nghiêm chỉnh và thống nhất Ngay từ ngày đầu mới thành lập, chức năng cơ

bản nhất của VKSND đã được xác định trong Luật tổ chức VKSND năm

1960 là "kiểm sát việc tuân theo pháp luật, đảm bảo cho pháp luật được thi

hành nghiêm chỉnh và thống nhất" [17] Đến nay, Hiến pháp nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã xác định rõ vị trí, chức năng của VKSND tại chương VIII, từ Điều 107 đến 109 Theo đó:

Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo

vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất [26]

Trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự, việc tham gia TTDS của VKSND nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng đảm bảo cho tính pháp chế của các phán quyết của Tòa án, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và các thành viên trong xã hội Các hoạt động

cụ thể của VKSND trong TTDS bao gồm kiểm sát thông báo thụ lý vụ việc của Tòa án, kiểm sát hoạt động giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự của Tòa

án, kiểm sát bản án, quyết định dân sự của Tòa án và kháng nghị các bản án, quyết định dân sự của Tòa án Điều 39 BLTTDS quy định, cùng với Tòa án, VKSND là một cơ quan tiến hành tố tụng, Kiểm sát viên (KSV) là người tiến hành tố tụng Nhưng khác với Tòa án, VKSND tham gia giải quyết vụ việc dân sự nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng VKSND tham gia kiểm sát hoạt động TTDS thể hiện cụ thể ở nhiệm vụ, quyền hạn của KSV và của Viện trưởng VKSND được quy định tại các Điều 44 và 45 BLTTDS Theo quy định tại Điều 45 BLTTDS, khi được phân công thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTDS, KSV có những nhiệm vụ,

Trang 16

quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa

án, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật này và phát biểu ý kiến của VKSND về việc giải quyết vụ việc dân sự Theo quy định tại Điều 44 BLTTDS, Viện trưởng VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động TTDS, quyết định phân công KSV thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng, tham gia phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự theo quy định của BLTTDS, kiểm tra hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng của KSV, quyết định thay đổi KSV và kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của BLTTDS

Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận: Việc VKSND tham gia

các hoạt động tham gia tố tụng c a nh ng ngư ờ i tham gia t t ng

và th ng nh t trong quá trình gi i quyế t v vi c dân s

1.1.2 Đặc điểm của việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì cơ quan tiến hành tố tụng gồm TAND và VKSND Tòa án là cơ quan xét xử, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự Trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng TAND phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực

Trang 17

hoạt động của VKSND hoàn toàn khác VKSND thực hiện việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng theo quy định của BLTTDS Việc tham gia TTDS của VKSND có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, phải khẳng định việc VKS tham gia TTDS đã được ghi

nhận trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là một nguyên tắc cơ bản của TTDS

Ngay từ Hiến pháp 1960, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ghi nhận về chế định VKSND Tuy vị trí chức năng của VKSND trải qua các thời kỳ của Hiến pháp 1960, 1980, 1992 và mới nhất là Hiến pháp năm 2013 có nhiều thay đổi, nhưng về cơ bản đều ghi nhận VKSND có "nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân" [26] Hiến pháp năm 2013 dành các Điều từ 107 đến 109 quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và mô hình VKSND trong đó xác định chức năng của VKSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp

Nếu như Hiến pháp ghi nhận một trong hai chức năng cơ bản của VKSND là kiểm sát hoạt động tư pháp thì BLTTDS cụ thể hóa điều này thành nguyên tắc Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự quy định tại Điều 21 Theo đó, "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vu việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật" [23]

Với việc quy định kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là một nguyên tắc cơ bản của BLTTDS cho thấy tầm quan trọng, vai trò của VKSND trong TTDS Đây là tư tưởng pháp lý cơ bản, xuyên suốt trong quá

Trang 18

trình xây dựng và thực hiện BLTTDS Việc vi phạm nguyên tắc được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến hậu quả là vụ việc phải được xem xét lại, ngay cả khi bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật

Thứ hai, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là hoạt động

TTDS do cơ quan duy nhất là VKSND tiến hành

Theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức VKSND thì VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Với chức năng, nhiệm vụ của mình, VKSND thực hiện quyền lực nhà nước, trực tiếp tham gia giám sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm trật tự xã hội VKSND thực hiện chức năng kiểm sát của mình thông qua việc nhận các thông báo, quyết định, bản án của Tòa án và các văn bản có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự, kiểm sát hoạt động của Tòa án trong khi tiến hành tố tụng, kiểm sát hoạt động tố tụng của nguyên đơn, bị đơn, ngươi có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Pháp luật quy định về nhiều cơ chế giám sát các hoạt động TTDS nhưng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thì chỉ

có duy nhất cơ quan VKSND mới có đủ thẩm quyền, được giao đủ công cụ pháp

lý thực hiện Cụ thể BLTTDS và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định VKSND có quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị (Điều 21 BLTTDS), kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, giải quyết việc dân sự của Tòa án, Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia

tố tụng, kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án, tham gia phiên tòa, phiên họp (Điều 45 BLTTDS), tiến hành thu thập chứng cứ {Điều 4 Thông tư liên tịch

số 04/2012/TTLT-VKSTC-TANDTC ngày 01/8/2012 của VKSNDTC và Tòa

án nhân dân tối cao (TANDTC) về hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 04/2012)}

Trang 19

Thứ ba, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS phải

tuân theo những quy định của pháp luật về trình tự và thủ tục

Vì hoạt động kiểm sát của VKSND nhằm mục đích bảo đảm hoạt động của Tòa án, hoạt động của đương sự và những người tham gia tố tụng khác phải tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nên hoạt động kiểm sát của VKSND không nằm ngoài pháp luật, phải tuân thủ quy định của pháp luật Trước đây, khi BLTTDS chưa được ban hành thì VKSND được tham gia các phiên tòa dân sự Từ khi BLTTDS được ban hành, pháp luật đã hạn chế sự tham gia phiên tòa của VKSND trong các vụ án dân sự nên theo Điều 21 BLTTDS thì VKSND chỉ tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án, các vụ việc dân sự mà VKSND kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án Đến nay, khi Nhà nước ban hành Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS quyền tham gia phiên tòa, phiên họp của VKSND đã được mở rộng hơn, cụ thể:

1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết

vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật 2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa

sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần 3 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm [23] Tuy vậy, dù pháp luật quy định như thế nào thì trong hoạt động kiểm sát của mình, VKSND vẫn phải tuân theo các quy định đó Hoạt động kiểm sát của VKSND vừa mang tính giám sát, vừa thể hiện sự đảm bảo cho hoạt

Trang 20

động tố tụng diễn ra đúng quy định của pháp luật, vừa hỗ trợ việc giải quyết

vụ việc dân sự được nhanh chóng và đúng luật

1.1.3 Ý nghĩa của việc Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Trước hết phải khẳng định việc tham gia tố tụng của VKSND trong TTDS đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật Đây là mục đích được xác định ngay từ ngày đầu khi thành lập cơ quan kiểm sát và vai trò này luôn được khẳng định qua các lần sửa đổi, bổ sung luật Trong hệ thống bộ máy nhà nước, VKSND có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật cho thấy tầm quan trọng của VKSND trong đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và VKS có nhiệm vụ giám sát việc thực thi pháp luật của cơ quan tư pháp, đảm bảo pháp luật được tôn trọng trong các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và của những người tham gia tố tụng "Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật" [23, Điều 21]

Bên cạnh đảm bảo tính thượng tôn của pháp luật, việc tham gia TTDS của VKSND còn góp phần phát hiện, hạn chế những tiêu cực, sai sót trong hoạt động tố tụng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của những người tiến hành

tố tụng trong giải quyết các vụ việc dân sự BLTTDS quy định thẩm phán và hội thẩm nhân dân khi xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bên cạnh đó

là quy định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Muốn đảm bảo được những điều đó thì nhất thiết phải có sự kiểm sát của VKSND, bởi hoạt động tố tụng của người tiến hành tố tụng do nhiều nguyên nhân khác nhau có thể không được khách quan Và nhiều khi vì lý do lịch sử để lại, không phải người tiến hành tố tụng nào cũng nhận thức vấn đề giống nhau, do đó cần sự

Trang 21

giám sát của VKSND để đảm bảo cho hoạt động tố tụng đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định

Cuối cùng, hoạt động kiểm sát của VKSND trong TTDS đảm bảo cho

vụ việc dân sự được giải quyết nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án có căn cứ và đúng luật, đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng Sự tham gia của VKSND thể hiện ở hoạt động kiểm sát của VKSND từ giai đoạn thụ lý hồ sơ, điều tra xác minh thu thập chứng cứ đến xét xử Tùy vào từng giai đoạn, từng nội dung công việc cụ thể mà VKSND có quyền ra các văn bản đề nghị, kiến nghị, hay kháng nghị nhằm giúp cho việc giải quyết vụ việc ở các cấp TAND được nghiêm túc đúng trình tự và thủ tục do pháp luật quy định Thực tiễn sự tham gia của VKSND trong TTDS cho thấy khi có văn bản đề nghị, kiến của VKSND thì số lượng các vụ án quá hạn, kéo dài giảm đi đáng kể Và khi TAND khắc phục những thiếu sót theo ý kiến của VKSND cũng làm giảm đáng kể vụ việc phải kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm Điều này không chỉ đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng mà còn giúp cho

vụ án được giải quyết nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật

1.2 CƠ SỞ CỦA VIỆC PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ

Những quy định pháp luật liên quan đến VKSND tham gia TTDS ra đời từ rất sớm và thay đổi nhiều theo thời gian để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ Để hiểu rõ được quy định về VKSND tham gia TTDS phải tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của những quy định này

1.2.1 Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự

Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Tòa án và Cơ quan công tố được

tổ chức theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức các Tòa án và ngạch

Trang 22

thẩm phán; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 về việc ấn định thẩm quyền của các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án…Theo đó cơ quan công tố nằm trong cơ cấu tổ chức của Tòa án, do Bộ Tư pháp quản lý Ngay trong cơ cấu này thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp cũng thể hiện khá rõ, cụ thể các Công tố viên có quyền giám sát công tác điều tra của

Tư pháp Cảnh sát, kiểm soát công việc quản trị lao tù, có quyền kháng cáo bản án hình sự đã tuyên, riêng người đứng đầu Viện công tố của Tòa Thượng thẩm (Chưởng lý) còn có cả nhiệm vụ giám sát việc thi hành các Đạo luật, Sắc lệnh và Quy tắc hiện hành trong quản hạt của mình Tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa I, Quốc hội đã quyết định Viện công tố Trung ương trực thuộc Chính phủ được thành lập trên cơ sở tách bộ phận công tố trực thuộc Tòa án

ra Tuy nhiên ngay cả trong mô hình này thì Viện công tố cũng đã có những nhiệm vụ kiểm sát hoạt động tư pháp như giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của Cơ quan điều tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc xét xử của Tòa án, giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án hình sự, dân sự và trong hoạt động của các Cơ quan giam, giữ, cải tạo, khởi tố và tham gia tố tụng những vụ án dân sự Như vậy, ngay từ lúc mới hình thành, Cơ quan công tố đã thể hiện rõ xu hướng độc lập

cả về tổ chức lẫn thẩm quyền hoạt động Chức năng không chỉ giới hạn ở thực hành quyền công tố mà còn giám sát hoạt động điều tra, giám sát đối với các hoạt động tư pháp và tham gia hoạt động TTDS, kháng cáo bản án hình sự, dân sự Hiến pháp năm 1959 ban hành đánh dấu sự ra đời của một loại hình

cơ quan nhà nước mới trong bộ máy nhà nước, đó là cơ quan VKSND Tại

Điều 105 Hiến pháp năm 1959 quy định:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan nhà nước địa phương, các nhân viên

cơ quan nhà nước và công dân Các Viện kiểm sát nhân dân địa

Trang 23

phương và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi

do luật định [16]

Đến Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 tuy có những bổ sung, thay đổi về tổ chức, hoạt động của VKSND nhưng chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vẫn luôn được giao cho VKSND

Qua sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW, Bộ Chính trị nêu

rõ, một trong những nguyên nhân làm cho chất lượng xét xử các vụ án dân sự

thời gian qua còn thấp là do chưa có cơ chế giám sát, kiểm sát hiệu quả việc giải quyết các vụ án này Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010 của Bộ

Chính trị khẳng định: "Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền

công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp như hiện nay" [12] Báo cáo chính trị tại Đại hội XI yêu cầu "Bảo đảm tốt hơn các điều kiện để Viện kiểm sát nhân dân thực hiện hiệu quả chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp" [10] Nhiều đạo luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới theo hướng tăng cường vai trò giám sát các hoạt động tư pháp của VKSND Các văn bản pháp luật này đều khẳng định một cách nhất quán yêu cầu của Đảng, Quốc hội phải tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của VKSND trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trên tất cả các lĩnh vực tư pháp

Đảng ta đã khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền là vấn đề có tính quy luật trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đặc biệt, một trong những yêu cầu mới của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bảo đảm sự kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Vì vậy, tiếp

tục duy trì VKSND với tính cách là một hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước với hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, đồng thời có các cơ chế pháp lý để tăng cường hiệu lực, hiệu quả các khâu công tác kiểm sát hoạt động tư pháp chính là biện pháp

Trang 24

quan trọng góp phần đẩy mạnh các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở đất nước ta

1.2.2 Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định Viện kiểm sát tham tố tụng dân sự

Theo quy định của pháp luật hiện hành, VKSND có hai chức năng cơ bản là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Nếu như chức năng thực hành quyền công tố diễn ra trong quy trình tố tụng hình sự thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp thể hiện trong quy trình tố tụng dân

sự, cụ thể là kiểm sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND thời gian qua đạt được những kết quả rất quan trọng Tại Mục 1.3 về kết quả thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực dân sự, hành chính của Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật tổ chức VKSND năm 2002, Pháp lệnh KSV VKSND năm 2002, Pháp lệnh tổ chức

Viện kiểm sát (VKS) quân sự năm 2002 nêu rõ:

- Từ năm 2002 đến nay, do tác động của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, tình hình tranh chấp dân sự, hành chính ngày càng gia tăng, diễn biến phức tạp, nhất là tranh chấp về đất đai, nhà ở, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi đất, cấp, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xuất hiện ngày càng nhiều các tranh chấp có yếu tố nước ngoài Trước tình hình đó, VKS các cấp đã tập trung kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết các tranh chấp dân sự về đất đai, nhà ở, về quyền sở hữu tài sản, về hôn nhân và gia đình, về kinh doanh, thương mại, lao động…

- Từ 2002 đến 31/12/2004, thực hiện Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án dân sự năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002, VKS các cấp đã khởi tố 104 vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; yêu cầu Tòa án xác minh bổ

Trang 25

sung chứng cứ hoặc tự mình xác minh bổ sung chứng cứ hàng nghìn vụ án; tham gia 100% các phiên tòa xét xử vụ án về dân sự, hôn nhân và gia đình của Tòa án Qua hoạt động kiểm sát đã phát hiện nhiều vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án VKS đã kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm 1165 vụ; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 484 vụ Qua

đó, đã góp phần bảo đảm việc giải quyết các vụ việc đúng pháp luật

- Từ 01/01/2005, khi BLTTDS có hiệu lực, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự có sự thay đổi cơ bản so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 2002 Theo

đó, VKS không thực hiện thẩm quyền khởi tố các vụ án dân sự, không tham gia 100% các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự, không xác minh, thu thập chứng cứ Thực hiện các quy định này, VKSNDTC đã chỉ đạo toàn ngành chuyển trọng tâm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, tập trung vào kiểm sát các bản án, quyết định của Tòa án [2]

Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS mở rộng phạm vi tham gia các phiên tòa xét xử vụ án dân sự của VKS và mở rộng phạm vi kiểm sát đối với cả việc Tòa

án trả lại đơn khởi kiện của đương sự Cùng với việc sửa đổi BLTTDS, Quốc hội cũng đã ban hành Luật tố tụng hành chính, thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, trách nhiệm của VKSND trong kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính cũng tăng lên nhiều so với trước

Căn cứ vào các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và bám sát các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, VKS các cấp đã chủ động trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án hành chính được bảo đảm Trong việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị, số lượng, chất lượng hiệu quả công tác kháng nghị của VKS các cấp ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ kháng nghị được Tòa án chấp nhận tăng hơn nhiều so với trước:

Trang 26

kháng nghị phúc thẩm dân sự được Tòa án chấp nhận đạt từ 80 - 82% (trước

vi phạm về việc gửi thông báo thụ lý, bản án, quyết định cho VKS không bảo đảm thời hạn luật định; kéo dài việc giải quyết vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ giải quyết vụ án không đúng pháp luật; chậm chuyển các quyết định, bản

án, hồ sơ vụ việc làm ảnh hưởng đến thời gian xem xét việc kháng nghị của VKS đối với những bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm ; đồng thời, VKS còn phát hiện, tổng hợp những vi phạm trong quản lý hành chính nhà nước và kiến nghị các cơ quan chính quyền có biện pháp giải quyết các điểm nóng, khiếu kiện bức xúc, kéo dài, góp phần thực hiện tốt hơn quản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội Thực tiễn đó đã kiểm nghiệm và chứng minh cho sự cần thiết của việc tham tố tụng dân sự của VKS và hiệu quả của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND

1.3 SƠ LƢỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT

Ngày 26/7/1960 là ngày thành lập ngành Kiểm sát nhân dân, tuy nhiên

mô hình công tố viện (tiền thân của VKS) có từ trước những năm 1960 Trải qua 53 năm phát triển và trưởng thành, ngành kiểm sát có những thăng trầm, thay đổi và ngày càng hoàn thiện để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được

Trang 27

giao Cùng với sự phát triển của ngành Kiểm sát, các quy định của pháp luật

về việc tham gia TTDS của VKSND cũng có nhiều thay đổi và phát triển

1.3.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Ngay từ sau Cách mạng tháng tám, để xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Pháp luật giai đoạn này chưa có quy định về VKS nhưng có những quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của công tố viện trong tố tụng dân sự Theo Sắc lệnh

số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm phán, Tòa án được chia thành hai loại, sơ cấp và đệ nhị cấp Công tố viện ra đời ở Tòa thượng thẩm, đứng đầu là Chưởng lý Cơ quan công tố không được thành lập

ở Tòa đệ nhị mà chỉ có cán bộ làm công tác biện lý Khi tham gia phiên tòa

"biện lý ngồi ghế Công tố viên" [3] Thẩm phán ở tòa đệ nhị được chia thành hai loại, thẩm phán xét xử và thẩm phán buộc tội trong đó thẩm phán buộc tội

là một bộ phận độc lập và chịu sư lãnh đạo của Chưởng lý Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định Công tố viện tham gia TTDS dưới hình thức người thi hành quyền quyền công tố (Điều 22) và khởi tố vụ án dân sự (Điều 41) Như vậy, Công tố viện thời kỳ này bước đầu được hình thành, nằm trong hệ thống Tòa án, có chức năng kiểm soát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhà nước

Bắt đầu từ năm 1950, Công tố viện được đặt dưới sự điều khiển của

Ủy ban kháng chiến hành chính Công tố viện lúc này nằm trong cơ cấu cơ quan hành pháp, các đường lối, phạm vi hoạt động, sự tham gia tố tụng của Công tố viện được mở rộng sang các vụ việc dân sự

Công cuộc cải cách tư pháp diễn ra vào năm 1960 quyết định cho việc chuyển Công tố viện thành VKSND, một hình thức hoàn thiện hơn, đáp ứng được yêu cầu mới của cách mạng trong những năm tiếp theo Trong lĩnh vực TTDS, Công văn số 1137/HCTP ngày 05/6/1958 hướng dẫn: Về việc dân sự,

Trang 28

Công tố viện có nhiệm vụ khởi tố, tham gia tố tụng đối với những vụ án dân

sự quan trọng liên quan đến lợi ích Nhà nước của nhân dân Còn đối với những vụ án thường thì công tố viện không cần tham dự phiên tòa

Có thể thấy, giai đoạn 1945 - 1960, tuy VKSND chưa hình thành nhưng Công tố viện (tiền thân của VKSND) đã bước đầu hình thành với chức năng kiếm sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố nhà nước Công tố viện có nhiệm vụ khởi tố, tham gia tố tụng đối với những vụ án dân

sự quan trọng liên quan đến lợi ích Nhà nước của nhân dân Đây là cơ sở cho

sự kế thừa và phát triển để hình thành nên mô hình VKSND trong các giai đoạn tiếp theo

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989

Giai đoạn này đánh dấu bằng sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, Công

tố viện chính thức được chuyển thành VKSND, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ Trung ương đến địa phương, không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính địa phương Ngoài chức năng công tố, VKSND còn được giao kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các Bộ, Ngành trở xuống bao gồm cả hệ thống Tòa án

Ngày 26/7/1960, Luật tổ chức VKSND năm 1960 được ban hành, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình ra đời và phát triển của VKSND Tại các điều 17, 18 Luật này quy định chức năng, quyền hạn của VKSND trong TTDS như sau: Khởi tố hoặc tham gia tố tụng trong những vụ

án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân; kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm của TAND cùng cấp và cấp dưới một cấp; kiểm sát việc chấp hành các bản án và các quyết định của TAND; khi VKSNDTC thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp là sai lầm thì có quyền kháng nghị; khi VKSND địa phương thấy các bản án hoặc các quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp mình hoặc cấp dưới là sai lầm thì báo cáo lên VKSNDTC để kháng nghị

Trang 29

Luật tổ chức VKSND năm 1981 ra đời, thay thế Luật tổ chức VKSND năm 1960 và mở rộng hơn các quyền của VKSND trong TTDS, thể hiện bằng việc dành hẳn một chương quy định về công tác kiểm sát xét xử Cụ thể Luật

tổ chức VKSND năm 1981 ghi nhận VKSND có các quyền sau: Tham dự việc trù bị phiên tòa của TAND cùng cấp; tham gia tố tụng tại phiên tòa của TAND cùng cấp; yêu cầu TAND cùng cấp chuyển hồ sơ những vụ án cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản

án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cùng cấp và dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật; kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới, khi thấy có vi phạm pháp luật; khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước,

tổ chức xã hội và đơn vị vũ trang nhân dân cùng cấp khởi tố những vụ án dân

sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể và quyền lợi chính đáng của công dân; VKSNDTC có quyền kháng nghị các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND các cấp theo thủ tục giám đốc thẩm khi thấy có vi phạm pháp luật hoặc theo thủ tục tái thẩm khi thấy có tình tiết mới; quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng thẩm phán và Ủy ban thẩm phán TANDTC bàn về việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong công tác xét xử

Có thể thấy, giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 đánh dấu sự ra đời của VKSND bằng việc tách hẳn Công tố viện ra thành một cơ quan độc lập và đổi tên thành VKSND Các Luật tổ chức VKSND được ban hành trong giai đoạn này đã quy định khá đầy đủ các hình thức tham gia tố tụng dân sự của VKSND Tuy nhiên, hạn chế của giai đoạn này là ngoài Luật tổ chức VKSND thì chưa có văn bản luật nào khác ghi nhận về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSNS trong TTDS

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

Giai đoạn này, quy định về VKSND trong TTDS tiếp tục kế thừa và phát triển từ các quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức VKSND

Trang 30

năm 1989 và Luật tổ chức VKSND năm 1992 Giai đoạn này còn đánh dấu sự

ra đời của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh cấp lao động năm 1996 và các thông tư liên ngành giữa TANDTC, VKSNDTC, Bộ Tư pháp để việc phối hợp giải quyết các vụ án của các cơ quan được thống nhất, nhằm giải quyết các vụ án tại Tòa án nhanh chóng, kịp thời và đúng quy định của pháp luật Theo đó, sự tham gia của VKSND trong TTDS được mở rộng hơn Điều 17 Luật tổ chức VKSND năm 1992 quy định:

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự và những việc khác do pháp luật quy định, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình điều tra, xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;

2 Khởi tố những vụ án dân sự theo quy định của pháp luật; tham gia phiên tòa xét xử những vụ án mà Viện kiểm sát nhân dân

đã khởi tố hoặc kháng nghị; đối với những vụ án khác, Viện kiểm sát nhân dân có thể tham gia tố tụng vào bất cứ giai đoạn nào, nếu thấy cần thiết;

3 Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;

4 Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự [21]

Kế thừa quy định của Luật tổ chức VKSND 1992, Luật tổ chức VKSND năm 2002 dành Chương IV để quy định về kiểm sát việc giải quyết

Trang 31

các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, trong đó Điều 21 quy định:

Khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1 Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu cầu Tòa án nhân dân hoặc tự mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;

2 Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;

3 Tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ án;

4 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân;

5 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;

6 Kiểm sát các bản án và quyết định của Tòa án nhân dân;

7 Yêu cầu Tòa án nhân dân áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật;

8 Yêu cầu Tòa án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển

hồ sơ những vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh

tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc kháng nghị [22]

Có thể thấy giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004, quy định về VKSND tham gia TTDS đã đạt được những bước tiến nhất định nhằm tăng cường sự kiểm sát của VKSND trong hoạt động tư pháp ở các lĩnh vực dân sự, kinh tế,

Trang 32

lao động, thể chế hóa được chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp Tuy nhiên, xã hội luôn vận động, các quan hệ xã hội luôn vận động và có sự thay đổi theo sự phát triển của kinh tế xã hội nên những quy định của pháp luật nói chung và quy định về VKSND tham gia TTDS vẫn cần có sự thay đổi, phát triển cho phù hợp sự phát triển của kinh tế - xã hội

1.3.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến năm nay

Nghị quyết 49/NQ-TW đã xác định mục tiêu của cải cách tư pháp là:

"Xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo

vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam

xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao" [8] Sự ra đời của BLTTDS đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nền tư pháp nói chung và quy định

về VKSND tham gia TTDS nói riêng BLTTDS được Quốc hội nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua kỳ họp thứ 5 ngày 15/6/2001, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2005 đã pháp điển hóa các quy định về thủ tục TTDS, tố tụng kinh tế và tố tụng lao động thành một đạo luật thống nhất Lần đầu tiên kể từ sau năm 1945 chúng ta mới có một Bộ luật tương đối hoàn thiện điều chỉnh về hoạt động TTDS BLTTDS ghi nhận việc tham gia của VKSND trong TTDS thành một nguyên tắc của TTDS Theo Điều 21 BLTTDS:

1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật 2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa đối với những vụ án do Tòa án thu thập chứng

cứ mà đương sự có khiếu nại, các việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, các vụ việc dân sự mà Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án [23]

Trang 33

Ngoài quy định này, trong BLTTDS có tới gần 40 điều luật quy định về việc tham gia TTDS của VKSND và ngày 01/9/2005 VKSNDTC và TANDTC

đã ban hành Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-VKSTC-TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS về kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS và sự tham gia của KSV trong việc giải quyết vụ việc dân sự Tuy vậy, các quy định đó đã giới hạn việc tham gia TTDS của VKSND so với trước, VKSND không có quyền khởi tố vụ án dân sự và tham gia tất cả các phiên tòa dân sự như quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự nữa

Sau hơn bẩy năm thi hành, BLTTDS đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn và cần được sửa đổi Do đó, ngày 29 tháng 3 năm

2011 tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS có hiệu lực thi hành từ 01/01/2012 đã mở rộng hơn quyền tham gia phiên tòa của VKSND, quy định

cụ thể hơn những vụ việc cần có sự tham gia của VKSND Theo Điều 21 BLTTDS được sửa đổi, bổ sung thì:

1 Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết

vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật

2 Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án

do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm

về thể chất, tâm thần

3 Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm [25]

Trang 34

Tiếp đó, ngày 01/8/2012 VKSNDTC và TANDTC ra Thông tư liên tịch số 04/2012, nội dung của Thông tư liên tịch số 04/2012 quy định khá chi tiết, cụ thể về các trường hợp VKSND tham gia phiên tòa, phiên họp, nội dung phát biểu của KSV tại phiên tòa, phiên họp; quy định các trường hợp VKSND tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ; quy định về cách thức chuyển hồ sơ, thời hạn chuyển hồ sơ của TAND để đảm bảo cho VKSND có thời gian nghiên cứu hồ sơ phục vụ việc kiểm sát trước, trong và sau phiên tòa; quy định về nghĩa vụ của TAND khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của VKSND khắc phục những sai sót hoặc chậm trễ trong việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo Thông tư liên tịch số 04/2012 ra đời trong sự mong mỏi của những người làm công tác pháp luật, đã giải quyết phần nào những khúc mắc trong quá trình phối hợp của những người tiến hành tố tụng Tuy nhiên có một

số nội dung hiện vẫn đang tranh cãi chưa được hướng dẫn trong Thông tư liên tịch số 04/2012, hy vọng trong thời gian sớm nhất sẽ có những hướng dẫn bổ sung để việc thực hiện BLTTDS được nhất quán, giúp cho việc giải quyết vụ

án nhanh chóng, đúng pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng

Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau về BLTTDS nhưng không thể phủ nhận được vai trò của các đạo luật này trong đời sống chính trị, pháp lý của Việt Nam BLTTDS đã thể hiện được quan điểm của Đảng, Nhà nước về tiến trình cải cách tư pháp, khắc phục được tình trạng tản mạn, thiếu đồng bộ của các văn bản về TTDS đã ban hành trước đó BLTTDS đã cụ thể hóa được các quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong TTDS Đồng thời quy định rõ quyền, nghĩa vụ của Tòa án, của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng; trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án dân sự và việc dân sự làm cơ

sở pháp lý cho việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 35

Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự rất phức tạp, lại dễ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự và chủ thể khác nên pháp luật ngoài việc quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong TTDS thì cũng cần có cơ chế thích hợp kiểm sát các hoạt động thực hiện quyền, nghĩa

vụ của họ Vì vậy, mặc dù "việc dân sự cốt ở đôi bên", "tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự" nhưng việc pháp luật quy định VKSND tham gia TTDS là điều cần thiết đảm bảo cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án được nhanh chóng và đúng đắn

Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS là một trong những nội dung của kiểm sát hoạt động tư pháp và được quy định xuyên suốt trong lịch

sử hình thành, phát triển của VKSND VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS thông qua các hoạt động khác nhau, ở các giai đoạn tố tụng khác nhau Qua thời gian, phạm vi kiểm sát hoạt động TTDS của VKSND có thể mở rộng hay thu hẹp nhưng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS luôn được coi là nguyên tắc của TTDS và ngày nay đã được quy định tương đối cụ thể trong BLTTDS

Trang 36

Chương 2

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2004

VỀ VIỆN KIỂM SÁT THAM THAM TỐ TỤNG DÂN SỰ

2.1 VIỆN KIỂM SÁT THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC DÂN SỰ THEO THỦ TỤC SƠ THẨM

2.1.1 Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm

Quá trình giải quyết các vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm bao gồm các giai đoạn như thụ lý vụ án, lập hồ sơ và hòa giải vụ án, xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm Do vậy, VKSND tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm từ giai đoạn thụ lý, lập hồ sơ và hòa giải vụ án, xét xử vụ án tại phiên tòa sơ thẩm

Theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLTTDS: "Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án" [23] Như vậy, việc Tòa án thụ lý vụ án phải được thông báo bằng văn bản cho VKSND cùng cấp và phải giao Thông báo về việc thụ lý vụ án trong thời hạn

ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án Công tác kiểm sát thụ lý vụ án dân

sự gồm hai nội dung chính:

- Kiểm sát việc xác định thẩm quyền của Tòa án khi nhận đơn có đúng thẩm quyền không, khắc phục tình trạng Tòa án thụ lý không đúng thẩm quyền hoặc từ chối thụ lý mặc dù đúng thẩm quyền

- Kiểm sát việc tiến hành các thủ tục thụ lý theo đúng quy định tại

Trang 37

Cách thức kiểm sát công tác thụ lý vụ án dân sự được quy định cụ thể tại Điều 174 BLTTDS như sau:

1 Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan,

tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án

2 Văn bản thông báo phải có các nội dung chính sau đây: a) Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo;

b) Tên, địa chỉ Tòa án đã thụ lý vụ án;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết;

đ) Danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện;

e) Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có;

g) Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Tòa án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu [23] Trước đây Thông tư liên tịch số 03/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/9/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của BLTTDS có hướng dẫn chi tiết về thời hạn, cách thức chuyển thông báo thụ lý vụ án của TAND sang VKSND để đảm bảo cho hoạt động kiểm sát thụ lý của VKSND, nhưng đến nay thông tư này đã hết hiệu lực, được thay thế bằng Thông tư liên tịch số 04/2012 Tuy nhiên trong nội dung của Thông tư liên tịch số 04/2012 không

đề cập đến hoạt động kiểm sát thụ lý của VKSND đối với các vụ việc của Tòa

Trang 38

án do đó nội dung của hoạt động kiểm sát thông báo thụ lý vụ việc của VKSND được thực hiện theo nội dung Điều 174 BLTTDS nêu trên

Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu bị đơn có yêu cầu phản tố, người

có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập thì thực hiện như thủ tục khởi kiện của nguyên đơn Điều này có nghĩa là đối với yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của đương sự khi được Tòa án chấp nhận thì TAND cũng có trách nhiệm thông báo đến VKSND như trường hợp thông báo thụ lý, thời hạn

và nội dung thông báo cũng thực hiện theo quy định tại Điều 174 BLTTDS

Hoạt động kiểm sát việc thụ lý của VKSND có ý nghĩa rất lớn trong

cả quá trình kiểm sát hoạt động tố tụng, góp phần đảm bảo quá trình thụ lý, giải quyết vụ án của Tòa án được chính xác, tạo mối quan hệ tích cực giữa Tòa án và VKSND trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời chủ động phòng ngừa, góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những sai sót có thể xảy ra ngay từ giai đoạn thụ lý vụ án

Ở giai đoạn này, bên cạnh việc thụ lý hồ sơ vụ việc, ra thông báo và chuyển đến VKSND thì có những hồ sơ vì không đủ điều kiện bị Tòa án trả lại Tuy BLTTDS không quy định về việc thông báo trả lại này phải chuyển đến VKSND nhưng Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS đã bổ sung thiếu sót này:

"Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện đồng thời gửi

cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp" [25, Khoản 2 Điều 169] và "trong thời

hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã

trả lại đơn khởi kiện" [25, Khoản 1 Điều 170] Việc bổ sung quy định này

giúp VKS kiểm sát được hoạt động trả lại đơn của Tòa án, tránh được những trường hợp Tòa án từ chối thụ lý vụ án không đúng hoặc trốn tránh việc thụ lý giải quyết vụ việc tại Tòa án

Trang 39

Giai đoạn lập hồ sơ và hòa giải vụ án, hoạt động của Tòa án bao gồm:

"Thông báo về việc thụ lý vụ án; yêu cầu đương sự nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; thực hiện một số biện pháp để thu thập chứng cứ theo quy định tại

khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự" [23, Điều 173] Các biện pháp thu

thập chứng cứ của Tòa án bao gồm:

Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản; xem xét, thẩm định tại chỗ; ủy thác thu thập chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự [23, Khoản 2 Điều 85]

Ngoài ra, trong giai đoạn lập hồ sơ vụ án Tòa án còn tiến hành hòa giải vụ án, trừ trường hợp vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được và ra một trong các quyết định sau: "Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án; đưa vụ án ra xét xử" [23, Điều 179] Ngoài ra, BLTTDS quy định: "Trong thời hạn năm ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp" [23, Khoản 2 Điều 194] và:

Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ

sơ cho Tòa án[23, Khoản 2 Điều 195]

Thông tư liên tịch số 04/2012 quy định về thủ tục chuyển hồ sơ vụ án được thực hiện như sau:

Tất cả tài liệu có trong hồ sơ vụ việc dân sự (bao gồm tài liệu cũ và tài liệu mới bổ sung, nếu có) đều phải được đánh số thứ

Trang 40

tự và có bản kê danh mục các tài liệu Trước khi chuyển hồ sơ vụ việc dân sự từ Tòa án sang Viện kiểm sát hoặc ngược lại, phải kiểm tra đầy đủ tài liệu trong hồ sơ vụ việc dân sự đó.Trường hợp gửi hồ

sơ theo đường bưu chính, thì người trực tiếp nhận hồ sơ đầu tiên của Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải kiểm tra niêm phong; nếu niêm phong không còn nguyên vẹn thì phải lập biên bản ngay xác nhận tình trạng hồ sơ, có xác nhận của nhân viên bưu chính và báo cáo lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách, đồng thời thông báo ngay cho

cơ quan gửi hồ sơ để phối hợp giải quyết Trường hợp niêm phong còn nguyên vẹn, nhưng qua kiểm tra phát hiện tài liệu có trong hồ

sơ bị thiếu so với bản kê danh mục các tài liệu thì phải báo cáo cho lãnh đạo đơn vị trực tiếp phụ trách để lập biên bản ngay và thông báo cho cơ quan chuyển hồ sơ biết để phối hợp giải quyết Ngày nhận hồ sơ là ngày cơ quan nhận hồ sơ tiếp nhận hồ sơ do cơ quan bưu chính chuyển đến tại trụ sở của mình rường hợp hồ sơ vụ việc dân sự được chuyển trực tiếp thì thủ tục giao nhận hồ sơ do Tòa án chuyển cho Viện kiểm sát được thực hiện tại trụ sở Viện kiểm sát; thủ tục giao nhận hồ sơ do Viện kiểm sát chuyển trả cho Tòa án được thực hiện tại trụ sở Tòa án Người nhận hồ sơ phải đối chiếu bản kê danh mục tài liệu với tài liệu đã được đánh số thứ tự trong

hồ sơ Việc giao nhận phải được lập biên bản, ghi rõ thời gian, địa điểm giao nhận hồ sơ, tình trạng hồ sơ, có chữ ký và họ tên của những người tiến hành giao nhận hồ sơ [35]

Vai trò kiểm sát của VKSND trong giai đoạn này là giám sát quá trình lập hồ sơ của Tòa án, thông qua việc kiểm sát lập hồ sơ của Tòa án phát hiện những vi phạm, thiếu sót trong quá trình áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, kiểm sát các hoạt động khác liên quan đến hoạt động lập hồ sơ của Tòa án, đảm bảo việc điều tra, lập hồ sơ được thực hiện đúng trình tự, thủ tục

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương (2013), Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong ngành Kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong ngành Kiểm sát nhân dân
Tác giả: Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương
Năm: 2013
3. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tổ chức các tòa án và ngạch thẩm phán, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tổ chức các tòa án và ngạch thẩm phán
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1946
4. Chính phủ (1946), Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về việc ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 của của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về việc ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1946
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính về chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính về chiến lược xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các Văn kiện của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các Văn kiện của Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2011
13. Khuất Văn Nga (2008), Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng dân sự theo yêu cầu cải cách tư pháp
Tác giả: Khuất Văn Nga
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
14. Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững (2009), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững
Tác giả: Pháp luật Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
17. Quốc hội (1960), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1960
19. Quốc hội (1980), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1980
21. Quốc hội (1992), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1992
22. Quốc hội (2002), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2002
25. Quốc hội (2011), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
27. Tòa án nhân dân tối cao (2010), Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2010
28. Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2010
29. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1989), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1989
30. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1994), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Tác giả: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý - Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004
Bảng 3.1 Thống kê kết quả công tác kiểm sát thụ lý (Trang 62)
Bảng 3.2: Thống kê kết quả công tác kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp - Viện kiểm sát tham gia tố tụng dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004
Bảng 3.2 Thống kê kết quả công tác kiểm sát tại phiên tòa, phiên họp (Trang 63)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w