1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000

91 834 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 875,26 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong luận văn đã sử dụng một số tài liệu tham khảo như: "Một số vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc" của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư p

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐÀO THỊ HẠNH

TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM NĂM 2000

Chuyên ngành: Luật dân sự

Mã số: 60 38 30

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 10 tháng 8 năm 2012

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đào Thị Hạnh

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành chương trình Cao học và viết luận văn này , tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của quý thầy cô , các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiê ̣u, Phòng đào tạo sau đại học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiê ̣n thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá tr ình học tập

và hoàn thành luận văn

Quý thầy cô: giảng viên Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; giảng viên Đại học Luật Hà Nội; giảng viên Khoa Luật - Đại học Huế đã nhiệt tình truyền đạt những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hà Thị Mai Hiên , người trực tiếp chỉ bảo đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện và trình bày khóa luận không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét phê bình của quý thầy cô và các bạn

Hà Nội, Ngày 10 tháng 8 năm 2012

Tác giả

Đào Thị Hạnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Những điểm mới của luận văn 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG 8

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng 8

1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng 8

1.1.2 Đặc điểm của chế độ tài sản riêng của vợ chồng 12

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng 14

1.2 Khái quát chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử 18

1.2.1 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam 18

1.2.2 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc 19

1.2.3 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật HN và GĐ từ 1945 đến nay 23

Trang 5

1.3 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp Luật HN và GĐ

của một số nước trên thế giới 25

Chương 2: CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 31

2.1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng 32

2.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có từ trước khi kết hôn 33

2.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân 34

2.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm đồ dùng, tư trang cá nhân 36

2.1.4 Tài sản riêng của vợ chồng gồm những tài sản mà vợ chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 40

2.1.5 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản riêng của một bên 41

2.2 Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng 41

2.2.1 Ủy quyền cho người khác sử dụng, quản lý 42

2.2.2 Chuyển nhượng tài sản có đền bù 42

2.2.3 Nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung 43

2.3 Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng 45

2.3.1 Nghĩa vụ gắn với tài sản thừa kế riêng hoặc cho riêng 46

2.3.2 Nghĩa vụ xác lập nhằm bảo quản hoặc tu bổ tài sản riêng 47

2.3.3 Nghĩa vụ gắn với giao dịch 49

2.3.4 Nghĩa vụ cấp dưỡng 51

2.3.5 Nghĩa vụ do vợ chồng tự mình xác lập 53

2.4 Hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng 54

Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG 56

3.1 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong thực tiễn xét xử 56

Trang 6

3.1.1 Những thuận lợi cơ bản trong việc áp dụng chế độ tài sản riêng

của vợ chồng vào thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân 56

3.1.2 Một số khó khăn cơ bản trong áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng vào thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân 59

3.2 Một số vấn đề về áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong thực tiễn xét xử của Tòa án 61

3.2.1 Việc áp dụng căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng 61

3.2.2 Phân định tài sản riêng, chung 63

3.2.3 Thu thập chứng cứ trong giải quyết tranh chấp 65

3.2.4 Xác định tài sản riêng của vợ chồng chưa hợp lý 67

3.2.5 Tranh chấp nhà ở và quyền sử dụng đất của vợ chồng 68

3.3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 70

3.4 Một số kiến nghị về tổ chức thực hiện và áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 73

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật Dân sự DLBK: Dân luật Bắc Kỳ DLGYNK: Dân luật giản yếu Nam Kỳ DLTK: Dân luật Trung Kỳ

HN và GĐ: Hôn nhân và gia đình HVLL: Hoàng Việt luật lệ LGĐ: Luật gia đình NQ-HĐTP: Nghị quyết - Hội đồng thẩm phán QTHL: Quốc triều hình luật

TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao UBND: Ủy ban nhân dân

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình được xây dựng dựa trên sợi dây liên kết của quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, trong đó quan hệ hôn nhân là quan hệ nền tảng của gia đình Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là một trong những tiền đề giúp vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình Xuất phát từ bản chất quan hệ nhân thân và quan

hệ tài sản gắn liền với các chủ thể nhất định, không thể tách rời và đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảy sinh các quyền và nghĩa vụ pháp

lý giữa các chủ thể với nhau

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, diện mạo của gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sản xuất sang tiêu dùng Cùng với điều đó, việc mỗi người có tài sản riêng để đặt cơ sở vật chất cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch do mình thực hiện phục vụ nhu cầu của cá nhân mà không phụ thuộc nhiều vào người còn lại là rất cần thiết Qui định về chế độ tài sản riêng của

vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình (HN và GĐ) là một giải pháp cho vấn đề đó trong bối cảnh chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật HN và GĐ hiện nay là chế độ cộng đồng tạo sản

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng bao gồm các qui định về vấn đề sở hữu tài sản riêng của vợ chồng; căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó Trong quá trình phát triển của luật, các mô hình có xu hướng thâm nhập lẫn nhau: trong mô hình quan hệ tài sản chung, các quy tắc liên quan đến việc xác định khối tài sản riêng dần dần được hoàn thiện Ngược lại, trong mô hình quan hệ tài sản

Trang 9

riêng, các quy tắc liên quan đến việc xác định một khối tài sản chung hình thành từng bước và có hệ thống Thậm chí, một thế hệ mới về mô hình đang hình thành trong luật của một số nước tiên tiến Mô hình mới đặc trưng bởi sự dung hoà giữa các quyền tự do cá nhân (chế độ tài sản riêng) và các bổn phận giữa vợ và chồng (chế độ tài sản chung)

Vấn đề thực hiện và áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng những năm qua góp phần vào sự ổn định các quan hệ HN và GĐ, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được của pháp luật điều chỉnh vấn đề tài sản riêng của

vợ chồng, quá trình thực hiện và áp dụng Luật HN và GĐ năm 2000 về chế

độ tài sản riêng của vợ chồng cho thấy còn khá nhiều bất cập và vướng mắc Thực tiễn áp dụng đã có nhiều quan điểm, nhận thức, đánh giá khác nhau, chưa có sự thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cá nhân thực thi pháp luật, liên quan đến chế độ tài sản riêng của vợ chồng Trong báo cáo tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử của ngành Tòa án hàng năm, hầu như đều có các vấn đề về xác định tài sản riêng giữa vợ và chồng Điều đó cho thấy các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng luôn là loại việc phức tạp, thường gặp nhiều khó khăn, vướng mắc khi áp dụng, hạn chế

và có nhiều bất cập trong công tác thi hành án liên quan đến chế độ tài sản của

vợ chồng, đặc biệt là chế độ tài sản riêng của vợ, chồng Nguyên nhân có nhiều, trong đó phải kể đến một số qui định của Luật HN và GĐ về chế độ tài sản riêng của vợ chồng mới chỉ dừng lại ở tính chất định khung, nguyên tắc chung Các văn bản qui định chi tiết thi hành và hướng dẫn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng còn thiếu, chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)

Với đề tài: "Tài sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và

gia đình Việt Nam năm 2000", luận văn làm sáng tỏ những qui định của pháp

Trang 10

luật điều chỉnh chế độ tài sản riêng của vợ chồng, cơ sở lý luận và thực tiễn của việc qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng và chỉ rõ những điểm mới, hợp lý và bất hợp lý, chưa thống nhất, chưa cụ thể của pháp luật điều chỉnh về chế độ tài sản riêng của vợ chồng Từ đó có các kiến nghị xác đáng nhằm hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ Việt Nam

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Với đề tài nghiên cứu về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, luận văn muốn làm sáng tỏ nội dung cơ bản của các qui định của Luật HN và GĐ về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, các nguyên tắc và căn cứ xác định tài sản riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản

riêng đó Trong luận văn đã sử dụng một số tài liệu tham khảo như: "Một số

vấn đề về pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến thời kỳ Pháp thuộc"

của Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp; "Chế độ hôn sản và

thừa kế trong Luật dân sự Việt Nam" của Nguyễn Mạnh Bách, “Chế độ tài sản của vợ, chồng theo pháp Luật HN và GĐ Việt Nam” của TS Nguyễn

Văn Cừ - Nhà xuất bản Tư pháp năm 2008, "Chế độ tài sản của vợ chồng

theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986" của Nguyễn Văn Huyên; "Xác định tài sản của vợ chồng - một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của ThS

Nguyễn Hồng Hải; “Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt

Nam, tập II, Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng”, của Nguyễn Ngọc Điện,

Nhà xuất bản trẻ, 2004, “Chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng liên

hệ từ pháp luật nước ngoài đến pháp luật Việt Nam” của ThS Bùi Minh

Hồng, Tạp chí Luật học số 11 năm 2009, có liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng ở góc độ lịch sử phát triển và hệ thống hóa nội dung chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam

Luận văn là một trong những công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu riêng và chuyên sâu về chế độ tài sản riêng của vợ chồng một cách toàn diện

và có tính hệ thống

Trang 11

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Mục đích của đề tài là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các qui định của luật thực định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực định để giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng trong hoạt động xét xử của Tòa án Từ đó, tìm hiểu những qui định bất cập, chưa cụ thể, trên cơ sở đó có những nhận xét, kiến nghị về hướng hoàn thiện pháp luật dự liệu về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ năm 2000, với mục đích trên, luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng với một số khái niệm khoa học trong nội hàm chế độ tài sản riêng của vợ, chồng; các đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ, chồng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội Tìm hiểu một cách có hệ thống và đầy đủ về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật Việt Nam và pháp luật về HN và GĐ của một số nước trên thế giới Từ đó, khẳng định tính tất yếu và cần thiết của chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong pháp luật

- Nghiên cứu các qui định của pháp luật hiện hành về chế độ tài sản riêng của vợ chồng Với nhiệm vụ này, luận văn đi sâu phân tích nội dung các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật HN và GĐ năm

2000 và những ngành luật có liên quan (Bộ luật Dân sự 2005, Luật Đất đai 2003 ); tìm hiểu về mục đích, cơ sở của việc qui định các điều luật điều chỉnh chế độ tài sản riêng của vợ chồng; phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểm mới qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ năm 2000 để có cách hiểu đúng nhất, phù hợp với khoa học pháp lý về chế độ tài sản riêng của vợ chồng Đồng thời, qua việc phân tích nội dung chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong luật thực định, luận văn cũng đưa ra những điểm bất cập, chưa hợp lý, thiếu tính khoa học của

Trang 12

các qui định đó, để làm cơ sở cho các kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ năm 2000

- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài sản riêng của vợ chồng qua hoạt động xét xử của ngành Tòa án giải quyết các tranh chấp từ quan hệ HN và GĐ liên quan trực tiếp về vấn đề tài sản riêng giữa vợ và chồng Qua đó, đánh giá về những thành công và hạn chế của việc áp dụng pháp luật về chế độ tài sản riêng của vợ chồng;

- Trên cơ sở phân tích nội dung và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo luật thực định, luận văn nêu một số kiến nghị đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung các qui định trong Luật HN và GĐ năm 2000 nhằm hoàn thiện chế độ tài sản riêng của vợ chồng

Từ những nhiệm vụ trên đây, luận văn được nghiên cứu chủ yếu trong phạm vi luật thực định qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài thông qua phương pháp khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng Từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy, các qui định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật, từ đó tạo

cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu chế độ tài sản riêng của vợ chồng qua các thời kỳ ở Việt Nam;

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn

đề liên quan đến chế độ tài sản riêng của vợ chồng và khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề được nghiên cứu trong luận văn

- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu qui định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp

Trang 13

luật của một số nước khác qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng Qua

đó, phân tích nét tương đồng và đặc thù của pháp luật Việt Nam qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, phù hợp với điều kiện về kinh tế, văn hóa,

xã hội và tập quán của gia đình truyền thống Việt Nam

- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình khảo sát thực tiễn hoạt động xét xử của ngành Tòa án, với các số liệu cụ thể giải quyết các tranh chấp từ quan hệ HN và GĐ liên quan đến tài sản riêng giữa vợ và chồng Để đưa ra những nhận định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng với thực tiễn của đời sống xã hội nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này

5 Những điểm mới của luận văn

Luận văn là một trong những công trình đầu tiên phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam Ngoài những điểm mới của Luật HN và GĐ năm 2000 qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng, với đề tài này, luận văn được trình bày với những điểm mới sau đây:

- Xây dựng và phân tích khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng Theo tôi, chế độ tài sản riêng của vợ chồng là nhóm qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa vợ và chồng; giữa vợ chồng với người thứ ba trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng

- Phân tích sự cần thiết pháp luật phải qui định chế độ tài sản riêng của

vợ chồng (tính khách quan) Các đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng đối với sự ổn định, phát triển của gia đình và xã hội

- Các loại nghĩa vụ về tài sản riêng của vợ, chồng được hiểu như thế nào và cách áp dụng

- Qua việc phân tích thực tiễn áp dụng luật về chế độ tài sản riêng của

vợ chồng, luận văn chỉ rõ những vấn đề bất cập, không hợp lý, chưa bảo đảm

Trang 14

được tính khoa học về những qui định của luật thực định khi điều chỉnh chế

độ tài sản riêng của vợ chồng Từ đó, nêu các kiến nghị hoàn thiện các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo pháp luật hiện hành

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Nội dung của luận văn có ý nghĩa thiết thực cho mọi cá nhân, đặc biệt là cho các cặp vợ chồng tìm hiểu các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ cụ thể của vợ, chồng đối với những loại tài sản này

Từ đó, tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thống nhất trong quá trình thực hiện và

áp dụng chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật HN và GĐ Việt Nam

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 mục

Trang 15

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ CHỒNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng

1.1.1 Khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, thể hiện tính chất và kết cấu của xã hội Gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Trong xã hội có giai cấp, Nhà nước luôn bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN và GĐ, xây dựng mô hình (kiểu gia đình) phù hợp với thiết chế xã hội Gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng đề cập đến chức

năng của gia đình “con người ta thay đổi hàng ngày cuộc sống của mình, bắt

đầu sản xuất ra những con người khác tức là tự tái sản xuất, đó là quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, giữa cha mẹ và con cái, đó là gia đình” Để cho gia

đình tồn tại và phát triển, cần phải có các điều kiện vật chất - cơ sở kinh tế của gia đình, nuôi sống gia đình Do vậy, chế độ tài sản của vợ chồng luôn được nhà làm luật quan tâm xây dựng như là một trong các chế định cơ bản, quan trọng của pháp luật về HN và GĐ Tuy nhiên, chế độ tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự khác với chế độ tài sản trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình Quan hệ pháp luật tài sản trong luật dân sự là quan hệ hàng hóa, tiền tệ

và mang tính chất đền bù ngang giá, còn quan hệ tài sản trong Luật HN và

GĐ không mang tính chất ấy Tất nhiên, tính chất đền bù ngang giá trong luật dân sự không bắt buộc phải có trong mọi trường hợp

Luật HN và GĐ qui định vợ chồng có quyền có tài sản riêng, phù hợp với chế định quyền sở hữu riêng về tài sản riêng của công dân đã được Hiến

Trang 16

pháp năm 1992 (Điều 58) và Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 ghi nhận, phù hợp với nguyên tắc tự định đoạt về tài sản của công dân Vợ, chồng trước hết với tư cách là công dân, có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình và nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đó

Tài sản theo nghĩa từ điển học là "của cải, vật chất dùng vào mục đích

sản xuất và tiêu dùng", còn theo Điều 163 BLDS 2005 thì: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" Theo khoản 1 Điều 33 Luật HN

và GĐ 2000 “Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

của mình” mà không phụ thuộc vào ý chí của người kia Những thu nhập hợp

pháp của mỗi bên vợ, chồng là tài sản riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, lý thuyết này không thể áp dụng cho vợ chồng trong thực tiễn do tính chất đặc biệt của quan hệ hôn nhân được xác lập đó là tính cộng đồng

Mục đích của hôn nhân đó là sau khi kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí trong việc tạo dựng tài sản, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc vì sự ổn định và phát triển của gia đình và xã hội Tính chất và mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần phải có một qui chế pháp lý đặc biệt nhằm điều chỉnh vấn đề tài sản riêng của vợ chồng Ngoài ra, việc quy định quyền sở hữu riêng về tài sản của vợ chồng còn góp phần ngăn chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm xác lập quan hệ hôn nhân [1] Do vậy, Nhà nước bằng pháp luật phải qui định về chế

độ tài sản riêng của vợ chồng nhằm mục đích:

Thứ nhất, pháp luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ

sở để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản riêng của mình trong, sau thời kỳ hôn nhân; như việc luật qui định các căn cứ, nguồn gốc, phạm vi các loại tài sản riêng của vợ, chồng Theo đó, vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt) đối với từng loại tài sản theo luật định nhằm bảo đảm lợi ích chung của gia đình hoặc

Trang 17

nhu cầu của cá nhân vợ hoặc chồng Đồng thời, xác định rõ các quyền, nghĩa

vụ của vợ chồng liên quan đến tài sản của mình

Thứ hai, theo xu thế phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam hiện nay để

theo kịp với tiến trình phát triển của kinh tế thế giới, gia đình không còn bó hẹp với chức năng duy trì cuộc sống của các thành viên, mà thực sự đã tham gia tích cực vào sự phát triển và ổn định nền kinh tế xã hội Những quan hệ kinh tế đòi hỏi vợ, chồng phải có những quyết định nhanh nhạy, nhưng muốn vậy họ phải chủ động về tài sản Luật HN và GĐ hiện hành chưa theo kịp diễn biến của những quan hệ kinh tế, dân sự hiện đại Nếu

vợ, chồng thực hiện đúng theo quy định pháp luật, trong nhiều trường hợp,

họ sẽ bỏ lỡ những cơ hội làm ăn

Mặt khác, việc đưa những tài sản chung của vợ chồng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng hàm chứa những rủi ro và có thể dẫn đến nguy cơ tiêu tán tài sản của gia đình, đặt cuộc sống gia đình vào trong tình trạng bấp bênh Vì thế, ở những nước mà luật pháp thừa nhận chế độ hôn sản ước định, những người vợ, chồng làm nghề kinh doanh thường nghĩ đến một chế độ tài sản riêng Chế độ đó vừa tạo điều kiện cho họ chủ động trong hoạt động kinh doanh, vừa tránh được những rủi ro có thể xảy đến cho cuộc sống gia đình

Thứ ba, khi vợ, chồng sử dụng, định đoạt tài sản của mình nhằm bảo

đảm đời sống chung của gia đình, nhu cầu của cá nhân luôn có liên quan đến quyền lợi của người thứ ba khi ký kết các hợp đồng liên quan đến tài sản của

vợ chồng Theo luật định, người thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng trường hợp nào hợp đồng đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng hoặc bằng tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Qui định này thể hiện rõ ý nghĩa của việc quy định quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng là đảm bảo cho vợ chồng thực hiện

Trang 18

các nghĩa vụ về tài sản độc lập, bảo vệ quyền lợi của người thứ ba là người có quyền Vì vậy, pháp luật của một số nước thường qui định chế độ tài sản của

vợ chồng phải được niêm yết, thông báo tại nơi cư trú của vợ chồng khi đăng

ký kết hôn Vợ chồng có thể lựa chọn chế độ tài sản ước định (theo sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng từ trước khi kết hôn); hoặc lựa chọn chế độ tài sản pháp định (nếu vợ chồng không ký kết hôn ước từ trước khi kết hôn thì pháp luật cho rằng cặp vợ chồng đó đã mặc nhiên lựa chọn chế độ tài sản theo luật định) Tùy theo phong tục, tập quán, điều kiện kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia mà luật pháp các nước có qui định về chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định là khác nhau

Thứ tư, việc qui định chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật

là cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ chồng với bên thứ ba là người có quyền lợi liên quan khác

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là một bộ phận cấu thành nên chế định chế độ tài sản của vợ chồng Nếu đặt trong mối tương quan với khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng thì khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng là khái niệm gốc, khái niệm chế độ tài sản riêng của vợ chồng là khái niệm phái

sinh từ khái niệm đó Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ thì: “Chế độ tài sản của

vợ chồng là tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ về tài sản của vợ chồng, bao gồm các qui định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng riêng, nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ chồng”

Như vậy, chế độ tài sản riêng của vợ chồng được những nhà làm luật

dự liệu do tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được xác lập, thể hiện như là yếu tố khách quan, phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa để Nhà nước qui định trong pháp luật về

Trang 19

chế độ tài sản riêng của vợ chồng phù hợp với đời sống xã hội trong từng giai đoạn phát triển Vậy, có thể hiểu:

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là nhóm qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh giữa vợ và chồng; giữa vợ chồng với người thứ ba trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng

Theo luật hiện hành, vẫn chưa có một khái niệm chính thức về chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong một văn bản cụ thể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong pháp luật như là một tất yếu khách quan, nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản riêng của vợ chồng, góp phần ổn định các quan hệ xã hội

1.1.2 Đặc điểm của chế độ tài sản riêng của vợ chồng

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng thực chất là chế độ sở hữu tài sản của mỗi bên vợ, chồng Xuất phát từ tính chất và mục đích đặc biệt của quan

hệ hôn nhân được xác lập, vợ, chồng với tư cách vừa là công dân, vừa là chủ thể của quan hệ HN và GĐ, vừa là chủ thể của quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu của mình tham gia các giao dịch dân sự Vì vậy, chế độ tài sản riêng của vợ chồng có những đặc điểm riêng biệt sau đây:

Thứ nhất, xét về chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản này,

thì các bên phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng của nhau (đây là đặc điểm chỉ tồn tại trong loại chế độ tài sản này) Do vậy, để trở thành chủ thể của quan hệ sở hữu này, các chủ thể ngoài việc có đủ năng lực chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự, còn đòi hỏi họ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được qui định trong pháp luật HN và GĐ: các điều kiện về tuổi kết hôn, điều kiện về sự tự nguyện, không vi phạm các điều cấm kết hôn (Điều 9, Điều 10 Luật HN và GĐ năm 2000)

Thứ hai, xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và

Trang 20

phát triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật khi qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng Theo luật định, dù vợ chồng lựa chọn loại chế độ tài sản nào thì cũng đều phải có nghĩa vụ đóng góp tiền bạc, nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau và nuôi dưỡng, giáo dục các con Tuy nhiên, để đảm bảo quyền công nhân, quyền tự định đoạt của cá nhân luật quy định vợ chồng có quyền lựa chọn nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng Đây là quy định có tính chất “mở” và quy định quyền sở hữu riêng của vợ chồng một cách cụ thể hơn Luật HN và GĐ năm 1986

Thứ ba, chế độ tài sản riêng của vợ chồng có nguồn gốc từ sở hữu tư

nhân trong luật dân sự (sở hữu của cá nhân với tài sản hợp pháp của mình bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức, ), là một trong những nội dung của năng lực chủ thể của cá nhân vợ, chồng nhằm đảm bảo cho sự độc lập và bình đẳng vợ chồng trong quan hệ giữa họ với nhau và với người thứ ba Sau khi kết hôn,

tư cách vợ chồng không làm tổn hại đến tư cách thành viên độc lập của mỗi người trong xã hội

Thứ tư, chế độ tài sản riêng của vợ chồng cũng mang những đặc thù riêng

trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Vợ chồng với tư cách

là chủ thể của khối tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt khối tài sản riêng

ấy mà không phụ thuộc ý chí của người khác Tuy nhiên, với chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong một số trường hợp quyền năng này của họ bị hạn chế Theo khoản 5 Điều 33 Luật HN và GĐ 2000 thì vợ chồng là chủ sở hữu tài sản riêng của mình nhưng khi hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong trường hợp liên quan đến tài sản này

Trang 21

cần thiết phải có thỏa thuận của hai vợ chồng Như vậy quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong trường hợp này đã bị hạn chế

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng

1.1.3.1 Vai trò của chế độ tài sản riêng của vợ chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, hôn nhân lại là cơ sở để tạo lập gia đình - tế bào của xã hội Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ về nhân thân, tài sản trong

đó có quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng Trong mỗi chế độ xã hội cụ thể đều xây dựng một mô hình (kiểu) gia đình phù hợp với tính chất, kết cấu của chế độ xã hội đó Lịch sử xã hội đã ghi nhận nhiều hình thái gia đình tương ứng với chế độ chủ nô, phong kiến, tư sản và gia đình XHCN với những đặc điểm và nội dung khác nhau, do các điều kiện kinh tế - xã hội chi phối

Trong quan hệ gia đình (dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng), quan hệ vợ chồng có vai trò đặc biệt quan trọng Bên cạnh đời sống tình cảm, yêu thương gắn bó giữa vợ chồng, không thể không quan tâm tới đời sống vật chất, tiền bạc, tài sản của vợ chồng Quan hệ tài sản giữa vợ và chồng là một loại quan hệ đặc biệt ràng buộc hai người, vốn gắn bó với nhau

do hiệu lực của hôn nhân, nghĩa là có đăng ký kết hôn, liên quan đến tài sản Suy cho cùng, tất cả các tài sản của vợ chồng, dù là của riêng mỗi người hay của chung hai người đều phải được khai thác, sử dụng trước hết nhằm bảo đảm sự duy trì và phát triển của gia đình, sau đó mới phục vụ cá nhân chủ sở hữu.Trong khung cảnh luật thực định Việt Nam, sự tồn tại của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng lệ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân Chế độ tài sản riêng của vợ chồng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan

hệ xã hội giữa vợ và chồng; giữa vợ chồng với người thứ ba liên quan và giữa các thành viên trong gia đình

Thứ nhất, chế độ tài sản riêng của vợ chồng được pháp luật của Nhà

Trang 22

nước ghi nhận (dù là chế độ tài sản theo thỏa thuận - chế độ tài sản ước định, hay theo các căn cứ pháp luật - chế độ tài sản pháp định) đều thực hiện vai trò nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ chồng và với người thứ ba, tạo điều

kiện để vợ chồng có những cách thức "xử sự" theo qui định của pháp luật và

phù hợp với đạo đức xã hội

Thứ hai, trong lĩnh vực HN và GĐ, Luật HN và GĐ điều chỉnh các quan

hệ về nhân thân và tài sản phát sinh giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình Trong đó, Luật HN và GĐ điều chỉnh trước tiên

và chủ yếu nhóm các quan hệ nhân thân, nó quyết định tính chất và nội dung của nhóm quan hệ tài sản (khi quan hệ vợ chồng được xác lập, lúc đó mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ chồng như quyền và nghĩa vụ đối với khối tài sản sở hữu riêng, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng lẫn nhau, quyền đối với sở hữu chung hợp nhất, quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng, )

Tuy vậy, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản giữa các chủ thể là thành viên của gia đình có tác dụng vô cùng quan trọng, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ nhân thân được thực hiện trên thực tế Ví như vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống chung của gia đình, từ đó nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc lẫn nhau giữa vợ chồng, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con mới được thực hiện phù hợp với đạo đức xã hội và qui định của pháp luật Trên cơ sở đó xây dựng, củng

cố chế độ HN và GĐ XHCN; xây dựng gia đình XHCN thực sự dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc, bền vững - là tế bào, nền tảng của xã hội, tạo điều kiện cho xã hội bình ổn và phát triển

Thứ ba, Chế độ tài sản riêng của vợ chồng định rõ về thành phần, nguồn

gốc tài sản và quyền hạn, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với những tài sản mà vợ, chồng sở hữu; quyền sở hữu của vợ chồng đối với từng loại tài sản đó Nhằm đảm bảo khi vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình, vì lợi ích chung của gia đình,

Trang 23

của cá nhân vợ, chồng hay vì lợi ích của người khác được ổn định trong một trật

tự pháp lý Các giao kết liên quan đến tài sản do vợ, chồng thực hiện theo những mục đích riêng, cụ thể đối với từng loại tài sản đều phát sinh các hậu quả pháp lý nhất định Trong đó, quyền lợi của người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến

tài sản riêng của vợ chồng cũng được pháp luật qui định và bảo vệ

1.1.3.2 Ý nghĩa của chế độ tài sản riêng của vợ chồng

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng với ý nghĩa là một chế định trong pháp luật về HN và GĐ được Nhà nước qui định dựa trên sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội Nó thể hiện tính giai cấp, bản chất của chế độ chính trị - xã hội cụ thể Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về HN và GĐ, trong xã hội có giai cấp, các quan hệ HN và GĐ (trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng) được điều chỉnh bằng pháp luật của Nhà nước Nhìn vào chế độ tài sản của vợ chồng được qui định trong pháp luật của Nhà nước, người ta (có thể) nhận biết được trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội (tính khách quan) và ý chí của Nhà nước thể hiện bản chất của chế độ xã hội đó (tính chủ quan) Theo vậy, tương ứng với mỗi chế độ xã hội cụ thể là một chế độ HN và GĐ do Nhà nước qui định bằng pháp luật hoặc thừa nhận bằng tập quán (trong đó có các qui định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng)

Trong xã hội phong kiến, tư sản, nơi mà sự đối lập, đối kháng giai cấp, chế độ tư hữu, chế độ người bóc lột người được thừa nhận và bảo vệ Pháp luật thể hiện ý chí của giai cấp phong kiến, tư sản, thì trong các quan hệ gia đình, quan hệ vợ chồng phản ánh sự bất công, bất bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ

và chồng mà pháp luật công khai bảo vệ hay tập quán "mặc nhiên" thừa nhận Trong gia đình, cha mẹ có "toàn quyền" đối với con; trong quan hệ vợ chồng,

người vợ phụ thuộc người chồng về mọi phương diện, cả trong các quan hệ nhân thân và tài sản Người vợ chỉ được hành xử nghề nghiệp riêng biệt trừ phi chồng không phản kháng Không thể có quan hệ bình đẳng thực sự giữa vợ chồng trong các quan hệ nhân thân và tài sản của vợ chồng [2]

Trang 24

Trong hệ thống pháp luật về HN và GĐ của Nhà nước XHCN, khi qui định về chế độ tài sản của vợ chồng đều ghi nhận trước hết quyền bình đẳng của vợ chồng về tài sản, bảo đảm quyền sở hữu của vợ chồng đối với các loại tài sản giữa vợ, chồng Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về mọi phương diện là một trong các nguyên tắc cơ bản theo hệ thống pháp luật về HN và GĐ của Nhà nước XHCN

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được qui định trong pháp luật nhằm xác định các loại tài sản riêng trong quan hệ giữa vợ chồng và gia đình Khi hai bên nam, nữ kết hôn với nhau trở thành vợ chồng, chế độ tài sản (riêng, chung) của vợ chồng được dự liệu với những thành phần tài sản của vợ chồng Dù vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản ước định hay chế độ tài sản theo luật định, dù là chế độ tài sản cộng đồng hay theo tiêu chuẩn phân sản thì các loại tài sản của vợ chồng luôn được pháp luật qui định rõ

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý để bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ chồng về tài sản hoặc với người thứ ba có quan hệ, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên vợ, chồng hoặc người thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ sở quan trọng đảm bảo tính hợp pháp trong hoạt động công chứng đối với những giao dịch liên quan đến tài sản riêng của vợ chồng

Chế độ tài sản riêng của vợ chồng là cơ sở pháp lý để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết vụ việc khi có phát sinh tranh chấp liên quan

về tài sản riêng giữa vợ, chồng hoặc với người thứ ba có liên quan

Trong thực tế, để đáp ứng quyền lợi của gia đình, nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con trong suốt thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng phải ký rất nhiều hợp đồng với những người khác liên quan đến tài sản riêng của vợ

Trang 25

chồng Nhiều tranh chấp về tài sản phát sinh giữa vợ chồng, liên quan tới quyền lợi của những người khác theo từng trường hợp cụ thể, chế độ tài sản riêng của vợ chồng qui định những nguyên tắc, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp về tài sản riêng giữa vợ chồng

1.2 Khái quát chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

1.2.1 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam

Trong xã hội phong kiến Việt Nam, các quy định về HN và GĐ chiếm một

vị trí quan trọng trong các văn bản luật Tuy nhiên, qua khảo cứu các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng trong cổ luật Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng cổ luật Việt Nam không dự liệu về chế độ tài sản của vợ chồng theo như quan niệm của những nhà lập pháp tư sản

Quốc triều hình luật (QTHL) được ban hành dưới triều Lê trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL) ban hành dưới triều Nguyễn (1812) đều có các qui định về vấn đề HN và GĐ, nhưng tuyệt nhiên chế độ tài sản của vợ chồng không được quy định như một chế định riêng

rẽ và cụ thể Các quy định về vấn đề tài sản của vợ chồng không rõ ràng QTHL không có điều khoản nào đề cập đến vấn đề tài sản riêng của vợ chồng trong thời

kỳ hôn nhân, mà chỉ dự liệu một số trường hợp chia tài sản của vợ chồng khi một bên vợ, chồng chết trước (Điều 374, 375, 376) Theo GS Vũ Văn Mẫu thì

“Các Tòa án ở Nam Việt thường hay căn cứ vào các điều này để phân xử các vụ kiện liên quan đến tài sản của vợ chồng” [3]

Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng trong luật cổ và tục lệ ở Việt Nam là chế độ cộng đồng toàn sản, với nội dung toàn bộ tài sản

mà vợ, chồng có được từ trước khi kết hôn hoặc do vợ chồng tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng “Thuyết tam tòng” buộc người vợ phải tuân thủ người chồng “Thuyền theo lái, gái theo

Trang 26

chồng” Người chồng trong hôn nhân phong kiến được coi là trụ cột của gia đình, là người chủ gia đình, đại diện cho quyền lợi của gia đình Vì thế, không cần thiết phải dự liệu về vấn đề tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng Tuy nhiên, các nhà lập pháp thời bấy giờ cũng chưa thể có một trình

độ lập pháp mang tính khoa học, các điều khoản phần lớn mang tính chất thí

dụ, thiếu tính bao quát và điển hình Bỏ qua những điều nêu trên thì những quy định về tài sản riêng của vợ chồng trong luật cổ cũng là một thành tựu trong lịch sử của Việt Nam

1.2.2 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật thời kỳ Pháp thuộc

Thời kỳ Pháp thuộc kéo dài gần tám mươi năm, thời kỳ này thực dân Pháp đã chia nước ta thành ba miền và ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng điều chỉnh các quan hệ HN và GĐ, trong đó qui định chế độ tài sản của vợ chồng

- Ở Bắc Kỳ áp dụng BLDS năm 1931 hay còn gọi là Dân luật Bắc kỳ (DLBK)

- Ở Trung Kỳ áp dụng BLDS năm 1936 hay còn gọi là Dân luật Trung

Trang 27

sản riêng, tức là công nhận ngoài các của cải của người chồng, sẽ có một khối của cải là của chung của hai vợ chồng gọi là khối cộng đồng tài sản, án lệ đã được coi như một giải pháp lấp đi lỗ hổng của pháp luật, điều đó khó lòng tránh được sự tùy tiện áp dụng của các vị thẩm phán khi xét xử

BLGYNK gồm có 11 thiên qui định các vấn đề về nhân thân, hộ tịch, giá thú, ly hôn, con nuôi, giám hộ, Bộ luật này có kết cấu giống với BLDS Napoleon, thậm chí có nhiều thiên trong bộ luật sao chép y nguyên nội dung BLDS Pháp Do vậy, bộ luật này không phản ánh được các phong tục, tập quán của người Việt Nam Theo Giáo sư Vũ Văn Mẫu thì, Bộ luật này thiên

về tính cách cá nhân, trong khi truyền thống của người Việt Nam trọng về gia đình Bộ luật này chỉ chú trọng đến các vấn đề cá nhân, kết hôn, ly hôn, trong khi đó các vấn đề quan trọng như hợp đồng, chế độ tài sản của vợ chồng, thừa kế lại không qui định Vì vậy nên khi cần thiết thường phải áp dụng các qui định của Bộ luật Gia Long và Hồng Đức

Thời kỳ đầu, các án lệ tại Nam Kỳ đã áp dụng theo quan niệm người vợ

có của riêng và chế độ hôn sản theo tục lệ là chế độ cộng đồng tài sản; nhưng sau đó các án lệ lại đổi hướng không công nhận quyền có tài sản riêng của

người vợ, với lập luận rằng: "Nếu công nhận chế độ cộng đồng tài sản tức là

đã gán cho người vợ những quyền ngang hàng với quyền của người chồng, trong khi đó trong gia đình, người vợ chỉ có địa vị của một người con gái" [4]

Chế độ hôn sản áp dụng tại Nam Kỳ dựa trên các nguyên tắc sau: Người vợ không có của riêng, do đó không thể có cộng đồng tài sản giữa vợ

và chồng Tất cả tài sản trong gia đình đều thuộc quyền sở hữu và quyền quản

lý của người chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi người vợ chết Trong trường hợp người vợ chết thì chồng là chủ sở hữu đối với toàn bộ tài sản của gia đình do hiệu lực của hôn nhân chứ không phải là hưởng gia tài của người vợ; nhưng nếu người chồng chết trước thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng thu lợi trên toàn bộ tài sản gia đình khi còn ở góa

Trang 28

Theo đó, các án lệ tại các Tòa án ở Nam Kỳ đã áp dụng nguyên tắc người chồng là chủ sở hữu duy nhất các tài sản của gia đình, bao gồm:

- Các động sản đã mua được trong thời kỳ hôn nhân, kể cả các động sản khi mua đã đứng tên vợ;

- Các bất động sản đã ban cấp riêng cho người vợ;

- Các bất động sản có được trong thời kỳ hôn nhân mặc dù các bất động sản đó đã đứng tên người vợ khi mua

Như vậy, chế độ tài sản của vợ chồng được áp dụng tại Nam Kỳ dưới thời kỳ Pháp thuộc đã rất bất công đối với người vợ, kể cả những tài sản do người vợ tạo ra được khi hành nghề riêng trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải coi

là thuộc tài sản của người chồng

Tuy nhiên, án lệ cũng công nhận trong một số trường hợp người vợ (có thể) có tài sản riêng, bao gồm:

- Các đồ tư trang của vợ;

- Tài sản mà người vợ có được do được gia đình vợ tặng cho hoặc để lại thừa kế;

- Bất động sản đã ghi rõ tên vợ là chủ sở hữu trong sổ địa bộ

Do các án lệ đã công nhận người chồng là chủ sở hữu duy nhất đối với các tài sản của gia đình, nên trong việc quản lý tài sản, người chồng có quyền một mình đứng ra thực hiện các giao dịch và thu nhận hoa lợi; nếu con nợ vay tiền của vợ thì có thể trả món nợ đó cho người chồng Ngược lại, người vợ không được ký kết các hợp đồng một mình và người chồng có quyền khiếu nại để phủ nhận hợp đồng đó Là chủ sở hữu đối với tài sản của gia đình, nên người chồng có quyền một mình ký kết các hợp đồng để chuyển dịch các động sản và bất động sản Trên thực tế, mỗi khi người chồng bán hoặc tặng cho bất động sản thì người vợ cũng thường ký cùng chồng vào các giấy tờ, văn tự, nhưng các án lệ lại không cho đó là một thể thức có giá trị pháp lý

Trang 29

Bộ DLBK còn được gọi là Bộ luật Morché (Thống sứ Bắc Kỳ) gồm

1455 điều chia thành 1 Thiên sơ bộ và 4 quyển Trong đó có một số qui định không phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam Mặc dù vợ hoặc chồng có thể có tài sản riêng từ trước khi kết hôn, nhưng kể từ khi kết hôn và trong suốt thời kỳ hôn nhân thì các tài sản riêng đó (bao gồm cả động sản và bất động sản) được hợp nhất thành khối tài sản chung của vợ chồng Tuy nhiên, đó chỉ là sự hợp nhất tạm thời trong thời kỳ hôn nhân Chỉ có những tài sản do hai vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung chính thức Khi hôn nhân chấm dứt thì các tài sản riêng của vợ, chồng đã được hợp nhất tạm thời vào khối tài sản chung của vợ chồng lại được tách ra để chia theo nguyên tắc tài sản riêng của bên nào thì bên đó có quyền lấy lại, còn đối với tài sản chung sẽ được chia đôi cho vợ và chồng Đặc quyền của người chồng khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng Đoạn 2 Điều 109 DLBK quy định: Người chồng có thể định đoạt tài sản chung không cần phải vợ bằng lòng cũng được, miễn là dùng vào việc có lợi ích cho gia đình, trừ bất động sản là tài sản riêng của người vợ

Như vậy, toàn bộ tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân (cả động sản và bất động sản) đều là tài sản chung của vợ chồng Để phân biệt được động sản, bất động sản nào là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng, pháp luật căn cứ vào việc đăng ký quyền sở hữu hoặc có chứng thư xác nhận nguồn gốc của tài sản đó Đối với các động sản không được đăng ký

và cũng không có chứng thư xác nhận nguồn gốc thì được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng; nếu bên vợ, chồng cho rằng đó là tài sản riêng của mình thì có nghĩa vụ phải chứng minh

Rõ ràng, DLBK và DLTK cũng như các án lệ tại Nam Kỳ đã không đặt ra ngoại lệ nào đối với những tài sản do một bên vợ hay chồng hành nghề mà kiếm ra hoặc có được Một giải pháp đã được dự liệu giống với BLDS Pháp là: Tất cả các tài sản (lương bổng, lợi tức thu được từ tài sản của

Trang 30

vợ chồng) trong thời kỳ hôn nhân, dù là động sản hay bất động sản đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng; trừ khi vợ, chồng chứng minh được tài sản đó là tài sản riêng của mình

1.2.3 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp luật HN và GĐ

từ 1945 đến nay

Sau cuộc cách mạng tháng 8 thành công, nền pháp chế đã bước sang một trang mới với những tính năng ưu việt Mặc dù chế độ tài sản riêng của vợ chồng chưa được dự liệu cụ thể, song, dựa trên Điều 9 Hiến pháp năm 1946 của Nhà

nước ta, văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất đã ghi nhận "đàn bà ngang

quyền với đàn ông về mọi phương diện"; Điều 5 Sắc lệnh số 97/SL quy định:

"Chồng và vợ có địa vị bình đẳng trong gia đình"; và "người đàn bà có chồng có

toàn năng lực về mặt Hộ" (Điều 6) Trong Luật năm 1959 [5]: Vợ chồng có quan hệ tài sản theo chế độ tài sản chung tuyệt đối: tất cả tài sản có trước và sau khi kết hôn đều là của chung (Điều 15) Như vậy, theo các quy định này, lần đầu tiên quyền gia trưởng của người chồng bị xóa bỏ, quan hệ nam nữ, vợ chồng bình đẳng về mọi mặt (trong đó có quyền bình đẳng về tài sản trong gia đình của vợ chồng) đã được thiết lập Quy định mang tính nguyên tắc này đã thể hiện bản chất của nền pháp chế mới dân chủ, tiến bộ hơn hẳn so với hệ thống pháp luật dưới thời thực dân, phong kiến ở nước ta

Trong thời kỳ đất nước chia đôi, người làm luật của chế độ Sài Gòn ban hành Luật ngày 02/01/1959 chọn chế độ tài sản chung tổng quát làm chế độ tài sản pháp định (Điều 47) Rồi đến Sắc Luật ngày 23/7/1964, thay thế Luật ngày 02/01/1959, lại chọn chế độ tài sản chung đối với động sản và đối với tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (Điều 53) Chế độ này được tiếp tục thừa nhận và được hoàn thiện một bước trong Bộ dân luật 1972 (Từ Điều 150 đến Điều 162) Nói chung, chế độ pháp định về tài sản riêng của vợ chồng trong

Bộ dân luật năm 1972 có nhiều điểm tương tự như chế độ pháp định được áp

Trang 31

dụng tại Pháp trước năm 1966: vợ chồng có thể có quyền sở hữu riêng đối với bất động sản; còn động sản chỉ có thể là tài sản chung, trừ những động sản mà tính chất riêng là không thể tranh cãi, như tư trang, đồ dùng cá nhân và một số động sản khác

Theo qui định tại Điều 15 theo Luật HN và GĐ năm 1959: "Vợ và

chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản

có trước và sau khi cưới" Qui định này thể hiện chế độ tài sản của vợ chồng

dự liệu là chế độ cộng đồng toàn sản: Toàn bộ các tài sản của vợ chồng dù có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; dù vợ, chồng được tặng cho riêng, được thừa kế riêng hoặc cả hai vợ chồng được tặng cho chung hay được thừa kế chung, không phân biệt nguồn gốc tài sản và công sức đóng góp, đều thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng Luật không thừa nhận vợ, chồng có tài sản riêng Tất nhiên, nguyên tắc này được áp dụng trong chừng mực nó còn tỏ ra hợp lý, bởi vậy, dù luật không qui định rõ thì thực tiễn vẫn

có xu hướng coi các đồ dùng cá nhân mà công dụng gắn liền với giới tính là tài sản riêng của mỗi người

Quá trình thực hiện và áp dụng Luật HN và GĐ năm 1959 đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xóa bỏ triệt để những tàn tích lạc hậu của chế độ HN và GĐ phong kiến, thực hiện chế độ HN và GĐ XHCN ở nước ta Tuy nhiên, với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội; đặc biệt nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng đã gặp nhiều vướng mắc, hạn chế do một số quy định của Luật HN và GĐ năm 1959 chưa cụ thể, hoặc không còn phù hợp với tình hình mới Luật HN và GĐ năm 1986 ra đời, quy định về chế độ tài sản của vợ chồng khác về căn bản so với Luật HN và GĐ năm 1959 đó là chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng tài sản

Điều 16 Luật HN và GĐ năm 1986 đã ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài

Trang 32

sản riêng: Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được

thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản

đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng

Người vợ, chồng có tài sản riêng có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng Việc ghi nhận cho vợ, chồng có tài sản riêng cũng còn bảo đảm quyền tự định đoạt vào các mối quan hệ khác trong quan hệ

vợ chồng và giữa các thành viên trong gia đình Luật HN và GĐ năm 1986 đã thừa nhận có ba khối tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân đó là: khối tài sản chung của vợ chồng, khối tài sản riêng của vợ và khối tài sản riêng của chồng

Kế thừa tư tưởng của các nhà làm Luật năm 1986, Luật HN và GĐ năm

2000 tiếp tục thừa nhận sự tồn tại của ba khối tài sản của vợ chồng, và vợ chồng có quyền nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung và quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong một số trường hợp (từ Điều

29 đến Điều 33) Điều 32 qui định: “Vợ chồng có quyền có tài sản riêng; và

vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung” hay “Vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình” – Khoản 1 Điều 33

Những quy định về chế độ tài sản của vợ chồng được xây dựng chi tiết hơn, đã có sự đổi mới cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung cụ thể Có thể nói rằng, trong chừng mực nào đó pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng trong luật hiện đại là sự kế thừa có phát triển chế độ tài sản gia đình của luật

cổ và tục lệ trong điều kiện sở hữu tư nhân mang tính chất cá nhân, chứ không phải mang tính chất gia đình như ngày xưa và trong điều kiện vợ chồng bình đẳng về mọi phương diện

1.3 Chế độ tài sản riêng của vợ chồng trong pháp Luật HN và GĐ của một số nước trên thế giới

Thực tiễn ban hành và áp dụng pháp luật HN và GĐ của các nước trên thế

Trang 33

giới cho thấy, nhà làm luật luôn mong muốn bằng pháp luật duy trì HN và GĐ như một thiết chế xã hội vững chắc, bền vững, làm nền tảng cho một xã hội ổn định Vì mục đích đó, các quan hệ HN và GĐ ngày càng được điều chỉnh với các chế định pháp luật chặt chẽ

Tuy nhiên, hầu hết các luật gia trên thế giới đều thừa nhận, vấn đề sở hữu tài sản riêng của vợ chồng luôn là một chế định chứa đựng tính phức tạp trên cả phương diện lý luận và thực tiễn Cho đến nay, pháp luật HN và GĐ của hầu hết các nước chưa đưa ra một khái niệm pháp lý chính thức về chế độ tài sản riêng của vợ chồng Sở dĩ có hiện tượng này, có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có lẽ một trong các nguyên nhân chính là những vướng mắc khi giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân của vợ, chồng với lợi ích và nhu cầu của gia đình cũng như với lợi ích chung của cộng đồng và xã hội

Ở các nước phương Tây, một trong các đặc thù của pháp luật HN và GĐ của họ là sự đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ HN và GĐ, đặc biệt trong quan hệ giữa vợ và chồng Chế độ tài sản do pháp luật dự liệu chỉ có hiệu lực áp dụng trong trường hợp vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước được lập ra nhưng vô hiệu do vi phạm những quy định của luật chung Chỉ có một số nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa như Liên xô, Bulgari, Hungari, Rumani, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Việt Nam và ngoài ra còn có Arhentina và một số bang của Méhicô duy trì duy nhất một chế độ tài sản pháp định đối với vợ chồng

Trong số nền luật pháp xã hội chủ nghĩa thời kỳ này, luật của Cộng hòa dân chủ Đức có những quy định cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận, thay đổi chế độ hôn sản pháp định Trước khi kết hôn, các bên không thể lập ra những thỏa thuận riêng về chế độ tài sản, nhưng trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thực hiện điều đó trong một giới hạn nhất định Về nguyên tắc, hôn ước

Trang 34

không thể phá vỡ toàn bộ chế độ hôn sản pháp định để thay vào đó một chế độ hôn sản ước định Vợ chồng có thể thỏa thuận tăng hoặc giảm thành phần của khối cộng đồng tài sản pháp định, trừ những tài sản cần thiết phục vụ cho đời sống của gia đình, chẳng hạn như nhà ở của gia đình Đối với chế độ tách riêng biệt tài sản, vợ chồng không được phép thỏa thuận xác lập bởi vì điều đó trái với tính chất cộng đồng của hôn nhân Như vậy, ở đây chúng ta có thể hình dung đến sự tồn tại của các chế độ hôn sản ước định theo hình thức cộng đồng

Như vậy, thực tiễn lập pháp ở các nhà nước trên thế giới đã chỉ ra cho chúng ta thấy có sự tồn tại của hai loại chế độ tài sản của vợ chồng Đó là chế

độ tài sản theo quy định của pháp luật (chế độ pháp định) và chế độ tài sản theo sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ ước định) Trong đó, Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp đã tổ chức một cách rất có hệ thống các chế độ tài sản của

vợ chồng Điều đó thể hiện qua việc thiết lập một hệ thống các quy định chung nhằm bảo vệ cuộc sống gia đình – được gọi là chế độ cơ sở, theo đó, các chế độ tài sản của vợ chồng, nhất là những chế độ tài sản ước định phải triệt để tuân theo Những thỏa thuận của vợ chồng trái với những quy định chung này sẽ bị tuyên bố vô hiệu

Chế độ cộng đồng tạo sản có đặc điểm, tài sản chung của vợ chồng chỉ được xác định đối với những tài sản mà vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân; những tài sản khác không phân biệt động sản hay bất động sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn, hay được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng Đây là giải pháp được qui định phổ biến trong pháp luật về HN và GĐ của khá nhiều nước trên thế giới như: BLDS Cộng hòa Pháp (từ Điều 1401 đến Điều 1408), BLDS Nhật Bản (Điều 62), BLDS và Thương mại Thái Lan (Điều 1471 và Điều 1474) đều ghi nhận chế độ cộng đồng tài sản này

Điều 1401 BLDS Cộng hòa Pháp qui định: ""Phần có" của cộng

Trang 35

đồng tài sản gồm những thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức của tài sản riêng của họ"

Theo các nhà làm luật tư sản, chế độ cộng đồng tạo sản đã được coi như là giải pháp hữu hiệu nhất trong việc dung hòa giữa lợi ích cá nhân của

vợ, chồng với lợi ích của gia đình, cộng đồng và xã hội Tuy nhiên, trên thực

tế ở nhiều nước phương Tây, tính ưu việt của chế độ tài sản này chỉ tồn tại về hình thức, bởi tập quán đã trở thành phổ biến trong quan hệ hôn nhân ở các nước phương Tây là các cặp vợ chồng thường chọn chế độ tài sản theo sự thỏa thuận, định đoạt riêng cho mình, trong đó họ cố gắng đạt được các điều khoản đem lại nhiều lợi ích tài sản nhất cho cá nhân vợ, chồng [6]

Khác với những hình thức của chế độ cộng đồng tài sản, chế độ tài sản riêng biệt xác định vợ chồng không có tài sản chung Chỉ có sự tồn tài của hai khối tài sản riêng của mỗi bên Tuy nhiên, đối với phần nợ, ngoài những khoản nợ riêng của mỗi bên vợ chồng, còn có những khoản nợ chung phát sinh từ cuộc sống chung của gia đình

Đây là chế độ tài sản mà sự vận hành của nó là đơn giản nhất Mỗi bên vợ, chồng tự do quản lý và định đoạt các tài sản, thu nhập sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp đối với đời sống chung Chế độ tài sản riêng biệt trao cho vợ, chồng khả năng tự chủ rất cao về tài sản, là một sự lựa chọn hợp lý nhất cho những cặp vợ chồng có nhiều tài sản riêng mà họ đều có khả năng quản lý hoặc những vợ chồng tiến hành các công việc sản xuất, kinh doanh mà họ cần tránh những rủi ro có thể xảy ra đối với gia đình do những thất bại của việc kinh doanh

Tuy nhiên, chế độ tách riêng tài sản cũng bộc lộ nhiều hạn chế Nó bị đánh giá là chế độ “ích kỷ” nhất, vì thực chất đó là cơ chế bảo toàn tài sản của

Trang 36

cá nhân, không phù hợp với mục đích của hôn nhân Do vậy, chế độ này không nên được áp dụng trong những trường hợp mà chỉ có một bên vợ (chồng) tham gia vào các hoạt động kiếm lợi ích, còn bên kia chỉ làm việc ở nhà Khi chấm dứt chế độ hôn nhân, người không trực tiếp tạo ra lợi tức sẽ chịu nhiều bất lợi, mặc dù đã được tính toán đền bù công sức đóng góp

Theo các nhà làm luật thuộc các nước XHCN không quan niệm hôn

nhân là một loại "hợp đồng dân sự", mà thực chất hôn nhân là sự liên kết tình

cảm đặc biệt giữa một người đàn ông và một người đàn bà trong quan hệ vợ chồng với mục đích xây dựng gia đình dân chủ, hòa thuận, hạnh phúc và bền vững Do đó, pháp luật XHCN cũng tôn trọng và phát huy quyền tự do cá nhân, lợi ích riêng của vợ, chồng, nhưng để đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của cộng đồng và xã hội, pháp luật qui định rất cụ thể các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về nhân thân và tài sản Vợ chồng phải tuân thủ sự qui định của pháp luật, không thể bằng những thỏa thuận của mình làm thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý đó

Để đảm bảo mục đích trên, hình thức chế độ tài sản pháp định thường được các nhà làm luật XHCN lựa chọn là chế độ tài sản cộng đồng, trong đó chế

độ cộng đồng tạo sản được áp dụng phổ biến nhất Bởi vì, chế độ tài sản này rất phù hợp với mục đích chung của các nhà làm luật XHCN, đồng thời cũng phù hợp với tình hình thực tế ở mỗi nước Một mặt, nó không làm phá vỡ chế độ tài sản chung của vợ chồng - nền tảng cơ bản của quan hệ HN và GĐ, mặt khác chế

độ tài sản này còn tạo điều kiện thuận lợi cho vợ, chồng có thể chủ động trong việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình, ngăn chặn các trường hợp kết hôn với mục đích không lành mạnh, việc kết hôn chỉ nhằm vào khối tài sản đã sẵn có của bên kia

Trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân của vợ, chồng với lợi ích chung của gia đình, cộng đồng và xã hội, pháp luật HN và GĐ các nước

Trang 37

XHCN đều ghi nhận trong gia đình, bên cạnh sự tồn tại của chế độ tài sản chung, vợ, chồng cũng có quyền có tài sản riêng

Khoản 1 Điều 27 Luật HN và GĐ và giám hộ của Cộng hòa nhân dân

Hunggari qui định: Từ sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau theo

chế độ tài sản chung trong suốt thời kỳ hôn nhân Vì vậy, được coi là sở hữu chung không phân chia tất cả những gì mà cả hai người hoặc một trong hai người có được trong thời kỳ hôn nhân, trừ những tài sản thuộc sở hữu cá nhân của một người

Cũng với nội dung trên, Điều 13 Luật hôn nhân năm 1980 của Cộng

hòa nhân dân Trung Hoa qui định: "Tài sản của vợ chồng làm ra trong suốt

thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng, ngoài ra, mỗi bên có thể có tài sản riêng ngoài qui định trên"

Thực tế đã chứng minh, việc chỉ thừa nhận chế độ tài sản pháp định

đã khẳng định tính ưu việt của pháp luật HN và GĐ XHCN trong việc gắn lợi ích cá nhân của vợ, chồng với các lợi ích chung, đặc biệt lợi ích của gia đình Xuất phát từ gia đình luôn được đảm bảo một cơ sở vật chất thống nhất và vững chắc, tính bền vững của các quan hệ HN và GĐ XHCN luôn được khẳng định và bảo vệ

Trang 38

Điều 15 Luật HN và GĐ năm 1959 của Nhà nước ta đã qui định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ, chồng có được hoặc tạo ra từ trước khi kết hôn hay trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sản chung của vợ chồng

Đối với Luật HN và GĐ năm 1986, do được ban hành vào thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới, lần đầu ghi nhận vợ, chồng có tài sản riêng, đây là bước đột phá mới, công nhận quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân Theo Điều 16

Luật HN và GĐ năm 1986 thì: "Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi

kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng" Qui định này có tính chất "mở", "tùy nghi", cho phép vợ, chồng

lựa chọn trong việc nhập hay không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng [7] Khoản 1 Điều 32 Luật HN và GĐ năm 2000 đã ghi

nhận với tính chất chắc chắn, khẳng định: "Vợ, chồng có quyền có tài sản

riêng" Đây là qui định nhằm bảo đảm cho vợ chồng có thể thực hiện các

Trang 39

nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của bên kia Đồng thời, qui định này góp phần ngăn chặn hiện tượng kết hôn nhằm vào lợi ích kinh tế mà không nhằm vào xác lập quan hệ vợ chồng mang tính phát triển bền vững và ổn định lâu dài Bên cạnh đó, luật cũng qui định cụ thể về căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mình và đối với người thứ ba liên quan Điều 32, Điều 33 Luật HN và GĐ năm 2000 đã qui định chế độ sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng cụ thể hơn, đã tạo được cơ sở pháp lý thống nhất trong thực tế áp dụng

2.1 Căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ, chồng

Khoản 1 Điều 32 Luật HN và GĐ năm 2000 qui định: "Tài sản riêng của

vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa

kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo qui định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân"

Như vậy, theo điều luật trên, để xác định một tài sản nào đó là tài sản chung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng phải căn cứ vào hai dấu hiệu: Thời kì hôn nhân và nguồn gốc tài sản Thời kì hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ được ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt do một bên chết hoặc do vợ chồng

li hôn bằng bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án Xác định nguồn gốc tài sản là xác định tài sản đó do đâu mà có: Từ hợp đồng tặng cho, mua bán hay được thừa kế

So với Điều 16 Luật HN và GĐ năm 1986, Điều 32 Luật HN và GĐ

năm 2000 đã qui định cụ thể hơn, có nội dung "mới" về căn cứ xác lập tài sản

riêng của vợ, chồng Tài sản riêng của vợ, chồng được xác lập dựa vào thời điểm tài sản đó phát sinh trước khi kết hôn; dựa vào sự định đoạt của chủ sở

Trang 40

hữu tài sản đã chuyển dịch tài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng và trên sự kiện chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

2.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có từ trước khi kết hôn

Các tài sản mà quyền sở hữu được giao kết trước khi kết hôn Với tư cách là công dân, vợ, chồng là chủ sở hữu những tài sản mà mình có được trước khi kết hôn, những tài sản riêng và quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng đó được pháp luật thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp (Điều 58 Hiến pháp 1992) Xét về nguồn gốc, những tài sản này không phải

do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, không chịu sự tác động bởi tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân và lợi ích chung của gia đình

Tài sản mà vợ, chồng có được trước khi kết hôn có thể do chính công sức của vợ, chồng tạo ra theo tính chất nghề nghiệp, công việc của mình; cũng

có thể tài sản đó có được do người khác chuyển dịch quyền sở hữu của mình cho

vợ, chồng thông qua các giao dịch dân sự Vì thế, trước khi kết hôn, với tư cách

cá nhân, theo qui định của pháp luật dân sự mà vợ, chồng có thể xác lập quyền

sở hữu của mình đối với những tài sản phát sinh, dựa trên các căn cứ được qui định từ Điều 233 đến Điều 247 của BLDS 2005 về việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản có được do lao động, do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp (Điều 233); xác lập quyền sở hữu thông qua các hợp đồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay (Điều 234); xác lập quyền sở hữu đối với các hoa lợi, lợi tức (Điều 235); xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được chủ sở hữu (Điều 239); xác lập quyền sở hữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều 244); xác lập quyền sở hữu do được thừa kế (Điều 245); xác lập quyền

sở hữu theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác (Điều 246); xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 247)

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
6. Nguyễn Mạnh Bách (1993), Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ hôn sản và thừa kế trong luật Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Mạnh Bách
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
10. Chính phủ (2002), Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/07 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoà
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2002
13. Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
14. Nguyễn Văn Cừ (2008), Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp Luật HN và GĐ Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp Luật HN và GĐ Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cừ
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2008
15. Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập II, Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nhà xuất bản trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập II, Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng
Tác giả: Nguyễn Ngọc Điện
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ
Năm: 2004
16. Nguyễn Thế Giai (1987), Chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề hôn nhân và gia đình, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác - Lênin với vấn đề hôn nhân và gia đình
Tác giả: Nguyễn Thế Giai
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1987
17. Giáo trình Hôn nhân và gia đình, Tập 2, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Hôn nhân và gia đình, Tập 2
18. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
20. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
21. Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
22. Luật đất đai (2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai
Tác giả: Luật đất đai
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
26. C. Mác - Ph. Ăngghen (1983), Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn Đảng Cộng sản
Tác giả: C. Mác - Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1983
27. Vũ Văn Mẫu (1970), Cổ luật Việt Nam lược khảo, Luật khoa đại học, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cổ luật Việt Nam lược khảo
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Năm: 1970
32. Nhà pháp luật Việt - Pháp (1998), Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp
Tác giả: Nhà pháp luật Việt - Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
34. Ph. Ăngghen (1972), Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước
Tác giả: Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1972
35. Quốc triều Hình luật (1991), Viện Sử học Việt Nam, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều Hình luật
Tác giả: Quốc triều Hình luật
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1991
40. Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (2001), Số chuyên đề về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số chuyên đề về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Tác giả: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Năm: 2001
44. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w