Để đi đến thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cả một quá trình cân nhắc, quyết định không phải là dễ dàng nhưng việc bóc tách, xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ TƯƠI
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hµ néi - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
PHẠM THỊ TƯƠI
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Phương Lan
Hµ néi - 2012
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ
CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
8
1.1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng
trong thời kỳ hôn nhân
8
1.1.1 Khái niệm chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 8 1.1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 10 1.2 Sự cần thiết của việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ
chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
23
1.3 Ý nghĩa của việc quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
25
1.4 Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật một số nước
Trang 4Chương 2: QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI
CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
37
2.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau sau khi chia tài
sản chung trong thời kỳ hôn nhân
37
2.1.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ và chồng sau khi
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
38
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng sau khi chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
41
2.2 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia
tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
56
2.2.1 Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với gia
đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
57
2.2.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với gia đình
sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
60
2.3 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba có
quan hệ tài sản với vợ chồng
64
2.3.1 Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với người thứ ba có
quan hệ giao dịch dân sự, thương mại với vợ chồng
64
2.3.2 Quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng trong quan hệ bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng
68
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬTVỀ
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
71
3.1 Một số vấn đề còn tồn tại về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
71
3.1.1 Một vài nét về áp dụng pháp luật giải quyết việc chia tài sản
chung trong thời kỳ hôn nhân
71
3.1.2 Một số vấn đề còn tồn tại về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng 77
Trang 5sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quyền và
nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân
87
3.2.2 Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh
quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân
88
3.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng xét xử 96 3.3.1 Thực hiện việc xuất bản định kỳ các án điển hình để các
Thẩm phán rút kinh nghiệm tiến tới xây dựng các Tập án lệ về
hôn nhân và gia đình
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật Dân sự HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình NLHVDS : Năng lực hành vi dân sự TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội Tính chất và kết cấu của gia đình trong mỗi hình thái kinh tế -
xã hội khác nhau là khác nhau Quan điểm này đã được Ph.Ăngghen nhấn mạnh như một nguyên lý của nội dung lý luận mácxit về hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ) trong tác phẩm nổi tiếng "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư
hữu và của Nhà nước" Sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia đình sẽ
góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội Mỗi gia đình được xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng của mỗi gia đình
Đánh giá cao tầm quan trọng của gia đình trong đời sống xã hội nói riêng cũng như trong việc xây dựng, phát triển đất nước nói chung, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc Điều này được cụ thể hóa ở việc Nhà nước ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ cho phù hợp với sự phát triển của xã hội
Trong quá trình xã hội hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Việt Nam đã thực sự chuyển mình và có những thay đổi toàn diện và sâu sắc về mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt, đời sống gia đình ngày càng được nâng cao Dưới ảnh hưởng của nền kinh tế mở đó đã tạo cho mọi người đều có cơ hội làm giàu cũng như tự khẳng định mình Đời sống gia đình được cải thiện đồng nghĩa với việc khối tài sản của vợ chồng tăng lên, nhu cầu riêng cũng nhiều hơn, đa dạng hơn, theo đó, nhu cầu có tài sản riêng để phục vụ cho hoạt động nghề nghiệp và giao dịch do một bên thực hiện không bị phụ thuộc hoặc gây ảnh hưởng cho bên kia là rất cần thiết Trước tình hình thực tế, quy định
Trang 8về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một giải pháp có nhiều ưu điểm cho vấn đề này
Trên cơ sở kế thừa Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Luật HN&GĐ năm 2000 đã có những bước thay đổi tích cực, phù hợp với sự phát triển của xã hội Các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng đã từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh Một vấn đề hết sức bức thiết được đặt ra là sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, thì quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sẽ được xác định như thế nào? Luật HN&GĐ hiện hành đã có quy định
cụ thể hơn so với Luật HN&GĐ năm 1986 song vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề cần được bàn luận, giải quyết cả về mặt lý luận và áp dụng trong thực tiễn Để
đi đến thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cả một quá trình cân nhắc, quyết định không phải là dễ dàng nhưng việc bóc tách, xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc gấp bội do pháp luật chưa có quy định cụ thể điều chỉnh vấn đề này Đặc biệt, trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, khi Việt Nam đang hội nhập kinh tế quốc tế, hơn lúc nào hết vợ, chồng đã và đang tham gia ngày càng nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế với mục đích không chỉ nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của gia đình mà còn nhằm làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội Họ có thể dùng tài sản chung hoặc tài sản riêng vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại khác; mỗi bên vợ chồng sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ xã hội mới và có xu hướng duy trì, mở rộng hơn nữa Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình, đối với các con và đối với người thứ ba có liên quan sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khá phức tạp bởi vấn đề này chưa được quy định, chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh Việc vợ chồng lạm dụng quyền, trốn tránh trách nhiệm đối với nhau và đối với gia đình cũng đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp cần được pháp luật điều
Trang 9chỉnh Đây là những vấn đề tồn tại, phát sinh từ thực tiễn mà chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh nên cần phải có sự nghiên cứu thấu đáo
Bởi lẽ đó, việc nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết Trên cơ sở đó,
tác giả quyết định chọn đề tài "Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn"
làm luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu về đề tài
Qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực HN&GĐ đã có nhiều công trình, bài viết về tài sản của vợ chồng nói chung và chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng, chẳng hạn
như luận án tiến sĩ "Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam" đã được tác giả Nguyễn Văn Cừ bảo vệ thành công năm
2005; "Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân" của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học số 6
năm 2002; "Chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng trong pháp luật
cộng hoà Pháp và pháp luật Việt Nam" của tác giả Bùi Minh Hồng đăng trên
Tạp chí Luật học số 11 năm 2009… Đây thực sự là những công trình có giá trị lớn trong cả khoa học lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này hoặc đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát chung về chế độ tài sản của vợ chồng, hoặc chỉ đi sâu vào phân tích một vấn đề nhỏ có liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và chuyên sâu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Vấn đề quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa được pháp luật quy định nên việc nghiên cứu để có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này là rất cần thiết
Trang 103 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề về quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đồng thời chỉ ra những vướng mắc, bất cập và đưa ra những kiến nghị về việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
- Những vấn đề lý luận liên quan đến việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật HN&GĐ hiện hành, làm rõ khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; đặc điểm cơ bản của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Xác định quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau, đối với gia đình và đối với người thứ ba sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Tìm hiểu những vướng mắc phát sinh từ thực tiễn về vấn đề này và
đề xuất cách thức giải quyết, góp phần hoàn thiện pháp luật
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và một số công trình nghiên cứu cũng như những vụ việc cụ thể có liên quan về vấn đề này
Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong một số văn bản pháp luật như: Luật HN&GĐ năm 1986; Luật HN&GĐ năm 2000; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm
Trang 112005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Trong đó, luận văn tập trung nghiên cứu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Luận văn cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số nước điều chỉnh về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia (tách) tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật HN&GĐ Việt Nam, qua đó học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những điểm phù hợp để bổ sung, hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong pháp luật HN&GĐ Việt Nam
- Đặc biệt, luận văn nghiên cứu một số trường hợp cụ thể về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản của vợ chồng đối với nhau, đối với gia đình và quyền và nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba có quan hệ tài sản với vợ chồng
5 Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của triết học Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng
Mác-Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực HN&GĐ Ngoài ra, để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn còn vận dụng, kết hợp
các phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ sự cần thiết quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nghiên cứu cũng bổ sung, làm phong phú thêm cho lý thuyết về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Trang 12Về thực tiễn, gia đình được coi là hạt nhân của xã hội Sự phát triển bền vững của gia đình là nền tảng phát triển của xã hội Do đó, trong sự phát triển và biến đổi mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường hiện nay, gia đình đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự thúc đẩy và phát triển kinh tế, xã hội Như
là một tất yếu của cuộc sống chung, vợ và chồng thực hiện những quan hệ về tài sản nhằm đáp ứng những nhu cầu tồn tại và phát triển của gia đình Nhu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để nâng giá trị khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhằm xác lập những giao dịch riêng cũng có chiều hướng gia tăng Và lẽ đương nhiên, sẽ kéo theo những vấn đề không dễ giải quyết về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung Nghiên cứu cũng chỉ ra những khó khăn trong việc xác định nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng như nguyên nhân của tồn tại đó đồng thời đưa ra những giải pháp, kiến nghị giúp cơ quan lập pháp, cơ quan
tư pháp… tham khảo trong việc xây dựng, bổ sung những quy định về quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là những quy phạm điều chỉnh quan hệ nhân thân Trên cơ sở đó, tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao ý thức, trách nhiệm cho các cặp vợ chồng trong việc đưa ra thỏa thuận chia tài sản chung cũng như những vấn đề phát sinh sau đó, góp phần giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh, quản lý cũng như vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con và chăm sóc, nuôi dưỡng các thành viên khác trong gia đình
Tóm lại, luận văn có những điểm mới sau đây:
- Phân tích sự cần thiết pháp luật phải quy định quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (tính khách quan)
- Xác định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, đối với gia đình và đối với người thứ ba sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trên cơ sở những quy định của Luật HN&GĐ hiện hành cùng với sự so sánh, đối chiếu với những quy định tương ứng trong pháp luật một số nước, từ đó
Trang 13phát hiện những bất cập, đưa ra kiến nghị bổ sung, sửa đổi nhằm hoàn thiện những quy định về vấn đề này trong điều kiện hiện nay
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng
sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Chương 2: Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trang 141.1.1 Khái niệm chung về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Chế độ tài sản của vợ chồng trong pháp luật HN&GĐ của các nước nói chung và Việt Nam nói riêng là một vấn đề phức tạp trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn Bởi lẽ, nó phải đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của gia đình với lợi ích của cá nhân vợ, chồng cũng như với lợi ích chung của xã hội Mặt khác, chế độ tài sản của vợ chồng còn phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, truyền thống, phong tục tập quán, tâm lý, nguyện vọng của người dân Ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn phát triển, chế độ tài sản của
vợ chồng đều thể hiện những nét đặc thù riêng Trên cơ sở nền kinh tế thị trường, sự phát triển của xã hội và gia đình; kế thừa và phát triển hệ thống pháp luật HN&GĐ ở nước ta, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và chế độ tài sản riêng Như
là một tất yếu của cuộc sống chung, sau khi kết hôn, đòi hỏi vợ và chồng phải cùng chung công sức, chung ý chí, tình cảm để tạo lập, phát triển kinh tế, vun đắp hạnh phúc gia đình Do đó, tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng đều cần phải được khai thác nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của gia đình Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay cùng với việc mở rộng hợp tác, hội nhập kinh tế quốc tế, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại, đã làm phát sinh nhiều nghĩa vụ về tài sản mà vợ, chồng phải gánh vác Theo đó, nhu cầu có tài sản riêng để đảm bảo cho việc thực hiện những nghĩa
Trang 15vụ riêng về tài sản một cách độc lập, tạo khả năng chủ động khi tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, tái đầu tư do một bên thực hiện không bị phụ thuộc hoặc gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình là rất cần thiết Quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một giải pháp phát huy được hiệu quả cho vấn đề này Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lần đầu tiên được ghi nhận trong Luật HN&GĐ năm 1986 Trước đó, do
phong tục, tập quán cũng như tư duy của gia đình Việt "của chồng công vợ",
sự phân chia rạch ròi tài sản trong thời kỳ hôn nhân là không hề có Trong Luật HN&GĐ năm 1959, vấn đề này cũng không được đề cập tới bởi Nhà nước ta quy định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ chồng có trước khi kết hôn hoặc được tạo ra, có được trong thời kỳ hôn nhân không phân biệt nguồn gốc tài sản, công sức đóng góp, đều thuộc tài sản chung của vợ chồng Trên cơ sở đó, Luật HN&GĐ năm
1959 chỉ dự liệu hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng là khi vợ hoặc chồng chết trước hoặc khi vợ chồng ly hôn Luật HN&GĐ năm 1986 ra đời vào thời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới với nhiều quy định khác về căn bản so với Luật HN&GĐ năm 1959 để phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội Theo đó, chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng tạo sản, vợ chồng
có tài sản chung và có quyền có tài sản riêng và đặc biệt còn ghi nhận việc chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại nếu có lý do chính đáng Xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30 Như đã phân tích, nhu cầu của vợ, chồng có tài sản để đầu tư kinh doanh riêng hoặc để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng là rất cần thiết Tuy nhiên, trong cuộc sống chung, không phải lúc nào vợ chồng cũng đạt được sự đồng thuận về vấn đề sử dụng, định đoạt tài sản chung thậm chí gây ra những mâu thuẫn, căng thẳng Trong khi đó, việc định đoạt tài sản riêng về nguyên tắc không cần có sự nhất trí của bên kia Chính vì lẽ đó mà việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là
Trang 16giải pháp tối ưu để loại bỏ những mâu thuẫn trong quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm thay đổi các khối tài sản của vợ chồng, làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của vợ chồng song điểm đặc biệt là không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật Mặc dù đã có những quy định cụ thể hơn song những quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn thiếu và có nhiều điểm bất cập Khái niệm chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chưa được ghi nhận trong bất kỳ văn bản pháp luật nào nhưng có thể hiểu là:
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật
1.1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có một
số đặc điểm cơ bản sau:
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật
Sau khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, giữa hai bên vợ, chồng vẫn tồn tại mọi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng như nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền được lựa chọn nơi cư trú, quyền thừa kế tài sản của nhau khi một bên chết trước… Đây là một trong những đặc điểm nổi bật, quan trọng nhất của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân để phân biệt với những trường hợp chia tài sản chung khác của vợ chồng như chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hay chia tài sản chung của vợ chồng khi một bên vợ hoặc chồng chết trước Nếu như
Trang 17kết hôn là thời điểm đầu tiên của hôn nhân, là sự kiện gắn kết giữa hai bên nam nữ làm phát sinh một thực thể là gia đình thì khi vợ hoặc chồng chết trước là thời điểm cuối cùng của hôn nhân Việc một bên vợ hoặc chồng chết trước hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết sẽ làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của người chồng hoặc người vợ còn sống hoặc của những người thừa kế của vợ, chồng đã chết Tương tự, trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng cũng không thể phủ nhận mặt tích cực mà nó mang lại khi mục đích của hôn nhân không đạt được Theo nguyên tắc chung, khi bản án, quyết định cho ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt Khi ly hôn, tài sản chung của vợ chồng được chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án Như vậy, hai trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi
ly hôn hoặc khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật thì trái lại, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ
Trang 18Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ phát sinh khi có những lý do nhất định
Khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 đã đưa ra những lý do để
vợ, chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân Lý do thứ nhất là vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng Quy định
này xuất phát trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của công dân đã được ghi nhận tại Điều 57 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001:
"Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" [38] Nếu
một bên vợ, chồng hoặc cả hai bên muốn đầu tư kinh doanh riêng thì có thể chia tài sản chung Quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân giúp cho vợ, chồng thực hiện được ý định kinh doanh của mình đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích chung của gia đình Trong nền kinh tế thị trường, vợ, chồng ngày càng tham gia nhiều hơn vào các giao dịch dân sự, thương mại và sử dụng nguồn vốn và tư liệu sản xuất để mang lại lợi nhuận cao nhất Tuy nhiên, việc kinh doanh, buôn bán không phải lúc nào cũng thuận lợi Thông thường, lĩnh vực kinh doanh có lợi nhuận càng cao thì nguy
cơ rủi ro càng lớn Chính vì vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng để một bên đầu tư kinh doanh riêng sẽ giúp giảm thiểu ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình bởi trong trường hợp việc kinh doanh gặp rủi ro thì bên kinh
doanh chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình Lý do thứ hai
là vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng Theo Điều 280 BLDS năm
2005 thì nghĩa vụ dân sự được hiểu là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác Việc thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của
vợ, chồng là việc thực hiện nghĩa vụ mà chỉ người vợ hoặc người chồng phải thực hiện còn người kia không phải liên đới thực hiện Ví dụ nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện trước thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân nhưng không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu
Trang 19của gia đình Nếu vợ hoặc chồng phải thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng nhưng
họ không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì vợ chồng có thể chia tài sản chung để tạo điều kiện cho người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ của mình
Ngoài hai lý do cụ thể trên, Luật HN&GĐ hiện hành còn ghi nhận vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân khi có lý do chính đáng khác Đây là quy định mang tính mở Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như các văn bản hướng dẫn không có quy định nào để xác định trường hợp nào được coi là có "lý do chính đáng khác" Trước đây, tại đoạn 3 Điểm b Mục 3 Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20 tháng 1 năm 1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 lại có quy
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chẳng hạn như trường hợp một bên vợ, chồng có hành vi phá tán, hủy hoại tài sản chung làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là nhằm giải quyết những vấn đề về kinh tế - tài sản chung của vợ chồng chứ không nhằm giải quyết vấn đề tình cảm
Mục đích của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn tạo điều kiện cho vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng
để tìm kiếm lợi nhuận đồng thời tránh những rủi ro có thể phát sinh làm ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình Vợ, chồng thỏa thuận hoặc yêu cầu
Trang 20Tòa án chia tài sản chung còn nhằm mục đích có tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng của mỗi bên Như vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là nhằm giải quyết vấn đề tài sản chứ không nhằm giải quyết vấn đề tình cảm của vợ chồng
Chủ thể có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời
kỳ hôn nhân chỉ có thể là vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng
Theo khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ hiện hành thì trong trường hợp
vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản chung thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Điều này đồng nghĩa với việc chỉ có vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu chia Lý do được đưa ra ở đây là bởi yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng, xuất phát trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp nên quyền yêu cầu, khởi kiện của người thứ ba trong trường hợp này không được pháp luật HN&GĐ thừa nhận Quy định như vậy còn thể hiện quyền bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản chung
Hình thức của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là bằng văn bản và không buộc phải được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận
Theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện theo thỏa thuận bằng văn bản của
vợ chồng hoặc theo quyết định của Tòa án trong trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được và có yêu cầu Tòa án giải quyết Theo khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2000 thì thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản Khoản 1 và khoản 2 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm
2000 (sau đây viết tắt là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP) quy định cụ thể văn bản này phải ghi rõ những nội dung: Lý do chia tài sản; phần tài sản chia (bao gồm bất động sản, động sản, các quyền tài sản), trong đó cần mô tả rõ những tài sản được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia; phần tài sản còn lại
Trang 21không chia, nếu có; thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung; phải ghi
rõ ngày tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả vợ chồng; văn bản thỏa thuận có thể có người làm chứng hoặc được công chứng, theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Với lợi thế tiết kiệm thời gian, chi phí đồng thời cũng thể hiện sự đồng thuận của vợ chồng trong việc chung sức xây dựng tổ ấm gia đình, hình thức thỏa thuận bằng văn bản được nhiều cặp vợ chồng lựa chọn khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Tuy nhiên, việc quy định chia tài sản chung theo thỏa thuận của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân phải được thể hiện bằng văn bản nhưng không bắt buộc phải có người làm chứng hay phải được công chứng bởi cơ quan có thẩm quyền là chưa chặt chẽ, còn nhiều hạn chế, dễ dẫn đến sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật Đây cũng là kẽ hở dẫn đến tình trạng vợ chồng có thể lợi dụng một cách dễ dàng việc chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ tài sản và nếu có tranh chấp xảy ra, Tòa án
sẽ khó đánh giá chứng cứ, không xác định được trách nhiệm cũng như không đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của các bên Trong trường hợp thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng thì việc kiểm tra, xác minh
lý do chia tài sản chung cũng rất khó khăn, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp tài sản chung đã được chia sau đó mới phát hiện ra có sự vi phạm về lý do chia Trong tình huống này mặc dù việc chia tài sản chung của vợ chồng bị tuyên
vô hiệu, tuy nhiên vẫn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của những người có liên quan bởi khi tài sản đã bị tẩu tán thì việc khôi phục lại tình trạng ban đầu không phải lúc nào cũng thực hiện được Với những nhược điểm đó, pháp luật cần quy định bắt buộc trong mọi trường hợp thỏa thuận bằng văn bản khi chia tài tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đều phải được công chứng của cơ quan có thẩm quyền Ngoài ra, việc thỏa thuận bằng văn bản có công chứng cũng cần phải có những ràng buộc khắc phục những hạn chế, phát huy được hiệu quả áp dụng Chẳng hạn như buộc vợ chồng phải công bố công khai về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, trên cơ
Trang 22sở đó, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan mới có thể phát hiện và
có những yêu cầu kịp thời ngăn chặn việc lợi dụng chia tài sản chung để trốn tránh nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng
Tài sản chung có thể chia toàn bộ hoặc một phần
Theo Luật HN&GĐ năm 2000, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia toàn bộ hoặc chỉ chia một phần tùy theo sự thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của các bên trên cơ sở các căn cứ chia theo luật định Quy định này rất hợp lý, có
ý nghĩa thiết thực, phù hợp với thực tiễn đời sống chung đồng thời trong một số trường hợp còn là cơ sở để bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ riêng về tài sản
của vợ, chồng Theo Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 thì: "Khi hôn nhân tồn
tại, nếu một bên có yêu cầu và có lý do chính đáng, thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định ở Điều 42 của Luật này" [35] Quy định tại Điều 42
Luật HN&GĐ năm 1986 là quy định về nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn: tài sản chung được chia theo thỏa thuận của vợ chồng, nếu không thỏa thuận được thì chia đôi Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định
về nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Đây có lẽ là một
"khiếm khuyết" cần được khắc phục Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất nên cần thiết phải quy định nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng ngay cả khi việc chia này diễn
ra khi hôn nhân vẫn tồn tại Có như vậy mới đảm bảo được quyền bình đẳng giữa vợ và chồng cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhanh chóng các yêu cầu của đương sự
Hậu quả pháp lý về tài sản khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chính là sự thay đổi của các khối tài sản hay nói cách khác, làm thay đổi việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; từ đó quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng cũng bị chi phối, thay đổi
Trong Luật HN&GĐ năm 1986, hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không được quy định cụ thể, mọi tài sản phát
Trang 23sinh sau khi chia tài sản chung, kể cả hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia đều mặc nhiên được coi là thu nhập hợp pháp khác và trở thành tài sản chung vì nó phát sinh trong thời kỳ hôn nhân Điều này không phù hợp với mục đích của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đặc biệt là trong trường hợp chia để một bên đầu tư kinh doanh riêng Bởi khi vợ, chồng
có yêu cầu chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng, một mặt xuất phát
từ nhu cầu về vốn để phát triển, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác hướng tới lợi ích chung của gia đình, các bên mong muốn tránh những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh làm ảnh hưởng không tốt đến đời sống gia đình Nếu coi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản
đã được chia là tài sản chung sẽ dẫn đến tình trạng bên đang trực tiếp kinh doanh cần nguồn vốn để tái tạo, mở rộng quy mô thì lại phải đưa ra yêu cầu chia tài sản chung một lần nữa Vấn đề này gây cản trở rất lớn cho việc chớp thời cơ trong kinh doanh - yếu tố quan trọng tạo nên những thành công Bên
cạnh đó, nếu việc kinh doanh "thuận buồm xuôi gió" thì bên không tham gia
vào việc đầu tư kinh doanh vẫn được hưởng lợi, trong khi đó, nếu công việc kinh doanh không được như mong muốn, làm ăn thua lỗ thì chỉ một bên đầu
tư kinh doanh phải gánh chịu hậu quả Điều này tạo ra sự bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của những người liên quan Khắc phục những hạn
chế này, Điều 30 Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định: "Trong trường hợp
chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng" [37] Điều 8 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP cũng cụ thể hóa quy định này như sau: "Hoa lợi, lợi tức phát
sinh từ tài sản đã được chia thì thuộc sở hữu riêng của mỗi người, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác" [5] Đây là quy định mới của pháp luật
HN&GĐ hiện hành và cũng là một trong những căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng Như vậy, vợ, chồng có quyền sở hữu riêng đối với phần tài sản
Trang 24đã được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã được chia và quyền sở hữu chung đối với phần tài sản chung chưa chia Chúng ta cũng có thể nhận thấy, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có đến hai khối tài sản riêng: Thứ nhất, khối tài sản riêng vốn có của vợ, chồng trước khi
có sự kiện chia tài sản chung; hoa lợi, lợi tức phát sinh trên khối tài sản này chưa được quy định rõ ràng, có thể là tài sản riêng hoặc tài sản chung Thứ hai, khối tài sản riêng có được do sự kiện phân chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân và hoa lợi, lợi tức phát sinh trên khối tài sản này là tài sản riêng của mỗi bên Việc phân biệt hoa lợi, lợi tức từ các khối tài sản riêng này là không hề đơn giản
Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng làm chấm dứt hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định về việc khôi phục chế độ tài sản chung sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng vấn đề này lại được quy định tại Điều 9 và Điều 10 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP Tuy nhiên, quy định về việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong Nghị định chưa rõ ràng và còn thể hiện nhiều điểm bất hợp lý Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định như sau:
Trong trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận bằng văn bản có ghi rõ các nội dung sau đây:
a) Lý do khôi phục chế độ tài sản chung;
b) Phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên;
c) Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có; d) Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung;
đ) Các nội dung khác, nếu có [5].
Trang 25"Khôi phục" có nghĩa là "làm cho có lại được hay trở lại được như trước" [47, tr 430] Như vậy, với việc sử dụng cụm từ "khôi phục chế độ tài sản chung" sẽ dẫn đến cách hiểu sau khi chia tài sản chung thì chế độ tài sản
chung của vợ chồng sẽ chấm dứt nên nếu vợ chồng muốn trở lại chế độ tài sản chung thì phải lập thỏa thuận để khôi phục Trong khi đó việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng Điều này có nghĩa là chế độ tài sản chung của vợ chồng vẫn đương nhiên tồn tại mà không phụ thuộc vào thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng
Khoản 2 Điều 32 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: "Vợ, chồng có
quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung" [37]
"Nhập" có nghĩa là "đưa vào một nơi để quản lý, gộp lại, hợp nhất lại thành một khối" [47, tr 576] Theo đó, nhập tài sản riêng vào tài sản chung là việc
vợ, chồng đưa phần tài sản riêng của mình góp vào khối tài sản chung và khối tài sản chung này vẫn là tài sản chung hợp nhất Như vậy, việc nhập tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng vào khối tài sản chung khác với việc khôi phục
chế độ tài sản chung của vợ chồng Thứ nhất, chế độ tài sản chung của vợ
chồng luôn tồn tại dù có sự kiện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung hay không, trong khi đó khôi phục chế độ tài sản chung được hiểu là chế độ tài
sản chung đã chấm dứt nên cần thỏa thuận để khôi phục lại Thứ hai, sau khi
nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung thì sự thay đổi duy nhất là tài sản riêng đó sẽ trở thành tài sản chung hợp nhất của vợ chồng còn việc khôi phục chế độ tài sản chung làm chấm dứt hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung nghĩa là việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng, quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng giống như trước khi chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân Nếu sau khi chia tài sản chung mà vợ chồng nhập một phần hoặc toàn bộ tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung thì chỉ tài sản được nhập này trở thành tài sản chung hợp nhất của vợ chồng còn hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung vẫn được áp dụng bình thường Do đó quy định về
Trang 26nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung cũng không thể thay thế được quy định về khôi phục chế độ tài sản chung
Với những điểm bất hợp lý đã được chỉ ra ở trên, theo chúng tôi việc quy định về khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng là không chính xác Luật HN&GĐ cần sửa đổi, quy định hợp lý về vấn đề này
Pháp luật ghi nhận việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không có nghĩa là gián tiếp quy định về ly thân
Trong thực tế còn có quan điểm cho rằng chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân là để vợ chồng được sống ly thân và hai vấn đề này là một Cần khẳng định rằng, pháp luật HN&GĐ hiện hành của nước ta không quy định về
ly thân, cũng không có cơ quan, tổ chức nào đứng ra giải quyết cho ly thân theo hướng ra quyết định hoặc bản án công nhận cho ly thân Chế định ly thân được pháp luật của nhiều nhà nước tư sản và hệ thống pháp luật HN&GĐ
dưới chế độ cũ của nước ta quy định "Ly thân được hiểu là một chế định
pháp luật và là một thuật ngữ pháp lý để chỉ trường hợp vợ chồng sống riêng
rẽ và tách bạch về tài sản" [8, tr 181] Ly thân khác ly hôn ở chỗ vợ chồng
được biệt cư song vẫn duy trì quan hệ vợ chồng trên giấy tờ Tuy nhiên, ly thân cũng không phải là bước đệm để ly hôn Các nhà lập pháp tư sản cho rằng ly thân là một giải pháp tốt nhằm giải quyết những căng thẳng, xung đột trong đời sống chung hoặc để giảm thiểu, tránh những chuyện đáng tiếc có thể xảy ra đồng thời trong khoảng thời gian mà vợ chồng sống ly thân do Tòa án quyết định sẽ tạo cơ hội để hai bên suy ngẫm, xem xét lại để đưa ra quyết định sáng suốt nhất cho cuộc hôn nhân của mình Mục đích của ly thân là nhằm giải tỏa, hạn chế bớt sự mâu thuẫn, căng thẳng trong quan hệ vợ chồng
có thể phát sinh khi sống chung Nếu qua quá trình ly thân mà tình trạng vợ chồng vẫn trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, không dung hòa được, khi đó, ly thân là cơ sở để Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn
Luật HN&GĐ Việt Nam không quy định về ly thân giữa vợ chồng Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, việc vợ chồng sống chung
Trang 27hay ở riêng tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, thực tế cuộc sống và cả nguyện vọng của chính họ Điều này xuất phát từ nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ, trong đó có quyền tự lựa chọn nơi cư trú Thông thường, sau khi chia tài sản chung, vợ chồng vẫn chung sống bình thường với nhau, cùng nhau xây dựng, chăm lo cho đời sống chung của gia đình Tuy nhiên, hiện nay những trường hợp vợ chồng ở riêng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có xu hướng tăng Việc chung sống với nhau trong quan hệ hôn nhân là quyền của vợ chồng, là quyền nhân thân gắn liền với yếu tố tình cảm nên pháp luật không thể và không cần thiết dự liệu, điều chỉnh vấn đề này Dù cho vợ chồng có ở riêng đi chăng nữa thì quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng vẫn tồn tại, quyền và nghĩa vụ với con chung, với các thành viên trong gia đình vẫn tồn tại Mục đích của việc chia tài sản chung là nhằm giải quyết vấn đề về tài sản chứ không phải là vấn đề tình cảm và về nguyên tắc là vợ chồng có thể ở riêng hoặc vẫn sống chung tùy thuộc vào ý chí của vợ chồng Trong khi đó ly thân buộc vợ, chồng phải ở riêng và vì thế họ phải chia tài sản Ly thân thể hiện sự mâu thuẫn về tình cảm dẫn đến vợ, chồng không sống chung được với nhau và ra ở riêng Trong trường hợp này tình cảm đã chi phối đến vấn đề chia tài sản
Vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
và sự thỏa thuận này khác với sự thỏa thuận trong hôn ước đã được thừa nhận ở nhiều quốc gia
Đây cũng là một điểm đặc biệt vì về nguyên tắc các chủ thể trong quan hệ pháp luật HN&GĐ không thể thỏa thuận để làm thay đổi quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng Tuy nhiên, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì việc chia tài sản chung này làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng đồng thời làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng
Trang 28Với sự đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ HN&GĐ, nhà làm luật ở nhiều quốc gia đã ghi nhận nguyên tắc tự do lập hôn ước Hôn ước (hay còn gọi là khế ước) - đặc trưng của chế độ tài sản ước định là văn bản do hai bên nam nữ lập trước khi kết hôn theo thể thức nhất định trong đó ghi nhận sự thỏa thuận của họ về chế độ tài sản vợ chồng được áp dụng trong thời kỳ hôn nhân và chỉ phát sinh hiệu lực sau khi đã kết hôn Trong hôn ước, vợ chồng phải thỏa thuận về phương thức xác định tài sản chung, tài sản riêng của mỗi bên, các quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, tài sản riêng cũng như trong việc thực hiện các giao dịch giữa họ với người thứ ba Vợ chồng có thể thỏa thuận trên cơ sở lựa chọn theo một chế độ tài sản được quy định trong pháp luật hoặc có thể chọn một chế độ tài sản riêng biệt, hoàn toàn độc lập với chế độ tài sản theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, họ chỉ có thể thỏa thuận về tài sản mà không thể thỏa thuận hay làm khác đi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng hay các quan hệ nhân thân khác được pháp luật quy định Hôn ước phát sinh hiệu lực
kể từ khi hai bên nam nữ trở thành vợ chồng hợp pháp và nó được đảm bảo thực hiện trong suốt thời kỳ hôn nhân Việc pháp luật một số nước quy định chế độ tài sản theo hôn ước có những ưu điểm nhất định, đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, sở hữu cá nhân và tự do kinh doanh đang dẫn đến ý thức độc lập và tự chủ ngày càng cao của cá nhân về lợi ích tài sản Trên cơ sở thỏa thuận trong hôn ước, vợ chồng có thể thực hiện những quan hệ tài sản phù hợp với tình hình kinh tế của bản thân, mang lại lợi ích cho gia đình và cho cá nhân mỗi bên vợ, chồng Như vậy, điểm khác biệt cơ bản nhất giữa thỏa thuận trong hôn ước và thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là thời điểm thỏa thuận Việc thỏa thuận trong hôn ước được ghi nhận trước khi kết hôn còn sự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
là sự thỏa thuận làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi đã xác lập quan hệ hôn nhân, phát sinh trong thời kỳ hôn nhân Do đó, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải là hôn ước
Trang 291.2 SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA
VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của mỗi bên vợ, chồng và lợi ích chung của gia đình, cộng đồng và xã hội, Luật HN&GĐ năm 2000 đã tiếp tục ghi nhận việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30 Pháp luật dành cho vợ chồng quyền được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân xuất phát từ yêu cầu khách quan, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng lần đầu tiên được quy định tại Điều 18 Luật HN&GĐ năm 1986 Trên cơ sở kế thừa Luật HN&GĐ năm 1986 cũng như xuất phát từ thực tiễn đời sống xã hội, Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân một cách cụ thể hơn, đặc biệt đã quy định về hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân tại Điều
30 và được quy định cụ thể tại Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP Tuy nhiên, những quy định này cũng chỉ dừng lại ở việc ghi nhận hậu quả pháp lý
về tài sản của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời hôn nhân và vẫn chưa thật đầy đủ, còn bộc lộ một số hạn chế nhất định Như vậy, cho tới thời điểm hiện tại, chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về quyền và nghĩa
vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Với phạm
vi bao quát hơn rất nhiều so với hậu quả pháp lý về tài sản, việc quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là hết sức cần thiết, xuất phát từ yêu cầu khách quan:
Thứ nhất, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quan hệ
hôn nhân vẫn tồn tại nên vợ chồng vẫn có đầy đủ mọi quyền và nghĩa vụ về nhân thân và tài sản với nhau, với gia đình Việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân không phải là gián tiếp quy định về ly thân nên không đương nhiên dẫn đến chế độ biệt sản Do đó, việc duy trì đời sống chung là nghĩa vụ, trách nhiệm của cả hai vợ chồng, không phân biệt mức độ thu nhập của mỗi bên Nếu một bên không có thu nhập, không có tài sản thì bên kia vẫn phải
Trang 30chăm lo đời sống chung của gia đình Tuy nhiên, Luật HN&GĐ hiện hành mới chỉ quy định về việc xác định tài sản chung, tài sản riêng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân còn trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp của vợ chồng như thế nào đối với đời sống chung của gia đình thì lại chưa được quy định Cho nên, để đảm bảo đời sống chung, pháp luật cần thiết dự liệu quyền
và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Thứ hai, theo quy định hiện hành, vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc
yêu cầu Tòa án chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung Hệ quả pháp lý của việc chia tài sản chung này là tài sản được chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia này cũng như thu nhập do lao động và những thu nhập hợp pháp khác sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người Vì vậy, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản chung có thể còn hoặc không còn Mặt khác, vợ chồng có thể ở riêng sau khi chia tài sản chung Khi đó, đời sống chung của gia đình sẽ được đảm bảo như thế nào, đặc biệt là trong trường hợp các con còn nhỏ, chưa thành niên, hoặc đã thành niên nhưng bị tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự (NLHVDS), không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Việc sử dụng tài sản để chi dùng, duy trì đời sống chung của gia đình cũng như trách nhiệm nuôi duỡng, chăm sóc, giáo dục các con là cần thiết, là nhu cầu tất yếu cần được quy định cụ thể
và đảm bảo thực hiện
Thứ ba, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân làm thay đổi
quyền và nghĩa vụ của mỗi bên Luật HN&GĐ năm 2000 quy định, tài sản chung của vợ chồng có thể được chia khi hôn nhân đang tồn tại nếu một trong hai bên vợ chồng muốn đầu tư kinh doanh riêng hoặc thực hiện nghĩa vụ dân
sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác Đặc biệt là trong trường hợp chia để đầu tư kinh doanh riêng, ngoài việc phải thực hiện những nghĩa vụ phát sinh theo Luật HN&GĐ, vợ, chồng với tư cách là chủ thể kinh doanh sẽ bị chi phối bởi những quy định điều chỉnh các hoạt động kinh doanh này, chẳng hạn như các quy định của Luật Doanh nghiệp Như vậy, sau khi chia tài sản chung
Trang 31trong thời kỳ hôn nhân có thể phát sinh nhiều quyền và nghĩa vụ mới, nhất là đối với người thứ ba mà có quan hệ dân sự, kinh tế với vợ, chồng hoặc cả hai
vợ chồng Đây là mối quan hệ rất phức tạp nhưng lại chưa được pháp luật điều chỉnh Do đó, cần có những quy định điều chỉnh cụ thể để bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của các bên
Thứ tư, pháp luật dự liệu về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi
chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản giữa vợ chồng với nhau và giữa vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng với người thứ ba có quan hệ về tài sản với vợ chồng Từ đó đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên
1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN
Quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ, chồng, của gia đình và các con cũng như quyền lợi của người thứ ba có quan hệ giao dịch với vợ, chồng
Pháp luật ghi nhận cụ thể quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ là cơ sở pháp lý để phân định rõ trách nhiệm của các bên vợ, chồng trong quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản trong gia đình
Trang 32Quy định này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng khi phát sinh tranh chấp về tài sản Bởi việc phân định ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng sau khi
vợ chồng chia tài sản chung là khá phức tạp
có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Với việc ghi nhận cụ thể quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp về tài sản của mỗi bên vợ, chồng cũng như của người thứ ba có quan hệ giao dịch về tài sản với vợ, chồng Đồng thời, quy định này còn góp phần đảm bảo sự an toàn, lành mạnh trong các giao dịch của vợ chồng với người thứ ba cũng như góp phần điều tiết, đảm bảo sự ổn định quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại Hiện nay, việc duy trì và phát triển đời sống gia đình đã thúc đẩy vợ chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại Hoạt động này mang lại lợi ích cho vợ chồng cũng như phát sinh nghĩa vụ của vợ chồng với bên thứ ba tham gia giao dịch Theo luật định, người thứ ba tham gia giao dịch cần phải biết rằng trường hợp nào giao dịch đó được bảo đảm thực hiện từ tài sản chung của vợ chồng hay bằng
Trang 33tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình
Ngoài ra, quy định này còn thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung hợp nhất nói riêng và về mọi mặt của gia đình nói chung đồng thời cũng tạo điều kiện cho vợ, chồng có những cách thức xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội để bảo toàn mục đích của hôn nhân gia đình - gắn kết tình cảm và lợi ích của tất cả các thành viên
1.4 QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG SAU KHI CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN THEO PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Mỗi quốc gia với những đặc điểm riêng về lịch sử, truyền thống, địa
lí, thành phần dân cư, trình độ phát triển kinh tế, chính trị, tôn giáo là nền tảng tạo nên sự đa dạng về xã hội và hệ thống pháp luật ở những quốc gia này Tuy nhiên, trong sự đa dạng đó vẫn có những điểm tương đồng nhất định Sự giao lưu và tiếp biến giữa các nền văn hoá, những điểm tương đồng
về lịch sử, truyền thống dân tộc của các quốc gia trong khu vực cũng như trên toàn thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hệ thống pháp luật có những điểm giống nhau Dưới đây là một số hình thức giống hoặc tương tự như hình thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của một số nước, trong đó quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được quy định khá cụ thể
1.4.1 Pháp luật dân sự Pháp
Được kiến lập vào năm 1804 bởi Napoléon Bonaparte, BLDS Pháp
hay còn gọi là Bộ luật Napoléon được nhiều học giả xem như là bản "Hiến
pháp dân sự" hoặc được ví như "một đài kỷ niệm" Sự so sánh này cho thấy
tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn của Bộ luật này đối với pháp luật dân sự thế giới cũng như tính ổn định, sự trường tồn vượt thời gian của nó Mặc dù đã trải qua hơn hai thế kỷ với nhiều thay đổi, bổ sung, song điều kỳ diệu là Bộ
Trang 34luật vẫn giữ nguyên đƣợc cấu trúc và không làm thay đổi trật tự các điều luật Cho đến nay, chúng ta vẫn không thể phủ nhận tính mẫu mực của các quy định trong dân luật Pháp BLDS Pháp dành riêng Thiên V quyển thứ 3 để quy định về khế ƣớc hôn nhân và các chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân Nhà lập pháp Pháp đã đƣa ra một hệ thống các chế độ tài sản của vợ chồng, bao gồm chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ƣớc định Theo đó, vợ chồng có quyền lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện
kinh tế gia đình Tại Điều 1400 BLDS Pháp quy định: "Chế độ tài sản chung
được xác lập khi không có khế ước hôn nhân hoặc khi vợ chồng lựa chọn kết hôn theo chế độ tài sản chung" [34] Chế độ tài sản chung này bao gồm hai
khối tài sản là khối tài sản có và khối tài sản nợ Tài sản chung của vợ chồng đƣợc xác định nhƣ sau:
- Tài sản mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ chồng có đƣợc từ công việc của họ;
- Tài sản là những khoản tiết kiệm có đƣợc do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của vợ, chồng;
- Tài sản mà vợ chồng đƣợc thừa kế chung, đƣợc tặng cho chung hoặc đƣợc di tặng chung;
- Tài sản không chứng minh đƣợc là tài sản riêng
Theo quy định của BLDS Pháp thì có nhiều căn cứ dẫn đến việc chấm dứt tài sản chung này, trong đó có việc tách riêng tài sản giữa vợ và chồng Điều 1443 BLDS Pháp quy định về việc chia (tách riêng) tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhƣ sau:
Nếu do sự xáo trộn trong công việc làm ăn của vợ hoặc chồng, do vợ hoặc chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức, mà việc duy trì chế độ tài sản chung gây phương hại đến lợi ích của người kia, thì người có lợi ích bị phương hại có thể yêu cầu Tòa án cho
Trang 35tách riêng tài sản Mọi trường hợp tự tách riêng tài sản đều vô hiệu [34]
Như vậy, nhà làm luật Pháp dự liệu hai trường hợp chia tài sản chung
trong thời kỳ hôn nhân: Một là, trường hợp công việc làm ăn của vợ chồng có
sự thay đổi Trường hợp này tương tự như việc chia tài sản chung để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định của Luật HN&GĐ hiện hành ở nước ta
Trường hợp thứ hai là do vợ chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức, chẳng
hạn như có hành vi phá tán tài sản chung, hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của bên kia
Khác với quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam, BLDS Pháp chỉ ghi nhận việc chia này thông qua con đường tư pháp là Tòa án Mọi trường hợp vợ chồng tự tách riêng tài sản đều không có giá trị Hậu quả của việc chia tài sản chung đó sẽ làm chấm dứt chế
độ tài sản chung của vợ chồng
Việc tách riêng tài sản giữa vợ và chồng được quy định khá đầy đủ, tuân theo những trình tự thủ tục chặt chẽ Tại Điều 1445 BLDS Pháp quy định như sau:
Yêu cầu tách riêng tài sản giữa vợ và chồng, bản án cho tách riêng tài sản giữa vợ và chồng phải được công bố theo những điều kiện và chế tài quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, cũng như theo các quy định pháp luật về thương mại, nếu vợ hoặc chồng là thương nhân;
Bản án tuyên bố tách riêng tài sản giữa vợ và chồng có hiệu lực kể từ ngày nộp yêu cầu tách riêng tài sản;
Bản án tuyên bố tách riêng tài sản giữa vợ và chồng được ghi chú bên lề giấy đăng ký kết hôn và bản chính của khế ước hôn nhân [34]
Trang 36Theo tinh thần của điều luật trên thì việc chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân được công bố công khai, và đặc biệt chú trọng đến chủ thể vợ, chồng là thương nhân Pháp luật Pháp quy định nghĩa vụ phải công bố bản án tách riêng tài sản giữa vợ và chồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm loại
bỏ hoặc hạn chế những tranh chấp về tài sản có thể xảy ra Bởi khi các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến tài sản của vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng biết được sự dịch chuyển, thay đổi của các tài sản này, sẽ có sự chuẩn
bị tâm lý cũng như những hành động cần thiết, kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Ngoài ra cũng nâng cao trách nhiệm của mỗi bên vợ chồng, ngăn chặn việc vợ, chồng chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ Thêm vào đó, bản án tuyên bố tách riêng tài sản này phải được ghi chú bên lề giấy đăng ký kết hôn Quy định này cũng tạo ra hành lang pháp lý để chứng minh nguồn gốc tài sản nếu có những tranh chấp giữa vợ chồng hoặc giữa họ với người thứ ba
Bên cạnh quy định về những thủ tục hành chính như công bố công khai và ghi chú bên lề bản án cho tách riêng tài sản giữa vợ và chồng, BLDS Pháp còn ghi nhận về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi tách riêng tài sản chung để bảo đảm được mục đích của việc chia tài sản cũng như lợi ích chung của gia đình Theo đó, vợ, chồng phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại Điều 1448 BLDS Pháp:
Vợ hoặc chồng đã được tách riêng tài sản có trách nhiệm
đóng góp các chi phí cho gia đình và cho việc nuôi dạy con theo khả năng của mình và của người kia Nếu một trong hai vợ chồng không còn tài sản sau khi tách riêng tài sản, thì người kia phải trả hết các chi phí nêu trên [34]
Có thể nói đây là quy định mang đầy đủ tính chất đặc trưng của quan
hệ hôn nhân gia đình, đó là đặt lợi ích của gia đình lên trên hết Ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới, thế hệ trẻ cũng luôn được coi là nguồn lực quan trọng vô
Trang 37giá, là yếu tố không thể tách rời với tương lai của đất nước Do đó việc chăm
lo, nuôi dưỡng những mầm non luôn được gia đình, xã hội và Nhà nước chú trọng, quan tâm Nhà nước đưa ra những cơ chế nhằm đảm bảo cho các quyền
và lợi ích của con cái được thực hiện một cách tốt nhất dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào Theo đó, sau khi tách riêng tài sản chung, vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp các chi phí để trang trải, duy trì cuộc sống chung của gia đình, cho việc nuôi dạy, chăm sóc các con theo khả năng của mỗi bên, chẳng hạn như chi phí học hành, ăn ở, chữa bệnh, và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày khác Hoặc khi tuyên bố tách riêng tài sản, Tòa án có thể quyết định một bên
vợ hoặc chồng sẽ nộp khoản đóng góp của mình cho người kia và người này
sẽ một mình đảm nhận việc thanh toán mọi chi phí sinh hoạt gia đình, đối với các bên thứ ba
Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định về hậu quả pháp lý của việc tách riêng tài sản này Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực thì chế độ tài sản giữa
vợ và chồng sẽ được chuyển sang chế độ tách riêng tài sản, chế độ tài sản chung sẽ chấm dứt Vợ chồng cùng đóng góp chi phí cho cuộc sống chung theo các thỏa thuận, khả năng của mình, trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự
Không chỉ quy định về trách nhiệm đóng góp đảm bảo đời sống chung trong trường hợp tách riêng tài sản mà quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với đời sống chung của gia đình trong pháp luật Dân sự Pháp luôn được chú trọng và đảm bảo thực hiện trên nhiều phương diện khác nhau Chẳng hạn như quy định quyền tự chủ về nghề nghiệp của vợ chồng tại Điều 223 BLDS
Pháp: "Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do thực hiện nghề nghiệp, thu những
món lợi và tiền lương và định đoạt những khoản tiền này sau khi đã đóng góp các chi phí cho đời sống chung" [34]
Qua việc tìm hiểu sơ lược về chia tách tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi bên
Trang 38vợ, chồng sau khi chia tài sản chung nói riêng, có thể nhận thấy pháp luật Pháp đã có những quy định khá tỉ mỉ nhằm điều chỉnh các vấn đề phát sinh khi sự kiện chia tài sản chung xảy ra Theo đó, quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên vợ chồng bị ràng buộc trong phạm vi nhất định để đảm bảo sự ổn định đời sống chung, chăm lo, giáo dục con cái, đảm bảo quyền và lợi ích của những người có liên quan khi tách riêng tài sản chung của vợ chồng Những quy định của pháp luật dân sự Pháp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi tách riêng tài sản của vợ chồng thể hiện rất nhiều ưu điểm, là kinh nghiệm, là bài học quý để Việt Nam có thể tiếp thu, học hỏi trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật HN&GĐ điều chỉnh vấn đề chia tài sản chung nói chung cũng như quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung nói riêng Chẳng hạn như chúng ta có thể tiếp thu quy định vợ chồng phải có nghĩa vụ đóng góp chi phí cho gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái theo khả năng của mỗi bên vợ, chồng sau khi chia tài sản chung Thủ tục công bố công khai việc tách riêng tài sản cũng là quy định bộc lộ nhiều ưu điểm mà chúng ta cần tham khảo và vận dụng Quy định lý do chia tài sản chung có thể xuất phát từ việc một trong hai bên có hành vi phá tán tài sản, quản lý tài sản thiếu đạo đức trong pháp luật dân sự Pháp rất phù hợp với pháp luật HN&GĐ Việt Nam và chúng ta nên bổ sung theo hướng của quy
định này vào "lý do chính đáng khác" khi xét thỏa thuận hoặc yêu cầu về việc
chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.4.2 Pháp luật dân sự và thương mại Thái Lan
Thái Lan là quốc gia duy nhất trong các nước Đông Nam Á không trải qua chế độ thuộc địa Tuy nhiên, hệ thống pháp luật Thái Lan chịu ảnh hưởng sâu sắc pháp luật các nước phương Tây, đặc biệt là pháp luật của châu Âu lục địa xuất phát từ việc phát triển, mở rộng quan hệ thương mại với các quốc gia này BLDS và Thương mại Thái Lan năm 1925 là một trong những bộ luật được xây dựng trên nền tảng đó Trải qua gần 90 năm, luật dân sự Thái Lan
Trang 39đã được tôi luyện trong một nền kinh tế với bao thăng trầm khiến cho nhiều chuẩn mực giá trị của luật dân sự trong đó có các quy định về hôn nhân gia đình đã được định hình và trở thành tài sản quý góp vào kho tàng pháp lý nhân loại Các quy định về hôn nhân gia đình nằm tại Quyển 5 từ Điều 1435 đến Điều 1598 của Bộ luật Theo những quy định này thì quyền sở hữu của
vợ chồng ở Thái Lan được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn ước mà
vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo quy định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó vô hiệu Tài sản của vợ chồng cũng bao gồm tài sản chung "Sin Somros" và tài sản riêng "Sin Suan Tua"
Theo quy định tại Điều 1474 BLDS và Thương mại Thái Lan thì tài sản chung "Sin Somros" của vợ chồng được xác định bao gồm những tài sản sau:
- Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thông qua một
di chúc hoặc tặng cho được làm bằng văn bản nếu trong di chúc hay văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung;
- Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng;
- Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh được là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thì tài sản đó được coi là tài sản chung
Theo quy định tại Điều 1488, Điều 1484, Điều 1491, Điều 1598.17 BLDS và Thương mại Thái Lan thì tài sản chung vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kỳ hôn nhân trong các trường hợp cụ thể sau:
- Một bên vợ chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung;
- Vợ hoặc chồng là người quản lý tài sản chung "Sin Somros" mà có những hành vi vi phạm như: gây mất mát tài sản chung mà không có lý do
Trang 40chính đáng; không giúp đỡ người kia; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu những món nợ vượt quá 1/2 giá trị tài sản chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc quản lý tài sản chung mà không có lý do chính đáng;
- Người vợ hoặc người chồng bị tuyên bố phá sản;
- Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia
bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ và do đó cha hoặc mẹ của người đó hoặc một người được chỉ định làm người giám hộ thì người giám
hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lý tài sản chung với người kia Trong trường hợp này vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây ra nguy hại cho họ
Theo Điều 1492 BLDS và Thương mại Thái Lan thì sau khi đã chia tài sản chung căn cứ vào những trường hợp nêu trên, tài sản của vợ chồng sẽ có
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung , tặng cho chung sau khi chia tài sản chung tro ng thời kỳ hôn nhân trở thành tài sản riêng và chia đều cho cả vợ và chồng;
- Hoa lợi thu được từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung sẽ là tài sản riêng
Cũng tương tự như quy định trong pháp luật dân sự Pháp, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được ghi nhận nhằm đảm bảo, duy trì đời sống chung của gia đình Vì tất cả các tài