1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005

121 3,7K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực này trong Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989 với quy định cho và ghép các bộ phận cơ thể người Điều 30 đã cho phép các cơ sở y tế có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT -

LÊ HƯƠNG TRÀ

QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN THEO

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005

Chuyên ngành : Luật dân sự

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: KHOA LUẬT

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: TS Phùng Trung Tập

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ luật học tại Đại học Quốc gia Hà Nội Vào hồi giờ ngày tháng năm

Có thể tìm hiểu luận văn tại Trung tâm Tư liệu-Thư viện-Đại học Quốc gia Hà Nội

HÀ NỘI – 2008

Trang 3

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài: ……… 1

2 Mục đích nghiên cứu: ……… 3

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu: ……… 4

4 Tình hình nghiên cứu đề tài: ……… 5

5 Phương pháp nghiên cứu: ……… 7

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn ……… 7

7 Cơ cấu của luận văn: ……… 8

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN 9 1.1 Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nước trên thế giới ………

9 1.2 Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ……… 15

1.2.1 Khái niệm……… 15

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân … 20 1.2.2.1 Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép ……… 20

1.2.2.2 Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học ……… 22

1.2.2.3 Không nhằm mục đích thương mại ……… 25

1.2.2.4 Giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác ……… 27

1.3 Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ……… 28

Trang 4

1.3.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 ……… 29

1.3.2 Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991 ……… 30

1.3.3 Bộ luật dân sự năm 1995 ……… 32

1.3.4 Bộ luật dân sự năm 2005 ……… 32

1.3.5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006 ………. 34

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ CỦA QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN 36 2.1 Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể ……… 36

2.1.1 Bên hiến bộ phận cơ thể……… 36

2.1.2 Bên nhận bộ phận cơ thể người ……… 44

2.1.2.1 Người nhận bộ phận cơ thể là cá nhân ……… 46

2.1.2.2 Người nhận bộ phận cơ thể người để chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học ……… 49

2.2 Đối tượng của quan hệ hiến bộ phận cơ thể ……… 53

2.3 Nội dung quan hệ hiến bộ phận cơ thể người ……… 58

2.3.1 Quyền của bên hiến bộ phận cơ thể người và điều kiện hiến bộ phận cơ thể người ………

59 2.3.2 Quyền của bên nhận bộ phận cơ thể và điều kiện nhận bộ phận cơ thể người ……… 62

2.3.3 Hình thức, thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân … 64

2.3.3.1 Hình thức hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ……… 64

2.3.3.2 Thủ tục hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ……… 65

2.3.4 Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người 70 2.3.4.1 Điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người 70 2.3.4.2 Trình tự thủ tục cho phép cơ sở y tế hoạt động lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể ngườ ……… 74

2.3.5 Các hành vi bị nghiêm cấm ……… 76

2.3.6 Trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm ……… 80

Trang 5

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ

THỂ CỦA CÁ NHÂN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA

PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ CỦA CÁ NHÂN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Theo xu huớng phát triển của thế giới, các nước liên kết với nhau trên tất cả các lĩnh vực để phát triển đất nước ngày một hoàn thiện hơn Hội nhập kinh tế, quốc tế trên phạm vi khu vực và toàn cầu nhất là vấn đề gia nhập Tổ chức thương mại thế giới đã giúp cho tất cả các nước khác nhau trên thế giới

có điều kiện tăng trưởng và phát triển Sự liên kết đã tạo nên sự bền vững trong tất cả các lĩnh vực trong xã hội về văn hóa, chính trị, kinh tế, giáo dục, pháp luật, công nghệ sinh học, khoa học ngành y…khoa học ngành y đã thực

sự phát triển mạnh mẽ trong việc tìm tòi khám phá ra các phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể con người, cứu sống rất nhiều bệnh nhân với chất lượng cuộc sống rất tốt Để các phương pháp chữa bệnh mới được thực hiện một cách có hiệu quả trong cuộc sống cần có quy pháp pháp luật để điều chỉnh Vì vậy, đa số các nước phát triển trên thế giới đã ban hành pháp luật để điều chỉnh quan hệ trong lĩnh vực khoa học ngành y, quy chế pháp lý càng chặt chẽ, hoàn chỉnh, đúng đắn, kịp thời sẽ tạo nguồn lực quan trọng, góp phần định hướng phát triển cho một công nghệ y sinh học của các nước trên thế giới, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

Việt Nam đã và đang từng bước hoàn thiện mình về kinh tế, pháp luật,

xã hội, văn hóa, y tế để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn nhân loại Sau thời kỳ kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế thị trường vì vậy điều kiện kinh tế xã hội của đất nước ngày càng phát triển kéo theo sự phát triển của mỗi một người dân về điều kiện sống, nhu cầu của người dân ngày càng tăng, quyền của mỗi một cá nhân cần được pháp luật bảo hộ càng cao, các quan niệm về chính trị, đạo đức, xã hội, công nghệ…của người dân cũng có nhiều thay đổi theo hướng tốt đẹp hơn, hoàn thiện hơn

Trang 7

Công nghệ sinh học ở Việt Nam cũng đang từng bước bắt kịp với thế giới, chúng ta đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng tự hào, đặc biệt là kỹ thuật y học Trong đó, việc cho-nhận, cấy ghép các bộ phận cơ thể là một trong những thành tựu xứng đáng được tự hào, rất nhiều cuộc phẫu thuật cấy, ghép

bộ phận cơ thể người đã được thực hiện rất thành công Theo điều tra xã hội học cho thấy số người bị bệnh gan, tim, thận, phổi…cần phải thực hiện phẫu thuật cấy, ghép ở Việt Nam lên tới con số hàng trăm, hàng nghìn Đây là nhu cầu rất khẩn thiết của những con người đang bị bệnh tật dày vò Tìm kiếm bộ phận cơ thể để cấy, ghép cũng là một điều rất khó khăn vì ngoài vấn đề hiến

bộ phận cơ thể người của cá nhân được đặt ra để cứu giúp những người trong thời kỳ bệnh tật rất quan trọng Đồng hành với sự phát triển kỹ thuật y học hiện đại, quy chế pháp lý để kiểm soát nó cùng các hoạt động trực tiếp liên quan cũng dần được xây dựng và đang từng bước cố gắng hoàn thiện của Việt Nam cũng càng ngày càng phát triển Lần đầu tiên pháp luật Việt Nam quy định về lĩnh vực này trong Luật bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989 với quy định cho và ghép các bộ phận cơ thể người (Điều 30) đã cho phép các cơ sở y tế có thể có một căn cứ pháp lý để thực hiện chức phận thầy thuốc cứu người của mình Cho đến nay BLDS 2005 (Điều 33) đã chính thức ghi nhận quyền năng của các chủ thể trong vấn đề này với tư cách là quyền nhân thân không thể phủ nhận Đây là cơ sở pháp lý mang tính tiền đề cho việc xây dựng và phát triển hoàn thiện quy chế pháp lý về cho, lấy, cấy, ghép bộ phận cơ thể người trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội phát triển mới của y học Việt Nam Quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005 chỉ mang tính nguyên tắc và những quy định này đã được cụ thể hóa trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006 nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh từ việc áp dụng những kỹ thuật y học tiến bộ này trong đời sống xã hội Pháp luật quy định chặt chẽ vấn đề này vừa phù hợp với đạo

Trang 8

đức, truyền thống, văn hóa, vừa đảm bảo quyền của cá nhân được Nhà nước bảo hộ Quyền hiến bộ phận cơ thể nguời của cá nhân là quyền nhân thân thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với các bộ phận trên cơ thể mình Việc hiến bộ phận cơ thể người được thực hiện một cách đúng đắn sẽ có ý nghĩa tiến bộ và nhân đạo sâu sắc, góp phần vào sự phát triển của y học và khoa học vì con người

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là rất quan trọng để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi một cá nhân trong xã hội, đảm bảo các điều luật được ban hành trong Bộ luật dân sự được thực thi có hiệu

quả cao Tôi đã chọn đề tài “quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo Bộ

luật dân sự 2005” để nghiên cứu, tìm hiểu giúp bạn đọc có thể hiểu hơn về

quyền được hiến bộ phận cơ thể của mỗi một cá nhân trong xã hội, thực trạng hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người ở Việt Nam cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề này, góp phần hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật Việt Nam trong hoạt động hiến, lấy, ghép Bộ phận cơ thể người

2 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể đã được thực hiện thành công ở nhiều nước trên thế giới từ rất lâu, đến nay đã rất phổ biến, đây là phương pháp điều trị mang lại cuộc sống cho rất nhiều người bệnh nên có ý nghĩa nhân đạo rất sâu sắc Ở Việt Nam, nhu cầu được ghép là rất lớn và ngày càng gia tăng, tuy nhiên nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người để đáp ứng nhu cầu được ghép lại rất khan hiếm khiến nhiều người bệnh phải ra nước ngoài để ghép trong khi chi phí cho một cuộc phẫu thuật ở nước ngoài lại rất cao Kỹ thuật y khoa, trình độ y bác sỹ của Việt Nam đã phát triển đáp ứng được yêu cầu của kỹ thuật cấy ghép bộ phận cơ thể người nhưng tại sao người bệnh vẫn

Trang 9

phải ra nước ngoài để ghép, tại sao dân số Việt Nam rất đông mà bộ phận cơ thể người để cứu sống bệnh nhân lại rất khan hiếm?

Vì vậy, mục đích nghiên cứu đề tài này là nghiên cứu về các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân, Bộ luật dân sự Việt Nam 2005, pháp luật chuyên ngành quy định như thế nào về vấn đề này? thực trạng hiến bộ phận cơ thể của cá nhân được thực hiện tại Việt Nam ra sao? So với một số nước trên thế giới việc hiến bộ phận cơ thể của cá nhân có phát triển không?

có thua kém hay tụt hậu gì so với các nước trong khu vực và trên thế giới không? qua đó đề ra hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật để đạt hiệu quả cao mà không vi phạm đạo đức, phong tục tập quán của người Việt Nam

và đề xuất những quy định của pháp luật cho phù hợp với thực tế và xu hướng phát triển của y học Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá

nhân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005” là:

- Quy định của một số nước trên thế giới về quyền hiến bộ phận cơ thể;

- Tiến trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể;

- Các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân;

- Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể;

- Hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận

cơ thể

Hiến, lấy, ghép bộ phận cơ thể là một lĩnh vực rất rộng vừa liên quan đến y học vừa liên quan đến pháp luật Tuy nhiên trong Luận văn này chỉ nghiên cứu đến khía cạnh pháp lý về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam từ trước cho đến nay Để các quy định

Trang 10

về hiến bộ phận cơ thể được thực thi có hiệu quả trong thực tế Luận văn đã nghiên cứu, phân tích những hạn chế của các quy định pháp luật và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật của Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

4 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiến bộ phận cơ thể là một việc làm nhân đạo đã cứu sống rất nhiều người bệnh Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động hiến bộ phận cơ thể pháp luật của một số nước trong khu vực và trên thế giới cũng đã quy định vấn đề này thành Luật riêng và quy định cụ thể trong pháp luật chuyên ngành như Pháp, Hoa kỳ, Nhật, Singapore, Trung Quốc Do đó đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều cuộc hội thảo thảo luận về vấn đề này

Hiến bộ phận cơ thể là vấn đề bức thiết để chữa bệnh cho bệnh nhân thoát khỏi hiểm nghèo, tuy nhiên ở Việt Nam đây là vấn đề mới có tính nhạy cảm cao liên quan đến phong tục tập quán của người Á Đông nên các đề tài nghiên cứu, các bài viết về vấn đề này còn rất ít Trong ngành y học đã có nhiều công trình nghiên cứu cấp nhà nước về vấn đề ghép mô, thận, tạng thực nghiệm cho những người bị bệnh mạn tính ở giai đoạn cuối như đề

tài : Nghiên cứu một số vấn đề về ghép gan để tiến hành ghép gan trên người

tại Việt Nam, đề tài cấp nhà nước của Học Viện Quân Y năm 2005 hay bài

giảng tại Học viện Quân Y của Đỗ Tất Cường và Cộng sự : Ghép tạng, ghép

thận và hồi sức điều trị sau ghép năm 2002

Về lĩnh vực pháp luật, hiến bộ phận cơ thể tuy là vấn đề cấp thiết nhưng nó mới được quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ luật dân sự 2005

và được cụ thể hóa trong Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và

Trang 11

hiến, lấy xác năm 2006 nên có rất ít người nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này Tuy nhiên, cũng có mốt số bài viết đề cập về vấn đề này như:

- Luận văn thạc sỹ: Quyền nhân thân liên quan đến thân thể của cá

nhân theo quy định trong Bộ luật dân sự 2005 của Lê Thị Hoa tháng 12/2006;

- Bài viết của Tiến sỹ Phùng Trung Tập về quyền hiến bộ phận cơ thể

hoặc hiến xác sau khi chết đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 5 tháng

3/2005;

- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Minh Du trường Đại học Luật Hà

Nội về quyền hiến bộ phận cơ thể theo quy định của Bộ luật dân sự 2005

tháng 5/ 2006;

- Khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Thu Trang trường Đại học Luật Hà

Nội về Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác Một số

vấn đề lý luận và thực tiễn năm 2008;

- Bài viết của Nguyễn Mạnh Cường về Một số suy nghĩ khi Luật Hiến,

lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc Hội thông qua trên Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về y tế số 04 tháng 12/2006;

Ngoài ra còn có cuộc tọa đàm về Pháp lệnh hiến, lấy, ghép mô, bộ phận

cơ thể người và khám nghiệm tử thi do Nhà pháp luật Việt pháp tổ chức năm

2004

Các bài báo, tạp chí, tọa đàm và khóa luận tốt nghiệp đã đề cập về vấn

đề này nhưng vào các thời điểm khác nhau trong khi tình hình thực tiễn và pháp luật có nhiều thay đổi mang tính chất bước ngoặt nên chưa toàn diện và chưa đầy đủ về mặt pháp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra, hơn nữa các bài viết trên không đi sâu phân tích quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân mà chỉ phân tích vấn đề này một cách tổng quát Là điều luật mới trong bộ luật dân sự nhưng nó đã đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội cũng chính vì vậy tác giả đã mạnh dạn nghiên cứu vấn đề này để quá trình thực

Trang 12

hiện điều luật được hoàn thiện hơn, đưa ra một số giải pháp giải quyết sự tồn tại của pháp luật trong việc quy định về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

5 Phương pháp nghiên cứu

Để để tài đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, trong quá trình nghiên cứu

để tài đã sử dụng các phương pháp truyền thống như :

+ Phương pháp duy vật biện chứng + Phương pháp lịch sử

+ Phương pháp so sánh + Phương pháp phân tích tài liệu + Phương pháp tổng hợp, đánh giá + Phương pháp quy nạp

+ Phương pháp diễn dịch

6 Đóng góp mới về mặt khoa học của Luận văn

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam tác giả đã đánh giá được thực trạng của Pháp luật Việt Nam về vấn đề này Dựa trên sự đánh giá đó tác giả đã đưa ra được một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân, đảm bảo các quy định của pháp luật được thực thi một cách

có hiệu quả trong thực tế Khi pháp luật về hiến bộ phận cơ thể người được hoàn thiện và thống nhất như thế sẽ có nhiều nguồn hiến bộ phận cơ thể cứu sống được nhiều người bệnh, giải quyết được tình trạng khan hiếm nguồn cung cấp bộ phận cơ thể người ở nước ta hiện nay

7 Kết cấu của Luận văn

- Phần mở đầu

Trang 13

- Chương 1 : Khái quát chung về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

- Chương 2 : Các yếu tố của quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

- Chương 3 : Thực trạng pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân và hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quyền hiến

bộ phận cơ thể của cá nhân

- Kết luận

Với đề tài còn khá mới này ở Việt Nam, tác giả biết rằng hạn chế của mình còn nhiều, thiếu sót và lỗi không phải là ít và rất có thể Quý thầy cô và các bạn đọc có những điều không đồng ý với tác giả song tác giả cũng hy

vọng có được sự ủng hộ, đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và các bạn đọc

Luận văn được hoàn thành dựa trên sự giúp đỡ nhiệt tình của Tiến sỹ Phùng Trung Tập và đồng thời là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Phùng Trung tập đã giúp tôi hoàn thành Luận văn này

CHƯƠNG 1

Trang 14

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ

CỦA CÁ NHÂN 1.1 Quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân ở một số nước trên thế giới

Từ nền văn minh cổ đại, ước mơ của con người thể hiện ở các huyền thoại với mong muốn có thể gắn lại đầu, tay, chân….cho con người Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XVI từ ngữ (greffe, graft) ghép xuất phát từ tiếng Hy Lạp, greife là con dao sắc nhọn dùng để cấy ghép mô, cành tạo cây lai giống với đoạn ghép (greffon, graft) và cây chủ mang hoặc nhận đoạn ghép (porte greffe, implant, recipienti)1

Bắt đầu từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX đã xuất hiện việc cấy ghép một

số bộ phận cơ thể (BPCT) ở gia cầm, gia súc như cấy ghép cựa gà lên mào gà, lên tai bò, cấy ghép da trên lưng cừu và cấy ghép mảnh biểu bì da tự thân lên vết thương ở người

Từ thế kỷ XX việc hiến BPCT và ghép BPCT người được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới Công tác ghép BPCT người được khởi đầu bằng việc ghép thận thực nghiệm và ghép thận tử thi vào người Ở Áo năm 1902 có Emerich Ulmann thực hiện việc ghép thận trên chó và ghép thận lợn cho người Năm 1912 ở nước Pháp có ông Elexis Carrel đã đạt giải thưởng Nobel

từ việc ghép thận trên chó, kỹ thuật nối các mạch máu rửa thận bằng dung dịch Locke Đồng thời thực hiện ghép nối chi, ghép tim phổi, ruột, lách, giáp trạng, buồng trứng, tinh hoàn trên động vật Việc ghép thận tử thi cho người, ghép thận tử tù cho người, ghép thận lấy từ người bệnh đột tử trên bàn mổ ghép cho người đều được các nhà khoa học của các nước như Ukraina, Hoa

1

Giáo sư - tiến sỹ khoa học Lê Thế Trung: “Chiến lược tổng thể về ghép mô, tạng và bộ phận cơ thể trong giai đoạn 2006 – 2010 và tầm nhìn đến 2020”, Tạp chí y học thảm họa và bỏng, số 1/2006, tr.7

Trang 15

Kỳ, Pháp thực hiện nhưng đều thất bại Việc cấy ghép BPCT đã thành công thực sự từ những năm 1954 ở Pháp và Hoa Kỳ2

Các nhà nghiên cứu trên thế giới thực hiện thành công việc ghép BPCT trên người và động vật là một thành tựu lớn trong ngành y học thế giới Vì vậy, ghép tạng là một trong mười phát minh lớn của thế kỷ XX3 Khi bước sang thế kỷ XXI các nhà khoa học trên thế giới đã nhất trí nêu mười phát minh lớn tiêu biểu trong thế kỷ XX trong đó có ghép tạng đó là: máy bay, truyền hình, máy tính, năng lượng hạt nhân, laser, internet, du hành vũ trụ, kháng sinh, cấu trúc DNA và ghép tạng

Các thành tựu về kỹ thuật ghép mô, BPCT người trên thế giới đã trải qua gần nửa thế kỷ thực hiện và đã có những bước tiến rất đáng kể Vì thế, ngày nay việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người một

số nước trên thế giới đã có đạo luật điều chỉnh quan hệ trong việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người như Pháp, Mỹ, Canada, Úc, Bỉ, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan…

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Âu

Ở các nước Châu Âu, các quy định pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đã được triển khai thực hiện từ rất sớm, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ vào những thập kỷ gần đây như Pháp năm 1952, Vương Quốc Anh năm 1961, Đan Mạch, Italia năm 1967, Na-Uy năm 1973, Thụy Điển năm 1975, Hy Lạp năm 1983…các nước này đều quy định việc lấy mô, BPCT của người sống

Trang 16

phải tự nguyện, vì mục đích chữa bệnh, điều trị, nghiên cứu khoa học hoặc vì mục đích chuyên biệt Pháp luật của các nước này quy định các nguyên tắc, điều kiện cho và sử dụng bộ phận lấy từ cơ thể người Điều này thể hiện trong Chỉ thị của Nghị Viện Châu Âu và Hội đồng châu Âu về việc xây dựng các tiêu chuẩn về chất lượng và tính an toàn trong hoạt động cho, nhận, kiểm soát,

xử lý, lưu giữ, cung cấp mô và tế bào người Việc lấy BPCT người trong mọi trường hợp phải có sự đồng ý của người cho, sự đồng ý được thể hiện trước một thẩm phán và mọi người đều có quyền hiến tặng BPCT của mình trong lúc còn sống với điều kiện đã đến tuổi thành niên, đủ năng lực hành vi dân sự,

có quan hệ huyết thống với người nhận hoặc chứng minh được rằng đã sống chung ít nhất 2 năm với người nhận Chỉ thị cũng quy định để tránh tình trạng thương mại hóa cơ thể người, mọi phát minh có mục đích sử dụng trái với nhân phẩm con người, trật tự công và thuần phong mỹ tục cũng như việc giải

mã một phần hoặc toàn bộ gien người sẽ không được cấp bằng sáng chế

Trong Bộ luật dân sự (BLDS) và Pháp luật y sinh cộng hòa Pháp ngày 30/1/2003 có những quy định nghiêm cấm mọi hành vi xúc phạm đến nhân phẩm và bảo đảm cho con người được tôn trọng ngay từ khi bắt đầu sự sống Pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định cơ thể người là bất khả xâm phạm theo

đó cơ thể, các BPCT và sản phẩm từ cơ thể người không thể trở thành đối tượng của quyền tài sản Theo những nguyên tắc đó BLDS Cộng hoà Pháp quy định tại điều 16-2 chương II: “Tòa án có thể quyết định mọi biện pháp nhằm ngăn chặn hoặc buộc chấm dứt hành vi xâm phạm trái phép đến cơ thể người hoặc hành vi bất chính nhằm vào BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người” Ở Cộng hoà Pháp dân quyền được coi trọng, do vậy pháp luật Pháp

có những quy định bảo vệ con người và tất cả những vấn đề liên quan đến con người Tại các điều 16-5, 16-6 chương II BLDS Cộng hoà Pháp quy định:

“Mọi thỏa thuận được giao kết nhằm mục đích sử dụng cơ thể người, các

Trang 17

BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người như một tài sản đều vô hiệu; nghiêm cấm trả thù lao cho người tự nguyện cho người khác tiến hành thí nghiệm trên cơ thể của mình, lấy BPCT của mình hoặc thu thập sản phẩm từ

cơ thể mình” Pháp luật còn quy định không ai được phép công bố bất kỳ thông tin nào cho phép xác định người cho, người nhận BPCT người hoặc sản phẩm từ cơ thể người Người cho không được phép biết danh tính của người nhận và ngược lại Trong trường hợp cần thiết vì mục đích chữa bệnh, chỉ các bác sỹ của người cho và người nhận mới được phép tiếp cận những thông tin cho phép xác định danh tính của họ

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở các nước Châu Á

Tại các nước Châu Á, từ năm 1959 đến nay, nhiều nước như Thái Lan, Nhật Bản, Philippin, Singapore, Malaysia, Indonesia…đều đã có luật quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT của Singgapore năm 2004, Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản năm 1997 Việc ban hành các quy định về hiến, lấy, ghép mô, BPCT người sớm tạo hành lang pháp lý cho ngành y học có thể tiến hành nghiên cứu để cứu sống người bệnh và quyền của người hiến BPCT được bảo đảm một cách chính đáng Chính vì những lý do trên mà số bệnh nhân được ghép mô, BPCT người ở các nước này ngày càng tăng lên nhanh chóng

Luật về phẫu thuật ghép tạng của Nhật Bản quy định nghiêm cấm việc mua bán nội tạng, hiến nội tạng phải nhằm mục đích ghép tạng phải tự nguyện, nội tạng dùng được ghép phải dựa trên tinh thần nhân đạo, phải xem xét trao đổi với người cần ghép nội tạng

Theo pháp luật Singapore, thì bất cứ người nào có trạng thái tinh thần khỏe mạnh và từ đủ 18 tuổi trở lên có thể cho bất cứ phần nào của cơ thể người đó cho việc giảng dạy, nghiên cứu, sự tiến bộ của y học hoặc khoa học

Trang 18

răng, điều trị hoặc ghép tạng ở bất cứ bệnh viện nào được ghép, các trường về

y tế và răng, các trường đại học hoặc bất cứ cá nhân nào cho việc điều trị hoặc ghép tạng Đạo luật cũng quy định cho những người không muốn hiến bộ phận của họ phải đăng ký sự phản đối của họ Người Hồi Giáo và những người trên 60 tuổi không áp dụng quy định của đạo luật Người dưới 21 tuổi

và những người mất trí không áp dụng quy định của đạo luật này trừ trường hợp bố, mẹ hoặc người giám hộ của họ đồng ý việc lấy tạng đó Những quy định này đã giúp cho ngành cấy ghép của Singapo phát triển nhanh chóng

Trung Quốc được xem là nơi lý tưởng cho việc hiến, cấy ghép mô, BPCT người vì kỹ thuật ghép tạng khá tốt và giá lại rẻ (chỉ bằng khoảng nửa giá ở các nước phương tây) Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã thu hút được rất nhiều bệnh nhân châu Á, trong đó có bệnh nhân Việt Nam đến ghép tạng Những quy định liên quan đến vấn đề này cũng được pháp luật Trung Quốc quy định rất chặt chẽ như các vấn đề về thủ tục, về ngoại ngữ, về thời gian, về kinh phí cho việc cấy, ghép BPCT người:

* Vấn đề thủ tục: Bệnh nhân muốn đến cấy ghép cơ thể người tại Trung

Quốc cần có:

- Hộ chiếu và 02 ảnh 4x6

- Visa (theo dạng đi chữa bệnh)

Thông thường, nếu là bệnh nhân Việt Nam đi chữa bệnh tại Trung Quốc xin cấp visa thì Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam sẽ cấp visa trong thời hạn 1 tháng Nếu có nhu cầu gia hạn visa, người nhà bệnh nhân có thể đem giấy giới thiệu của Bệnh viện và visa đến phòng Quản lý Xuất nhập cảnh ở tỉnh có bệnh viện bệnh nhân đang điều trị để xin gia hạn

* Vấn đề ngoại ngữ : Những bệnh viện lớn ở Trung Quốc thường có người

phiên dịch bằng tiếng Anh cho khách nước ngoài Nhưng phần lớn y bác sĩ lại nói tiếng bản địa Nên nếu muốn thuận tiện hơn, bệnh nhân nên tìm người có

Trang 19

khả năng nói tiếng Trung giúp đỡ khi cần trao đổi Họ sẽ truyền đạt chính xác những thuật ngữ chuyên môn hơn

* Vấn đề thời gian, kinh phí: Thời gian cho một ca ghép tạng thông thường

diễn ra trong một tháng Tuy nhiên, nhiều khi lại tuỳ thuộc vào phần nội tạng

mà bệnh nhân cần có sẵn hay không Nếu sau khi thử máu và thực hiện các xét nghiệm khác, phần nội tạng bệnh nhân cần có sẵn trong “ngân hàng” nội tạng, thì cuộc đại phẫu thuật có thể được tiến hành ngay Nhưng nếu “ngân hàng” không có sẵn, bệnh nhân sẽ phải chờ đợi Nhưng sự chờ đợi cũng không quá lâu, vì “nguồn” nội tạng của Trung Quốc nổi tiếng là rất dồi dào Chi phí cho một ca ghép tạng tùy thuộc vào từng bệnh viện Nếu thực hiện ở những bệnh viện lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải giá sẽ cao hơn Nhưng thông thường sự chênh lệch không quá nhiều Chi phí từ 20.000USD/ca trở lên Bệnh nhân có thể chọn các bệnh viện như Bệnh viện Quân đội, thị trấn Hổ Môn, huyện Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông; Bệnh viện Tứ Xuyên; Bệnh viện

Vũ Hán, tỉnh Quảng Đông; Bệnh viện Bắc Kinh; Bệnh viện Thượng Hải để thực hiện phẫu thuật ghép tạng4

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Mỹ

Hiến, cấy, ghép mô, BPCT người đã phát triển từ rất sớm và đạt được rất nhiều thành công tại Hoa Kỳ Đạo luật năm 1987 quy định về cho tạng Đạo luật quy định một cá nhân ít nhất phải là người 18 tuổi mới có thể thực hiện việc cho tạng với mục đích chữa trị, ghép tạng, giáo dục hoặc nghiên cứu khoa học Việc cho tạng được thực hiện chỉ với văn kiện cho tạng được ký bởi người cho Người cho có thể tuyên bố sửa đổi hoặc hủy bỏ việc cho tạng Việc cho tạng có thể được in trên bằng lái xe

+ Pháp luật hiến bộ phận cơ thể ở Châu Đại Dương

4

“Ghép tạng – Một hoạt động y học không đơn giản”, http:/www.dep.com.vn ngày 19/04/2007

Trang 20

Việc hiến lấy, ghép mô, BPCT người được quy định trong đạo luật về

mô người của bang New South Wales của Ôxtrâylia năm 1983 quy định việc hiến BPCT của người lớn và trẻ con Một người nếu không phải là trẻ em có thể viết cam kết cho lấy đi từ cơ thể họ BPCT nhằm mục đích ghép cho cơ thể người sống khác, dùng cho mục đích điều trị khác, mục đích y khoa hay mục đích chuyên biệt, bác sỹ là người chứng nhận cho cam kết đó Đối với người hiến là trẻ em thì cha mẹ của đứa trẻ có thể ký cam kết viết tay để ghép vào cơ thể cha, mẹ hay anh chị của trẻ và bác sỹ cũng là người ký chứng nhận vào cam kết trên với điều kiện cha mẹ trẻ là người bình thường, cha mẹ trẻ hiểu được bản chất và ảnh hưởng của việc lấy đi BPCT của trẻ, cam kết được ký tự nguyện và trẻ đồng ý việc lấy và ghép mô, BPCT

1.2 Khái niệm quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

1.2.1 Khái niệm

Hiến BPCT là một khái niệm không mới đối với nhiều quốc gia trên thế giới, nhiều nguời dân ở nhiều nước trên thế giới đã quen thuộc với khái niệm này, nó không chỉ là khái niệm thuần túy trong y học mà còn là khái niệm trong luật học và đã rất phổ biến trong đời sống nhân dân các nước Trên thế giới, số người có nhu cầu cấy, ghép BPCT để chữa bệnh là rất lớn, số người hiến BPCT để chữa bệnh cho người khác hoặc vì mục đích nhận đạo hay vì mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy ngày càng tăng, vì thế khái niệm này không xa lạ với nhiều người dân

Thực tế, các nước phát triển trên thế giới đã thực hiện việc cấy, ghép các BPCT từ rất lâu, kết quả đạt được rất khả thi và đã cứu sống rất nhiều bệnh nhân nặng Trong những năm gần đây, nền y học phát triến khá mạnh nên việc hiến, cấy, ghép mô, BPCT đã được thực hiện tại Việt Nam với những tiến trình rất thành công, tuy nhiên đối với người dân Việt Nam những năm

Trang 21

trước đây, đây là vấn đề xa lạ Vì vậy, khái niệm quyền hiến BPCT là khái niệm mới đối với Việt Nam Tuy nhu cầu cấy, ghép BPCT người ở Việt Nam

là rất lớn nhưng để thực hiện được vấn đề này còn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nó như các quy định của pháp luật, yếu tố tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo hay yếu tố đạo đức, phong tục, tập quán …của người Việt Nam Do nhu cầu của nhiều bệnh nhân diễn ra trong thực tế muốn cấy, ghép BPCT người để cứu sống người bệnh nên việc hiến BPCT người và cấy, ghép BPCT người đã trở nên phổ biến hơn trong thời gian gần đây Quyền hiến BPCT của cá nhân đã được quy định trong BLDS Việt Nam 2005 mang tính nguyên tắc và khái niệm hiến BPCT đã thực sự hình thành khi có sự ra đời của Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua 2006 và có hiệu lực thi hành năm 2007 Đây là một bước đột phá quan trọng trong ngành y học Việt Nam, tạo hành lang pháp lý cho việc hiến, lấy, ghép mô, BPCT người phát triển một cách toàn diện trên thực tế

Như chúng ta đã biết, xét về bản chất thì con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, do vậy quyền của con người và các quyền liên quan đến con người đối với bất kỳ một quốc gia có chủ quyền nào thì các quyền đó cũng được bảo hộ bằng pháp luật

Theo quan điểm của một số nước trên thế giới như Cộng hoà Pháp thì trong Pháp luật y sinh Cộng hòa Pháp ban hành ngày 30/1/2003 đã quy định

“BPCT người” là một phần của cơ thể người, riêng biệt và có khả năng sống, được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau và có khả năng duy trì cấu trúc,

sự phân bố mạch và thực hiện các chức năng sinh lý một cách hoàn toàn độc lập Họ cũng quy định “Mô” là bộ phận cấu thành cơ thể người được hình thành từ nhiều tế bào

Trang 22

Cũng giống như khái niệm đã được hiểu tại các nước khác trên thế giới thì trong y học Việt Nam khái niệm “BPCT người” được hiểu là một phần của

cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định, BPCT là thành tố cấu thành sự thống nhất của một cơ thể sống hoàn chỉnh và nó thực hiện được chức năng trao đổi chất giúp cơ thể tồn tại và phát triển bình thường theo quy luật tự nhiên Theo cách hiểu tại khoản 2 điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác thì

“BPCT người ” là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định Như vậy, muốn hiểu được khái niệm “BPCT người” chúng ta cần phải hiểu trước tiên là khái niệm về

Mô Theo thuật ngữ pháp lý thì “Mô” là tập hợp các tế bào cùng một loại hay nhiều loại khác nhau để thực hiện các chức năng nhất định của cơ thể người Tuy nhiên theo cách hiểu trong sinh học thì “Mô” là một hệ thống các tế bào

và chất gian bào có cùng nguồn gốc, cấu tạo và chức năng, hình thành trong quá trình tiến hóa sinh học và xuất hiện ở một cơ thể đa bào do quá trình biệt hóa Cơ thể người là một hệ thống nhất, toàn vẹn, có thể chia thành nhiều mức

độ, tính chất khác nhau, với mức độ lớn nhất là cơ thể rồi đến hệ thống các cơ quan, mô, tế bào và phân tử Trong đó tế bào là đơn vị sống cơ bản về cấu tạo

và chức năng của mọi cơ thể sống Tuy nhiên, cơ thể đa bào hiếm khi chỉ có một tế bào đơn độc thực hiện một chức năng nào đó mà thường là một tập hợp

tế bào cùng nhau thực hiện đó chính là Mô

Hiểu được khái niệm thế nào là Mô? Thế nào là BPCT người thì khái niệm hiến BPCT cũng được hiểu dễ dàng hơn “ Hiến BPCT người” là việc cá nhân tự nguyện hiến BPCT của mình khi còn sống hoặc sau khi chết Như vậy, theo quy định trong BLDS Việt Nam năm 2005 thì “quyền hiến BPCT người” là quyền nhân thân của cá nhân, thể hiện sự tự định đoạt của họ đối với BPCT của mình Quyền này không được quy định trong BLDS năm 1995,

Trang 23

đến năm 2005 mới được bổ sung vào BLDS 2005 do nhu cầu hiến, lấy, ghép BPCT ngày càng tăng Quy định này được bổ sung phù hợp với nhu cầu cấp thiết của người dân, những người đang mắc bệnh nặng cần BPCT để cấy, ghép hay các trường đại học, các cơ quan… cần BPCT để nghiên cứu, giảng dạy hay các y, bác sỹ cần BPCT người để thực tập nâng cao tay nghề

Quyền nhân thân là quyền dân sự của một chủ thể, về nguyền tắc không thể chuyển giao cho các chủ thể khác, đó là quyền dân sự tuyệt đối, mọi người đều có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền nhân thân của người khác Trong đời sống xã hội mỗi người đều có một số quyền mà trong đó quyền nhân thân ngày càng trở nên quan trọng Quyền nhân thân là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn liền với bản thân của mỗi con người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân Xã hội càng tiến bộ bao nhiêu, nền tự do dân chủ càng được mở rộng bao nhiêu thì con người càng được tôn trọng bấy nhiêu

Do đó quyền nhân thân càng được pháp luật quy định đầy đủ, rõ ràng hơn cùng với những biện pháp bảo vệ ngày càng có hiệu quả Quyền nhân thân không xác định được bằng tiền, giá trị nhân thân và tiền tệ không phải là những đại lượng tương đương và không thể trao đổi ngang giá Do đó, quyền hiến BPCT người được BLDS 2005 bảo vệ và tôn trọng

Quyền hiến BPCT là quyền nhân thân của cá nhân, gắn liền với mỗi cá nhân nên không thể chuyển giao cho người khác Do vậy, hiến BPCT là một hợp đồng đặc biệt vì đối tượng của hợp đồng là BPCT người, BPCT người được hiểu là một phần của cơ thể, được hình thành từ nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định như thận, phổi, gan…BPCT người không phải là tài sản, không thể tách rời khỏi người có BPCT đó trái với ý chí của họ Xét về mặt sinh học thì BPCT người là những thành tố cấu thành cơ thể sống hoàn chỉnh và nó thực hiện được chức năng

Trang 24

trao đổi chất giúp cơ thể tồn tại và phát triển bình thường theo quy luật tự nhiên

BPCT con người có hai dạng là BPCT tái sinh và BPCT không tái sinh, đối với mỗi dạng BPCT khi hiến cho người khác được pháp luật quy định khác nhau Theo quy định khoản 5 điều 3 Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác thì BPCT không tái sinh là bộ phận sau khi lấy ra khỏi

cơ thể con người không thể sản sinh hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay thế bộ phận đã lấy như thận, phổi, tim…Khác với BPCT không tái sinh thì BPCT tái sinh là những bộ phận mà sau khi lấy ra khỏi cơ thể vẫn sản sinh hoặc phát triển thêm bộ phận khác thay thế Vì BPCT không tái sinh khi hiến cho người khác sẽ ảnh hưởng đến cơ thể của người hiến ít nhiều phải có thời gian mới có thể hồi phục lại vì vậy điều kiện, thủ tục lấy BPCT không tái sinh

ở người sống được quy định chặt chẽ hơn Ngoài những điều kiện, thủ tục hiến BPCT chung như chỉ có những cơ sở y tế có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật mới có quyền lấy, ghép BPCT hay chỉ lấy mô, BPCT ở người sống đã đăng ký hiến….thì ở BPCT không tái sinh chỉ được tiến hành lấy sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Hội đồng tư vấn lấy, ghép BPCT người bao gồm những chuyên gia về y tế, pháp luật và tâm lý theo quy định của Bộ trưởng Bộ y tế Quy định như vậy là rất chặt chẽ đảm bảo khi BPCT của một người được lấy ra khỏi cơ thể họ khi đã có sự xem xét, phân tích đầy đủ về mặt y học, về tâm lý cũng như về pháp luật đảm bảo cho người hiến BPCT có thể sinh sống một cách bình thường, khỏe mạnh sau khi hiến Vì đây là luật liên quan đến tính mạng của con người nên khi các nhà lập pháp ban hành một điều luật phải chặt chẽ để việc hiến BPCT của cá nhân là một việc làm vừa nhân đạo, vừa an toàn cho người hiến để người hiến có thể yên tâm khi hiến BPCT của mình mà không ảnh hưởng đến cuộc sống sau này của họ Khi hiến BPCT cho một người khác vì mục đích chữa bệnh hoặc nghiên cứu khoa

Trang 25

học đã thể hiện sự nhân đạo của người hiến không vì lợi ích vật chất, chia sẽ

sự sống của mình cho người khác, sự nhân đạo cao cả đã được con người hướng tới và pháp luật đề cao, tôn vinh người hiến BPCT đó Hiến BPCT liên quan đến sự sống của con người, hiến BPCT tái sinh hay không tái sinh đều ít nhiều ảnh hưởng đến cuộc sống của người hiến nhưng vì sự tương thân, tương

ái, vì sự phát triển của khoa học mà người hiến đã hiến BPCT của mình mà không yêu cầu, đòi hỏi bất kỳ một lợi ích vật chất nào Do vậy, mà việc hiến BPCT nguời là một hợp đồng dân sự đặc biệt

1.2.2 Nguyên tắc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

1.2.2.1 Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép

Theo quy định tại điều 4 BLDS 2005 về “nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận” Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào

Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng

Sự tự nguyện của cá nhân trong việc hiến hoặc nhận BPCT là nguyên tắc căn bản được BLDS quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ Đó là nguyên tắc mang tính chỉ đạo và định hướng khi áp dụng pháp luật dân sự Hiến BPCT là một hợp đồng dân sự được giao kết giữa một bên là người hiến và người được hiến hoặc người hiến giao kết hợp đồng với người thứ ba trong trường hợp người được hiến mất khả năng tư duy vào thời điểm được cấy, ghép các BPCT do người khác hiến thông qua các biện pháp y học hoặc người hiến với

cơ quan nghiên cứu, giảng dạy về khoa học giải phẫu cơ thể người Một trong

Trang 26

các nguyên tắc để giao kết hợp đồng dân sự quy định tại điều 390 BLDS là các bên tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng, nguyên tắc này đã thể hiện bản chất của quan hệ dân sự Muốn xem xét chủ thể có tự nguyện trong giao kết hợp đồng hay không cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù ý chí và sự bày tỏ ý chí Ý chí là mong muốn chủ quan bên trong của mỗi một chủ thể và được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định Do vậy, tự nguyện hiến và nhận BPCT của cá nhân phải thể hiện thông qua sự việc bày tỏ nguyện vọng hiến mô, BPCT của mình với

cơ sở y tế và đăng ký hiến thông qua mẫu đơn hoặc có đơn tự nguyện xin ghép

Hiến và nhận BPCT là vấn đề nhạy cảm, nó liên quan đến sức khỏe của các chủ thể, phong tục tập quán của người Á Đông và tính nhân đạo của con người Việt Nam, vì vậy, cần phải bảo đảm nguyên tắc tự nguyện trong việc hiến và nhận BPCT người trên cơ sở người hiến có sự nhận thức về ý nghĩa của việc cho các BPCT cũng như ý thức về sự rủi ro khi tiến hành cho và cấy ghép BPCT Người hiến có quyền tự do quyết định hiến hay không hiến BPCT của mình, có thể có những trường hợp người hiến BPCT do bị ép buộc,

dụ dỗ…do những người thân trong gia đình tạo áp lực cho họ, gây cho họ một sức ép về tâm lý, điều này là trái với quy định của pháp luật, trái với ý chí tự nguyện của người hiến

Đối với người được ghép cũng phải có sự đồng ý của họ Trong trường hợp nguy hiểm đến tính mạng, người được ghép không thể tự quyết định ghép hay không ghép BPCT thì những người thân thích của họ phải đồng ý cho họ được ghép trên cơ sở vì lợi ích của người được ghép, đảm bảo sự sống cho người được ghép

Trang 27

Pháp luật của các nước khác trên thế giới cũng quy định việc hiến và nhận BPCT phải do sự tự nguyện của người hiến và người nhận Đạo luật về lấy và ghép tạng của Bỉ đã quy định: “việc lấy tạng và mô từ một người cho sống chỉ được phép thực hiện trên một người cho đã đến 18 tuổi và người này trước đó đã ưng thuận Sự ưng thuận cho việc lấy tạng hay mô trên một người sống phải là tự do thoải mái và có ý thức Có thể hủy sự ưng thuận này bất cứ lúc nào Sự ưng thuận này phải được diễn tả bằng chữ viết trước một người làm chứng đã thành niên, phải được ghi ngày, tháng và có chữ ký của người, những người có vai trò trong việc ưng thuận và của người làm chứng đã thành niên Bằng chứng của sự ưng thuận phải được cung cấp cho người thầy thuốc

sẽ thực hiện việc lấy tạng”

Quy định về sự tự nguyện đối với người hiến và người nhận BPCT của Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với thực tế và phù hợp với các quy định của các nước khác trên thế giới

1.2.2.2 Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học

Ở nước ta, nhu cầu được ghép mô, BPCT người là rất lớn và ngày càng gia tăng Về nhu cầu ghép BPCT người, hiện nay, cả nước có khoảng 5.000 - 6.000 người suy thận mãn cần được ghép thận, tại Hà Nội đã có gần 1.500 người được chỉ định ghép gan nhưng không có nguồn cho nên số bệnh nhân này đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng Do không có nguồn của người hiến nên cho đến nay, ở Việt Nam đã có hơn 200 người phải sang Trung Quốc và một số nước khác để ghép thận, ghép gan Về nhu cầu mô, đặc biệt là ghép giác mạc, đến nay, cả nước có khoảng hơn 5.000 người bệnh đang chờ được ghép giác mạc Riêng tại Viện Mắt Trung Ương, mỗi năm nhu cầu ghép giác mạc từ 500 ca/năm trở lên nhưng từ năm 1985 đến nay, Viện

Trang 28

mới chỉ ghép được 1.500 ca, riêng năm 2004 ghép được 103 ca, năm 2005 ghép được 150 ca Số giác mạc được dùng để ghép chủ yếu lấy từ nguồn viện trợ của các tổ chức phi Chính phủ (khoảng 50-100 giác mạc/năm) mà không

có nguồn của người cho giác mạc5

Mặt khác, nhu cầu về giảng dạy, nghiên cứu khoa học trên xác chết rất lớn Vào những thập kỷ 70 - 80 của thế kỷ trước, cứ 6 - 7 sinh viên có 1 xác chết để học tập, nghiên cứu giải phẫu, nhưng đến nay, cả khoá trên dưới 400 sinh viên mới chỉ có 1 xác chết, thậm chí phải dùng lại nhiều lần do không có xác (theo báo cáo của Trường Đại học y Hà Nội, cả Trường hiện có 22 xác chết; Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh có 173 xác chết)

Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 có thể thực hiện được khoảng 1.000 ca ghép thận, 80-100 ca ghép gan, 20-30 ca ghép tim và 10-15 ca ghép phổi, 2.000 ca ghép giác mạc, chúng ta phải có nhiều mô, BPCT người hiến tự nguyện, nếu chỉ chờ vào nguồn hiến BPCT người của người thân là không thể

đủ Do đó, việc lấy mô, BPCT ở người hiến tự nguyện ngoài huyết thống là

vô cùng cấp thiết.6

Nhu cầu cần BPCT để chữa bệnh là rất lớn, số người cần BPCT lớn hơn rất nhiều so với BPCT được hiến vì vậy, sự mất cân bằng giữa cung và cầu đã thể hiện sự cần thiết phải có những người tự nguyện hiến BPCT của mình để cứu chữa những bệnh nhân nặng đang bị bệnh hiểm nghèo cần BPCT để cấy ghép chữa trị Mỗi một người hiến BPCT đã chia sẻ sự sống của họ cho người khác thể hiện tấm lòng nhân đạo của người hiến, việc làm này là việc làm cao

cả cần được nhà nước tôn vinh, việc hiến BPCT cần được tuyên truyền, phổ

Trang 29

biến để tất cả mọi người dân đều biết và hiểu về việc làm nhân đạo, tương thân, tương ái này

Không những đây là việc làm nhân đạo mà việc hiến BPCT còn giúp cho những người cần BPCT để giảng dạy có cơ sở thực tế hơn, hiểu rõ hơn về

cơ thể con người hay những người cần BPCT để nghiên cứu cũng có BPCT

để tiến hành thực nghiệm trên BPCT người đem lại hiệu quả cao trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Hiến BPCT chỉ được thực hiện vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học Nguyên tắc này được đặt ra nhằm tránh việc kinh doanh BPCT người để kiếm lợi nhuận Các nước Pháp, Nhật Bản, Bỉ,

Mỹ, Singgapore… đều quy định mục đích của việc hiến BPCT là vì chữa bệnh, điều trị, nghiên cứu khoa học…Thể thức quy định của các nước có khác nhau nhưng đều nhằm mục đích chung là bảo vệ con người, vì con người, vì đạo đức xã hội và vì cuộc sống của con người Tại Pháp, những nguyên tắc cơ bản được quy định trong Bộ luật y tế cộng đồng về cho và sử dụng BPCT người và sản phẩm từ cơ thể người là phải nhằm mục đích chữa bệnh, phải có

sự đồng ý trước của người cho, nghiêm cấm quảng cáo, nghiêm cấm trả tiền dưới bất kỳ hình thức nào, giữ bí mật thông tin, đảm bảo an toàn về y tế Như vậy, làm thế nào để tất cả mọi người có thể hiểu được việc hiến BPCT có thể cứu sống một người hoặc cứu một người thoát khỏi bệnh hiểm nghèo là một việc làm rất có ý nghĩa Tất nhiên, cho cả một BPCT người là một việc làm không đơn giản, nó đòi hỏi tính nhân văn và phải vận động tuyên truyền thật tốt để người dân hiểu được ý nghĩa nhân đạo của hành động hiến tặng BPCT

1.2.2.3 Không nhằm mục đích thương mại

Trang 30

Cùng với sự phát triển của nền y học và y tế Việt Nam, việc ghép mô, tạng cho người đã và đang được triển khai rất tốt ở nước ta Trong những năm gần đây, nhu cầu được ghép mô, tạng ngày càng tăng nhưng nguồn cung ứng chất liệu đặc biệt này luôn khan hiếm Trừ các trường hợp bệnh nhân được người bệnh nhân được người ruột thịt của mình (cha, mẹ, anh, chị, em ruột) sẵn sàng hiến , cho BPCT của bản thân họ như gan, thận…còn một số bệnh nhân đã phải ra nước ngoài để thực hiện ghép theo yêu cầu Tuy vậy, vẫn còn rất nhiều bệnh nhân khác đang tiếp tục phải sống trong chờ đợi Để giải quyết được nguồn mô, tạng nhằm cung ứng cho bệnh nhân-phần lớn là các đối tượng mang bệnh tật mạn tính ảnh hưởng lớn tới sinh mạng-ở nước ngoài đã

có các Ngân hàng chuyên biệt và các cá nhân tình nguyện hiến mô, tạng của bản thân mình phục vụ cho y học, điều trị, nghiên cứu và giảng dạy Ở Việt Nam số người tự nguyện hiến BPCT là rất ít trong khi nhu cầu về ghép mô, BPCT người ở nước ta là rất lớn, khi mức sống và thu nhập của con người ngày càng được cải thiện và nâng cao thì nhu cầu này ngày càng bức thiết

Y học ngày càng hiện đại và phát triển, ngày nay ghép mô, BPCT người là một kỹ thuật phổ biến trên thế giới và đã cứu sống hàng triệu bệnh nhân với chất lượng rất tốt Ghép mô, BPCT là một biện pháp điều trị có hiệu quả và đôi khi là biện pháp duy nhất để cứu sống bệnh nhân như ghép thận là một biện pháp điều trị thay thế thận hiệu quả và kinh tế nhất cho các bệnh nhân bị suy thận mạn tính giai đoạn cuối, mang lại chất lượng cuộc sống tốt nhất cho bệnh nhân Lĩnh vực ghép mô, BPCT người đã thực sự ngày càng hoàn thiện và tiếp tục phát triển rất nhanh chóng trong những năm qua, đặc biệt là ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Khi ghép tạng phát triển nhu cầu người cần ghép nhiều mà nguồn tạng thì thiếu, do đó, ở một số nơi trên thế giới đã có nạn buôn bán, thậm chí trộm cắp các BPCT Do vậy, Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT đã quy định nguyên tắc việc hiến BPCT

Trang 31

không nhằm mục đích thương mại để điều chỉnh và kiểm soát mọi hoạt động

về ghép tạng chống thương mại hóa việc ghép tạng cũng như nguồn ghép tạng, luật cũng đã quy định ngoài việc ghi nhận và tôn vinh về mặt tình thần nghĩa cử cao đẹp của người hiến và thân nhân của họ thì Nhà nước hay cơ sở

y tế hoặc người nhận sẽ không trả bất cứ khoản tiền nào cho người hiến cũng như thân nhân của họ để tránh thương mại hóa hoạt động hiến BPCT

Trên thế giới trừ Iran là ngoại lệ, còn các nước đều quy định cấm mua bán và kinh doanh BPCT dù là người sống hay từ xác chết và các hiệp hội y khoa đã lên án việc mua bán và kinh doanh BPCT này Tại Mỹ, đạo luật về lấy, ghép các BPCT người được thông qua năm 1984 đề ra mức án 50.000 USD tiền phạt và 5 năm tù giam nếu một người bị kết án mua bán các BPCT người Tuy nhiên việc mua bán BPCT người vẫn thường xuyên xảy ra ở một

số nước như Israel, Thỗ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Nga và Iraq Các vụ mua bán vẫn xảy ra một cách bí mật, việc bỏ tiền mua một BPCT của người xa lạ đã trở thành việc thường ngày ở Israel, nhiều bệnh nhân giàu có thà mua một BPCT của người xa lạ còn hơn là nhận hiến tặng từ người thân trong gia đình

và những người “bán hàng” này thường là những kẻ nghèo khó, cùng cực, đang sống ở một đất nước xa lạ nào đó7

Ghép mô, BPCT người là một phương pháp có tính cứu mạng nên nhiều người cần ghép tạng hoặc gia đình họ sẵn sàng trả giá cao cho việc có được một tạng cần thiết, điều này dẫn đến việc hiến tạng để lấy tiền và khủng khiếp hơn nữa là có cả những đường dây buôn lậu tạng từ các nước nghèo sang nước giàu, khi đó người ta không chỉ mua tạng giá rẻ mà còn bắt cóc, ép buộc hoặc giết người để lấy tạng

7

“Thị trường của những bộ phận cơ thể” Báo điện tử lâm đồng ngày 28/06/2001 mục hồ sơ tư liệu, xem http:/www.dalat.gov.vn/ctv/baold/2001/06/28/text/hoso-tulieu.htm

Trang 32

Để tránh tình trạng trên, Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác ở Việt Nam đã nghiêm cấm việc mua bán BPCT hoặc ép buộc người khác phải hiến BPCT không vì mục đích thương mại nhằm ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực và hành vi trái pháp luật có thể phát sinh gây ra hậu quả xấu, vi phạm đạo đức xã hội vì BPCT người không được coi là hàng hóa, nó không phải tài sản mà nó là một yếu tố thống nhất trong việc cấu thành cơ thể con người mà thiên nhiên đã ban tặng cho mỗi người, không thể định đoạt như các vật là tài sản khác

1.2.2.4 Giữ bí mật thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác điều 38 quy định:

“1 Mọi thông tin về người hiến, người được ghép BPCT người phải được mã hóa thông tin và bảo mật

2 Trong trường hợp công bố thông tin quy định tại khoản 1 Điều này thì phải bảo đảm tính vô danh để không xác định được người hiến và người được ghép, trừ trường hợp người hiến và người được ghép là người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi ba đời

3 Trong trường hợp đặc biệt vì mục đích chữa bệnh theo yêu cầu của người đứng đầu cơ sở y tế hoặc theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng thì cơ sở lưu giữ thông tin mới được phép cung cấp thông tin

4 Hồ sơ về người hiến và người được ghép phải được lưu giữ, bảo quản trong ba mươi năm.”

Việc này nhằm đảm bảo cho người hiến và người được ghép BPCT có được sự ổn định và bí mật về đời tư Tránh việc mua bán, ngã giá, ép buộc nếu thông tin về người hiến và người cần ghép, người được ghép bị tiết lộ Đảm bảo việc quản lý chặt chẽ, loại trừ mục đích kinh doanh trong các trường

Trang 33

hợp người hiến không nêu đích danh người được ghép, đặc biệt là tránh trường hợp người nước ngoài hay người Việt nam ở nước ngoài tới Việt nam hoặc về nước để tìm người hiến vì có thể đảm bảo về mặt giá thành và dễ dàng tìm kiếm

Bí mật thông tin ở đây được quy định là thông tin về người hiến BPCT

và thông tin của người được ghép BPCT chứ không phải là bí mật về công tác hiến và cấy ghép BPCT mà trái lại phải đảm bảo công tác thông tin, tuyên tuyền trong cộng đồng để thúc đẩy ý thức người dân về quyền này và việc thực thi nó trong thực tế

Hơn nữa, pháp luật của các nước khác về phần này cũng quy định tương tự, chúng ta quy định như vậy cũng là nhằm đảm bảo thông lệ quốc tế

Ngoài ra, các quy định ngoại lệ về việc bí mật thông tin cũng được đặt

ra nhằm thực thi có hiệu quả trong thực tế đối với một số trường hợp

1.3 Tiến trình phát triển những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân

Ở các nước Châu Âu, các quy định của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô

và BPCT người đã được triển khai thực hiện từ thế kỷ trước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi quyền này của công dân tại các quốc gia đó cũng như giúp cho ngành phẫu thuật ghép mô, BPCT người phát triển một cách mạnh mẽ, đó là nước Pháp vào năm 1952, NaUy năm 1973…Hay gần chúng

ta hơn, các quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Philippin, Singapore, Trung Quốc… đều đã ban hành các Luật về vấn đề này trước Việt Nam

So với các quốc gia khác, rõ ràng Việt Nam đã có sự tụt hậu rất lớn về mặt thời gian trong việc luật hóa quyền hiến BPCT của cá nhân Việc này đã làm hạn chế cả về hai mặt là hạn chế thực thi quyền của cá nhân, cũng như

Trang 34

hạn chế sự phát triển của y học Từ năm 1945 đến cuối thập niên 80 hệ thống pháp luật nước Việt Nam trong thời kỳ này chưa có quy định pháp luật nào

về cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người Hiến, cấy, ghép mô, BPCT đã được pháp luật quy định lần đầu tiên vào năm 1989 việc quy định này chỉ mang tính nguyên tắc không cụ thể trong khi vấn đề hiến, ghép BPCT là vấn để rất nhạy cảm liên quan đến nhiều yếu tố tâm sinh lý xã hội, yếu tố tâm linh, tôn giáo, phong tục tập quán

1.3.1 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989

Do nhu cầu về cấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người tăng cao trong khi

đó Việt Nam chưa có văn bản pháp luật nào điều chỉnh hoạt động hiến, cấy, ghép mô, BPCT người đến năm 1989, Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân là văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta đã có quy định cụ thể về lấy và ghép mô hoặc bộ phận của cơ thể con người tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân Luật quy định như sau:

"Thầy thuốc chỉ tiến hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người chết có di chúc để lại

Việc ghép mô hoặc một BPCT cho người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên

Bộ y tế quy định chế độ chăm sóc sức khỏe người cho mô hoặc một BPCT"

Quy định này chỉ rõ rằng việc lấy mô hoặc BPCT chỉ phục vụ cho mục đích y tế, và việc lấy mô hoặc BPCT phải có sự đồng ý của người cho trong trường hợp người cho bình thường và có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Pháp luật tôn trọng sự tự định đoạt của người hiến

Trang 35

BPCT trong trường hợp này Luật đã không hạn chế độ tuổi của người cho, với quy định này thì tất cả mọi người đều có quyền hiến BPCT của mình vì mục đích y tế, như vậy đối tượng hiến BPCT rất rộng

Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân cũng đã rất tôn trọng sự tự nguyện của người bệnh khi chữa bệnh bằng phương pháp cấy, ghép BPCT Khi tiến hành cấy, ghép BPCT phải được sự đồng ý của họ Nếu người bệnh là người chưa thành niên thì khi cứu chữa người bệnh bằng phương pháp trên phải được sự đồng ý của thân nhân hoặc người giám hộ của họ

Tuy nhiên, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân đã không quy định rõ trình

tự, thủ tục hiến BPCT cũng như quyền lợi mà người hiến được hưởng hay trách nhiệm pháp lý của những người hiến hay sử dụng BPCT không vì mục đích y tế thì như thế nào? Việc quy định như trên chỉ mang tính nguyên tắc chứ chưa tạo được hành lang pháp lý cho những người thầy thuốc tiến hành thực hiện lấy, ghép mô, BPCT người

1.3.2 Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm

1991

Ngay sau sự ra đời của Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, trong Điều lệ khám bệnh, chữa bệnh và phục hồi chức năng ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 23-HĐBT ngày 24 tháng 1 năm 1991 đã có quy định chi tiết hơn như sau:

“Điều 10 : Quy định về lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con người

Việc lấy mô hoặc một BPCT của người sống phải được người đó tự nguyện và viết thành văn bản

……

Trang 36

Cơ sở y tế tiến hành lấy mô hoặc một BPCT của người cho có trách nhiệm chăm sóc sức khỏe cho họ trước, trong và sau khi lấy.”

Nhưng thực chất quy định về quyền hiến BPCT của cá nhân mới chỉ quy định chi tiết hơn quy định "đồng ý" của Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân ở hai điểm, đó là phải được người đó tự nguyện và viết thành văn bản Quy định này rất có ý nghĩa trong khía cạnh pháp lý cũng như trong thực tiễn đời sống

Về mặt pháp lý: "đồng ý" trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân diễn đạt rất chung chung, khó kiểm soát; trái lại, "tự nguyện" trong Nghị định 23 lại mang ý nghĩa sâu xa hơn, chặt chẽ hơn Bản thân sự tự nguyện của người cho đã là đồng ý, nhưng là đồng ý tự thân, do chính người đó quyết định chứ không phải đồng ý do bị ép buộc, bị lừa dối … sự tự nguyện thể hiện rõ mức

độ hiểu biết về y tế, xã hội, pháp luật… cũng như khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người đó

Việc quy định phải viết thành văn bản cũng là một sự tiến bộ nhằm quy định rõ hơn việc thực thi quyền này Nó đảm bảo có bằng chứng xác thực cho

sự tự nguyện, tự quyết của người hiến Về mặt thực tiễn thì chính quy định này nhằm đảm bảo cho các chủ thể cho, hiến BPCT được có cơ hội thể hiện ý chí và là cơ sở đảm bảo cho các chuyên gia y tế tiến hành các hoạt động chuyên môn của mình

Tại Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (khóa VII) về „„Những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân" cũng tỏ rõ quyết tâm trong việc triển khai Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và các văn bản dưới luật

1.3.3 Bộ luật dân sự năm 1995

Quá trình phát triển của đất nước, của xã hội, của loài người đã làm phát sinh nhiều mối quan hệ xã hội cần được pháp luật điều chỉnh, vì vậy

Trang 37

BLDS năm 1995 đã ra đời, theo quy định của BLDS năm 1995 việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người được quy định cụ thể hơn : „„Việc thực hiện phương pháp chữa bệnh mới trên cơ thể một người, việc gây mê, mổ, cắt bỏ, cấy ghép bộ phận của thân thể phải được sự đồng ý của người đó, nếu người

đó chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc là bệnh nhân bất tỉnh thì phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hoặc người thân thích của người đó thì phải có quyết định của người đứng đầu cơ sở chữa bệnh‟‟ Như vậy, ta thấy pháp luật luôn bảo đảm tính bất khả xâm phạm và cơ thể của một

cá nhân không bị định đoạt trái với những quy định của pháp luật Theo quy định của BLDS năm 1995 ta thấy pháp luật đã cho phép được áp dụng các phương pháp chữa bệnh mới, đồng thời cũng cho phép lấy, ghép bộ phận cơ thể người nhưng phải được sự đồng ý của người đó Tuy nhiên những quy định này vẫn còn chung chung chưa gắn liền với thực tiễn nên việc áp dụng quy định của pháp luật để thực hiện trên thực tế là rất khó

1.3.4 Bộ luật dân sự năm 2005

Dưới góc độ pháp lý thì quyền hiến BPCT là một quyền nhân thân mà chỉ những người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới có Điều 33 BLDS

2005 quy định: “Cá nhân có quyền hiến BPCT của mình vì mục đích chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học Việc hiến và sử dụng BPCT được thực hiện theo quy định của pháp luật”

Với tư cách là Luật chung, BLDS 2005 đã ghi nhận quyền hiến BPCT của cá nhân Cá nhân theo cách hiểu của BLDS 2005 phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự Chính vì vậy, chỉ những người từ đủ 18 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự mới có quyền hiến BPCT

Trang 38

Qua nghiên cứu cho thấy rằng đa số luật pháp các nước khác đều quy định người hiến BPCT phải là người đã thành niên Hơn nữa, Tổ chức Y tế thế giới (WTO) cũng khuyến cáo không được lấy mô và BPCT của người dưới 18 tuổi

Quy định này của BLDS là các quy định mới mang tính nguyên tắc liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân; còn nội dung, đặc điểm, cách thức tiến hành cũng như các quy định về quản lý nhà nước nhằm thực thi quyền này của cá nhân cần phải được quy định trong các đạo luật chuyên ngành

Điều 33 BLDS 2005 cũng đồng thời quy định việc hiến BPCT chỉ được chấp nhận với hai mục đích là chữa bệnh cho người khác hoặc nghiên cứu khoa học, loại trừ hoàn toàn mục đích thương mại, kinh doanh Đây là những quy định rất mới và tiến bộ của BLDS năm 2005, nó cho thấy luật ngày càng gắn liền với thực tiễn, ngày càng thể hiện quan điểm, tư quy của các nhà làm luật muốn đổi mới đất nước, hướng đất nước phát triển gần hơn với các nước trên thế giới, đáp ứng yêu cầu khi đất nước hội nhập kinh tế, quốc tế, hoàn thiện hơn nữa quyền nhân thân của con người Việc thừa nhận quyền hiến bộ phận cơ thể của cá nhân trong BLDS năm 2005 đã là cơ sở pháp lý vững chắc

để Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác ra đời để điều chỉnh toàn diện hơn, cụ thể hơn lĩnh vực này

1.3.5 Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác 2006

Hiện nay, Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác đã được thông qua tại kỳ họp thứ 10 của Quốc hội khóa XI ngày 29 tháng 11 năm 2006 và bắt đầu có hiệu lực vào ngày 01 tháng 7 năm 2007 quy định như sau:

“Điều 5: Quyền hiến mô, BPCT người và hiến xác:

Trang 39

Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân dự đầy đủ, có quyền hiến mô, BPCT của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác.”

Theo quy định này của Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác thì tất cả mọi người từ đủ 18 tuổi trở lên, không phân biệt người đó là người Việt Nam hay không nếu có đầy đủ năng lực hành vi dân sự đều có quyền hiến mô, BPCT của mình

Luật này cũng quy định các nguyên tắc trong việc hiến BPCT tại điều

4, tất cả các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật hiến, lấy, ghép mô, BPCT người đều phải tuân thủ các nguyên tắc này bởi đây là những nguyên tắc nền tảng cho việc thực hiện Luật trong thực tế Để hoạt động hiến, lấy, ghép mô, BPCT người được thực hiện nghiêm túc thì bắt buộc hoạt động này phải tuân theo những nguyên tắc nhất định Đó là:

- Phải đảm bảo sự tự nguyện của người hiến;

- Việc hiến BPCT được thực hiện nhằm mục đích nhân đạo, chữa bệnh,

giảng dạy hoặc vì mục đich khoa học;

- Không nhằm mục đích thương mại;

- Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến và người được

ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác

Luật Hiến, lấy, ghép mô, BPCT người và hiến, lấy xác đã xây dựng riêng Chương II để quy định về hiến, lấy mô, BPCT ở người sống, trong đó quy định về các thủ tục đăng ký hiến mô và BPCT ở người sống; thủ tục thay đổi, hủy bỏ đơn đăng ký hiến mô, BPCT ở người sống; điều kiện, thủ tục lấy

mô, BPCT ở người sống; điều kiện thủ tục lấy BPCT không tái sinh ở người sống; điều kiện đối với cơ sở y tế lấy, ghép mô, BPCT người và quyền lợi của người đã hiến mô, BPCT người Ngoài những quy định đối với người hiến BPCT Luật còn các quy định liên quan đến người nhận BPCT

Trang 40

Đây là một đạo luật quan trọng, mang tính nhân đạo nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của việc chữa bệnh cứu người, giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời cụ thể hóa các quyền nhân thân đã được BLDS 2005 quy định trong việc hiến BPCT người, tạo cơ sở pháp lý cho việc tiến hành lấy, ghép mô, BPCT, giúp chăm sóc tốt hơn người bệnh và nhiều người có cơ hội được cứu chữa

CHƯƠNG 2

CÁC YẾU TỐ CỦA QUYỀN HIẾN BỘ PHẬN CƠ THỂ

CỦA CÁ NHÂN 2.1 Chủ thể của quan hệ hiến bộ phận cơ thể

2.1.1 Bên hiến bộ phận cơ thể

Ghép mô, BPCT là một trong những thành tựu khoa học công nghệ vĩ đại của thế kỷ XX đã giúp cứu sống rất nhiều người bệnh với chất lượng rất

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w