1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam

108 2,3K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Từ trước tới nay, nhất là từ sau khi BLTTDS năm 2004 được ban hành đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, trong đó có đề cập đến phiên tòa phúc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ BÍCH HẢI

PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ THEO QUY

ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ BÍCH HẢI

PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ THEO QUY

ĐỊNH

Chuyên ngành : Luật dân sự

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình

Hµ néi - 2009

Trang 3

1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự 10 1.1.3 ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm dân sự 14

1.2.4 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự 23

Trang 4

1.2.5 Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm 25

Chương 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG

DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN

SỰ

28

2.1 Các quy định chung về phiên tòa phúc thẩm dân sự 28 2.1.1 Một số nguyên tắc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự 28 2.1.1.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa 28 2.1.1.2 Nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật 28

2.1.1.5 Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân

sự

29

2.1.1.6 Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự 29 2.1.1.7 Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự 30 2.1.1.8 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng

Trang 5

2.2.5 Các quy định về tuyên án phúc thẩm 55 2.3 Các quy định về quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm 57 2.3.1 Quyền giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm 57

2.3.3 Quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án sơ

thẩm giải quyết lại vụ án

60

2.3.4 Quyền hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án 62

Chương 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ

LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM, YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

65

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

về phiên tòa phúc thẩm dân sự

65

3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định

của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm

65

3.1.2 Những tồn tại trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật

Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm

70

3.1.3 Một số nguyên nhân của tồn tại trong việc thực hiện các quy

định của Bộ luật Tố tụng dân sự

76

3.2 Các yêu cầu hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân

sự Việt Nam năm 2004 về phiên tòa phúc thẩm dân sự

78

3.2.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm 79 3.2.2 Yêu cầu mở rộng tranh tụng trong tố tụng dân sự 79 3.2.3 Yêu cầu về hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam 80

3.2.5 Yêu cầu nâng cao trách nhiệm của Thẩm phán 82 3.3 Các giải pháp hoàn thiện quy định của Bộ luật Tố tụng dân 82

Trang 6

sự Việt Nam năm 2004 về phiên tòa phúc thẩm dân sự

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật tố tụng dân sự

HĐTPTANDTC : Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân

LTCVKSND : Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới Ngoài những thành tựu về văn hóa - xã hội thì các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động cũng nảy sinh hết sức đa dạng và phức tạp, trong đó các tranh chấp có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều Việc giải quyết các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động góp phần bảo vệ trật tự và an ninh xã hội là nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan nhà nước, trong đó Tòa án nhân dân (TAND) giữ vai trò trung tâm

Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã đề ra nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp, trong đó nhấn mạnh đến việc phát huy dân chủ, phát triển tranh tụng, đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của con người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới Nghị quyết đã xác định yêu cầu:

Nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, của Viện kiểm sát tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác… Khi xét xử Tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thật sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc xét xử của Tòa án phải căn cứ chủ yếu và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, các đương sự… [8]

Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49/NQ-TW về

Trang 9

sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động

tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành và có hiệu quả cao"

Vì vậy, việc ban hành, sửa đổi các quy định của pháp luật để xây dựng một thủ tục tố tụng thống nhất, ổn định, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong thời gian trước mắt cũng như trong tương lai là một trong những nhiệm

vụ cơ bản của cải cách tư pháp tại Việt Nam

Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, ngày 15/6/2004 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật

Tố tụng dân sự (BLTTDS) thay thế Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) So với các Pháp lệnh trước, BLTTDS có nhiều quy định mới, trong đó có cả những quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự Việc tuân thủ các quy định này sẽ đảm bảo cho công tác xét xử được toàn diện, khách quan và chính xác

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp thẩm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Thông qua việc xét

xử phúc thẩm, một mặt Tòa án cấp trên trực tiếp sửa chữa những sai sót trong công tác xét xử của Tòa án cấp dưới để đảm bảo cho vụ án được xét xử công bằng, chính xác và đúng pháp luật; mặt khác, ở một mức độ nhất định còn uốn nắn về nghiệp vụ và định hướng về đường lối xét xử cho hoạt động xét

xử của Tòa án cấp dưới Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định của BLTTDS

về xét xử phúc thẩm trong những năm qua cho thấy các quy định này còn nhiều bất cập Ngoài ra, do có nhiều nguyên nhân khác nhau, hiện tượng vi phạm các quy định về thủ tục tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm vẫn còn xảy ra ở

Trang 10

quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước

Những lý do trên cho thấy việc nghiên cứu về phiên tòa phúc thẩm dân sự là hết sức cần thiết, nhất là trong điều kiện hiện nay khi chúng ta đang

đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp Vì vậy, tôi đã chọn đề tài "Phiên tòa

phúc thẩm dân sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam" làm

luận văn thạc sĩ luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước tới nay, nhất là từ sau khi BLTTDS năm 2004 được ban hành

đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý, trong đó có đề cập đến

phiên tòa phúc thẩm như đề tài "Thực trạng hoạt động xét xử phúc thẩm và

giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao" của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), 2006; bài "Chế định phúc thẩm vụ án dân sự" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà đăng trên đặc san

Tạp chí Luật học, 2005; bài "Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết vụ án như thế

nào khi Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập sai tư cách người tham gia tố tụng" của

tác giả Nguyễn Đình Huề đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, số 5/2005; bài

"Nâng cao trách nhiệm của Viện kiểm sát trong thực hiện quyền kháng nghị

phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự" của tác giả Đào Hữu

Đăng đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 1/2005…; luận văn thạc sĩ: "Thủ tục giải

quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm theo pháp luật Việt Nam" của

tác giả Đào Duy Vương; luận văn thạc sĩ: "Các cấp xét xử trong tố tụng dân

sự Việt Nam" của tác giả Lê Thị Hà; bài "Tòa án cấp phúc thẩm cần gì ở Tòa

án cấp sơ thẩm" của tác giả Nguyễn Tuấn Minh đăng trên Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 6, 1990; "Một số quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân

sự" của tác giả Tưởng Duy Lượng đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, số 6,

Trang 11

2005… Tuy nhiên, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2004

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ những vấn đề lý luận; nội dung các quy định của pháp luật về phiên tòa phúc thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện, từ đó tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của phiên tòa phúc thẩm dân sự

Để thực hiện được mục đích nêu trên, việc nghiên cứu có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về phiên tòa phúc thẩm dân sự;

- Phân tích các quy định của BLTTDS Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm dân sự

- Khảo sát việc thực hiện các quy định của BLTTDS Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm dân sự tại Tòa án Việt Nam

- Tìm ra những yêu cầu và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm dân sự

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm dân sự; các quy định của BLTTDS về phiên tòa phúc thẩm dân sự

và thực tiễn xét xử phúc thẩm của các Tòa án; đường lối, chính sách của Đảng

và Nhà nước về cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta

Phiên tòa phúc thẩm dân sự là một đề tài rất rộng, bao gồm nhiều vấn

đề về lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên, trong khuôn khổ phạm vi luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Khái

Trang 12

niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của phiên tòa phúc thẩm dân sự; nội dung các quy định của BLTTDS Việt Nam về nguyên tắc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự, các chủ thể tại phiên tòa phúc thẩm dân sự, thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm, quyền hạn của Hội đồng xét xử (HĐXX) phúc thẩm; thực tiễn áp dụng và các giải pháp hoàn thiện chúng

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

Quá trình nghiên cứu đề tài cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử và phương pháp thống kê

6 Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên có tính hệ thống và toàn diện về phiên tòa phúc thẩm dân sự theo quy định của BLTTDS Việt Nam với những đóng góp mới cho khoa học pháp lý như sau:

- Luận văn đã làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận về phiên tòa phúc thẩm dân sự như khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung của phiên tòa phúc thẩm dân sự

- Phân tích làm rõ các quy định của BLTTDS Việt Nam về phiên tòa phúc thẩm dân sự và thực tiễn thực hiện

- Chỉ ra những điểm còn bất cập của BLTTDS Việt Nam hiện hành về phiên tòa phúc thẩm và đề xuất được một số giải pháp hoàn thiện chúng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Trang 13

Chương 2: Nội dung các quy định của BLTTDS Việt Nam về phiên

tòa phúc thẩm dân sự

Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS Việt Nam về

phiên tòa phúc thẩm dân sự, các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện

Trang 14

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ

1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ

1.1.1 Khái niệm phiên tòa phúc thẩm dân sự

Khái niệm "phiên tòa", đến nay chưa được văn bản pháp luật nào định nghĩa Trong tiếng Việt "phiên tòa" được Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giải thích là "lần họp để xét xử của Tòa án" [46, tr 779] Tuy nhiên,

có thể hiểu đây là lần họp đặc biệt và các trình tự, thủ tục của lần họp này do pháp luật về tố tụng quy định chặt chẽ mà ở đó HĐXX vụ án không thể tùy tiện thêm, bớt các bước trong quá trình xét xử hoặc làm sai các trình tự này Nếu vi phạm các quy định đó, ít nhiều sẽ có ảnh hưởng đến kết quả xét xử

"Xét xử" - hiểu theo nghĩa khái quát là việc "xem xét và xử các vụ án" [46, tr 1148] Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động của các cá nhân có chức danh cụ thể (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân) đại diện cho Tòa án được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề trong phạm vi luật định để đưa ra những quyết định có tính bắt buộc Việc xét xử của Tòa án tương ứng với tính chất của thủ tục xét xử vụ án

mà có các thủ tục diễn ra theo cấp xét xử như xét xử sơ thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp phúc thẩm Mỗi thủ tục xét xử có một đặc thù riêng mang tính chất pháp lý khác nhau

Theo Từ điển tiếng Việt thì "phúc thẩm" là việc "Tòa án cấp trên xét

xử lại một vụ án do cấp dưới đã xử sơ thẩm mà có chống án" [46, tr 1148] Theo Từ điển Thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì "phúc thẩm là xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu

Trang 15

Cả hai cách giải thích trên, theo tác giả là chưa thỏa đáng Khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau, cả ở nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo nghĩa hẹp, khái niệm phúc thẩm có thể được hiểu với một trong các nghĩa sau: phúc thẩm là một giai đoạn trong tố tụng dân sự (giai đoạn phúc thẩm); phúc thẩm là một chế định (chế định phúc thẩm) của tố tụng dân sự; phúc thẩm là một thủ tục tố tụng (thủ tục xét xử phúc thẩm) Theo nghĩa rộng, khái niệm phúc thẩm được hiểu ở cả ba nghĩa nêu trên: phúc thẩm là một giai đoạn, một chế định của tố tụng dân sự, đồng thời là một thủ tục xét

xử Như vậy, xét về nội hàm thì khái niệm "phúc thẩm" là một khái niệm rộng nhất, bao hàm các khái niệm hẹp hơn: "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm" và "thủ tục xét xử phúc thẩm"

Dưới góc độ là giai đoạn phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một giai đoạn của tố tụng dân sự, có tính độc lập và liên quan chặt chẽ với các giai đoạn tố tụng khác So với các giai đoạn tố tụng khác, phúc thẩm có một số đặc trưng sau đây:

- Tính chất của phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại

vụ án;

- Nhiệm vụ trực tiếp của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và có căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị;

- Các chủ thể tiến hành và tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm bao gồm: Tòa án cấp phúc thẩm, Viện kiểm sát (VKS) cấp phúc thẩm (trong trường hợp bắt buộc phải tham gia); những người có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật; những người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác mà Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết triệu tập tham gia phiên tòa Ngoài ra, ở một mức độ nhất định, chủ thể tham gia ở giai đoạn tố tụng này còn bao gồm cả Tòa án cấp sơ thẩm (trong việc

Trang 16

kiểm sát cấp sơ thẩm (trong việc kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm chưa

có hiệu lực pháp luật)

- Các thủ tục tố tụng được tiến hành ở giai đoạn phúc thẩm có những đặc thù như Tòa án phải thông báo kháng cáo, kháng nghị; trước khi tiến hành xét hỏi, một thành viên HĐXX tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án

sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị…

- Giai đoạn phúc thẩm là giai đoạn tiếp theo của giai đoạn xét xử sơ thẩm Nó được bắt đầu ngay sau khi bản án sơ thẩm được tuyên và kết thúc khi bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc được thay thế bằng bản án, quyết định phúc thẩm

Giai đoạn phúc thẩm có thể dài, ngắn khác nhau tùy thuộc vào việc kháng cáo, kháng nghị của các chủ thể và quá trình giải quyết đối với từng vụ

án cụ thể Ví dụ, đối với vụ án được xét xử trong trường hợp có mặt đầy đủ những người có quyền kháng cáo tại phiên tòa sơ thẩm, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm theo quy định (30 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm) không có ai kháng cáo, kháng nghị vì thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với những người có mặt được tính

kể từ ngày tuyên án Còn những vụ án xét xử trong trường hợp có đương sự vắng mặt thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc, nếu hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà không có ai kháng cáo, VKS không kháng nghị Tuy nhiên, thời gian không phải là 30 ngày kể từ ngày tuyên án mà có thể dài hơn vì nó phụ thuộc vào thời điểm người có quyền kháng cáo được tống đạt hợp lệ bản

án, quyết định Đối với trường hợp vụ án tuy có kháng cáo hoặc kháng nghị, nhưng sau đó người đã kháng cáo hoặc VKS kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa, thì giai đoạn phúc thẩm sẽ kết thúc ở thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm

vụ án Còn đối với các vụ án khác thì giai đoạn phúc thẩm kết thúc sau khi

Trang 17

Dưới góc độ là chế định phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một hệ thống những quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết lại vụ án trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Chế định phúc thẩm bao gồm các quy phạm pháp luật quy định về thủ tục kháng cáo, kháng nghị; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; HĐXX phúc thẩm; những người tham gia phiên tòa phúc thẩm; phạm vi xét xử phúc thẩm; thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm v.v Các quy phạm pháp luật này không chỉ bao gồm các quy định trong BLTTDS mà còn bao gồm cả các quy định trong các văn bản pháp luật khác như: Luật tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND), Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND)

Dưới góc độ là thủ tục xét xử phúc thẩm, phúc thẩm được hiểu là một trong những hình thức giám đốc việc xét xử của Tòa án cấp trên đối với Tòa

án cấp dưới Thủ tục xét xử phúc thẩm đối với một vụ án chỉ phát sinh khi bản án, quyết định sơ thẩm về vụ án đó bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo quy định của pháp luật Vì vậy, không phải tất cả các vụ án dân sự sau khi xét

xử sơ thẩm đều được xem xét lại theo thủ tục này Thủ tục phúc thẩm sẽ kết thúc sau khi Tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định về vụ án đó

Như vậy, giai đoạn phúc thẩm là một phần của quá trình tố tụng dân

sự được phân biệt với những phần khác bởi những đặc điểm riêng Thủ tục xét xử phúc thẩm là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành giải quyết vụ án tại giai đoạn phúc thẩm Thời điểm bắt đầu của giai đoạn phúc thẩm là cố định, không thay đổi và diễn ra trước thủ tục xét xử phúc thẩm: ngay sau khi tuyên bản án (quyết định) sơ thẩm Thủ tục xét xử phúc thẩm có phát sinh hay không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật và được xác định từ thời điểm Tòa án nhận được đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị Thời điểm kết thúc của giai đoạn phúc thẩm và thời điểm kết thúc của thủ tục xét

Trang 18

nghị: ngay sau khi tòa án cấp phúc thẩm ra bản án hoặc quyết định phúc thẩm Đối với vụ án không có kháng cáo hoặc kháng nghị, thủ tục phúc thẩm không phát sinh Vì vậy, không có thời điểm bắt đầu và kết thúc thủ tục xét

xử phúc thẩm

Thủ tục xét xử phúc thẩm bao gồm các công việc khác như: kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm, phiên tòa phúc thẩm, những việc tiến hành sau phiên tòa phúc thẩm Phiên tòa phúc thẩm là một trong những việc nằm trong thủ tục xét xử phúc thẩm Theo Điều

242 BLTTDS quy định: "Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị" [2]

Như vậy, có thể đi đến kết luận: Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật nhưng

bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó

1.1.2 Đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự

Trong tố tụng dân sự có phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, phiên tòa giám đốc thẩm và phiên tòa tái thẩm Mỗi phiên tòa có những đặc điểm, nhiệm vụ và ý nghĩa riêng Việc nghiên cứu làm rõ các đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm dân sự là rất cần thiết Từ đó thấy được vị trí, vai trò của chúng trong tố tụng dân sự Qua việc nghiên cứu đề tài cho thấy phiên tòa phúc thẩm dân sự có các đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên của Tòa án xét xử lại

vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Đặc điểm này thể hiện tính chất đặc thù của phúc thẩm dân sự là

Trang 19

Ý kiến thứ nhất cho rằng, phúc thẩm không phải là một cấp xét xử mà chỉ là một thủ tục tố tụng mà theo đó, Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại các bản

án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Do vậy phiên tòa phúc thẩm cũng chỉ là một thủ tục tố tụng, chỉ là việc "xét lại" chứ không phải là "xét xử lại"

Ý kiến thứ hai cho rằng, Tòa án cấp phúc thẩm không chỉ có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn xét xử cả về nội dung vụ án Vì vậy, đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm không phải là "xét lại" mà là "xét xử lại" các vụ án mà quyết định, bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

Thực chất sự khác nhau giữa hai quan điểm nêu trên chủ yếu ở chỗ xác định phúc thẩm có phải là một cấp xét xử hay không? Từ đó xác định phiên tòa phúc thẩm có phải là một thủ tục của một cấp xét xử hay không? Để

lý giải hai quan điểm nêu trên, cần thiết đi từ "nguyên tắc hai cấp xét xử"

Phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc xét xử hai cấp Đây là giai đoạn nhằm mục đích để cho đương sự, người đại diện của đương sự thực hiện quyền kháng cáo, VKS thực hiện quyền kháng nghị đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật yêu cầu Tòa

án cấp trên trực tiếp xem xét lại vụ án Quyền kháng cáo của đương sự là biểu hiện cụ thể của quyền dân chủ công dân được pháp luật bảo vệ Do đó, dù bản án, quyết định dân sự sơ thẩm được coi là xét xử đúng, nhưng nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp trên vẫn phải tiến hành thủ tục phúc thẩm dân sự để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm

Sự hình thành và phát triển nguyên tắc "hai cấp xét xử" cùng với các nguyên tắc khác trong tố tụng dân sự gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tư tưởng dân chủ và tiến bộ trong lịch sử xã hội loài người Để đảm

Trang 20

công dân, đồng thời tạo sự thống nhất ở mức độ nhất định trong nhận thức và

áp dụng pháp luật giữa các Thẩm phán, các cấp Tòa án với nhau, cần thiết phải có một thủ tục tố tụng xem xét lại các phán quyết chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới khi có yêu cầu (kháng cáo) của các đương sự hoặc yêu cầu (kháng nghị) của VKS Như vậy, trong tố tụng dân sự nguyên tắc "hai cấp xét xử" ra đời và Tòa án thực hiện nhiệm vụ này là Tòa án cấp phúc thẩm

Nguyên tắc "hai cấp xét xử" và tính chất xét xử lại của phúc thẩm đã được ghi nhận ngay trong các văn bản pháp luật đầu tiên do Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án đã quy định: Tòa

án đệ nhị cấp có thẩm quyền phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án Thượng thẩm có quyền chung thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án đệ nhị cấp Tại Thông tư số 1459/HCTP của

Bộ Tư pháp ngày 19/8/1955 nhấn mạnh: "Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải được bảo đảm" Điều 9 LTCTAND năm 1960 quy định "Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử" Tại Mục III công văn số 614/DS ngày 24/4/1963 của TANDTC về việc vi phạm thủ tục tố tụng có hướng dẫn "Một trong những nguyên tắc cơ bản của Tòa án là hai cấp xét xử, đương sự có quyền chống bản án của TAND

xử sơ thẩm lên TAND trên một cấp, VKS nhân dân cùng cấp và trên một cấp

có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm của TAND" Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 của TANDTC quy định rõ về chức năng của Tòa án cấp phúc thẩm là "xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị"

Trong LTCTAND năm 1981 và LTCTAND năm 1992, mặc dù nguyên tắc hai cấp xét xử không chính thức được ghi nhận lại, nhưng trên thực tế nguyên tắc này vẫn được thừa nhận và Tòa án cấp phúc thẩm vẫn xét

Trang 21

nguyên tắc "Tòa án nhân dân thực hiện chế độ hai cấp xét xử" lại được tiếp tục ghi nhận tại Điều 11 Hiện tại Điều 17 BLTTDS năm 2004 cũng đã ghi nhận nguyên tắc này

Thứ hai, phiên tòa phúc thẩm trong tố tụng dân sự là việc Tòa án xét

xử lần thứ hai vụ án dân sự khi bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Nếu như phiên tòa sơ thẩm là việc Tòa án xét xử lần đầu vụ án dân sự thì phiên tòa phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên xét xử lần thứ hai đối với vụ án Không giống như trong phiên tòa sơ thẩm, việc xét xử xuất phát từ yêu cầu khởi kiện vụ án dân sự của nguyên đơn, phiên tòa phúc thẩm trong tố tụng dân sự được tiến hành trên cơ sở đơn kháng cáo của các đương sự hoặc quyết định kháng nghị của VKS trong thời hạn pháp luật quy định

Thứ ba, phiên tòa phúc thẩm trong tố tụng dân sự do Tòa án cấp trên

trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án tiến hành Nếu như, việc phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm được dựa vào tiêu chí tính chất, loại vụ việc thì việc phân định thẩm quyền xét xử của án cấp phúc thẩm dựa trên tiêu chí cấp Tòa án Vì vậy, phiên tòa phúc thẩm luôn được tiến hành bởi Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã tiến hành xét xử sơ thẩm Theo quy định của Hiến pháp, LTCTAND thì nước ta có ba cấp Tòa án thực hiện việc xét xử, đó là: Tòa án cấp huyện, Tòa án cấp tỉnh và TANDTC Do đó, Tòa án thực hiện việc xét xử phúc thẩm luôn là Tòa án cấp tỉnh trở lên Tòa

án cấp huyện chỉ thực hiện nhiệm vụ xét xử sơ thẩm các vụ án dân sự

Thứ tư, nội dung của việc xét xử phúc thẩm là HĐXX phúc thẩm kiểm

tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm Đây là đặc điểm rất khác biệt của phiên tòa phúc thẩm với phiên tòa sơ thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm Nếu như, nội dung của việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là kiểm tra tính

có căn cứ và tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

Trang 22

tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực bị kháng nghị thì nội dung của việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm lại nhằm kiểm tra tính hợp pháp

và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm Nghĩa là, xem xét việc chấp nhận toàn

bộ, chấp nhận một phần hoặc không chấp nhận các yêu cầu của bản án sơ thẩm là có căn cứ thực tế hay không? Có đúng quy định của pháp luật nội dung hay không? Việc ra bản án, quyết định có theo thủ tục pháp luật quy định hay không?

1.1.3 Ý nghĩa của phiên tòa phúc thẩm dân sự

Trong quan hệ dân sự, khi một chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm mà tự mình không bảo vệ được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa

án bảo vệ Theo Hiến pháp, LTCTAND thì Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng xét xử, có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp dân sự Hành

vi khởi kiện tại Tòa án của cá nhân, cơ quan, tổ chức là sự kiện pháp lý tiền

đề làm phát sinh vụ án dân sự Khi một chủ thể khởi kiện vụ án dân sự và việc quy định Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, giải quyết các tranh chấp dân sự, mục đích đều hướng tới sự công bằng, cả chủ thể có quyền, lợi ích cần được bảo vệ và Nhà nước đều mong muốn rằng Tòa án - cơ quan công quyền có quyền nhân danh nhà nước thực hiện chức năng xét xử ra các phán quyết công bằng, trả lại cho các chủ thể tham gia quyền và lợi ích hợp pháp của họ

Thực chất của tố tụng dân sự là quá trình Tòa án giải quyết các mâu thuẫn về quyền và lợi ích của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung Mục đích của tố tụng dân sự là nhằm lập lại trật tự của quan hệ pháp luật có tranh chấp trên cơ sở các nguyên tắc tố tụng dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể và lợi ích của Nhà nước

Quá trình Tòa án thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự thông qua các giai đoạn khác nhau, như nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án,

Trang 23

Mỗi giai đoạn đều có tính độc lập tương đối, có mục đích, đặc điểm và ý nghĩa riêng Ví dụ, ở giai đoạn sơ thẩm, phiên tòa dân sự sơ thẩm có ý nghĩa quan trọng, là phiên xử đầu, là nơi quyền và nghĩa vụ của các đương sự được Tòa án ghi nhận chính thức trong các bản án, quyết định của Tòa án [13, tr 42] Thông qua phiên tòa sơ thẩm, việc giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, phổ biến pháp luật được thực hiện đến những người tham dự phiên tòa Tuy nhiên, ý nghĩa giáo dục, phổ biến pháp luật được thể hiện rất rõ nét (hơn cả) tại phiên tòa phúc thẩm Với quy định bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật

kể từ ngày tuyên án [2, tr 81], thì việc áp dụng các quy định của tố tụng dân

sự trong xét xử tại phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa đặc biệt cả về chính trị, xã hội và pháp lý

Trong xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, của cộng đồng được bảo vệ thì trật tự chính trị, trật tự xã hội mới có cơ sở được

ổn định Trong một quốc gia, pháp luật được tôn trọng là tiền đề để xây dựng một nhà nước pháp quyền vững mạnh Bởi vì, trong nhà nước pháp quyền, hai vấn đề cơ bản cần được bảo đảm duy trì là dân chủ và quyền lực nhà nước trong đó vai trò của pháp luật được đề cao Đòi hỏi của nhà nước pháp quyền

là phải tạo được ý thức cao trong pháp luật hay quản lý xã hội, quản lý nhà

Trang 24

hợp hiến của thể chế, tổ chức, chính sách và toàn bộ hệ thống pháp luật và vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước Với việc xét xử lại vụ án, phiên tòa phúc thẩm góp phần khắc phục được những thiếu sót có thể có của bản án, quyết định sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, bảo đảm sự hài hòa về lợi ích giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích nhà nước Thông qua các phán quyết chính xác, khách quan và đúng pháp luật của Tòa

án cấp phúc thẩm, quan điểm của Nhà nước đấu tranh với việc xử lý hành vi không đúng pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác được quán triệt, thực hiện trong công tác xét xử của Tòa án Trên cơ sở bản án, quyết định phúc thẩm, các sai lầm, vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm được khắc phục Từ đó không những giúp bản thân đương sự tự ý thức được những xử sự mà họ đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật hay không mà còn bảo đảm được sự quan tâm của Nhà nước đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, thực hiện Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Do đó, góp phần nâng cao được địa vị chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

1.1.3.2 Ý nghĩa về mặt xã hội

Đối với phiên tòa phúc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai vẫn được áp dụng triệt để như phiên tòa sơ thẩm dân sự Trong trường hợp xét xử kín, bản án vẫn phải tuyên công khai Do vậy, tính minh bạch của các phán quyết được thể hiện triệt để Với thành phần HĐXX gồm 3 Thẩm phán là những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ xét xử, sự am hiểu pháp luật mang tính chuyên sâu nên các phán quyết của HĐXX phúc thẩm về logíc sẽ bảo đảm tính chính xác, đúng pháp luật và có độ tin cậy cao Qua đó sẽ nâng cao được sự tín nhiệm của người dân đối với Tòa án - cơ quan nhân danh Nhà nước thực hiện chức năng xét xử

Trang 25

Sự công bằng, bình đẳng trong tố tụng dân sự là một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự Việt Nam Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án, không phân biệt nam, nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng, không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [2, tr 11-12] Sự công bằng, bình đẳng tại phiên tòa dân sự phúc thẩm không chỉ là nguyên tắc cơ bản mà còn là mục tiêu xuyên suốt quá trình xét xử Sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật đang

có tranh chấp là việc bình đẳng trong địa vị tố tụng, bình đẳng trong cung cấp chứng cứ, trong các quyền yêu cầu đối với Tòa án hoặc các cơ quan, tổ chức liên quan Phiên tòa phúc thẩm xem xét lại vụ án một cách công khai, mọi công dân đều có quyền tham dự, mọi yêu cầu, chứng cứ đều được xem xét, các phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị đều được đưa ra xem xét, tranh luận công khai, các chủ thể có liên quan đều có quyền đưa ra quan điểm của mình về các phán quyết đó Thông qua các ý kiến tranh luận công khai, xem xét các chứng cứ công khai, giải thích pháp luật của HĐXX phúc thẩm (qua bản án, quyết định), những người tham dự phiên tòa, người tham gia tố tụng hiểu biết thêm về pháp luật, nhận thức đầy đủ hơn về đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước, nâng cao ý thức pháp luật cho nhân dân, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng và của Nhà nước

1.1.3.3 Ý nghĩa về mặt pháp lý

Về mặt pháp lý, phiên tòa phúc thẩm dân sự có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc giải quyết vụ án dân sự Thông qua việc xét xử phúc thẩm tại phiên tòa, Tòa án cấp trên có thể kiểm tra hoạt động xét xử của Tòa án cấp dưới, sửa chữa được những sai lầm, vi phạm pháp luật của Tòa án cấp dưới,

Trang 26

Mặt khác, qua đó Tòa án cấp trên có thể tìm ra được những nguyên nhân dẫn đến việc xét xử có sai lầm, thiếu sót (nếu có) và khắc phục những sai lầm, thiếu sót đó Cũng thông qua việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm còn phát hiện được những lỗ hổng của chính những quy định pháp luật về nội dung và về hình thức Từ đó, đề xuất những biện pháp định hướng sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn áp dụng pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét

xử của các cấp Tòa án

Mặc dù pháp luật Việt Nam không quy định về án lệ, bản án phúc thẩm không được viện dẫn như là đường lối xét xử cho một vụ án tương tự nhưng trên thực tế vẫn được vận dụng một cách không chính thức để Tòa án cấp dưới tham khảo và rút kinh nghiệm Bản án phúc thẩm là cơ sở để Tòa án cấp dưới vận dụng pháp luật một cách thống nhất Để ý nghĩa này được thực hiện tốt yêu cầu được đặt ra đối với Tòa án cấp trên, là chất lượng xét xử phúc thẩm ngày càng phải được nâng lên, bản án phúc thẩm phải thực sự công bằng, minh bạch và đúng pháp luật

1.2 CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 1.2.1 Nguyên tắc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự

Phúc thẩm là một giai đoạn của tố tụng dân sự Hoạt động xét xử phúc thẩm vụ án dân sự nằm trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Do vậy, phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự

Về cơ bản, các nguyên tắc của tố tụng dân sự (như nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự; hòa giải trong tố tụng dân sự; xét xử công khai; Tòa án xét xử tập thể…) không những áp dụng cho giai đoạn xét

xử sơ thẩm mà cũng được áp dụng cả cho giai đoạn xét xử phúc thẩm nhưng

Trang 27

cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự; nguyên tắc bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự; nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự được áp dụng đầy đủ ở giai đoạn phúc thẩm như ở giai đoạn xét

xử sơ thẩm vụ án Ví dụ, theo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự thì cho đến trước khi tuyên án phúc thẩm, bản án sơ thẩm

đã tuyên chưa có hiệu lực pháp luật, các đương sự vẫn có quyền cung cấp chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu của mình Theo nguyên tắc bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án vẫn phải bảo đảm quyền tự bảo vệ, được người khác bảo vệ của đương sự như có quyền bổ sung, thay đổi hoặc rút kháng cáo; có quyền tự mình hoặc nhờ người khác bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình tại phiên tòa phúc thẩm

Bên cạnh đó, xuất phát từ tính chất của xét xử phúc thẩm là việc xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nên ở phiên toà phúc thẩm, một số nguyên tắc luậtcủa tố tụng dân sự như nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự; nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự, trong một số trường hợp

cụ thể chỉ áp dụng ở một phạm vi và mức độ nhất định Ví dụ, nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự chỉ có thể áp dụng ở phiên tòa phúc thẩm dân sự trong trường hợp các bên tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ

án và đề nghị Tòa án ghi nhận Trong trường hợp khác, Tòa án không bắt buộc phải hòa giải, không bắt buộc phải hỏi xem các bên có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án không mà tiến hành xét xử trên cơ sở kháng cáo của các đương sự, kháng nghị của VKS

Đối với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự sẽ được áp dụng triệt để trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, quyết định việc rút đơn kháng cáo v.v… Nhưng nếu là việc nguyên đơn rút đơn khởi kiện tại phiên tòa thì bị hạn chế, bởi nguyên đơn chỉ

có quyền rút đơn khởi kiện nếu bị đơn đồng ý

Trang 28

Ngoài ra, do yêu cầu, tính chất của xét xử phúc thẩm, một số nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự tuy được áp dụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng không được áp dụng tại phiên tòa phúc thẩm như nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự

1.2.2 Các chủ thể trong phiên tòa phúc thẩm dân sự

Phiên tòa phúc thẩm là nơi Tòa án thực hiện chức năng xét xử Tuy nhiên, việc xét xử của Tòa án phải tiến hành thông qua hoạt động của những người có chức vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật Ngoài ra, trong phiên tòa phúc thẩm còn có sự tham gia của các chủ thể giám sát hoạt động xét xử trong những trường hợp nhất định và những chủ thể đã cho rằng quyền

và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm bởi quyết định của bản án sơ thẩm, nên có đơn kháng cáo và những chủ thể liên quan đến việc kháng cáo đó Căn cứ vào địa vị pháp lý của họ trong phiên tòa phúc thẩm có thể phân loại các chủ thể trong phiên tòa phúc thẩm thành hai nhóm:

Thứ nhất, nhóm những người tiến hành tố tụng bao gồm các thành

viên của HĐXX, Thư ký phiên tòa và Kiểm sát viên (trong trường hợp pháp luật quy định VKS phải tham gia phiên tòa)

Phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án, nên khác với thành phần HĐXX sơ thẩm bao gồm cả Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, thành phần HĐXX phúc thẩm chỉ gồm các Thẩm phán mà không có Hội thẩm nhân dân tham gia

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự với vai trò thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Tòa án Do vậy, không phải mọi phiên tòa phúc thẩm đều có Kiểm sát viên tham gia Kiểm sát viên chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp VKS đã tham gia phiên tòa sơ thẩm, trường hợp Tòa án thu thập chứng cứ mà đương sự có khiếu nại

về việc thu thập chứng cứ hoặc trong trường hợp VKS kháng nghị bản án sơ

Trang 29

thẩm Trong những trường hợp này, Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa để kiểm sát việc xét xử và để trình bày yêu cầu kháng nghị của VKS

Thứ hai, nhóm những người tham gia tố tụng bao gồm người kháng

cáo, người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia

tố tụng khác

Xét xử phúc thẩm là theo yêu cầu kháng cáo, kháng nghị nên người kháng cáo phải tham gia phiên tòa để trình bày kháng cáo và chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình Người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm có thể

là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ Trong trường hợp không đồng ý với bản án, quyết định

sơ thẩm họ có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ

án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ

Người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác không có đơn kháng cáo nhưng việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Ví dụ, trong

vụ án ly hôn, nguyên đơn kháng cáo về con chung và tài sản chung, bị đơn không kháng cáo Tuy nhiên, việc kháng cáo của nguyên đơn dẫn đến việc Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét nội dung kháng cáo về vấn đề con chung và tài sản chung Việc xem xét đó liên quan tới quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người khác không được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập đến tham gia tố tụng, họ là người không kháng cáo Người liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trong vụ án dân sự có thể là nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập đến tham gia tố tụng

Đối với những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định, người phiên dịch thì việc tham gia tố tụng của họ tại phiên tòa phúc thẩm là cần thiết trong trường hợp việc giải quyết nội dung kháng

Trang 30

cáo, kháng nghị cần phải có sự tham gia của họ Ví dụ: người giám định phải tham gia phiên tòa phúc thẩm khi cần phải làm rõ kết luận giám định tại phiên tòa để giải quyết được yêu cầu kháng cáo, kháng nghị

Trong số các chủ thể trong phiên tòa phúc thẩm, thì các thành viên của HĐXX phúc thẩm giữ vai trò rất quan trọng vì họ không chỉ là chủ thể điều khiển tại phiên tòa, hướng hoạt động của các chủ thể vào việc xác định sự thật khách quan về vụ án mà còn đưa ra các phán quyết về vụ án Vì vậy, các thành viên của HĐXX phúc thẩm luôn giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định đối với hoạt động xét xử phúc thẩm của Tòa án Do tính chất của xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án vụ án theo kháng cáo, kháng nghị nên chỉ những người liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị mới được Tòa án cấp phúc thẩm triệu tập tham gia phiên tòa Thành phần những người tham gia tố tụng được Tòa án triệu tập đến tham gia phiên tòa phúc thẩm hạn chế hơn so với phiên tòa sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, bên kháng cáo có nghĩa vụ đưa ra các yêu cầu kháng cáo và các chứng cứ chứng minh cho các yêu cầu đó Trong trường hợp VKS kháng nghị thì kiểm sát viên có nhiệm vụ đưa ra các căn cứ kháng nghị và các chứng cứ chứng minh cho các căn cứ đó Bên bị kháng cáo, kháng nghị có quyền, nghĩa vụ đưa ra các chứng cứ, tài liệu phản đối yêu cầu của người kháng cáo, kháng nghị Các chủ thể như khác người làm chứng, người giám định, người phiên dịch… được triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm nếu có thể giúp cho HĐXX phúc thẩm làm sáng tỏ được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án

1.2.3 Phạm vi xét xử phúc thẩm dân sự

Phạm vi của xét xử phúc thẩm là giới hạn thẩm quyền xem xét, giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm

Trang 31

Phạm vi xét xử sơ thẩm là xét xử trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự Trách nhiệm của Tòa án chỉ giải quyết các vấn đề trong phạm vi yêu cầu của đương sự, trừ một số trường hợp ngoại lệ [12, tr 31] Như vậy, phạm vi giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm không phụ thuộc vào Tòa án mà phụ thuộc vào yêu cầu khởi kiện của đương sự Khác với xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được tiến hành khi bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, phạm vi xét xử phúc thẩm phải trong phạm vi các nội dung mà Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết và có kháng cáo, kháng nghị Bởi, sơ thẩm là xét xử vụ án lần đầu đối với vụ án, phúc thẩm là xét xử lại vụ án dân sự để sửa chữa những sai lầm, thiếu sót của cấp sơ thẩm (nếu có) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Do vậy, đối với những vấn đề chưa được đưa ra xét xử ở cấp sơ thẩm hoặc cấp sơ thẩm đã xét

xử nhưng không bị kháng cáo, kháng nghị thì cấp phúc thẩm cũng không được xét xử lại, trừ trường hợp nếu không xét xử lại thì không thể giải quyết được yêu cầu kháng cáo, kháng nghị vì chúng liên quan chặt chẽ với các vấn

đề kháng cáo, kháng nghị yêu cầu xét xử lại

1.2.4 Thủ tục tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự

Phiên tòa phúc thẩm là hình thức phổ biến được Tòa án nhiều nước áp dụng Với quan niệm phúc thẩm là một cấp xét xử nên thủ tục phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành như ở phiên tòa sơ thẩm bao gồm thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi tại phiên tòa, thủ tục tranh luận tại phiên tòa, nghị án và tuyên án Các quy định về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm cũng được áp dụng đối với phiên tòa phúc thẩm Tuy vậy, phúc thẩm là cấp xét xử lại vụ án nên trình tự thủ tiến hành phiên tòa phúc thẩm có những điểm khác với phiên tòa

sơ thẩm Cụ thể, phiên tòa dân sự phúc thẩm được tiến hành khác với phiên tòa sơ thẩm ở những điểm cơ bản sau đây:

Thứ nhất, ở thủ tục bắt đầu phiên tòa ngoài việc khai mạc phiên tòa và

đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử, kiểm tra lại sự có mặt của những người

Trang 32

tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, phổ biến quyền và nghĩa vụ của các đương sự và của những người tham gia tố tụng khác, giới thiệu họ, tên những người tiến hành

tố tụng, người giám định, người phiên dịch và hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không như ở phiên tòa sơ thẩm thì ở phiên tòa phúc thẩm chủ tọa phiên tòa cần phải tuyên bố xét lại vụ án nào, theo kháng cáo, kháng nghị của ai, đối với bản án, quyết định của Tòa án nào Việc tuyên bố Tòa án cấp phúc thẩm xét lại vụ án theo kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định nào là cần thiết để những người tham dự phiên tòa nắm được lý do xét lại vụ án

Thứ hai, ở thủ tục hỏi tại phiên tòa, trước hết Chủ tọa phiên tòa tóm

tắt nội dung vụ án, nội dung quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị Việc tóm tắt của Chủ tọa phiên tòa có tác dụng làm cho những người tham dự phiên tòa hiểu rõ thêm về diễn biến của vụ án Ngoài ra, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trình bày về nội dung kháng cáo của họ hoặc quan điểm của họ đối với kháng cáo của đương

sự khác, kháng nghị của VKS Sau đó Chủ tọa hỏi các đương sự về các vấn đề các đương sự trình bày chưa rõ, hoặc có mâu thuẫn với lời khai trước đây của

họ hoặc mâu thuẫn với đương sự, người tham gia tố tụng khác như ở phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, việc hỏi ở phiên tòa phúc thẩm khác với việc hỏi ở phiên tòa sơ thẩm, việc hỏi ở phiên tòa phúc thẩm chỉ xoay quanh những vấn

đề cần làm rõ để giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị

Thứ ba, ở thủ tục tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự và

người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ cũng được đưa ra các chứng

cứ lý lẽ đối đáp với nhau để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa cũng chỉ giữ vai trò là người điều hành, hướng dẫn

để các bên tranh luận như ở phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, việc xét xử phúc

Trang 33

thẩm là theo yêu cầu kháng cáo, kháng nghị nên người kháng cáo, kiểm sát viên phải được phát biểu ý kiến về kháng cáo, kháng nghị trước, sau mới đến những người tham gia tố tụng khác tranh luận Mặt khác, việc xét xử phúc thẩm được giới hạn trong phạm vi yêu cầu kháng cáo, kháng nghị nên việc phát biểu tranh luận trong phiên tòa phúc thẩm cũng chỉ xoay quanh những vấn đề nhằm giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến các vấn đề khác của

vụ án không bị kháng cáo, kháng nghị thì việc tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm mới được đề cập tới những vấn đề này

Thứ tư, ở thủ tục nghị án tuy cũng được thực hiện như ở Tòa án cấp sơ

thẩm nhưng khi nghị án, HĐXX phúc thẩm chỉ tập trung thảo luận và quyết định về những vấn đề có kháng cáo, kháng nghị và những vấn đề có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Trong trường hợp cần phải sửa bản án, quyết định sơ thẩm thì HĐXX phải xem xét lại cả vấn đề án phí đã được HĐXX sơ thẩm quyết định Trường hợp HĐXX phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại thì cũng phải hủy quyết định của HĐXX sơ thẩm về án phí Ngoài ra, HĐXX phúc thẩm không phải xem xét quyền kháng cáo của đương sự vì bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án và họ không có quyền kháng cáo bản án, quyết định này để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại mà chỉ có quyền khiếu nại yêu cầu người có thẩm quyền xem xét kháng nghị bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm

Thứ năm, ở thủ tục tuyên án tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện

như tại phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, sau khi Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của HĐXX đọc xong bản án thì không phải giải thích thêm

về quyền kháng cáo của đương sự vì họ không có quyền kháng cáo nữa mà chỉ phải giải thích thêm về những vấn đề liên quan đến việc thi hành bản án như nghĩa vụ khi thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án

Trang 34

1.2.5 Quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm

Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án trong trường hợp bản án sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Khi xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm căn

cứ vào các chứng cứ, tài liệu của vụ án, các quy định của pháp luật áp dụng giải quyết vụ án để xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Trên thực tế, qua việc xét xử lại vụ án đã không ít trường hợp việc kháng cáo, kháng nghị không đúng tức là bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị giải quyết vụ án

đã đúng Ngược lại, không ít trường hợp việc kháng cáo, kháng nghị là đúng tức là việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là không đúng; bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị không hợp pháp, hoặc thiếu căn cứ Ngoài ra, qua việc xét xử phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm còn phát hiện được những căn cứ đình chỉ việc giải quyết vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ án đã không phát hiện được hoặc trong quá trình xét xử phúc thẩm vẫn có những căn cứ đình chỉ việc giải quyết vụ án phát sinh Do vậy, để bảo đảm được hiệu quả của xét xử phúc thẩm dân sự thì HĐXX phúc thẩm có quyền giữ nguyên bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị không đúng; sửa bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị có cơ sở, việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng và những sai lầm vi phạm pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm có thể khắc phục được Đối với trường hợp việc kháng cáo, kháng nghị có cơ sở và việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng mà không thể khắc phục được khi xét xử phúc thẩm thì HĐXX phúc thẩm có quyền hủy bản án chưa

có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, giao lại cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án Ngoài ra, khi có căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án

Trang 35

thì HĐXX phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật

bị kháng cáo, kháng nghị và đình chỉ giải quyết vụ án

Từ các vấn đề đã được trình bày ở trên, có thể rút ra một số kết luận sau đây:

Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án dân sự đã được Tòa án cấp dưới giải quyết bằng bản án hoặc quyết định nhưng chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm xác định tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định đó

Phiên tòa phúc thẩm dân sự là phiên họp của Tòa án xét xử lần thứ hai đối với vụ án dân sự do Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án tiến hành; nội dung của việc xét xử phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm

Phiên tòa phúc thẩm dân sự có những ý nghĩa nhất định cả về mặt chính trị, xã hội và pháp lý Về chính trị, góp phần thực hiện Nhà nước của dân, do dân và vì dân Về xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng

và Nhà nước Về pháp lý góp phần giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự

Việc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Luật tố tụng dân sự trong đó có cả các nguyên tắc điều chỉnh chung các hoạt động tố tụng và các nguyên tắc điều chỉnh riêng các hoạt động

tố tụng dân sự

Chủ thể tham gia phiên tòa phúc thẩm dân sự bao gồm các chủ thể tiến hành tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, và những cá nhân, tổ chức, cơ quan khác có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị

Phiên tòa phúc thẩm dân sự được tiến hành tương tự như phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của xét xử phúc thẩm là xem xét tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị

Trang 36

kháng cáo, kháng nghị và phạm vi xét xử phúc thẩm giới hạn trong yêu cầu kháng cáo, kháng nghị nên cũng có những khác biệt nhất định về HĐXX, thủ tục tiến hành và nội dung xét xử của phiên tòa phúc thẩm dân sự Ngoài ra, khi xét xử phúc thẩm, HĐXX phúc thẩm có quyền giữ nguyên, sửa hoặc hủy bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

Trang 37

Chương 2

NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM

VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ

2.1 CÁC QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM DÂN SỰ 2.1.1 Một số nguyên tắc tiến hành phiên tòa phúc thẩm dân sự

2.1.1.1 Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 3 BLTTDS Đây là nguyên tắc

cơ bản nhất, bao trùm các hoạt động tố tụng dân sự Theo đó, mọi hoạt động

tố tụng đều phải tuân thủ triệt để các quy định của BLTTDS

2.1.1.2 Nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 12 BLTTDS Theo quy định này thì khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Tuy vậy, để bảo đảm hiệu quả xét xử phúc thẩm, nguyên tắc này vẫn được thực hiện trong phiên tòa phúc thẩm Khi xét xử HĐXX độc lập với các chủ thể khác, các cá nhân, cơ quan, tổ chức không được can thiệp vào hoạt động xét xử của họ Ngoài ra, giữa các thành viên trong HĐXX cũng độc lập với nhau trong quá trình xét xử Khi xét xử, ngoài việc căn cứ vào niềm tin nội tâm của mình thì các thành viên của HĐXX còn phải căn cứ vào pháp luật để giải quyết vụ án

2.1.1.3 Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể

Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể được quy định tại Điều 14 BLTTDS Theo quy định này, việc xét xử phúc thẩm được thực hiện bởi một tập thể HĐXX phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán HĐXX giải quyết từng vấn đề của vụ

án bằng cách thảo luận và biểu quyết theo đa số Người có ý kiến thiểu số có

Trang 38

2.1.1.4 Nguyên tắc Tòa án xét xử công khai

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 15 BLTTDS Nội dung điều luật này quy định việc xét xử của Tòa án được tiến hành một cách công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác Tòa án chỉ xử kín vụ án dân sự trong trường hợp cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí quyết kinh doanh hoặc bí mật đời tư của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ Đối với những vụ án Tòa án xét xử kín việc tuyên án phải được tiến hành công khai

2.1.1.5 Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 BLTTDS Nội dung điều luật này quy định: các đương sự bình đẳng với nhau trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự Tòa án không được có sự phân biệt đối xử trong xét xử, có trách nhiệm bảo đảm cho các đương sự thực sự bình đẳng với nhau trong tố tụng dân sự

2.1.1.6 Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 BLTTDS Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của pháp luật tố tụng dân sự Theo đó, đương sự

có quyền quyết định và tự định đoạt đối với việc bảo vệ quyền lợi ích và quyền lợi ích của họ trong suốt quá trình giải quyết vụ án

Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện có quyền rút yêu cầu khởi kiện và được Tòa án chấp nhận nếu bị đơn đồng ý, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung, rút một phần hay toàn bộ yêu cầu kháng cáo, HĐXX chỉ xét xử trong phạm vi yêu cầu kháng cáo của đương sự Nếu tại phiên tòa, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án

Trang 39

HĐXX ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

2.1.1.7 Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 9 BLTTDS Theo quy định này, Tòa án phải bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án, kể cả tại phiên tòa phúc thẩm Một mặt, Tòa án phải bảo đảm cho các đương sự tự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ, được người khác đại diện thực hiện thay, nhờ người khác tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Mặt khác, Tòa án phải thực hiện những biện pháp cần thiết để các đương sự thực hiện được quyền bảo vệ của họ như triệu tập đầy đủ họ tham gia tố tụng, giải thích quyền, nghĩa vụ tố tụng cho họ biết, chỉ định người đại diện cho họ trong trường hợp họ không có năng lực hành vi tố tụng mà không có người đại diện…

2.1.1.8 Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 6 BLTTDS Theo đó, khi đương

sự đưa ra yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc phản đối yêu cầu của người khác thì đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu hay phản đối của mình là có căn cứ Trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức đưa ra yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì họ cũng có nghĩa vụ chứng minh như các đương sự Nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự không chỉ được thực hiện ở Tòa án cấp sơ thẩm mà cả ở Tòa án cấp phúc thẩm

Tòa án không tự mình thu thập chứng cứ khi không có yêu cầu của đương sự trừ trường hợp pháp luật quy định khác Các đương sự phải chịu hậu quả của việc không cung cấp đủ chứng cứ cho Tòa án và không chứng

Trang 40

2.1.2 Các quy định về chủ thể trong phiên tòa phúc thẩm dân sự

2.1.2.1 Các quy định về người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm dân sự

Theo quy định tại các Điều 53, 264 BLTTDS, thành phần những người tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm gồm Thẩm phán, Kiểm sát viên (trong trường hợp VKS phải tham gia phiên tòa) và Thư ký Tòa án

So với HĐXX sơ thẩm, Điều 53 BLTTDS quy định HĐXX phúc thẩm không có Hội thẩm nhân dân tham gia Đây là điểm khác biệt lớn nhất về thành phần những người tiến hành tố tụng của phiên tòa phúc thẩm so với phiên tòa sơ thẩm Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của phiên tòa phúc thẩm

là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nên pháp luật các nước đều quy định thành phần HĐXX phúc thẩm chỉ có các Thẩm phán tham gia

Một điểm mới của BLTTDS so với các quy định của các văn bản pháp luật trước đây là có quy định về Thẩm phán dự khuyết Trong quá trình xét

xử, nếu có thành viên nào của HĐXX vì lý do bất khả kháng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa được nữa nhưng có Thẩm phán dự khuyết và họ có mặt tại phiên tòa ngay từ đầu thì những người này được tham gia xét xử tiếp vụ

án Quy định việc thay thế thành viên trong trường hợp đặc biệt này nhằm mục đích giải quyết nhanh chóng vụ án, tránh việc phải hoãn phiên tòa

BLTTDS cũng quy định cụ thể những vụ án Kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa phúc thẩm dân sự với tư cách giám sát pháp luật Đó là những

vụ án mà VKS đã tham gia phiên tòa sơ thẩm, những vụ án có khiếu nại của đương sự về việc thu thập chứng cứ của Tòa án hoặc những vụ án mà VKS có kháng nghị Đối với những vụ án khác thì thành phần tiến hành tố tụng không

Ngày đăng: 25/03/2015, 14:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Bản dịch tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Đình Bảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Tác giả: Nguyễn Đình Bảng
4. Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Tác giả: Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
5. Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga (2005), Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga
Tác giả: Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
6. Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA (2004), Kỷ yếu các tọa đàm tổ chức tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án JICA 2000 - 2003, (quyển số 6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu các tọa đàm tổ chức tại Việt Nam trong khuôn khổ dự án JICA 2000 - 2003
Tác giả: Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
12. Học viện Tư pháp (2004), Kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự, Nxb Tư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Tư
Năm: 2004
13. Bùi Thị Huyền (2007), Phiên tòa sơ thẩm dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên tòa sơ thẩm dân sự trong tố tụng dân sự Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Bùi Thị Huyền
Năm: 2007
14. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
15. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
16. Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội (2004), Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
Tác giả: Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
17. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (1960, 1981, 1998, 2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (1960, 1981, 1998, 2002)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
18. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1960, 2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (1960, 2002)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
22. "Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946", Việt Nam dân quốc công báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946
23. "Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946, về thẩm quyền của các Tòa án", Việt Nam dân quốc công báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946, về thẩm quyền của các Tòa án
24. "Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng", Việt Nam dân quốc công báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng
25. Lưu Xuân Thủy (2001), Thủ tục phúc thẩm dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục phúc thẩm dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Tác giả: Lưu Xuân Thủy
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w